Lời Tỏ Tình

Lời Tỏ Tình

Phạm Thanh Châu

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hoà, hiện là cư dân Virginia. Nhà văn Phạm Thành Châu đã cộng tác với các báo Văn, Thế Kỷ 21 và có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. Nhân vật trong truyện của anh thật tuyệt vời! Họ chung tình quá sức. Nhà văn, nhà biên khảo Võ Phiến khi đọc truyện của Phạm Thành Châu đã nhận xét như trên. Sau đây là một truyện ngắn mới của ông.

***

Sau khi chiếm được nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc “khổ sai biệt xứ”. Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men…giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó.

Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”. Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa?

Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”. Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ.

Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng “Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…” Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội.

Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi” Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp “Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…

Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…” Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..” Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp “Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi.

Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”. Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh.

Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế” Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay” Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu.

Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm… Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu

IRS gửi 90 triệu khoản trợ cấp $1,400 trong chưa đầy 1 tuần

WASHINGTON, DC (NV) – Sở Thuế (IRS) gửi 90 triệu khoản trợ cấp $1,400 cho người dân Mỹ trong chưa đầy một tuần kể từ khi Tổng Thống Joe Biden ký dự luật COVID-19 mới nhất trị giá $1,900 tỷ, IRS và Bộ Tài Chính loan báo hôm Thứ Tư, 17 Tháng Ba.

“Đến hôm nay, tất cả những ai nhận được tiền trợ cấp trực tiếp trong đợt đầu tiên có thể sử dụng được số tiền này,” Bộ Tài Chính ra thông báo cho hay hôm Thứ Tư. “Đợt đầu tiên hầu hết được gửi trực tiếp vô trương mục ngân hàng mà một số người bắt đầu nhận được cuối tuần qua.”

Đến Thứ Tư, 17 Tháng Ba, IRS cũng gửi khoảng 150,000 tờ ngân phiếu trị giá tổng cộng $442 triệu. (Hình: AP Photo/Matt Rourke, File)

Đợt trợ cấp đầu tiên trị giá khoảng $242 tỷ, hơn một nửa trong số $450 tỷ dành riêng để trợ cấp trực tiếp cho người dân.

IRS bắt đầu gửi tiền hôm Thứ Sáu tuần trước, nhưng chọn ngày 17 Tháng Ba để người nhận dùng được số tiền này.

Đợt đầu tiên được gửi cho người nào có thông tin trương mục ngân hàng lưu ở IRS từ hồ sơ khai thuế năm 2019 hoặc 2020.

Phần lớn tiền trợ cấp trực tiếp sẽ được gửi theo cách đó, nhưng đến nay, IRS cũng gửi khoảng 150,000 tờ ngân phiếu trị giá tổng cộng $442 triệu.

Theo kế hoạch trợ cấp lần thứ ba này, người Mỹ hội đủ điều kiện sẽ nhận được đến $1,400. Khoảng 158.5 triệu gia đình dự trù được trợ cấp, Tòa Bạch Ốc cho hay. (Th.Long) [qd]

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

1/ Ta đang còn sống

2/ Ta có sức khỏe

3/ Ta có đủ sáu căn

4/ Ta có tự do

5/ Ta có tiện nghi vật chất

6/ Ta có tình thương

7/ Ta có sự hiểu biết

1/ Ta đang còn sống

Trên đời này quý nhất là sự sống.

Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết.

Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ?

Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi.

Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống.

Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần.

Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

2/ Ta có sức khỏe

Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống.

Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v…

Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ.

Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức.

Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc.

Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây.

Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)

Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v…

Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì !

Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ?

Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem.

Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn.

Như vậy còn đòi hỏi gì hơn?

Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.

Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

4/ Ta có tự do

Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo.

Hiện tại bạn có đang ở tù không?

Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ?

Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không?

Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ?

Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ?

Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng?

Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.

Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ?

Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v…

Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm.

Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không?

Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

5/ Ta có tiện nghi vật chất.

Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v…

Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ.

Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo.

Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ.; như ở Mỹ cũng có Homeless vậy.

Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người.

Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ?

Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ?

Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ.

Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ.

Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

6/ Ta có tình thương

Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết.

Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai.

Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến.

Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh.

Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu.

Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác.

Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng.

Hiện tại bạn có ai là người thân thương không?

Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không?

Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không?

Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

7/ Ta có sự hiểu biết

Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp.

3 điều Thương Ghét

1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.

2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.

3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết.

Anh chị Thụ & Mai gởi

 LỜI NÓI THẬT CỦA MỘT BÁC SĨ.

 
May be an image of 1 person

 LỜI NÓI THẬT CỦA MỘT BÁC SĨ.

Nguyên tắc thứ nhất: Đừng tin những gì quảng cáo trên báo đài, truyền thông, và thế giới mạng về thuốc. Vì không độc thì không gọi là thuốc, người ta chỉ uống thuốc để tự tử, chứ không ai uống nước để tự tử bao giờ. Chính vì thế, mà ở các quốc gia tiên tiến, cấm quảng cáo thuốc trên phương tiện truyền thông dân dụng, chỉ được quảng cáo thuốc ở tạp chí và hội thảo chuyên ngành Y.

Nguyên tắc thứ hai: Khi đi khám bệnh bất kỳ ở đâu, người bệnh cần có 1 câu hỏi phải hỏi: “Bệnh của tôi do nguyên nhân gì?” Vì chỉ có thầy thuốc giỏi mới điều trị nguyên nhân bệnh, còn lại những thầy thuốc kém hiểu biết chỉ biết điều trị hậu quả – hay còn gọi là chữa triệu chứng – của bệnh.

Nguyên tắc thứ ba:Đừng bao giờ tin những gì mình tìm kiếm trên mạng internet rồi tự suy diễn, tự làm bác sĩ cho mình và gia đình mình. Vì như thế chỉ làm hại chính mình và gia đình mình. Hãy cứ nghĩ, nếu bản thân bạn đủ khả năng được các trường Y nhận vào học thì các bạn đã trở thành bác sĩ, chưa kể các bác sĩ đã được đào tạo chính quy một thời gian dài về bộ máy tinh vi nhất của quả đất – con người – bình thường và bất thường từ tế bào đến bao nhiêu rối loạn khác về cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng chưa chắc họ đã giỏi, thì các bạn chỉ vài cú enter với google, không có kiến thức căn bản về y khoa, thì các bạn như người điếc không sợ súng và tự hại mình thôi.

Nguyên tác thứ tư: Đừng bao giờ tin những quảng cáo về các loại thức ăn, thức uống bổ, giúp chữa bệnh này hay bệnh khác – Ví dụ, sữa chống loãng xương, thực phẩm chứ năng, thức uống collagen, v.v… – chỉ là những trò kinh doanh kiểu đa cấp để kiếm lãi. Loãng xương là một trong những tiến trình của một quá trình lão hóa của bất kỳ động vật nào được diễn ra ở mức độ phân tử sinh học, tiến trình này cho tới nay, y học vẫn còn mò mẫm và bất lực.

Nguyên tác thứ năm: Ăn uống và làm việc là thuốc. Ăn uống và làm việc đúng thì không hoặc ít bệnh tật. Ăn uống và làm việc sai là tự đưa mình vào nơi khổ đau của bệnh tật, vì sức khỏe qúy hơn vàng.

Chúc mọi ngừơi dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và phồn vinh !

Sưu tầm: tâm sự nghề Y

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Diễm Thi, RFA
2021-03-16

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Ông Võ Hoàng Yên trong một lần chữa bệnh

 Photo: plo.vn

00:00/06:18

Sáng 15 tháng Ba năm 2021, ông Đỗ Thiết Khiêm, Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xác nhận với truyền thông trong nước rằng Công an tỉnh đang điều tra, xác minh hiệu quả chữa bệnh của Lương y Võ Hoàng Yên cho người dân địa phương hồi tháng Bảy năm 2020. Lúc đó, huyện Bình Sơn đã mời ông Yên về để chữa bệnh miễn phí cho khoảng 1.000 người nghèo bị khuyết tật vận động, câm, điếc bẩm sinh… không có điều kiện để chạy chữa.

Mười năm trước, báo Công an Nhân dân cho biết, vào chiều ngày 26 tháng Tám năm 2011, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, ông Trương Tấn Thiệu đã tổ chức cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành để bàn giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho ông Võ Hoàng Yên điều trị bệnh cho nhân dân.

Tại cuộc họp này, UBND tỉnh Bình Phước hoan nghênh ông Võ Hoàng Yên chữa bệnh có trách nhiệm và có tâm với người bệnh và cộng đồng. Ông Thiệu đề nghị các ngành chức năng tham mưu đề xuất với UBND tỉnh, đặc biệt là Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật và Hội Đông y tỉnh cần nghiên cứu chủ trương, tìm ra những giải pháp cụ thể để ông Yên sớm có giấy phép hành nghề.

Tháng Năm năm 2012, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Huy Phong trao tặng bằng khen cho lương y Võ Hoàng Yên nhờ những đóng góp của ông trong việc chữa bệnh cứu người cho nhân dân trong tỉnh. Đến tháng 12 cùng năm, ông Võ Hoàng Yên chính thức được công nhận là lương y và có giấy phép hành nghề.

Trong khi đó, mới hôm 10 tháng Ba năm 2021, báo Lao Động dẫn lời khẳng định của PGS-TS Nguyễn Thế Thịnh – Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền thuộc Bộ Y tế rằng, “Chưa có bất kỳ một cơ sở khoa học nào về phương pháp của ông Võ Hoàng Yên có thể chữa được bệnh và bản thân ông Võ Hoàng Yên cũng chưa đăng ký ở bất kỳ đâu, chưa ai công nhận phương pháp của ông này có thể chữa được bệnh…”

Ông Thịnh cũng cho biết đang cho điều tra, đồng thời có công văn yêu cầu Sở Y tế Bình Thuận và một số Sở Y tế các tỉnh khác yêu cầu báo cáo Bộ Y tế về trường hợp này.

Tất cả những gì về ông Võ Hoàng Yên được người dân biết đến chủ yếu qua các kênh truyền thông Nhà nước. Vậy ai phải chịu trách nhiệm trong vụ việc liên quan ông Võ Hoàng Yên?

Nhà báo Minh Hải nêu ý kiến của ông:

“Vấn đề ở đây là PR không rõ ràng. Lẫn lộn giữa PR và quảng cáo. Nó nhập nhằng như thế cho nên bây giờ đổ bể ra thì chỉ vì tiền hết thôi. Tất cả là tiền hết chứ không phải lương tâm nhà báo đâu. Có tiền là mua được hết mà, có gì đâu.”

Ông Đỗ Cao Cường, từng là phóng viên báo Pháp Luật, nêu quan điểm của ông về trách nhiệm của truyền thông trong những vụ việc như ông Võ Hoàng Yên:

Trách nhiệm của truyền thông trong vấn đề này là khi họ yêu ghét theo kiểu cảm tính, họ đưa tin mà không gặp trực tiếp những bệnh nhân cụ thể. Họ tạo ra lòng tin và người dân vô tình tin theo. Bây giờ khi ông Yên bị vợ chồng ông Dũng lò vôi tố cáo thì truyền thông lại tin vào bà ấy. Vấn đề ở đây chủ yếu là do truyền thông định hướng. Nó có chỉ đạo lèo lái dư luận để người dân quên đi những vụ khác, những sự kiện quan trọng khác như vụ Đồng Tâm chẳng hạn. Muốn lên làm trưởng đại diện tòa báo thì bắt buộc phải kiếm cái hợp đồng truyền thông về cho tòa soạn.”

Tháng Chín năm 2020, một số tờ báo chính thống tại Việt Nam đã bị xử phạt hành chính với cáo buộc đưa tin sai sự thật và thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy phép hoạt động.

Hình minh hoạ. Một người dân đọc báo Nhân Dân trên đường phố Hà Nội. AFP

Bộ Thông tin và Truyền thông nêu ra những sai phạm như báo điện tử Dân Việt đã đưa thông tin bị cho sai sự thật trong bài viết “Khởi tố, bắt tạm giam ông Tất Thành Cang, cựu phó bí thư TP.HCM”. Vi phạm này được xác định “do lỗi kỹ thuật trong quá trình chuyển đổi hệ thống quản lý tin bài đã xuất bản tin chờ”.

Báo điện tử Tổ Quốc bị nói vi phạm đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

Báo VnExpress bị cho đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về lễ kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành tuyên giáo của Đảng và báo Thanh Niên bị xử phạt do đưa “thông tin sai sự thật trong loạt bài viết đăng tháng 5/2020 về một số dự án đầu tư xây dựng theo hình thức BT tại Hải Phòng”.

Theo Nhà báo Võ Văn Tạo, báo chí đưa thông tin sai có nhiều nguyên nhân. Ông nói:

“Nó có rất nhiều nguyên nhân. Truyền thông mà sai lầm có khi là do cẩu thả, có khi là những sai sót, sơ hở, thậm chí có những tai nạn nghề nghiệp khó tránh.

Bà Kim Ngân hồi còn làm Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã từng gởi giấy khen cho những người tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm, tâm linh… Sau này một phóng viên của VTV làm một chương trình bóc trần sự thật trong việc tìm mộ ra. Lúc ấy cả nước mới vỡ lẽ.”

Với trường hợp ông Võ Hoàng Yên, nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng, phóng viên không phải là những người thông thạo trong mọi lĩnh vực nên với những hiện tượng có tính chất kỳ bí thì không nên đưa tin một cách liều mạng mà phải để cho hội đồng khoa học đánh giá rõ ràng trước khi đưa tin.

Theo con số từ Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra vào cuối  năm 2020, Việt Nam có khoảng 840 cơ quan báo chí, gần 70 đài phát thanh truyền hình với đội ngũ nhà báo lên tới khoảng 40.000 người. Tất cả các cơ quan báo chí này đều phải chịu sự kiểm soát của nhà nước theo định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương. Trong quy hoạch báo chí đến năm 2025, chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định báo chí là công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của đảng và nhà nước.

Biện pháp kiểm soát gắt gao nhằm mục tiêu nhằm khống chế, triệt tiêu những tiếng nói phản biện, đối lập; còn đối với những thông tin ‘vô thưởng, vô phạt’, cả những chuyện mê tín- dị đoan, ‘tình-tiền-tù- tội’ … lại thấy nhan nhản trên các báo chính thức được phát hành trong nước.

NHỮNG LUẬN ĐIỂM NGỤY BIỆN.

Hoai Linh Ngoc Duong

NHỮNG LUẬN ĐIỂM NGỤY BIỆN.

Với người dân các nước khác khi chính quyền dùng đến súng tức là đã tuyên chiến với nhân dân, là chuông báo tử cho chính quyền đó, là sự kết thúc một triều đại.

Nhưng với người dân Việt Nam khi chính quyền dùng đến súng thì đó là lý do để đổ thừa rằng người dân không thể chống lại.Kẻ nào ở nước ngoài nói rằng có thể chống lại với súng là nói dóc, có giỏi thì về Việt Nam làm đi.Không thể đối chọi với súng, nhà tù, bạo lực của công an là lý do khuất phục mà các dư luận viên đưa ra để hù ma nhát khỉ bất kỳ ai có tư duy dân chủ.

Tuy nhiên đó chỉ là luận điệu ngụy biện.

– Ngụy biện thứ nhất : Khi chế độ hiện tại chưa nắm chính quyền chúng cũng luôn tuyên truyền là “nợ máu trả bằng máu”,”nhà tù là trường học”, bạo lực không thể khuất phục được lòng yêu nước của người dân…Biết bao bài thơ áng văn đã ra đời để ca ngợi cái ý chí kiên cường bất khuất ấy. Nhưng kể từ khi chúng nắm chính quyền thì bọn tay sai của chúng trên mạng đã dẹp cái tinh thần kiên cường,bất khuất ấy đi đâu mất. Giờ hỏi 10 dân mạng về đấu tranh dân chủ thì có 9 kẻ lấy cái lý do cộng sản ác ra để biện minh. Tất cả vứt bỏ không thương tiếc hào khí Đông A, khí phách Trần Quốc Toản,tinh thần “không thành công cũng thành nhân” của Nguyễn Thái Học. Với họ dân dù đông cách mấy cũng không thể chống lại một chính quyền có súng. Đó là lý do một dân tộc phải cam chịu ,phải nô lệ.

– Ngụy biện thứ hai : Nếu chính quyền dùng bạo lực có thể trấn áp được người dân nhằm cầm quyền trọn đời thì cả thế giới này đều bị độc tài cai trị cả ,không có bất kỳ một nước nào có được dân chủ.Đơn giản là kẻ thống trị nào cũng ác, cũng tàn bạo để dân sợ cả. Hãy nhìn khắp từ Tây sang Đông,xuyên suốt lịch sử thắp đuốc tìm xem có bất kỳ một chế độ độc tài nào không ác. Bảo rằng chỉ có cộng sản mới ác là sai lầm. Ác, tàn bạo là thủ pháp để cai trị, để giữ chính quyền. Đa số dân ngụy biện thường chỉ lấy các chính quyền dân chủ ra so sánh với cộng sản để bào chữa cho cái hèn của mình. Chính quyền dân chủ do dân bầu tất nhiên không dám ác.Bởi họ ác sẽ bị dân truất phế bằng lá phiếu đưa đảng đối lập lên thay. Muốn so sánh cộng sản phải so sánh với chính quyền Assad ở Syria, với quân phiệt ở Myanmar, với Hiller….

– Ngụy biện thứ ba : Khi có người chỉ ra cái gốc “Dân nào chính quyền đó” một nguyên lý chung của nhân loại thì lại đổ thừa là kẻ đó không ở trong nước nên tha hồ muốn nói gì thì nói. Dân Hồng Kông, Myanmar có bao giờ bảo đồng bào họ ở nước ngoài “Hãy về đây mà làm đi” hay không? Bởi đơn giản một người ở bên trong ngôi nhà đang cháy phải tự tìm cách thoát ra chứ không thể bảo người bên ngoài vào chết chung. Còn anh bảo nhà chưa cháy không cần chữa thì anh đừng bao giờ đưa các vụ cướp đất,tử hình oan, cảnh sát cơ động bắn chết dân hay chính quyền bán đất ,bán nước cho ngoại bang…lên mạng Đó chính là biểu hiện của căn nhà đang cháy đấy. Và những người ở bên ngoài cũng chỉ cho bạn cách chữa cháy tận gốc mà thôi.

Kết luận : Mọi thảm họa của chế độ độc tài đều do người dân nuôi dưỡng và khuất phục quyền lực mà ra.Vấn đề chế độ độc tài đưa đến thảm họa diệt vong một dân tộc chỉ là vấn đề thời gian khi luật pháp không công bằng, giàu nghèo chênh lệch càng lúc càng xa, khi tham nhũng,cướp đất ,bán nước ,phá rừng hủy hoại môi sinh càng ngày càng trầm trọng. Những tiến bộ bên ngoài của chế độ độc tài về kinh tế chỉ là những phim trường được tô vẽ giả tạo khi GDP không tăng, khi các vùng nông thôn, vùng cao,vùng xa đầy rẫy nghèo đói,thất học. Và chỉ một tầng lớp quyền lực, dựa hơi quyền lực cùng một bè lũ showbiz thi nhau khoe của, khoe từ thiện để đánh bóng bản thân và đánh bóng chế độ.Kỳ thực tất cả mâu thuẫn nội tại trong lòng chế độ độc tài đang âm ỉ tích tụ và chờ ngày nổ tung theo quy luật cùng tất biến.

Nó chưa nổ ra trong thế hệ này vì thế hệ này quá hèn thì cũng nổ ra trong những thế hệ sau. Bởi không lẻ thế hệ nào cũng chỉ biết sống cúi đầu ?

https://www.luatkhoa.org/…/phan-khang-phi-bao-luc…/…

“Phản kháng phi bạo lực” có phải chỉ dành cho những kẻ đại ngu? | Luật Khoa tạp chí

LUATKHOA.ORG

“Phản kháng phi bạo lực” có phải chỉ dành cho những kẻ đại ngu? | Luật Khoa tạp chí

Những Điều Không Bao Giờ Xảy Ra. Bạn ĐỪNG mong!

GÓC SUY GẪM…

Những Điều Không Bao Giờ Xảy Ra. Bạn ĐỪNG mong !!!

  1. Ta đối xử với người không chân thật mà mong người đối xử chân thật với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  2. Ta gian tham tài sản của người mà mong người giao tài sản cho ta cất giữ là điều không bao giờ xảy ra.
  3. Ta sống không đoan chánh, lễ độ với người mà mong người sống lễ độ và đoan chánh với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  4. Ta đối xử với người bằng tâm ý trách móc, hận thù mà mong người đối xử với ta bằng tâm ý thân thiện, gần gũi là điều không bao giờ xảy ra.
  5. Ta không đối xử với người bằng tình thương mà mong người đem tình thương đối xử với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  6. Ta đối xử với người bằng tâm cố chấp mà mong người đối xử với ta bằng tâm ý hỷ xả là điều không bao giờ xảy ra.
  7. Ta đối xử với người bằng tâm ý cao ngạo mà mong người kính trọng ta là điều không bao giờ xảy ra.
  8. Ta đem tâm kỳ thị để đối xử với người mà mong người không đối xử kỳ thị với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  9. Ta sống với tâm tham đắm tài sản và quyền lực mà mong có giấc ngủ yên bình là điều không bao giờ xảy ra.
  10. Ta sống với tâm ý hại người và không đoan chánh mà trong lòng không sinh ra sợ hãi là điều không bao giờ xảy ra.
  11. Ta sống với tâm nhỏ bé mà mong mọi người đều quy phục ta là điều không bao giờ xảy ra.
  12. Ta sống chạy theo hình thức bên ngoài mà tâm ý không vọng động theo đúng, sai là điều không bao giờ xảy ra.
  13. Ta sống không biết lắng nghe và học hỏi mà mong cầu có tiến bộ là điều không bao giờ xảy ra.
  14. Sống chạy theo danh vọng mà không gặp nguy nan là điều không bao giờ xảy ra.
  15. Sống và làm việc với tâm phiền não mà mong có thảnh thơi và tự do là điều không bao giờ xảy ra.
  16. Sống và làm việc theo cá tính mà mong có tri kỷ là điều không bao giờ xảy ra.
  17. Người lãnh đạo sống thiếu độ lượng mà mong có những phụ tá giỏi là điều không bao giờ xảy ra.
  18. Người lãnh đạo thiếu khả năng quyết đoán công việc mà mong thuộc cấp có tài năng không lấn lướt là điều không bao giờ xảy ra.
  19. Muốn mọi người lúc nào và ở đâu cũng đều làm theo ý của mình là điều không bao giờ xảy ra.
  20. Người khác ăn mà mình no, người khác thở mà mình sống là điều không bao giờ xảy ra.

Ta luôn nghiền ngẫm những điều trên đây một cách thường trực và sâu sắc. Tự trí và minh sẽ khởi lên trong tâm ta; từ bi và hỷ xả sẽ khởi lên trong đời sống của ta, giúp ta lấy lại niềm tin và vượt ra khỏi mọi vô minh ảo tưởng và khổ đau ngay ở trong cuộc sống này.

ST.

May be an image of outdoors and text

VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Van Pham

 VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Đỗ Ngà

Thông thường sự sáng suốt và trung thực sẽ đi đôi với nhau, và ở thái cực bên kia thì sự ngu muội và gian trá cũng thường song hành với nhau. Xã hội nào đưa sự sáng suốt và tính trung thực thành tính phổ quát cho toàn dân xã hội đó là văn minh. Còn ngược lại, xã hội nào đưa sự ngu dốt và sự gian trá trở thành tính phổ quát thì đó là xã hội mông muội. Sự văn minh không đo bằng thước đó thu nhập đầu người mà nó đo bằng những giá trị như vừa đề cập. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thường là quốc gia giàu có thì quốc gia đó là văn minh.

Để có sự sáng suốt thì phải có tri thức, ở đây không phải chỉ là tri thức về chuyên môn. Thứ tri thức về chuyên môn nó là giá trị tạo nên của cải vật chất cho xã hội và dùng để kiếm tiền cho bản thân, nó hoàn toàn không xây dựng nên cái văn minh cho bản thân và đóng góp cho cái văn minh của cả xã hội. Văn minh là nói về vấn đề khác, đó là giá trị tích lũy tạo nên nhân cách con người, trong đó sự sáng suốt là một trong những giá trị nền tảng. Để có sự sáng suốt, điều cốt lõi là con người phải biết chấp nhận khác biệt, biết chấp nhận sự khác biệt mới nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau từ đó có niềm tin vào sự đúng đắn. Biết chấp nhận sự khác biệt là tự trong nhân cách đã hình thành tính bao dung, đấy là một giá trị nền tảng để tạo nên một xã hội nhân bản.

Để có sự trung thực thì con người phải biết tôn trọng sự thật. Nếu lỡ sai lầm thì phải dám thừa nhận. Như vậy nếu ai tập cho bản thân biết thừa nhận sai lầm thì tự trong con người đó cũng hình thành nên sự can đảm. Nếu cả xã hội biết tôn trọng sự thật mà có lòng can đảm thì ắt dân khí của quốc gia sẽ mạnh lên. Dân khí Việt Nam trăm năm vẫn chưa mạnh là dân tộc Việt Nam đang còn thiếu những giá trị như thế.

Sự ngu muội là là tin một cách thái quá vào những điều xằng bậy. Để con người tin vào những điều xằng bậy và cố chấp theo đuổi điều xằng bậy đó thì nền tảng là không biết chấp nhận sự khác biệt. Chỉ biết nghe những lời nói mùi tai rồi tự chấp nhận nó là chân lý (đối với bản thân), và với nền tảng không chịu lắng nghe nên con người ấy trượt theo niềm tin mù quáng một cách kiên định. Không biết tôn trọng chủ nghĩa đa nguyên thì con người không biết nhìn vấn đề ở nhiều góc độ, mà không biết nhìn ở nhiều góc độ thì họ không thể tìm ra sự thật. Nếu toàn xã hội mà theo một khuôn mẫu giáo dục như vậy thì xã hội ấy rất dễ bị dắt mũi bởi những trò lừa gạt, mà đặt biệt là lừa gạt có tính hệ thống thì có thể dắt mũi được toàn xã hội.

Nói đến sự lừa gạt thì sự lừa vĩ đại nhất đó chính là chủ nghĩa cộng sản. Nếu có lí trí thì con người sẽ nhìn ra ngay mục tiêu “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” của Karl Marx là chứa mâu thuẫn và từ đó phải biết nó là một ước mơ không tưởng. Tuy nhiên, một mục tiêu mâu thuẫn như thế nó lại nảy nở và trở thành niềm tin mãnh liệt trong những xã hội ngu muội. Đó là nền tảng để bộ máy lừa gạt khổng lồ của ĐCS vận hành trơn tru.

Trong bộ máy nhà nước CS nó chứa 2 thứ quan trọng, đó là bộ phận lừa gạt và bộ phận đe dọa. Bộ phận lừa gạt chính là ban tuyên giáo, bộ Thông tin và truyền thông và nền giáo dục nhồi sọ. Bộ phận đe dọa chính là công an và hệ thống tòa án, chính nó không xem trọng việc thực thi công lý mà xem trọng trách nhiệm bảo vệ đảng, nên thay vì nó bảo vệ dân thì nó lại là hệ thống đe dọa sự an nguy của dân. Có thể nói, nhà nước CS là bộ máy lừa gạt khổng lồ nhất mà nhân loại từng có. Nó chỉ sống được trên nền tảng một xã hội ngu muội để họ dễ dàng dắt mũi toàn dân.

Sự ngu muội của xã hội được ví như là vùng đất tốt, bộ máy lừa gạt của ĐCS được ví như là loại cây đặc thù cho loại đất đó. Với loại đất này, một khi bộ máy lừa gạt của ĐCS sống tốt thì những bộ máy lừa gạt khác cũng mọc lên và sống tốt vậy? Vì chúng cùng sử dụng một loại dinh dưỡng mà? Nếu nói cây lừa gạt CHXHCNVN là cây đại thụ trong vườn thì “Thần y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” cũng cùng loại như vậy nhưng là cây con, vì họ cũng hành nghề lừa gạt mà? Nếu nói “Thần Y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” sống tốt thì bọn buôn thần bán thánh kiểu “du lịch tâm linh” cũng sống tốt vậy? Vì họ cũng sống bằng trò lừa gạt lòng tin người dân chứ có khác gì nhau?! Đấy là thực tế. Như vậy nhổ “Hoàng Yên” này thì ắt sau này cũng có “Hoàng Yên” khác mọc lên, hay dẹp “Chùa Ba Vàng” thì “Chùa Tam Chúc” cũng mọc lên vậy?! Không bao giờ mảnh đất này hết những trò lừa gạt mang tính hệ thống như vậy, bởi đơn giản mảnh đất ngu muội vẫn còn đó. Cây đại thụ CHXHCNVN còn đó thì những cây cỏ dại như “Võ Hoàng Yên”, “Chùa Tam Chúc”, “Chùa Ban Vàng” sẽ mọc lên ăn hôi phần dinh dưỡng thừa của cây đại thụ này.

Như đã nói, sáng suốt và trung thực là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới văn minh; sự ngu muội và gian trá nó cũng là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới mông muội. Ở Việt Nam, với ngu muội là nền tảng thì không bao giờ dẹp được sự gian trá cả. Chuyện lừa đảo dựa trên sự ngu muội nó không bao giờ hết, trừ khi “chế độ lừa gạt vĩ đại CHXHCNVN” không còn./.

-Đỗ Ngà-

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

 

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

Trần Trung Đạo

Bên bờ biển Palawan

Có một em bé gái

Tuổi mới chừng lên sáu lên năm

Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ

Và nói chuyện một mình

Như nói với xa xăm

– Em đến từ Việt Nam

Câu trả lời thường xuyên và duy nhất

Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất

Chỉ hai tiếng này thôi

Em nhớ kỹ trong lòng

Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông

Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?

– Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?

– Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?

– Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?

Em lắc đầu không nói

– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết

Cha mẹ em đã chết đói trên tàu

Chị của em hải tặc bắt đi đâu

Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi

Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em

Ôi những giọt máu Việt Nam

Linh diệu vô cùng

Nuôi sống em

Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt

Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam

Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm

Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

Viên kẹo lớn này để lại cho em

Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi

Một mình lẩm bẩm

Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi

Như thuở chờ Mẹ đi chợ về

– Thật trễ làm sao

Em tiếp tục thì thầm

Những câu nói vẩn vơ

Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc

Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi

Mai này ai hỏi Bé yêu chi

Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn

Nơi tiếng chị rên

Nghe buốt cả thịt da

Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua

Nơi em trai ở lại

Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

Trần Trung Đạo

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

Ít nhất 22 người thiệt mạng trong cuộc đụng độ với lực lượng an ninh ở Hlaing Tharya, trung tâm công nghiệp tại Yangon hôm 14/3.

Lực lượng an ninh đối phó với cuộc biểu tình ở thị trấn Hlaing Tharya, Yangon hôm 14/3. Xung đột dữ dội đã xảy ra giữa cảnh sát, binh lính và người biểu tình ở thị trấn nghèo khó, là trung tâm công nghiệp với nhiều nhà máy may mặc này.

Theo đài truyền hình Myawaddy do quân đội điều hành, lực lượng an ninh nổ súng sau khi 4 nhà máy may mặc và một nhà máy phân bón bốc cháy. Khoảng 2.000 người đã ngăn xe chữa cháy tiếp cận các nhà máy.

“Thật kinh khủng. Mọi người bị bắn ngay trước mắt tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”, một phóng viên ảnh tại hiện trường cho biết.

Xem chú thích nơi từng tấm hình….

*******

+7

VIRUS CORONA sau một năm

Mời các bạn so sánh sự lây nhiễm VIRUS CORONA và số người chết sau MỘT NĂM

ngày 16 tháng 03 năm 2020

16 tháng 03 năm 2021 của thế giới và HOA KỲ

Lúc 4 giờ  chiều ngày 16 tháng 03 năm 2021

 Trên thế giới có: 121, 084,326 nhiễm bịnh Virus corona

                        chết: 2,677, 516 người

Riêng ở USA có: 30,172,933 người nhiễm bịnh

                        Chết:  548,777 người

https://www.worldometers.info/coronavirus/?fbclid=IwAR1jM_jCvde2y6ra5PY1Zs_3hutCzj1EQGizYObaUVcJHMZm5UQQjADei1M

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

Nhân sinh tưởng dài nhưng kỳ thực lại vô cùng ngắn ngủi, thời gian ở trong bất tri bất giác mà lặng lẽ trôi qua. Con người khi đến tuổi trung niên, có lẽ vinh nhục, được mất, thất bại hay thành công cũng đều đã từng nếm trải. Đến tuổi này người ta cần trang bị cho mình một số loại tâm thái làm hành trang bước vào tuổi xế chiều an nhiên, tự tại. 

  1. Trầm tĩnh là một loại cảnh giới

Người đến tuổi trung niên đã trải qua cuộc đời bể dâu, những vấp ngã hay thành tựu đều đã gặp, đối với nhiều sự tình họ đã sớm thấu hiểu. Khi người ta đã thông thấu sự đời thì nội tâm sẽ trở nên trầm tĩnh hơn.

Vì sao nhiều người càng đến tuổi trung niên lại càng thấy thanh tĩnh, thản nhiên xem nhẹ mọi thứ trong cuộc sống? Đó là bởi vì trải qua những năm tháng cuộc đời, người ta bắt đầu hiểu ra rằng đặt nặng được mất, xem nặng danh lợi chỉ khiến tâm linh mệt mỏi.

Để nội tâm trở nên trầm tĩnh thì không phải là việc dễ dàng. Một người hiểu rõ bản chất của sinh mệnh mới có thể trầm tĩnh trong tâm. Thành công khiến con người vui sướng tựa như sự mãnh liệt của hải triều. Nhưng hải triều lên rồi cũng tự nhiên xuống, tâm người nếu vui buồn theo hải triều thì sẽ mệt mỏi vô cùng. Cho nên, trầm tĩnh mới là cảnh giới tinh thần cao nhất trong cuộc đời.

  1. Chấp nhận, lạc quan đối mặt với cuộc sống

Cổ nhân giảng: “Tướng do tâm sinh”. Kỳ thực, tướng ở đây không chỉ là “tướng mạo” mà còn là hoàn cảnh xung quanh của một người. Nếu một người mà có ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến. Trái lại, nếu một người mà luôn vui vẻ và tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh liền lập tức chuyển biến thành tốt.

Đời người, ai cũng đều phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử, những gì đến thì phải đến, không tránh được những điều không may. Hãy biết chấp nhận cả những điều không may, lạc quan đối mặt với hết thảy những bất trắc trong cuộc đời. Hãy dùng tâm thái “thuận theo tự nhiên”, “được mất tùy duyên” để đối đãi, như vậy sẽ sống tuổi trung niên thoải mái hơn, trong lòng sẽ thấy nhẹ nhàng hơn.

  1. Mở rộng tấm lòng

Người có tấm lòng quảng đại mới có thể bao dung được thiên hạ, dung nạp được mọi sự tình vui buồn. Người có thể dùng lòng khoan dung mà lượng thứ cho khuyết điểm của người khác thì không chỉ khiến cho đức hạnh của bản thân mình nâng cao lên mà còn có thể cảm hóa, thiện hóa người khác.

Nhà Phật dạy rằng, con người có nợ thì phải hoàn trả. Trong dòng lịch sử dài này, trong vòng luân hồi chuyển kiếp này, rất có thể vì chúng ta đã từng làm tổn thương người khác cho nên giờ đây người khác mới làm tổn thương lại mình. Cho nên, một người tuổi trung niên có thể biết bao dung, tiếp nhận thì trong tâm sẽ an nhiên tự tại.

  1. Ghi nhớ “tiền tài là vật ngoại thân”

Có câu nói rất hay rằng, “tiền mà bạn tiêu đi mới là tiền của bạn, tiền để trong ngân hàng không phải tiền của bạn”, cho nên điều phải quý trọng nhất là bản thân mình, quý trọng tình thân,  không phải tài vật của cải.

Con người khi được sinh ra đều là trần trụi, vô cùng đơn giản, thứ gì cũng đều không có. Con người khi chết đi, lẻ loi trơ trọi, lặng lẽ vô cùng, thứ gì cũng nắm không được, mang không theo. Cho nên đừng để tâm của mình bị vây khốn bởi tài vật, đừng vì tiền tài danh vọng mà đánh mất đạo đức, lương tâm của bản thân. Một người chiếm giữ càng nhiều thì sẽ càng bị chiếm giữ nhiều. Khi một người sống mà quá coi trọng vật chất, phụ thuộc vào những yếu tố ngoại cảnh thì điều mang đến cho họ chỉ là những tổn thất về mặt tinh thần.

Trái lại, một người theo đuổi sự an bình trong tinh thần sẽ vứt bỏ những phức tạp trong lòng, không bị dính mắc vào những thứ ngoại vật. Người tuổi trung niên sống đơn giản, trong các mối quan hệ họ cũng không quá bị chi phối và như thế họ sống thoải mái, vui vẻ.

  1. Con cháu có phúc phận của con cháu

Từ Miễn là một vị quan thời nhà Lương, suốt đời ông đều có địa vị cao. Nhưng ông nghiêm khắc với bản thân, làm việc công chính mà cẩn thận, tiết kiệm không tham lam, không quan tâm đến tiền tài của cải, gia sản của bản thân. Ông thường đem phần lớn số bổng lộc của mình chia cho người thân, bạn bè và những người dân nghèo khổ. Bởi vậy trong nhà ông không có của cải gì đáng kể cả.

Trong số khách khứa và bạn hữu của ông có nhiều người khuyên ông nên tích góp một chút sản nghiệp để lại cho con cháu. Nhưng ông trả lời rằng: “Người ta để tiền của lại cho con cháu, còn tôi để tiếng thơm lại cho con cháu. Con cháu mà có đức có tài, chúng tự nhiên có thể sáng lập nên gia nghiệp. Còn nếu chúng không có tài đức, thì dẫu tôi có để lại tài sản cũng là vô dụng. Con cháu tự có phúc phận của con cháu”.

Các bậc làm cha làm mẹ thường mong muốn con cái có cuộc sống sung túc, ấm no, vì thể họ luôn muốn lấy những gì tốt đẹp nhất để lại cho con cái. Nhưng kỳ thực bất kể là cấp cho chúng bao nhiêu tiền của đi nữa thì cũng đều là những vật ngoài thân. Các bậc hiền đức xưa đều cho rằng, chỉ có dạy con trọng đức hướng thiện, mới là thực sự lo cho tương lai lâu dài của chúng. Chỉ có như vậy mới có thể giúp chúng thu được lợi ích chân chính, bất kỳ lúc nào cũng có thể bảo trì được đầu não thanh tỉnh sáng suốt, biết phân biệt rõ đúng sai, lựa chọn con đường nhân sinh đúng đắn mà có được tương lai tốt đẹp. Đó cũng chính là lưu lại phúc đức cho con cháu một cách thiết thực nhất.

An Hòa

From: TU-PHUNG