Vì sao nhiều người theo dõi livestream của bà Phương Hằng, chủ Khu du lịch Đại Nam?

Vì sao nhiều người theo dõi livestream của bà Phương Hằng, chủ Khu du lịch Đại Nam?

RFA 2021-05-26

Vì sao nhiều người theo dõi livestream của bà Phương Hằng, chủ Khu du lịch Đại Nam?

Bà Nguyễn Phương Hằng, vợ của ông Huỳnh Uy Dũng hay còn được biết đến là ông Dũng ‘lò vôi’, chủ Khu du lịch Đại Nam. trong một buổi livestream.

 Sreen capture from video

Những ngày qua, các buổi livestream của bà Phương Hằng, CEO Công ty Cổ phần Khu du lịch Đại Nam thu hút hàng trăm ngàn người theo dõi dù nội dung chỉ là ‘tố cáo’ ông thầy lang Võ Hoàng Yên lừa đảo và một số nghệ sĩ Việt Nam có liên quan đến ông này.

Các buổi livestream của bà Hằng thường kéo dài khoảng ba tiếng đồng hồ, trong đó bà lên án, thậm chí chửi rủa nhiều nghệ sĩ trong showbiz Việt bằng lời lẽ bị cho là kém văn minh như: ‘dĩ vãng dơ dáy dễ gì giấu diếm’; ‘công ty trách nhiệm hữu hạn một mình tao’; ‘nó đụng là mình phải chạm, có cảm thì mình phải xúc, nó muốn sụp thì mình phải cho nó đổ luôn’… Khi nghệ sĩ chỉ im lặng không phản ứng lại thì bà Hằng nói: ‘im lặng là vàng, nói ra mới là kim cương’…

Tuy nhiên các buổi livestream của bà Hằng trên cả hai nền tảng Facebook, YouTube thường có đến hàng trăm ngàn người theo dõi. Đơn cử như buổi livestream hôm 25/5 có đến 300 ngàn lượt theo dõi trực tiếp. Trong khi livestream bà có nhắc đến tên các nghệ sĩ như Hoài Linh, Hồng Vân, MC Kỳ Duyên, Đàm Vĩnh Hưng, Vy Oanh…

Vì sao nhiều người theo dõi livestream ‘cãi vã, tố nhau’ của bà chủ Khu du lịch Đại Nam? Trao đổi với RFA hôm 26/5, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, nhà nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ thuộc Đại học Sư phạm TP.HCM, nhận định:

“Hiện tượng này mang tính chất có thể nói là phổ quát, bất chấp. Xã hội với mô hình chính trị như kiểu Việt Nam hay mô hình khác biệt như ở Mỹ chẳng hạn, nó như nhau thôi. Tức là những người thuộc giới có tiếng có tăm, dù là anh làm chính trị hay một nghệ sĩ, khi xảy ra một scandal nào đó, đều thu hút một lượng đông đảo người hiếu kỳ vào theo dõi. Chỉ cần Google thôi cũng thấy những số hiện tượng của các nghệ sĩ, ở Mỹ chẳng hạn, số lượng người thu hút người tham gia vào theo dõi, thậm chí bình luận chắc chắn không kém đâu.”

Do hiệu quả do các phiên tòa mang lại không như người ta mong muốn kỳ vọng nên không tin vào lắm. vào sự công minh của tòa. Nên người ta thấy ‘tự xử’ thì hả hê và hài lòng hơn. Đấy là một cái nghĩa cho thấy nền tư pháp của Việt Nam vẫn còn thấp kém.
-Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương

Bà Nguyễn Phương Hằng gây sự chú ý kể từ đầu tháng 3 năm 2021, khi bà và ông Dũng ‘lò vôi’ (chồng bà Hằng) tố cáo ông Võ Hoàng Yên lừa đảo chiếm đoạt của họ hơn 200 tỷ đồng thông qua hoạt động cứu trợ người dân miền Trung trong đợt lũ lụt năm 2020. Sau đó, bà bắt đầu công kích nghệ sĩ Hoài Linh và một số nghệ sĩ khác khi cho rằng những nghệ sĩ này có mối quan hệ với ông Võ Hoàng Yên mà không chịu lên tiếng tố cáo việc ông Yên lừa bịp chữa trị bệnh.

Nhà báo Võ Văn Tạo khi trả lời RFA từ Nha Trang hôm 26/5, nhận định:

“Thật ra tôi cũng không quan tâm lắm, tôi cho đó là cái gì đâu và không cần thiết đối với xã hội. Qua hiện tượng đó thì có nhiều người cho tôi biết có đến 400 người theo dõi video của bà Hằng, nó lấn át tin tức bầu cử, COVID… Không biết đúng không, nhưng tôi biết rất nhiều người Việt Nam quan tâm cuộc đấu võ mồm giữa bà Phương Hằng với giới nghệ sĩ.”

Theo nhà báo Võ Văn Tạo, hiện tượng này cũng không phải là khó hiểu, không chỉ Việt Nam, ở các nước có nền dân chủ, tự do báo chí thì cũng có báo chính thống và báo lá cải… vì đó là sự quan tâm của xã hội. Ông nói tiếp:

“Nhưng mà ở Việt Nam còn có một cái nữa, đó là các thông tin đặc biệt quan trọng với mọi người, ví dụ như có cần thiết bầu cử như vừa rồi hay không? Vì bầu cử đó là thật hay giả? Nhưng hệ lụy là tốn tiền, rồi ổ dịch ở điểm bỏ phiếu tại Hà Nội… Nhưng nếu truyền thông mà đăng tin đó là phạm húy, là rắc rối với Nhà nước ngay. Ngay công dân nói cái đó mà gay gắt quá, nói thẳng quá cũng bị phiền phức với an ninh, với nhà nước. Chuyện quan trọng thì bị cho là nhạy cảm, cho nên người ta mới chuyển sự quan tâm của họ vào chuyện bà Phương Hằng đôi co với nghệ sĩ.”

vo-hoang-yen-700.jpg

Báo chí nhà nước Việt Nam đăng tải hình ảnh Ông Võ Hoàng Yên trước đây và mô tả là trong một lần chữa bệnh. Photo courtesy: plo.

Theo truyền thông Nhà nước Việt Nam, trong các buổi livestream, bà Phương Hằng có nói lời thô tục, mang tính xúc phạm người khác nhiều lần, không chỉ nói những lời lẽ gay gắt với Nghệ sĩ Hoài Linh, Trịnh Kim Chi, Gia Bảo, Cát Phượng…, bà Phương Hằng còn tuyên bố kiện Nghệ sĩ Hồng Vân và đạo diễn Hoa Hạ và mới nhất là bà Hằng còn dùng những lời lẽ không hay nói về ca sĩ Vy Oanh.

Nhà xã hội học-Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, hiện công tác tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, khi nói với RFA hôm 26/5 từ Hà Nội, giải thích về hiện tượng này:

“Tôi thấy nó là một cái kiểu mà chúng ta thường nói là ‘tự xử’ khi có xung đột, xích mích gì trong xã hội. Nhưng một nhà nước có pháp luật thì có thể đưa ra tòa để xử, làm sao mọi người cứ tự xử như thế được. Điều này cho thấy người dân không có thói quen thưa ra tòa. Một phần nữa là do hiệu quả do các phiên tòa mang lại không như người ta mong muốn kỳ vọng nên không tin vào lắm. vào sự công minh của tòa. Nên người ta thấy ‘tự xử’ thì hả hê và hài lòng hơn. Đấy là một cái nghĩa cho thấy nền tư pháp của Việt Nam vẫn còn thấp kém.”

Mặt khác theo Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, thói quen của người Việt Nam là cứ không hài lòng là ra chửi thôi, như ngoài bắc hay gọi là ‘chửi mất gà’… Theo bà Hương, đó là ứng xử không văn hóa, ứng xử với nhau quá tồi tệ. Bà nói tiếp:

“Ngày xưa chửi thì chỉ có vài nhà nghe, bây giờ với công nghệ hiện đại thì có đến hàng bao nhiêu người nghe, khắp hang cùng ngõ hẻm, chỗ nào người ta cũng có thể lên mạng coi. Nó không có gì đẹp đẽ mà cứ phơi bầy ra, mà bao nhiêu người hưởng ứng. Điều đấy có nghĩa là xã hội người ta hài lòng với ứng xử như thế, người ta không cho nó là xấu, là cái gì phản cảm, mà cho thế là hay, người ta thấy hả hê… Nhiều người cho đó là đạo đức, nhưng tôi nghĩ thế là hơi cao, đó chỉ là văn hóa… Người ta cứ xông vào chửi mà không nghĩ đó là đang xúc phạm người khác, không biết đó là điều không hay.”

Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương cho rằng, xông vào chửi sẽ chẳng giải quyết được gì cả mà chỉ đem lại sự bực tức không cần thiết. Theo Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, đây là điều đáng buồn cho xã hội Việt Nam hiện nay.

Nên nhớ cho, ta có thể không đồng ý điều họ nói, nhưng phải bảo vệ quyền được nói đến cùng của họ. Chỉ những người lâm vào cảnh một đối chọi một trăm, một ngàn (hoặc đông đảo hơn thế), mà chúng lại không chỉ giàu có mà còn có thế lực, có ủng hộ của truyền thông lẫn lượng người hâm mộ (hậu thuẫn), mới hiểu được bà Hằng đang làm gì và tại sao bà ấy nói như thế. Quan trọng là hành động của bà ta có đúng không chứ không phải mấy lời nói hoa mỹ.
-Luật sư Lê Luân

Tuy nhiên, Luật sư Lê Luân, khi trả lời RFA hôm 26/5 cho rằng, trong xã hội hổ lốn này, một người (doanh nhân) dám đương đầu với cả một giới được tự cho là “vùng cấm” (ảnh hưởng tới dư luận và cả quyền lực), như bà Hằng đang làm, thật rất hạn hữu. Ông cho biết tiếp:

“Đừng coi đó là vấn đề dân trí, đó là một sự kiện thực tế hiếm có. Hãy xem đó là điều cần thiết mà dừng lại việc đánh giá dân trí (thấp) đối với sự quan tâm của quần chúng.

Sự kiện có tính xã hội cao, và nó tạo nên một hiệu ứng về cách nhìn lại với các giá trị của giới có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là một điều may mắn. Đừng nhìn nó hạn hẹp trong phạm vi một sự kiện đơn thuần.”

Luật sư Lê Luân cho rằng, chỉ có những người mất đất, mất nhà hoặc bị lừa nhưng kiện tụng hàng chục năm không tìm thấy công lý mới hiểu vì sao bà Hằng làm như thế và trở nên những ngôn từ (thiếu chừng mực một lúc nào đó) như thế. Ông nói tiếp:

“Nên nhớ cho, ta có thể không đồng ý điều họ nói, nhưng phải bảo vệ quyền được nói đến cùng của họ. Chỉ những người lâm vào cảnh một đối chọi một trăm, một ngàn (hoặc đông đảo hơn thế), mà chúng lại không chỉ giàu có mà còn có thế lực, có ủng hộ của truyền thông lẫn lượng người hâm mộ (hậu thuẫn), mới hiểu được bà Hằng đang làm gì và tại sao bà ấy nói như thế. Quan trọng là hành động của bà ta có đúng không chứ không phải mấy lời nói hoa mỹ.

Một người đang đứng ra đương đầu và tố cáo sự lừa dối có hệ thống kéo dài cả chục năm, cả “thần y” và đụng chạm tới giới kiêu căng ngạo mạn nhất xã hội, thì đương nhiên không phải ai cũng làm được việc đó. Và cũng đừng giở giọng văn hoá gì vào lúc này, khi đứng trước một cuộc chiến gần như không còn đường lui. Đừng đạo đức giả để chỉ dựa trên lời nói của bà ta.”

Theo Luật sư Lê Luân, không cần hoa mỹ, như bà Trưng, bà Triệu hay nữ tướng Lê Chân, cứ thế cưỡi voi hay cầm kiếm xông ra trận mạc. Đấy mới là khí chất cần có, đặc biệt vào bối cảnh xã hội mà đám có thế lực luôn bảnh bao lại đóng vai toàn những kẻ lưu manh, xảo trá.

Bà Nguyễn Phương Hằng, 50 tuổi, tên thật là Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ của ông Huỳnh Uy Dũng hay còn được biết đến là ông Dũng ‘lò vôi’, chủ Khu du lịch Đại Nam. Ngoài ra, vợ chồng bà còn sở hữu Khu công nghiệp Sóng Thần 2, Khu dân cư Dĩ An, Khu công nghiệp và dân cư Sóng Thần 3 ở tỉnh Bình Dương và Khu dân cư Bình Phước.

MONG MANH …ĐỢI CHỜ!!!- TRUYỆN NGẮN…

Mời đọc xem bạn có rơi nước mắt không nhé?

Van Pham

TRUYỆN NGẮN…

Một câu chuyện hay và cảm động, nhưng không thấy tên truyện và tác gỉa… Các bạn giúp đặt tên nhé, cái tên này tôi đặt tạm thôi…*

***

MONG MANH …ĐỢI CHỜ!!!

Anh ôm chặt lấy cô vào lòng, hôn lên tóc cô và thì thầm nói:

– Nép vào ngực anh,

cô lặng lẽ gật đầu, bao nhiêu điều muốn nói nhưng không thể nói ra. Nước mắt cô lăn dài trên má. Vậy là chỉ cần trời sáng, chỉ cần đồng hồ cất lên 9 tiếng chuông lạnh lùng, anh sẽ xa cô và chẳng để lại cho cô điều gì ngoài một chữ ‘đợi’.

Anh, con nhà giàu, đẹp trai, sự nghiệp sáng lạng được biết bao người ngưỡng mộ. Cô, chỉ là một đứa trẻ mồ côi, tứ cố vô thân không nơi nương tựa, tương lai của cô chỉ có thể dựa vào tấm bằng đại học còn chưa lấy được.

Chuyện tình của họ cũng như bao chuyện tình không môn đăng hộ đối khác. Gia đình anh, bạn bè anh phản đối và nhìn cô với ánh mắt khinh thường. Khinh thường một con nhỏ trèo cao không biết thân phận. Nhưng tình yêu có bao giờ chịu thua số phận, anh bất chấp tất cả để ở bên cô, sống với cô. Cô đã từng hạnh phúc, đã từng mơ và rồi giấc mơ ấy cũng tan vỡ. Bố mẹ anh dùng đủ mọi cách bắt anh ra nước ngoài, thậm chí là dùng cả sức khỏe và mạng sống của họ.

Anh đầu hàng số phận và ra đi. Cô không trách, cũng không thể trách điều gì cả, nếu giữa tình yêu và bố mẹ thứ anh chỉ có thể mất là tình yêu.

Nhìn bóng lưng anh đi xa dần, cô khuỵu xuống đất, nấc lên không thành tiếng. Chỗ dựa duy nhất của cô, người thân yêu duy nhất của cô đã đi. Giờ đây cô lại chỉ có một mình.

***

4 năm, đối với một số người trôi qua thật nhanh, nhưng đối với anh đó là quãng thời gian dài dường như vô tận. Bốn năm, giờ đây anh đã có được tất cả những gì mà một con người thành đạt cần có. Nhưng tình yêu của anh thì đã mất và có thể mãi mãi không thể tìm lại được.

Khi anh đi cô đã hứa sẽ đợi anh, vậy mà tất cả những gì cô có thể làm là bặt vô âm tín rồi chỉ sau 2 năm anh nghe tin cô lấy chồng. Một người chồng giàu có, lớn tuổi và có thể cho cô tất cả những gì cô muốn. Anh đã không muốn tin nhưng không thể liên lạc với cô để hỏi rõ mọi chuyện. Anh đau khổ, dằn vặt, chờ đợi, cho tới một ngày một tấm thiệp cưới được gởi tới từ gia đình cho anh và tên cô nghiễm nhiên nằm trên đó. Anh đã tin và bắt đầu chấp nhận. Giờ đây khi quay trở lại, mong ước duy nhất của anh là tìm cô để nhìn thấy cô thật sự hạnh phúc…. Và đó cũng là lần cuối anh muốn gặp cô.

Khi những chiếc lá đã bắt đầu ngả màu vàng, khi mà thời tiết đã bắt đầu trở lạnh, cô vội vã khoác lên mình chiếc áo ấm dày, với tay kéo chiếc mũ sụp xuống che đi gương mặt mình. Cô nhanh tay vơ lấy những tờ tiền vương vãi trên tấm trải giường nhàu nhĩ và bước vội ra khỏi khách sạn.

Cô cứ cúi mặt đi, đi rất nhanh như để lẩn trốn ánh mắt dè bỉu của mọi người. Cũng có thể chẳng ai nhìn cô đâu, nhưng một khi đã sai trái thì cảm giác bị người khác khinh rẻ luôn bám theo mình. Vô tình, lúc cô bước đi, một người nhìn thấy cô và sửng sờ làm rơi chiếc cốc rượu.

Anh đứng phắt dậy, đẩy bàn và chạy theo bóng dáng người phụ nữ kia. Có thể cách ăn mặc, trang điểm lòe loẹt và chiếc mũ che đi gần hết khuôn mặt nhưng với anh, hình ảnh của cô đã in đậm trong ký ức nên không thể nào anh không nhận ra cô. Chạy như điên cuồng về phía trước, anh thấy cô đứng lặng lẽ bên cột đèn đường, ánh đèn hắt lên người cô một cách mờ ảo. Anh định chạy tới níu lấy tay cô nhưng rồi một chiếc xe sang trọng trờ tới, cô bước lên xe một cách lạnh lùng và khi chạy lướt qua anh, anh thấy người đàn ông trên xe bắt đầu nhào tới kéo áo cô như một con thú, điên cuồng. Chết lặng…. đây đâu phải là viễn cảnh anh từng nghĩ tới.

Người chồng của cô kia ư? hạnh phúc của cô là thế ư? vậy cô đến khách sạn để làm gì? Bao nhiêu câu hỏi dằn vặt anh, bao nhiêu nghi ngờ dồn nén trong anh bộc phát khiến anh không sao trả lời cho chính mình được.

Cầm trên tay những tờ tiền xanh nhạt cô nhẹ nhàng vuốt thẳng nó một cách cẩn thận và yêu chiều. Với một số người đây là đồng tiền bẩn thỉu nhưng với cô đây là tất cả những hi vọng cô có thể gom lại để mua lấy một hạnh phúc mong manh.

Cầm xấp giấy được thám tử đưa cho mình, nhìn gương mặt cô hiện rõ trên tờ giấy phẳng phiu đó…. Anh bỗng thấy lợm người, tờ giấy trắng trong tay, khuôn mặt tươi cười của cô khiến anh cảm thấy thật buồn nôn. Thì ra đây chính là con đường cô đã chọn, nhơ nhớp và đáng khinh làm sao.

Cô vẫn đứng lặng lẽ trên vỉa hè để chờ người khách tối nay. Chiếc váy đỏ nhẹ nhàng ôm lấy cô làm cô thật nổi bật, vẻ nổi bật đó được đổi lại nhờ ánh mắt soi mói của người đi đường. Khẽ nhếch môi, chính cô còn khinh mình nữa là…. Nụ cười của cô chợt tắt ngấm khi nhìn người đang đứng trước mặt mình.

Anh nhìn cô bằng ánh mắt lạnh lẽo tăm tối nhất. Trong trí nhớ của cô anh luôn nhìn cô ấm áp và dường như hiểu ra mọi chuyện cô bất ngờ cười lớn, cười thật to nhưng đuôi mắt đã ươn ướt từ lúc nào.

Nắm tay cô kéo lên xe, anh lái như điên tới một nơi vắng vẻ… Sau giây phút yên lặng để anh và cô nhìn nhau, tìm ở nhau những điểm gì thay đổi sau từng ấy năm xa cách và thoáng giật mình khi cả hai cùng nhận ra rằng anh vẫn vậy nhưng cô đã thay đổi gần như hoàn toàn:

– “Anh nghe nói em đã lấy chồng, vậy chồng em đâu?” anh lạnh lùng nhìn cô rồi cất giọng.

– “Em thì nghe nói anh đã lấy vợ, vậy vợ anh đâu mà để anh đi tìm ‘gái’ thế này?” Cô nheo mắt hỏi ngược lại anh. Anh sửng sờ nhìn cô. Trò đùa gì thế này?

Nhíu mày nhìn cô, anh không thể thốt lên một lời nào cả. Thì ra có những việc, mọi người sắp đặt thật là khéo, thật là hay…. Dù đó là hiểu lầm nhưng nhìn cô lúc này anh cũng không thể nào nguôi hận. Cứ cho là vì anh, cô cũng không nên biến mình thành loại người như hôm nay.

– “Anh nhìn đủ chưa? Đủ rồi thì đưa em về lại chỗ cũ ngay đi….” Cô gắt lên. Đưa tay mở cửa xe.

– “Tại sao?” mắt vẫn không nhìn cô, bàn tay siết chặt lấy vô lăng anh hỏi cô một cách nặng nề, mệt mỏi.

– “Em cần tiền….”

– Tiền, tất cả chỉ vì đồng tiền thôi sao? Anh tức giận đưa tay lôi cô vào xe và nhấn ga lao đi.

Thoáng bàng hoàng nhìn anh, nhưng rồi cô nhanh chóng lấy lại vẻ mặt bất cần của mình. Có gì đâu, khi bây giờ đã không còn đáng được yêu thương và tôn trọng.

Chiếc xe lao nhanh đến một khách sạn gần đó, anh lôi cô vào trong, nhận chìa khóa rồi lại kéo tay cô lôi lên phòng. Đẩy mạnh cô xuống giường, anh đưa tay đè cô xuống và hôn tới tấp vào môi cô. Nụ hôn mạnh bạo chứa đầy tức giận, đau khổ, không còn là những cữ chỉ âu yếm ngọt ngào như trước đây. Khi chiếc váy trượt xuống khỏi cơ thể, những vết bầm tím trên vai, ngực cô hiện lên rõ ràng dưới ánh đèn, anh ngừng lại. Cô bây giờ không còn là cô gái trong sáng chỉ thuộc về anh, cô bây giờ đã nhàu nhĩ cũ nát và héo úa đến mức đáng giận. Đẩy cô ra, anh đứng dậy nhặt chiếc áo sơ mi mặc vội vào người.

Trước khi quay đi, anh vung tay ném lên giường cho cô những tờ năm trăm ngàn mới tinh rồi bước vội ra khỏi phòng.

” Em cần tiền…. Chỉ cần tiền mà thôi….” Cô cười lên như điên dại, nhặt những đồng tiền anh vứt ra như nâng niu một thứ gì đó đáng quý nhưng rất tiếc là đã vỡ nát mất rồi.

Những ngày sau đó anh lao vào công việc. Những ngày sau đó cô lại lao vào kiếm tiền. Chỉ khi đêm về anh lặng lẽ ôm vào lòng khuôn mặt cô cách đây bốn năm, một khuôn mặt xinh đẹp, trong sạch.

Chỉ khi đêm về, cô lại lê những bước chân nặng nề trên nền gạch bệnh viện, lặng lẽ ôm vào lòng hạnh phúc nhỏ nhoi của riêng cô bằng tấm thân nhơ nhuốc của mình. Và họ không gặp nhau, dù là vô tình hay cố ý.

***

Anh lái xe chậm rãi trên những con đường trước đây anh và cô cùng đi qua. Những kỷ niệm đẹp bỗng trở về nhưng không còn mang lại hơi ấm hạnh phúc, ngọt ngào mà dường như chỉ gợi lại những chua chát, đau thương. Thẩn thờ nhìn về phía bên kia đường, một cảnh tượng đập vào mắt khiến anh khó chịu. Một người đàn bà to béo đang ra sức đánh chửi tới tấp vào mặt một cô gái trẻ. Một tay bà nắm tóc cô, tay kia ra sức kéo tay cô ra và tát mạnh vào mặt cô. Đúng. Cô gái đó chính là cô ấy, là người một thời anh yêu thương, ôm ấp. Những câu chửi rủa từ người đàn bà đó và từ những người xung quanh đập vào tai anh, nhức nhối.

– “Con điếm, mày chết đi…. Dám bu bám theo chồng bà à…. Mày đúng là thứ cặn bã mà.”

– “Cái thứ này không đáng để cứu…” “Cặn bã…”

– “Sao chúng nó còn chường mặt ra ngoài xã hội nhỉ…”

– “Chỉ biết đổ lỗi cho hoàn cảnh…

Anh bật cười, cái giá cho đồng tiền em kiếm được chỉ như vậy thôi đấy. Em thấy không, đến anh còn thấy khinh em nữa là người khác. Cúi đầu bật chìa khóa, anh không còn muốn can thiệp vào cuộc đời cô nữa rồi. Bất chợt, một tiếng thét chói tai vang lên, tiếng rít của bánh xe nghiến trên đường kéo sự chú ý của anh trở lại nơi cô đang đứng…

Thì ra cô lấy sức đẩy người đàn bà đó ra, nhưng lại bất ngờ bị bà ta đẩy ngược lại một cái thật mạnh. Cô bị đẩy ra đường, một chiếc ô tô bất ngờ lao tới không thể tránh kịp đã tông vào cô. Cô nằm đó, máu không ngừng chảy, ướt đẫm mặt đường.

Đẩy cửa xe thật mạnh anh chạy tới chỗ cô, đưa đôi tay run rẩy nâng cô dậy. Anh nhìn cô đau đớn, nỗi đau đè nặng lồng ngực khiến việc gọi tên cô cũng thật khó khăn.

Cô nhìn anh, ánh mắt mờ đục, đưa tay quờ quạng như muốn tìm một thứ gì đó:

– “Giúp em…. ………. Túi……. Xách ……” cô thều thào nhìn anh van nài.

Nhặt chiếc túi xách đưa cho cô, cô run rẩy mở túi xách, nhưng sức cô yếu quá rồi, đến chiếc khóa kéo cũng không thể mở được. Gỡ tay cô ra, anh cúi đầu mở túi, bên trong không có gì cả, ngoài một cuốn sổ cũ kĩ và ố vàng, một tấm ảnh chụp một đứa bé trai ngộ nghĩnh đang cười toe toét. Ấn cuốn sổ vào tay anh, cô ôm lấy tấm ảnh rồi khẽ mỉm cười.

– “Giúp ……………. Em …………..cứu đứa trẻ này….. được không?”

Không kịp nghe câu trả lời từ anh, mắt cô dần khép lại, đôi tay vẫn ôm chặt tấm ảnh vào lòng, môi mỉm cười. Nụ cười cuối cùng của một cuộc đời đầy nước mắt. Trời bắt đầu mưa nặng hạt và cô đã ra đi mãi mãi…

***

Nhiều khi anh cũng tự cảm thấy bản thân mình là một người lạnh lùng, vô cảm. Kể cả lúc nhìn thấy cô nằm trên vũng máu đỏ, đến lúc nhìn chiếc xe cứu thương chở xác cô đi tuyệt nhiên anh không rơi một giọt nước mắt. Ngồi lặng lẽ trong căn phòng quen thuộc của mình, chiếc áo sơ mi trắng anh mặc trên người vẫn loang lỗ những vệt máu của cô.

Đưa tay giở từng trang giấy, nét chữ nghiêng nghiêng quen thuộc, từng dòng, từng dòng, những tâm sự của cô chất chứa trong bốn năm hiện lên trước mắt anh.

Ngày…Tháng … Năm…

Hôm nay anh đi, em về lại căn nhà của chúng ta mà sao thấy trống vắng quá. Thật sự em không muốn như vậy chút nào, nhưng em vẫn sẽ đợi. Em hứa chắc đấy!

Ngày… Tháng… Năm…

Lâu lắm rồi không nghe được tin tức gì từ anh vậy mà lúc nghe được lại là tin anh lấy vợ. Em thật sự hoang mang lắm, không biết có nên tin hay hông đây? Nhưng anh yên tâm, em đã hứa sẽ đợi thì nhất định em sẽ đợi….

Ngày…. Tháng…. Năm….

Hôm nay em thấy khó chịu trong người quá, đã mấy ngày nay không thể ăn được gì cả. Em nhớ anh, nếu anh ở đây anh sẽ chạy ngược chạy xuôi mua thuốc và thức ăn cho em. Hạnh phúc chỉ như vậy thôi nhưng sao lại ngắn ngủi vậy hả anh?

Ngày…. Tháng…. Năm….

Em có thai rồi, đáng lẽ ra phải vui nhưng sao không thể cười nỗi, nước mắt cứ không ngừng tuôn ra. Có con, nhưng em như vậy làm sao nuôi được con đây, làm sao báo cho anh biết đây…. Em bổng tủi thân, tủi thay cho cả con của mình….

Ngày…. Tháng…. Năm….

Bụng em ngày càng lớn, em phải nghỉ học thôi, ước mơ của em chắc chỉ có thể được đến như vậy. Nhưng cũng thật may, có người nhận em vào làm tạp vụ tại một quán ăn, lại thêm một việc nữa để em có thể kiếm tiền mua cho con một chút đồ gì đó khi con ra đời.

Anh à, bao giờ anh sẽ trở về hả anh?

Ngày…. Tháng…. Năm….

Hôm nay tự nhiên lại ngã, nhìn máu chảy ra không ngừng em sợ lắm, em không muốn mất con đâu…. Đi khám thì tất cả vẫn ổn, không sao cả, em mừng đến phát khóc anh ạ. Tối nay lại đau không chịu được, em vỗ nhẹ và thì thầm với con ‘thương mẹ thì đừng làm mẹ đau nữa nhé, làm xong việc này mẹ sẽ về cho con nghỉ ngơi mà’. Đúng là con của anh, ngoan lắm, em hết đau ngay lập tức. Có thể với em bây giờ là hạnh phúc.

Ngày…. Tháng…. Năm….

Con ra đời rồi anh ạ, trông đáng yêu lắm. Nhìn con ngủ ngoan trong tay mình em lại thấy mắt cay cay, ước gì anh ở đây để bế con. Dù chỉ một lần thôi….

Ngày…. Tháng…. Năm….

Sinh nhật con tròn hai tuổi, nhưng ông trời lại tặng con mình món quà độc ác quá anh ạ. Nó đã không có bố, không được sống đầy đủ vậy mà giờ đây lại mắc bệnh ung thư máu. Phải làm sao hả anh? Em nhìn con mê man trong cơn sốt, nhìn những vết bầm tím trên người con mà không thể cầm lòng. Đến giờ phút này em không thể mạnh mẽ được nữa rồi….

Ngày…. Tháng…. Năm….

Xin lỗi anh, em không còn cách nào khác. Tiền điều trị cho con cao quá, em không thể cầm cự được nữa rồi. Công việc hàng ngày của em không đủ đề chi cho những ngày con nằm viện. Em không muốn mất con, em muốn con được ăn ngon, được uống thuốc, em đành phải đánh mất chính mình thôi. Lần đầu làm thật không dễ, nhưng rồi sẽ quen thôi. Em quyết định sẽ không đợi anh nữa vì con cần em hơn. Xin lỗi!!!!

Ngày…. Tháng…. Năm….

Cuối cùng anh cũng trở về, thật buồn cười khi giờ đây anh nhìn em như vậy. Thấy em khác quá nhiều so với tưởng tượng của anh đúng không? Anh nhìn em bằng ánh mắt gê tởm, đúng là con người em đã rách nát thật rồi. Anh vung tiền cho em để xem sĩ diện của em có còn hay không hả? Xin lỗi anh, em không cần sĩ diện nữa rồi, em cần tiền. Tự nhiên em lại thấy vui, tối nay con lại được tiêm thuốc, ăn ngon và là lần đầu tiên con có quà sinh nhật từ bố. Chắc con cũng sẽ vui như em….

Ngày…. Tháng…. Năm….

Tủy của em không tương thích với con, nhưng em nghĩ anh sẽ thích hợp. Sáng mai em sẽ tìm anh, em sẽ cho con gặp anh…. Chờ em nhé….

Một giọt nước mắt nhỏ lên những trang giấy đã nhòe nhoẹt nước mắt của cô. Ôm cuốn nhật kí vào lòng anh khẽ khóc lên không thành tiếng.

***

Anh nhẹ nhàng khép cửa, đứa bé ngước đầu nhìn anh mỉm cười, mặc cho người y tá lấy đi một xi lanh đầy máu, nó vẫn không khóc lấy một tiếng, chỉ khẽ nhíu mày. Khuôn mặt đứa trẻ nhìn kháu khỉnh, thông minh và giống anh như đúc. Đưa tay xoa đầu con anh cúi xuống hỏi nhỏ:

– “Con có đau không?”

– “Đau…. Nhưng con không khóc đâu, mẹ đã dặn là con trai thì không được khóc.”

Đưa bàn tay nhỏ gầy guộc đầy dây nhợ nắm chặt lấy vạt áo của anh, đứa bé yếu ớt reo lên:

– “Bố về rồi, từ giờ con không phải nhìn bố trong ảnh nữa rồi phải không?”

– “Ừm, bố đã về.” *Anh nhìn con âu yếm.

– “Mẹ đâu rồi ạ?” Đứa trẻ lại thều thào hỏi.

Ôm con vào lòng, anh vỗ nhẹ vào lưng con:

– “Mẹ mệt rồi, mẹ phải nghỉ ngơi con ạ. Từ giờ bố thay mẹ chăm sóc con nhé?”

Thằng bé ngọ nguậy gật đâu, những giọt nước mắt nóng hổi của bố lăn dài và ướt đẫm áo nó.

Anh ra đi để lại cho em chữ ‘đợi’ bây giờ em bỏ đi cũng chỉ để lại cho anh một chữ ‘đau’…

From: Van Pham

Món Khế Chua

 Tạp Ghi Huy Phương

Món Khế Chua

Những người xa quê hương như chúng ta, mỗi lần nghe một tiếng đàn bầu nỉ non, một giọng hò khoan nhặt hay một câu vọng cổ thiết tha, không khỏi bùi ngùi, có khi rơi lệ thổn thức nhớ đến quê hương.

Người lớn lên sống suốt đời với quê hương, ít khi nhìn thấy quê hương đẹp đẽ, chỉ những người đi xa trở lại như câu chuyện “chốn quê hương đẹp hơn cả” trong sách giáo khoa thư với câu nói quen thuộc “tôi đã đi du lịch ở nhiều nơi, nhưng không nơi nào đẹp bằng quê hương!” mới thấy quý thương quê hương.

Chúng ta, những người đã bỏ quê hương ra đi trong nhiều năm, có người thề không bao giờ trở lại quê hương khi ở đó còn chế độ Cộng Sản còn chế ngự lên đầu lên cổ nhân dân, thì lại thương nhớ quê hương biết chừng nào, vì đây không phải là “xa quê hương” mà là “mất quê hương”.

Đối với những người đang bước tới tuổi xế chiều, thì tiếng gọi quê hương còn thúc giục mãnh liệt hơn nữa, nung nấu tấm lòng, trăn trở qua những đêm không ngủ, khi gặp phải những cảnh trái ngang không vừa lòng, khó hoà nhập ví cuộc sống mới, bất mãn vì những việc riêng tư, buồn việc gia đình, hay vì cách đối xử của con cái.

Chúng ta thử tưởng tượng hình ảnh một chiều mùa đông giá buốt ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, một người già ngồi trong cửa sổ nhìn tuyết rơi mà lòng nhớ đến quê hương xót xa biết chừng nào. Mà không phải chỉ nơi đó, ngày nay ở Nga Xô, Trung Quốc, Úc Đại Lợi, Âu Châu và cả những miền nắng cháy Phi Châu, đâu cũng có người Việt xa xứ thương nhớ quê hương.

Ngày xưa thuở thanh bình, một người ở ngay trên quê hương của mình, trưa nghe “một tiếng gà trưa gáy não nùng” đã thấy buồn, gợi nhớ đến dĩ vãng. Bạch Cư Dị mới bị đày đi Giang Châu cùng trong một nước Trung Quốc, một đêm nghe tiếng đàn tỳ trên sông, nghe lời tâm sự của một nàng ca kỷ lưu lạc mà đã

“lệ ai chan chứa hơn người,

Giang Châu Tư Mã đượm màu áo xanh”.

Huống gì ta, nơi chân trời góc bể, xa quê hương nghìn dặm đường mà với những khoảng cách không bao giờ làm ngắn lại được, sẽ đau lòng biết bao nhiêu? Người về lại với quê hương thì cũng chừng ấy người với những lượt đi về thường trực tiếp nối, người không muốn về với quê hương thì chưa về. Người sống xa quê hương như cây trồng trong chậu, có lẽ dù tưới bón tới đâu thì gốc rễ vẫn không nằm sâu trong đất.

Chúng ta có bao nhiêu điều xót xa vì tình cảnh ly hương như thế mà phải cam chịu, nhưng lòng ta không bao giờ là không nghĩ, nhớ đến quê hương. Như vậy quê hương phải chăng là tiếng gọi sâu kín nhất trong lòng mỗi người, để những lúc yếu lòng vì ngoại cảnh, một đám mây “hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”, hay một làn khói trên sông “trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” mà nhớ nhà, nhớ nước.

Quê hương và quá khứ đã gắn liền với nhau, vì chúng ta đã có đoạn thời gian quá dài gắn bó với quê hương, dù nghèo đói, chiến tranh. Bỏ quê hương bao giờ cũng là điều bất đắc dĩ. Phải chăng quê hương là chỗ yếu lòng người ly hương, chỗ “gót d’ Achille” của mỗi một chúng ta nên chế độ ở trong nước luôn luôn tìm cách đánh vào chỗ yếu ấy, chỗ tình cảm sâu khuất nhất trong lòng mỗi người.

Lâu nay chúng ta thấy bao nhiêu lời mời gọi từ trong nước, quanh quẩn trong hai chữ “quê hương”. Nhẹ nhàng thì phong cảnh quê hương, ca nhạc dân tộc, thực tế và đôi khi thô thiển hơn thì Saigon ăn chơi, Vũng Tàu du hí, Hà Nội hoa hậu, tinh tế mời gọi hơn thì “duyên dáng Việt Nam”, “Festival Huế”. Ai lại không muốn về với quê hương, nghe giọng thổ âm thân quen, ăn món ngon quê hương quen miệng từ ngày thơ ấu, đi lại trên con đường làng quen thuộc sau suốt một cuộc đi dài, nhất là khi mái tóc đã hoa râm, tấm thân đã mệt mỏi. Có bao nhiêu người đã trở về, mỗi năm một đôi lần, khi chúng ta đã muốn đi thì có biết bao động lực và lý do: – xây lại nấm mồ cha mẹ, làm lại ngôi nhà thờ, làm lễ mãn tang, chúc thọ người thân v.v……

Việt Nam hiện nay rẻ của, rẻ người, đồng đô la có thể làm biến dạng một ông già thành người trai trẻ, một người sống trong lãng quên thành một hoàng tử giữa một cung đình.

Người ta nói rằng “Duyên Dáng Việt Nam” là một chương trình nghệ thuật hoàn toàn không mang một sự tuyên truyền chính trị nào, nó không có cờ đỏ, không có hình ảnh lãnh tụ hay khẩu hiệu tuyên truyền. Nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng nó đã được nhà nước công phu tuyển chọn những giai nhân tuyệt sắc, những y phục đẹp nhất, những kỹ thuật mới mẻ nhất, công phu dàn dựng và một ngân khoản lớn không tiếc tiền trong khi dân tình còn đói khổ, chế độ còn bất công và áp bức còn đầy rẫy. Họ đến đây hẳn không vì lý do thương mãi hay để mua vui cho “núm ruột thân thương nghìn dặm”? Quả là viên thuốc “quê hương” bọc đường ngọt ngào như những dòng thơ của Nguyễn Trung Quân.

Trên thế giới này có hằng trăm triệu con người có tự do để chọn một nơi khác làm quê hương của mình. Sau ngày 20 tháng 7-1954, một triệu người miền Bắc đã đến miền Nam “xin nhận nơi này làm quê hương”.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, gần ba triệu người Việt đi tìm một quê hương khác trên khắp quả địa cầu. Dù ai cũng biết “quê hương là chùm khế ngọt”, biết rằng “quê hương mỗi người chỉ một” người ta vẫn đi tìm một quê hương khác để khỏi nếm phải chất chua của chế độ. Bây giờ hầu hết xem quê nhà như một nơi du lịch, đến và ra đi như một người khách lạ.

Ở những quê hương thứ hai này, con người rõ ràng đã “lớn nổi thành người”, thứ con người tử tế, có nhân cách, không biết xảo trá hay chiều chuộng ai. Quả đất tròn, nên đi hết biển có thể trở lại nơi khởi hành, tuy vậy con cá hồi, con chim én còn chọn mùa, chọn vùng biển, vùng trời, huống gì con người.

Tuy vậy rồi tất cả, đều trở lại nơi không phải là quê hương của mình mà cảm thấy bình yên như chính ở quê hương. Nghe mà xót xa thay khi bà con chúng ta đi Việt Nam lúc trở về nơi “ăn nhờ ở đậu” lại có cảm tưởng như được “trở về nhà”.

“Dù ai nói ngọt nói ngon”, dù ai đem “núm ruột ngàn dặm” chiêu dụ thì quê hương vẫn là quê hương, nhưng xin hẹn một ngày về chưa phải là hôm nay, và hy vọng của chúng ta sẽ không bao giờ tàn lụi.

TRẢ LẠI CHO DÂN NHÂN QUYỀN VÀ TỰ DO !

 

TRẢ LẠI CHO DÂN NHÂN QUYỀN VÀ TỰ DO !

Tin khẩn: Xin cộng đồng hướng về Tù Nhân Lương Tâm (Tù chính trị) Thầy Giáo Nguyễn Năng Tĩnh đang bị tra tấn dã man bởi bạo quyền CS tại trại giam Nghi Xuân, Nghệ An. Xin cộng đồng lên án và chia sẽ để phản đối trại giam nơi đây đang tra tấn nhục hình những tù nhân lương tâm (theo tin tức vợ anh Tĩnh cho biết).

“Tra tấn là một vi phạm nhân quyền khủng khiếp. Tra tấn là hành vi tấn công trực tiếp nhân phẩm.” —Navanethem Pillay, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Bài hát “TRẢ LẠI CHO DÂN”, bài hát mà thầy Tĩnh dạy cho các em trên lớp không có từ nào chống lại chế độ cả. Bài hát ấy chỉ chống lại sự cầm quyền của chế độ độc tài, chế độ độc đảng, chế độ xem quyền lợi ích của đảng cầm quyền lên trên lợi ích của nhân dân và chế độ bán nước hại dân với nguy cơ đánh mất chủ quyền Quốc Gia, trước mối đe doạ xâm lăng của Trung Quốc – HIỂM HỌA MẤT NƯỚC ĐÃ ĐẾN RẤT GẦN.

Thầy Nguyễn Năng Tĩnh đã bị khởi tố, kết thúc phiên tòa chóng vánh bởi cộng sản Việt Nam. Nhà cầm quyền phi nhân phi đã tuyên án anh 11 năm tù giam và 5 năm quản chế vì tội của thầy là: “TỘI YÊU NƯỚC, THƯƠNG DÂN”, “tội yêu nước, yêu môi trường, phản kháng nhà nước CHXHCN Việt Nam” và vì cái tội dạy học sinh của thầy bài hát “TRẢ LẠI CHO DÂN !”.

THÊM MỘT TRÍ THỨC ĐÃ BỊ CỘNG SẢN BỎ TÙ.

Trước toà, thầy nói dõng dạc: “Dù bản án 10 năm hay 20 năm, kể cả tử hình, tôi cũng không thay đổi chính kiến. Tôi khát khao đất nước có tự do Dân Chủ. Tôi lo lắng cho vận mệnh đất nước và dân tộc. Tôi Lo lắng cho môi trường sống của nhân dân bị đầu độc và tôi không thể vô cảm và cam tâm trước nguy cơ mất chủ quyền Quốc Gia trước mối đe doạ xâm lăng của Trung Quốc”.

Tổ quốc ghi ơn các tù nhân lương tâm (TNLT), các tù chính trị. Các anh chị đã can đảm nói lên chính kiến cho đại cuộc, cho vận mệnh đất nước và dân tộc, làm viên gạch lót đường cho một đất nước được tự do, dân chủ.

YÊU NƯỚC LÀ QUYỀN KHÔNG PHẢI LÀ TỘI.

Hãy trả tự do ngay tức khắc cho Giảng Viên Nguyễn Năng Tĩnh.

Vu Tran

Sydney 22/05/2020

CHIẾC XÍCH LÔ. Truyện ngắn rất hay-Tác giả: Thanh Thương Hoàng .

 May be an image of 2 people, people sitting and outdoors

CHIẾC XÍCH LÔ. Truyện ngắn rất hay.

Tác gỉa: Thanh Thương Hoàng .

Một câu chuyện tình thời chinh chiến hay như cổ tích; Tháng Tư Đen.

***

Tân ngồi vắt vẻo trên chiếc xích lô ngước nhìn những tảng mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh thẫm, lòng bâng khuâng nhớ tới những ngày tháng cũ. Lúc ấy vào khoảng mười giờ sáng. Từ khi đạp xe ra khỏi nhà sáng sớm tới giờ anh vẫn chưa kiếm được một “cuốc” nào. Nếu đến trưa vẫn không có khách thì coi như mất toi nửa ngày tiền thuê xe và tất nhiên phải nhịn ăn luôn bữa trưa

Chỗ Tân đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do, anh cho là rất “địa lợi”, vì phía chéo bên kia đường là khách sạn Đại Lục, nơi có nhiều khách ngoại quốc tới ở. Họ thường bao luôn cả xe ngày để đi “tham quan” khắp Saigon Chợ Lớn. Đồng thời nơi này cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với Tân – những ngày tháng cũ trước 75 – anh đã gặp “người yêu lý tưởng” của mình và sau đó cưới làm vợ. Cuộc sống lứa đôi tràn ngập hạnh phúc cho tới ngày 30 tháng 4 đen tối sầu thảm.

Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn một điếu. Vừa phập phèo mấy hơi để dĩ vãng tan theo khói thuốc, thì anh nghe tiếng gọi xích lô bên kia đường. Tân vội quay nhìn. Một người đàn bà đưa tay vẫy gọi. Tân vứt vội mẩu thuốc hút dở, rời khỏi nệm xe, nhẩy phóc lên yên xích lô đạp nhanh tới bên kia vệ đường (vì chỗ này thuộc phạm vi “lãnh thổ” của khách sạn nên họ cấm xích lô đậu. Anh em xích lô chỉ có thể “đột kích” đón khách rồi phóng đi ngay).

“Cô muốn đi đâu?” Tân hỏi bằng tiếng Anh giọng rất chuẩn, rất Mỹ làm cô khách ngạc nhiên. Cô đặt mình lên xe thong thả nói:

”Anh muốn chở tôi đi đâu cũng được. Chạy chậm chậm thôi nhé!”

Tân hỏi lại: “Nghĩa là cô muốn mở một cuộc du lịch bỏ túi trong thành phố?”

“Đúng!”

Trước khi cho xe chuyển bánh, Tân nói: “Cô chưa cho biết sẽ trả tôi bao nhiêu tiền. Chúng ta nên sòng phẳng dứt khoát trước khi bắt đầu.

Cô khách đáp: “Tôi sẽ trả anh như đã trả cho những người trước anh.”

“Nghĩa là…?”

“Nghĩa là mỗi giờ tôi trả anh hai đô la.”

“Cô trả vậy hơi nhiều đấy!”

Cô khách nhắc lại câu hỏi của tôi khi nãy:

“Nghĩa là…?”

“Tôi tính cô một đô la một giờ thôi.”

Cô khách một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên nhưng không nói gì.

Hôm qua cô trả cho anh xích lô đúng như giá anh ta đòi, thế mà khi trả tiền còn nằn nì xin thêm. Còn anh xích lô này thì lại xin bớt. Con người xứ sở này có vẻ phức tạp, khó hiểu thật.

Tân từ từ đạp xe về phía chợ Bến Thành. Tới nơi, anh hỏi khách:

”Cô đã biết chợ Bến Thành này chưa?” Và không chờ khách khách trả lời, anh nói tiếp:

“Đây là ngôi chợ lớn nhất của thành phố Saigon và có một bề dầy lịch sử.”

Cô khách mỉm cười. Từ lúc lên xe tới giờ. Tân mới thấy khách cười:

“Tôi biết. Hôm trước một người bạn Việt-Nam đã dẫn tôi vào trong chợ ăn món bún thịt nướng, lạ miệng và ngon lắm! Nhất là cái món nước “sốt” mặn mặn với ngọt ngọt và hơi cay.

“Cô ăn được cả nước mắm?”

“Cũng hơi… khó chịu một chút lúc đầu.”

Thấy sự trao đổi nói năng có vẻ thân mật cởi mở, Tân hỏi:

“Tôi hơi tò mò, xin lỗi trước. Cô tới Saigon du lịch hay làm việc?”

“Tôi tới Saigon có chút việc riêng, tiện thể làm chuyến du lịch luôn.”

“Cô tới đây lần đầu?”

Khách khẽ gật và đôi mắt xanh biếc của cô chớp chớp. Bây giờ Tân mới có dịp quan sát người đẹp. Cô khoảng dưới ba mươi tuổi, thân hình thon thả dong dỏng cao bó gọn trong chiếc robe xuyến hoa văn xanh đậm thật trang nhã. Mớ tóc vàng óng ả của cô chẩy dài buông xõa xuống cái lưng ong. Nước da cô trắng hồng mịn màng. Những sợi lông tơ trên hai cánh tay trần tròn lẳn gợi cảm. Tân cũng đã có dịp vuốt ve những cánh tay như thế, nhưng xa xôi lắm rồi. Theo sự nhận xét sơ khởi của tân thì nhan sắc cô nàng ở mức trung bình nhưng khá quyến rũ và hình như cô có cái duyên ngầm của các cô gái phương Đông.

“Cô mới từ Mỹ tới?” Tân hỏi.

Khách khẽ gật.

“Tôi đoán cô là người miền Đông nước Mỹ, Nếu không ở Washington DC. thì cũng bang nào vùng đó.”

Lần này cô nàng ngoái hẳn mình về phía sau nhìn Tân:

“Anh căn cứ vào đâu mà đoán tôi là người miền Đông?”

Tân hóm hỉnh cười:

“Giọng nói của cô và nhất là nước da của cô. Chỉ có những người sinh sống ở xứ lạnh mới có nước da trắng hồng như cô.” Tân nói nịnh thêm. “Đúng là nước da lý tưởng mà các cô gái mơ ước.”

Cô khách càng thêm ngạc nhiên. Một anh đạp xích lô, tức thuộc giới lao động bình dân thất học, mà lại có vẻ hiểu biết những sự việc ngoài tấm mắt của anh ta. Rồi còn biết cả nịnh đầm với món “võ” của bọn đàn ông có học. Cô cười nhẹ trả lời Tân:

“Anh đoán giỏi đấy! Tôi sinh ra ở thành phố Charlotte bang North Carolina. Lớn lên đi học và sống ở Washington DC.”

Tới chợ bến Thành cô bảo anh ngừng xe để cô vào chợ mua một món gì đó. Cô hỏi anh có đợi được không. Anh gật đầu. Mươi phút sau cô trở ra trên tay cầm một cái gói bọc giấy nhỏ.

“Bây giờ cô muốn tôi chở cô đi đâu?”

“Tùy anh.” Tân suy nghĩ một chút:

“Cô đã vào Chợ Lớn chưa?”

“Hay đấy! Tôi nghe bạn bè nói Chợ Lớn là thành phố của người Hoa như ở Hồng Kông vậy. Nên đi coi cho biết.”

“Cô đã đến Hồng Kông?”

“Tôi đến đó hồi còn là con nhóc đi với bố mẹ.”

Tân có vẻ ngập ngừng trước khi nói:

“Xin lỗi, cô đã lập gia đình?”

“Phải, tôi đã lập gia đình gần mười năm. Vợ chồng tôi có một con gái.”

Nói xong, cô khẽ thở dài, mặt thoáng buồn, sau cặp kính mát nhạt, đôi mắt xanh biếc đăm đăm như nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó. Tân thấy vậy không hỏi nữa. Anh lặng lẽ đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo rộng dài, dưới trời nắng bắt đầu gay gắt. Những chiếc xe gắn máy của bọn trẻ gầm rú phóng vùn vụt, đôi lúc cô khách sợ hãi kêu lên vì tưởng nó đâm nhào vào mình. Từ đường Đồng Khánh, cô bỏ Tân ngừng xe trước một tiệm tạp hóa. Lúc trở ra cô khoe với Tân một vật nhỏ:

”Anh thấy đẹp đấy chứ?” Tân thốt lên:

“Tưởng gì, cái này bên Mỹ đâu thiếu.”

“Phải, bên Mỹ không thiếu, nhưng đây là thứ tôi mua ở Chợ Lớn Việt Nam làm kỷ niệm, đồng thời làm quà tặng con gái tôi.”

Dứt lời cô khách lên xe ngồi, Tân đạp tiếp. Chợt cô quay lại hỏi Tân:

“À, tôi quên hỏi anh. Sao anh biết thứ tôi vừa mua bên Mỹ có nhiều?”

“Vì tôi đã ở bên đó và có mua tặng người yêu. Cái cô vừa mua là do người Tàu Chợ Lớn làm nhái theo đồ của Mỹ.”

“Ồ, anh đã ở bên Mỹ?” “Đi du lịch hay du học?”

“Tôi đi học.”

Cô lại thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và nhắc lại:

“Đi học? Thì ra anh sang Mỹ du học!”

“Không phải! Tôi đi lính được tuyển sang Mỹ học lái máy bay. Tôi sang Mỹ với tư cách sinh viên sỹ quan Không Quân!”

Cô khách người Mỹ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Cô có vẻ thích thú nghe những điều Tân nói. Cái con người lam lũ nghèo khổ đạp xích lô này đã từng là sỹ quan Không Quân và đã sang Mỹ học? Cô nửa tin nửa ngờ, dò đường:

“Anh sống ở Mỹ lâu không? Bang nào nhỉ?”

Tân đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Chiếc áo cũ mỏng mầu đen nhiều miếng vá anh mặc ướt đẫm mồ hôi. Tân cảm thấy bắt đầu mệt và khát nước. Chén xôi bắp nhỏ ăn từ sáng sớm, giờ đã tiêu hết. Anh trả lời khách không mấy hào hứng sốt sắng như lúc đầu:

“Tôi học lái máy bay tại Pensacola bang Louisiana vào năm 1967. Thời gian huấn luyện khoảng năm rưỡi. Tới năm 1972 tôi lại có dịp đi tu nghiệp ở Texas hơn tám tháng.”

“Anh còn nhớ tên khóa huấn luyện?”

“Khóa 67A. Khóa này tôi được huấn luyện cùng với toán Pilot Hải Quân Mỹ.”

Sau khi thảng thốt kêu lên tiếng “ô”, cô ngưng hỏi và im lặng một lúc lâu.

Tân cũng chẳng quan tâm đến sự im lặng của cô khách. Anh đang mải lo đối phó với những xe cộ chạy hỗn độn, vô trật tự trên đường phố. Chỉ cần sơ ý một chút, có thể gây ra tai nạn thương tích cho người ngồi trên xe. Hai bên lề đường Đồng Khánh, người người đi lại tấp nập. Hàng hóa của các tiệm bầy tràn ra cả lề đường. Rồi những gánh hàng quà rong, những xe bán nước ngọt, trái cây, tạo nên một cảnh hoạt náo vui mắt. Cô khách có lẽ vui lây với không khí nhộn nhịp này, nhất là nhìn những người đàn bà Hoa mặc những bộ quần áo mỏng, giản dị. Cô hỏi Tân:

“Họ chắc không phải là người Việt?”

“Vâng, họ là người Hoa. Thành phố này là thành phố của người Hoa dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hay thời Cộng sản cai trị cũng vẫn thế. Khó mà thay đổi được họ!”

“Không phải riêng nước anh. Ở bên Mỹ cũng vậy. Một thời gian nào đó, người Hoa sẽ cai trị thế giới.”

Ngưng chút cô nói tiếp: “Cả về chính trị và kinh tế. Vì thời đại chúng ta, kinh tế đang chi phối thống lĩnh toàn cầu!” Tân cãi:

“Tôi không đồng ý với cô. Người ta đã dùng kinh tế để làm cái roi cai trị, nhưng theo tôi nhất định Cộng sản sẽ thất bại cả về chính trị lẫn kinh tế.”

“Tôi nghĩ với Cộng sản thì chỉ có thể dùng vũ lực.”

“Dùng vũ lực, Mỹ đã thất bại ở Cuba trước đây. Chỉ có Cộng sản mới triệt được Cộng sản thôi. Sức tác động bên ngoài không đủ mạnh bằng sự tự hủy hoại từ bên trong.”

Cả buổi trưa hôm đó, cô khách người Mỹ và anh xích lô đạp mải mê tranh luận về nhiều vấn đề thời sự, chính trị, học thuyết, triết lý, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, tư bản… quên cả đường phố chật chội xe cộ chen lấn bừa bãi. Năm đó là năm 1985, thành phố Saigon còn nhiều xe đạp, xe gắn máy, ít xe hơi. Riêng anh đạp xích lô quên cả mệt và đói. Anh đang hào hứng. Đã lâu lắm anh không hề dám nói năng thảo luận với bất cứ ai những vấn đề húy kỵ trên. Nói với cô khác lạ này không sợ báo cáo, không sợ xuyên tạc, chụp mũ. Tân yên tâm tự nhủ mình như vậy nên anh “phát ngôn mạnh bạo xả ga”. Gần xế chiều, Tân đạp xích lô chở cô khách Mỹ về khách sạn Đại Lục. Bước xuống khỏi xe khách mới hỏi:

“Nãy giờ tôi cứ thắc mắc mãi. Anh là sỹ quan Không Quân từng sang Mỹ học lái máy bay, sao lại… lại đi đạp xích lô?”

Tân phì cười trước câu hỏi này. Đúng là một người Mỹ ngây ngô, chẳng biết gì về làn sóng đỏ đang tràn ngập tràn phá hủy hoại khốc liệt cả miền Nam. Anh trả lời:

“Vì tôi bị Cộng sản bắt đi tù.”

“À, ra thế!” “Anh bị tù có lâu không?”

“Gần mười năm.”

“Trời! Anh được tha lâu chưa?”

“Mới sáu tháng.”

“Ô là! Ở tù Cộng sản chắc là khổ lắm?”

“Tất nhiên. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng sống thời Trung Cổ.”

“Tại sao các anh không vùng lên phản kháng, chống đối? Dân tộc anh là một dân tộc có cả một lịch sử oai hùng về ý chí quật cường, về truyền thống tranh đấu…”

Tân cười nửa miệng:

“Đồng thời dân tộc tôi cũng có truyền thống nhẫn nhục chịu đựng gian khổ.”

Cô khách người Mỹ mở bóp lấy hai tờ giấy năm đô la đưa cho Tân và hẹn sáng mai tới đón cô đi chơi tiếp. Tân cầm hai tờ giấy bạc ngần ngừ. Anh định đưa trả lại một tờ thì cô khách Mỹ đã bước vào trong khách sạn.

Sáng hôm sau đúng chín giờ, Tân đạp xe tới góc đường Lê Lợi – Tự Do đã nhìn thấy cô khách đứng chờ. Cô giơ tay vẫy chào anh rồi bước lại ngồi lên xe.

“Hôm nay cô muốn đi đâu?”

“Đi đâu cũng được. Tôi muốn có nhiều thì giờ để trò chuyện với anh.”

“Hôm qua cô trả tôi nhiều tiền quá. Công của tôi chỉ đáng nửa số tiền ấy thôi! Thế là hậu hĩnh lắm rồi. Hôm nay tôi sẽ đạp để trừ vào số tiền cô trả dư hôm qua.”

Cô khách Mỹ chỉ cười và chớp chớp đôi mắt xanh biếc không có ý kiến gì, nhưng trong đầu cô nẩy một câu hỏi: sao lại có anh chàng gàn dở thế nhỉ? Đã nghèo khổ mà lại còn chê tiền?

Còn Tân bây giờ mới nhìn thấy đôi mắt xanh mầu ngọc bích và trong sáng như mắt mèo đẹp tuyệt vời của cô. Trong đôi mắt ấy anh đọc thấy nhiều thứ lắm: hiền hòa, dịu dàng, nhân bản và cả nỗi đau tiềm tàng ẩn sâu. Đúng, đôi mắt là linh hồn của con người. Các cụ mình xưa nhận xét thật tài tình tinh vi. Xe chạy ra bờ sông Saigon trước khách sạn Majectic. Cô khách ngỏ ý muốn ngồi chơi nơi vườn hoa. Tân nói đùa:

“Tuy ngồi chơi, tôi vẫn tính tiền cô theo giờ đạp xe đấy!”

“Tốt thôi, không có gì đáng phải bàn cãi!”

Để an toàn, khỏi lo lắng, Tân đặt chiếc xích lô ngay cạnh chỗ ghế ngồi và khóa bánh xe lại bằng dây xích. Anh nói với cô khách Mỹ:

“Cho chắc ăn!”

Cô khách cười: “Xe để sát bên cạnh anh, còn kẻ nào dám cả gan lấy cắp!”

“Bần cùng sinh đạo tặc cô ạ! Dân Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ này. Mà bây giờ thì cả nước đều “bần cùng” nên bất cứ việc gì cũng có thể “sinh đạo tặc”. Họ không ăn cắp nữa mà là ăn cướp. Đã tới mức ăn cướp thì họ đâu còn sợ cái gì. Lão Lê-Nin nói đúng đấy, nếu mất, họ chỉ mất cái cùm thôi!”

Cả hai cùng cất tiếng cười vui vẻ. Bờ sông Saigon lúc nào cũng tụ tập đông người. Thấy khách ngoại quốc, bọn trẻ nhỏ chuyên bán những đồ lặt vặt rẻ tiền cho du khách, xúm lại vây quanh hai người mời mọc, gạ gẫm, nài nỉ. Chúng nói những câu tiếng Mỹ bồi ngây ngô ngộ nghĩnh. Rồi đám bán hàng rong xúm xít như ruồi bu. Tân khó chịu lắm, luôn tay xua đuổi thì bị mắng trả tục tĩu. Còn cô khách Mỹ cứ cười cười lấy làm vui thích hoạt cảnh này. Cô mua một gói đậu phụng rang cho mình, một gói cho Tân và mỗi người một chai côca -cola. Lâu lắm Tân mới uống lại thứ nước ngọt của “đế quốc Mỹ” này. Sao mà ngon ngọt đến thế. Mười mấy năm trời khi ở trong tù và cả lúc về ngoài đời anh chưa một lần được uống lại. Tiền ăn còn lo chưa nổi lấy đâu tiền uống côca -cola. Khi bóc gói đậu phụng, anh thất vọng. Nó đã bị hư từ lâu, nhưng người ta vẫn đem bán. Cô khách nói:

“Nếu ở bên Mỹ, nhà sản xuất bị kiện sặc gạch đấy!”

Vứt hai gói đậu phụng hư xuống sông xong, hai người ngồi nhìn trời đất. Một lúc lâu cô khách chợt hỏi:

“Trong khi ở Mỹ, anh có quen thân người bạn Mỹ nào không?”

“Có chứ! Bạn cùng khóa thì nhiều lắm, nhưng thân thiết thì chỉ một hai người.”

“Anh còn nhớ tên?”

“Nhớ chứ. Một anh tên là Tom Hamilton Một anh tên là Edward Carter. Không biết anh chàng này có họ hàng gì với lão Tổng Thống Jimmy Carter không!”

Cô khách Mỹ nói nhanh: “Edward Carter! Anh có nhớ sai tên không? Anh ta người ra sao?”

Tân vỗ vỗ trán như gọi những hình bóng cũ trở về:

“Anh ta cao lớn hơn tôi một chút và cũng tuổi tôi, năm nay được ba mươi sáu tuổi. Anh em cùng khóa thường nói đùa nếu cái mũi tôi cao một chút, dài hơn một chút, và nước da trắng thì đúng là anh em sinh đôi với Edward Carter.

” Cô khách Mỹ chăm chăm nhìn thẳng vào mặt Tân như quan sát, như dò xét. Rồi cô không giấu được một cái thở dài. Tân ngạc nhiên hỏi:

“Sao, nếu tôi đoán không lầm thì có thể cô quen biết hoặc có họ hàng với anh chàng Edward Carter này.

” Cô khách không trả lời. Cô lơ đãng nhìn sang phía bên kia bờ sông. Miệng cô lầm bầm mấy tiếng gì đó, Tân nghe không rõ. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn hút.

“Anh hút thuốc gì mà có mùi khét thế?” Cô khách Mỹ hỏi.

“Đây là thuốc rê. Thứ thuốc rẻ tiền nhất của người Việt Nam. Lúc ở trong tù, đối với chúng tôi thuốc này là loại quý đấy cô ạ! Chúng tôi còn hút cả lá chuối khô và rễ cây nữa kìa!”

“Khổ cực vậy, thiếu thốn vậy mà các anh chịu đựng được để còn giữ được mạng sống trở về đời, tài thật!”

“Không ai, kể cả chúng tôi cũng không tin là mình sống nổi. Nhưng như vừa nói với cô đấy. Dân tộc tôi có sức chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai. Hơn trăm năm nay chưa lúc nào dân tộc sống trong thanh bình yên ổn, trong no ấm sung sướng. Chiến tranh cứ tiếp diễn liên miên, hết ngoại xâm lại tới nội chiến, rồi cả nước chịu ảnh tù đầy đói rách nhục nhã. Nếu như người Mỹ của cô thì ít ra cũng chết nửa nước.”

“Sao anh không lái máy bay chạy ra ngoại quốc như một số người đã làm?”

“Tôi còn cha mẹ già. Cha mẹ tôi nhất định không chịu rời bỏ quê hương. Biết rằng ở lại sẽ phải chịu cảnh tù đầy và có thể bị giết chết nữa, nhưng tôi không thể bỏ mặc cha mẹ. Hơn nữa tôi còn con nhỏ mới sinh.”

“Bây giờ chắc con anh đã khá lớn. Thế còn vợ anh? Chị ấy vẫn một lòng đợi anh về? Tôi đọc sách báo thấy họ hết lời ca ngợi người đàn bà Á-Đông lúc nào cũng giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng. Dù chồng chết, còn trẻ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con.

” Tân lắc đầu thở dài, vứt mẩu thuốc xuống đất: “Tôi không có cái diễm phúc ấy. Sau khi tôi bị tù, vợ tôi để lại con cho cha mẹ tôi nuôi, đi lấy chồng khác.”

“Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý khơi lại sự đau buồn của anh. Nhưng tôi hơi tò mò, thế anh có oán hận người vợ không?”

“Cô ấy còn trẻ nên phải lấy chồng khác, đó là sự thường, có gì mà oán hận. Chỉ có điều hơi buồn là cô ấy lấy kẻ thù của chúng tôi.

” Đôi mắt xanh biếc của cô khách Mỹ chớp chớp. Cô có vẻ xúc động về chuyện riêng tư của Tân.

“Còn cha mẹ anh?”

Tới lượt Tân thở dài nuốt nước bọt như cố nén nỗi đau buồn xuống đáy lòng:

“Cha mẹ tôi đều mất khi tôi còn ở trong tù!”

Cô khách Mỹ kêu lên: “Thế còn đứa nhỏ?”

“May mắn cho nó được ông bà ngoại thương xót đem về nuôi, mặc dù ông bà cũng rất nghèo khổ. Ít ra thì cũng còn có những đốm lửa trong đêm tối phải không? “.

Và lần này chính Tân ngạc nhiên trố mắt nhìn cô khách Mỹ. Cô lấy khăn giấy chậm nước mắt. Cô khóc. Rồi cô đưa đôi mắt xanh biếc đẫm nước mắt nhìn Tân nói:

“Tôi tên Jacqueline Hunter. Còn anh?”

“Tôi là Tân, Đỗ Tân, cựu đại úy phi công Việt Nam Cộng Hòa. Rất hân hạnh được quen biết cô.”

Sau một lúc suy nghĩ đắn đo, Jacqueline nói:

“Anh có thể cho tôi địa chỉ để khi về Mỹ may ra tìm được mấy người bạn cũ của anh. Biết đâu họ chẳng hết lòng lo giúp đỡ can thiệp cho anh.”

“Cám ơn Jacqueline. Tôi ở số nhà…. Hẻm… Đường…. Thành phố Saigon.”

Họ còn ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Jacqueline có ý mời Tân đi dùng bữa trưa, nhưng anh từ chối, mặc dù bụng đang đói. Xuống xe cô móc bóp rút ra tờ giấy một trăm đô đưa Tân, nói:

“Anh cầm lấy để chi dùng. Rất tiếc tôi không thể giúp anh hơn.

” Tân từ chối ngay: “Cám ơn Jacqueline. Tôi cũng rất tiếc không thể nhận số tiền này. Tôi không muốn nhận một sự thương hại, hay một sự bố thí.”

”Không, đây là một tấm lòng. Anh hãy nhận lấy ở đây một tấm lòng.” Dứt lời Jacqueline nhét tờ giấy bạc một trăm đô vào tay Tân và bước nhanh vào trong khách sạn. Trước khi khuất hẳn, cô quay lại nói với Tân:

“Tạm biệt Tân, người bạn mới quý mến của tôi.”

Tân nhìn tờ giấy bạc một trăm đô nằm trong tay sững sờ. Một số tiền quá lớn và quá bất ngờ đối với anh. Chừng như định thần lại được, Tân phóng mình bước nhanh như chạy vào khách sạn, miệng gọi lớn:

“Jacqueline! Jacqueline! Tôi không thể! Tôi không nhận số tiền này. Tôi xin trả lại cô!”

Nhưng Jacqueline đã mất hút. Anh bảo vệ khách sạn thấy gã xích lô chạy xồng xộc vào trong khách sạn miệng la lối ầm ĩ liền chặn Tân lại, nói lớn, giọng hách dịch:

Anh kia! Ra khỏi đây lập tức!”

Tân giơ tờ giấy một trăm đô nói:

“Tôi đưa tiền trả cô khách Mỹ!”

“Cái gì?ạ Cô ta đánh rơi tiền à?”

“Không, cô ấy trả tiền cuốc xe cho tôi một trăm đô, trong khi giá chỉ có năm đô.”

Anh bảo vệ ngẩn người ra nói:

“Lạ nhỉ? Đi cuốc xe có năm đô mà trả một trăm đô? Có khi là đô giả đấy! Đưa đây tôi coi nào!”

Nhưng Tân không đưa làm anh bảo vệ khách sạn nổi giận:

“Thôi, cút cha anh đi. Một trăm đô mà chê à? Anh đạp xe cả năm liệu có kiếm được nổi số tiền này không? Gặp con mụ Mỹ điên khùng vớ món bở thì hãy chuồn mau đi, không nó đổi ý ra đòi lại, thì chỉ có nước ăn cám, anh bạn ạ!”

Tân cầm tờ giấy bạc một trăm đô chậm rãi bước ra khỏi khách sạn. Một trăm đô, đúng là số tiền không nhỏ, nhưng công sức của anh bỏ ra đâu có xứng đáng để nhận sồ tiền này. Thôi sáng mai tới trả cô ta vậy. Cả đêm đó Tân không ngủ được. Anh cứ trằn trọc “đánh vật” mãi với tờ giấy bạc một trăm đô. Tại sao lại có thể như thế nhỉ? Đi cuốc xe áng giá năm đô, cô ta trả một trăm đô. Chẳng lẽ là bạc giả như anh chàng bảo vệ khách sạn nói? Không! Nhất định không phải rồi! Cần gì cô ta phải làm cái việc lươn lẹo dối trá, Vậy tại sao cô ta trả cho mình cả một trăm đô? Thương hại? Bố thí? Một tấm lòng? Dù có là gì đi chăng nữa thì sáng mai cũng vẫn phải trả lại tiền cho cô ấy.

Tân thở dài. Tắt đèn. Bật đèn. Vuốt ve ngắm nghía tờ giấy bạc một trăm đô. Tờ giấy mầu xanh lá cây như sáng rực trong đêm. Một trăm đô đâu có nhỏ. Có khác gì tiền từ trên trời rơi xuống. Nhưng nhất định ngày mai phải trả lại cô ta, cô Jacqueline quý hóa: Tôi rất trân trọng tấm lòng của cô nhưng tôi không thể nhận số tiền này. Chúng ta chỉ mới có hai ngày quen biết, đâu đã có ân tình nghĩa trọng gì. Cám ơn lòng tốt của cô. Cám ơn người đàn bà ở phương trời xa đến. Nghĩ tới những người cùng chung nòi giống sống quanh tôi, cô làm tôi thấy đau đớn tủi nhục.

Hôm sau mới tám giờ sáng, Tân đã đạp xe tới chỗ cũ để đợi Jacqueline, mặc cho một người khách Tây phương đang vẫy tay gọi xe bên kia đường. Anh sốt ruột chờ, đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, thỉnh thoảng thọc tay vào túi quần để yên trí tờ giấy bạc một trăm đô vẫn còn nằm trong đó. Chín giờ đã tới. Rồi chín giờ mười phút. Chín giờ mười lăm phút. Không thấy bóng dáng Jacqueline đâu cả. Chín giờ hai mươi phút. Tân thấy anh bảo vệ khách sạn hôm qua bước lại phía anh. Chẳng lẽ tên này gặp mình kiếm cớ gây sự để đoạt tờ giấy một trăm đô? Tiền bạc làm con người mờ mắt dễ trở thành bất lương. Anh bảo vệ khách sạn tới bên Tân dừng lại và hỏi vẫn giọng hách dịch:

“Có phải anh là người hôm qua chở cô khách Mỹ?”

Tân gật. Anh ta đưa Tân một mảnh giấy:

”Này cầm lấy! Thư của cô ta đấy!” Dứt lời anh ta bước về khách sạn.

Thư là một mảnh giấy nhỏ có in tiêu đề khách sạn. Jacqueline viết bằng tiếng Anh:

“Tân mến! Hôm nay tôi có việc bất thần phải đáp máy bay đi Hà Nội. Chúc vui khỏe. Hẹn gặp lại.”

Cô ký tên một chữ tắt “J”.

2

Những ngày và cả những tháng sau đó Tân vẫn thường đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do có ý chờ người đẹp Mỹ Quốc bất thần xuất hiện. Anh biết vô vọng nhưng vẫn cứ mong, cứ đợi. Rồi Tân tự an ủi đó là một giấc mơ, một giấc mơ đẹp có thật và sẽ không bao giờ hiện ra lần nữa. Anh chợt nhớ hai câu thơ của nhà văn Duyên Anh mà anh được nghe trong trại tù: “Đời rất hiếm hoi lần Bụt hiện. Cho nên đoạn kết thảm vô cùng.” Đời mình chưa đến đoạn kết, nhưng đến nước này thì đúng là “thảm vô cùng” rồi, còn chờ còn mong gì nữa “lần Bụt hiện”. Rồi anh lại lẩn thẩn nghĩ tới bốn chữ “Hồn Bướm Mơ Tiên” – tên một cuốn truyện của nhà văn Khái Hưng. Hồn Bướm Đỗ Tân đang mơ tới nàng tiên Jacqueline Hunter. Tiên đã về vùng đất Thiên đường của Hạ giới, còn bướm thì vẫn mơ màng nơi chốn địa ngục trần gian. Buổi tối, lúc ấy gần mười hai giờ đêm Tân mới về tới nhà. Hôm nay xui xẻo chỉ chạy được ba “cuốc” xe ngắn, vừa đủ tiền chi cho hai bữa ăn. Tới trước cửa nhà Tân thấy chị chủ nhà đứng ngay trước cửa có vẻ đợi anh. Tân hơi chột dạ. Hôm nay là ngày mùng năm đầu tháng nhưng anh vẫn chưa có tiền trả tiền thuê buồng. Bà ta đợi mình về để đòi đây. Số tiền Jacqueline cho anh đã tiêu hết, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tân định cất tiếng xin khất ít ngày thì chị chủ nhà đã tươi cười đưa anh một tờ giấy, nói:

“Chú Tân có tin vui nè!” Tân cười nhạt:

“Tin vui? Tôi làm gì có tin vui. Giỡn làm chi chị Tư?” Chị cho tôi nợ tiền thuê buồng mấy ngày nữa nghe!”

Chị chủ nhà vẫn cười cười nói:

“Tôi nói thiệt mà! Giấy gọi chú lên Tân Sơn Nhứt lãnh quà từ Mỹ gửi.”

Tân sửng sốt: “Quà ở Mỹ gửi? Lạ nhỉ?” Từ ngày ra tù về Tân chưa hề nhận được một lá thư nào từ ngoại quốc gửi về, nói chi đến việc nhận quà! Anh có nghe tin cánh Không Quân bên Mỹ tổ chức quyên góp tiền bạc cứu trợ, nhưng chưa tới tay anh. Có lẽ vì anh chưa liên lạc được với họ. Tân khấp khởi mừng thầm yên trí đây là quà của “các bạn ta” gửi. Anh cầm tờ giấy báo tin vui bước vào nhà đến bên ngọn đèn điện vàng vọt yếu ớt.

Chị chủ nhà bước theo sau luôn miệng hỏi:

“Sao? Quà của ai gửi vậy?”

Bỗng Tân đưa tay trái đặt lên ngực. Tim anh đập nhanh, dồn dập. Anh coi lại tờ giấy báo tin lần nữa Thật bất ngờ ngoài cả sức tưởng tượng của Tân. Người gửi quà là Jacqueline. Số quà nặng tới hai mươi ký. Ngày hôm sau Tân phải chạy vạy mới mượn được đủ tiền dự phỏng để đóng thuế. Tất nhiên trong số tiền này có cả tiền của chị chủ nhà. Chị cứ luôn miệng lẩm bẩm:

“Trời đâu có phụ kẻ hiền lành.”

3

Washington DC. ngày… tháng… năm….

Tân thân mến,

Khi nhận được thư này tôi hy vọng Tân đã nhận được gói quà tôi gửi. Chắc Tân ngạc nhiên lắm? Những quần áo, vật dụng, radio, cassette không phải của mình tôi đâu mà còn là của một số bạn bè phi công cùng khóa với Tân gửi đấy! Khi ở Hà Nội về nước, tôi liền liên lạc ngay với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth ở Dallas nên có được một số địa chỉ các bạn đồng khóa với Tân. Biết tin anh họ mừng lắm. Sau khi nghe tôi kể hiện cảnh của anh, họ buồn rầu khổ sở và tức tốc hè nhau góp gửi cho anh một số tiền cũng như vật dụng quần áo. Về tiền được hơn một ngàn đô. Tôi đang tìm cách gửi sao cho sớm đến tay anh mà không bị mất. Tôi mong anh sẽ hài lòng về số quà tặng “đó là những tấm lòng của bạn bè” chứ không phải “sự thương hại hay bố thí” như một lần anh đã hiểu lầm. Sở dĩ chúng tôi gửi tiền và mua những món đồ cho anh là do một người bạn Việt Nam chỉ dẫn. Anh ta bảo những thứ này ở Việt Nam đang bán được giá cao. Bây giờ tôi xin nói một chút về tôi chắc anh sẵn lòng nghe? Tôi đến Việt Nam không phải để du lịch. Tôi đến Việt Nam với mục đích duy nhất tìm kiếm tung tích chồng tôi. Chồng tôi chính là Đại Úy Phi Công Edward Carter thuộc Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, người học cùng khóa và là bạn thân của anh.”

Coi tới đây Tân ngừng lại. Bất ngờ quá! Anh cố hình dung lại người bạn phi công cùng khóa Edward Carter. Sau khi mãn khóa về nước, Tân có thư từ qua lại với anh ta, nhưng chỉ được hai năm sau đó mất liên lạc. Anh nhớ mang máng là Edward Carter được thuyên chuyển tới Đệ Thất Hạm Đội ở Thái Bình Dương. Lúc học ở Mỹ, Tân và Edward Carter có nhiều kỷ niệm, nhất là những buổi cuối tuần được nghỉ đi kiếm bồ bịch, mải vui quá ngày phép, hai người bị kỷ luật. Tân thở dài. Mới đó đã mười mấy năm trôi qua. Tân coi tiếp thư:

“Trong một phi vụ oanh tạc vùng Thanh Hóa, máy bay của chồng tôi bị bắn hạ. Anh được báo cáo mất tích.” Tân lại ngưng coi và đặt lá thư xuống cái bàn gỗ nhỏ cũ kỹ đặt nơi đầu giường. Anh chống tay lên cằm, suy nghĩ trong xúc động. Edward bị bắt sống hay bị chết? Nếu bị bắt sống thì nhất định Jacqueline đã biết tin, vì tất cả tù binh Mỹ đều bị nhốt trong “khách sạn Hilton ” ở Hà Nội. Tân cầm thư coi tiếp:

“Tôi không tin thông báo của chính phủ. Bản danh sách quân nhân Mỹ mất tích còn quá dài. Tôi phải tự đi tìm chồng tôi vì tôi tin chồng tôi chưa chết. Chúng tôi mới lập gia đình có một đứa con gái. Khi chồng tôi mất tích nó được hai tuổi.

Tôi đến Việt Nam lần vừa rồi là lần thứ hai. Lần trước tôi đến Hà Nội và đi nhiều nơi, kể cả Thanh Hóa. Mất hơn một tháng chẳng kiếm được tin tức gì. Một người bạn viết thư cho tôi biết ở Saigon có một “tuy-ô” cung cấp người Mỹ mất tích rất đáng tin cậy. Thế là chẳng cần đắn đo suy nghĩ, tôi vội vã book vé bay sang Việt Nam liền. Tôi đã bị lừa nhưng được gặp anh. Đúng như người bạn Mỹ của anh nhận xét. Nếu cái mũi cao thêm một chút, dài thêm một chút, và nước da trắng thì anh đúng là bản sao của chồng tôi. Sao lại có thể có hai người giống nhau như thế và sao lại có sự tình cờ gặp gỡ giữa tôi và anh như thế nhỉ? Hôm đầu tiên ngồi trên chiếc xích lô của anh, tôi ngoái lại nhìn anh, không khỏi giật mình sửng sốt. Suýt chút nữa thì tôi kêu tên chồng. Anh có biết không, trong lúc liên lạc với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth tôi mới biết thêm anh là người đạt số điểm cao nhất ở khóa đó. Ông chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện già đã về hưu vẫn còn nhớ tới anh và không ngớt lời ca ngợi anh một thanh niên thông minh giầu nghị lực, một phi công đầy triển vọng tài ba. Nói để anh mừng nhé. Các bạn người Mỹ của anh đang vận động với chính phủ can thiệp cho anh sang Mỹ định cư đấy. Công việc này tất nhiên rất khó khăn và nhiều trở ngại, nhưng ai có quyền cấm người ta hy vọng nhỉ, có phải thế không? Từ nay tôi sẽ liên lạc thường xuyên với anh qua thư từ. Anh cần những gì có thể cho tôi biết để tôi và các bạn anh cố gắng giúp. Dưới đây là một số địa chỉ các bạn cùng khóa với anh. Anh nhớ viết thư cho họ nhé. Có mấy người mang cấp bậc Đại Tá rồi đấy. Họ sẽ có thư cho anh, nếu không có gì trở ngại về phía anh.

Chúc anh vui khỏe.”

J.

Ít ngày sau, đúng như thư Jacqueline viết, có một người lạ đem đến cho Tân hơn một ngàn đô. Tân cầm số tiền trong tay mà vẫn ngỡ như mình nằm chiêm bao. Anh không nén được xúc động, tay cầm cây bút run run khi viết mấy chữ biên nhận tiền. Rồi anh thấy đôi mắt mình cay cay… Anh đã không cầm được nước mắt. Đêm đó Tâm nằm mơ thấy mình chở Jacqueline trên xe xích lô. Tới một quãng vắng vẻ Jacqueline bảo anh ngừng xe lại rồi nàng rời khỏi xe, bất thần ôm chầm lấy anh hôn thắm thiết. Khi Tân giật mình thức giấc anh cảm thấy như mùi nước hoa, mùi da thịt của nàng còn phảng phất đâu đây.

4

Tân đi tù khoảng hơn năm thì vợ anh đi lấy chồng khác, một cán bộ ngoài Bắc vào. Chính chị đã dẫn người này lên tận trại tù ép buộc Tân ký giấy ly dị với hứa hẹn sẽ can thiệp cho anh về sớm. Tân chẳng tin vào cái sự hứa hẹn này nhưng với một người vợ sớm thay lòng đổi dạ như vậy, anh không còn gì để lưu luyến cầm giữ. Anh chỉ lo ngại cho đứa con nhỏ mới ba tuổi. Nhưng anh yên tâm phần nào khi biết con mình được ông bà ngoại đem về nhà nuôi. Khi Tân từ trại tù vùng cao nguyên trở về Saigon, anh tới ngay nhà ông bà già vợ. Con gái anh đã hơn mười tuổi, gầy và hơi xanh. Nó ôm chầm lấy bố khóc như mưa. Tân định ở nhờ ông bà già vợ ít ngày nhưng căn phòng quá nhỏ hẹp mà lại chứa những năm người: ông bà già vợ, vợ chồng người em vợ và con gái Tân nên không còn chỗ cho anh. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống muối mè (để đãi mừng chàng rể ở tù về), Tân phải kiếm cớ đi chỗ khác ngủ, mặc dù ông bà già vợ cố giữ lại “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”. Đêm đó, đêm đầu tiên được sống tự do ngoài đời, Tân đã phải nằm ngủ trong mái hiên của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô và phải chen chúc với đám ăn mày, xì ke ma túy. Sáng dậy gói quần áo nhỏ Tân mang từ trại tù về cũng bị “chôm” mất. Tân đi kiếm nhà một người bạn tù về trước anh và được người này giới thiệu việc làm: rửa chén đĩa một tiệm phở. Làm được mấy ngày chưa kịp lãnh lương tuần Tân bị thôi việc. Anh đã làm sứt mẻ và vỡ quá nhiều chén đĩa trong khi rửa.

Có được số tiền “ngoại viện” Tân đem một nửa “phân phối” cho bố mẹ vợ, bạn bè và cả chị chủ nhà. Riêng cô con gái Tân dẫn đi may một lúc mấy bộ quần áo và mua cho chiếc xe đạp để đi học. Tân viết thư gửi Jacqueline bầy tỏ lòng biết ơn. Với các bạn bè người Mỹ cũng vậy. Và cứ thế mỗi tháng Tân nhận được một lá thư của Jaqueline cùng một số tiền hoặc hàng hóa, có lần có cả đồ hộp thức ăn, sữa. Tạm thời qua cơn bĩ cực nhưng Tân vẫn không chịu rời chiếc xích lô. Hàng ngày anh vẫn đạp xe ra phố, không phải để chở khách như trước mà là phương tiện để anh đi đó đây thăm bạn bè ăn nhậu. Thỉnh thoảng anh đạp xe tới góc phố Lê Lợi – Tự Do tưởng nhớ tới Jacqueline và những ngày đầu gặp gỡ. Đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả chẩy dài xuống lưng của Jacqueline hình như lúc nào cũng hiển hiện trước mắt Tân. Có lý nào cô nàng yêu mình? Tân băn khoăn, thắc mắc, khắc khoải mãi với câu hỏi này. Và đôi lúc anh thấy nhoi nhói nơi tim khi nghĩ rằng chẳng qua cô nàng thương hại mình thôi. Trong những lá thư gửi Jacqueline, Tân đã bóng gió viết về tình cảm của mình đối với nàng, nhưng có lẽ nàng không hiểu sự tế nhị này của người Á Đông. Trong thư hồi âm, Jacqueline vẫn viết nhiều về những ngày ở Việt Nam và hỏi Tân về lịch sử, phong tục, tập quán, phong cảnh và những món ăn của người Việt. Rồi cô hỏi Tân thích nhất món ăn gì của Mỹ và nếu được sang Mỹ định cư thích sống ở đâu. Mỗi lần nhận được thư Jacqueline là buổi tối hôm đó Tân nằm mơ thấy mình sống trên đất Mỹ. Lúc thì lái máy bay, có lúc thì đi hộp đêm với bạn bè người Mỹ nhẩy đầm nhậu nhẹt say khướt. Nhưng nhiều nhất vẫn vẫn là mơ thấy sóng đôi với Jacqueline, hết đi ngắm tuyết ở vùng đồi trắng xóa miền Đông, tới shopping ở các chợ miền Nam Cali nắng ấm. Khi thức giấc Tân thấy tiếc và muốn giấc mơ cứ thế kéo dài mãi.

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ. Hôm nào chạy được khá tiền một chút, anh mời cả gia đình bố mẹ vợ và cô con gái đi làm một chầu phở bình dân. Cuộc sống khó khăn chật vật nhưng Tân vẫn lấy làm hài lòng vì dù sao vẫn còn hơn gấp trăm lần trong trại tù cải tạo, có làm không có ăn. Tân cho rằng khi con người đã trải qua cuộc sống trong tù cải tạo của cộng sản rồi thì tất cả mọi sự trên cõi đời này đều… nhẹ như lông hồng!

Buổi sáng hôm đó Tân sửa soạn đạp xích lô đi “tiếu ngạo giang hồ” có một anh công an tìm gặp. Anh ta trố mắt ngạc nhiên khi thấy người mình đi tìm gặp lại là một anh đạp xích lô. Anh ta hỏi đi hỏi lại mãi có đúng tên là Đỗ Tân không rồi mới cho biết lý do. Có ông dân biểu Mỹ muốn gặp. Tân choáng người. Một dân biểu Mỹ muốn gặp anh? Rồi trực giác bén nhậy của Tân cho biết đây là một tin lành. Tân đạp xích lô theo anh công an đến khách sạn Đại Lục nơi trước đây Jacqueline ở. Mọi người làm trong khách sạn đều nhìn Tân với cặp mắt nghi ngờ và kiêng nể. Thì ra ông dân biểu Mỹ là cựu phi công học cùng khóa với Tân. Máy bay của ông bị bắn trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc và bị nhốt “khách sạn Hilton ” hơn năm năm thì được thả. Về Mỹ ông ứng cử và đắc cử dân biểu. Jacqueline đã gặp ông trình bầy hoàn cảnh Tân và nhờ ông can thiệp với chính phủ cộng sản Việt Nam. Ông sang đây với một phái đoàn bàn thảo chương trình viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, trong đó có “chút việc riêng tư” là can thiệp cho Tân sang Mỹ định cư. Trước khi gặp nhà chức trách, ông muốn gặp Tân để “nhận diện” người bạn đồng khóa năm xưa.

5

“Anh Hoàng thân quý,

Sau khi chia tay anh ở phi trường Tân Sơn Nhất. thấm thoát thế mà đã hơn ba tháng trôi qua. Sở dĩ hôm nay mới viết thư cho anh vì khi đặt chân tới đất Mỹ, khỏi kể nhiều anh cũng thừa biết là tôi bận lắm. Sau khi nghỉ ngơi cho tỉnh người, đồng thời cũng là để gột sạch “bụi bậm xã hội chủ nghĩa” (còn bám chút đỉnh nơi thân thể), tôi và Jacqueline lo tổ chức lễ cưới. Rồi chúng tôi đi Washington DC tới bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.Chúng tôi dành ít phút cúi đầu tưởng niệm dưới hàng chữ ghi tên Carter.Sau đó chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật ở Honolulu. Tiếp theo chúng tôi đi thăm chỗ tôi học lái máy bay năm xưa ở hai bang Lousiana, Texas và các bạn phi công cùng khóa. Ông bạn cựu phi công đương kim dân biểu đã giới thiệu cho tôi một job hợp với khả năng: lái máy bay cho một đồn điền. Còn Jacqueline vẫn tiếp tục nghề cũ y tá bệnh viện. Con gái tôi được Jacqueline và con gái cô quý mến lắm. Hai đứa ngoài giờ học cứ quấn quýt bên nhau như hai chị em ruột. Như anh biết đấy, khi ra đi tôi đã mang theo chiếc xích lô mà tôi phải mua lại với một giá mắc người chủ mới chịu bán. Cứ chủ nhật hoặc những ngày nghỉ lễ, tôi đạp xích lô chở Jacqueline và hai đứa nhỏ chạy lòng vòng trên các đường nhỏ trong thành phố. Đây là một chiếc xe độc đáo duy nhất có ở thành phố này, nên đạp tới đâu cũng được người Mỹ vui vẻ ngắm nghía và trầm trồ giơ tay chào. Có nhiều người bắt tôi xuống xe để cho họ đạp thử và suýt nữa thì làm lật cả xe. Lâu dần người Mỹ quen mắt với chiếc xe xích lô của tôi. Chúng tôi đặt chiếc xích lô ngay trong phòng khách. Nhờ nó, tôi và Jacqueline thành duyên chồng vợ nên chúng tôi vô cùng quý và trân trọng giữ gìn nó.

Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.

Xin chúc anh và gia đình mọi điều tốt đẹp. Thỉnh thoảng rảnh rỗi anh nhớ viết thư cho tôi nhé.

Quý mến,

Đỗ Tân. ”

Thanh Thương Hoàng

Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng

Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

26-5-2021

Bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc công ty cổ phần Đại Nam, trở thành một ngôi sao được hàng triệu người nói tiếng Việt trên thế giới chú ý. Bà Hằng là vợ ông Huỳnh Uy Dũng, hỗn danh Dũng “lò vôi”, nổi tiếng giàu có.

Bà Hằng dùng các kênh mạng xã hội của mình để bàn chuyện (bình luận) xã hội, chỉ trích, tố cáo các nghệ sĩ có nhiều tai tiếng, trong đó có cả những đối thủ của bà.

Theo con số của BBC Việt ngữ cho biết, clip livestream của bà Hằng thu hút nửa triệu người xem trực tiếp trên YouTube và Facebook. Đây là clip livestream ngày 25/5 của bà Hằng, trên kênh một kênh YouTube của bà:

httpv://www.youtube.com/watch?v=w9Pq1QUbpOQ&t=2s

Căn cứ nội dung các clip bà Hằng livestream của bà Hằng, có thể xếp các chương trình này vào loại báo chí “lá cải”, mà ta thường thấy bán ở các quầy tính tiền trong các siêu thị phương Tây, những chuyện xung quanh “tình, tiền, tù, tội”.

Dĩ nhiên không phải “lá cải” là sai sự thật, nhưng hiểu một cách tương đối thì những sự thật này không có trọng lượng lớn, gây sự chú ý của các kênh truyền thông dòng chính. Ngay trong các kênh truyền thông lớn, thỉnh thoảng ta cũng thấy những mục “xe cán chó, chó cán xe”, thật ra cũng thuộc loại này.

Bài viết trên BBC Việt ngữ trích dẫn một số người am tường trong lĩnh vực truyền thông, để tìm hiểu xem vì sao bà Hằng lại thu hút người Việt đến thế.

Có thể đặt vấn đề khác từ “hiện tượng Nguyễn Phương Hằng”, rằng người Việt Nam đang thật sự chú ý đến chuyện gì. Câu trả lời có thể có ngay là, người Việt chú ý đến những chuyện… lá cải! Và không hẳn chỉ người Việt, mà một số người dân khác cũng vậy, nhưng có thể thấy sự khác nhau ở số lượng người quan tâm.

Không có gì sai khi một người đọc một tờ báo lá cải, tìm hiểu chuyện đời tư một ngôi sao nào đó, tài sản của một người nổi tiếng ra sao… Nhưng hàng triệu, hoặc hàng chục triệu người trên một đất nước cứ chăm chú vào những chuyện ấy, rõ ràng là có vấn đề.

Và đây chính là mục đích của các chế độ cầm quyền không chính danh, muốn sự chú ý của dân chúng bị đánh lạc hướng, thay vì quan tâm đến thực tại.

Người cộng sản từng chỉ trích nhà cầm quyền thực dân thời Pháp thuộc, tổ chức những cuộc vui giải trí nhảm nhí, để dân chúng không còn quan tâm đến chuyện giành độc lập nữa. Nay người cộng sản cũng làm như thế, để người dân không chú ý tới những chuyện thiết thực, như vụ Đồng Tâm (tranh chấp đất đai, đàn áp đẫm máu), Hồ Duy Hải (án oan, mà bất cứ người dân nào cũng có thể trở thành nạn nhân)… Có thể nói, hệ thống truyền thông nhà nước Việt Nam hàng chục năm qua, đã được định hướng như thế, rất đậm tính giải trí.

Tuy nhiên, truyền thông giải trí của nhà nước không vượt qua được những khuôn khổ bó buộc của những từ ngữ tuyên giáo, không sử dụng được những nền tảng truyền thông đại chúng mới của mạng xã hội một cách có hiệu quả. Và do vậy, xuất hiện hiện tượng Nguyễn Phương Hằng, với ngôn ngữ bình dân, cùng những câu chuyện thật, những vụ bê bối trong xã hội, vô cùng hấp dẫn.

Có thể nhìn hiện tượng Nguyễn Phương Hằng từ hai góc độ khác nhau. Thứ nhất, bà Hằng bổ sung vào thể loại “lá cải” của truyền thông nhà nước, giúp nhà nước cộng sản đánh lạc hướng sự chú ý của công chúng ra ngoài những vụ bê bối của “Đảng và Nhà nước”.

Nói như thế không có nghĩa là bà Hằng đang âm mưu với nhà nước cộng sản, mà tôi tin là bà Hằng chỉ làm những điều mà bà thích làm, ngẫu nhiên trùng hợp với tin tức “lá cải” của truyền thông nhà nước.

Và với sự khôn ngoan của một doanh nhân dưới chế độ cộng sản, bà biết lằn ranh mà chế độ ấy đặt ra, nằm ở đâu, để không vượt qua “lằn ranh đỏ”. Bà cứ việc móc mỉa Hoài Linh, cứ thóa mạ Vy Oanh … không sao cả, miễn không đụng tới Tô Lâm hay Nguyễn Phú Trọng là bà an toàn.

Điều thứ hai là, sự chú ý của công chúng với bà Hằng và những câu chuyện của bà, thay vì Ban Tuyên giáo Trung ương và những câu chuyện “chống diễn biến hòa bình” của ban này, có nghĩa là dân chúng chú ý đến những câu chuyện có thật (dù lá cải), chú ý đến đời thường, thay những hoang tưởng mỹ miều mang màu sắc cộng sản ra rả trên các phương tiện truyền thông mấy chục năm nay.

Ở góc nhìn đó, sự xuất hiện của bà Hằng là một điểm tích cực. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, vài ngàn người thì không sao, nhưng hàng triệu hay hàng chục triệu người chỉ quan tâm đến chuyện lá cải, bỏ qua những chuyện hệ trọng như: Chuyện nông dân ngày càng cơ cực, dân nghèo sắp chết đói vì đại dịch, biển Đông bị Trung Quốc uy hiếp, chuyện tham nhũng của bộ máy tư bản bồ bịch (crony capitalism) bòn rút công sản,… có thể thấy tương lai của đất nước ra sao!

Có lẽ những người cổ vũ cho dân chủ hóa Việt Nam thoát khỏi chế độ toàn trị, cần quan sát “hiện tượng Nguyễn Phương Hằng”, để biết được tâm trí người dân Việt Nam đang ở đâu và vì sao họ quan tâm đến những chuyện như thế, thay vì những chuyện hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của họ và tương lai của con cháu họ.

Bà Nguyễn Phương Hằng là thước đo cho những người cổ xúy dân chủ Việt Nam nhìn ra mình đã thành công hay thất bại trong việc gieo mầm những tư tưởng cấp tiến và dân chủ cho công chúng Việt Nam.

Cho tới nay, chưa thấy ai nói rằng bà Hằng phao tin vịt, ngoại trừ Sở Thông tin và Truyền thông thành Hồ xử phạt 7,5 triệu đồng hồi tháng trước, vì bà lỡ vượt lằn ranh, đụng tới chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.

Theo ý kiến chủ quan của tôi, dù sao người dân Việt Nam xem bà Hằng nói thao thao bất tuyệt, vẫn tốt hơn so với chuyện ông Trọng mơ màng đến chủ nghĩa xã hội và dĩ nhiên là tốt hơn các YouTuber hải ngoại tung tin vịt, chẳng hạn như về gian lận bầu ở Mỹ, hay chuyện ông Trump trở lại nắm quyền trong vài tháng tới.

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cuộc đời và tác phẩm

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cuộc đời và tác phẩm

Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long, là một nhà văn miền Nam. Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc nhận định: Trong 5 nhà văn nữ nổi tiếng nhất của miền Nam thời kỳ trước 1975, có ba người gốc Huế: Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng. Người thứ tư gốc Bắc di cư: Trùng Dương. Chỉ có Nguyễn Thị Thụy Vũ là dân Nam bộ rặt. Văn chương của bà cũng đặc sệt chất Nam bộ, từ ngôn phong, từ ngữ sử dụng cho tới lời ăn tiếng nói, tính cách, hành vi của các nhân vật.

Năm 1965 bà lên Sài Gòn dấn thân vào nghiệp viết văn, bên cạnh đó còn kiêm việc dạy tiếng Anh cho những cô gái bán bar hoặc lấy Mỹ.

Trong 10 năm từ 1965 đến 1975, Thụy Vũ đã xuất bản 10 tác phẩm gồm 3 tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông; và 7 tiểu thuyết: Ngọn pháo bông, Thú hoang, Khung rêu (Giải thưởng Văn học Toàn quốc năm 1971),Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều xuống êm đềm, Cho trận gió kinh thiên.

Sau 1975, Nguyễn Thị Thụy Vũ không thể tiếp tục cầm bút do tác phẩm bị quy là đồi trụy, bà phải bươn chải với những công việc khác để nuôi đàn con, trong đó có một người sống đời thực vật. Bà từng buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê… những công việc mà trước đó không ai hình dung nhà văn nữ này có thể kham được.

Hiện nay đời sống của bà tương đối ổn định khi bà về Bình Phước dựng nhà trên mảnh đất cha mẹ để lại. Ðó là sau khi bà nhận được sự giúp đỡ từ những bạn văn cũ qua bài viết của một bạn văn mô tả cuộc sống lây lất khốn khó của mấy mẹ con, vào đầu thập niên 2000. Bà đang sống với gia đình con trai, là một người tu tại gia chuyên việc hộ niệm, và cùng với họ là cô con gái út ngoài bốn mươi tuổi vẫn sống đời thực vật.

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Về cha của các con bà, nhà thơ Tô Thuỳ Yên, bà cho biết: Ổng đi học tập cải tạo. 13 năm ổng đi học tập, tôi có đi thăm ông một lần duy nhứt. Sau đó ổng đi Mỹ với gia đình… (theo NT Kim Cúc)

Về chi tiết này, nhà văn Nguyễn Văn Sâm trong một bài viết nhan đề “Thụy Vũ: Mỉm cười với nghiệt ngã” ghi nhận: Tôi chợt buột miệng hỏi, rồi lại hối hận đáng lẽ không nên hỏi, về nhà thơ tác giả bài Ta Về, Anh Hùng Tận, chị không một thay đổi sắc mặt hay bất bình, trả lời như chuyện của người khác: ‘Ổng gọi về nhiều lắm nhưng mà không có nói chuyện với tôi, nói chuyện cả giờ với con dâu.’ Tôi nghe tiếng ổng liền nhớ đến biết bao nhiều lần trong truyện ngắn như là tự truyện chị dùng thiệt nhiều lần từ tía sắp nhỏ vừa thương mến vừa xót xa vừa cách phân.

Nhà văn Ðoàn Dự cũng cho biết:

Nói chung, về tình trạng của chị Thụy Vũ hiện nay, chị có 3 người con thì cháu Khôi Hạnh lấy chồng ở Long An, đời sống êm ấm, hạnh phúc nhưng vì đông con nên cũng không giúp gì được cho mẹ. Cháu Khôi Hạo đã có gia đình, có một con trai, trước đây làm nghề nuôi cá cảnh để bán và viết văn theo cái “gien” của bố và mẹ, cũng kiếm được đồng tiền nhưng không hiểu sao tự nhiên cháu đi tu (Phật giáo), để vợ con cho mẹ lo. Còn cháu thứ ba, Khôi Thụy, thì vẫn sống đời sống thực vật, u mơ không biết gì hết như cũ. Năm nay chị Thụy Vũ đã 78 tuổi, tất cả sự sống gia đình đều trông mong vào mấy con cá kiểng do vị “tu sĩ Phật giáo” truyền lại cho mẹ và mỗi tháng 100 đô-la do cháu Ðinh Quỳnh Giao, bác sĩ bên Mỹ, con gái của anh chị Tô Thùy Yên gửi về giúp đỡ. Cháu Ðinh Quỳnh Giao rất thương xót đứa em cùng cha khác mẹ tên Nguyễn Khôi Thụy đang nằm liệt giường. (Trích theo Phan Nguyên)

Một điều an ủi cho Nguyễn Thị Thụy Vũ là những sách của bà (10 cuốn) đã được nhà Phương Nam tái bản: Tất cả đều là sách đã in tại Sài Gòn trước 1975, đây có thể xem là toàn bộ sự nghiệp văn chương của bà, đã được Công ty Sách Phương Nam mua tác quyền: Lao vào lửa, Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang, Mèo đêm, Chiều mênh mông, Chiều xuống êm đềm, Như thiên đường lạnh, Ngọn pháo bông, Cho trận gió kinh thiên…

Ðược hỏi bà cảm thấy thế nào khi tất cả tác phẩm trước năm 75 đều đã được tái bản. Nguyễn Thị Thụy Vũ thành thật trả lời: “Tôi rất vui. Sách in đẹp, tất cả lỗi chính tả đều được sửa rất kỹ. Tôi thấy mình thật may mắn khi nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều bè bạn, cả bạn cũ và bạn mới. Tôi xin cảm ơn cuộc đời và bè bạn…”

Tất nhiên là chúng ta cùng chia sẻ niềm vui với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nhân đây cũng xin trình bày rõ thêm về những nỗi vất vả và khổ đau vô cùng tận cùng những may mắn dù có hơi trễ muộn trong đời nhà văn.

Thụy Vũ tâm sự với nhà báo Ngô Thị Kim Cúc:

“Cuộc sống sau ‘giải phóng’ vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.

“Xe chạy tuyến Thủ Ðức – Sài Gòn, từ sáng đến tối mịt mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ,” bà kể.

Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…”

Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu… cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau “giải phóng”. Bà kể: “Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.

“Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.

Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.

Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.

Xin được cảm thông với bao nỗi đời nghiệt ngã của nhà văn và mừng bà bước vào giai đoạn gọi là yên vui của cuộc đời. Tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ chắc chắn sẽ còn sáng mãi với thời gian.

NGUYỄN & BẠN HỮU 

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ.  Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng.  Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta.  Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim.  Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được.  Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống?  Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó.  Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta.  Dường như công lý cũng thế.  Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy.  Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy.  Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này.  Dường như thường thường là như vậy.  Vậy thì Chúa ở đâu?  Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi!  Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi!  Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô.  Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết?  Chúa Giêsu để Ladarô chết!  Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi.  Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp.  Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương.  Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra.  Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ!  Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa!  Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa.  Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới?  Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy?  Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta?  Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không?  Không.  Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần.  Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta.  Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương.  Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng.  Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa.

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vỉnh cữu.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

Cha mẹ làm gì khi ‘tuổi teen’ gặp khủng hoảng thời đại dịch

Cha mẹ làm gì khi ‘tuổi teen’ gặp khủng hoảng thời đại dịch

May 25, 2021  

LOS ANGELES, California (NV) – Ở tuổi dậy thì, cơ thể có những thay đổi không chỉ về sinh lý mà còn cả tâm lý, khiến các em rơi vào tình trạng không làm chủ được bản thân và dễ mắc phải các hội chứng tiêu cực. Tệ hại hơn khi các em trải qua giai đoạn này trong thời đại dịch COVID-19.

Từ Tháng Ba, 2020, cô Tiffany Lee, 43 tuổi, bắt đầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh. Cô yêu cầu cậu con trai 15 tuổi của mình, Bowen Deal – ở nhà gọi là Bo – tập tránh xa đám đông, đeo khẩu trang. Nhưng mọi chuyện không dễ dàng với cậu bé tuổi teen này.

Lứa tuổi thanh thiếu niên không muốn gần gũi cha mẹ. Nhưng ngặt một điều, khi đại dịch xảy ra, các em không còn lựa chọn nào khác là… ở nhà. (Hình minh họa: Talib Abdulla/Pixabay)

“Bo nói với tôi là mấy đứa bạn của nó, nào là tổ chức tiệc bể bơi, rồi chơi bowling, trong khi nó thì bị mẹ cấm đoán đủ điều,” cô Lee kể trên The New York Times. “Mới tí tuổi đầu mà nó gọi tôi là ‘bà mẹ độc ác,’ chia rẽ nó, không cho nó chơi với bạn bè.”

Gia đình cô Lee sống ở ngoại ô Savannah, Georgia, nơi có nhiều người không tuân theo các quy tắc trong thời dịch bệnh.

Xung đột giữa cô và con trai đã lên đến đỉnh điểm vào Tháng Giêng vừa rồi. Mới đây, cô Lee phải nghỉ mấy ngày để tránh những lời tục tĩu tuôn ra, khi cô yêu cầu khách hàng trong cửa hàng bán quần áo của mình phải mang khẩu trang. Trong khi đó, Bo một mực đòi đi học lại. Cô Lee nói, nỗi tức giận của cô đã ở tột đỉnh. Cô nói với con: “Mẹ không muốn tranh cãi với con nữa. Nếu đi học, nhiều khả năng con sẽ đem virus về cho cả nhà. Hiểu chưa!”

Thông thường, lứa tuổi thanh thiếu niên (tuổi teen) không muốn gần gũi cha mẹ. Nhưng ngặt một điều, khi đại dịch xảy ra, các em không còn lựa chọn nào khác là… ở nhà. Bị gò bó suốt ngày trong phòng ngủ, dán mắt vào màn hình tivi hoặc điện thoại mãi cũng chán, các em khao khát được nhào ra bên ngoài, gặp bạn bè, giao lưu với người này người nọ.

Tiến Sĩ Harold S. Koplewicz, giám đốc y tế Child Mind Institute ở thành phố New York, cho biết: “Nhóm phải chịu đựng nhiều nhất khi bị cô lập là những thanh thiếu niên tuổi từ 13 đến 24. Họ cảm thấy mất dần sự tự do, họ gặp khó khăn trong học tập. Nhiều thứ bị đình đốn, họ chẳng làm được gì.” Trong tình cảnh như vậy, thật khó cho các em, và cả phụ huynh.

Một cuộc thăm dò ý kiến ​​của các bậc cha mẹ có con trong độ “tuổi teen” trên phạm vi toàn quốc, do bệnh viện C.S. Mott Children’s Hospital thực hiện hồi Tháng Ba, cho thấy các bậc cha mẹ đã và đang phải cố gắng duy trì sức khỏe tâm thần của con mình.

Khoảng một nửa trong số những người được khảo sát cho biết tinh thần của con họ đã thay đổi hoặc trở nên tồi tệ hơn trong đại dịch. Một phần ba trong số người được hỏi cho biết họ phải tìm gặp và nói chuyện với giáo viên hoặc cố vấn học đường về con cái mình. Một phần ba khác tìm kiếm sự trợ giúp chính thức về sức khỏe tâm thần.

Trong bối cảnh nạn phân biệt chủng tộc và tội ác thù hận ngày càng gia tăng, bao gồm cả làn sóng bạo lực chống người Châu Á từ mùa Xuân, nhiều bậc cha mẹ da màu cố gắng giúp con cái của họ giải quyết khi có bất trắc xảy ra.

Cô Thea Monyeé, một nhà trị liệu da màu ở Los Angeles, người chứng kiến ​​ba cô con gái tuổi teen của mình tham gia vào các “cuộc chiến” trên mạng xã hội. “Vợ chồng tôi không muốn cảnh sát ‘dính’ vào chuyện này,” cô Monyeé nói. “Mấy đứa nhỏ hết sức giận dữ, sau đó thì buồn tủi, thậm chí bị tổn thương. Chúng tôi lại phải ngồi xuống nói chuyện với các con.”

Có con bình thường bị phân biệt đối xử đã khổ, đằng này, cô Ragin Johnson còn kinh khủng hơn khi cậu con trai 17 tuổi của mình, một thanh niên da đen cao lớn, mắc chứng tự kỷ. “Nó là một đứa rất thân thiện,” cô Johnson, 43 tuổi, giáo viên lớp 5 ở Columbia, South Carolina, nói. “Tôi không muốn ai đó có ấn tượng xấu khi gặp con tôi, khi thấy nó trở nên hung dữ.”

Cô giáo Johnson rất lo lắng cho con. Không cho con đi đâu một mình, nhưng cô thừa nhận rằng không phải lúc nào cũng có thể đi tò tò theo để bảo vệ cho con được. Như cô Johnson và các bậc phụ huynh đã trải qua hơn một năm đại dịch, rằng sẽ không có giải pháp hoàn hảo nào cho tất cả các thách thức. Ngay cả câu hỏi đơn giản như “khi nào chuyện này kết thúc?” đã có câu trả lời đâu! Nhưng các chuyên gia cho rằng có nhiều cách để làm cho khoảng thời gian căng thẳng này trở nên dễ kiểm soát hơn.

Nếu mọi cuộc trò chuyện kết thúc bằng một cuộc chiến – hoặc nếu đứa trẻ ủ rũ, thậm chí không thèm nói chuyện với bạn nữa, hãy thử một chiến thuật khác. Ví dụ, hãy rủ và đưa con đi chơi đâu đó. Nhưng đừng giảng giải đạo đức cho con lúc này, mà hãy để con nói. “Bạn cố gắng lắng nghe, và chăm chỉ lắng nghe,” Tiến Sĩ Koplewicz nói. Nếu con bạn bị suy sụp về tinh thần hoặc gặp vấn đề về cảm xúc, hãy tìm sự giúp đỡ từ người khác, để giúp con vượt qua.

Cậu bé là một trong số rất ít học sinh đeo khẩu trang đi học. (Hình minh họa: Kelly Sikkema/Unsplash)

Ông Patrick Possel, giám đốc chương trình Cardinal Success, nơi cung cấp các dịch vụ sức khỏe tâm thần miễn phí cho những người không có bảo hiểm ở Louisville, cho biết: “Khi một thiếu niên trong nhà bắt đầu gặp khó khăn, cha mẹ các em chắc cũng không còn đủ sức để giải quyết.” Nhưng ông Possel nói đừng thất vọng, buông tay, mà hãy tìm hiểu ở đâu đó, chắc chắn sẽ có một mạng lưới, một người bạn, một chuyên gia, hoặc ai đó giúp bạn.

Cô Liz Lindholm, ở Federal Way, ngoại ô Seattle của tiểu bang Washington, người vừa phải giám sát việc học từ xa của hai cô con gái sinh đôi 12 tuổi, cậu con trai 18 tuổi tại nhà, vừa làm việc trong bộ phận quản lý chăm sóc sức khỏe, nói: “Điều thách thức nhất với tôi trong năm nay là sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống.”

Cô Lindholm, bà mẹ đơn thân 41 tuổi, không có nhiều thời gian để chăm sóc bản thân mình. Cuộc sống quá căng thẳng, lâu thật lâu cô mới có được ít giây để tự rót cho mình một ly nước ngọt. Nhưng hiện tại, các chuyên gia nói rằng cô ấy không đơn độc.

Với Lee, cô đã tìm được một nhà trị liệu trực tuyến tại BetterHelp.com, người giúp cô và Bo vượt qua thời điểm khó khăn này. Bo thay đổi hẳn trước sự ngạc nhiên vui sướng của người mẹ. Cậu bé là một trong số rất ít học sinh đeo khẩu trang đi học.

Một ngày nọ, trên đường về nhà, Bo nói với cô: “Mẹ, vaccine ngừa dịch bệnh cần thiết là thế, vậy mà mấy đứa bạn con, có đứa chẳng hiểu gì cả.” Cô Lee mừng muốn khóc. “Mối quan hệ của mẹ con tôi bây giờ tốt đẹp hơn rất nhiều,” cô Lee nói. “Tôi tin tưởng con và cho con được một vài quyền quyết định. Dưới mắt con, bây giờ tôi không phải là người mẹ độc ác nữa.” (Đ.Trang) [qd]

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Sau 4 năm cầm quyền Donald Trump đã đ lại di sản nào cho nước Mỹ? Cái khẩu hiệu “Make American Great Again” càng khiến thế giới khinh thường và thương hại. Trong suốt 4 năm cầm quyền Trump cũng bỏ mặc hạ tầng cơ sở lạc hậu, bệ rạc của nước Mỹ chỉ để chú tâm cắt giảm thuế làm giàu cho giới tài phiệt, chủ nhân ông và lo thu vén quyền lợi cho gia đình cùng phe nhóm!!!

Bài viết dưới đây đã qua 1 năm, nhưng nó cho thấy nhận định của tác gỉa rất đúng. Ông Biden lên cầm quyền đã 4 tháng vẫn chưa khôi phục lại niềm tin của thế giới. Vẫn vấp phải những chống đối từ Phe nhóm Trump và đảng CH trong việc củng cố và kiến thiết nước Mỹ cùng niềm tim từ nhân dân!!!

***

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Tác giả: Fintan O’Toole đăng trên The Irish Times.

Người dịch: Cố Sự Quán.

Trải qua hơn hai thế kỷ, Hoa Kỳ đã khuấy động nhiều cung bậc cảm xúc của nhân loại: yêu mến và thù hận, sợ hãi và hy vọng, đố kỵ và khinh miệt, kính phục và giận dữ. Nhưng có một cảm xúc chưa từng bao giờ được dành cho nước Mỹ cho đến hôm nay: Thương hại.

Dù thế nào, buồn là một cảm xúc chung đối với những người dân chủ, ai cũng cảm thấy nuối tiếc cho nước Mỹ. Hầu hết họ không phải là những người đã bầu cho Donald Trump vào năm 2016. Và giờ, họ đã bị nhốt chung với một kẻ mắc chứng sùng bái bản thân ác tính *(Narcissistic personality disorder-NPD)*, người mà, thay vì ra sức bảo vệ người dân khỏi Covid-19, đã ngược lại càng thúc đẩy tính hủy diệt của nó. Cái đất nước mà Trump đã từng hứa sẽ làm cho vĩ đại trở lại, lần đầu tiên trong lịch sử chưa từng bao giờ trở nên đáng thương hại như vậy.

Uy tín của Mỹ sẽ hồi phục lại được không sau chương sử đen tối đáng xấu hổ này? Hoa Kỳ bước vào khủng hoảng corona virus với những lợi thế to lớn trong tay: được cảnh báo trước đó nhiều tuần lễ về những hậu quả có thể xảy ra, với những nhà khoa học và chuyên gia y tế giỏi nhất thế giới, nguồn lực tài chính vô hạn, tổ hợp quân sự với năng lực hậu cầu tuyệt vời và những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, cuối cùng nước Mỹ tự biến mình thành nạn nhân bị ảnh hưởng nặng nề nhất do đại dịch so với toàn thế giới.

Theo cây bút người Mỹ George Packer mô tả trên trang Atlantic, “Hoa Kỳ đã phản ứng… như Pakistan hoặc như Belarus- những quốc gia với cơ sở hạ tầng tồi tàn và những chính phủ rối ren, những quốc gia mà những kẻ lãnh đạo quá tham nhũng hoặc quá ngu ngốc để đối đầu với thảm họa.”

Điều khiến nước Mỹ trở nên bất lực trước thảm họa thiên nhiên chính là, một nguồn lực vĩ đại đã bị hoang phí – một cách có chủ đích, ác ý và thù hận. Có những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của một chính phủ *(như, trong một mức độ này hay mức độ khác, mà hầu hết các chính phủ đã mắc phải),* nhưng điều đó hoàn toàn khác với kiểu chúng ta đang thấy, nhà lãnh đạo cùng với những kẻ ủng hộ ông ta tích cực phát tán loại virus chết người. Trump, Đảng của ông ta và Rupert Murdoch’s Fox News cố tình định hướng nước Mỹ lún sâu trong dịch hại.

Một cảnh tượng quái gở và kỳ dị nhất – lần đầu tiên một Tổng thống cố tình xúi giục người dân (mang vũ trang) chiếm lấy đường phố để phản đối những hạn chế được đặt ra nhằm giữ gìn mạng sống con người, một kiểu xúi giục những người ủng hộ cảm tử hy sinh cho sự nghiệp chính trị của mình. Trong những buổi hợp báo hằng ngày được phát sóng trực tiếp trên truyền hình trong đại dịch, thường để nhằm kêu gọi toàn dân đoàn kết đồng lòng với chính phủ để cùng nhau đương đầu và vượt qua thách thức, đã bị Trump lợi dụng để biến thành một kiểu chương trình gieo rắc sự hỗn loạn và chia rẽ. Họ cố tình biến nó thành một chương trình kỳ dị hằng ngày, nhằm gây nghiện và ám ảnh tâm thức người Mỹ như những trò nhảy múa trần truồng trên TV.

Nếu dịch bệnh là một phép thử, thì kiểu lãnh đạo này chắc chắn sẽ đẩy nước Mỹ tới kết quả thảm bại với cái giá khủng khiếp được trả bằng mạng sống con người. Và nếu mọi việc y như vậy, ý tưởng về một nước Mỹ là quốc gia dẫn đầu thế giới đã được định hình qua hàng thế kỷ sẽ hoàn toàn tan biến.

Thật khó để nhớ, nhưng vào năm 2017, thời điểm Trump nhậm chức, khi đó lối suy nghĩ phổ biến đã được định hình tại nước Mỹ là Đảng Cộng Hòa với sự khôn ngoan của mình và khung pháp chế rộng lớn của cả nền chính trị Hoa Kỳ có thể ngăn cản Trump gây ra quá nhiều thiệt hại. Giờ đây thực tế cho thấy đó chỉ là ảo tưởng, dịch bệnh là một minh chứng phơi bày sự thật theo những cách man rợ nhất.

Đầu hàng trong nhục nhã

Cái từng được gọi là chủ nghĩa bảo thủ chính thống đã không nuốt nổi được Trump- ông ta mới là người đã nuốt chửng lấy nó. Gần như hơn một nữa bộ sậu cánh hữu của nền chính trị Hoa Kỳ đã đầu hàng trước ông ta. Những ý tưởng cơ bản nhất về trách nhiệm, chăm lo và ngay cả an toàn đều lần lượt bị hiến tế trên bàn thờ của sự ngu ngốc vô luân.

Do đó, ngay cả vào những ngày cuối cùng của tháng Ba, 15 thống đốc thuộc Đảng Cộng Hòa vẫn không ra lệnh giãn cách, yêu cầu người dân ở nhà và đóng cửa các doanh nghiệp không thiết yếu. Ví dụ như ở Alabama, mãi cho đến ngày 3/4 thì thống đốc Kay Ivey cuối cùng mới ban hành lệnh ở nhà.

Ở Florida, tiểu bang có mật độ người già đông nhất, thống đốc Ron DeSantis – một đồ đệ ngoan ngoãn của Trump, vẫn mở cửa các khu resort trên bãi biển cho các sinh viên khắp nơi đổ về tổ chức những buổi tiệc nghĩ xuân. Cho đến 1/4, ông ta mới bắt đầu ban hành lệnh hạn chế, tuy vậy, DeSantis vẫn miễn trừ cho các hoạt động tôn giáo và giải trí hoạt động bình thường.

Thống đốc bang Georgia, đợi đến phút cuối mới ban hành lệnh ở nhà vào ngày 1/4, ông giải thích *“Tôi không biết điều này (virus có thể lây bởi những người không có triệu chứng) mãi cho đến hôm qua”.

Những điển hình trên không chỉ do thiếu hiểu biết- nó chính là sự ngu ngốc và giết người có chủ ý. Những cuộc biểu tình khắp các thành phố ở trên nước Mỹ đã cho thấy, bằng rất nhiều cách chính phủ đã dẫn dắt người dân phủ nhận thực tế chết người của đại dịch. Nó được Fox News và các trang mạng cực hữu thúc đẩy, và nó đã mang về cho các chính trị gia hàng triệu đô-la từ tiền quyên góp, hầu hết *(theo một cách không thể kỳ cục hơn) *được đóng góp từ những người già, những người dễ bị tổn thương nhất do corona virus.

Những điều quái gỡ này được nuôi sống bằng những thuyết âm mưu, sự căm ghét khoa học, sự hoang tưởng về “deep state” và niềm tin tôn giáo (Chúa sẽ bảo vệ những con chiên ngoan ngoãn) thấm sâu vào suy nghĩ của một số dân Mỹ.

Trump chính là hiện thân và cũng là người đã rao giảng niềm tin này, nhưng ông ta không phải là người phát minh ra nó. Sự phản ứng của nước Mỹ trước thảm họa corona bị tê liệt bởi những mâu thuẫn trong chính quyền mà những người thuộc Đảng Cộng Hòa đã cắm sâu vào trái tim của nền Dân chủ Mỹ. Một mặt, họ muốn kiểm soát tất cả mọi quyền lực trong chính phủ. Mặt khác, họ tạo ra một căn bản phổ biến rằng chính phủ vô cùng xấu xa và không đáng tin.

Sự mâu thuẫn này đã được Trump đưa ra trong hai tuyên bố của ông về đại dịch: một mặt ông ta là người có toàn quyền, và một mặt khác, ông ta không chịu bất cứ trách nhiệm nào *(I don’t take responsibility at all)*. Giữa khe hở của sự độc tài và vô chính phủ, ông ta lòn vào bên trong.

Mảnh đất màu mỡ

Nhưng đây không phải là lỗi riêng của một mình Donald Trump. Cuộc khủng hoảng đã chỉ ra rõ ràng rằng nhiệm kỳ Tổng thống của Trump không phải là một sai sót ngẫu nhiên. Nó thực sự đã được gieo trồng trên mảnh đất màu mỡ này từ lâu và đây là thời điểm nhận lấy hậu quả. Sự nở rộ của loại cấu trúc quái vật vô tổ chức này được tạo ra một cách có ý đồ và chiến lược từ phía sau.

Có những nhóm lợi ích quyền lực, những người hô hào “tự do” để có thể chà đạp lên tất cả những gì đi ngược lại họ và được quyền làm mọi điều đối với môi trường, xã hội và kinh tế. Họ đã âm thầm truyền vào tâm thức của nền văn hóa Mỹ niềm tin rằng *“Tự Do” *có ý nghĩa quan trọng hơn cuộc sống. “Quyền Tự Do được mang súng của tao quan trọng hơn quyền lợi của mày là đến trường an toàn mà không bị bắn”. Và bây giờ nó thành “Quyền Tự Do đi cắt tóc của tao quan trọng hơn quyền lợi của mày là an toàn không bị lây nhiễm.”. “Tôi cần cắt tóc” một trong những tấm biển được người biểu tình giơ ra ở St Paul, Minnesota.)

Thông thường, loại suy nghĩ quái gở này tự nó đã thể hiện sự ngu ngốc của nó, nhưng giờ đây nó được biện minh rằng, nếu mọi chuyện thực sự nghiêm trọng, nó sẽ tự dừng lại. Kiểu như người ta sẽ dừng lại khi đã uống đủ và tỉnh táo trở lại sau cơn say. Nhưng không, phần lớn dân Mỹ nghiện (kiểu suy nghĩ đó) ngày càng nặng nề hơn.

Và ông Tổng thống, Đảng phái của ông, cùng với đồng minh truyền thông của mình liên tục cung cấp chất men đó cho dân. Không có lấy một khoảnh khắc tỉnh táo nào trong những cơn say triền miên, không có bất cứ một cái gì có thể làm cho mọi người ngừng uống và bừng tỉnh để hiểu rằng trò hề này phải chấm dứt. Không một ai trong số những người Mỹ bước lên và tuyên bố rằng: Tỉnh lại đi, người ta đang chết đầy ra đây này.

Đó là một cách mô tả để thấy nước Mỹ đã ngập lún trong những vấn đề của mình sâu thế nào – nó không chỉ cho thấy rằng, Trump đã lợi dụng khủng hoảng như một cách nhằm tạo ra thù hận giữa những nhóm người Mỹ với nhau, nó còn cho thấy cách hành xử của Trump ngày càng trở nên quá bình thường trong con mắt người dân. Và khi chương trình kỳ dị của Trump được phát trực tiếp trên truyền hình mỗi tối, và ngôi sao của chúng ta tiếp tục huyênh hoang về lượt rating và lạc quan tếu về những “thành quả” của mình, lúc này người ta đã quen dần và không còn xem nó là một chương trình kỳ dị nữa, mà là một thứ thiết yếu. Với phần đông người Mỹ, thông tin Trump mang tới là thật.

Có lẽ những vấn đề này sẽ còn tiếp tục tệ hơn, trước khi nó trở nên khả quan trở lại. Trump còn khoảng ít nhất bảy tháng nữa để cầm quyền. Trong bài phát biểu khai mạc giai đoạn nắm quyền của mình đầu năm 2017, ông ta đã gợi nên một sự “tàn sát giữa người Mỹ với nhau” *(American carnage)* và ông ta hứa sẽ chấm dứt nó. Nhưng giờ đây cuộc giết chóc thực sự đã đến, nhưng ông ta đang say sưa trong nó. Ông ta đang đắm chìm vào chính mình.

Khi mọi việc trở nên tồi tệ hơn, có lẽ Trump sẽ càng bơm mạnh những thù hận và giả dối vào lòng người, trong thái độ bất chấp lý lẽ và quy tắc. Nếu một chính quyền mới đắc cử và ngồi vào ghế lãnh đạo vào năm 2021, họ phải bỏ rất nhiều sức lực để dọn dẹp đống rác độc hại của Trump để lại. Nếu Trump tái đắc cử, có lẽ đôc tính sẽ trở thành huyết mạch của nền chính trị Hoa Kỳ.

Bất kể thế nào, còn lâu lắm thế giới mới có thể nhìn thấy một “nước Mỹ vĩ đại trở lại.”

May be a cartoon