Tình yêu thì còn mãi

Tình yêu thì còn mãi

Một năm trước khi chết, nhà văn Tiệp khắc Franz Kafka (1883-1924) đã có một trải nghiệm đặc biệt. Đi dạo trong công viên Steglitz ở Berlin ông gặp cô gái nhỏ Elsi đang khóc vì tuyệt vọng: cô ấy đã đánh mất con búp bê Brigida yêu thích của mình. Kafka đã đề nghị giúp cô ấy đi tìm và hai người đã hẹn là sẽ gặp nhau vào ngày hôm sau.

Biết là không thể tìm thấy, nhà văn đã giả giọng con búp bê viết một bức thư cho cô bé và mang nó theo khi họ gặp nhau: “Xin đừng khóc, tôi đang đi du lịch để nhìn xem thế giới và sẽ kể cho bạn nghe về những chuyến phiêu lưu này…”, Ông đã bắt đầu bức thư như vậy.

Khi gặp nhau, ông đã đọc bức thư, trong đó mô tả thật kỹ những cuộc phiêu lưu tưởng tượng của con búp bê Brigida. Cô bé Elsi cảm thấy mình được an ủi, và trước khi chia tay, nhà văn Kafka có tặng cho cô bé một con búp bê. Dĩ nhiên con búp bê này khác với con búp bê bị mất, nó được kèm theo một ghi chú để nhằm giải thích: “Cuộc hành trình dài đã làm tôi thay đổi”.

Nhiều năm sau, khi cô gái Elsi đã trưởng thành, một hôm cô tìm thấy một mảnh giấy khác giấu trong lòng con búp bê: “Tất cả những gì bạn yêu bạn đều có thể sẽ đánh mất nó, nhưng cuối cùng tình yêu sẽ chuyển đổi trong một hình thức khác”. (Người gửi: Franz Kafka)

“Cuộc đời vô thường, ta không thể giữ mãi những gì ta yêu quý nhưng tình yêu còn lại mãi…”

Theo Blog Radio

Hình của songdep

Image may contain: 3 people

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Phương Tây ngả mũ trước nỗ lực gìn giữ nền dân chủ của một đất nước châu Phi bé nhỏ.

30/12/2020

By  JASON NGUYEN

Cử tri Malawi mừng chiến thắng của Tổng thống tân cử Lazarus Chakwera trong cuộc bầu cử lịch sử năm 2020. Ảnh: Amos Gumulira/ AFP.

Năm 2020, tổ chức Freedom House đánh giá rằng tình hình dân chủ đã xấu đi ở ít nhất 80 nước, trong đó có cả nước Mỹ.

Theo đó, các giá trị dân chủ đã xói mòn trong bối cảnh đại dịch. Nhiều quốc gia đã có những động thái như giới hạn tự do truyền thông và ngôn luận, trì hoãn nhiều cuộc bầu cử quan trọng, cũng như tăng cường giam giữ những tiếng nói đối lập – tất cả với lý do phòng chống dịch bệnh.

Duy chỉ có một đất nước có điểm số dân chủ tăng lên, đó là Malawi. Tạp chí The Economist (Anh) mới đây đã trang trọng gọi đất nước châu Phi này là quốc gia của năm.

Tình hình dân chủ xấu đi ở nhiều quốc gia trong năm 2020. Malawi là điểm sáng duy nhất. Đồ họa: The Economist.

Theo nhận định của Freedom House, câu chuyện ở Malawi đã “nêu bật tầm quan trọng của các thiết chế nhà nước độc lập cũng như một khu vực xã hội dân sự năng động trong việc duy trì tính toàn vẹn và dân chủ của bầu cử, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các cuộc bầu cử tương tự trong khu vực”.

Câu chuyện về mặt hồ phát sáng

Malawi là một quốc gia còn khá xa lạ với nhiều người trên thế giới, không riêng gì với người Việt Nam. Nằm giữa vùng Đông Nam châu Phi với dân số khoảng 19 triệu người, Malawi tiếp giáp với ba quốc gia là Mozambique, Tanzania, và Zambia.

Thu nhập bình quân đầu người của Malawi vào năm 2019 chỉ là 411 USD, theo số liệu của World Bank. Mức thu nhập này chỉ bằng ⅙ của Việt Nam. Malawi, theo đó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ánh bình minh phản chiếu trên mặt hồ Malawi khi các ngư dân trở về nhà sau một đêm làm việc dài. Ảnh: Marcus Westberg/ New York Times.

Địa danh nổi tiếng nhất tại quốc gia này có lẽ là hồ Malawi – một trong những hồ nước ngọt chứa lượng cá phong phú nhất thế giới. Dù có diện tích tương đối nhỏ (chỉ bằng một nửa Việt Nam), Malawi sở hữu đến 1/3 diện tích nước ngọt của cả châu Phi. Tên gọi của quốc gia này phản ánh đặc trưng đó. Malawi trong tiếng bản địa nghĩa là “vùng nước phát sáng” (flaming waters), tượng trưng cho hình ảnh mặt hồ Malawi phản chiếu những tia nắng mặt trời.

Malawi chỉ trở thành tên gọi chính thức khi quốc gia này giành độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 6/7/1964, thay cho tên cũ là Nyasaland (mang nghĩa “vùng nước rộng lớn” – broad waters).

Vào ngày độc lập, hơn 40.000 người đã đổ ra Quảng trường Trung tâm (Central Stadium) tại thủ đô Lilongwe và hô vang ‘Ufulu! Ufulu’ (‘Tự do! Tự do!) cho một khởi đầu mới của đất nước, và của chính họ.

Trong một khu vực vẫn còn mang nặng quá khứ thuộc địa, Malawi được xem là một hình mẫu khá thành công. Khi các quốc gia châu Phi khác vẫn đang phải đắm chìm trong xung đột giữa các bộ tộc, Malawi đang từng bước vững chãi chuyển mình sang thể chế dân chủ hậu thực dân.

Thăng trầm dân chủ hóa

Không lâu sau khi giành được độc lập, một cuộc tranh chấp quyền lực xảy ra giữa thủ tướng lúc bấy giờ là Hastings Kamuzu Banda và các bộ trưởng trong nội các chính phủ. Ba bộ trưởng sau đó bị bãi nhiệm, ba người khác từ chức.

Vào ngày 6/7/1966, Malawi trở thành một nước cộng hòa, và Banda được bầu làm tổng thống. Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm tổng thống trọn đời. Hiến pháp cũng chính thức công nhận Đảng Quốc hội Malawi (Malawi Congress Party – MCP), lúc bấy giờ do tổng thống Banda lãnh đạo, là chính đảng duy nhất tại đây.

Tuy là đảng phái lâu đời nhất và có sức ảnh hưởng tại Malawi, nhưng bên cạnh công trạng lớn trong việc đưa quốc gia này thoát khỏi thuộc địa Anh và thúc đẩy phát triển kinh tế, MCP được cho là dùng phần lớn thời gian trong suốt 31 năm cầm quyền của mình để củng cố quyền lực và xây dựng một chế độ độc đảng.

Tổng thống đầu tiên của Malawi từ ngày giành độc lập – Hastings Banda, cùng với Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Blantyre, Malawi vào ngày 22/7/1979. Ảnh: Popula.com/ AP.

Mọi chuyện chỉ thay đổi từ ngày 8/3/1992, khi một lá thư mục vụ (pastoral letter) của Hội đồng Giám mục Công giáo Malawi được đọc tại các nhà thờ trên khắp đất nước.

Nội dung lá thư bày tỏ mối quan tâm về tình hình nhân quyền tồi tệ, nạn nghèo đói, và những ảnh hưởng nghiêm trọng của chúng đến cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Xuất hiện vào một thời điểm không thể thích hợp hơn, lá thư này như một luồng gió khích lệ với các đảng phái đối lập đang hoạt động ngầm. Họ chờ đợi cơ hội khơi mào một chiến dịch cải cách dân chủ.

Thổi thêm vào luồng gió này là áp lực từ quốc tế, khi chính phủ các quốc gia viện trợ đe dọa sẽ cắt các nguồn trợ cấp nếu Malawi không chịu đa nguyên hóa thể chế chính trị.

Các yêu cầu cải cách đã có một chiến thắng vang dội.

Vào cuối năm 1992, hai đảng phái đối lập trong nước là Liên minh cho Dân chủ (Alliance for Democracy) và Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front – UDF) chính thức được thành lập và ra mắt công chúng.

Tháng 5/1994, cuộc bầu cử tự do đầu tiên chính thức diễn ra tại Malawi sau 30 năm kể từ ngày giành độc lập. Thủ tướng Banda sau đó bị ứng cử viên Bakili Muluzi của đảng đối lập UDF đánh bại. Đảng UDF cũng đã giành được đa số ghế trong quốc hội sau cuộc bầu cử này.

Năm 1995, một hiến pháp mới ra đời, đặt những viên gạch nền tiếp theo giúp Malawi chuyển mình sang một xã hội dân chủ. Hiến pháp mới cũng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống Malawi xuống tối đa là hai, với mỗi nhiệm kỳ kéo dài 5 năm.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Muluzi đã tiến hành những cải cách dân chủ sâu rộng hơn, thúc đẩy các quyền tự do cơ bản như quyền tự do ngôn luận và hội nhóm. Đó là một giai đoạn trái ngược hoàn toàn với thời kỳ lãnh đạo của cựu tổng thống Banda.

Tưởng chừng mọi việc đã an bài, thế nhưng, nền dân chủ của Malawi lại bị đe dọa một lần nữa.

Muluzi tái đắc cử tổng thống vào năm 1999, nhưng nhiệm kỳ thứ hai của ông không suôn sẻ như nhiệm kỳ đầu. Kết quả bầu cử bị đặt nghi vấn, kéo theo đó là một giai đoạn của các cuộc biểu tình, bạo lực, và cướp bóc.

Tổng thống Muluzi bị các tiếng nói cả trong và ngoài nước chỉ trích vì đã có những động thái ngày càng chuyên quyền. Không muốn bị giới hạn chỉ trong hai nhiệm kỳ, ông cũng đã nỗ lực sửa đổi hiến pháp nhằm gia hạn thời gian cầm quyền của mình, nhưng bất thành.

Bingu wa Mutharika và Bakili Muluzi, hai tổng thống của Malawi. Ảnh: Maravipost.com.

Không thể tiếp tục nắm quyền, vào cuộc bầu cử tiếp theo (năm 2004), Muluzi đề cử một ứng viên khác của Đảng UDF là Bingu wa Mutharika. Ông Mutharika sau đó đắc cử tổng thống.

Mutharika, giống như những người tiền nhiệm của mình, là đại diện cho một tình trạng đáng lưu tâm trong tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia châu Phi. Đó là việc người lãnh đạo trở nên chuyên quyền sau một thời gian tại vị.

Là một trong những thành viên sáng lập chủ chốt của Đảng UDF, Mutharika có một nền tảng học thuật và hoạt động công ích vững chắc. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới trước khi bước vào chính trường.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Mutharika, Malawi trải qua nhiều thách thức lớn. Đất nước nhỏ này phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dịch bệnh HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các đòn bẩy kinh tế, mất cân bằng an ninh lương thực, nền giáo dục xuống cấp, và cơ sở hạ tầng yếu kém.

Giống những người tiền nhiệm, Mutharika đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, ông tập trung vào việc chống tham nhũng và thiết lập các chính sách kinh tế bền vững để giúp đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Còn về chính trị, Mutharika tập trung vào quá trình cải thiện tình hình nhân quyền và pháp quyền với một tôn chỉ: vì người dân Malawi.

Thế nhưng vào nhiệm kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 2009, chính sách của Mutharika đã quay ngoắt 180 độ so với những gì ông cố thực hiện trước đó. Có thể nói, Mutharika của năm 2004 và 2009 là hai phiên bản đối nghịch của nhau.

Mutharika ngày càng trở nên chuyên quyền và kém khoan dung trước những lời chỉ trích. Ông cách chức tùy tiện các quan chức chính phủ, sách nhiễu các nhà hoạt động phản đối chính sách mình đưa ra, công khai tuyên bố rằng sẽ “xử lý” và bỏ tù những người tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chế độ của mình.

Biểu tình lớn ở Malawi năm 2011. Ít nhất 19 người đã chết trong cuộc đụng độ với quân đội. Ảnh: VOA.

Vào tháng 7/2011, sức ép lên chính quyền của Mutharika càng lên cao. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra tại Malawi vì người dân bất mãn với giá lương thực tăng cao và cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn quốc. Quân đội được triển khai để trấn áp. 19 người biểu tình bị giết chết, hàng trăm người khác bị thương.

Ngày 5/4/2012, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Mutharika đột ngột qua đời vì một cơn đau tim.

Cái chết của vị tổng thống chỉ được công bố chính thức hai ngày sau đó. Lý do là vì các quan chức chính quyền (vốn theo Mutharika) không muốn phó tổng thống lúc bấy giờ là Joyce Banda thế vào chỗ trống theo hiến pháp. Tấm thảm dẫn tới ghế tổng thống lúc đó đã được trải sẵn cho cậu em trai Peter Mutharika. Tuy vậy, với sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong nước và quốc tế, Banda vẫn nhậm chức tổng thống tạm quyền.

Đến cuộc bầu cử năm 2015, Peter Mutharika giành thắng lợi với 36,4% số phiếu bầu. Ông vượt qua Lazarus Chakwera, ứng cử viên của đảng MCP, và Tổng thống tạm quyền Banda (đạt lần lượt là 27,8% và 20,2% số phiếu). Mặc dù Banda cáo buộc có gian lận bầu cử, Tòa án Tối cao Malawi đã bác bỏ cáo buộc này.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi sự tập trung không dành cho người về nhất, mà lại đổ dồn vào người về nhì: Lazarus Chakwera.

Khi người dân quyết tâm giành lại cuộc bầu cử

Lazarus Chakwera là một cái tên khá mới mẻ trong chính trường Malawi. Cuộc đời ông lẽ ra đã được định sẵn để trở thành một mục sư, chứ không phải là tổng thống.

Sinh ra trong gia đình có cha là một nhà truyền giáo, Chakwera theo học và tốt nghiệp cử nhân triết học tại Malawi, sau đó theo học thạc sỹ ngành thần học (theology) tại Nam Phi và Hoa Kỳ. Ông quyết định xông pha vào chính trường khi nhận thấy rằng đất nước của mình đang lâm vào khủng hoảng và trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết trong suốt 25 năm qua.

Dáng dấp của Chakwera gợi nhớ đến một trong những nhà lãnh đạo dân sự vĩ đại nhất nước Mỹ – mục sư Martin Luther King Jr. – và bài phát biểu “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) nổi tiếng. Trong các bài diễn thuyết của mình, Chakwera thậm chí còn truyền đi những hy vọng táo bạo hơn.

“Đã đến lúc chúng ta vươn xa hơn những giấc mơ của mình”, ông nói. “Tất cả phải thức dậy, bởi vì đây chính là thời điểm để thoát khỏi giấc ngủ dài và biến giấc mơ của chúng ta thành hiện thực”.

Đó cũng chính là thời khắc người dân Malawi chợt thức tỉnh.

Lazakrus Chakwera gợi nhớ đến huyền thoại Martin Luther King Jr. Ảnh: Reuters.

Vào cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2019, cái tên Peter Mutharika lại được xướng lên là người chiến thắng với 38,57% số phiếu, theo sau là Chakwera với 35,41%. Thế nhưng, chiến thắng lần này của ông Mutharika không kéo dài được lâu.

Ủy ban Bầu cử Malawi (MEC) nhận được 147 báo cáo về gian lận bầu cử, trong đó có việc sử dụng hóa chất Tipp-Ex để tẩy xóa các phiếu bầu của ứng cử viên đảng đối lập. Các đảng đối lập đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp, còn người biểu tình Malawi thì tràn ra đường để cất lên tiếng nói ủng hộ quyết định trên.

Vào tháng 2/2020, Tòa án Tối cao Malawi đưa ra phán quyết rằng đã có những sai sót “lớn, mang tính hệ thống, và nghiêm trọng” trong quá trình bầu cử; đồng thời yêu cầu tổ chức lại một cuộc bầu cử mới trong vòng 150 ngày.

Lần này thì hàng triệu cử tri Malawi quyết tâm không để gian lận bầu cử lặp lại.

Đại dịch COVID-19 ngăn cản các quan sát viên quốc tế đến giám sát cuộc bầu cử mới, nhưng điều này chẳng thành vấn đề. Các tổ chức dân sự, phóng viên, và các nhà hoạt động xã hội địa phương đã thay phiên giám sát từng quá trình, từ vận động, bầu chọn, cho đến kiểm và đếm phiếu.

Để đảm bảo không có gian lận xảy ra, người dân tuần hành “hộ tống” các thùng phiếu đến các trung tâm kiểm phiếu. Quân đội lại được triển khai, nhưng giờ đây là để bảo vệ dòng người biểu tình đang diễu hành đòi công lý.

Tháng 6/2020, cả đất nước trải qua giai đoạn hồi hộp nhất kể từ ngày độc lập. Người người chăm chú bên chiếc radio trong hàng tháng trời để dõi theo từng diễn biến của cuộc bầu cử mới.

Sau biết bao chờ đợi, người dân Malawi đã có lý do để ăn mừng. Kết quả cuối cùng không phụ lòng họ.

Người dân Malawi đón mừng phán quyết của Tòa án Tối cao tại thủ đô Lilongwe. Ảnh: The Economist/ AP.

Trong cuộc bầu cử “sạch” này, ứng cử viên Lazarus Chakewra đã chiến thắng với 59% trong tổng số 4,4 triệu phiếu bầu, bỏ xa đối thủ Mutharika.

Đây không chỉ là chiến thắng của riêng Chakewra, mà còn là của cả người dân Malawi trong nỗ lực bảo vệ nền dân chủ của mình.

Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của các thiết chế vững chãi đối với những quốc gia đang bước đầu xây dựng nền dân chủ: một hệ thống tòa án độc lập, một khu vực xã hội dân sự sôi động, một nền báo chí dấn thân, và một quốc hội đủ mạnh. Tất cả kết hợp lại sẽ khiến cho những kẻ đam mê quyền lực khó lòng bám trụ vào ảo tưởng của mình.

Đây cũng là một bài học cho tất cả các quốc gia khác – những nước xét về quy mô dân số và điều kiện phát triển đều hơn hẳn quốc gia châu Phi nhỏ bé này.

Người Malawi đã lựa chọn dân chủ. Họ không viện dẫn cái nghèo để thờ ơ với chính trị, hay để những kẻ chuyên quyền tước đi các quyền dân sự cơ bản nhất của mình: quyền được cất lên tiếng nói, quyền được bầu chọn người lãnh đạo, và quan trọng hơn hết, quyền được tiếp cận sự thật.

Malawi đáng được ngưỡng mộ vì lẽ đó. Tạp chí The Economist vinh danh họ là quốc gia của năm 2020 với một phát biểu hùng hồn:

“Dù đất nước còn nghèo, nhưng người dân Malawi không chấp nhận làm đối tượng bị cai trị. Họ là những công dân tự do.”

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện đời sống của những công dân tự do nơi đây. Nhưng trước mắt họ đang là rất nhiều hy vọng.

Tham khảo:

How Malawi saved its democracy, The Continent

Which is The Economist’s country of the year?, The Economist

A historic day for Malawi’s democracy, The Economist

Malawi’s re-run election is a victory for democracy, The Economist

Nyasaland Becomes Malawi, 37th Free African Country; New Name Helps Mark Shift of Control From Whites to Black Majority, New York Times

History of Malawi, Britannica
The Erosion of Democracy in Malawi: President Bingu wa Mutharika’s Unholy Conversion, Brookings Institution

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

RFA
2020-12-29

Bờ kênh 4.300 tỷ đồng bất ngờ vỡ tại Thanh Hoá

Khu vực bờ kênh bị gãy vỡ.                VNExpress/ RFA Edited

Bờ kênh trị giá 4300 tỷ đồng Bắc sông Chu – Nam sông Mã bất ngờ bị đứt gãy khiến gần 150.000m3 nước tràn ra ruộng đồng trồng lúa và hoa màu của người dân.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam hôm 29/12 loan tin dẫn báo cáo của Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Thuỷ lợi 3 cho biết như vừa nêu. Cụ thể đoạn bờ kênh bị đứt gãy dài đến 70m (ban đầu báo cáo 50m) thuộc thôn Minh Lải, xã Phùng Minh, huyện Ngọc Lặc.

Thống kê ban đầu đoạn bờ kênh bị gãy khi đang cấp nước khiến nước chảy cuốn theo đất cát vùi lấp hơn 3 hecta đất nông nghiệp và nhiều tài sản khác của một số hộ dân sống gần khu vực đó.

Ngoài ra, nước còn cuốn trôi 25.000m3 đất, làm hư hỏng 40 tấm bê tông mái và đáy, khoảng 400m3 đá xây gia cố bờ kênh bị xói lở.

Ông Lê Đức Giang, phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thanh Hoá cho biết, lịch trình sản xuất địa phương bắt đầu từ ngày 29/12 sẽ lấy nước đợt 1 nhưng đoạn bờ kênh bất ngờ đứt gãy khiến việc cấp nước sản xuất bị chậm so với lịch trình trước đó và điều này ảnh hưởng lớn tới việc cung cấp nước cho hơn 28.000 ha đất nông nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, gửi lời xin lỗi đến người dân Thanh Hoá vì vụ việc vừa nêu và yêu cầu Ban Quản lý đánh giá thiệt hại, đền bù, khắc phục sự cố cả ngày lẫn đêm hoàn thành trong 3 ngày để cấp nước trở lại cho người dân.

Dự án kênh Bắc sông Chu – Nam sông Mã lấy nước từ hồ chứa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá với tổng chiều dài hơn 370 km, tổng vốn đầu tư hơn 4.300 tỷ đồng. Công trình được xây dựng từ năm 2014 và 2016 đưa vào vận hành, phục vụ cung cấp nước tưới cho hơn 31.000 ha đất ông nghiệp và cung cấp nước sạch cho hàng vạn hộ dân vùng hạ lưu.

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

RFA
2020-12-31

Ẩu đả đến chết người trong quán nhậu ngày cuối năm

Vụ án mạng xảy ra tại quán lẩu bò 868 tỉnh Bình Dương.    Photo: RFA

Hai nhóm thanh niên đánh nhau tại một quán nhậu ở Bình Dương làm ba người chết. Truyền thông trong nước đưa tin hôm 31 tháng 12 năm 2020.

Tin cho biết, khi đang ăn nhậu tại một quán lẩu bò ở xã An Tây, Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, hai nhóm thanh niên xảy ra mâu thuẫn rồi dùng hung khí đâm chém nhau khiến nhiều người bị thương. Ba thanh niên bị thương nặng được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu nhưng không qua khỏi.

Cũng tại tỉnh Bình Dương, hôm 7 tháng 6 năm 2020, một nhóm thanh niên khoảng 10 người đi trên nhiều xe máy bất ngờ dừng trước cửa quán nhậu nằm trên đường Lê Hồng Phong. Nhóm này xông vô chém tới tấp chủ quán và một số người khác rồi nhanh chóng rút lui. Chủ quán tử vong sau đó do bị thương quá nặng.

Cũng tin liên quan sử dụng vũ khí đánh nhau, chiều 31 tháng 12 năm 2020, Công an Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ra quyết định tạm giữ hình sự đối với Lê Ký Nghiệp để điều tra về hành vi tàng trữ vũ khí trái phép.

Trước đó, vào tối ngày 29 tháng 12, một tổ công tác của Công an phường Trần Quang Diệu (Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định) kiểm tra xe ô tô do Lê Ký Nghiệp cầm lái. Công an thu giữ 4 khẩu súng ngắn kiểu dáng Rulo, 164 viên đạn, 2 điện thoại di động và 5 triệu đồng trên xe. Tài xế khai nhận do có mâu thuẫn với một nhóm thanh niên ở Thành phố Quy Nhơn nên Nghiệp cùng nhóm bạn ở huyện Vân Canh chở theo súng, đạn đi tìm đối thủ để giải quyết mâu thuẫn.

Cũng tại phường Trần Quang Diệu (Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định), hồi tháng 3 năm nay, hai nhóm thanh niên ẩu đả tại một quán cà phê với một khẩu súng hoa cải, một khẩu súng ngắn và nhiều dao, rựa. Công an bắt tạm giam kẻ cầm đầu.

CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦ

  Image may contain: text that says 'Pluralism'

 
CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦĐỗ Ngà

Đa nguyên về bản chất nó là dựa trên nguyên tắc “tất cả đều hòa thuận”. Nguyên tắc này được nêu ra từ rất xa xưa bởi các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Họ cho rằng chủ nghĩa đa nguyên là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, nó cho phép và thậm chí khuyến khích sự đa dạng của chính kiến. Để phát triển được chủ nghĩa đa nguyên thì mỗi người có phẩm chất “biết chấp nhận sự khác biệt”. Tuy nhiên để có con người biết chấp nhận sự khác biệt thì giáo dục thời cổ đại không thực hiện nổi. Chính vì vậy mà dù chủ nghĩa đa nguyên đã có từ lâu nhưng đợi đến thế kỷ 17 nó mới bắt đầu nảy nở và từ đó các nền dân chủ mới hình thành và phát triển.

Để đi đến bản hiến pháp tọa dựng nên nền dân chủ cho Hoa Kỳ thì tháng 10 năm 1787, 3 người thuộc đảng Liên Bang gồm Alexander Hamilton, James Madison và John Jay viết loạt sách có tựa The Federalist Paper, mỗi cuốn là một bài tiểu luận có giá trị. Nó là những bài phản biện sắc sảo để chuẩn bị viết nên bản Hiến pháp nổi tiếng. Trong đó có nhiều bài James Madison đã phản biện lại lỗ hổng mà Montesquieue đã viết trong cuốn Tinh Thần Pháp Luật nổi tiếng. Có tất cả 85 bài luận.

Trong bài luận The Federalist Paper số 10, James Madison đã cho rằng, nếu không có chủ nghĩa đa nguyên thì chính chủ nghĩa bè phái sẽ đưa đất nước đến các cuộc giao tranh chính trị cố hữu của và nó sẽ làm tan rã nền cộng hòa mới của Mỹ. Madison lập luận rằng, chỉ khi cho phép nhiều phe phái cạnh tranh bình đẳng để tham gia vào chính phủ thì nước Mỹ sẽ tránh kết quả thảm khốc này. Nghĩa là những đảng mạnh phải chấp nhận luật chơi công bằng, không dùng thế để loại bỏ đảng yếu hơn. Chính James Madison đã dựa vào chủ nghĩa đa nguyên xây dựng nên một nhà nước dân chủ và qua 245 năm, nó đã quá vững chắc.

Chính dựa trên nền tảng chủ nghĩa đa nguyên mà nền giáo dục nước này tạo ra cho nước Mỹ một nền tảng dân chủ vững chắc vì người dân Mỹ biết chấp nhận khác biệt. Chủ nghĩa đa nguyên nó giúp con người giảm căng thẳng với nhau, giúp con người chấp nhập sự thật rất dễ dàng. Một tổng thống hôm hay làm đúng, ngày mai ông ta lại trở thành kẻ phá hoại nền dân chủ thì với con người theo chủ nghĩa đa nguyên, họ sẽ dễ dàng vứt bỏ việc mến mộ và chuyển sang chỉ trích. Đó là lý do tại nao người dân Mỹ dồn phiếu cho Joe Biden trong cuộc bầu cử vừa qua. Nền dân chủ nước Mỹ được các vị khai quốc đặt nền tảng trước đây 2,5 thế kỷ giờ nó đã mọc rễ rất sâu trong lối sống người Mỹ rồi, phá không nổi dù cho người đó là tổng thống đầy quyền uy.

Chủ nghĩa CS nó nảy nở trên đất nước này qua 75 năm tạo ra tác hại ghê gớm. Bộ máy nhà nước CS không chấp nhận sự tồn tại của các đảng phái khác, không chấp nhận sự chỉ trích từ phía người dân đã đành, nó còn dựng nên một nền giáo dục thối tha mà nó gọi là “giáo dục XHCN”. Nền giáo dục này nó nặn ra con người phục tùng thiếu tư duy độc lập. Nếu nói ở Mỹ chủ nghĩa đa nguyên nó tồn tại trong bộ máy nhà nước lẫn trong tâm thức người dân thì tạo Việt Nam ngược lại nó chẳng tồn tại được ở chỗ nào cả. Nền tảng cho dân chủ Việt Nam vẫn là con số zero. Đó là lí do tại sao người Việt Nam dễ sùng bái lãnh tụ và dễ bị dắt mũi bởi những loại tin giả.

Có thể nói với nước Mỹ thì không ai đá đổ nổi nền dân chủ, còn với Việt Nam thì ngược lại, rất rất khó có thể gầy dựng nên một nền dân chủ được. Chỉ khi nào con người Việt Nam biết chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên, thì khi ấy dân chủ mới nảy nở và lớn mạnh được.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.thoughtco.com/pluralism-definition-4692539

https://www.history.com/topics/early-us/federalist-papers

 

Ông Mike Pence, phó Tổng thống Mỹ, vừa yêu cầu thẩm phán bác bỏ vụ kiện (VOA)

VOA Tiếng Việt 

Ông Mike Pence, phó Tổng thống Mỹ, vừa yêu cầu thẩm phán bác bỏ vụ kiện nhằm trao cho ông quyền bác bỏ phiếu đại cử tri để đảo ngược kết quả bầu cử có lợi cho Tổng thống Donald Trump tại phiên họp của lưỡng viện Quốc hội vào ngày 6/1 tới.

Tại phiên họp này, ông Pence với tư cách là Chủ tịch Thượng viện có nghĩa vụ kiểm các lá phiếu đại cử tri mà các tiểu bang gửi đến và tuyên bố ông Joe Biden là tổng thống thứ 46 của Mỹ.

Vụ kiện, do dân biểu Cộng hòa Louie Gohmert của bang Texas khởi xướng, lập luận rằng Hiến pháp cho phép phó tổng thống ‘thẩm quyển duy nhất để quyết định xem phiếu đại cử tri mà các bang gửi đến có hợp lệ hay không’. Do đó, dân biểu này yêu cầu thẩm phán liên bang nói với ông Pence rằng ông ‘có quyền tuyên bố rằng những lá phiếu đại cử tri bỏ cho ông Joe Biden và đã được chính quyền các tiểu bang chứng thực là không hợp lệ và thay vào đó công nhận những đại cử tri tự xưng của ông Trump’.

Vụ kiện này thách thức một quy trình xác nhận lá phiếu của cử tri đã tồn tại trên 130 năm qua với sự đồng thuận của lưỡng đảng mà chưa từng có ai đặt nghi vấn.

Lập luận mà luật sư ông Pence đưa ra để yêu cầu tòa bác bỏ vụ kiện này là ‘ông Pence không phải là bị đơn đúng nghĩa trong vụ kiện’ vì nó nhằm để mở rộng quyền của ông chứ không phải để chống lại ông.

Động thái này được các nhà quan sát nhận định là dấu hiệu cho thấy ông Pence không có ý định diễn giải lại vai trò của ông trong phiên họp xác nhận kết quả bầu cử tổng thống.

Vụ kiện này đã bị chính các thành viên trong Đảng Cộng hòa chống đối. Thượng nghị sỹ Ben Sasse của bang Nebraska cho rằng đó là ‘nỗ lực tước bỏ lá phiều của hàng triệu người Mỹ chỉ vì họ đã bầu cho một người thuộc đảng phái bên kia’.

“Khi chúng tôi nói chuyện riêng, tôi chưa từng nghe thành viên Đảng Cộng hòa nào ở Quốc hội cho rằng kết quả bầu cử là có gian lận – không một ai nói hết. Thay vào đó, tôi nghe họ nói là họ lo lắng những cử tri nhiệt thành nhất của ông Trump sẽ nhìn họ như thế nào,” ông Sasse viết trong lá thư ngỏ gửi đến các cử tri của ông được Washington Post dẫn lại.

Theo các bạn liệu ông Trump có thể lật ngược được thế cờ vào ngày 6/1 tới hay không?

Image may contain: 1 person, closeup

Thang Nguyen 

Theo bản tin của anh Lê Phát Được đưa lên FB là đúng như ý kiến của Phó TT Mike Pence. Như vậy là hy vọng cuối cùng của TT Trump kể như không còn cửa nào hết? Hôm qua tôi có người bạn hỏi tôi về chuyện vận động bạn bè ở TX lên DC ngày 6-1-2021, để ủng hộ cho TT Trump, có nên đi hay không? Có hy vọng gì hay không? Tôi có trả lời là tùy theo mọi cá nhân, thấy cần đi thì đi, tuy nhiên nên thận trọng để ý, nếu có sự Bạo Động thì phải nhanh chân tránh xa ngay, vì nghe nói Cảnh Sát ở DC có sự chuẩn bị đối phó Bạo Động, lúc đó khó phân biệt ai là ai? Good Luck cho mọi người trước thềm năm mới.

Món quà giáng sinh

Món quà giáng sinh

Tác giả: O-Henry 

Đây là truyện ngắn của nhà văn Mỹ nổi tiếng O-Henry. Truyện được xuất bản lần đầu vào ngày 10 tháng 4 năm 1906, không những được các độc giả phương Tây lúc bấy giờ yêu thích mà nó đã nhanh chóng được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Câu chuyện có nội dung sâu sắc khiến người đọc không khỏi xúc động bồi hồi khi suy nghĩ về cuộc sống, về tình yêu, tình cảm vợ chồng.

Cả hai nhân vật trong câu chuyện đều là những người giàu lòng thương yêu, biết suy nghĩ cho người khác. Della và James là đôi vợ chồng trẻ tuy cuộc sống của họ còn nhiều vất vả nhưng họ luôn muốn dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất, kể cả hi sinh lợi ích của bản thân. Những thách thức mà họ gặp phải khi bí mật mua quà Giáng Sinh cho nhau chính là điểm hấp dẫn của câu chuyện. Chúng ta hãy cùng đọc và cảm nhận, để rồi trân trọng những yêu thương đang ở cạnh bên mình.

Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn

cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhầm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu và ngày mai sẽ là Lễ Giáng sinh. Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi.

Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở. Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK. Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm ‘Jim’, James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.

Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ. Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho James của cô một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh. Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tường. Mắt cô sáng lên. Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della. Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.

Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu “Madame Eloise” Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ “Eloise” nào cả. Della cất tiếng hỏi:

– Bà mua tóc tôi không?

– Tôi chuyên mua tóc mà – bà ta đáp và bảo: “Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi”

Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.

– Hai mươi đồng – bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.

– Hãy cắt nhanh đi! Và đưa tiền cho tôi – Della nói.

Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho James trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là một sợi dây đồng hồ bằng vàng. James rất quý chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó. Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.

Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: “Mình có thể làm gì với nó đây?” Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. “Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!”. Cô tự nhủ: “James sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?” Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần

xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt James. Thế rồi cửa mở, James bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. James nhìn chằm chằm vào Della.

Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên James òa khóc: “Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói “Giáng sinh vui vẻ”, em có một món quà rất hay cho anh này!”

– Em đã cắt mất tóc rồi à? – James hỏi.

– Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà! – Della nói. James nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn:

– Em nói là em đã bán tóc à?

– Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh!

Chúng ta có thể ăn tối được chưa, James?

Chợt James vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn.

– Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung sướng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa! Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc.

– Tóc em sẽ chóng dài ra thôi James – nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho James và chạy đi lấy.

– Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, James, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.

Nhưng James không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: “Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em.

Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu.”

Tác giả: O-Henry 

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?

Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?

Hồi đầu thế kỷ, nhân dịp 25 năm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hollywood sản xuất nhiều cuốn phim về đề tài này. Ngoài phim về chiến tranh, còn có phim về nước Việt Nam, và một số phim về người Việt Nam tại Mỹ.

image

Một trong những cuốn phim về chiến tranh làm ra vào thời đó, là phim We Were Soldiers, làm năm 2002 với Mel Gibson trong vai chính. Ngay trong cuối tuần đầu tiên khởi chiếu, cuốn phim đã thu về hơn $20 triệu tiền vé. Chuyện của phim này là trận Ia Drang.

image

Một cuốn phim về người Việt Nam di tản năm 1975, là cuốn Green Dragon, do Timothy Linh Bùi đạo diễn, một cuốn phim độc lập, sản xuất không qua các studio lớn, nhưng cũng kéo được sự tham gia của hai diễn viên lớn là Patrick Swayze (phim Ghost) và Forest Whitaker (giải Oscar 2007).

image

Tài tử Đơn Dương trong phim We Were Soldiers, đóng vai viên trung tá chỉ huy quân đội Bắc Việt trong trận Ia Drang.

image

Một diễn viên Việt Nam xuất hiện trong cả hai phim đó, là Đơn Dương. Trong We Were Soldiers, một đội quân Mỹ 365 người bị một sư đoàn Bắc Việt bao vây và cả hai bên đều chiến đấu dũng cảm. Cuốn phim chuyển qua chuyển lại giữa cái nhìn của bên Mỹ và cái nhìn của bên Bắc Việt. Mel Gibson đóng vai trung tá chỉ huy phía Mỹ. Đơn Dương đóng vai Trung tá (sau này là tướng) Nguyễn Hữu An, người chỉ huy bên Bắc Việt.

image

Trong Green Dragon, Đơn Dương đóng vai một ông bố đưa gia đình đi di tản sau 30 tháng 4. Họ tới được trại tỵ nạn trong Camp Pendleton. Patrick Swayze đóng vai viên sĩ quan phụ trách người tỵ nạn, còn Forest Whitaker đóng vai một anh lính đầu bếp, anh dùng tranh vẽ của mình để làm quen với một em bé tỵ nạn và qua em bé học thêm về văn hóa Việt Nam. Trong phim, có một đoạn Đơn Dương cầm ghi ta hát bài “Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhà văn Nguyễn Đình Toàn: “Sài Gòn ơi, ta nhớ người như người đã mất tên, như dòng sông nước quẩn quanh buồn.”

image

Niềm vui với hai cuốn phim Hollywood chưa trọn, khi Đơn Dương về tới Việt Nam thì bị hạch sách quấy nhiễu.
Báo chí thời đó chạy nhiều bài viết tố cáo Đơn Dương bằng những lời lẽ rất nặng – loại lời lẽ mà có thể khiến Đơn Dương bị tù, bị kết án tử hình – những chữ như “phản động,” “phản bội,” “bán nước.” Cả các con Đơn Dương cũng bị đấu tố, và quán nhậu nơi Đơn Dương mở chung với gia đình bị đập phá.

image

Phim “Mê thảo thời vang bóng,” chỉ vì có Đơn Dương đóng trong đó, cũng gặp khó khăn khi muốn được chiếu ở các đại hội điện ảnh, liên hoan phim ở ngoại quốc.
Những điều này khiến Hollywood để ý. Giới đạo diễn, diễn viên, các nhà báo chuyên đề Hollywood, xưa nay vốn ít quan tâm đến chính trị ở nơi xa xôi, hoặc có cảm tình với nước Việt Nam sau chiến tranh, bỗng nhìn thấy một sự thật khác ở đất nước đó.
Một thỉnh nguyện thư, mang những chữ ký nổi tiếng của giới điện ảnh Mỹ, được chuyền tay nhau kêu gọi Việt Nam ngưng áp bức gia đình Đơn Dương.

image

Đồng thời, họ liên lạc với các chính trị gia Mỹ, yêu cầu chính phủ Mỹ can thiệp.
Trong số tài liệu Wikileaks lộ ra, tên tuổi Đơn Dương xuất hiện nhiều lần. Một trong những lần sớm nhất là công điện đề ngày 1 tháng 10, 2002, mang tựa đề “Cuộc họp với Trợ lý Bộ trưởng Hùng.”
Mục đích của cuộc họp giữa ông Nguyễn Đức Hùng (sau này là đại sứ ở Singapore và ở Canada) là chuẩn bị cho hội nghị APEC, nơi Thủ tướng Phan Văn Khải sẽ gặp Tổng thống George W. Bush. Tuy nhiên, ông Hùng đã phải nghe Đại sứ Ray Burghardt nêu vấn đề Đơn Dương.
Ông Burghardt nói “báo chí quốc tế cũng như rất nhiều thư từ các nhân vật điện ảnh Hollywood” cho rằng Đơn Dương bị tịch thu hộ chiếu và bị dọa sẽ còn bị phạt nặng hơn nữa. Rồi ông yêu cầu ông Hùng hỏi bên văn hóa sự thật là thế nào.

Cũng khoảng cùng lúc đó, bên Mỹ chuẩn bị sắp xếp để Đơn Dương có thể đi định cư được nếu muốn. Một công điện 2 ngày sau, đề ngày 3 tháng 10, là công điện của tòa đại sứ tại Hà Nội xin Bộ Ngoại giao phê chuẩn hồ sơ tỵ nạn cho diễn viên Bùi Đơn Dương, vợ, và hai con. Công điện này cho biết trước đây bà Suzie Bùi, chị của Đơn Dương và là mẹ của hai đạo diễn Timothy Linh Bùi (Green Dragon) và Tony Bùi (Ba Mùa), đã có làm giấy bảo lãnh rồi nhưng sau này không tiếp tục nữa nên hồ sơ đã đóng. Miêu tả tình hình của Đơn Dương, tòa đại sứ viết:

“Bùi bị đối diện với cả một phong trào lớn tiếng chống lại cá nhân ông, hầu hết vì vai đóng trong phim ‘We Were Soldiers’ của Mỹ nhưng cũng vì các vai trước đây trong hai phim quốc tế ‘Three Seasons’ và ‘Green Dragon.’ Ông bị tố cáo không chính thức vào tội ‘phản bội tổ quốc,’ một lời tố cáo đáng quan ngại tại Việt Nam, nơi mà hiến pháp bắt buộc mọi công dân ‘bảo vệ thống nhất đất nước.'”
Bản công điện viết tiếp:
“Hộ chiếu của Bùi đã bị tịch thu, ông dường như đã bị cấm ra nước ngoài đóng phim vào tháng 11, và có những nỗ lục để cấm ông diễn – nghề kiếm sống duy nhất của ông – trong ít nhất 5 năm nữa.”
Không chỉ dùng pháp luật áp chế, Đơn Dương còn bị sách nhiễu như trong một cuộc đấu tố:
“Ông bị quấy nhiễu mỗi tối với điện thoại của an ninh gọi tới, bị theo dõi mỗi khi ra khỏi nhà, và cho biết bạn bè và hàng xóm lo sợ tránh né. Ông bị công an thẩm vấn hôm 2 tháng 10 và tỏ vẻ lo sợ là sắp bị bắt giam, mặc dù lý do để bắt thì không ai nói rõ cho ông trừ những điều đã nói ở trên. Ông đã bị gọi là ‘kẻ phản bội’ trong báo chí của nhà nước và của đảng Cộng sản.”

image

Nửa năm sau, Đơn Dương được xuất ngoại với vợ con. Cùng đi với gia đình ra Tân Sơn Nhất là nhân viên tòa tổng lãnh sự, và họ về kể lại trong công điện ngày 10 tháng 4, 2003, với tựa đề nặng nề: “Sách nhiễu tới phút chót.”
Đó là sau khi Đơn Dương đã bị sách nhiễu, các con ông cũng bị làm khó dễ trong trường, và côn đồ tới phá nhà hàng của gia đình ông, bản công điện viết. Ông bị gọi lên công an phường, ông khất, rồi cuối cùng ra đi mà không lên gặp công an.
Khác với nhiều lần trước, lần này hải quan không cho nhân viên tòa tổng lãnh sự vào trong để tiễn người. Khi được hỏi tại sao thì mỗi người trả lời mỗi khác. Có người bảo nhân viên lãnh sự “chỉ được tiễn công dân nước họ.” Có người bảo “khu vực hải quan không cho phép nhân viên lãnh sự vào” – trong khi thật ra thì “mới thứ Sáu tuần trước thì không có luật đó.” Rồi khu vực công an cửa khẩu cũng được cho là không cho phép vào, và “một lần nữa, mới thứ Sáu tuần trước thì không như thế.”Một người quay phim, tự xưng là của Truyền hình Việt Nam, theo quay phim gia đình Đơn Dương rời nước, đi qua luôn chặng kiểm soát.
Đến chỗ khai hải quan, nhân viên tòa tổng lãnh sự bị chặn lại. Lý do này nọ được đưa ra. Nhân viên tổng lãnh sự quán bảo, mới thứ Sáu tuần trước chúng tôi không bị chặn, thì hải quan chỉ nhún vai lắc đầu bảo, luật trên thay đổi rồi.
Hai người cấp trên tới, nhưng thay vì giải quyết cho lãnh sự vào trong, một trong hai người bắt đầu khám xét hành lý gia đình Đơn Dương “một cách chậm chạp và ôi trời ơi kỹ càng làm sao,” công điện viết. Một nhân viên lãnh sự Úc cũng tới và cũng không được cho vào trong.
Tuy không được vào, nhưng nhân viên lãnh sự cũng đứng nhìn và thấy gia đình bị đưa vào một phòng nhỏ, nơi có ít nhất 8 viên hải quan bu vào lục soát hành lý gồm 6 va li và 3 thùng. Họ lục từng món hàng. “Họ chụp nhiều tấm ảnh của đồ đạc, quần lót bị giơ lên soi ánh đèn.”

image

Sau một giờ lục soát, hải quan cho phép gia đình gói đồ lại, lại chạy qua X-ray, rồi đẩy đi. Đơn Dương được đưa qua một quày khác, rồi bị bắt phải ký một xấp giấy tờ – “phải hứa hẹn cái gì thì chúng tôi không biết,” công điện viết.
Hãng EVA đã phải giữ máy bay lại trong 15 phút để chờ gia đình Đơn Dương. “Qua cửa kính, nhân viên lãnh sự quan sát thấy gia đình đi qua được hành lang xuất phát, đi thẳng tới cầu qua máy bay. Người ‘quay phim’ tiếp tục quay cho tới phút chót, trong khi một đám đông nhân viên an ninh đứng đầy phòng đợi của người đi.”
Chuyến bay cất cánh lúc 3:15, với gia đình Đơn Dương trên đó, bay qua California với bà Suzie Bùi, chị ông.
Ông đã, như công điện viết, bị chính quyền “xua đuổi ra khỏi quê hương mình.”

Vũ Quí Hạo Nhiên

From: TU-PHUNG

NGƯỜI KHÁCH CUỐI CÙNG

NGƯỜI KHÁCH CUỐI CÙNG

Chuyện xảy ra ở Bêlem vào lúc trời rạng sáng, sao lạ vừa từ giã hang bò lừa để trở về. Đức Maria xếp lại đống rơm và Hài Nhi sắp ngủ… thì cánh cửa nhẹ nhàng mở ra. Một người đàn bà xuất hiện ở cửa, áo rách rưới, rất già và nhăn nheo đến độ trên khuôn mặt ấy, người ta có cảm tưởng cái miệng của bà cũng chỉ là một vết nhăn mà thôi.

Thấy bà, Maria sợ như thể một bà tiên dữ mang xui xẻo nào đến! Nhưng may thay, Hài nhi đang ngủ. Chú lừa và chú bò lặng lẽ nhai rơm, nhìn người khách lạ tiến vào, không một chút ngạc nhiên, y như chúng đã biết bà ấy từ lâu. Trái lại, Maria không ngừng đưa mắt theo dõi. Mỗi bước chân của bà đối với Maria hình như dài bằng cả thế kỷ. Bà già tiếp tục bước tới và bây giờ bà ở bên máng cỏ. Bé Giêsu vẫn say sưa ngủ.

Bất chợt Hài nhi mở to đôi mắt và mẹ Ngài ngạc nhiên khi thấy cặp mắt của con Mẹ và đôi mắt của người đàn bà hoàn toàn giống nhau, cùng chiếu lên một niềm hy vọng. Bà già cúi mình trên đống rơm trong khi bàn tay lục lọi trong mớ áo quần rách nát một vật gì đó. Maria luôn nhìn bà một cách lo lắng. Các con vật cũng nhìn, nhưng chúng không có vẻ gì ngạc nhiên như thể đã biết cái gì sẽ xảy ra.

Cuối cùng, bà già tìm được nó và kéo ra từ trong bộ quần áo cũ kỹ một vật được giấu trong bàn tay, bà đưa cho Hài nhi.

Sau các kho tàng của Ba Vua và các lễ vật của các mục đồng, thì quà tặng này là cái gì thế? Bà này từ đâu đến, Maria không được biết. Nàng chỉ thấy cái lưng còng với số tuổi của bà còn còng hơn nữa khi cúi xuống trên cái nôi. Nhưng chú bò và chú lừa thấy mà vẫn không ngạc nhiên tí nào. Và như thế kéo dài khá lâu.

Cuối cùng bà già đứng thẳng người lại như trút khỏi một vật gì quá nặng đã kéo ghì bà xuống đất. Đôi vai của bà hết còng, khuôn mặt bà đã tìm lại được vẻ trẻ đẹp diệu kỳ. Bà dời cái nôi để ra cửa và biến mất trong đêm tối từ nơi bà đã đến. Cuối cùng, thì Maria cũng thấy được quà tặng kỳ diệu của bà.

Eva (chính là bà già) vừa trao lại cho Hài nhi một trái táo nhỏ, trái táo của tội đầu tiên (và của bao nhiêu tội tiếp theo) – Và trái táo nhỏ đó rạng sáng ở đôi tay em bé sơ sinh như qủa điạ cầu của một thế giới mới vừa sinh ra với Hài nhi.

***

Niềm hạnh phúc và sự thánh thiện nguyên thủy của Adam, Eva chính là cảm nhận được thân phận thụ tạo của mình và sống hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Con người chỉ được thành toàn trong sự liên kết với Thiên Chúa mà thôi. Đây là cái nghịch ly’ nhất của Kitô giáo: “Con người càng được tự do khi nó càng sống lệ thuộc vào Thiên Chúa”. Nhưng ông bà đã muốn chối bỏ thân phận thụ tạo có giới hạn của mình, muốn có tự do tuyệt đối. Khi ăn trái cấm, Adam Eva muốn trở thành Thiên Chúa, nghĩa là muốn lật đổ Thiên Chúa và gạt bỏ Ngài ra ngoài cuộc sống. Ông bà muốn đi tìm tự do: Tự do để thoát khỏi Thiên Chúa, tự do được trở thành Thiên Chúa. Xét cho cùng, đó là thứ tự do thoát khỏi thân phận con người, không còn muốn làm người nữa. Và dĩ nhiên, khi không còn muốn làm người nữa, thì chỉ còn làm thú vật mà thôị Đúng như lời triết gia Pascal đã nói: “Con người không phải là thiên thần, cũng chẳng phải thú vật. Ai muốn làm thiên thần thì sẽ trở thành thú vật.” Đó chính là ý nghĩa của tội mà nguyên tổ đã phạm, và đã để lại hậu qủa cho loài người.

Vì thế, khởi đầu của lịch sử, tội ác đã đi vào trong thế gian, tội ác đã ở ngay trong bản tính con ngườị Đó là một trong những khẳng định nền tảng của Kitô giáo. Vâng, tội ác chính là một mầu nhiệm, bởi vì con người không hiểu được tại sao mình phạm tội và hướng chiều về điều xấu. Thánh Phalô đã có một kinh nghiệm rất người khi Ngài thốt lên: “Điều thiện tôi muốn, tôi không làm, còn điều ác tôi không muốn, tôi lại làm”.

Tuy nhiên, Kitô giáo không chỉ là bức tranh buồn thảm về tội lỗi của con người, mà thiết yếu chính là một Tình Yêu được tỏ bày. cho dù con người có chối bỏ Thiên Chúa, Ngài vẫn yêu thương con ngườI. Không phải tội lỗi, nhưng chính Tình Yêu mới là tiếng nói cuối cùng trong lịch sử nhân loại. Tội lỗi không chỉ là điều ác, mà chính là một xúc phạm đến Thiên Chúa.

Vì thế, Thiên Chúa đã trao tặng cho chúng ta Người-Con-Chí-Ái để giao hoà lại chúng ta với Ngài, xóa đi tội ác con người đã phạm tội và nâng con người lên địa vị làm con Thiên Chúa. “Tội Hồng Phúc” chính là đây. Tội lỗi làm sao được coi là hồng phúc? Chỉ có “Thiên Chúa là Tình Yêu” mới có thể biến tội lỗi thành hồng phúc. Chỉ có Tình Yêu vô cùng bao la và sâu thẳm của Thiên Chúa mới có thể làm cho con người “có tội” trở nên “có phúc”. Nói cách khác, chính vì phạm tội mà con người được diễm phúc đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu chuộc, tha thứ và yêu thương. Vâng, Ngôi Hai Giáng Sinh chính là lời tỏ tình đẹp nhất mà Thiên Chúa muốn ngỏ với con người. Cũng chính Hài Nhi Giáng Sinh đã biến đổi trần gian tội lỗi thành một thế giới mới tràn đầy ân sủng và tình thương.

***

Lạy Chúa Hài Đồng, tình yêu và sự trao ban là món quà quí giá nhất mà Chúa muốn tặng cho con người. Xin cho con từ nay luôn biết dốc cạn quả tim mình để yêu thương và trao ban cho anh em con.

Thánh Augustinô đã nói: “Giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn”. Vậy lạy Chúa, dù có bị xúc phạm và khước từ, xin cho con luôn sống xứng đáng là người con đích thực của một Thiên Chúa Tình Yêu, luôn sẵn sàng tha thứ và yêu thương hết cho mọi người.” Amen

Thiên Phúc

 

From: ngocnga_12 & KimBang Nguyen

Chuỗi Ngọc Lam đêm Giáng Sinh

Chuỗi Ngọc Lam đêm Giáng Sinh

DUYÊN PHẬN

Tác Giả: Fulton Oursler

Dịch Giả: Nguyễn Hiến Lê

🍀 – Ngày cô bé Joan Grace đẩy cửa bước vào tiệm của Pierre Richard thì Pierre là con người cô độc nhất thành phố. Có lẽ hồi ấy các bạn đã được nghe phong phanh câu chuyện đó. Nhưng báo chí không nêu tên mà cũng không kể chi tiết nên hôm nay tôi xin thuật lại tường tận.

Pierre đã được ông nội để lại cho một cửa tiệm bán đồ cổ. Trong cái tủ kính nhỏ xíu anh chất đủ các thứ đồ kỳ cục: vòng, mề đay đeo vào dây chuyền có từ thế kỷ trước, nhẫn vàng, hộp bạc, ngọc thạch hoặc ngà chạm trổ, tượng nhỏ bằng sứ.

Buổi chiều, mùa đông hôm đó, một em gái đứng áp trán vào tủ kính, trố mắt ngó kỹ từng vật cổ lỗ đó như muốn kiếm một vật gì. Bỗng em ngững đầu lên, vẻ khoan khoái rồi đẩy cửa bước vào tiệm.

Tiệm tối tăm mà còn bừa bãi hơn mặt tiền nữa. Có những ngăn tủ muốn sập vì chất quá nặng: hộp đựng tư trang, súng lục cũ không còn dùng được nữa, đồng hồ chuông đèn; còn trên sàn thì chất đống nào là giá để củi trong lò sưởi, đờn măng-đô-lin và những đồ cũ kỹ khó mà phân loại được.

Pierre ngồi ở sau quầy. Mặc dầu mới ngoài ba mươi mà tóc của anh đã hoa râm. Anh ngó cô bé.

Em hỏi:

– Thưa ông, con có thể coi chuỗi ngọc lam bày ở tủ kính không ạ?

Pierre kéo tấm màn, lấy chuỗi ngọc ra đưa cho cô bé xem. Những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trong bàn tay xanh xao của anh. Em đỡ lấy, thốt lên lời khen:

– Đẹp quá! Xin ông gói lại thành một gói đẹp cho con.

Pierre lạnh lùng ngó em:

– Có ai sai em đi mua hả?

-Thưa không. Con mua cho chị Hai con. Chị đã nuôi nấng con từ khi má mất. Đây là lễ Noel đầu tiên chị em con được ở gần nhau. Con muốn tặng chị một món quà đẹp.

Pierre nghi ngờ hỏi:

– Em có bao nhiêu tiền?

Em mở khăn tay ra, đổ lên bàn một nắm bạc xu, bảo:

– Con đã đập con heo của con ra đấy.

Pierre Richard ngó em, vẻ trầm tư. Rồi anh ý tứ cầm chuỗi ngọc lên, sợ em trông thấy giá tiền. Nói thẳng cách nào cho em biết được? Cặp mắt xanh đầy tin tưởng của em gợi cho anh nhớ lại vết thương lòng thời trước.

Quay lưng lại em, anh bảo:

– Em đợi một chút nhé.

Rồi vừa lúi húi làm một việc gì đó, anh vừa quay lại hỏi:

– Em tên gì?

– Thưa, Joan Grace.

Khi quay lại thì trong tay anh đã cầm một gói nhỏ bao bằng giấy lụa đỏ và cột bằng một băng lụa màu xanh lá cây. Anh đưa cho em bé và bảo:

– Này, coi chừng em đừng đánh rơi nhé.

Em Joan mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt về nhà. Anh nhìn theo, một nỗi buồn mênh mông dâng lên trong lòng. Em nhỏ đó và chuỗi ngọc lam khêu gợi lại một vết thương lòng không bao giờ lành hẳn của anh. Tóc em vàng như lúa chín, mắt em xanh như nước biển; mới mấy năm trước, anh đã yêu một thiếu nữ cũng có mớ tóc đó, cặp mắt đó. Chuỗi ngọc đã tính để tặng nàng.

Nhưng một chiếc cam nhông trượt bánh trên con đường trơn trợt một đêm mưa đã làm tiêu tan ước mơ.

Từ đó anh sống cô độc, ôn lại hoài nỗi khổ tâm. Anh ân cần lễ độ tiếp khách, nhưng ngoài công việc ra, anh thấy đời trống rỗng vô nghĩa một cách khủng khiếp. Lầm lì, không giao thiệp với ai, anh rán quên mà không quên được, nỗi thất vọng như sương mù cứ mỗi ngày mỗi dày đặc.

Cặp mắt xanh của em Joan Grace gợi cho anh hình ảnh người yêu. Vào dịp lễ này, khách hàng tới đông, ai cũng bộc lộ niềm vui làm cho anh càng đau lòng. Khách qua đường bước vào tiệm, chuyện trò, sờ mó các món đồ, trả giá lăng xăng. 

Đêm Noel đã khuya rồi, khi người khách cuối cùng bước ra, Pierre Richard thở phào nhẹ nhàng. Thôi thế là qua được năm nay. Nhưng anh đã lầm.

Cửa thình lình mở ra, một thiếu nữ xông vào. Anh thấy nhói ở tim: thiếu nữ có vẻ mặt quen quen nhưng anh không nhớ rõ đã gặp ở đâu, hồi nào. Tóc cô vàng hoe, mắt xanh thăm thẳm. Cô im lặng lấy trong túi xách ra một gói nhỏ bao vội vàng một thứ giấy lụa đỏ, lại có cả cái băng lụa màu xanh lá cây đã mở ra rồi. Và những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trên bàn:

– Chiếc chuỗi ngọc lam này có phải của tiệm ông không?

Pierre ngước mắt lên nhìn cô, nhẹ nhàng trả lời:

– Phải.

– Phải ngọc thật không?

– Nhất định rồi. Không phải thứ ngọc quý nhất nhưng ngọc thật đó.

– Ông có nhớ đã bán cho ai không?

– Bán cho một cô bé. Tên em là Joan. Em mua để tặng quà Noel cho chị Hai của em.

– Giá bao nhiêu?

Pierre nghiêm mặt đáp:

– Tôi không khi nào nói giá tiền khách hàng đã trả cho tôi.

– Em Joan chỉ có ít đồng tiền tiêu vặt làm sao em có đủ tiền mua chuỗi ngọc này?

Trong lúc đó, Pierre vuốt kỹ lại tờ giấy lụa, gói lại chuỗi ngọc. Anh bảo:

– Em đã trả đắt hơn hết thảy các người khác. Có bao nhiêu tiền em đưa tôi hết.

Hai người làm thinh. Cửa hàng bỗng tĩnh mịch lạ thường. Tiếng chuông từ một giáo đường ở gần đó bắt đầu đổ, văng vẳng đưa lại. Cái gói nhỏ đặt trên bàn, vẻ thắc mắc dò hỏi trong cặp mắt thiếu nữ và cảm giác hồi sinh kỳ dị dồn dập dâng lên trong lòng Pierre, tất cả những cái đó đều là do tình yêu của một em nhỏ.

– Nhưng sao ông lại làm như vậy?

Pierre vừa đưa gói nhỏ đó cho cô vừa trả lời:

– Hôm nay là ngày Noel. Tôi bất hạnh không có ai để tặng quà. Cô cho phép tôi đưa cô về nhà và chúc cô một lễ Noel vui vẻ với gia đình nhé!

Thế là trong tiếng chuông đổ hồi, giữa một đám đông vui vẻ, Pierre Richard và một thiếu nữ mà anh chưa biết tên, cùng nhau bước qua một ngày mới đem lại nguồn hy vọng tràn trề trong lòng mọi người.

Ảnh cùng dòng

Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH

Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH

Trần Đỗ Cung

 

Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia.

Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng  Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.

Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội. Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang. Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?

Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua. Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng. Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc  mà còn mất cả cá tính nữa.

Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường. Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi.

Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo. Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào các nhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.

Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn. Ông   thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ rằng, “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”. Một Pol Pot đã làm như vậy, nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết. Tuy nhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản.

Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song  đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầm thường, bẩn thỉu, ích kỷ và man rợ”.

Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VW Variant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời. Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.

Rồi xẩy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót, cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”? Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ? Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?

Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.

Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.

Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau. Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả, chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính. Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.

Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo.

Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.

Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa. Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.

Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõ những gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân. Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy. Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.

Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình, bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm, tù đứng giậy nhặt gói quà trở về nhà giam. Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc lệ tràn như suối”.

Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không nhận được thư nào của chồng nữa và biết là chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ công ích không lương, tối phải tạm trú tại những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để ép chúng phục vụ.

Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm 1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu thủy và chân bắt đầu bị khóa.Tầu đi ngang qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm. Nước mắt anh dâng trào, không biết đang đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.

Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ, anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để khỏi bị nhòm ngó.

“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại miền Nam mà cũng không phải là các Tướng Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều đều, nhưng cho là không thành khẩn khai báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”.

Hầm tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích. Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung Quốc.

Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy trại tù cho chính mình.

Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia đình tù nhận được một món quà chính thức cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng không xong thì họ văng tục và thôi không thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà ông coi là tượng trưng quý báu.

Ban quản trại đều là người Bắc khắc nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện. Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng khủng bố tinh thần kinh khủng.

Về phương diện vật chất vì quá đông người nên trong phòng một tiếng động nhỏ cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc. Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may là da và phổi còn tốt”.

Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột bo bo ra để chỉ còn lại được một muỗng cơm trong bát cơm độn. Nhiều người bị lủng củng tiêu hóa và bị tháo dạ. Cái đói thật khủng khiếp ngày đêm làm cho con người bớt sáng suốt, dảm ý chí và mất óc phán đoán.

“May mắn là cả bốn đội trưởng đều là bạn thân của em tôi. Nếu không nhờ các bạn đó và các y sĩ đồng nghiệp của tôi giúp đỡ thì chắc gì anh đã sống đến ngày được thả”!

“Tôi cố tìm hiểu vì sao mà anh bị giam giữ lâu thế? Phải chăng anh được nhiều bạn tù cảm mến nên anh bị giữ lâu? Anh luôn luôn được gọi lên yêu cầu hợp tác để giúp trại sinh hoạt tốt. Nếu nhận lời thì sẽ được cấp phần ăn như cán bộ, được miễn lao động và hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng anh đã từ chối và bị giam giữ lâu hơn”.

Đầu tháng 9 năm 1978 ông Thảo gửi thư về cho biết quản trại đã phổ biến tin cho thân nhân đi thăm và tù được nhận thực phẩm. Ông cũng dặn nếu muốn ra Bắc thì liên lạc với một bà gốc Bắc có chồng cùng bị giam giữ với ông. Bà này biết rành Ha Nội và biết rõ manh mối chạy chọt giấy tờ di chuyển và cũng biết cách xoay xở vé xe lửa khứ hồi. Và từ nay bà Thảo biết các mánh khóe luồn lọt thật mất thì giờ, khó khăn và tế nhị. Tất cả các sự việc đều có thể mua bằng tiền, chạy đúng chỗ và không để lộ ra vì hối lộ là một trọng tội. Đối với bà lại còn khó khăn hơn vì trước kia đã phục vụ ngụy quyền và chồng đang bị tù cải tạo.

Mãi mới xin được giấy phép nghỉ nhưng chưa biết cách nào đi. May thay có một ông bạn có cô em trước làm tiếp viên phi hành cho Air Vietnam cũ và nay còn được lưu dụng bởi hãng Vietnam Airlines mới chưa có ai đủ khả năng thay thế. Cô này rất tháo vát và đã kiếm cho bà một vé máy bay vào tháng 11. Khi ra máy bay với xách đồ ăn khô cô ta đã giới thiệu là dì ruột và đưa bà lên máy bay, căn dặn là đừng tỏ ra sợ sệt quá. “Khi đã lên máy bay, không ai biết được là mình không có quyền xử dụng máy bay và khi về thì đã có người cho phép đi nên không có ai dám cản trở về”.

Khi đến phi trường Gia Lâm nhỏ xíu bà lên xe quân sự chờ đón khách. Bà gọi một xe xích lô đạp về nhà cán bộ giáo dục trẻ Sơn mà bà được bà thủ trưởng Sâm giới thiệu. Cha mẹ Sơn đều là giáo sư Đại Học tiếp bà ân cần và thông cảm. Họ được ở ngôi biệt thự cũ gần hồ Hoàn Kiếm tuy chỉ dược xử dụng có một căn phòng với một cầu tiêu lối cổ. Ông đã cơi lên một gác xép làm chỗ ngủ cho ông và con trai. “Tối đến họ dẹp bàn ghế vào tường và trải một chiếc chiếu rộng dưới sàn cho bà mẹ, cô chị dâu, cháu gái nhỏ và tôi nằm. Trong khi tôi thao thức vì sắp gập chồng sau hơn hai năm xa cách thì ai cũng ngủ ngon lành”.

Khi đợi người hướng dẫn đến bằng xe lửa phải mất ba tuần lễ, bà Đảnh ra phố quan sát thấy các nhóm người bán đồ lậu. Cái gì họ cũng có, phần nhiều là các gói nhỏ đường, trà, cà phê, bao thuốc lá và các thỏi chocolat nhỏ đựng trong các túi xách. Bà mua các gói kẹo chocolat vì mang từ Sài Gòn ra không tiện. Họ nói mua gì cũng có trữ tại nhà vả trả tiền xong là hôm sau họ sẽ giao. Người hướng dẫn cho bà đến nhập bọn ngủ dêm để sáng hôm sau ra ga lúc 5 giờ cho kịp chuyến xe lửa Đông Bắc.

Người đông như kiến, chen lấn lộn xộn và “tôi cùng bà chiếm được hai chỗ trên bực ngoài toa cho đến sau khi qua nhiều ga xép mới mò vào được bên trong để ngồi xệp xuống sàn tầu đầy rác, đỡ nạn bụi khói và mưa phùn giá lạnh”.

Từ trạm xe lửa đi đến vùng Bắc Thái phải dùng xe bò. May thay bà hướng dẫn đã nhanh nhẩu quá giang được một xe chở dầu nhà binh với tiền thù lao nhỏ 20 đồng. Đến ven rừng phải thuê một xe bò tới trại giam qua một con đường gập ghềnh với giá 15 đ một người. Tới cổng trại, một căn nhà lợp tranh thì cán bộ xét giấy và cho hai người một vào ngồi đợi ở một cái bàn nhỏ chữ nhật. Hai mưoi phút sau thân nhân được dẫn ra, yếu ớt, thân hình tiều tụy xác xơ trông thật đau lòng. Cán bộ đứng ở đầu bàn và phải nói to cũng như không được dùng ngoại ngữ. “Tôi không biết được gập anh bao lâu nhưng mục đích tôi là xin phép anh đưa các con trốn khỏi nước. Tôi có bổn phận báo cho anh biết là phải liều lĩnh như tự sát vì chừng 50% đến được bến tự do”. Nhưng làm sao để không cho cán bộ biết?

“Tôi nghĩ cách nói là mẹ con muốn đi vùng kinh tế mới”, thi anh xúc động hỏi lại, “Bộ chúng không đủ ăn sao”? Bà chậm rãi trả lời, “Chúng muốn làm lại cuộc đời mới và gập lại hai bà gì đã đến đó trước rồi”. Ông Thảo suy nghĩ rồi chợt hiểu là chị và em tôi đã định cư ở Âu Châu từ lâu và dặn dò, “Đừng để cho các con bơ vơ, em phải đi với các con còn quá nhỏ”! “Chúng tôi chuyện trò đủ chuyện Sài Gòn trước đây, nhà cửa, tình trạng gia đình thân nhân nội ngoại và anh không thổ lộ gì về hoàn cảnh của anh và số phận hiện tại”.

Sau một giờ thì cán bộ thổi còi chấm dứt thăm nuôi. Các tù nhân đứng lên lượm gói quà và sắp hàng về phòng giam. “Chồng tôi ôm tôi và thì thầm, em phải đi với các con và như vậy trong tương lai có thể dễ tìm lại nhau”. Lần thăm nuôi chỉ có bốn người đi thăm khốn khổ. Không một lời phản kháng hay thất vọng. Nước mắt có chảy cũng trong thầm lặng. Nơi đây hy vọng còn ít hơn ở Long Thành. “Rã rời tôi có cảm tưởng như sống những giây phút cuối cùng và tôi không còn biết tôi là ai nữa. Nếu tôi ra đi cùng các con thì rồi đây ai săn sóc anh, và biết có gặp lại nữa không”?

Chiều về tới Hà Nội, tôi e họ sẽ không cho tôi ghi vé trở về. Cha anh Sơn chở tôi bằng xe đạp ra trạm hàng không. Họ hỏi tôi đủ điều, lý do đi thăm, trú ngụ ở đâu, thấy thủ đô ra sao và đã đi thăm lăng Hồ Chủ Tịch chưa? “Tôi phải vui vẻ tỏ ra mãn nguyện và phải chấp nhận bất cứ cách giả dối nào để về với các con tôi. Tôi đã thành công và được về trên chuyến bay hai ngày sau”. Còn hơn một ngày tôi mướn một xe xích lô đi một vòng quanh Hồ Gươm. Hồ quá nhỏ, nước đen ngòm mà mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Không thấy dấu hiệu hư hại vì oanh tạc chỉ có cây cầu Doumer và đôi chút ở một bệnh viện mặc dầu họ tuyên truyền ầm ĩ là bị phi cơ hủy hoại. Tôi đã nói dối ở trạm hàng không. Tôi đã không đi thăm lăng chủ tịch mà chỉ đi xích lô phớt qua. Không có gì đặc sắc, chỉ là một kiến trúc lạc loài bê tông cốt sắt với các cột lạnh lẽo như trong thời cổ. Nhưng nếu tôi vào trong để nhìn thấy con người mà họ cho là thần thánh thì tôi đã ớn lạnh về sự lọc lừa phản bội của ông ta đã đưa nước nhà vào một cuộc chiến tàn khốc, tạo nên mối chia rẽ toàn dân và cả nước”!

Hà Nội một thành phố cổ kính thì nay đã tiều tụy, không được coi như một bà già mà là một đứa con nít thiếu dinh dưỡng lâu ngày, bụng ỏng, đít eo, chân tay khẳng khiu mang chứng bệnh còm cõi và già nua sớm không phương cứu chữa. “Tôi không muốn những ai đã rời Hà Nội năm 1954 trở lại để thấy sự điêu tàn khắc nghiệt vì tiền của nhân lực đều xung vào chiến tranh. Cha mẹ Sơn cũng như người hướng dẫn tôi đều hình như thổ lộ là họ đã sống qua ngày hướng về miền Nam. Nhưng nay miền Nam đã xụp đổ, thế là hết cả. Cuôc viếng thăm rất có kết quả vì tôi đã nói được với nhà tôi một điều cần thiết. Và tinh thần nhà tôi hình như đã vững hơn, bắt đầu yêu đời hơn và thấy hy vọng”.

Bà Đảnh đã đưa bốn đứa con vượt biển ngày 1 tháng 5 năm 1979 lợi dụng sơ hở vì mải liên hoan ngày lễ. Cả gia đình lênh đênh trên biển cả thì gặp một chiếc tầu chờ dầu Na Uy vớt. Vì vậy khi ông Thảo được thả về thì nhà đã mất và phải tạm trú nhà bà chị. Ông bị các đè ép từ các cơ quan công an phường, quận. Không có hộ khẩu nghĩa là không được phiếu mua thực phẩm và các đồ lặt vặt như thuốc đánh răng. Phải luôn luôn trình diện và đẩy  đi vùng kinh tế mới. Nhưng nếu xa Sài Gòn thì làm sao có được tin tức nên ông đã chán nản nghĩ liều đi trốn. Bà Đảnh phải nhắn về xin yên tâm đừng liều mạng vì đã có chương trình bảo lãnh và Cao Ủy tị nạn đã đặt thêm một văn phòng ở Sài Gòn.

Bà gửi về các giấy tờ cho nhiều nơi để khỏi thất lạc.

Cuối cùng, sau nhiều lần chạy chọt khó khăn và nhiêu khê, ông Thảo đã được giấy phép xuất cảnh. Bà Đảnh nói, “Không chối cãi việc Việt Cộng đã trả lại người thân cho chúng tôi. Nhưng họ đã ra sao khi được thả? Một số đông đã chết như anh đội trưởng giúp đỡ  tận tình bạn tù. Anh chết tức tưởi trong tuổi hoa niên của cuộc đời. Qua hành hạ thể xác độc địa nhằm triệt tiêu nhân phẩm, Việt Cộng không tàn phá nổi thể xác nhưng đã để lại trong tâm hồn tù nhân nhiều rạn nứt in hằn. Lập trường chính trị, tín ngưỡng, lòng yêu nước không bao giờ xóa tẩy được”. Bà Đảnh kết luận, “Tôi chấm dứt bằng một câu xúc tích của chồng tôi khi anh đặt chân xuống đất Na Uy”: “Chúng tôi vẫn sống, hy vọng của chúng tôi đã đạt được. Tôi đã có vợ con quanh tôi, hạnh phúc tôi tràn đầy. Từ nay các con tôi được bảo đảm tương lai trên một đất nước cao đẹp, tự do như Na Uy mà chúng tôi coi là miền đất hứa”.

Vài cảm nghĩ.- Cộng sản Việt Nam sùng bái Hồ Chí Minh như thánh sống. Ai cũng biết là họ Hồ mạo danh nhóm ái quốc ở Paris khi viết báo Le Paria đã dùng tên chung Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriot). Hồ đã từng nộp đơn xin làm việc với Bộ Thuộc Địa rồi đi theo cộng sản Nga để được huấn luyện thành cán bộ Đông Dương Cộng Sản. Khi qua Tầu lại lấy danh tính một người chết để thành Hồ Chí Minh. Không có lấy cái bằng sơ học,  chỉ lặp lại những danh từ Sô Viết rồi Tầu Mao, lợi dụng khí thế ái quốc chống Pháp để đổi Việt Minh thành đảng Lao Động Cộng Sản và hãm hại các người yêu nước cũng như nhiều người trong vụ đấu tố.

Ông ta đã học thuộc lòng câu “Hồng hơn Chuyên” của Mao nên cũng nói “Trí Thức là Cục Phân” cho nên khi chiếm Sài Gòn chính trị bộ Hà Nội đã bỏ tù các chuyên viên của miền Nam mà huấn luyện mất bao nhiêu thời gian và công của. Hệt như “bước nhẩy vọt” của Tầu Mao trong kế hoạch sản xuất thép tiểu công trong các làng xã phí phạm bao nhiêu nhân lực đưa đến phá sản kinh tế và môi trường. Cho nên ta thấy các Y Khoa Bác Sỹ phải đi quét chợ và chuyên viên kinh tài như ông Đỗ Văn Thảo bị giam cầm trong nhiều năm. Phí phạm “chất xám” như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và “chất xám” trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?

 Trần Đỗ Cung