NAY NGƯỜI MAI TA MÀ THÔI

NAY NGƯỜI MAI TA MÀ THÔI

(THÁNG CÁC LINH HỒN)

      Giả sử một ngày tôi không còn trên đời này nữa, những người yêu tôi và ghét tôi sẽ thay đổi như thế nào?

Giả sử có một ngày, khi tôi chết đi…

     Người ghét tôi, họ sẽ nhảy múa…

Người yêu tôi, họ sẽ khóc như mưa…

    Ngày thứ 2 qua đi…

Thân xác tôi sẽ được chôn dưới lòng đất…

Người ghét tôi, nhìn thấy mộ tôi, họ chỉ mỉm cười và bước đi…

Người yêu tôi, không dám quay đầu nhìn lại, dù chỉ một lần.

Một năm sau…

   Thân xác thịt của tôi đã trở nên mục nát.

Ngôi mộ của tôi, cỏ mọc um tùm trong sương gió.

Người ghét tôi, sau khi ăn uống no say, đôi khi vẫn rất khó chịu khi nhắc đến tên tôi.

Người yêu tôi, trong đêm khuya vắng vẻ, vẫn khóc thầm gọi tên tôi.

Mười năm sau…

   Thân xác tôi không còn nữa, chỉ còn lại bộ xương cốt.

Người ghét tôi, không còn nhớ mặt tôi nữa, mà chỉ còn nhớ tên tôi một cách mơ hồ.

   Người yêu tôi, đôi khi trầm lắng trong giây lát khi nhớ đến tôi. Cuộc sống khiến cho mọi thứ dần dần trở nên phai nhạt…

Mấy chục năm sau…

    Ngôi mộ của tôi, trải qua bao mùa mưa gió, chỉ còn lại một bãi đất hoang vu.

Người ghét tôi… Không còn nhớ tôi nữa.

Người yêu tôi, cũng đã nằm xuống đất.

Đối với thế giới này, tôi đã trở thành hư vô.

Những phấn đấu một đời của tôi, với bao của cải vật chất… Không thể mang đi thậm chí là một cọng cỏ…

Những ham muốn, theo đuổi một đời của tôi, không thể mang đi một chút hư danh.

Kiếp này…

   Cho dù là giàu sang hay nghèo hèn, rốt cuộc cũng phải đi đến bước cuối cùng.

Đến khi nhìn lại, mới thấy uổng phí một đời, tôi muốn khóc, nhưng không thể khóc thành tiếng. Tôi hối hận, nhưng tất cả đã quá muộn.

     Hãy sống một cách thiết thực, đừng vì ánh mắt của người đời, hay tiêu chuẩn đánh giá của bất kỳ ai.

Yêu, hận, tình, thù chỉ tồn tại khi chúng ta còn sống.

Trăm năm qua đi chỉ trong một nháy mắt. Cuối cùng cũng chỉ còn lại nắm tro tàn..

Đời này,

     Bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn.

Cũng có một ngày phải đi đến bước cuối cùng của nó.

     “Sống trên Đời Sống, cần có một Tấm Lòng”

 Mỗi ngày đều hạnh phúc thì tuyệt rồi.

Trong lòng trân quý những gì đáng trân quý,

Bao nhiêu phồn hoa, Thoáng qua phút chốc,

Trăm năm sau, Chỉ còn lại một nắm cát vàng.

Hỏi thế gian có gì là tồn tại mãi? 

Nay người mai ta cũng thế thôi!

Thịnh Mai

 From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen                                     

NAY NGƯỜI MAI TA.jpg

Thánh MARTINÔ PORRES

Ngày 03-11

Thánh MARTINÔ PORRES
Tu Sĩ (1579 – 1639)

1579 là niên biểu ghi nhớ ngày sinh ra của Martinô ở Lima, Pêru con của một người mẹ da đen và của một người cha hiệp sĩ và 1639 là niên biểu ghi nhớ ngày qua đời của thánh nhân. Sáu mươi năm giữa hai niên biểu này là khoảng thời gian Martinô tiến tới miền ánh sáng, trong sự khiêm tốn và hiến mình trọn vẹn để phục vụ các bệnh nhân.

Cuộc tình của cha mẹ Ngài không suông sẻ lắm, vì màu da của mẹ Ngài đã đưa đến những hất hủi không những cho bà mẹ mà còn cho cả những đứa con xấu số của bà nữa. Nhưng hoàn cảnh đen tối ấy, Martinô lại coi như nén bạc trao tay để Ngài sinh lời, thành bông hoa khiêm tốn tuyệt vời.

Hồi còn là một thiếu niên, Martinô đã chứng tỏ lòng bác ái đầy khiêm tốn phục vụ của mình. Hôm ấy khi theo chị mang thức ăn cho gia đình, Ngài nghe thấy tiếng rên rỉ của một bà lão người da đỏ. Dừng lại Ngài kinh hãi khi thấy một người lính Tây Ban Nha đang hành hạ lão. Đầy thương cảm, cậu thiếu niên Martinô cúi xuống lão già người da đỏ. Nhưng ông thù ghét cự tuyệt: Thằng nô lệ… mày đen đủi. Bọn da đen tụi mày là kẻ thù của dân da đỏ.

Nhưng người thiếu niên da đen này đã không bỏ cậu đi. Cậu nói chuyện với lão già da đỏ cách dịu dàng đến nỗi lão đã thú nhận là ba ngày rồi không ăn thứ gì vào bụng lại chẳng có con cháu gì cả. Martinô đã khóc và đưa tất cả thực phẩm cả ngày đã mua được cho lão già.

Vào thời đó, chỉ cần học một chút nghề cạo gió, cắt lể như Martinô đã học thì đã được coi là đủ để chữa nhiều loại bệnh, như Martinô đã săn sóc các bệnh nhân. Và các con bệnh có thể là loài người hay loài vật, bởi vì mọi loài đau khổ đều có quyền được người bạn da đen này khiêm tốn tận tình săn sóc. Ngài đã chữa lành một con gà tây gẫy giò. Người ta còn nói rằng: Ngài đã làm cho nhiều con vật sống lại.

Vào tuổi 15, Ngài nhập dòng Daminh như một thày dòng ba. Thày thích làm những việc khiêm tốn đến độ đã được biệt danh là “thày chổi”. Tại nhà dòng Đức bà Mân Côi, Ngài vẫn tiếp tục nghề thuốc của mình với một đức ái nhẫn nại vô bờ, như là một y tá của nhà dòng. Ngài kín múc sức mạnh trong kinh nguyện và khổ hạnh, vừa dấu mình làm việc và lần hạt Mân côi, thức đêm để cầu nguyện rồi ngủ trên cái cáng dùng khiêng xác chết.

Trong dòng Ngài cũng vẫn tiếp tục lấy tình yêu để đáp lại những bất công. Một bệnh nhân giận dữ với Martinô, nhưng Ngài đã êm ái nói với họ: – Anh giận dữ phải lẽ lắm, nhưng cơn giận có thể gia tăng cơn bệnh của anh. Hãy dùng món ăn anh thích này đi và tôi thoa bóp chân cho anh.

Ngài không hề bất nhân, nhưng lại càng lo lắng săn sóc nhiều hơn cho những người tỏ ra độc ác bất công như Ngài.

Martinô đã từ chối không lãnh chức linh mục để có thể tiếp tục làm đày tớ mọi người. Để thưởng lòng trong trắng, đức bác ái và sự khiêm tốn, Thiên Chúa đã ban cho Ngài ơn chữa bệnh, nói tiên tri và làm nhiều phép lạ. Ngài qua đời trong hương thơm thánh thiện năm 1639.

Cuộc điều tra phong thánh cho Ngài đã sớm khởi sự từ năm 1657, nhưng mãi 200 năm sau, năm 1837, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI mới phong Ngài lên hàng chân phước và 100 năm sau nữa, ngày 6 tháng 5 năm 1962, Đức giáo hoàng Gioan XXIII phong Ngài lên bậc hiển thánh. Hương thơm thánh thiện của Ngài quả là không thể tan loãng theo thời gian.

Image of St. Martin de Porres

LÀM QUAN MÀ ĐỂ DÂN GHÉT… LÀ BIẾT THẾ NÀO RỒI!

 

LÀM QUAN MÀ ĐỂ DÂN GHÉT… LÀ BIẾT THẾ NÀO RỒI!

Báo ngày 1.11.2020 đăng tin một kẻ lạ mặt đã vào tận nhà ông Hoàng Văn Trường, nguyên Bí thư Thành uỷ Nha Trang dùng hung khí cắt cổ ông khiến ông bị thương phải chở đi cấp cứu.

Thằng lạ mặt đó cũng gan thiệt chớ, chắc phải căm hận ông Trường lắm mới dám làm thế.

Chợt nhớ trước đây cũng có tin ông Phạm Thế Dũng, cựu chủ tịch tỉnh Gia Lai cũng bị một người khách lạ úp luôn tô phở vào đầu khi ông Dũng đi ăn phở sáng. Nhà ông cũng nhiều lần bị quăng đầu chó vào sân và lôi đi cái cửa của căn nhà đồ sộ. Ông cũng thường bị dân chửi rủa và ném đá khi đi tập thể dục buổi sáng.

Cả hai ông có điểm giống nhau là ông nào cũng có nhà to như lâu đài và tài sản thì ăn ba đời cũng không hết. Cũng còn có điểm tương đồng nữa là lúc đương chức, hai ông gây nhiều tội ác và nhiều sai phạm. “Khuyết điểm của ông Phạm Thế Dũng là nghiêm trọng, để lại nhiều hậu quả khó khắc phục, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm sút uy tín của tổ chức đảng và cá nhân, do đó Bộ Chính trị, UBKTTW quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với ông Phạm Thế Dũng.” Và thế là ông chấm dứt con đường quan lộ, về hưu sớm. Nhưng nhân dân không quên ông, họ căm ghét ông nên luôn nguyền rủa ông.

Cũng có ông một thời là lãnh đạo cấp cao, một thời hét ra lửa. Đến lúc qua đời, mộ luôn bị trét đầy phân, bôi bẩn, viết những lời căm hận. Cuối cùng phải hốt cốt, di dời.

Làm quan mà để dân ghét, dân thù là biết thế nào rồi. Không biết Đảng bố trí nhân sự thế nào mà lắm quan bị dân căm thù đến thế.

Cũng không biết quan ta làm thế nào mà giàu quá vậy, ông nào cũng dinh thự nguy nga, hoành tráng? Những thứ đó lộ rõ như ban ngày mà sao ban chống tham nhũng của Đảng không nhìn thấy nhỉ?

Người xưa bảo: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” và “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mấy quan này nghe nói cũng đầy bằng cấp mà sao không biết những câu này mà giữ mình nhỉ?

Lòng tham vô độ đã lấn mất lý trí rồi.

3.11.2020

DO DUY NGOC

Dân chủ nước Mỹ nhìn từ Úc châu.

Dân chủ nước Mỹ nhìn từ Úc châu.

Nguyễn Quang Duy

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, bản Hiến Pháp Hoa Kỳ và các bản Hiến Pháp của 50 tiểu bang đều không nhắc đến từ ngữ dân chủ (democracy), như vậy tam quyền phân lập có bao hàm ý nghĩa của dân chủ hay không ?

Dân chủ định nghĩa theo Hiến Pháp

Muốn hiểu được ý nghĩa của tam quyền phân lập tại Mỹ, chúng ta cần quay lại thời lập quốc, năm 1776 với 13 cựu thuộc địa Anh Quốc liên kết trong một liên bang thân hữu (league of friendship) cùng soạn bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

Sau đó đến năm 1781, những nhà lập quốc lại cùng nhau soạn bản Dự Thảo Hiến Pháp, theo đó các chính quyền tiểu bang giữ lại chủ quyền lãnh thổ, chính quyền trung ương lo việc ngoại giao và quân sự, mọi quyết định ở trung ương cần ít nhất 9 tiểu bang đồng ý.

Năm 1783, chính quyền trung ương chính thức ký Hòa ước với Anh Quốc, các nhà lập quốc nhận ra rằng để có thể tồn tại vững vàng chính quyền trung ương cần được quyền in tiền, quyền thu thuế, quyền hòa giải và phân xử tranh chấp giữa các tiểu bang.

Nên vào năm 1787 đại biểu từ 12 tiểu bang đã gặp nhau tại Philadelphia để thảo luận về một bản Hiến Pháp xây dựng một thể chế cộng hòa liên bang.

Vì mỗi tiểu bang có dân số, có điều kiện văn hóa, địa lý, kinh tế, tôn giáo và sắc tộc khác nhau, nên thay vì chọn phổ thông đầu phiếu các nhà lập quốc mới nghĩ đến cách bầu tổng thống theo cử tri đoàn, rồi tổng thống đề cử thẩm phán và thượng viện thảo luận thông qua việc đề cử.

Bằng phương cách dân chủ gián tiếp độc đáo này các tiểu bang có đông dân không thể dùng lá phiếu cử tri để lấn áp quyền lực và quyền lợi của các tiểu bang nhỏ có dân số ít.

Các tiểu bang chịu trách nhiệm về y tế, giáo dục, an ninh trật tự, an sinh xã hội, điều hành các cuộc bầu cử và hầu hết những vấn đề trực tiếp liên quan đến đời sống của người dân.

Trong khi chính quyền liên bang chỉ nắm quyền về ngoại giao, quốc phòng, tiền tệ và quyền hòa giải, phân xử tranh chấp giữa các tiểu bang và giữa liên bang với các tiểu bang.

Bảo thủ chống cấp tiến

Từ đó đến nay vẫn có 2 luồng tư tưởng chính trị:

Tư tưởng bảo thủ cho rằng các chính phủ tiểu bang gần với dân hơn chính phủ liên bang nên phục vụ người dân tốt hơn vì thế cần giữ nguyên mô hình dân chủ gián tiếp như bản Hiến Pháp đã viết ra.

Tư tưởng cấp tiến lại cho rằng thế giới đã thay đổi rất nhiều những điều ghi trong Hiến Pháp cần được mở rộng hay thay thế, chính quyền trung ương cũng cần được mở rộng quyền lực.

Các tiểu bang cũng có hành pháp, lập pháp và tư pháp riêng và nhiều tiểu bang từ thống đốc, dân biểu, nghị sĩ và thẩm phán đều thông qua bầu phiếu trực tiếp.

Đã có một số đề nghị tu chính Hiến Pháp: tổng thống và các thẩm phán liên bang phải thông qua phổ thông đầu phiếu.

Nhưng muốn tu chính cần 2/3 dân biểu ở Hạ Viện đồng ý, rồi cần 2/3 nghị sĩ ở Thượng Viện đồng ý và rồi lại cần 3/4 các tiểu bang đồng thuận.

Cách thức khác là 50 tiểu bang ngồi lại để soạn ra cách thức bầu cử mới nói cách khác một hiến pháp mới.

Trên thực tế việc bất đồng quan điểm, khuynh hướng, niềm tin và nhất là lợi ích giữa các tiểu bang càng ngày càng đa dạng, mở rộng và phức tạp hơn, nên việc tu chính hay một hiến pháp mới sẽ khó có thể xảy ra.

Từ một liên bang thân hữu lỏng lẻo chỉ trong vòng 100 năm, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc số một trên thế giới và giữ vững vị thế này đến nay.

So với Liên Minh Âu Châu, hiện Anh Quốc đã rút ra, các nước còn lại đầy mâu thuẫn về quyền lợi mới thấy được viễn kiến của các nhà lập quốc Hoa Kỳ.

Đảng Dân Chủ Cộng Hòa

Bản Hiến Pháp quy định luật hoạt động chính trị chung cho các đảng chính trị từ liên bang xuống đến tiểu bang và xuống tận địa phương, biết về lịch sử thành lập đảng chính trị sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền dân chủ tại Mỹ.

Đảng Dân chủ Cộng hòa được thành lập vào năm 1791 nhằm cạnh tranh với đảng Liên bang gồm những nhà quý tộc Anh và những nhà tư sản muốn tạo ra một ngân hàng liên bang và đề cao sức mạnh của chính quyền liên bang.

Đảng Dân chủ Cộng hòa chủ trương chính quyền liên bang phải hoạt động trong vòng Hiến pháp theo đúng nghĩa đã được viết ra để bảo vệ các tiểu bang, nhờ đó đảng này được giới công nhân và nông dân nhiệt tình ủng hộ khiến đảng Liên bang liên tục thất cử và đến năm 1812 ngừng sinh hoạt.

Không còn cạnh tranh chính trị, nội bộ đảng Dân chủ Cộng hòa bắt đầu chia làm 2 cánh: một cánh ủng hộ và một cánh chống lại tình trạng nô lệ.

Một số tiểu bang miền Bắc đã hủy bỏ chế độ nô lệ trước khi Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1776, muốn phát triển về kỹ nghệ, nên giới tư bản và công nhân đã chống lại tình trạng nô lệ và nhiệt tình ủng hộ đảng Cộng Hòa.

Cánh miền Nam đa số là nông dân cần nô lệ phục vụ nông trại, đồng thời muốn mở rộng đất đai về phía Nam và phía Tây nên ủng hộ đảng Dân chủ.

Trong cuộc bầu cử năm 1860 đảng Cộng hòa nhờ tập trung vào đề tài giải phóng nô lệ mà mang lại chiến thắng cho Tổng thống Abraham Lincoln, nhưng đồng thời cũng dẫn đến nội chiến Bắc Nam.

Trong gần 1 thế kỷ, đảng Cộng Hòa được xem là đảng cấp tiến, chính phủ không xen vào chuyện cá nhân hay gia đình, cởi mở di dân, chi tiêu rộng rãi, mở rộng kỹ nghệ, bảo vệ thị trường và xây dựng chính quyền trung ương mạnh.

Đảng Dân Chủ được coi là bảo thủ cho rằng chính phủ trung ương không được phép đưa ra các đạo luật can thiệp vào tôn giáo hay đạo đức, thuế thấp và không được xen vào chuyện của các chính phủ tiểu bang.

Người da đen mặc dầu đã được tham gia bầu cử ở liên bang cũng như ở tiểu bang, nhưng đảng Dân Chủ vẫn thuộc người da trắng và vẫn cấm người da đen tham gia các cuộc bầu cử sơ bộ.

Đảng Dân Chủ đổi chiều…

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930, Tổng thống Franklin Roosevelt (1933-45) thắng cử đã đưa ra Đối Sách Mới (New Deal) và chuyển đảng Dân Chủ thành một đảng với khuynh hướng cấp tiến cải tổ xã hội, chăm lo cho tầng lớp lao động và xây dựng hệ thống an sinh xã hội.

Người da đen bắt đầu được quyền tham gia các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ nên cũng bắt đầu chuyển sang sinh hoạt với đảng Dân Chủ.

Đến thời Tổng thống John Kennedy và Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện kế hoạch chống lại nghèo đói bất công và ban hành Đạo Luật về Dân Quyền chống kỳ thị chủng tộc nên đa số cử tri da đen chuyển sang bầu cho đảng Dân Chủ.

Sang đến thời Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống Barack Obama chính sách tân tự do, mở cửa thị trường gây nạn thất nghiệp trong khu vực công nghiệp, ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống của người lao động và nhất là người lao động Mỹ da đen.

Kết quả cuộc thăm dò cử tri vào tháng 7/2016 do hãng Rasmussen thực hiện chỉ 13% cử tri cho rằng cuộc sống của thanh niên người Mỹ da đen đã tốt hơn kể từ cuộc bầu cử của Tổng thống Obama vào tháng 11/2008.

Trong khi đó có tới 41% tin rằng đời sống trở nên tồi tệ hơn và 39% tin rằng cuộc sống của thanh niên da đen không có gì thay đổi.

Sự thất bại của Chính phủ Obama đã giúp Tổng thống Trump thắng cử, người lao động da trắng đã bỏ phiếu cho ông, trong khi cử tri da đen đã không đi bầu.

Đầu tháng 6/2019 hãng Rasmussen thực hiện khảo sát khác cho thấy 33% cử tri cho rằng cuộc sống của những người Mỹ da đen trẻ tuổi đã trở nên tốt hơn kể từ ngày ông Trump thắng cử, 20% cao hơn 8 năm cầm quyền của Tổng thống Obama.

Chừng 36% cử tri cho rằng tình trạng trở nên tồi tệ hơn, và 22% đánh giá cuộc sống của những người trẻ tuổi da đen không có gì thay đổi.

Trong khoảng thời gian tiến hành cuộc khảo sát, tháng 6/2019, nhờ những chính sách kinh tế của Chính phủ Trump con số thất nghiệp đã xuống thật thấp, nhiều người lao động và người Mỹ da đen đã có được công ăn việc làm.

Theo các cuộc khảo sát gần đây nhiều cử tri người Mỹ da đen đã chuyển sang bầu cho đảng Cộng Hòa, có 2 ứng cử viên trẻ người Mỹ da đen hy vọng sẽ thắng cử là ông John James ứng cử thượng viện tiểu bang Michigan và bà Kim Klacik ứng cử Hạ Viện đại diện khu vực số 7 Maryland.

Trong khi đó đảng Dân Chủ vẫn tự tin là cử tri da đen sẽ tiếp tục ủng hộ đảng này, ông Joe Biden vừa rồi tuyên bố người Mỹ da đen không bầu cho đảng Dân Chủ thì họ không phải là người Mỹ da đen.

Chính sách cởi mở di trú của đảng Dân Chủ có từ thời Tổng Thống Lyndon Johnson cũng giúp đảng Dân Chủ có được số cử tri ngày càng tăng từ các di dân, nhất là từ di dân gốc Á châu và Nam Mỹ.

Bầu cử 2020

Ông Trump tiếp tục tranh cử với chủ trương nước Mỹ trên hết được ông ngắn gọn giải thích như sau:

Một người có lo được cho mình, thì mới lo được cho gia đình, mới đóng góp được cho cộng đồng, cho đất nước và cho thế giới, nên trách nhiệm ưu tiên hàng đầu của chính phủ là phải lo cho dân Mỹ có công ăn việc làm.

Nước Mỹ có giàu, có mạnh, có ổn định thì mới có khả năng đóng góp cho thế giới và nếu ông thắng cử ông sẽ tiếp tục chính sách như nhiệm kỳ trước: nước Mỹ trên hết.

Ngược lại các chính sách của ông Biden quay trở lại với thời chính phủ Obama, một mặt tăng thuế, tăng sự can thiệp chính phủ liên bang vào tiểu bang và trở lại chính sách ngoại giao theo khuynh hướng tân tự do toàn cầu hóa.

Cuộc tranh luận bầu cử Tổng thống lần thứ hai ông Biden đã tỏ ra gần gũi hơn với cánh tả cấp tiến dân chủ xã hội, với “Bidencare” một bước tiến tới hệ thống y tế miễn phí cho toàn dân, mức lương tối thiểu $15/1giờ, giáo dục đại học miễn phí và đặc biệt là xóa bỏ kỹ nghệ khai thác dầu khí từ mỏ dầu và các mỏ đá phiến.

Chiến dịch tranh cử

Quỹ tranh cử của ông Biden nhiều hơn của ông Trump vài trăm triệu Mỹ Kim, đa số là các khoản tiền lớn do các nhà tư bản tài phiệt đóng góp, nhờ thế ông Biden có nhiều tiền để quảng cáo tranh cử, tập trung vào những tiêu cực của ông Trump và đề cao ông Biden là người thay thế.

Ông Trump có ít tiền hơn, nhưng đa số đến từ các đóng góp nhỏ, chiến dịch tranh cử cũng khác với hằng ngàn thiện nguyện viên gõ cửa từng nhà đến từng tổ chức vận động cho ông, đồng thời ông bay từ tiểu bang này sang tiểu bang khác liên tục tiếp xúc với hằng chục ngàn người dầm mưa chịu lạnh tiếp đón ông.

Cánh tả dân chủ xã hội không nhận đóng góp từ giới tư bản tài phiệt, mà nhận từ hằng triệu cá nhân đóng những khoản tiền nhỏ, họ cũng gõ cửa từng nhà, đến từng tổ chức, mở các diễn đàn thu hút giới trẻ vào tranh luận và nhất là vận động bầu cử bằng cách công khai minh bạch đường lối chính sách cấp tiến dân chủ xã hội.

Ông Trump đã chuyển đảng Cộng Hòa từ một đảng bảo thủ thành một đảng biết lo cho thành phần lao động, cả người da trắng lẫn người da đen và biết quan tâm đến các cộng đồng sắc tộc như Việt Nam hay người gốc Nam Mỹ.

Ngược lại, phong trào dân chủ xã hội cũng chuyển đảng Dân Chủ từ các chính sách tân tự do xa rời quần chúng Mỹ, để ngày càng gần hơn với chính sách xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhà nước tập trung quyền lực vào trung ương.

Nước Mỹ tự do dân chủ…

Đã có trên 80 triệu người đi bầu, những đoàn cử tri sắp hàng hằng tiếng đồng hồ để được bầu cho ứng cử viên họ chọn lựa, nếu nghĩ rằng không ai xứng đáng, người Mỹ có quyền tự do không đi bầu và không ai có quyền áp lực họ phải đi bầu.

Trong lần bầu cử trước chỉ 55 % cử tri đi bầu, lần này tỷ lệ theo dự đoán có thể lên đến 70 %, bởi thế khó nói trước ai sẽ là người thắng cử, mà nếu biết trước kết quả ai sẽ thắng thì e rằng dân chủ ở Mỹ vẫn còn rất giới hạn.

Nước Mỹ như một viên kim cương, 50 cạnh là 50 tiểu bang, mỗi cạnh lại được mài dũa với hằng ngàn chính quyền dân chủ địa phương, mỗi cạnh nhỏ lấp lánh phản chiếu giá trị của nó, tạo thành giá trị của nước Mỹ một quốc gia tự do và dân chủ nhất thế giới.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

31/10/2020

From FB  Quang Ha

SỐNG HÔM NAY NHƯ NGÀY CUỐI CỦA CUỘC ĐỜI


SỐNG HÔM NAY NHƯ NGÀY CUỐI CỦA CUỘC ĐỜI

 Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt!  Câu nói của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất quen thuộc với chúng ta.

Chẳng có ai đi mà chẳng mỏi mệt cả.  Một lúc nào đó, với một biến cố nào đó ta sẽ dừng lại để nhìn lại chặng đường mình đã đi qua, nhìn lại cuộc đời của mình còn lại ở phía trước.  Dù cho cố quên đi sự thật nhưng sự thật vẫn là sự thật và sự thật đó không bao giờ chối bỏ được.

Con chim ở trọ cành cây, con cá ở trọ trong khe suối nguồn, tôi nay ở trọ trần gian…  Cũng là cảm nghiệm về phận con chim, phận con cá và cả con người ở cái cõi tạm này.  Đã gọi là cõi tạm thì chúng ta biết rằng cái gì nó cũng có ngần, có hạn chứ chẳng có gì là bất hũ cả.

Sách Giảng viên gợi lên cho ta điều này.  Giảng viên đã nói: Phù vân trên mọi phù vân: phù vân trên mọi phù vân, và mọi sự đều là phù vân.  Ích lợi gì cho con người làm lụng vất vả dưới mặt trời?  Một thế hệ qua đi, một thế hệ khác lại đến: nhưng địa cầu vẫn đứng vững muôn đời.  Mặt trời mọc lên rồi lại lặn xuống, trở về chỗ cũ nơi nó lại mọc lên.  Gió thổi về hướng nam, rồi quay về hướng bắc; nó thổi xoay chiều khắp bốn phương, rồi quay về vòng cũ.  Mọi sông ngòi đều chảy ra biển mà biển không đầy tràn: nước sông trở về chỗ cũ rồi lại chảy đi.  Muôn vật đều phải làm việc vất vả, và không ai có thể cắt nghĩa tại sao.  Mắt xem mãi cũng không chán, tai nghe hoài cũng không thỏa.  Sự đã qua là gì?  Chính nó là sự sẽ có.  Sự đã xảy ra là gì?  Chính nó là sự sẽ xảy ra.  Chẳng có chi mới lạ dưới mặt trời, cũng chẳng ai nói được rằng: “Ðây cái này mới.”  Vì nó đã có từ lâu đời trước chúng ta.  Người ta cũng chẳng còn nhớ đến tổ tiên và những con cháu sau này; cũng chẳng nhớ đến những người sẽ đến sau.

Tất cả rồi cũng qua đi!  Thế nhưng, chẳng lẽ cuộc đời này nó vô vị và nó nhạt nhẽo như vậy sao?  Như vậy chẳng lẽ cuộc đời là vô nghĩa?

Tùy quan niệm của mỗi người, mỗi dân tộc về cái chết.  Có những người coi chết như là hết như là chấm hết mọi sự ở cuộc đời này nhưng với niềm tin của người Kitô hữu thì chết không phải là hết nhưng chết chỉ là cái ngưỡng cửa để bước qua cõi tạm này để vào cõi vinh quang của Thiên Chúa.  Sách Khôn Ngoan vừa xác tín đến niềm tin của những ai tin vào Chúa: Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài.  Đối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt.  Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an.  Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết.  Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau.  Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời.  Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

Vấn đề lớn là sống công chính để được Thiên Chúa ghé mắt nhìn.  Thiên Chúa ghé mắt nhìn để rồi Thiên Chúa sẽ ngự trị trong những người công chính hay nói khác đi là những người công chính ở trong cung lòng của Thiên Chúa.

Lời hứa những ai đi theo Chúa đó không phải là lời hứa suông nhưng chính là lời cầu nguyện, lời mà Chúa Giêsu luôn tha thiết nài xin Chúa như tâm tình của Chúa Giêsu được Thánh Gioan ghi lại.  Tâm tình đó hết sức hay: “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian.  Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con.  Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa.”

Thật tuyệt vời!  Những người mà Thiên Chúa trao cho Chúa Giêsu rồi thì Chúa Giêsu muốn rằng khi mà Chúa Giêsu ở đâu thì những người mà Thiên Chúa Cha trao cũng ở đó với Ngài.

Những ai được Thiên Chúa tuyển chọn nghĩa là được chịu phép rửa, phép thanh tẩy trong Đức Giêsu nghĩa là chịu phép rửa trong sự chết của Chúa Giêsu thì cùng chịu mai táng với Chúa và rồi như lời Thánh Phao lô nói: “Để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.  Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

Niềm tin của người Kitô hữu là như vậy.

Chẳng ai lột da để sống đời cả!

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi, *

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,

Ngài phán bảo:

“Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!”

Ngàn năm Chúa kể là gì,

tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,

khác nào một trống canh thôi!

Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai, *

nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.  (Tv 89)

Ngày mỗi ngày qua đi lại là một ngày mà ta gần với Chúa hơn.  Đó là câu nói thường ngày mà người ta vẫn thường nói để diễn tả niềm tin sau cái chết.  Thế nhưng, muốn gần Chúa thì phải sống cuộc đời công chính như lời sách Khôn Ngoan đã nói.  Và, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhớ các môn đệ cũng những người theo Chúa: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20).

Công chính là sống một đời trong sạch không có gì vương bẩn trước mặt Chúa.

Này là dòng dõi những người tìm Chúa, đây là những người mong bệ kiến Ngài, một đời lòng ngay không hề gian dối… (Tv 23)

Vẫn là con người mang trong mình phận con người yếu đuối và rất cần ơn của Chúa để sống trong cuộc lữ hành trần thế này.

Hôm nay, nhớ lại những hình ảnh thân thương của ông bà cha mẹ, những người thân thương cũng nhắc nhớ cho phận người ở trọ của chúng ta.  Để được hưởng nhan Thánh Chúa ắt hẳn phải sống công chính, phải sống trong sạch thì mới được hưởng nhan thánh Chúa như Chúa đã nói.

Cuộc đời này rất vắn và rất vội.  Hãy sống ngày hôm nay như là ngày cuối đời của mình và hãy sống hết sức công chính để đến giờ Chúa gọi ta thưa vâng để ra trước tòa của Chúa và hầu mong được hưởng nhan thánh của Ngài như lòng ta hằng mong ước.

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R. 

THẢM HOẠ… AI GÂY?…

THẢM HOẠ… AI GÂY?…

PV Tuổi Trẻ và các tòa soạn từ hiện trường đã cho cộng đồng những cái nhìn đầy ám ảnh.

Em Hồ Thị Điệp học sinh lớp 11 trường THPT Nam Trà My bên mộ bố mẹ ở Trà Leng, trên mộ có những gói mì tôm đã xé ra để thay cho mâm cơm cúng mả.

Em hầu như không biết mình đã trở thành mồ côi cả bố lẫn mẹ, cho đến khi được người làng dẫn đến trước mộ và kể lại vụ tai nạn.

Trước đó em ở khu nội trú, nhận định tình hình mưa bão có thế gây nguy hiểm nên thầy hiệu trưởng không cho các em về nhà vì thế em và nhiều bạn thoát chết.

Khi có tin buồn, thầy hiệu trưởng và 6 thầy đưa em vượt núi về làng để thọ tang. Dọc đường thầy giữ kín mọi chuyện và em chỉ được biết khi đến mộ bố mẹ.

Bố mẹ em đã đi qua nhiều mùa bão lũ, những ngày mưa chỉ ăn mì tôm.

Cái chết, trong một ý nghĩa nào đó đã giải thoát họ, bố mẹ Điệp sẽ chỉ phải dùng mì tôm một lần cuối.

Còn Điệp và những đứa trẻ như em sẽ còn những ngày dài mà mưa lũ ngày càng ác liệt hơn mì tôm chưa chắc đã có để ăn.

Tại trời?

Không.

Trời vẫn chở che bản làng hàng trăm năm nay.

Vậy tại ai?

Tại điều gì?

Có điều hình ảnh mì tôm trên mộ này liệu có đủ lay động những kẻ đã dự phần cùng thiên tai tạo ra thảm họa này là thủy điện cóc và phá rừng không?

HOÀNG LINH

Image may contain: one or more people, outdoor and nature

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Vậy mà chỉ những người lớn tuổi mới để ý tới cái chết chứ những người dưới 50 tuổi ít có ai để ý tới vì cảm thấy nó, cái chết, còn lâu lắm. Thật ra cái chết xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ tuổi nào.

Dĩ nhiên người già thì thời gian đến gần cái chết rõ ràng hơn, ngắn hơn, gần hơn.

Trước cái chết, ai cũng lo sợ, nhưng làm sao, cách nào bình tĩnh được trước cái chết.  

Vậy làm thế nào cuộc sống có ý nghĩa và có hạnh phúc?

*Đặt ra công việc để làm.

Đặt cho mình mục đích sống. Sống để làm gì? Có phải mục đích sống của mình chỉ là để kiếm thật nhiều tiền không? Dĩ nhiên phải làm việc để có tiền mà sống, nhưng chỉ duy nhất để kiếm tiền không mà thôi là chưa đủ. Cần xem làm việc là một niềm vui. Còn hơi thở, còn sức khỏe là còn phải làm việc. Dĩ nhiên mình làm việc nào mình thấy thích.

Về hưu rồi, tôi đặt ra công việc để làm, dĩ nhiên là công việc không kiếm được tiền Viết bài, gởi gấm tâm tư tình cảm cho bạn bè, cho thế hệ sau. Đọc tin tức, gởi E.mail cho bạn bè. Thành lập, chủ biên: website keditim.net. Mỗi ngày đều có bài vở hay và hữu ích cho website này (mời các bạn vào đọc).

*Giữ gìn sức khỏe: Lee Kim Hee (1) chủ tịch tập đoàn Samsung đã nhắc nhở chúng ta là cần phải tập thể dục thường xuyên để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Dầu giàu có cỡ nào con người “không thể vượt qua cơn bạo bệnh và phải chịu kết thúc thất bại”

Khi bệnh tật đến không chừa một ai.  

+Steve Jobs (2) chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple qua đời ở tuổi 56 (sinh 24-02-1955 mất 5-10-2011) vì ung thư tuyến tụy tạng.  Ông nhắc nhở chúng ta rằng “cái giường bệnh” là đắc giá nhất.

Steve Jobs Headshot 2010-CROP.jpg

+Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, triệu phú ở Singapore qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi.

Ông viết: “Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có – thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà – là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng.

Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người – những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc”. (1)

Lời trăn trối của bác sĩ triệu phú bị ung thư: Suốt đời chạy theo tiền tài và những chiếc Ferrari, đối diện với cái chết mới biết hạnh phúc nằm ở đâu - Ảnh 1.

 *Làm thế nào để sống vui vẻ và hạnh phúc.

Hạnh phúc của con người là một hành trình chứ không phải là đã đạt mục đích.

Như vậy, hạnh phúc đơn giản chỉ là một cảm giác. Hạnh phúc không hiện hữu trong bóng hình quá khứ hay niềm mong mỏi nơi tương lại, hạnh phúc là hạnh phúc trong thực tại nếu bạn biết nắm bắt nó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc là: sống trong phút hiện tại, biết yêu thương và tha thứ. 

Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất.

 Trong trại tù bị bỏ đói triền miên từ năm này sang năm khác, chỉ được ăn bo bo, bắp trái, ăn rau rừng đỡ đói. Khi Tết nguyên đán, trại tù phát cơm trắng. Lúc đó, ăn cơm trắng với muối tưởng chừng như ăn cơm với đường. Hạnh phúc ngay lúc đó.

* Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ đủ) trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ

Con người thường tham lam, không bao giờ biết đủ. Khi làm ăn phát đạt, kiếm được nhiều tiền ai ai cũng muốn kiếm thêm nhiều hơn nữa chứ đâu biết dừng lại.

Sự giàu có, tiền bạc không biết bao nhiêu là đủ. Cái khó là biết dừng lại, biết đủ.

 Đặc biệt ở nước Mỹ có người Amish, họ sống biệt lập ở tiểu bang Ohio, Pennsylvania,và cũng có một số ở Canada nữa. Họ không xài điện thoại cầm tay, không dùng xe hơi (ô tô), TV các loại máy móc, bài trừ sự ly dị… họ bài trừ lối sống hiện đại ở nước Mỹ.

Người Amish sống đơn giản không có những nhu cầu hiện đại như chúng ta.

Như vậy, cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Nếu cuộc sống của bạn lấy tiền làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất khổ cực.

Nếu cuộc sống của bạn lấy phụ nữ làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất mệt mỏi.

Nếu cuộc sống của bạn lấy ái tình làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất đau thương.

Nếu cuộc sống của bạn lấy leo cao làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất phiền muộn.

Nếu cuộc sống của bạn lấy khoan dung làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất hạnh phúc.

Nếu cuộc sống của bạn lấy tri túc làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất vui vẻ.

Nếu cuộc sống của bạn lấy cảm ơn làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất thiện lương.

Người đi tìm sự khiếm khuyết của mình mới có được sự hài lòng.

Người nhận biết hạnh phúc mới có được hạnh phúc.

Vui để đợi chết

Trước khi chết thường chịu cảnh bịnh hoạn, đau đớn, buồn khổ, cô đơn. Làm sao trong tâm hồn mình có “Vui để đợi chết”.  

Lúc cuối đời nếu tâm hồn mình thanh thản, bình an thì sự bình an đó kéo theo cho đến lúc lâm chung, còn ngược lại nếu ta chứa đựng nhiều uẩn khúc đau thương, uất hận; sự buồn sầu này sẽ kéo dài theo lúc chết.

Cho nên làm sao vui để được chết đó là điều rất khó, khó nhưng không phải không làm được?

Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy

Cho con còn ngày nữa để yêu thương

Xem thêm:

(1)Thư từ Chủ tịch Lee Kun-hee

(2) Steve Jobs chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple

 (3) Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, Lời trăn trối của bác sĩ triêu phú mắc bệnh ung thư

Xem: Tưởng niệm 4 năm Bác Sĩ Richard Teo

Phùng Văn Phụng

02 tháng 11 năm 2020

(Lễ cầu hồn)

Tưởng Niệm 4 Năm Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)

Bài này là bài viết cũ, nhân ngày lễ Cầu hồn, xin đăng lại, thấy nhiều điều còn hữu ích. Mời đọc.

Tưởng Niệm 4 Năm Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)

Dưới đây là bản ghi lại cuộc nói chuyện của Bác sĩ Richard Teo, một triệu phú 40 tuổi, là một bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ, bị ung thư phổi thời kỳ 4 đến chia sẻ với khóa nha D1 về kinh nghiệm sống của mình vào ngày 19/1/2012.  Anh vừa qua đời cách đây vài ngày vào 18/10/2012.

Chào tất cả các em. Giọng tôi hơi bị khàn một chút, mong các em chịu khó nghẹ.  Tôi xin tự giới thiêu, tôi tên là Richard và là một bác sĩ. Tôi sẽ chia sẻ vài suy nghĩ về cuộc sống của mình và rất hài lòng khi được các giáo sư mời đến đây. Hy vọng sẽ giúp các em cách suy nghĩ khi bắt đầu theo ngành để trở thành nha sĩ giải phẫu cũng như suy nghĩ về những việc chung quanh.

Từ lúc trẻ, tôi là một sản phẩm đặc trưng của xã hội ngày nay, một sản phẩm khá thành công mà xã hội đòi hỏi. Hồi nhỏ tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới mức trung bình. Tôi được bảo ban bởi người chung quanh và môi trường rằng thành công thì hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi trở nên cực kỳ ganh đua ngay từ nhỏ.

Không những chỉ cần đi học ở trường giỏi, tôi cần phải thành công trong mọi lãnh vực – từ các hoạt động tập thể đến chạy đua, mọi điều. Tôi cần phải đoạt được cúp, phải thành công, phải được giải, giải quốc gia, mọi thứ. Tôi rất ganh đua. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, giải phẫu mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi cũng vào được và được học bổng nghiên cứu của NUS phát triển tia laser để chữa bịnh mắt.

Trong khi nghiên cứu tôi có hai bằng phát minh- một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng các em có biết không, tất cả các thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Sau khi hoàn tất MOH, tôi quyết định rằng theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Nếu các em để ý, vài năm qua, ngành thẩm mỹ đang lên, kiếm được khối tiền. Vì vậy tôi quyết định bỏ ngành giải phẫu mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.

Lời trăn trối của bác sĩ triệu phú bị ung thư: Chạy theo tiền tài, khi đối diện với cái chết mới biết hạnh phúc nằm ở đâu - ảnh 1

Các em có biết, rất mâu thuẫn, một người có thể không vui vẻ  khi trả $20 cho một bác sĩ tổng quát, nhưng cũng chính người đó không ngần ngại trả $10,000 để hút mỡ bụng, $15,000 cho sửa ngực, vv… và vv . Không cần phải suy nghĩ nhiều, phải không? Tại sao lại muốn thành bác sĩ tổng quát mà không là bác sĩ thẩm mỹ? Do vậy, thay vì chữa bịnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bịnh nhân mới đầu chờ đợi một tuần, rồi 3 tuần, sau lên một tháng, 2 tháng, đến 3 tháng. Quá nhiều bịnh nhân. Tôi choáng váng. Tôi mướn một bác sĩ, hai bác sĩ, ba bác sĩ, rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thế nào là đủ vì tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu khuếch trương tới Nam Dương, thu hút các “tai-tais” những người muốn có cuộc giải phẫu trong chớp mắt. Cuộc sống thật lên hương.

Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xẹ hơi. Tôi sắm riêng cho tôi một chiếc xe đua. Chúng tôi đến Sepang ở Mã Lai và đua xe. Cuộc sống của tôi là thế đó. Với mớ tiền măt, tôi sắm chiếc Ferrari. Lúc đó chiếc 458 chưa ra, chỉ có chiếc 430. Một người bạn học cũ của tôi làm ngân hàng. Anh ta mua chiếc màu đỏ mà anh mong muốn từ lâu. Tôi sắm chiếc màu bạc.

Tôi làm gì sau khi có chiếc xe? Đến lúc mua nhà, xây cửa. Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm đất để xây nhà nghỉ mát. Tôi đã sống cuộc đời như thế nào?  Chúng tôi nghĩ rằng phải cần hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng. Chúng tôi bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp và tất cả. Đó là tôi của một năm trước đây. Lúc ở trong câu lạc bộ thể thao, tôi nghĩ tôi đã chế ngự được mọi chuyện và đạt đến đỉnh vinh quang.

Nhưng tôi lầm. Tôi không chế ngự được mọi chuyện. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bắt đầu bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại tôi thường vận động manh. Tôi đi đến SGH và nhờ bạn học làm MRI để xem chắc là không bị trật đốt sống hay thứ nào khác. Tối hôm đó, anh ta gọi tôi và cho biết tủy sống thay đổi trong cột sống của tôi. Tôi hỏi như thế nghĩa là sao? Tôi biết nó có nghĩa như thế nào nhưng không thể chấp nhận sự thật. Tôi gần như muốn nói “anh nói thiệt sao?” tôi đang sắp sửa chạy đi tập thể dục.  Ngày hôm sau chúng tôi có nhiều khám nghiệm hơn- PET scans- và họ tìm thấy tôi đang ở thời kỳ thứ tư của ung thư phổi. Tôi nghĩ “từ đâu mà ra thế này?”. Ung thư đã lan tới não, cột sống và nội tuyến.  Các em biết, có lúc tôi hoàn toàn nghĩ mình đã chế ngự được tất cả, đã đạt đến tột đỉnh của cuộc sống, nhưng kế đó, tôi mất tất cả.

Đây là bản CT scan của phổi. Nhìn vào, mỗi chấm đều là nang ung thư. Và thật sự, tôi có cả chục ngàn nang trong phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3,4 tháng tối đa. Cuộc sống tôi bị nghiền nát, dĩ nhiên rồi, làm sao tránh khỏi? Tôi chán nản, tuyệt vọng, tưởng rằng mình đã có mọi thứ trước đây.

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có được- sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa, tất cả những thứ mà tôi nghĩ đã mang hạnh phúc đến cho tôi; khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari mà ngủ. Chuyện đó không thể xảy ra. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong mười tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Vậy mà tôi đã tưởng những thứ này là hạnh phúc; không phải vậy. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua. Đây thật sự mang lại hạnh phúc cho tôi. Những thứ tôi sở hữu, đáng lý ra mang lại hạnh phúc, nhưng không. Nếu có, tôi đã cảm thấy vui khi nghĩ đến.

Các em có biết, Tết sắp đến. Trước đây, tôi thường làm gì? À, thì tôi thường lái chiếc xe hào nhoáng của mình một vòng, thăm viếng họ hàng, phô trương với bạn bè. Tôi tưởng đó là niềm vui, thật sự vui. Nhưng các em có nghĩ họ hàng, bạn bè tôi đang chật vật kiếm sống có thể chia sẻ niềm vui cùng tôi khi thấy tôi khoe khoang chiếc xe bóng loáng? Chắc chắn là không. Họ sống khó khăn, đi xe công cộng. Thật sự những gì tôi làm chỉ khiến họ thêm ganh ghét, thậm chí có khi thành thù hận.

Những thứ này chúng ta gọi là đối tượng của sự ganh tị. Tôi khoe khoang để lấp đầy sự kiêu hãnh và cái tôi của mình. Chúng chẳng mang lại niềm vui cho bạn bè, người thân như tôi tưởng.

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng đối với tôi. Cô ta tên là Jennifer. Chúng tôi vẫn là bạn thân của nhau. Khi chúng tôi thả bộ, nếu cô ta thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm như thế? tại sao phải để bẩn tay? chỉ là một con ốc sên. Sự thật là cô ta đã cảm được cho con ốc có thể bị đạp nát chết. Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tiến hóa thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm. Nhưng tôi không có. Sau khi tốt nghiệp y khoa, tôi làm việc ở khoa ung thư tại NYH.  Hàng ngày, tôi chứng kiến cái chết trong khoa ung thư. Tôi nhìn thấy tất cả đau đớn mà bịnh nhân phải chịu đựng. Tôi thấy tất cả các thuốc giảm đau họ cứ vài phút phải bấm vào người. Tôi thấy họ vật lộn với hơi thở cuối, thấy tất cả. Nhưng đây chỉ là một công việc. Tôi đến bịnh xá mỗi ngày lấy máu, cho thuốc nhưng bịnh nhân có “thật”  đối với tôi không? Không. Tôi chỉ làm công việc và nóng lòng về nhà để làm việc riêng của mình.

Sự đau đớn, chịu đưng của bịnh nhân “thật” không?  Không.  Dĩ nhiên là tôi biết tất cả các từ ngữ chuyên môn để mô tả về sự đớn đau mà họ phải trải qua, nhưng thật sự tôi không hề “cảm” được cho đến khi tôi trở thành bịnh nhân. Mãi đến bây giờ, tôi mới thật sự hiểu được cảm giác của họ. Nếu các em hỏi tôi, nếu được làm lại cuộc đời, tôi có muốn thành một người bác sĩ khác không. Tôi sẽ trả lời các em là Có. Vì bây giờ tôi thật sự hiểu đươc họ. Tôi phải trả giá đắt cho bài học này.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng đươc. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có, tuyệt đối không gì sai trái. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn.  Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Như tôi đã đề cập trước đây, tôi muốn sở hữu nhiều hơn, đạt tới đỉnh vinh quang như xã hội muốn đào tạo chúng ta. Tôi trở nên mê muội đến nỗi mà chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa.  Bịnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

Nhiều khi chúng ta quên đi mình cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai cả ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Dù là ở y hay nha khoa, tôi có thể nói với các em ngay bây giờ rằng, trong khi khám bịnh, đôi khi chúng ta khuyên bịnh nhân chữa trị bịnh không hẳn có, vùng xám không rõ rệt. Và ngay cả khi không cần thiết, chúng ta cũng nói thêm. Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền .

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, “đối thủ” của chúng tôi và không hề thấy khó chịu. Nếu hạ thấp được họ xuống để nâng mình lên, chúng tôi làm. Điều đó đang xảy ra trong ngành y, nha và ở mọi nơi. Tôi thử  thách các em không để đánh mất lương tâm mình. Tôi trả giá đắt cho bài học. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

Điều thứ nhì, nhiều người trong chúng ta muốn số lượng bịnh nhân, dù ở bịnh viên công hay tư. Tôi có thể kể cho các em nghe, khi tôi làm trong bịnh viện, với chồng hồ sơ bịnh lý, tôi chỉ muốn làm cho xong càng nhanh, càng tốt. Tôi chỉ muốn họ ra khỏi phòng khám bịnh của tôi càng nhanh, càng tốt vì có quá nhiều bịnh nhân. Thực tế là vậy. Đây chỉ là một công việc, một công việc thường nhật. Lúc đó, tôi có thật sự biết về cảm xúc của bịnh nhân của tôi như thế nào không? Không. Sự sợ hãi, nỗi lo âu của họ, tôi có thật sự hiểu điều gì họ đang trải qua không?  Không, mãi cho đến khi sự cố xảy ra với tôi. Tôi nghĩ rằng đây là một lỗi lầm lớn nhất trong xã hội của chúng ta.

Chúng ta được huấn luyện để trở thành lương y, nhưng chúng ta không cảm được cho bịnh nhân. Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bịnh nhân.

Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ mà các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp! Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bịnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi!

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết.Tôi thử thách các em, ngoài bịnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất vv.vv… Họ có thật. Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm điều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Tôi sẽ ngưng với lời sau, trong cuốn sách có tựa đề là “Những ngày thứ ba với Morris”. Có lẽ một số các em đã đọc cuốn này. Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vây.  Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe bịnh hoạn nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.

Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Điều này đã xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự khác biệt cho đời sống của người khác. Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình. Sự thật không như tôi đã tưởng.

Quan trọng nhất, tôi nghĩ  niềm vui sướng thật sự là khi biết Thượng Đế. Không phải là chỉ biết về Thượng Đế như khi các em đọc Kinh Thánh- mà là bản thân biết đến Thượng Đế, tiếp cận với Ngài. Đây là điều quan trọng nhất mà tôi học hỏi được.

Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt. Đừng giống như tôi. Tôi không còn cách khác và đã phải trả giá đắt cho bài học. Tôi phải quay lại tạ ơn Thượng Đế vì Ngài đã cho tôi cơ hội sống- tôi gặp 3 tai nạn lớn trong quá khứ- tai nạn xe hơi đua. Tôi đua nhanh và xe muốn lật ngửa nhưng không hiểu sao vẫn sống sót. Mặc dù tôi được rửa tội, đây chỉ là hình thức, nhưng sự kiện xảy ra đã cho tôi cơ hội trở về với Chúa.

Vài điều tôi học được:

1) Tin tưởng vào Thượng Đế với cả tấm lòng. Điều này rất quan trọng.

2) Thương yêu và sống vì người khác, không chỉ cho bản thân mình.

Không có gì sai trái khi được giàu có cả. Tôi nghĩ hoàn toàn tốt vì được Thượng Đế ban ơn.

Nhiều người được hồng ân với sự giàu có nhưng vấn đề là chúng ta không biết kiềm chế. Có nhiều lại càng muốn có thêm. Tôi đã đi qua, lỗ đào càng sâu, chúng ta càng bị lún, đến nỗi chỉ biết phụng thờ của cải và quên cả việc chính. Thay vì phụng thờ Thượng Đế, chúng ta thờ phượng sự giàu có. Đây là bản năng con người và rất khó thoát khỏi.

Chúng ta thành danh, đi làm, hiển nhiên, bắt đầu gây dựng sự giàu có. Tôi nghĩ, khi giàu sang và có cơ hội đến, các em nên nhớ, tất cả những thứ này không thuộc về chúng ta. Chúng ta không thật sự sở hữu và có quyền hành. Những thứ này là quà tặng của Thượng Đế. {Remember that it’s more important to further His Kingdom rather than to further ourselves}.

Tôi đã trải qua và tôi biết rằng sự giàu có thiếu đức tin sẽ thành trống rỗng. {It is more important that you fill up the wealth, as you build it up subsequently, as professionals and all, you need to fill it up with the wealth of God.}

From: NguyenNThu

BÁC CẢ HÀ ĐÔNG

 

BÁC CẢ HÀ ĐÔNG

Phố Nhà Rượu là nơi gia đình tôi ở lâu nhất. Từ nhà 27 Bis chúng tôi dọn tới nhà 65 cùng phố. Nhà 65 là ngôi nhà thứ ba trong cuộc sống không yên chỗ. Nó lớn hơn ngôi nhà thứ hai, có nhiều phòng hơn. Gia đình đã lớn thêm với ba em tôi lần lượt ra đời.

Thay vào chị Nhài Hiên là chị Tường ở quê lên. Chị xấp xỉ tuổi cha mẹ tôi, gọi cha mẹ tôi bằng cậu mợ xưng em, còn chúng tôi gọi chị bằng chị. Cách xưng hô này được giữ mãi. Vì sao lại như thế thì khi tôi về quê được bà chị cả của cha tôi là cô Gái dẫn tích tôi mới hiểu. Duyên do chị Tường là một đứa bé mới đẻ bị mẹ vứt ở bụi tre đầu ngõ, ông nội tôi dậy sớm nghe tiếng trẻ khóc, mới lần ra xem rồi thương tình ông bồng về cho bà nội nuôi.

Chị lớn lên, trở thành người nhà. Cô Gái không giải thích vì sao chị không được coi là con nuôi. Chắc vì gia đình đã đông con cái nên không coi chị là đứa con thêm. Thấp, đậm người, cục mịch, mặt mũi xấu xí, lúc nào cũng cau có, chúng tôi không yêu chị Tường. Không giống chị Nhài Hiên dịu dàng, chị Tường luôn quát nạt, bắt chúng tôi vào khuôn vào phép.

Tôi biết bác Cả Hà Đông năm tôi lên mười.

Một hôm cha tôi trở về, mặt đăm chiêu. Ông nói nhỏ với mẹ tôi:

– Anh Sao Đỏ đã vượt ngục!

– Anh ấy hiện ở đâu? – mẹ tôi lo lắng.

– Đang đợi xem sao. Tụi nó lùng dữ lắm. Treo giải thưởng một vạn đồng Đông Dương cho cái đầu Sao Đỏ.

– Đã có chỗ trốn cho anh ấy chưa?

– Mình phải lo cho anh ấy thôi!

Mẹ tôi nói không nên để Sao Đỏ ở nơi nào khác, mọi chỗ đều không an toàn, đều nguy hiểm, tốt nhất là đưa về nhà mình. Đó mới là chỗ mật thám ít ngờ nhất – Nguyễn Lương Bằng không thể mạo hiểm trốn ở nhà bạn tù vừa được tha.

Hôm sau cha tôi mang về tờ Tin Mới với dòng nhắn tin trong mục Rao vặt: “Ông Cả Hà Đông đang ở đâu, về ngay, cả nhà đợi ông”.

Về khuya hai hôm sau, một người đàn ông gày còm, mặt quắt, vận áo the thâm, quần cháo lòng, một tay cầm cái ô cụp, tay kia xách gói vải trong có một viên ngói tây, gõ cửa vào nhà tôi.

Cha tôi hé cửa cho ông vào nhà. Hai người ôm chầm lấy nhau, cười ra nước mắt.

Trước khi vào nhà tôi, ông ngó nghiêng đống ngói ở nhà bên rồi vờ vào hỏi mua. Người đàn ông ra tiếp ông nhà quê là ông Trần Trọng Kim, về sau làm thủ tướng chính phủ Việt Nam khi Nhật hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương.

Năm 2003, nhân trò chuyện với ông Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng hoà ở Hoa Kỳ, ông cho hay ông từng ở chính ngôi nhà số 65 của chúng tôi vào thời gian cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954. Trong cuộc đời không thiếu những tình cờ hi hữu.

Căn phòng nhỏ của chị Tường được dành riêng cho ông Sao Đỏ. Ông ở yên trong đó, không bước chân ra ngoài. Chúng tôi được bố mẹ dặn đi dặn lại rằng nếu bất ngờ có ai hỏi thì nói rằng chỉ có một người đến chơi tên là Bác Cả Hà Đông. Chị Tường ngoan đạo đã được cha mẹ tôi huấn luyện để biết cách bảo vệ cán bộ cách mạng.

Bí danh Ông Cả Hà Đông có từ ngày đó. Nếu nó có trước chắc cha tôi đã không dùng nó để viết trong mục Rao Vặt.

Mẹ tôi bận bịu suốt dưới bếp lo nấu nướng những món tẩm bổ : chim câu tần hạt sen, chân giò hầm thuốc bắc… mang vào tận giường cho bác Cả Hà Đông. Chúng tôi chưa bao giờ được biết đến những món ăn ngon như thế. Khi mẹ tôi nấu nhiều, ông ăn không hết, chúng tôi mới được nếm náp chút ít.

Bận bịu lo kinh tế cho Đảng, cho các đồng chí đang trốn tránh, mẹ tôi mặc chị Tường lo cơm nước. Tôi nhớ rất lâu món rau muống sống chấm bỗng rượu, Rau muống ăn sống thường được chẻ nhỏ, nhưng chị Tường chỉ vặn cọng rau làm đôi làm ba rồi đập vào lòng bàn tay cho giập. Bỗng rượu là đồ cho lợn, được nhà máy rượu thải ra qua những lỗ ở bức tường bao quanh cho những xe bò quây cót chở đi, muốn xin bao nhiêu cũng được.

Trong bảo tàng nhà ngục Sơn La cho đến nay vẫn còn bức ảnh cha tôi và bác Cả Hà Đông chụp chung. Trong ảnh, hai người mặc quần trắng áo trắng có in số tù trên ngực.

Thời Tây đô hộ, chế độ giam cầm xem ra dễ dãi. Người tù được phép chụp ảnh kỷ niệm. Cha tôi kể: bức ảnh do một ông thợ ngoài phố được phép vào trong nhà tù chụp cho tù.

Số phận bức ảnh hai người tù khá long đong. Khi cha tôi bị bắt, nó lập tức bị hạ xuống, bị tiêu huỷ. Nghe nói rồi sau người ta vất vả mới tìm lại được để bổ sung vào số hiện vật cho bảo tàng nhà ngục Sơn La.

Tôi thường ngờ vực nhìn những đồ vật được trưng bày ở các bảo tàng, các nhà lưu niệm – không thể nào biết chúng là đồ thật hay đồ giả. Cây đào Tô Hiệu nổi tiếng trong các hồi ký cách mạng là một cây đào khác được trồng ở chỗ khác. Nếu là trí nhớ của một người thì có thể nhầm. Nhưng đàng này các ông Đặng Kim Giang, Trần Huy Liệu, Lưu Động và cha tôi là bạn tù của Tô Hiệu nhận xét thế thì rõ ràng người ta đã bịa ra một hiện vật. Đến cái máy chữ Hermes Baby trong ảnh cụ Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc do nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định chụp được trưng bày trong bảo tàng cũng không phải chính nó. Cái máy chữ cũ ấy cha tôi xin cụ Hồ mang về cho tôi, rồi một người bạn mượn không trả. Chắc người ta đã mua một cái Hermes Baby ở chợ giời thay vào.

Chuyện không tôn trọng cái thật, hồn nhiên làm cái giả, không phải chỉ trong lĩnh vực bảo tàng. Ngành làm phim ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng thuần thục trong việc chế tạo cảnh giả. Trong phim Việt Nam Chiến Đấu (tên Việt: Việt Nam Trên Đường Thắng Lợi) nhiều cảnh của bậc thầy phim tài liệu Liên Xô Roman Karmen quay cũng là cảnh giả, bố trí để quay, chứ không phải cảnh được quay tại trận. Cũng trong phim ấy, cảnh con hổ Việt Nam đi lại trong rừng, xuống suối uống nước, chính tôi quay bằng máy Eymo 35 ly, cũng là cảnh giả. Người ta phải bẫy con hổ rồi mang cái cũi lim nhốt nó tới một nơi rộng rãi được rào san sát bằng tre gộc. Nói cho công bằng, phim này phải làm cấp tốc để hoàn thành vào năm 1954, những người làm phim không có cả thời gian lẫn thiết bị tốt mà các nhà quay phim thế giới động vật bây giờ có.

Kể từ năm 1954 khi tôn ti trật tự mới do tổng bí thư Trường Chinh kiên trì thiết lập thì trong số bạn bè thời hoạt động bí mật chỉ có bác Cả Hà Đông là người còn thỉnh thoảng lui tới gia đình tôi. Những nhà cách mạng thường xuyên lui tới, trú ngụ trong nhà tôi, nay trở thành “lãnh tụ” hoặc quan chức lớn thì biến mất như bốc hơi.

Bác Cả Hà Đông giàu tình cảm, sống xuề xoà, bình dân, là có thực, kể cả khi ông đã trở thành quan lớn. Bác đến chơi là đến chơi, vậy thôi, hàn huyên với cha mẹ tôi, thăm chúng tôi, những đứa cháu, chứ chẳng có mục đích nào khác.

Thế mà rồi việc bạn bè bình thường đến thăm nhau trong những thời gian sau khi cách mạng đã có chính quyền cũng bị công an theo dõi, mới lạ. Tôi không biết người ta

theo dõi quan hệ giữa cha tôi và ông Nguyễn Lương Bằng từ khi nào.

Sau này tôi đọc nhiều hồi ký mới biết ở nước cộng sản nào cũng vậy, sự theo dõi nhau giữa những người trong đảng, đặc biệt giữa những người có địa vị trong nhóm cầm quyền, là chuyện không hề lạ. Theo dõi và tố cáo được khuyến khích trong toàn xã hội trở thành một thói thường. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ người dân Cộng hòa Dân chủ Đức mới sững sờ trước những chồng hồ sơ cao ngất: con báo cáo cha mẹ, vợ báo cáo chồng, bè bạn thân thiết báo cáo nhau… ngồn ngộn trong kho lưu trữ của cơ quan an ninh STASI.

Những người trong ban lãnh đạo đảng tất nhiên biết Nguyễn Lương Bằng thân với cha mẹ tôi. Mà tính ngang ngạnh của cha tôi không phải là điều khó thấy. Những câu nói như “Vớ vẩn, xưng vì nhân dân quên mình là ngoa ngôn, là bịp bợm. Chúa Giê Su kêu gọi: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy” hai nghìn năm rồi mà loài người chưa theo được, làm gì có chuyện quên mình vì dân”. Hoặc “Dạy học trò phải yêu nước vì nước ta giàu và đẹp là bậy. Thế nếu nước nghèo và xấu thì không yêu nó à?” vv… được đưa vào hồ sơ theo dõi, khi tôi vào tù mới biết. Chuyện người cách mạng cũ nay có chính quyền theo dõi nhau là chuyện bình thường, nhưng từ khi có sự rạn nứt trong đảng về quan điểm cách mạng bạo lực thì sự theo dõi ấy mới được đặc biệt tăng cường.

Ở Hỏa Lò Hà Nội, Huỳnh Ngự, cục phó Cục Chấp pháp, tra hỏi tôi rất nhiều về Nguyễn Lương Bằng, y vặn vẹo đủ đường, cứ như thể ông cũng là một nghi can trong vụ án. Trong khi đó thì ở bên ngoài Hỏa Lò Nguyễn Lương Bằng vẫn đường đường là Chủ nhiệm Ban kiểm tra Trung ương Đảng, người cầm thanh kiếm bảo vệ đảng. Còn hơn thế: ông là một người trong những người chủ trương vụ bắt bớ những đảng viên bất đồng với đường lối chung của đảng.

Thời gian tôi học điện ảnh ở Moskva những năm 50 thế kỷ trước, ông Nguyễn Lương Bằng là đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Liên Xô. Thỉnh thoảng ông gọi tôi đến ăn cơm với ông.

Một hôm đang ăn ông bảo tôi:

– Bác nói điều này, cháu nhớ lấy nhá: “Đàn bà một người thì đoàn kết, hai người thì chia rẽ. Đừng có quên”!

Ông đang buồn phiền vì cuộc cãi vã giữa vợ ông, cũng là một nhân viên sứ quán, với mấy bà khác cùng cơ quan. Nhớ lại câu nói của ông, tôi cứ buồn cười mãi. Có những tình tiết không quan trọng chút nào nhưng chúng lại đọng rất lâu trong trí nhớ.

Tôi rất yêu bác Cả Hà Đông những ngày ấy.

Nhưng tôi đã mất ông, ông bác tôi từng yêu quý.

Vào năm tù thứ ba hay thứ tư tôi không nhớ, tôi phải rất vất vả mới viết được một bức thư để gửi ông. Trong những nhà tù tôi trải qua, người bị giam không có quyền được đọc, thậm chí một mảnh giấy báo bọc đồ tiếp tế cũng bị lột ra, đừng nói tới viết. Tôi phải lấy nhựa thuốc lào đọng trong cái điếu tự tạo làm mực, lấy cật bương làm bút để viết trên mặt sau vỏ bao thuốc lá.

Tôi viết thế này:

“Thưa bác. Cháu đề nghị bác, với tư cách người cầm thanh kiếm bảo vệ sự trong sáng của Đảng, tự mình xem xét vụ án này. Cháu là đứa cháu được bác và bố mẹ giáo dục tinh thần trung thành với sự nghiệp cách mạng. Nếu sau khi kiểm tra bác thấy cháu phản cách mạng thật thì cứ mang ra bắn, nhưng nếu không phải là như thế thì bác phải đưa bọn lạm dụng chức quyền đàn áp những người cách mạng trung thực ra xử. “

Không còn tin gì nữa, không còn trông đợi gì nữa ở cái đảng cộng sản đã bỏ tôi vào tù, tôi hằng tin vẫn còn đâu đó những người đã từng chịu đựng gian nan, tù ngục cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ không chịu cúi đầu làm tay sai cho những tên cơ hội tiếm quyền.

Tôi lầm. Như cách người ta thường nói: tôi ngu lâu.

Bức thư đã được bí mật chuyển ra ngoài nhân một lần tôi được gặp gia đình. Tôi bế con gái lớn lên, nhân lúc mấy người công an giám sát không để ý, tôi nhét nó vào túi áo của con. My Lan khi ấy mới lên bảy, nhưng sáng dạ, biết tôi vội vã nhét vào đấy một cái gì đó, nhưng không rút ra hỏi bố, mà tảng lờ như không có chuyện gì.

Mẹ tôi đã tới gặp Nguyễn Lương Bằng, đưa bức thư ấy cho ông . Ông lẳng lặng đọc, rồi lảng sang chuyện khác. Nhìn thái độ nhớn nhác của ông, mẹ tôi hiểu: ông sợ những con “rệp” được gài trong phòng khách. Khi tiễn mẹ tôi ra cổng, ông mới dám ghé vào tai mẹ tôi thì thào: “Chị ơi, tập thể đã quyết định, tôi đau lòng lắm, nhưng không làm gì được”.

Nguyễn Lương Bằng không làm gì được là phải.

Được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cho vào Ban Chuyên án vụ trấn áp, ông ký cả hai tay. Không thể viện lẽ tổ chức phân công thì ông phải theo. Nếu ông muốn bảo vệ những đồng chí cùng hoạt động với mình trong thời kỳ bí mật mà mình tin tưởng thì ai cấm được ông nói tiếng nói của mình. Là đảng viên, ông vẫn có quyền có ý kiến với công việc được giao. Chưa kể cái quyền lớn nhất mà người đảng viên nào cũng có là thôi không làm đảng viên nữa. Trong chuyện này ông không vô can. Là thành viên Ban Chuyên án, chính ông cũng là một trong những kẻ tống tôi vào tù. Có chân trong Ban Chuyên án ông trở thành người đi bắt để được bảo đảm không bị bắt.

Khi cuộc trấn áp nổ ra, tuân lệnh Lê Đức Thọ ông còn gửi cho cha tôi trong xà lim cấm cố viết một bức thư sặc mùi cán bộ chấp pháp. May mà nay còn có văn bản, ông có muốn chối cũng không được. Ông viết:

“Trước đây, khi biết anh có quan điểm bất đồng với Đảng, tôi đã lấy tình đồng chí và tình đảng viên để khuyên can, nhưng vì một lẽ nào đó, những lời chí tình của tôi không được anh chấp nhận. Trái lại, những tư tưởng và hành động của anh ngày càng đi sâu vào con đường đầy tội lỗi đối với Đảng”.

Tất nhiên, đọc mấy dòng trong bức thư đánh máy đó ắt cha tôi hiểu không phải chính Nguyễn Lương Bằng viết. Hai người cùng hoạt động với nhau nhiều năm, ông thừa biết trình độ học vấn của bạn mình. Nó hoàn toàn không giống với cách viết của con người ít học Nguyễn Lương Bằng. Người ta viết, bảo ông ký thì ông ký.

Dù sao mặc lòng, ông đã đọc, đã ký, chữ ký của ông dưới bức thư là thực. Nó xác nhận một ông Cả Hà Đông ngày xưa đã thành người thế nào trong những ngày ấy.

Kẻ tạo ra sản phẩm bị chính cái sản phẩm do mình tạo ra ấy nhào nặn thành cái mà nó muốn.

Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La năm 1943, ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu. Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số vào mùa thu năm 1965 với tư cách nhà báo để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Sau hai mươi hai năm, tính đến chuyến đi của tôi, người tù vượt ngục dẫn tới cái chết của người thanh niên nọ đã không một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp.

Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. Người đem cả sinh mạng mình giúp ông mà ông còn quên, nói chi đến đồng chí.

Vô ơn là một thói thường của những người cách mạng khi xong việc.

Chẳng cứ Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh được cha tôi dẫn đi giấu ở nhà bạn là ông Trần Văn Vần ở Phúc Yên để trốn cuộc tổng khủng bố 1939, ở đấy gần hai năm, được nuôi nấng, được bảo vệ chu đáo, nhưng khi cách mạng thành công ông ta không đến thăm ân nhân của mình lấy một lần. Khi ông Vần đến thăm Trường Chinh, ông ta ban cho ông Vần một gói kẹo.

Người ta coi sự đóng góp của nhân dân, kể cả những việc nguy hiểm đến tính mạng, là việc đương nhiên.

Bây giờ thì ai cũng biết chính quyền cách mạng đối xử với ông bà Trịnh Văn Bô, người đã hiến nhà cửa, tài sản cho cách mạng như thế nào, đến cả ngôi nhà thờ tự cũng chiếm lấy không muốn trả. Hoặc với ông bà Đỗ Đình Thiện hiến cả đồn điền Cố Nghĩa ở Phủ Lý (đồn điền Borel), nơi chính phủ kháng chiến lấy làm nơi trú chân đầu tiên khi rời khỏi Hà Nội, nơi đặt nhà in giấy bạc đầu tiên cho nền tài chính non trẻ, cũng thế. Sau khi về tiếp quản Hà Nội, ông bà còn có ngôi nhà lớn bên hồ Thiền Quang, người ta chỉ cho gia đình ông bà ở tầng dưới, tầng trên thì cấp cho báo Ảnh Việt Nam. Tôi làm việc trong tờ báo ấy, tôi biết gia đình ông bà Thiện phải ở tầng dưới ẩm thấp ra sao.

Bệnh “diễn” cũng vậy. Nhà cầm quyền luôn miệng nói về cái gọi là lập trường công nông, cứ như thể họ chiến đấu vì quyền lợi công nông. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, mẹ tôi sát cánh cùng ông và bà Điền, vợ ông Đỗ Đình Thiện, làm công tác kinh tài cho đảng, Nguyễn Lương Bằng thừa biết chị Tường là người ở trong gia đình tôi, đã được cha mẹ tôi giác ngộ để bảo vệ cán bộ. Thế nhưng trong lần đầu tiên có cuộc diễu binh ở Hà Nội vừa được tiếp quản, Nguyễn Lương Bằng sai người đánh ô tô đến nhà tôi để đón chị Tường đến lễ đài, còn mẹ tôi, người làm công việc lo kinh tài cho đảng cùng với ông, người huấn luyện chị Tường biết giúp đỡ những cán bộ cách mạng thì ra hè đứng ngó đoàn quân cuối cùng của cuộc diễu binh đi qua nhà.

Lẽ ra ngay từ đó tôi đã phải biết Nguyễn Lương Bằng đã trở thành người thế nào. Khi cả hai cha con người bạn thân thiết của mình bị tống ngục, ông thừa biết họ không có tội, nhưng ông đã không hề động ngón tay út để can thiệp, đã thế còn hùa theo mấy tên lãnh tụ độc tài.

Hiểu được con người thật không dễ.

Cha tôi quý Nguyễn Lương Bằng vì cùng tù với nhau, ông biết bạn mình là người cách mạng kiên định, không gì có thể lay chuyển. Ông còn quý bạn ở chỗ là người trong sạch, rất liêm khiết, ngay cả khi nắm quyền lực. Trong hoạt động bí mật, Nguyễn Lương Bằng tiết kiệm từng xu cho quỹ đảng. Có lần cha tôi phát bực, to tiếng với ông, bắt ông phải xé ngay những trang sổ tay ghi tỉ mỉ những khoản chi tiêu, từng xu tiền đò, từng hào tiền trọ:

– Ông mà bị bắt với những ghi chép này thì Tây nó biết hết ông đi đâu, liên lạc với ai. Dở hơi vừa vừa chứ!

Đức liêm chính của ông còn ảnh hưởng đến vợ con. Khi ông qua đời, vợ ông trả ngay biệt thự ông được cấp, chỉ xin có một chỗ ở vừa đủ cho gia đình.

Ông liêm, là điều có thực. Ông không chính cũng là điều có thực.

Sau sáu năm bị giam, khi được thả cha tôi còn phải chịu biệt xứ ở Nam Định hai năm nữa rồi mới được trở về nhà mình ở Hà Nội. Nhân dịp ấy ông Nguyễn Lương Bằng có đến thăm, ấp úng nói lời xin lỗi.

Cha tôi phẩy tay:

– Chuyện đã qua, tôi không để bụng. Anh cũng không phải là kẻ gây ra tội.

Từ nhà tù trở về, tôi viết thư cho ông “Chuyện của cháu hãy để đấy cho lịch sử. Nhưng nỗi oan của dân thì cần giải quyết ngay. Cháu đề nghị bác hãy tới các nhà tù để nghe những người tù oan ức. Cháu tình nguyện làm người dẫn đường cho bác… “

Bức thư không có hồi âm.

Trong lần cuối gặp ông khi ông tới nhà tôi, tôi còn cố vật nài:

– Cháu qua bốn nhà tù trong chín năm, được biết rất nhiều chuyện. Oan ức nhiều lắm, bác ơi! Không phải chỉ ở trong nhà tù có những người bị oan, ở mọi nơi đều có những nỗi oan không được giải. Thôi thì chuyện dân để sau, từ từ làm. Nhưng những người tù oan đã nhiều năm thì khổ sở lắm. Bác nghe cháu, bác hãy đến để giải quyết cho họ. Khi nào có thời giờ đến với dân, bác đừng đi ô tô nhà nước để đến với dân bác cứ đi với cháu như ngày xưa bác hoạt động bí mật ấy, cháu sẽ chở bác đi bằng xe máy, cháu lái vững, bác yên tâm, bác sẽ thấy cháu không nói sai đâu.

Đáp lại, ông im lặng.

Tôi hiểu, ông không nói vì ông không thể làm.

Ông không đủ can đảm đối mặt với những gì mà cuộc cách mạng thế hệ ông làm ra đã mang lại cho nhân dân, cho đất nước. Ông không phải không biết, nhưng ông sợ sự đối mặt ấy. Nghĩ được thế còn là tốt. Tôi cho rằng ông còn sợ cái khác, cái lớn hơn, cái ông chắc chắn sẽ nhận được nếu dám trái ý bề trên. Ông biết những người cầm lái bộ máy cai trị là người thế nào.

Nguyễn Lương Bằng được ngành tuyên truyền tung hô như một Bao Công. Tôi nhìn rõ ông – ông đã trút bỏ sạch sành sanh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.

Ông hài lòng sắm vai một Bao công giả. Bộ cánh quan lớn chẳng những vừa vặn mà còn hoàn toàn dễ chịu với ông. Nó không đòi ông phải dũng cảm chống lại cái xấu, cái ác, để trốn tránh hậu quả của sự dũng cảm ấy.

Ông đã học được cách tồn tại.

Tiếc thay! Một con người tốt như thế mà đã đọa ra như thế.

Năm 1835, trong vở kịch Cái Chết Của Danton, nhà văn người Đức Georg Buchner viết: “Cách mạng giống như thần Saturn trong truyện thần thoại ăn thịt những đứa con của mình”. Câu này, như một lời tiên tri, được trích dẫn nhiều.

Khởi đầu, mọi cuộc cách mạng đều hứa hẹn một ngày mai tươi sáng. Nó biến chất khi một thiểu số cơ hội lợi dụng thắng lợi của cách mạng chiếm lấy đỉnh cao quyền lực. Thiểu số này tự cho mình là “duy nhất đúng đắn và vô cùng sáng suốt”, tiêu diệt không nương tay mọi bạn đồng hành không chịu điều hoà với cách quản trị xã hội độc tài (hay chuyên chính cùng một nghĩa). Số còn lại bị biến thành (hoặc tự nguyện biến thành) tay sai trung thành để được quyền tự do đè nén và cướp bóc nhân dân. Số khác thì biết đấy, biết rõ, nhưng vì biết mà cúi đầu tuân theo chỉ để được tồn tại bên ngoài những nhà tù.

Năm 1979, Nguyễn Lương Bằng qua đời.

Buổi sáng, cha tôi gọi tôi:

– Hôm nay đưa tang bác Cả. Con mặc quần áo rồi chở bố đi tiễn bác.

Cùng với tuổi già và bệnh tật mang về từ những nhà tù, cha tôi yếu đi rất nhiều. Đến xe đạp ông cũng không đi được, ngồi được lên yên là ngã. Khi ông muốn đi đâu tôi phải chở ông bằng xe máy.

Tôi nhìn vào mắt bố:

– Con là đứa con luôn vâng lời bố, bố biết. Nhưng lần này thì con xin không nghe.

Tôi biết tôi hẹp hòi, tôi không có được đức độ lượng của cha tôi. Nhưng tôi phải cho cha tôi biết thái độ của mình.

Phải cố gắng lắm tôi mới nói được điều biết trước sẽ làm ông đau lòng:

– Con sẽ bỏ cả ngày để tiễn chân một người anh hùng. Nhưng con sẽ không bỏ một phút để đưa ma một thằng hèn.

Cha tôi im lặng.

Rồi thở dài.   

ĐẢO LỘN ĐẤT TRỜI

ĐẢO LỘN ĐẤT TRỜI

Vì sao núi lở vùi chôn phận người?

Vì tham lam vô độ.

Những công trình mượn danh du lịch tâm linh cạo trắng núi rừng. Đó là cuộc buôn thần bán thánh, phản tâm linh, hủy diệt cả môi trường, văn minh và văn hóa. Rừng núi oằn lưng chịu ngàn vạn nhát búa phạt thấu xương, triệu lưỡi dao róc tận tủy. Nước nguồn không nơi lưu trú, nước ngầm như mạch máu bị hút cạn đến những giọt cuối cùng. Long mạch héo khô, cơ thể đất đai đầy lở loét. Bạt núi, cạo rừng, địa chất triệu triệu năm không thể hoàn nguyên, đám đại gia vô đạo vẫn giương trơ mắt trắng.

Vì sao thủy phá sa bồi, cuốn trôi và nhận chìm xóm làng, nhà cửa?

Vì tham lam vô độ.

Những công trình thủy điện nhỏ, vừa đua nhau mọc lên như nấm. Thuyết minh việc xây hồ tích nước là nhằm và phát điện và điều tiết lũ, thực chất lũ người tham đang gom lũ thành bom nước giết dân để vơ vét tài nguyên muôn đời vào một túi. Nói khai thác điện năng mà mục đích chỉ là để phá rừng có giấy phép, bòn hút máu cây xanh, cạp nhai xương đất trắng làm hả hê lời lãi. Nhiều cánh rừng giữa đồi cao núi thẳm, hồ đập hình thành nhưng điện không thể phát, sông núi muôn đời bất phục phản, lũ đầu tư ăn cướp vẫn rung đùi.

Vì sao màu xanh cạn kiệt, đất trơ sỏi trắng, muông thú gục ngã chết mòn, chim muông tứ tán không nơi trú?

Vì tham lam vô độ.

Những lâm trường quản lý và khai thác rừng bền vững, những cục, chi cục kiểm lâm bảo vệ rừng cho hiện tại và tương lai, đó chính là những tập đoàn đại lâm tặc hủy diệt rừng, vinh thân phì gia trên tiếng khóc dậy trời của triệu triệu gốc khô kiệt máu. Màu xanh lụi tàn, đoàn đoàn lũ lũ kẻ ác trình dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt thành rừng trồng chuyên canh. Nói hiệu quả kinh tế cao đâu không thấy, chỉ thấy thiên địch lớp lớp hoành hành. Người ác tranh nhau với sâu bọ ăn nốt tất cả những gì từ cây cỏ còn sót lại, tàn sát trắng lớp thực bì, tận diệt những mẩu giun dế cuối cùng của nguồn gen bản địa. Không chừa cơ hội cho đất nghỉ ngơi, triệt đường hồi sinh mầm lá, bọn sát sinh vẫn khoái trá đua chúc nhau trong phủ đệ phô phang danh mộc nguy nga.

Nếu thật sự còn một mẩu lương tri thương dân tiếc nước, ba thảm trạng sau đây phải buộc dừng ngay tức khắc:

Một là phá rừng. Không còn gì là rừng nữa để gọi là khai thác. Chính phủ phải quy định bằng pháp lệnh, chặt tay tất cả những ai, thế lực nào đụng đến thêm, dù chỉ một mẫu gỗ rừng tự nhiên, bất kể lý do gì. Cứ để đất nghỉ ngơi, không cần bất kỳ dự án, chương trình, kế hoạch nào khác, từ 30 – 50 năm, mẹ thiên nhiên sẽ biết cách tự chữa lành những vết lở lói trên cơ thể, rừng tự nhiên sẽ lên xanh và hồi sinh. Muốn giữ lại, trước hết đừng thêm phá.

Hai là, pháp luật phải ra lệnh phải dẹp ngay vô điều kiện những đại công trình phản tâm linh đang băm nát xương sống núi đồi, róc sâu từng thớ thịt đất đai dài hàng nhiều cây số. Cây bị phạt ngang, cỏ bị cày xới, đá cuội bị trốc chân khỏi đất, tâm linh biết ngụ vào đâu? Không có thứ tâm linh nào ẩn trú trong những điện, phủ, chùa, đền… như lưỡi dao cắm tận tim óc của thiên nhiên. Muốn trồng cây, trước hết phải dưỡng đất.

Ba là, nhà nước phải tuyên bố chấm dứt chương trình phát triển thủy điện nhỏ và vừa đã rõ ràng là không hiệu quả, chỉ phá hoại, rập rình bao tai họa; ngừng cấp phép xây dựng mọi công trình thủy điện nhỏ, không thể nghe mãi những thuyết minh dối trá, không thương thảo hay luận bàn thêm. Hậu quả đã nhãn tiền, xảy ra ngay trong thực tại. Do dự là hay biện hộ đều là đồng lõa và tiếp tay cho tội ác, là nhấm nháp tội ác.

Trách nhiệm để xảy ra bao thảm họa, trước hết phải thuộc về chính sách và sự quản lý yếu kém của nhà nước hàng nhiều thập kỷ. Trách nhiệm dừng mọi thảm họa, tìm đường tồn sinh cho đất nước, con người, xã hội hôm nay và ngày mai thuộc về chính phủ kiến tạo hiện thời. Một trách nhiệm nằm ngoài và không cần nghe thêm bất kỳ một lời tuyên bố hay biện hộ nào nữa cả.

Con người muốn sống, đất đai, sông hồ, rừng núi, cỏ cây, muông thú, chim chóc, giun dế… cũng cần tồn tại. Con người đầy tham vọng phát triển, muôn loài cũng đầy khát vọng sinh tồn. Chúng ta muốn hòa bình, ngợi ca đường đến hòa bình, sao không thể sống chung hòa bình trước hết với thiên nhiên, cây cỏ? Tham vọng là vô biên nhưng cũng đừng mong bẻ nạng chống trời. Lòng tham của con người chỉ có thể tàn hại đồng loại, hủy diệt chính con người. Đó không phải là thứ để du di hay thỏa hiệp.

Bão lũ là thiên tai, nhưng thảm họa là nhân tai. Khi dân oán chính là lúc trên cao xanh thiên nộ!

Muốn làm người, sao không một lần thử ngồi bệt trong đêm nghe giun dế khóc?

Hãy dừng tham đi, dừng ngay tức khắc!

Lam Hồng Nguyễn

From:TU-PHUNG