MỐI TÌNH KHÔNG CHIẾN TUYẾN

May be a black-and-white image of one or more people

Lê Văn Hòa

“MỐI TÌNH KHÔNG CHIẾN TUYẾN

Tác giả của bài viết này từng là một sĩ quan QLVNCH, đang cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO-20. Ông nhớ về một kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời binh nghiệp của chính mình:

Có một nữ chiến binh VC bị thương trong một trận chiến đẫm máu đã được ông cứu chữa. Sau chiến tranh, người nữ chiến binh VC ấy đã vào tận trại cải tạo tìm thăm người cựu sĩ quan QLVNCH. Khi được tự do, 2 người đã thành vợ chồng và họ sang Mỹ sinh sống…

Câu chuyện của 2 người lính từng một thời là “kẻ thù” của nhau, ngỡ như chỉ có trong tiểu thuyết, thật cảm động, đầy tính nhân văn và vượt qua những bất đồng về lý tưởng. Nó chứng minh một điều không phải ta dễ dàng nhận ra: Trong chiến tranh, trái tim yêu thương sẽ chiến thắng sự hận thù, dù ở bên kia chiến tuyến …

“Sau 3 ngày quần thảo ác liệt với đối phương, chúng tôi mới chiếm được mục tiêu. Một đơn vị VC thuộc tỉnh Bến Tre đã bị xóa sổ, nhưng đơn vị của chúng tôi cũng bị thiệt hại nặng nề không kém!

Trung đội 4 của tôi được lệnh bung rộng ra kiểm soát từng hầm hố, từng công sự của đối phương. Cảnh vật hoang tàn đổ nát, những thân cây dừa bị mảnh đạn pháo binh băm nát lỗ chỗ. Hầu như không còn chỗ nào nguyên vẹn, mùi thuốc súng nồng nặc khó chịu vẫn còn vương lại nơi đâỵ.

Tôi với Kính, người mang máy truyền tin, cẩn thận từng bước trên bờ mương nhỏ.

Chợt Kính giơ tay ra hiệu:

– Sếp ơi! Coi chừng, hình như có người trong lùm cây đàng kia.

– Tản rộng ra, theo dõi kỹ chung quanh và coi chừng trái nổ gài lại đó.

Tôi ra lệnh cho Kính xong là lom khom phóng qua những thân cây nằm ngổn ngang trên mặt đất. Khẩu M16 lên đạn sẳn sàng. Kính theo kế bên hông…

Những tiếng rên nho nhỏ từ trong lùm cây rậm rạp, ngày càng nghe rõ dần…

– Một nữ “Vi xi”! – Kính nói nhỏ.

Kinh nghiệm chiến trận cho tôi biết không bao giờ hấp tấp trước mọi tình huống. Có thể đối phương gài mìn bẫy xung quanh, hoặc gỉa vờ bị thương để dẫn dụ đối phương tới gần rồi sát hại.

Giơ ngón tay ra hiệu lệnh và chỉ vào lùm cây, tôi quan sát lần nữa rồi rón rén bước nhẹ, đằng kia thằng Kính lăm le khẩu súng trên tay trông chừng. Tôi lấy mũi súng vạch đám lá, một cô gái còn rất trẻ trạc độ 18 – 19 tuổi, tóc tết đuôi sam, nằm gối đầu lên chiếc ba-lô mầu “cứt ngựa”, vai trái bị trúng đạn máu tuôn ra ướt đẫm, mắt nhắm nghiền nhưng miệng vẩn không ngớt rên rỉ:

– Nước… Nước… Cho tôi miếng nước.

Trước tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của cô địch quân sau khi ngừng tiếng súng, việc đầu tiên là phải cầm máu. Tôi lấy băng cá nhân lau nhẹ trên vết thương. Đoạn dùng lưỡi lê cắt khoảng áo trên vai, đỡ cô ngồi dựa vào người, tôi đoạn bảo Kính:

– Mày băng dùm cho tao, nhớ nhẹ taỵ!

– Ông nhân từ quá, gặp em đi một mình là con nhỏ này tiêu đời! – Kính vừa băng vừa cằn nhằn.

Tôi im lặng không nói gì. Thằng Kính cũng có lý. Những người lính ra trận làm sao tránh khỏi thương vong. Liệu VC có nhân từ với những người anh em của tôi không?

– Nước… Cho tôi xin miếng nước.

– ĐM… Câm miệng lại!

Kính văng tục và gầm ghè giận dữ. Tôi lừ mắt nhìn người đệ tử ra vẻ không hài lòng.

– Mày đừng nói như vậy, với một người sắp chết, mình đừng nuôi thù hận nữa. Thôi mày ra ngoài trông chừng cho tao đi!

Tôi lấy cái khăn màu tím cột trên vai áo (dấu hiệu nhận diện của đơn vị) thấm chút nước rót từ bình tông lau nhẹ trên mặt cô gái. Tôi ngẩn người trong giây lát vì sắc đẹp của nữ địch quân: khuôn mặt thanh tú với hàng mi cong vút nhất là sống mũi cao nôm cô phảng phất như minh tinh màn bạc. Dù trắng xanh vì mất máu, nhưng cô ta vẫn có nét thu hút đặc biệt…

Ghé bình tông nước vào miệng cô gái, tôi nói nhỏ:

– Cô uống đi, nhớ từ từ từng chút một.

Cô gái ngoan ngoãn nghe lời như một em bé, rồi thều thào:

– Cám ơn ông nhìều – Giọng cô nói yếu ớt và mệt mỏi.

– Tôi sẽ tiêm cho cô 2 mũi thuốc trụ sinh và cầm máu, cố chịu đau nghe.

– Không cần đâu, làm phiền ông nhiều rồi. Vả lại tôi cũng sắp chết…

– Tầm bậy, vết thương này đâu có gì nguy hiểm!

– Xin ông đừng an ủi như vậy. Hồi nãy ông nói tôi sắp chết…

– Tại vì… Tại vì… Tôi không muốn lính của mình ăn nói kỳ cục như vậy…

Cô gái mở mắt nhìn tôi với vẻ cám ơn, trong đáy mắt chứa nhiều điều muốn nói. Lâu lắm cô lại thều thào:

– Bây giờ ông sẽ làm gì với tôi? Bắn một phát súng có lẽ nhẹ nhàng hơn là giao tôi cho cấp trên của ông…

Thật tình tôi không biết trả lời sao với cô, chưa kịp phản ứng thì cô tiếp:

– Tôi sinh ra ở miền đất mênh mông sông nước này. Ba má tôi đều đã chết vì bom đạn Mỹ. Hãy để thân xác tôi cũng vùi xuống đất mẹ quê hương. Ông đừng giao tôi cho ai hết. Tôi xin ông…

– Thôi được rồi, tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của cô. Nhưng trước nhất hãy để tôi tiêm thuốc cái đã, đừng bướng bỉnh như vậy.

Cô gật nhẹ đầu mà không nói lời nào. Kéo ống tay áo lên, lộ làn da trắng nõn nà. Tôi chăm chú chích mũi Penicilline mà không thấy má của cô thoáng đỏ vì hổ thẹn mà chỉ thấy cô nhăn nhó suýt soa vì đau, tôi bật cười:

– Cô cũng là lính, đã đánh trận bị thương, bị bắn không đau, chỉ có mũi kim bé tí tẹo mà cô rên rỉ, nhăn nhó như…

– Sao không đau, ông muốn nói tôi như… khỉ chứ gì?

Cô cướp lời. Tôi cười trừ, đỡ cô gái nằm xuống ngay ngắn trên mấy tầu lá chuối rồi đứng dậy lấy trong ba-lô mấy hộp lương khô, bình nước đầy và cuộn băng cứu thương, tất cả đặt bên cạnh cô rồi nghiêm nghị nói:

– Đơn vị tôi sẽ di chuyển đi nơi khác bất cứ lúc nào để tìm các đồng chí của cô. Những thứ nầy cần thiết cho cô, tôi hy vọng người của cô sẽ trở lại tìm và cứu sống đồng đội của mình.

Tôi lấy khăn nhúng nước lau mặt cho cô đoạn cẩn thận lấy mấy tàu lá dừa che kín lại cô VC đang nằm.

– Này… Ông tên là gì vậy?

– Có quan trọng lắm không?

– Ít ra sống hay chết tôi còn biết tên người đã đối xử tốt với mình chứ.

– Vậy thì cô nói với Diêm Vương gã đó là Lam, Trần Hoài Lam, và cô xin với ổng cho tôi tai qua nạn khỏi trong chiến tranh này!

Tôi nghe tiếng cô cười nhỏ cùng tiếng nói thật nhẹ:

– Dạ, Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi.

Quyên, người con gái mà tôi gặp gỡ một lần, và chỉ một lần duy nhất trong cuộc đời kế từ đó. Bước chân người lính như tôi đã qua mọi đoạn đường đất nước, những trận đánh đẫm máu bằng cái chết của đôi bên lên rất cao. Vài lần bị thương nặng nhẹ nhưng tính mạng vẫn còn giữ được, phải chăng Quyên hằng đêm cầu nguyện cho tôi được tai qua nạn khỏi như nàng đã hứa.

Đất nước hoà bình, tiếng súng lặng im, những người từng là sĩ quan QLVNCH như tôi và bạn bè khác dù không bị trả thù, “tắm máu”, nhưng đều phải ra trình diện, rồi tập trung đi trại cải tạo…

Một ngày đẹp trời, trại Bù Gia Mập, nơi tôi đang “lao động là vinh quang” có cơn bão rừng rất lớn, mọi người được phép nghỉ tại lán. Anh Đan, khối trưởng nhận thư từ Quản giáo phân phát cho anh em. Là một kẻ không thân nhân, không họ hàng, tôi lảng đi nơi khác cho đỡ tủi thân.

– Trần Hoài Lam có thư!

Cả phòng xôn xao ngạc nhiên vì ai cũng biết tôi là thằng “mồ côi”, là “con bà Phước”, danh từ ám chỉ những kẻ không có ai thăm viếng lẫn thư từ.

Rất ngạc nhiên tôi nghĩ thầm trong bụng có lẽ trùng tên với một người nào đó nên im lặng.

– Trần Hoài Lam có thư!

Người khối trưởng lập lại với vẻ khó chịu.

Tôi dè dặt bước tới trong trạng thái hoang mang.

– Có thật là của tôi không anh Đan?

– Tên anh rành rành trên phong bì làm sao sai được. Thôi nhận đi cho tôi còn làm việc, nếu có sai thì cho tôi biết.

Cầm lá thư tôi lật qua lật lại, xem kỹ có phải đúng tên mình không. Hoàn toàn đúng nhưng tuồng chữ lạ hoắc và cái tên cũng chưa bao nghe qua, nhưng một điều chắc chắn người viết là phái nữ, nét chữ mềm mại thẳng đứng nhưng rõ ràng. Trần Hoài Quyên, thật là lạ, trùng họ, trùng chữ lót, chỉ khác tên. Tôi tứ cố vô thân làm gì có họ hàng.

Tôi hồi hộp đến run rẩy mở ra đọc:

“Anh Lam! Có lẽ anh ngạc nhiên lúc nhận thư của Quyên, người con gái xa lạ gởi đến cho mình, nhưng khi em nói câu này chắc chắn anh hình dung Quyên là ai: Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ mủi kim bé tí teo này mà nhăn nhó rên rỉ như…”.

Đọc mấy dòng chữ trên, tôi lặng người rất lâu, bàng hoàng và xúc động hơn bao giờ hết khi nhớ lại trong trận đánh ấy, một nữ VC khuôn mặt bê bết sình đất, tóc tai rũ rượi gối đầu trên ba lô nhỏ, ánh mắt thất thần khi tôi đến gần rồi nhẹ nhàng lấy khăn lau cho cô, khuôn mặt thiên thần trong sáng hiện ra…

“Đúng như anh nói, đêm hôm ấy đồng đội đã mang em ra khỏi nơi mù mịt khói lửa và chữa trị ở bệnh viện đã chiến. Sau khi rời khỏi bệnh viện, em xin về đơn vị thành phố để họat động…

Chính hành động của anh đã làm thay đổi quan niệm của em.

Những người đối đầu không hẳn đều tàn ác, bằng chứng là anh. Anh đối xử thật tốt, thật nhân đạo với “kẻ thù”. Dù rằng thuộc hạ của anh nói đúng, không biết bao người đã ngã xuống vì những viên đạn của đối phương, mà có thể trong đó có cả em từng bắn ra…

Hòa Bình tái lập, nhưng em không vui vì nhiều người còn tư tưởng hận thù. Em rất buồn vì biết anh đang đi cải tạo… Nhưng em không thể nào quên anh. Vì thế, em đã cậy cục, tìm kiếm tin tức của anh qua các trại học tập. Trời không phụ lòng người, rốt cục em cũng tìm ra anh. Anh Lam! Còn nhớ những gì em đã nói trước khi anh từ gĩa ra đi không: Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tránh được mũi tên hòn đạn”.

Em đã cầu nguyện như vậy mỗi đêm để ơn trên ban mọi điều lành đến cho anh tai qua nạn khỏi đúng như lời đã hứa. Em đang thu xếp công việc để đến thăm anh kỳ tới. Mong được găp lại anh. Hy vọng đừng làm mặt lạ với Quyên”.

Từ đó tôi không còn là người cô độc nữa, Quyên thăm đều đặn, lần nào cũng khóc, giọt nước mắt long lanh trên má làm tôi xúc động muốn khóc theo.

Ân tình của em làm sao tôi báo đáp cho nổi, cho tới khi tôi được tự do và làm thủ tục sang Mỹ sinh sống…

Tôi đã cầu hôn với Quyên và em đồng ý.

Quyên bây giờ là mẹ của bầy con 3 đứa kháu khỉnh, xinh đẹp. Em chu toàn nhiệm vụ của người vợ hiền, người mẹ nhân ái. Sống ở xứ người văn minh tân tiến nhưng Quyên vẫn là của tôi dạo nào, vẫn áo bà ba và sợi thung buộc trên tóc. Những đêm con cái ngon giấc, em qua nằm kế bên tôi thủ thỉ trò chuyện tâm sự:

– Quyên à, em thương anh từ lúc nào.

– Kỳ cục, ai mà nhớ, hỏi bậy bạ không à”. Em mắc cở phụng phịu.

– Vậy thì thôi anh không hỏi nữa. Tôi làm bộ giận dỗi quay mặt đi nơi khác.

– Thôi đừng giận nữa, em nói, nhưng cấm không được cười à nha…

Quyên bắt tôi thề thốt đủ mọi điều rồi mới nói:

– Em yêu từ lúc anh kéo tay áo lên để tiêm thuốc. Mắc cỡ muốn chết, đã vậy còn ghẹo người ta này nọ. Anh biết không, cái khăn màu tím ngày đó anh lau mặt cho, em giữ mãi trong người, đi đâu cũng xếp lại bỏ vào túi áo, lâu lâu mở ra xem sợ rớt mất.

Tôi cảm động hôn lên trán vợ, không ngờ cô yêu thương mình đến như vậy:

– Anh biết không, có một hôm em giặt xong phơi ở hàng rào gió thổi mất tiêu. Trời đất, em khóc mấy ngày trời, bỏ ăn, bỏ ngủ, đi tìm nó. Không hiểu sao nó lại về với em, đứa bạn nhặt được mang trả lại. Nó nói cái khăn này bay tới tận khu ủy, cách đó gần 5 cây số. Em tin rằng anh luôn luôn bên cạnh để giúp em vượt qua nguy hiểm. Hôm bị thương nếu gặp người khác có lẽ cuộc đời của em không biết ra sao. Có lẽ bị chết không chừng…

Quyên ngủ say bên vai tôi, tiếng thở nhẹ nhàng êm ái. Một điều huyền diệu khó tin nhưng thật sự là vậy. Phải chăng duyên số đưa đẩy để tôi gặp em trong hoàn cảnh đó. Đúng như Quyên nói, nếu gặp người khác em có thể bị bắn chết hoặc chết vì vết thương. Hôn lên trán vợ, tôi thì thầm:

– Duyên nợ trời định em ạ.

Bên vai tôi, Quyên ngủ ngon lành khuôn mặt thiên thần không gợn chút bụi trần.

Tình yêu và hạnh phúc của chúng tôi đã đi qua chiến tranh như thế!”

(ST)

THƯƠ NG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

THƯƠ NG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

     Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh.  Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu.  Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

 Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má.  Ông ấy chết rồi, chết thật rồi.  Zorba đã ra đi, đi mãi không về.  Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. …  Những linh hồn như thế sẽ không chết.  Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? …  Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy.”

 Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu.  Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa rời trần thế này.  Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết.  Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

 Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết.  Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này.  Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

 Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời.  Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo.  Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

 Ông đã rất nỗ lực!  Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu.  Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn.  Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống.  Tuy nhiên, là tín hữu Kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

 Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác.  Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài.  Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

 Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất?  Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này.  Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài).  Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

 Thế nghĩa là sao?  “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì?  “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra.  Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại.  Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa.  Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

 Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó.  Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được?  Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm.  Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

 Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả.  Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

NỤ HÔN CỦA VỊ THÁNH chứng minh cho nụ hôn của Ơn Gọi

NỤ HÔN CỦA VỊ THÁNH chứng minh cho nụ hôn của Ơn Gọi

The Kiss of A Saint…and also the kiss for Vocation…

The kiss of Saint John Paul II bring the Kids close to the priesthood life…

Câu chuyện tuyệt vời về một người mẹ mang cậu con trai của mình là Gioan-Phaolô Tôma đến với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để được chúc lành và hôn lên trán. Giờ đây thầy Gioan-Phaolô đang học để trở thành linh mục. Tất cả là hồng ân, mọi việc Chúa làm thật vĩ đại qua vị Thánh của Ngài…

Nguồn: John Glory Nguyen

May be an image of 3 people and text

Thơ của Trịnh Nhung

Kính gửi các cô chú, anh chị

Vào sáng nay (2/9/2021), cháu/em đã liên lạc với điều tra viên vụ án của anh Thuận để xin được gửi tiền lưu ký và một ít vật dụng, nhưng đươc cho biết rằng sau giãn cách có thể đến thẳng trại tạm giam để gửi, lúc này nơi đó không nhận tiền chuyển khoản.

Theo lời của điều tra viên, thì anh Thuận nhà em đang bị giam ở trại giam Cầu Cao, thuộc tỉnh Thanh Hóa. Lúc này có đến đấy thì cũng đang trong đợt nghỉ lễ 4 ngày, họ không tiếp ai.

Vào ngày anh Thuận bi bắt (30/8/2021), thì công an có tịch thu nhiều đồ đạc bị coi là chứng cứ, trong đó có một hũ chanh đào mật ong của gia đình cất dùng, và một thẻ ATM trong đó có ít tiền dành dụm từ việc mua bán mật ong mà em và anh Thuận cùng nhau làm, nhưng anh Thuận đứng tên tài khoản vì lo phần thu tiền của khách.

Cháu/em có hỏi điều tra viên về việc muốn lấy lại mấy thứ đó, nhất là vào lúc phải tự xoay sở với bé Khỉ Con mà không còn ba, nhưng điều tra viên tất cả đều là chứng cứ nên khi nào điều tra xong mới có thể lấy lại. Cháu/em cũng xin sao lại một biên bản tịch thu những đồ đạc trong nhà vào lúc sự việc xảy ra, nhưng không được trả lời rõ, điều tra viên chỉ nói là mọi thứ làm theo quy định nhà nước. Có lẽ việc này khi bàn bạc với luật sư, cháu/em cũng sẽ nhờ giúp thêm.

Gia đình em ở Thanh Hóa nhưng Khỉ Con vẫn gọi anh Thuận là “ba”, vì anh Thuận rất thích con gái của mình nói tiếng giống như miền Nam vậy.

Cháu/em xin gửi thêm tin tức đến cô chú, anh chị. Có tin gì mới cháu/em sẽ lại gửi. Xin cám ơn tất cả mọi người đã tiếp tục gửi những lời yêu thương và động viên tinh thần cho gia đình.

Ảnh bên dưới là ảnh do Công an chụp lúc đưa anh Thuận ra khỏi nhà hôm 30/8.

May be an image of 6 people and people standing

Nữ điều dưỡng nhận ra bác sĩ là đứa trẻ sơ sinh gần 30 năm trước.

Van Pham

Câu chuyện thần tiên có thật dưới đây chỉ có thể xảy ra dưới một chế độ “nhân bản”, đặt nặng tình người… Bao giờ các nhân viên y tế tại VN trở thành những “từ mẫu” làm việc ở những “nhà thương” thay vì là viện này, viện kia?

***

Nữ điều dưỡng nhận ra bác sĩ là đứa trẻ sơ sinh gần 30 năm trước.

California – Một sự kiện xảy ra vào tháng này năm ngoái, cho thấy mối liên hệ gắn bó kéo dài giữa điều dưỡng viên phòng hồi sức đặc biệt cho trẻ sơ sanh (neonatal intensive care unit NICU), bà Vilma Wong, với các bệnh nhân tí hon của mình, ngay cả sau hơn 3 thập niên làm việc.

Theo bản tin của tờ báo San Jose Mercury News, nữ điều dưỡng Wong hồi đầu tháng qua đang trong giờ làm việc tại bệnh viện Lucile Packard Children’s Hospital thì thấy một người đàn ông trẻ tuổi, đứng gần một lồng nuôi trẻ sinh non.

Tất cả mọi nhân viên y tế đều phải đến thông báo ở bàn điều dưỡng chịu trách nhiệm khu vực này, trước khi khám các đứa trẻ sinh thiếu tháng, nhỏ bé và đầy những dây, ống thở trên người.

“Anh là ai?” bà Wong hỏi người sau đó được biết là bác sĩ thực tập năm thứ nhì ngành nhi khoa, ông Brandon Seminatore, đang được huấn luyện để trở thành bác sĩ thần kinh nhi khoa.

“Tên gia đình của anh ta nghe rất quen,” bà Wong kể lại. “Tôi mới hỏi rằng anh ta ở đâu và anh ta nói với tôi rằng anh ở San Jose, California, và đặc biệt hơn nữa, rằng anh từng là một trẻ sinh thiếu tháng ở bệnh viện này.”

Bà Wong giật mình, vì nhớ là vài chục năm trước đã từng là nữ điều dưỡng chính chăm sóc cho một đứa trẻ có cùng tên sinh ra khi chỉ mới được 29 tuần.

Để xác định điều đang nghi ngờ, bà Wong hỏi phải chăng cha của người bác sĩ này là cảnh sát viên.

Nữ điều dưỡng Wong kể lại: “Anh ta im lặng một lúc, rồi hỏi có phải tên tôi là Vilma.”

Bác Sĩ Seminatore bàng hoàng vì nữ điều dưỡng Wong vẫn còn nhớ việc chăm sóc cho ông ta 28 năm trước, trong số hàng chục ngàn đứa trẻ đã đến khu NICU này từ đó đến nay.

Trong gia đình của Bác Sĩ Seminatore, tên của nữ điều dưỡng Vilma Wong và Kas Pilon vẫn được nhắc tới vì sự tận tụy và lòng thương mến khi chăm sóc trẻ.

Mẹ của Bác Sĩ Seminatore, bà Laura Seminatore, từng là giáo viên mẫu giáo năm 1990, lúc đẻ đứa con trai, và nay là hiệu trưởng trường St. John Vianney Catholic School ở San Jose, nhắc lại: “Họ là những điều dưỡng viên tuyệt vời nhất. Họ giúp làm dịu sự lo lắng sợ hãi của chúng tôi.”

Khi bà Laura biết con mình sẽ đến thực tập một tháng tại khu NICU này, bà nhắc con nhớ hỏi về hai điều dưỡng kia.

Bác Sĩ Seminatore nói cuộc gặp gỡ này như trong giấc mơ, vì nghĩ bà Wong nay chắc đã nghỉ hưu.

“Tôi nay có cơ hội chăm sóc cho các đứa trẻ cùng với người nữ điều dưỡng từng chăm sóc tôi,” Bác Sĩ Seminatore nói tiếp.

Câu chuyện này được phổ biến trên Facebook, cũng khiến có nhiều người chia sẻ các kỷ niệm của họ với nữ điều dưỡng Vilma Wong.

Có một số gia đình nói rằng họ luôn nhớ tới “Dì Vilma.”

Một phụ nữ viết rằng: “Vilma cũng giống như người mẹ thứ nhì của con trai tôi.”

Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý:

Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý:

Ở Trung Quốc những năm gần đây, nhiều trường có cả chuyên ngành Đại học gọi là ‘Việt Nam học’. Khi vào đây, sinh viên Trung Quốc sẽ được học tiếng Việt với đầy đủ kỹ năng đọc, hiểu, nói, viết thành thạo như một người Việt bản địa. Không chỉ dừng lại ở đào tạo ngôn ngữ, những sinh viên này còn được đào tạo rất chuyên sâu về lịch sử, văn hoá, chính trị của Việt Nam… nhưng luôn kèm theo câu [do người Trung Quốc phát minh].

Việc này đã tạo ra những ‘đội quân’ người Trung Quốc hiểu về Việt Nam, cập nhật rất rõ tình hình của Việt Nam, họ sử dụng mạng xã hội Facebook dưới tên Việt Nam, tham gia vào các diễn đàn mạng xã hội tại Việt Nam và tương tác rất tích cực.

Tuy nhiên, ở ‘đội quân’ này có khả nhiều mặt trái, vì biết rõ tiếng Việt, dùng facebook dưới tên Việt nên khi tham gia các cuộc tranh luận hoặc đưa tin họ thường cố tình đứng ở vị trí của một người Việt Nam để tham gia tranh luận hoặc đưa thông tin, rất nhiều thông tin trong số đó có sự đánh tráo khái niệm, bịa đặt về tình hình Việt Nam, so sánh với Trung Quốc, tạo mâu thuẫn, nghi ngờ trong dư luận.

Thủ đoạn thường thấy là các facebook đặt tên Việt (kiểu như Hoa Quốc Phong, Tiêu Bá Dương, Thạch Anh…), tự nhận bản thân là một người thuộc vùng miền, địa phương nào đó của Việt Nam, sau đó dùng các thông tin xuyên tạc, bịa đặt để kích động tranh cãi, chửi bới để gây xung đột vùng miền, chia rẽ sự đoàn kết. Nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử của Việt Nam bị nhóm này cố ý xuyên tạc hoặc đánh tráo khái niệm để người đọc, người xem lầm tưởng và hạ thấp giá trị văn hoá, lịch sử của Việt Nam và đặc biệt là tấn công vào chủ quyền của Việt Nam với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Những kẻ này ở nhiều cuộc tranh luận đóng vai trò khơi mào, dẫn dắt, thổi bùng vấn đề, tạo tranh cãi nảy lửa rồi âm thầm rút. Một số kẻ lợi dụng các idol Trung Quốc để lôi kéo người Việt Nam tuyên truyền trá hình cho đường lưỡi bò với những luận điệu đại loại như “yêu nước nhưng vẫn đu idol” hay “Hoàng Sa, Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm từ lâu”, “chủ quyền Việt Nam, chính trị không liên quan đến nghệ thuật”… hay xuyên tạc lịch sử như: “Cái áo, cái quần của triều đại A, B của Việt Nam là ăn cắp từ Trung Quốc”, “Việt Nam không tự sáng tạo ra các lễ nghi mà phải sao chép, ăn cắp, học lỏm từ Trung Quốc”… Lẽ dĩ nhiên, những luận điệu này cũng được sự chia sẻ của một số các bạn trẻ của Việt Nam – thường được cộng đồng mạng gọi là “Mị Châu”, những bạn trẻ này thiếu kiến thức, nhẹ dạ, khả năng lập luận tư duy kém nên khi nghe những luận điệu kiểu “7 phần là sai 3 phần là đúng” được tuyên truyền đã vội tin tưởng và lặp lại những luận điệu đó.

Trên thực tế, các admin ARA cũng từng gặp những trường hợp tương tự như vậy, thông thường khi tranh luận với những đối tượng này chúng sẽ đưa ra các thông tin rất chung chung, không có dẫn chứng cụ thể, loanh quanh và luôn có xu hướng hạ thấp Việt Nam.

Tại Trung Quốc, những người này được gọi là [Tiểu Phấn Hồng]. Xu hướng này xuất hiện trong thời gian gần đây và có lẽ cần phải có sự theo dõi và nghiên cứu về cách thức hoạt động của nhóm này nhằm đưa ra các biện pháp đấu tranh phù hợp.

Andy Nguyen

Nguồn FB Nguyen Khanh Tram https://www.facebook.com/100064585164895/posts/207283398101164/?d=n

———-

Ảnh dưới là nghi ngờ Việt gian hoặc là người TQ rành tiếng Việt, một “ Tiểu Phấn Hồng “ tiêu biểu, có tên nick “Nguyễn Thu Hường “ với trên 10.000 người theo dõi, ả chuyên Comment dạo có quan điểm giống 100% hoàn cầu thời báo của ĐCSTQ và …

https://www.facebook.com/pigcat 

 

CÂM ĐIẾC TÂM LINH

CÂM ĐIẾC TÂM LINH

 Cha Mark Link, S.J.

Một phụ nữ kia có người bạn bị điếc.  Ngày nọ bà ta hỏi người bạn muốn được tặng gì vào ngày sinh nhật.  Người bạn ấy đáp lại thật bất ngờ: “Xin bạn hãy vui lòng viết thư cho Ann Landers yêu cầu bà ta in lại bảng kinh cầu nguyện cho người điếc.  Bà ấy đã từng in nó trước đây vào mục của bà trong một tờ báo, nhưng tôi đã đánh mất bản sao mục đó rồi!”  Thế là người phụ nữ đã viết thư cho Ann Landers.  Và vào ngày 1.6 ngày sinh nhật của cô bạn, bà Ann đã in lại lời cầu nguyện đó trong cột báo của mình.  Một đoạn trong lời cầu đó như sau:

            “Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà người điếc phải gánh chịu là đa số thiên hạ xem họ như những người chuyên làm phiền người khác.  Người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc.  Kết quả là người điếc thường phải trốn lánh bạn bè và càng ngày càng trở nên khép kín” (William Barclay).

             Lời kinh trên cho chúng ta thấy một nỗi niềm, một uẩn khúc nào đó của người điếc mà chúng ta thường ít người nhận ra được.  Đa số chúng ta đều cho rằng mù thì tệ hại hơn điếc.  Thế nhưng Helen Keller vừa bị mù lẫn điếc thì cho rằng bị điếc không nghe được, thì quả là phần lớn những cánh cửa trong cuộc đời ta đã bị khép chặt lại, chẳng hạn: mở radio thì chả hiểu gì, xem truyền hình cũng chả thú vị gì mà còn phát chán, và hầu như không thể trò chuyện với ai được cả.  Vì thế, sau một thời gian chúng ta sẽ cảm thấy cô đơn như bị bỏ rơi.

***************************************

            Câu chuyện về người điếc nói trên giúp ta hiểu rõ hơn bài Phúc Âm hôm nay.  Nó giúp ta hiểu được người câm điếc vui sướng như thế nào sau khi được Chúa Giêsu chữa lành. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh ta cảm nếm được một phần nào vui thú của cuộc sống.

            Điều này dẫn chúng ta đến một vài câu hỏi:

–    Tại sao Chúa Giêsu đã chữa lành người câm điếc ấy?

–    Tại sao Ngài đã khai thông lỗ tai người ấy?

–    Tại sao Ngài đã phục hồi miệng lưỡi người ấy?

            Câu trả lời nằm trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay.  Trong lời mô tả vài dấu chỉ sẽ xảy ra khi Đấng Mêsia đến, tiên tri Isaia đã nói: “Kẻ điếc sẽ được nghe, ai không nói được sẽ mừng rỡ reo lên…”  Qua việc chữa lành người câm điếc trên, Chúa Giêsu đã hoàn tất hai dấu chỉ mà tiên tri Isaia đã nói để giúp dân chúng nhận ra Đấng Mêsia.  Vậy, một trong những mục đích của việc chữa lành ngày hôm nay là xác nhận rõ hơn Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

            Tuy nhiên, việc chữa lành ngườì câm điếc kia còn tỏ lộ một điều ẩn kín nào đó nơi bản thân Đức Giêsu.  Nó cho ta thấy Đức Giêsu là một mẫu người giàu lòng thương xót.  Điều này đặc biệt biểu lộ qua cung cách Ngài tách biệt anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông.  Như ta biết, người điếc thường hay mặc cảm nên lúng túng trước tình cảnh của mình.  Họ không hiểu ất giáp gì cả khi nghe người ta hỏi, nên họ luôn cảm thấy mình như ở ngoài rìa.  Vì thế khi dẫn anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông, Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng xót thương thực sự của Ngài đối với anh, Ngài rất nhạy cảm đối với tình cảnh đáng thương của anh.  Như thế ngoài việc tỏ cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, việc chữa lành người câm điếc còn cho ta thấy rõ lòng thương xót của Đức Giêsu.

            Cuối cùng, việc Đức Giêsu chữa lành cho người câm điếc đã tạo nên nguồn hy vọng cho chúng ta là những kẻ đang sống ở thời đại ngày nay.

            Trạng thái của người câm điếc không giống trạng thái của riêng chúng ta.  Nhiều người trong chúng ta không điếc về thể lý nhưng lại điếc về tâm linh.  Chúng tôi muốn ám chỉ gì đây? Hãy dùng một ví dụ để làm sáng tỏ.

            Mới đây một bà mẹ và ông bố đến thăm đứa con gái của họ đang lâm trọng bệnh ở nhà thương.  Ngay khi họ lái xe rời bệnh viện, bà mẹ bắt đầu vừa khóc vừa nói; “Anh Ron ơi, em chả biết rõ điều gì đang xảy đến cho em, lẽ ra 10 năm trước em có thể cầu nguyện với tất cả tấm lòng cho con gái chúng ta.  Lẽ ra em có thể trình bày với Chúa về nó, và lẽ ra em có thể nghe lời Chúa dặn dò em “Đừng lo.“  Thế nhưng em không còn làm điều ấy được nữa.  Em không còn cầu nguyện được nữa, em không thể nói chuyện với Chúa như em đã thường làm.  Hình như về mặt thiêng liêng em đã trở nên như câm như điếc.”

            Câu chuyện trên mô tả tình trạng của nhiều người trong chúng ta.  Chúng ta đôi lúc cũng cảm thấy khó cầu nguyện khác với chúng ta ngày xưa.  Chúng ta cũng cảm thấy khó đối thoại với Chúa và chúng ta cũng cảm thấy khó khăn trong việc nghe Chúa nói với chúng ta.  Vậy trong trường hợp này, chúng ta phải làm gì?  Câu trả lời đã nằm sẵn trong bài Phúc Âm hôm nay.  Chúng ta có thể bắt chước người câm điếc trên, nghĩa là tìm kiếm Chúa Giêsu, cùng Ngài bước ra khỏi đám đông và tận hưởng đôi chút thời gian bên sự hiện diện có khả năng chữa lành của Ngài.

            Bài Phúc Âm hôm nay khuyên chúng ta nên tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Giêsu để Ngài mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài đặt ngón tay của Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta.  Nói cụ thể hơn, Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm lại những gì chúng ta đã từng có thói quen hay làm, tức là bỏ ra ít phút mỗi ngày để cầu nguyện, để Chúa Giêsu thực hiện nơi chúng ta điều Ngài đã làm cho người câm điếc ấy, nghĩa là bài Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu chữa lành bệnh câm điếc của chúng ta.

            Như thế, câu chuyện người câm điếc trên nói với chúng ta 3 điều:

–  Thứ nhất, nó mặc khải cho chúng ta Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia của Israel đã được mong đợi từ lâu.  Đức Giêsu đã thực hiện điều mà Isaia tiên báo Đấng Mêsia sẽ làm, tức là cho người điếc được nghe và người câm nói được.

–  Thứ hai, câu chuyện người câm điếc mặc khải cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng xót thương.  Ngài đưa người điếc ra khỏi đám đông để chữa lành cho người ấy.  Ngài không biến người ấy thành trò cười cho thiên hạ mà muốn tiếp xúc thân mật riêng tư với người ấy.

–   Cuối cùng, bài Phúc Âm mặc khải cho chúng ta phương pháp giải quyết các vấn nạn mà nhiều người trong chúng ta đang gặp phải ngày hôm nay. Đó là chúng ta không còn cầu nguyện được nữa, không còn thưa chuyện với Chúa, lắng nghe lời Ngài nói trong tâm hồn chúng ta được nữa. Về mặt thiêng liêng quả thực chúng ta đang bị câm điếc.

            Để tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề khổ tâm này, chúng ta hãy bắt chước người câm điếc, là tìm kiếm Chúa Giêsu và xin Ngài chữa lành chúng ta.  Cụ thể hơn, chúng ta hãy để riêng vài phút mỗi ngày tiếp xúc với Chúa Giêsu ngõ hầu Ngài sẽ chữa lành và làm cho chúng ta hoàn toàn khoẻ mạnh trở lại.

Cha Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim

Tại sao Đảng cộng sản Việt Nam khó thay đổi?

Tại sao Đảng cộng sản Việt Nam khó thay đổi?

Bởi  AdminTD

 Song Chi

1-9-2021

Giữa Trung Cộng và các nước dân chủ phương Tây đứng đầu là Hoa Kỳ, chọn ai làm bạn, lòng dân đã quá rõ. Những hành động chứng tỏ thiện chí của Hoa Kỳ cũng đã quá rõ. Nhưng còn đảng cộng sản?

Đến tận giờ phút này, đảng và nhà nước cộng sản cần phải thấy rõ rằng sau bao nhiêu năm đi với Trung Cộng, tự nguyện chọn Trung Cộng là thầy, là đồng chí anh em, copy mô hình của Trung Cộng, nhất cử nhất động học theo Trung Cộng, VN được gì mất gì?

Giữ được đảng, được chế độ-điều duy nhất quan trong đối với đảng cộng sản! Mất thêm đảo, mất một phần lãnh thổ lãnh hải, mất sự độc lập, tự chủ, lệ thuộc nặng nề từ kinh tế cho đến chính trị, luôn luôn nơm nớp lo Trung Cộng sẽ ngày càng bành trướng trên biển Đông, ngày càng o ép, bắt nạt VN và có thể sẽ tiến chiếm thêm biển đảo khi họ cần. Quan trọng nhất VN không bao giờ có thể trở thành một quốc gia giàu mạnh cả nếu còn nằm trong vòng kìm tỏa của Trung Cộng, bởi vì Trung Cộng không bao giờ muốn như thế và sẽ tìm mọi cách để kìm hãm VN, ngăn VN phát triển hơn nữa, có quan hệ sâu rộng hơn nữa với thế giới.

Ngược lại, nếu chơi với Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đi theo con đường, mô hình của các nước dân chủ, VN chắc chắn sẽ trở thành một quốc gia giàu mạnh vì đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, đoàn kết được người Việt trong và ngoài nước, giải phóng hết nội lực và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển. VN sẽ không thua gì các nước khác trong khu vực. Cái mất duy nhất là mất sự độc tôn quyền lực. Nhưng nếu đảng cộng sản vì quyền lợi của đất nước, dân tộc mà chọn hướng đi đúng thì chắc chắn người dân sẽ hiểu được điều đó và họ vẫn sẽ giữ được đảng, trong một mô hình đa đảng để cùng cạnh tranh một cách lành mạnh, thay nhau nắm quyền tùy theo lá phiếu của người dân.

Nhưng tôi cho rằng đảng cộng sản sẽ không dám lựa chọn như vậy, mà vẫn cứ giữ nguyên hiện trạng, đối nội bám chắc quyền lực không bao giờ chịu san sẻ cho ai, đối ngoại tiếp tục đu dây giữa các cường quốc, như từ trước tới giờ vẫn thế.

Không chỉ vì họ tham lam quyền lực, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc, mà còn vì các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản VN từ trước cho đến tận bây giờ vẫn là những kẻ có tầm nhìn thiển cận, tư duy cứng ngắc sợ thay đổi, có tâm thế hèn hạ, nhược tiểu, chỉ muốn dựa vào nước khác, chỉ muốn học theo nước khác, hết dựa theo học theo Liên Xô lại dựa theo, học theo Trung Cộng, không muốn thoát ra. Họ cũng không yêu nước, không biết nhục vì nước mình còn nghèo thua xa các nước, chuyện gì cũng phải ngửa tay đi xin đi vay, cũng không biết thương dân đã quá cực quá khổ. Họ là như vậy, thì làm sao mà có thể thay đổi?

Chỉ cần nhìn cách họ đối phó với đại dịch là có thể thấy họ kém cỏi, không có khả năng tính trước được cái gì, đi từ sai lầm này đến sai lầm khác nhưng lại không chịu nghe dân, vô cảm với nỗi khổ đau của nhân dân, cũng như chúng ta có thể thấy giữa lòng dân và những mệnh lệnh, ý chí của đảng và nhà nước cộng sản vẫn cứ xa vời vợi như thế nào.

Câu chuyện làm người tử tế…

May be an image of child and standing

Le Tu Ngoc

Chiều đi làm về quá đói bụng, ghé tiệm xôi ở Nguyễn Văn Đậu. Đợi mua xôi, lấy điện thoại gọi cho đứa bạn, tự nhiên có thằng nhỏ đâu nhảy ra, làm giật cả mình:

– Chú ơi, đừng xài điện thoại ở đây, dễ bị giật lắm.

Mình gật gù, ờ ờ…

– Con biết chú không mua vé số đâu, nhưng nếu được, chú ủng hộ con 1 tờ thôi?

– Sao biết chú không mua? Cho 1 tờ đi – mình bảo.

– Dạ, con cảm ơn chú.

– Con ăn gì chưa, chú bao con hộp xôi nha.

Nó gật đầu, lí nhí cảm ơn.

– Cô ơi, phần xôi của con cô tách làm đôi để trong bịch ni-lông giúp. Nó dặn chị bán xôi.

– Ăn bịch ni-lông độc lắm – mình bảo.

– Tại nếu con xin thêm cái hộp thì tội cô bán xôi. Con để dành cho nhỏ em cũng đang bán vé số chắc chưa ăn gì.

– Chị, vậy cho thằng nhỏ thêm 1 hộp nữa nha, rồi tính cho em luôn.

Thằng nhỏ cầm 2 hộp xôi, rối rít cảm ơn rồi chạy vụt đi. Chị bán xôi góp chuyện:

– Nhìn vậy chớ có lòng lắm. Hôm rồi trời mưa to, thấy người ta bị tắt máy xe, nó lao ra phụ đẩy, cái rồi bị rớt xấp vé số xuống nước, thương gì đâu. Mười ngàn, em.

– Ủa, 3 hộp sao có 10 ngàn?

– Hổng có em tui cũng cho nó mà. Tính hộp của em thôi.

Tự nhiên nghe mắt cay cay… Cổ họng tôi như nghẹn lại…

Vui quá, tôi chợt hát nghêu ngao một mình: “Phố thị đông, người đông đông/ Tôi như đứa nhóc lông bông, chơi xa mà không về nhà…”

Đừng trách con người, nên chăng trách những này nọ làm họ quay lưng lại với nhau. Đâu cần làm ông nọ bà kia, đâu cần phải vinh hoa, phú quý… Ai đó đã nói: “làm người tử tế trước khi làm người có học”.

Ảnh: Minh họa.

Câu chuyện được chia sẻ từ : fb Trung Lê Quang | #toilanguoisaigon

SUY NGẪM…

Nguyễn Hoàng Diễm

SUY NGẪM…

Thả một hòn sỏi vào trong nước: một tiếng bắn tóe lên, rồi chìm nghỉm. Nhưng để lại vô số gợn sóng lăn tăn xoay tròn. Lan tỏa từ trọng tâm, tràn ra biển cả.

Thả một hòn sỏi vào trong nước: trong phút chốc bạn lãng quên. Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn, hòa vào con sóng lớn. Bạn đã xáo động một đại dương hùng vĩ chỉ bằng một hòn sỏi mà thôi

Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi

Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan tỏa …

Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.

Thả một lời nói không tốt: trong phút chốc bạn lãng quên.

Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn mãi …

Có thể bạn đã làm ứa một dòng nước mắt trên con tim buồn.

Bạn đã xáo động một cuộc đời hạnh phúc chỉ vì những lời nói kia.

Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: chỉ trong giây lát chúng bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn, xoay tròn mãi.

Mang hy vọng, niềm vui, an ủi trong mỗi con sóng xô bờ.

Bạn sẽ không ngờ được sức mạnh của một lời nói tốt bạn cho đi.

Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: trong giây lát bạn lãng quên; Nhưng niềm vui dâng tràn, và những gợn sóng reo vui xoay tròn mãi.

Bạn đã làm cho con sóng được vỗ về trong điệu nhac êm ái.

QH

No photo description available.

CUỘC ĐỜI SẦU NỮ ÚT BẠCH LAN

CUỘC ĐỜI SẦU NỮ ÚT BẠCH LAN

Võ Đắc Danh

…”Dạ kính thưa ông bà cô bác, tụi con mồ côi cha, anh con bị mù, không biết làm gì để sống, xin mượn tiếng nhạc lời ca để giúp vui, mong bà con cô bác mở rộng lòng thương cho xin đồng tiền chén gạo để nuôi dưỡng mẹ già….

Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng quặn đau í a.
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trông tin chàng…”

Đó là sự khởi nghiệp của nghệ sĩ Út Bạch Lan và danh cầm Văn Vĩ. Có lẽ số trời đã cho họ gặp nhau rồi trở thành anh em kết nghĩa khi Út Bạch Lan 7 tuổi và Văn Vĩ mới lên 9 tuổi. Hai người mẹ bị bỏ rơi, dắt hai đứa trẻ đi lang thang giữa chợ đời, tình cờ gặp nhau rồi kết nghĩa chị em, sống trong một trạm gác cũ bên hông chợ Bình Tây. Mỗi sáng, Út Lùn – tên cô thưở ấy – được các bà chủ sạp sai đi mua thức ăn và được trả công bằng những thứ hàng của sạp như trứng vịt, rau cải, thịt heo, tôm cá… đủ để nuôi sống hai bà mẹ và người anh trai mù lòa. Ban đêm, hai người mẹ ngủ trong lô-cốt, hai anh em ngủ trên sạp hàng.

Cô Út kể:

Không biết Văn Vĩ biết đàn từ khi nào, nhưng năm lên 9 tuổi thì tiếng đàn của ông như thần sầu quỷ khóc. Đêm đêm trên sạp hàng trong chợ Bình Tây, Văn Vĩ dạy cô ca vọng cổ. Rồi bỗng một ngày, cô rủ Văn Vĩ ra đường hát rong để xin tiền nuôi mẹ. Không ngờ công việc ấy thành công. Khi bài Dạ Cổ Hoài Lang cất lên cùng với tiếng đàn guitar trên hè phố, trời đất như chim sa cá lặn, những kẻ qua đường dừng lại lắng nghe, những đồng tiền xu rơi xuống chiếu. Bỗng một ngày nọ, có một lão già tốt bụng ngồi lại hỏi thăm, xong ông bảo: “Nhà ông ở gần chợ Bàu Sen, phía sau có một chái lá bỏ trống, hai cháu đưa hai người mẹ về đó ở”. Về ở được mấy hôm, ông lại bảo: “Đi hát kiểu nầy nắng mưa cực lắm, để ông mở lớp cho hai cháu dạy đờn ca”. Thế rồi ông viết tấm bảng nhỏ “Tại đây có dạy đờn ca vọng cổ” đóng lên cây sao trên hè phố trước nhà. Chẳng bao lâu, lớp dạy đờn ca vọng cổ của Văn Vĩ và Út Lùn thu nhận gần ba chục học trò cùng lứa tuổi. Một hôm, cô Năm Cần Thơ tìm tới mời hai người lên đài phát thanh Pháp Á để thu bài “Trọng Thủy – Mỵ Châu” rồi được ký luôn một hợp đồng làm việc cho đài. Nghệ sĩ Thành Công nói rằng: “Đã thành ca sĩ của đài rồi thì phải chọn một nghệ danh chớ không thể gọi là Út Lùn được. Bên đài Quốc Gia có ca sĩ Bạch Huệ, hay là ta đặt tên em là Bạch Lan”. Cô Út nói: “Tên Bạch Lan cũng hay, nhưng cho em xin lại chữ Út”. Thế là giọng ca Út Bạch Lan với tiếng đàn Văn Vĩ bắt đầu từ đó. Năm ấy cô mới tròn 11 tuổi.

Hỏi vì sao gọi là “Sầu Nữ Út Bạch Lan”, cô nói: “Một cuộc đời buồn, một giọng ca buồn, ca những bài buồn, chuyên đóng những vai buồn và khóc thật với nhân vật của mình. Những năm đầu của thập niên sáu mươi, ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã bình luận về cô như vậy trong một bài viết có nhan đề “Sầu Nữ Út Bạch Lan”, rồi thành danh cho đến bây giờ.

Một cuộc tình buồn

Có thể nói, sau thế hệ của nghệ sĩ Phùng Há, thế hệ Út Bạch Lan là những người tiếp tục xây dựng nền móng cho sân khấu cải lương Nam bộ. Những năm cuối của thập niên năm mươi, cặp diễn viên “thinh sắc lưỡng toàn” Út Bạch Lan–Thành Được đã làm rạng rỡ sân khấu Kim Chưởng qua những vỡ tuồng Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Thuyền Ra Cửa Biển, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nửa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa …. Năm 1961, cũng chính Út Bạch Lan–Thành Được đã làm nên thương hiệu của đoàn Thanh Minh Thanh Nga với những tuồng Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển, Rồi Ba Mươi Năm Sau, Tiếng Hạc Trong Trăng, Tình Xuân Muôn Tuổi… Thế nhưng, thành công trên kịch trường bao nhiêu thì Út Bạch Lan lại thất bại chốn tình trường bấy nhiêu, thất bại đến cay đắng, nghẹn ngào và khổ đau chất chồng theo năm tháng. Trên sân khấu, cô khóc cho nhân vật của mình đến đầm đìa nước mắt để rồi sau bức màn nhung, cô lại khóc cho thân phận chính mình.

Cô với Thành Được có một đám cưới rất huy hoàng trước sự chúc mừng của hàng trăm ký giả, hàng trăm đồng nghiệp do cô Bảy Phùng Há và bà bầu Kim Chưởng tác hôn. Sau đám cưới, hàng chục bài báo ca tụng cuộc tình của hai ngôi sao sân khấu. Nhưng dường như tất cả chỉ có thế rồi kết thúc, để lại cho cô một nỗi đau đời. Cô vừa nuôi mẹ ruột, vừa nuôi mẹ chồng trong một căn nhà chung cư còn Thành Được thì tiếp tục vung gươm trên trận tuyến ái tình như một người chưa hề có vợ. Cô yêu Thành Được vì sự tài hoa, lãng mạn, đa tình và cô khổ cũng chính vì những điều cô yêu ông ấy. Đám cưới chưa được bao lâu thì có một thiếu phụ dẫn đứa con gái lên ba tuổi đến giao cho cô, nói rằng đây là con của anh Thành Được, nhờ cô nuôi giùm một thời gian để tránh những mâu thuẫn gia đình. Cô vừa thương đứa trẻ vô tội, vừa sợ mất chồng nên đã nhận nuôi.

Hai năm sau, khi người thiếu phụ ấy vừa đến xin đón đứa con về thì bất ngờ một cô gái trẻ xuất hiện cùng với cái bào thai, cô vừa khóc vừa kể: “Em là Thu Hà, nữ sinh ở Huế. Hôm ấy đoàn ra ngoài Huế hát, em tìm đến xin anh Thành Được tấm hình, ảnh hẹn em ở khách sạn… Rứa là em mang thai. Chừ cha mẹ em đuổi em ra khỏi nhà, em không biết phải làm răng …”. Một lần nữa vì sợ mất chồng, cô Út thuê nhà trọ cho Hà ở, hàng ngày thuê xích lô mang cơm tới cho Hà ăn. Thỉnh thoảng cô tới lui chăm sóc, an ủi Hà cho đến ngày sinh nở. Nhưng sau khi mẹ tròn con vuông, Hà lại van xin cô: “Em còn quá trẻ, không thể sống như thế nầy được, em lạy chị nuôi đứa bé giùm em để em về quê làm lại cuộc đời!”. Không một chút đắn đo, cô Út mang đứa bé về nuôi, làm khai sinh theo họ chồng, đặt tên Châu Văn Dũng. Trước nghĩa cử của cô, nghệ sĩ Thành Được đã không cầm được sự xúc động, cô thì cảm thấy mình hạnh phúc vì đã làm đẹp lòng chồng. Cứ nghĩ, mình không thể sinh con, thôi thì nuôi con chồng bằng tấm lòng người mẹ. Ý nghĩ ấy đã đem đến cho cô một niềm hạnh phúc để xua bớt nỗi đắng cay, nhất là khi thời gian càng trôi qua, cô càng thương yêu Dũng như con ruột của mình.

Mấy năm sau, trong một chuyến lưu diễn ở miền tây, tình cờ cô gặp một cô gái tên Trinh ở Gò Công sau khi vãn hát. Thấy một cô gái vừa đẹp vừa sang trọng xin theo mình, cô cứ nghĩ Trinh thích hát cải lương. Nhưng Trinh lại nói: “Em không biết hát, em mê chị và xin theo làm người giúp việc cho chị để được gần chị mà thôi”. Thế là cô nhận Trinh làm em kết nghĩa, đưa về nhà làm quản lý gia đình, chăm sóc hai người mẹ và trông coi Dũng. Rồi bất chợt một ngày, cô phát hiện Trinh đã mang thai. Hỏi mang thai với ai, Trinh chỉ khóc mà không nói. Cô bảo nói ra thì cô tha thứ, còn không nói thì cô tự tử. Cuối cùng thì: “Em mang thai với anh Thành Được!”. Một lần nữa, Út Bạch Lan đứng tên làm mẹ, đặt tên con là Châu Điền Sơn – Điền Sơn là tên nhân vật trong vở cải lương Khi Hoa Anh Đào Nở do Thành Được thủ vai đã làm nên tên tuổi của hai người. Nhưng cũng như lần trước, khi mẹ tròn con vuông thì Trinh lặng lẽ ra đi, để lại lá thư nhờ cô nuôi Điền Sơn để về quê làm lại cuộc đời. Khi hai người chia tay, nghệ sĩ Thành Được vẫn hào hoa phong nhã, vẫn tiếp tục vung gươm trên trận tuyến ái tình như một người chưa hề có vợ, còn cô thì trở thành góa phụ với gánh nặng hai con. Những năm sau đó, cô về đoàn Kim Chung diễn với Hùng Cường, nhưng ngặt nỗi Kim Chung mua lại những tuồng mà trước đây Thành Được diễn với cô. Cứ mỗi lần Hùng Cường xuất hiện thì trong mắt cô lại là Thành Được, cô không diễn nổi, quên tuồng, quên vai và khóc nức nở với thân phận của chính mình.

Qua một vòng đời nghiệt ngã, sau năm 75, cô hội ngộ với Thành Được qua vai hai vợ chồng ông Bảy Đờn trong vở Người Ven Đô. Khi bước lên sân khấu, Thành Được xúc động nói một câu ngoài kịch bản: “Bà ngồi xuống đi rồi nghe tôi nói, bà sống với tôi bao nhiêu năm qua bà chưa được hưởng một ngày hạnh phúc, tôi đã làm khổ bà nhiều quá phải không?”. Lúc ấy bỗng dưng cô khóc, khóc thật nhiều dù cảnh ấy không có trong kịch bản.

Cuộc đời cô cũng có những đoạn kết như sân khấu, cô bé đầu tiên cô nuôi dưỡng hai năm, sau nầy vẫn gọi cô bằng mẹ và cư xử như một đứa con máu thịt, ruột rà. Những năm tám mươi cô gặp lại Thu Hà giữa Sài Gòn, Hà trở thành goá phụ vì chiến tranh, đau khổ vì hai đứa con trai luôn vào tù ra khám, Dũng vừa hiếu thảo với cô, vừa hết lòng chia sẻ khổ đau với người mẹ ruột. Và, cũng vì bi kịch của người mẹ ruột mà Dũng chết vì một tai họa bất ngờ.

Điền Sơn lớn lên được cô cưới vợ và cất nhà cho ra riêng. Rồi trong một chuyến đi lưu diễn sang Mỹ, cô bất ngờ gặp lại bà Trinh, hai chị em ôm nhau vừa mừng vừa tủi. Bà Trinh nhã ý muốn bảo lãnh Sơn qua Mỹ, cô nói: “Ừ, thì về đi rồi chị lo”. Thế là, gần bốn mươi năm nhọc nhằn nuôi dưỡng, giờ lại nhọc nhằn chạy ngược chạy xuôi làm thủ tục để trả Sơn về với cội nguồn. Ngày tiễn Sơn ra sân bay, sau cái vẫy tay mừng cho mẹ con Sơn đoàn tựu, cô lại quay về với sự cô đơn, kết thúc sự ràng buộc mong manh cuối cùng với một cuộc tình buồn. Từ ấy đến nay, cô gởi những năm tháng còn lại của đời mình vào cửa Phật, không phải xuống tóc quy y mà đêm gỏ mõ tụng kinh, ngày chọn sân chùa làm sân khấu, hát trích đoạn những vở tuồng về Phật để lấy tiền trùng tu, sửa chữa chùa chiền. Nếu bảo rằng tu là khổ hạnh thì xem ra, nghệ sĩ Út Bạch Lan đã là bậc chân tu từ thuở thiếu thời.

Võ Đắc Danh

From: Helen Hương Nguyễn