CÁNH CỬA MỚI

 CÁNH CỬA MỚI

Cách đây, hàng thế kỷ, tại một đất nước nọ có một họa sĩ. Anh muốn tạo ra một bức tranh thực sự tuyệt vời có thể tỏa ra sự thiêng liêng, một bức tranh về một gương mặt có ánh mắt tỏa ra sự bình yên vô hạn. Anh lên đường để tìm kiếm một người nào đó có gương mặt vượt ra khỏi giới hạn của đời sống này, một cái gì đó siêu việt.

Anh lang thang khắp đất nước, hết làng này đến làng nọ, hết cánh rừng này đến cánh rừng khác nhắm tìm một người như thế. Cuối cùng anh gặp một người chăn cừu trên núi có sự ngây thơ trong trắng trong đôi mắt sáng và gương mặt thanh tú với nét siêu linh. Chỉ cần liếc nhìn anh cũng đủ để tin rằng Thượng đế tiềm ẩn nơi nhân loại.

Người họa sĩ vẽ một bức họa về người chăn cừu trẻ tuổi này. Hàng triệu bản sao của bức họa này đã được bán sạch, thậm chí ngay cả ở những khu vực xa xôi. Mọi người cảm thấy hạnh phúc khi có thể treo bức họa này trên tường nhà mình.

Hai mươi năm sau, người họa sĩ đã già, một ý tưởng khác chợt nảy ra trong tâm trí ông. Theo kinh nghiệm sống của ông, nhân loại không hòan toàn ngoan đạo; ma quỷ vẫn tồn tại trong họ. Ý tưởng này làm nảy sinh dự định vẽ một bức tranh nhằm phản ánh hình ảnh ma qủy trong con người. Hai bức họa này, ông nghĩ, sẽ bù trừ cho nhau, đại diện cho toàn nhân loại.

Ở tuổi già, ông lại lên đường tìm kiếm. Lần này ông muốn tìm một người không phải là người mà là ma quỷ. Ông đến các khu nhà ổ chuột, các quán rượu, các nhà thương điên. Người này cần phải có ngọn lửa của địa ngục; gương mặt của anh ta phải thể hiện được nét tàn bạo, xấu xí, ác dâm. Ông tìm kiếm hình ảnh của tội lỗi. Trước đây ông đã vẽ nên hình ảnh về sự hóa thân của loài quỷ dữ.

Sau khi tìm kiếm thật lâu, cuối cùng ông tìm được một tù nhân. Người tù này phạm bảy tội giết người và bị kết án treo cổ trong vài ngày tới. Ngọn lửa địa ngục đang bùng cháy trong mắt hắn; hắn trông giống như hiện thân của tội ác. Gương mặt của hắn là gương mặt xấu xí nhất mà bạn có thể hình dung ra. Người họa sĩ bắt đầu vẽ hắn.

Khi hoàn tất bức họa, ông mang bức họa trước đây ra đặt bên cạnh để đối chiếu. Nhìn từ góc độ nghệ thuật thì thấy khó có thể xác định được bức họa nào tốt hơn bức họa nào; cả hai đều là kiệt tác. Người họa sĩ đứng đó, mắt nhìn trừng trừng vào hai bức họa. Chợt ông nghe thấy tiếng khóc thút thít. Ông quay lại và trông thấy người tù bị xiềng xích đang khóc nức nở. Người họa sĩ vô cùng bối rối. Ông hỏi: “Này chàng trai, tại sao anh lại khóc? Hai bức tranh này khiến anh buồn sao?”

Người tù đáp: “Tôi vẫn luôn cố gắng che đậy một điều trước mặt ông, nhưng hôm nay tôi không thể giấu diếm được nữa. Bức họa thứ nhất cũng là bức họa về tôi. Cả hai bức tranh này đều vẽ khuôn mặt của tôi. Tôi chính là người chăn cừu mà ông đã gặp cách đây hai mươi năm trên ngọn đồi kia. Tôi khóc vì sự suy vong của mình trong suốt hai mươi năm qua. Tôi đã rơi từ thiên đàng xuống địa ngục.”

@ Suy ngẫm

Cuộc sống con người đều có hai mặt. Trong mỗi con người cả thiên thần lẫn quỷ dữ tồn tại; trong mỗi con người luôn có thiên đàng lẫn địa ngục Trong mỗi con người luôn tồn tại những bông hoa xinh đẹp lẫn những đầm lầy xấu xí. Mỗi người đều liên tục dao động giữa hai thái cực này, nhưng hầu hết mọi người đều xuất hiện bên bờ địa ngục. Rất ít người có đủ can đảm để thiên đàng phát triển trong chính mình.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Lòng người hay luôn đổi thay

Khi là thiên thần khi thay quỷ ma

Chúa muốn con là thiên thần

Ngài luôn trợ giúp từng ngày cho con.

Mỗi ngày chọn lựa tự do

Sống sao cho tốt sống cho tình Ngài

Xin Mẹ phù giúp cho con

Chọn lựa cách sống cho trọn yêu thương. Amen.

May be art of 1 person

Tâm Vạn Biến…

GÓC SUY GẪM

Tâm Vạn Biến…

Người ta sinh ra thi yếu mềm,khi chết thì cứng lại .

Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu,khi chết thì khô cứng,

Cho nên cứng rắn,cáu giận là biểu hiện của chết,mềm dẻo,khiêm nhường là dấu hiệu của sự sống…

Ta hãy thay đổi 1 chút về quan niệm sống .

Để biết cho đi là nhận, là còn mãi….

Để biết tha thứ cũng là tự giải thoát cho mình.

Để biết mở rộng trái tim ra sẽ dễ chịu hơn là khép lại nó sau những tổn thương.

Để ta học được chân thành với người khác,cũng là đối với bản thân ta….

Để ta biết rằng yêu thương không bao giờ là dư thừa cả…

Đừng mất thì giờ phân định việc thị phi cho rành mạch đen trắng trong khi tất cả đều chỉ là tương đối trong tục đế mà thôi.

Cái đúng với người này có thể sai với người khác,

Cái phải ở chỗ kia có thể trái ở nơi nọ,

Cái đang đúng lúc này không hẳn sẽ đúng về sau…

Duyên phận giữa người với người thật sự rất sâu,

có thể gắn bó đến ngàn năm,

mặc cho phong trần lên xuống,

ôm mãi một mối tình không đổi.

Duyên phận giữa người với người cũng rất cạn,

chẳng qua là một khoảnh khắc gặp gỡ,

xoay người liền vĩnh viễn thành người lạ.

Duyên sâu sẽ hợp, duyên cạn sẽ tan,

Vì thế, phải chăng là nên lấy tư thái an tĩnh,

mỉm cười nhìn chuyện người chuyện đời chuyển biến,

nhìn lá rụng rời cành hôm nay …

thành mầm non nảy xanh biếc trên đầu cành ngày mai?

Sưu tầm

May be an image of body of water and text

Thiên Thần Bản Mệnh

Thiên Thần Bản Mệnh:

Thánh Giêrônimô thành Nyssa nói : “Chúa biết ác tâm của các thần dữ đang tìm cách ngăn trở không cho ai vào chỗ của chúng đã mất trên trời, nên Người ban cho mọi người chúng ta một thiên thần bản mệnh, để chống lại các nỗ lực của kẻ thù phần rỗi chúng ta”

Lính mục Công Giáo tên Lamy kể lại rằng. Một phụ nữ Công Giáo đạo đức xin tôi đến ban bí tích Xức Dầu Thánh cho chồng bà. Ông đau nặng, nhưng chưa hẳn ở vào giai đoạn cuối đời. Dầu vậy, bà ước ao cho chồng được lãnh nhận Bí Tích Bệnh Nhân khi còn tỉnh táo. Bà tự nhủ:

“Đâu ai biết được giờ chết sẽ xảy đến thình lình như thế nào!”.

Tôi nhận lời đến ngay, nhưng không mang theo dầu thánh, sợ gây hoảng sợ cho người bệnh. Lúc đến thăm, tôi ngạc nhiên khi thấy chính ông chồng ngỏ lời xin tôi ban phép bí tích sau cùng cho ông. Tôi vội vàng ra về và hứa sẽ trở lại ngay, mang theo Dầu Thánh. Bà vợ nói với tôi:

– “Thưa cha, con khép hờ cánh cửa ra vào. Khi nào đến, xin cha cứ tự tiện đẩy cửa vào nhà”.

Nhà hai ông bà ở trong một chung cư nơi lầu 6. Vào thời kỳ đó, các chung cư chưa có thang máy.

Một giờ sau, tôi bước vội lên cầu thang nhưng vô ý không tính xem mình đang ở lầu mấy. Bất ngờ tôi thấy trước mặt một cánh cửa khép hờ. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Một người đàn ông đang nằm trên giường, không giống người đàn ông lúc nãy, nhưng tình trạng bệnh hoạn lộ vẽ trầm trọng rõ ràng. Tôi lúng túng xin lỗi và chào thăm ông. Không ngờ, người bệnh như tỏ dấu hài lòng trông thấy một linh mục Công Giáo. Ông nói ngay:

– “Cha có biết không? Từ một tuần nay, con nài nĩ nhà con mời một linh mục đến cho con gặp. Nhưng nhà con cương quyết từ chối. Bởi lẽ cả hai vợ chồng chúng con đều là kẻ vô thần. Riêng con, ý nghĩ biết mình sắp chết khiến con kinh hoàng. Con liền tìm cách trở về với đức tin con nhận lãnh trong thời thơ ấu. Nhà con không đồng ý với con”. Nhà con nói:

– “Hễ là kẻ vô thần thì phải vô thần cho đến chết! Không có chuyện ‘tôn giáo nhảm nhí’ vài giây phút cuối đời!”. Thấy nhà con một mực từ chối, con liền quay sang khẩn khoản nài van Thiên Thần Bản Mệnh con cứu giúp. Con nhớ lại bài học giáo lý ngày con còn nhỏ về sự trợ giúp của Thiên Thần Hộ Thủ”.

Và Thiên Thần Bản Mệnh đã ra tay cứu giúp. Bà vợ của ông vừa ra khỏi nhà, nhưng quên đóng cửa lại. Còn tôi, tôi lại đi lộn cửa, vào nhằm nhà của ông. Tôi vui mừng nghe câu chuyện ông vô thần vừa kể. Tôi giúp ông dọn mình nhận lãnh các bí tích sau cùng. Tôi trao cho ông Mình Thánh Chúa làm của ăn đàng.

Xong xuôi đâu đó, tôi cẩn thận khép kín cửa lại và tiếp tục leo cầu thang lên lầu 6, nơi người bệnh thứ nhất đang chờ đợi tôi. Vừa đi tôi vừa đọc kinh cầu cùng Thánh Thiên Thần Bản Mệnh: “Lạy Thiên-Thần Chúa là đấng gìn giữ con. Xin Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen”.

ST.

Lenin & Andropov

Lenin & Andropov

 Theo thứ tự alphabetique xin được ghi lại đôi dòng về Andropov trước. Tôi cũng chỉ mới được nghe nhắc đến tên trong tập bút ký (Đồng Bằng) của nhà văn Nguyên Ngọc, qua những trang viết về một địa phương hẻo lánh – có tên là Rạch Gốc – nằm tuốt luốt dưới cái mỏm đất cực Nam của đất nước mình.

Rạch Gốc chẳng chợ búa gì hết, mọi thứ phải chạy đò lên Năm Căn mua… Một buổi sáng, bước ra trước sân Ủy ban, tôi ngạc nhiên thấy treo cờ tang.

Hỏi sao vậy … trả lời: Ông Andropov chết.

Tôi hỏi lại: Ông Andropov là ai thế?

Trả lời: Không biết, nghe đài Hà Nội biểu treo cờ tang thì mình treo…

Cờ tang cho ông Andropov nào đó treo rất đúng quy cách, chỉ kéo tới nửa cột, thòng kèm một dải vải đen nhỏ phất phơ trong gió biển…”

Cái ông (“Andropov nào đó” ) nghe tên cũng có vẻ hơi quen quen nhưng tôi không nhớ được chính xác là cha nội nào cả. Nhẩy vô google chút xíu mới hết hồn, hết vía. Té ra đây là đồng chí lãnh đạo (“thứ dữ”) trong Thế Giới Vô Sản, kẻ kế nhiệm Leonid Brezhnev, chớ đâu phải thường dân.  

Dù chỉ tại chức một thời gian rất ngắn (rồi qua đời vì trọng bệnh) nhưng nhân vật này vẫn rất nổi tiếng vì có… bàn tay sắt:

  • Andropov là giám đốc KGB đầu tiên trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
  • Andropov là chính phạm trong vụ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng Hungary, Tiệp Khắc, và tất cả những hoạt động của giới bất đồng chính kiến tại Liên Xô.
  • Andropov cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định tiến đánh Afghanistan, vào năm 1979.

Hung hăng và hung dữ dễ sợ! Hèn chi mà nhà đương cuộc Hà Nội ra lệnh cho cả nước phải treo cờ rũ, sau khi thằng chả chuyển qua từ trần, vào ngày 9 tháng 2 năm 1984. Đúng cái hôm mà Nguyên Ngọc ghé qua Rạch Gốc.

Nhà văn của chúng ta cho biết thêm:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo… mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay.”

Vậy mà sau khi cách mạng thành công thì các ông “đầu lĩnh” – kể cả bác Lê, lẫn bác Tôn – đều quên béng cái mảnh đất thấm đậm tình nghĩa (và ơn nghĩa) này. Gần mười năm sau, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Rạch Gốc vẫn chưa có điện nước và “chợ búa gì hết” ráo.

Ấy thế nhưng lệnh lạc từ Hà Nội, dù chỉ được truyền đi qua đài phát thanh, vẫn được chính quyền địa phương tuân hành răm rắp. Các anh ở trên “biểu treo cờ tang thì mình treo” liền, dù không ai biết Andropov là thằng cha (mẹ rượt) nào cả, vì “có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu ” – vẫn theo như lời Nguyên Ngọc.

Ngay tại Thủ Đô thì các đồng chí lãnh đạo cấp trung ương còn nhanh nhẩu hơn nhiều. Dù tượng đài của Lenin đã bị đập vỡ đầu, sứt trán ở rất nhiều nơi, và dù đài phát thanh từ Moscow chưa bao giờ nhắc nhở các nước chư hầu phải kỷ niệm cuộc Cách Mạng Tháng Mười (và ca tụng công đức của cha đẻ ra nó) nhưng Hà Nội vẫn nghiêm trang tổ chức lễ lạc đều đặn từ ấy hơn nửa thế kỷ qua.

Báo chí vẫn long trọng loan tin: Sáng nay 5-11, tại Hà Nội, 3.500 đại biểu đã tham dự Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia… Đọc diễn văn kỷ niệm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Cách mạng Tháng Mười Nga đã “làm rung chuyển thế giới” phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại.… đã sáng tạo ra một kỷ nguyên mới của nước Nga…

Loa, đài vẫn không ngớt tung hô khẩu hiệu:

Lenin – Ngọn hải đăng vĩ đại của nhân dân lao động

Lenin – nhà tư tưởng vĩ đại

Sự kiện này, xem chừng, có khiến cho nhà báo Từ Thức hơi bị phiền lòng:

“Cái anh Lenin khát máu của một thời đại tưởng đã thuộc về dĩ vãng đó, tập đoàn cầm quyền Hà Nội đã dựng dậy làm bùa hộ mệnh… Trong dịp tưởng niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10, hiện tượng không đâu có, kể cả ở Nga, là cả tập đoàn lãnh đạo VN, không thiếu một mạng, đã kính cẩn xếp hàng tri ân và nguyện sẽ trung thành với chủ nghĩa Lenin.”

Cùng lúc, nhà báo Chu Vĩnh Hải cũng gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, ghi lại vài dòng tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không “thú vị” nhưng khá bất ngờ:

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

– Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

Thực sự thì cũng chả cần đến qúi vị nhà văn, nhà báo, sử gia nhắc nhở hay nhắc nhỏ gì đâu. Cứ nghe đồng dao trên hè phố Việt Nam cũng đủ biết là ngay cả đến nhi đồng ở xứ sở này cũng đã tỏ tường về Lenin tự lâu rồi:

Ông Lê Nin ở nước Nga
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này
Ông vênh mặt, ông chỉ tay:
Tự do hạnh phúc chúng mày còn xa
Kìa xem gương của nước Nga
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì!

Tuy không “ra đếch gì” cho dân chúng nhưng lợi quyền mà cuộc Cách Mạng Vô Sản mang đến cho các đồng chí lãnh đạo thì không hề nhỏ. Bởi thế, họ vẫn giữ gìn lá “bùa hộ mệnh” hết sức cẩn thận với khói nhang thờ cúng rất trang nghiêm.

Hai thập niên trước, Phó Chủ tịch HĐBT Trần Phương phàn nàn: “Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ đầu óc của bọn mình vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx – Lenin.” Đến nay thì vẫn y như thế chứ nào có khác chi, và đây là “tình trạng chung của cả nước,” chớ chả riêng gì cái đám ngư dân Rạch Gốc.

Why?

Các anh ở trên cần thêm một con ma xó để giữ ghế cho nó chắc ăn, dù giữa làng Ba Đình đã có một con ma nằm sẵn trong lăng rồi. Ma nhà xem chừng mỗi lúc một kém thiêng nên cần thêm tới ma … quốc tế.

Tưởng Năng Tiến
5/2021

 Truyền- Đơn Người

 Truyền- Đơn Người

Lê Xuân Cảnh

Nhân Memorial Day là ngày nước Mỹ tưởng-niệm các chiến-sĩ đã chết khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ, chúng ta không quên tưởng-niệm gần ba trăm ngàn thuyền-nhân Việtnam đã bỏ xác ngoài biển Đông khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ.

Sẽ có người đặt câu hỏi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên thì có dính dáng gì đến việc phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ?

Dưới đây là câu trả lời rất chủ-quan của chúng tôi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên đã phục-vụ cho quốc-gia lãnh-đạo thế-giới tự-do là Hoa-kỳ trong việc chống lại sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản trên toàn-cầu.

“Những cái chết tức-tưởi của thuyền-nhân Việt trên đường trốn chạy Cộng-sản là thông-điệp mạnh-mẽ nhất được gửi đi khắp nơi để cho loài người trên trái đất này nhìn thấy Cộng-sản là gì mà anh em cùng một dòng máu, anh em cùng một màu da, anh em cùng một ngôn-ngữ, anh em cùng một quê-hương, anh em cùng một lòng yêu quí sự thống-nhất đất nước và độc-lập xứ sở của dân-tộc mình đã không sống với nhau được, đã phải bỏ nước ra đi bằng mọi giá, chỉ vì người anh em bên kia của mình là người Cộng-sản không giống ai. Ít nhất là trong hơn một thập-niên sau biến-cố 30 tháng Tư năm 1975.”

“Giữa anh em trong một nước với nhau mà còn không sống với nhau được, vậy thì ngụy-thuyết Cộng-sản với chủ-trương sống đại-đồng giữa các quốc-gia là một điều khôi-hài, hoang-tưởng.”

LXC

Truyền-đơn giấy chỉ có tác-dụng nhỏ, rất hạn-chế trong khu-vực được rải xuống hoặc được chuyền tay nhau, rất giới-hạn.

Truyền-đơn người, với qui- mô rộng lớn hơn, nhất là với sự tiếp tay rất tích-cực của những hãng truyền-thông lớn trên thế-giới ra rả quảng-bá liên-tục cả thập-niên từ 1975, đã lan rộng và gây ảnh-hưởng rất lớn, nếu không nói là lớn nhất trong công việc chống Cộng-sản toàn-cầu.

Hình-ảnh những chiếc ghe đánh cá nhỏ bé như chiếc lá chòng-chành chất chồng cả trăm người nhét chật hơn cá hộp chịu đựng bão tố khắc-nghiệt trên đại-dương mênh mông, tin-tức về những người vượt-biên được kể lại qua các cuộc phỏng-vấn thuyền-nhân người Việt còn sống sót của Cao-ủy Tị-nạn Liên-hiệp-quốc nói về việc người gần chết rình chia nhau ăn thịt người sắp chết, về việc hải-tặc cướp bóc hãm-hiếp thuyền-nhân, rõ ràng là những truyền-đơn người này có tác-dụng mạnh mẽ cho thấy Việt-nam là một bằng-chứng hùng-hồn nhất về sự thất-bại về lâu về dài của chủ-thuyết Cộng-sản, dù cho họ có chiến-thắng về mặt quân-sự.

Những cái chết của gần ba trăm ngàn người Việt liều mạng trốn chạy Cộng-sản kia đã ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, thập-niên qua thập-niên, gây nhức nhối con tim loài người, đánh động lương-tri nhân-loại, trong số đó có lương-tri của một người Cộng-sản thức-thời, Tổng-bí-thư Mikhail Gorbachev của Nga, người đã bắt tay Tổng-thống Ronald Reagan của Mỹ, và cả hai phối-hợp nhịp nhàng với Pope John Paul ll của Vatican đã cùng nhau dựt sập bức tường ô-nhục Berlin và dẫn đến sự sụp-đổ hoàn-toàn của toàn-bộ khối Cộng-sản Đông-âu.

Gần ba trăm ngàn xác chết của thuyền-nhân Việt bị tử-nạn trên đường trốn chạy Cộng-sản này là những TRUYỀN-ĐƠN NGƯỜI đã cảnh-tỉnh và giúp những người còn mơ ngủ hiểu rõ Cộng-sản là gì, từ đó giúp chống lại chủ-nghĩa Cộng-sản một cách hữu-hiệu nhất.

TỰ-PHÁT HAY DO TÍNH TOÁN?

Hơn một triệu rưỡi người Việt vượt-biên trong đó gần ba trăm ngàn thuyền-nhân đã chết tức tưởi ngoài biển Đông vào thập-niên 80 đã là những truyền-đơn người sống động nhất vạch rõ cái xấu xa của Cộng-sản cần phải tránh xa và cái tốt đẹp của thế-giới tự-do cần phải tìm đến bằng mọi giá, ngay cả việc có thể phải đổi cả mạng sống của mình.

Câu hỏi được đặt ra:

Đây là loại truyền-đơn người tự-phát, hay đây là sản-phẩm của người Mỹ trong cuộc chiến-tranh ý-thức-hệ?

Nhiều người cho rằng chính người Mỹ khi rút quân ra khỏi chiến-trường VN, tạm-thời chấp-nhận thua cuộc về mặt quân-sự đã âm-mưu cài dùng người Việt chống Cộng-sản ở lại để dấy động một phong-trào vượt-biên, chịu khổ sở chết chóc trên biển Đông để thế-giới tự-do có phương-tiện tuyên-truyền chống Cộng-sản.

Hãy nghe vị đại-sứ Mỹ cuối cùng tại VN trước biến-cố 30 tháng Tư, 1975, Graham Martin nói trong “Tears Before The Rain”, một tập sử-liệu về sự sụp đổ của miền Nam Vietnam được thu-thập qua những cuộc phỏng-vấn các nhân-vật có liên-hệ đến cuộc chiến thực-hiện bởi Larry Engelmann, một giáo-sư sử-học tại San Jose State University, California. Sách được dịch bởi Nguyễn Bá Trạc và xuất-bản năm 1990 (cùng năm với sự qua đời của Graham Martin.)

“Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại-trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ-tá của tôi.

Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng-ý ấn-định thời-hạn cho chúng tôi rút: Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa-thuận.”

Vậy thì vì sao vị đại-sứ này đã rời Saigon vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư, theo lệnh của Tổng-thống Mỹ lúc bấy giờ là Gerald Ford, bỏ lại gần 400 quân cán chính người Việt và Nam-hàn đã ở bên trong tòa đại-sứ cả ngày hôm trước mà mạng sống sẽ bị đe dọa một khi Cộng quân vào đến Saigon ?

Ngay cả việc thế-giới tự-do lơ là trong việc cứu vớt người vượt-biên ngoài biển cả khi các tàu buôn lớn bỏ chạy luôn không cứu vớt thuyền-nhân, ngay cả việc thế-giới tự-do làm ngơ để cho hải-tặc Thái-lan hoành-hành tại vịnh Thái-lan, tất cả những lơ-là đó không phải là không có mục-đích.

Rõ ràng càng gây hiểm nguy cực-kỳ cho thuyền-nhân trong việc vượt biển bao nhiêu, người Mỹ càng cho cả thế-giới nhìn thấy rõ hơn bấy nhiêu là Cộng-sản là con quái-vật gì mà dân cùng một nước không thể sống chung được, phải trốn chạy, dù biết nguy-hiểm đến chết người vẫn cứ bỏ đi.

Thái-lan là đệ-tử ruột của Mỹ, nếu Mỹ muốn bóp mũi bọn hải-tặc mà đa-số là lính biên-phòng và dân đánh cá Thái, chỉ cần một cú phone từ đàn anh Mỹ.

Nhưng dẹp bỏ hải-tặc để làm gì trong khi duy-trì nó có lợi cho việc tuyên-truyền chống Cộng-sản hơn.

Phải chăng Boat People cũng là Best Propaganda ? BP.

Hơn một thập-niên sau đó người Mỹ đã gặt hái được một thắng-lợi chính-trị vĩ-đại khi chủ-nghĩa Cộng-sản bị khai-tử tại liên-bang Sô-viết và các nước chư-hầu Đông-âu.

Không tốn một viên đạn!

Không tốn một giọt máu.

Chỉ có sự hy-sinh của gần ba trăm ngàn người Việt chúng ta trên biển Đông.

Và gần sáu chục ngàn lính Mỹ chết trước đó trong cuộc chiến với Bắc-việt tại Việt Nam mà chúng ta tưởng-niệm hôm nay.

Thuyết âm-mưu này có thật hay không?

Hay chỉ là một sự diễn-biến trùng-hợp tự-nhiên.

Xin quí anh chị vui lòng bỏ vài phút cùng chúng tôi, một truyền-đơn người may mắn không bỏ mạng trên con đường trốn chạy Cộng-sản, cùng ngược dòng lịch-sử trở lại Saigon ngày 29 tháng Tư năm 1975.

MỘT ÂM-MƯU CỦA MỸ?

HAY CHỈ LÀ MỘT CUỘC DI-TẢN TỒI?

Sáu giờ ba mươi sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi

vào được bên trong sân sau của toà đại-sứ Mỹ tại Saigon.

Dân chúng muốn di-tản đã phá cổng ùa vào khi toàn-bộ lính Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ có nhiệm-vụ bảo-vệ tòa đại-sứ đã rút hết vào bên trong toà nhà chính kiên-cố, chuẩn-bị chờ trực-thăng đưa ra hạm-đội Mỹ đang neo ngoài khơi biển Vũng Tàu.

Tôi đứng lạc-lõng cạnh hồ bơi, nước mắt ràn rụa.

Nhìn những hộp giấy đựng thức ăn dở, muỗng nĩa nhựa chai lon vứt bừa bãi tung toé trên hồ bơi, tôi biết chúng là một trong những thành-phần đang sống trong thành-phố Saigon không muốn di-tản. Chúng sẽ ở lại với Cộng-sản và những người bị kẹt lại như chúng tôi.

Khi cánh cửa bên hông tòa đại-sứ mở ra, hàng trăm người, đàn ông thì complet cà-vạt đàng-hoàng tay xách samsonite, đàn bà thì váy đầm váy điết đẹp đẽ nách mang ví bóp hợp thời-trang, ngay cả con nít quần áo cũng rất chỉnh-tề, úa ra sân và lục-tục bỏ ra cổng trước phía đường Thống Nhất, hốt-hoảng lo kiếm đường về nhà hoặc vội-vã chạy ra bến Bạch Đằng kiếm đường thoát thân bằng cách leo lên những tàu buôn dân-sự đang neo tại đó. Một số đã đi được vào giờ phút chót bằng con đường này.

Không ai buồn nhìn lại toà nhà kiên-cố mình đã sống chết trong đó cả ngày mà không được Mỹ bốc đi.

Họ là những người có tên trong danh-sách cần phải được di-tản vì mạng sống sẽ bị đe dọa nếu ở lại.

Chiếc cổng trước mở toang, chả bù với trước đó vài giờ, quân-cảnh và lính Thuỷ-quân lục-chiến Mỹ súng ống đầy đủ, nhất là lựu đạn thì đeo đầy người đang phải đối-phó với hàng ngàn người Việt bên ngoài cổng đang chen lấn xô đẩy nhau cố trình giấy tờ vào phút chót để được cho vào bên trong toà đại-sứ với hy-vọng được di-tản vào giờ chót bằng trực-thăng ra đệ Thất hạm-đội Mỹ đang neo tại ngoài khơi Vũng Tàu, mất khoảng ba mươi phút bay.

Tôi đã đứng chen lấn với đám đông người ngay trước cổng sắt của toà đại-sứ Mỹ này từ tối hôm trước, chỉ mong tìm cách lọt vào bên trong sân lúc đó đang lốn nhốn đầy ngập người. Tôi không biết có được cho vào không vì trong người chỉ có cái căn-cước có hình và một cái bùa rất tồi là cái business card có tên mình và logo của Vietnamese American Asociation (VAA). Tôi có cơ-hội cộng-tác với Phòng Văn-hoá của hội để phụ-trách một lớp dạy đàn Tây-ban-cầm cổ-điển tại đây.

Trước đó, tại điểm hẹn do VAA thông-báo cho các nhân-viên của hội tập-họp lại để được đón đi di-tản, chúng tôi chờ mãi chả thấy bóng dáng một chiếc trực-thăng nào đỗ xuống.

Có khi nào những chiếc trực-thăng này đã đi đón những người ba Tàu giàu có đã đóng vàng hoặc dollars để được đi? Hay thật ra cũng chẳng có máy bay trực-thăng nào ráo.

Ban giám-đốc của VAA đã ra đi và nhân-viên của VAA tụ-họp lại với nhau tại những địa-điểm tập-trung coi như giả nay đầy những tiếng chửi thề thật.

Chúng tôi chửi Mỹ bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng “Đan Mạch” cho nên cả bọn nghe với nhau thật đầy đủ, thấm-thía, không sót một chữ. Toàn là những nhân-viên làm việc tại phòng VĂN-HÓA nên nghe nhau chửi thề rất là thú-vị. Phải nói là VAA đã tuyển chọn lầm người vào làm công việc văn-hóa cho hội.

Các ông họa-sĩ chửi nhiều nhất, nhất là các ông có mang theo những bức tranh quí giá của mình vẽ, tưởng sẽ có dịp được triển-lãm ở Mỹ nay mai !?

WHO CARES?

Suốt đêm 29 rạng 30 đứng bên ngoài hàng rào của toà đại-sứ Mỹ trên đường Thống-nhất nghe tiếng rì rầm của những chuyến trực-thăng đến và đi trên nóc toà đại-sứ Mỹ lúc bấy giờ đang rực sáng do lửa cháy mà theo Wikipedia (Operation Frequent Wind) là do nhân-viên toà đại-sứ vừa đốt hủy tài-liệu mật và năm triệu dollars Mỹ vừa để hướng-dẫn trực-thăng thấy đường đáp xuống. Tài-liệu mật bị đốt thì có lý. Năm triệu dollars thì chắc bị đốt trên báo-cáo cho đúng nguyên-tắc. Cũng theo tài-liệu này thì cứ cách 10 phút lại có một chiếc trực-thăng đáp xuống để bốc người đi.

Bắc-việt đã thỏa-thuận không can-thiệp vào việc di-tản cho đến ngày 3 tháng Năm, chỉ mong sao Mỹ và chúng ta rút nhanh để họ sớm vào Saigonmột cách êm-ái. Cuộc pháo-kích vào phi-trường Tân Sơn Nhất ngày 28 và 29 có lẽ đã không xảy ra nếu trước đó không có việc ba chiếc phản-lực-cơ nặng ký F-5 bay qua Thái-lan, trái với thỏa-ước là Mỹ phải để lại toàn-bộ các máy bay chiến-đấu cho VC.

Đến 7:35 sáng thì việc di-tản tại toà đại-sứ Mỹ chấm dứt. Một TQLC Mỹ từ trên nóc nhà toà đại-sứ vứt một quả lựu đạn cay xuống hồ bơi và chiếc trực-thăng cuối cùng rời nóc toà đại-sứ, bỏ lại bên dưới hàng trăm người đã ở bên trong toà đại-sứ suốt cả ngày hôm qua.

Chắc chắn những người này sẽ là những người tiền-phong dấy động việc tìm đường vượt-biên, và không biết ai trong bọn họ sẽ là truyền-đơn người còn sống sót sau cuộc vượt biển.

THÂN-PHẬN CỦA CON DÂN MỘT NƯỚC NHƯỢC-TIỂU.

Bây giờ nhìn lại, sau gần nửa thế-kỷ, ngoài gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta đã phải bỏ mình trên đường vượt-biên, phần còn lại trong chúng ta đã may mắn đến được bến bờ tự-do, không còn là công-dân của một nước nhược-tiểu mà số-phận luôn bị định-đoạt bởi các cường-quốc trên thế-giới nữa.

Dù là một âm-mưu chính-trị tinh-vi có tính-toán của người Mỹ dùng thuyền-nhân Việt làm truyền-đơn sống chống Cộng-sản, dùng Boat People như một Best Propaganda để tuyên-truyền ngăn cản sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản; hay chỉ là một cuộc di-tản quân-sự tồi dẫn đến một phong-trào vượt biên trốn chạy Cộng-sản

thi đối với người Việt tị-nạn chúng ta, rõ ràng đây là một sự-kiện lịch-sử có tính Tiền Hung Hậu Kiết.

Trong cái rủi có cái may.

Không có cuộc đổi đời này, làm sao ngày nay chúng ta thấy được có những người cha người mẹ trước đây vốn gốc nông-dân hay làm nghề chài lưới ở VN, nay hành-nghề cắt cỏ hay làm Nail tại Mỹ nuôi dạy con thành bác-sĩ, kỹ-sư, dược-sĩ, chuyên-viên giỏi không thua kém bất-kỳ sắc dân nào trên thế-giới.

KẾT.

Việc bỏ nước ra đi, chấp-nhận cái chết, chấp-nhận bị cướp bóc hãm hiếp đã nói lên cho cả thế-giới, ngay cả thế-giới Cộng-sản, thấy là Cộng-sản là cái gì mà cùng một màu da cùng một dòng máu mà con người ta vẫn không sống với người anh em của mình được.

Tác-dụng của những cái chết ngoài biển Đông của hàng trăm ngàn người Việt hy-sinh ngoài biển cả phải chăng là tác-dụng tuyên-truyền mạnh nhất, hữu-hiệu nhất cho công việc chống Cộng trên toàn thế-giới.

Và chúng ta không là truyền-đơn người là gì?

Nay chúng ta là Mỹ GIẤY, là Úc GIẤY, là Pháp GIẤY, là Bỉ GIẤY, là Đức GIẤY, là Ý GIẤY, là Hoà-lan GIẤY, là Anh GIẤY, là Canada GIẤY, là vv….và ….vv….

Nhưng chúng ta là những truyền-đơn NGƯỜI THẬT hãy còn sống, không vô-tri vô-giác như giấy.

Chúng ta luôn nhớ đến gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta, những truyền-đơn NGƯỜI đã vĩnh-viễn ra đi, những chiến-sĩ chống Cộng hữu-hiệu nhất trên hành-tinh này là những người xứng-đáng cho chúng ta tưởng nhớ, không những trong ngày lễ Memorial Day, mà còn trong những ngày nào chúng ta còn sống.

Truyền-đơn người sống còn đây,

Khóc truyền-đơn người chết thây không mồ,

Biển khơi sóng biếc nhấp nhô,

Hồn người năm cũ bây giờ nơi đâu ?

Lê Xuân Cảnh.

(Memorial Day, 05/31/2021)

May be an image of flower, nature and sky

Không nên

  1.  Không nên đánh giá người khác tốt xấu thế nào, bởi vì tốt xấu của họ không ảnh hưởng tới miếng cơm manh áo của bạn.
    2. Không nên đánh giá đức hạnh của người khác, bởi vì có thể có những khía cạnh họ còn cao quý hơn bạn.
    3. Không nên đánh giá gia đình của người khác, bởi vì những người đó và bạn không có quan hệ.
    4. Không nên đánh giá học vấn của người khác, bởi vì trên đời này kiến thức là mênh mông.
    5. Không nên đánh giá bất kỳ người nào, cho dù người đó là người bạn xem thường nhất.
    6. Không nên lãng phí tiền bạc, bởi vì ngày mai bạn có thể thất nghiệp.
    7. Không nên vênh váo, tự đắc, bởi vì có thể ngày mai bạn thất thế.
    8. Không nên nói quá phô trương, phải biết rằng bạn cũng chỉ là một người nhỏ bé.
    9. Không nên dựa vào người khác, bởi vì cuộc sống nhiều gánh nặng, ai cũng muốn sống nhẹ nhõm.
    10. Không nên làm tổn thương người khác, nhân quả sớm muộn đều sẽ đến.
    11. Không nên quá chú tâm giải thích đúng sai, hãy làm bậc trí giả. Trên đời chúng ta thường nghĩ cách giải thích cái gì đó. Nhưng mà, một khi giải thích, ta lại phát hiện rằng, bất kể ai giải thích đều là người yếu ớt, thậm chí sẽ càng bôi nhọ mình hơn.
    Núi dẫu không nói rõ độ cao của mình, thì độ cao của nó cũng không hề bị ảnh hưởng; biển không nói rõ độ sâu của mình, thì việc dung nạp trăm sông đổ dồn về nó cũng không có gì là trở ngại; mặt đất dẫu không nói rõ độ dày của mình, thì cũng không có ai có thể thay thế nó làm chỗ dựa cho vạn vật được…Đừng đánh giá thấp bất kể ai, bạn không có nhiều khán giả, đừng mệt mỏi như vậy.
    12. Không nên tự nhiên nổi giận, vì không phải ai cũng là “con nợ” bạn. Có thể hiện tại bạn đang rất thống khổ, nhưng khi vượt qua khoảng thời gian ấy, nhìn lại bạn sẽ phát hiện kỳ thực điều đó cũng chẳng là gì. Chúng ta thường phàn nàn cuộc sống bất công với mình, nhưng thực ra cuộc sống căn bản không biết được chúng ta là ai.
    13. Không nên nói rằng ai tu luyện tốt hay không tốt. Tu hành là việc cá nhân, người khác chính là một cái gương phản chiếu chính cái thiếu sót trong tu luyện của bản thân mình.                                                                                                                VietBF@sưu tập                                                                                                         From: Tu-Phung

ĐI HỐT CỐT CHA TỪ TRẠI TÙ

 ĐI HỐT CỐT CHA TỪ TRẠI TÙ

Câu chuyện sau đây có thể không liên quan nhiều đến nước Mỹ nhưng là một trong những mãnh vỡ cuộc đời của một đứa con người tù cải tạo sau ngày thất trận bi thảm 1975. Là lý do của những cuộc ra đi và định cư tại miền đất cách xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất.

***

Ngày đưa ba đi trình diện học tập dành cho “sĩ quan nguỵ quân” tại trường Chu Văn An năm 1975, là khoảnh khắc cuối cùng mẹ nhìn thấy mặt ba còn sống. Chuyến đi tưởng chỉ 10 ngày trở thành 2 năm 6 tháng chia lìa và xa nhau mãi mãi. Mỏi mòn chờ đợi để cuối cùng chỉ được ôm xác người chồng yêu thương lần cuối cùng ở một trại cải tạo ngút ngàn tận cùng biên giới Việt Trung.

Tháng hai năm 1979, trở về Sài Gòn sau khi để lại ba nằm hiu quạnh trong trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú, mẹ trở thành một người hoàn toàn khác hẳn. Cái tính cứng cỏi ngày xưa của mẹ giờ thêm lòng căm thù và nỗi đau mất chồng khiến mẹ trở nên điên dại. Đã có những tháng ngày mẹ không thiết tha gia đình, lang thang từ nhà ra chợ. Câu chuyện mất chồng của mẹ lan truyền nhanh chóng trong khu xóm đường Lam Sơn với toàn gia đình sĩ quan chế độ cũ. Lan truyền đến tận cái chợ nhỏ Cây Quéo cuối con đường Hoàng Hoa Thám quận Bình Thạnh. Ai cũng biết câu chuyện người đàn bà Huế mất chồng trong trại cải tạo.

Cuộc sống gian khổ, nỗi nhớ chồng quay quắt làm mẹ ngày một gầy guộc đi. Đã không còn là người đàn bà trắng trẻo mập mạp phúc hậu của khu phố sĩ quan ngày nào. Ban ngày chỉ là tạm quên, đêm về là những giây phút mẹ nhớ đến cái lặng lẽ cô độc của ba nơi miền đất phía Bắc xa xôi. Nhớ đến cặp mắt chưa kịp khép của ba trong ngày gặp mặt. Mẹ cứ hay bảo, không biết ba mày có đói hay không, áo quần có lành lặn hay không, có ai hành hạ ba mày hay không. Rồi mẹ lại khóc và mẹ lại nhớ đến cái khuôn mặt hốc hác, tiều tuỵ ngày ba qua đời. Nhớ đến hàm râu dài lưa thưa, cái thân hình gầy guộc và cái áo cũ rách nát tả tơi. Có những đêm ngồi bên cửa sổ nhìn ra khoảng tối mênh mông, mẹ lặng lẽ khóc nức nở một mình.

Những tháng năm sau đó với mẹ con tôi, thời gian qua thật dài. Không biết làm gì để an ủi mẹ ngoài chuyện cùng mẹ thay ba lo cho những đứa em còn nhỏ dại. Ngoài giờ làm việc tại Bưu Điện, vợ chồng tôi phụ me, làm đủ thứ nghề để sinh sống. Bán quần áo cũ tại chợ trời, làm bánh đậu xanh, nuôi gà trong phòng ngủ, nuôi heo trong cầu tiêu để chỉ thật mong đến ngày đủ sức đem ba trở lại quê nhà.

Cùng với những vất vả lo toan cho cuộc sống, qua thời gian, mẹ và chúng tôi phải làm quen những ngày tháng không có ba. Các em vẫn hằng ngày cắp sách đến trường. Vợ chồng chúng tôi đã có đứa con đầu tiên. Đứa cháu ra đời chưa bao giờ thấy được ông nội bằng xương bằng thịt. Mỗi khi nhìn con tôi lại nhớ đến ba. Cháu bao nhiêu tuổi, bấy nhiêu năm ba rời xa chúng tôi.

Có những ngày ăn bo bo thay cơm. Có những ngày liên tiếp không có gạo chỉ có bột mì. (Thời đó tại Sài Gòn chúng tôi phải làm quen với chế độ tem phiếu như ngoài Bắc). Tùy theo lúc, theo số người trong gia đình, có khi được cấp gạo, có khi nhận toàn bột mì, cũng có khi cả tuần nhận toàn bo bo. Mẹ xoay xở chế biến thành đủ thứ món ăn bằng bột mì cho đỡ ngán. Dù sao thì cũng không thể gian khổ bằng ba trong những ngày tù miền Bắc. Tôi tự an ủi như vậy để sống. Mẹ bề ngoài rất can trường nhưng trong lòng lúc nào cũng canh cánh nỗi lo về ba. Mẹ lúc nào cũng ao ước đem được ba về. Hết than ngắn lại thở dài.

Thường phải qua 3 năm, mới có thể dời mộ nhưng chỉ mới chưa đầy 3 năm, thương mẹ mỏi mòn trông đợi, tôi cùng mẹ xin giấy phép ra Bắc đem xác ba về.

Dĩ nhiên mọi chuyện không dễ dàng. Thời đó làm gì có cái loại giấy phép ra trại cải tạo để đem xác chồng. Lên phường xin đại cái giấy phép ra thăm ông chú còn ở lại ngoài Bắc. Cứ ra Hà Nội cái đã mọi chuyện tính sau.

Thế là sáng ngày 15 tháng 8 năm 1981, hai mẹ con khăn gói lên tàu hoả “ thống nhất”, miền Bắc trực chỉ. Ở lại nhà chú một đêm, hôm sau cùng với ông Tiến, người chuyên bốc mộ thuê do chú giới thiệu, ba chúng tôi lại lên tàu chợ Hà Nội – Vĩnh Phú tiếp tục cuộc hành trình. So với 2 lần đi thăm ba những năm về trước, chuyến đi này tương đối dễ dàng hơn. Hành lý của hai mẹ con chỉ là một cái xách tay nhỏ đựng vài bộ áo quần và một ít thức ăn khô, duy chỉ có ông Tiến là lỉnh kỉnh cuốc xẻng, mấy cái bị lác và mấy chai dầu hồi, ông bảo dùng để rửa xương.

Tướng người ông Tiến đen đúa khắc khổ nhưng nhanh nhen và vui tính. Cái giọng bắc 75 mới đầu hơi khó nghe, rồi cũng quen dần. Chuyến đi có thêm người đào mộ thuê cũng nhờ thế làm thời gian trôi qua nhanh hơn. Ông làm cái nghề này cũng đã mấy mươi năm sau cái ngày cởi bỏ áo quần bộ đội. Ai cần đào mộ là có mặt ông. Thường bốc xác lên đem đi chôn chỗ khác, cũng có khi đem đi thiêu.

Miền Bắc hồi đó có rất nhiều những ngôi mộ vô danh nằm lẫn trong các ruộng vườn. Người ta nhờ ông. Ông lại có thêm công việc tìm kiếm, đào xới, dọn dẹp và đem vào các hố chôn tập thể. Hay có khi chỉ cần tẩm dầu và đốt. Ông kể, công việc tuy vất vả nhưng cứ có hoài. Tiền thì không bao nhiêu vì dân ở đây thường rất nghèo, nhưng cũng đủ sống qua ngày.

Ông lão chép miệng. 30 năm đi lính, chỉ biết đánh nhau, xuất ngũ không có tay nghề, làm cái việc suốt ngày bên các xác chết ít người chịu được, cũng ít gian khổ hơn thời chiến tranh. Ông nói thêm, đây là lần đầu tiên có người trong Nam ra nhờ ông, lại là đào mộ của người học tập cải tạo. Tôi hỏi, người chết là sĩ quan miền Nam, sao ông vẫn nhận. Ông lão chép miệng, cũng là con người cả. Ai chết rồi cũng như nhau, hận thù gì nữa. Mà thật ra tôi có thù hận ai đâu. Ngày xưa đi lính, bảo bắn thì tôi bắn, không bắn thì chết sao ông.

Lần đầu tiên trên một miền đất với tôi chỉ là thù hận, tôi thấy một cảm giác an toàn.

Từ sáng sớm ba người chúng tôi lên ga Hàng Cỏ và đến tối thì chúng tôi đến trại K2. Sáng hôm sau chúng tôi gặp cán bộ trại xin đào lấy xác ba đem về chôn tại quê nhà và như dự đoán bị từ chối ngay. Lý do phải có giấy cho phép của cấp trên. Thời gian chờ đợi ít nhất cũng phải trên ba tháng. Hơn nữa, tay cán bộ trại giam nói thêm, ông nhà chết chưa quá ba năm chắc cấp trên không cho đâu.

Không còn cách nào khác, không lẽ lặn lội mấy ngàn cây số ra đây rồi về tay không, chúng tôi quyết định đi bốc mộ trộm. Đến lúc này mỗi khi nhớ lại tối hôm đó tôi vẫn còn rùng mình. Tôi vẫn không hiểu tại sao mình lại quyết định liều lĩnh như vậy. Đào mộ chui, chết hoặc ở tù như chơi. Có lẽ phần vì còn trẻ liều lĩnh, phần thương ba, thương mẹ và một phần do sự khuyến khích của người đào mộ thuê. Cũng may là ngôi mộ của ba nằm ngoài vòng đai trại cải tạo, nếu không ai biết trước việc gì sẽ xảy ra cho chúng tôi.

Đêm đó đợi lúc trời chạng vạng tối, trời mưa lất phất, 3 người chúng tôi đi đến khu rừng có mộ ba. Tôi vẫn nhớ rất rõ đường đi. Cũng không xa lắm vành đai trại và cũng chỉ một con đường đất nhỏ hẹp.

Vẫn không thay đổi gì nhiều, chỉ khác là cỏ mọc um tùm hơn. Cây thánh giá trước mộ vẫn còn đó, xiêu vẹo. Dấu khắc tên ba trên cây vẫn còn dù thời gian có làm mờ đi. Và cũng chỉ duy nhất một mình ngôi mộ của ba nằm ở đó, lạnh lẽo, hiu quạnh. Chung quanh không có ngôi mộ nào khác. Có lẽ chỉ một mình ba tôi là có thân nhân đến tiễn đưa khi chết, nên được chôn nơi đây. Những người khác chắc chỉ dđược bó chiếu, nằm chung nhau trong một ngôi mộ tập thể vô danh nào đó.

Chúng tôi bắt đầu công việc đào đất trong cái ánh đèn cầy leo lét. Người đào mộ làm việc chuyên nghiệp và nhanh thoăn thoắt. Lớp đất xốp có lẽ được lấp vội vàng nên công việc đào xới cũng dễ dàng. Rồi cũng đến lúc chạm đến cái nắp hòm củ kỹ mục nát. Nén xúc động, tôi mở nắp quan tài. Ba nằm đó, bộ xương còn nguyên vẹn với một phần da thịt và tóc chưa phân hủy hết.

Chúng tôi nhặt xương ba lên theo thứ tự đầu, giữa, chân, tay, bên phải bên trái. Mẹ nức nở nhưng không dám khóc to. Mẹ vừa khóc vừa rửa xương ba bằng chai nước cánh hồi, sau đó chúng tôi phụ nhau bỏ vào hai xách tay bằng lác mang theo. Một bao tôi xách gồm phần đầu và phần tay chân bên trái. Bao lác của mẹ gồm xương sống và phần tay chân bên phải. Người đào mộ dặn phải làm như thế để khi về đem chôn trở lại, ba mới siêu thoát với hình hài còn nguyên vẹn chân tay.

Chúng tôi lặng lẽ vượt gần 30 cây số lên đường trở ra ga Ấm Thượng ngay trong đêm. Cũng phải vượt qua hai con sông nước chảy xiết, qua những con đường đất quanh co, và những ngôi nhà leo lét ánh đèn. Không một bóng người. Tiễn chúng tôi chỉ là những tiếng côn trùng ếch nhái và những giọt mưa phùn lành lạnh.

Vừa đi vừa cầu nguyện. Rồi cũng suông sẻ ra đến ga Ấm Thượng khi trời tờ mờ sáng. Kịp đón chuyến tàu về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội thì cũng đã xế chiều. Mệt lả người vì thiếu ăn và thiếu ngủ nhưng chúng tôi rất vui vì đã đem ba về an toàn.

Chia tay người bốc mộ ngay tại sân ga, bấy giờ tôi mới cảm thấy đói. Hai mẹ con ngồi tựa cột đèn nhà ga, mỗi người ôm chặt một bị lác chứa xương người. Chúng tôi chia nhau ăn ổ bánh mì dai nhách, uống ly chè xanh đắng chát, nhưng thật ngon lành.

Đêm lạnh, hai mẹ con chúng tôi ngồi bên nhau, cô độc ngay trong cái sân ga đông kịt người. Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa mãi mãi với tôi vẫn là nơi vô cùng xa lạ và không bao giờ muốn quay về.

Đang nằm thiu thiu ngủ bỗng dưng tôi thấy tay mình nhẹ tưng, bừng tỉnh cũng là lúc tôi thấy một bóng người phóng qua mình tôi về phía trái. Ôi cái bị lác của tôi. Tôi phóng người đuổi theo, vừa chạy vừa la: xương người, xương người. Đứa bé ăn trộm bị tôi đuổi kịp quăng bị lác xuống đất chạy vào bóng đêm mất dạng. Tôi lượm bị lác lên và ôm chặt vào lòng. Đêm đó hai mẹ con lại ngồi tựa cột đèn, thức trắng. Lại một đêm thật dài, dài đến vô cùng.

Trời mới tờ mờ sáng, chúng tôi lên chuyến tàu sớm đầu tiên xuôi Nam và đến ga Huế vào nửa đêm.

Nhà ông bà ngoại tôi nằm dưới chân núi Ngự Bình, cách lăng Thành Thái không bao xa. Ngôi nhà cổ với sân vườn sau là các ngôi mộ của gia tộc bên ngoại. Về nhà quá khuya nhưng đã có rất đông họ hàng, các em cùng vợ con tôi từ Đà Nẵng về cả ngày hôm trước. Có cả ông Cặn hàng xóm, người chuyên môn lo về cúng kiếng với hòm rương nhang đèn đầy đủ.

Đám ma của ba tôi được tổ chức đơn giản nhưng với đầy đủ thủ tục lễ nghĩa như với một người vừa mới qua đời. Xương của ba được sắp xếp lại theo thứ tự tay chân trái phải và đưọc đặt vào quan tài cùng với các đồ dùng còn sót lại của những ngày trong trại cải tạo. Không thể mặc cho ba manh áo mới lành lặn, mẹ xếp ngay ngắn bên cạnh.

Bà con hàng xóm láng giềng khu vực An Lăng có mặt thật đông. Hôm đó mẹ đã khóc ngất đi nhiều lần mặc dầu ba qua đời đã lâu. Dù sao mẹ cũng đã mãn nguyện thực hiện được ước muốn từ bao năm qua: đưa được ba về, nằm ấm cúng trong mảnh vườn nhỏ gia tộc bên cạnh ôn mệ, họ hàng. Hôm đó tôi đã khấn trước mộ ba: Ba ơi, hãy yên nghỉ, chúng con luôn thương nhớ ba. Con sẽ thay ba lo cho mẹ và các em. Ba có linh thiêng xin phù hộ cho mẹ và cho chúng con.

Tôi tin là có một thế giới, nơi ba đang sống, thật gần với chúng tôi, luôn theo dõi phù hộ chúng tôi, trong những ngày đen tối còn lại tại quê nhà và những tháng năm lưu lạc trên quê người.

Đã 40 năm sau ngày ba mất, đại gia đình chúng tôi, một mẹ và 9 người con vẫn đang thật bình yên trên xứ Mỹ này. Mỗi năm chúng tôi đều thay phiên về thăm ba. Ngôi mộ được chăm sóc có sạch sẽ bởi một người bà con còn ở lại. Chỉ riêng tôi, hơn 20 năm qua vẫn chưa một lần trở lại. Chắc ba cũng hiểu, nỗi đau vẫn còn mãi trong tôi. Đã có những khó khăn, đã có những vất vả trên quê hương thứ hai này, nhưng mẹ và anh em chúng tôi đều kiên cường vượt qua để sống một cách lương thiện.

Dù mẹ đã lúc quên lúc nhớ nhưng tôi vẫn luôn tin rằng hình bóng của ba vẫn luôn còn mãi trong tận cùng trái tim của mẹ. Mẹ không nói, nhưng chắc vẫn nhớ nhiều điều trong quá khứ, nhất là cái ngày hai mẹ con mình đi nhặt lại xác cha, phải không mẹ của con.

Viết trong ngày Vu Lan 2019

Lê Xuân Mỹ 

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Nếu kiên trì tranh đấu, người Việt Nam cũng có thể có một tương lai khác.

 24/05/2021

By  THANH NGỌC

Một người biểu tình phất cờ Cộng hòa Czech trong cuộc biểu tình chống chính phủ tại thủ đô Prague ngày 16/11/2019, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Cách mạng Nhung. Ảnh: EPA-EFE/Martin Divisek.

 Một ngày tháng 10/2017, Jan và tôi đi dạo trên Quảng trường Wenceslas, thành phố Prague (người Việt Nam thường gọi là Praha), nơi người dân biểu tình kết liễu chế độ độc tài cộng sản tại Tiệp Khắc vào năm 1989. Jan không ngừng nói về những thứ tồi tệ dưới chế độ cộng sản. Anh nói như một nhân chứng của quá khứ, dù Jan sinh ra ở thời kỳ đầu của nền dân chủ.

Prague năm 2017 mới bước vào thời kỳ dân chủ được chừng 28 năm, chỉ bằng hơn một nửa thời gian đất nước này chìm trong chế độ cộng sản. Đâu đó trong những cửa hàng, trên những con đường, bạn có thể cảm thấy hơi thở cộng sản vẫn chưa tắt hẳn ở nơi này.

Chúng tôi đến trước bức tượng người phụ nữ khỏa thân đứng trong tư thế la hét ai đó. Bức tượng này sẽ không bao giờ tìm thấy chỗ đứng dưới chế độ cộng sản vì sẽ bị cho là bệnh hoạn.

Jan đọc từ điện thoại cho tôi nghe về kết quả bầu cử nghị viện mới. ANO 2011, đảng dân túy của tỷ phú Andrej Babiš đã giành chiến thắng (“Ano” trong tiếng Czech nghĩa là “yes”). Jan thất vọng nói: “Sớm thôi, ở quảng trường chúng ta đang đi đây sẽ đầy người biểu tình để phản đối nhà tài phiệt Babiš làm thủ tướng”.

Tôi nói với Jan, ít ra ở Czech cơ hội tham gia chính trị còn mở ra cho nhiều người. Ở Việt Nam, chỉ có người cộng sản mới có thể tham gia chính trị, hơn 90 triệu người Việt phải đứng nhìn một nhóm nhỏ quyết định số phận của họ.

Jan gật đầu và chúng tôi bước tiếp về phía viện bảo tàng.

***

Ở đầu quảng trường này, phía sau tượng thánh Wenceslas và phía trước tòa nhà bảo tàng, có một nơi mấp mô trên vỉa hè, trông xa giống như một ngôi mộ. Vào ngày 16/1/1969, ở nơi mấp mô đó, một sinh viên tên Jan Palach đổ xăng tự thiêu. Ba ngày sau, anh chết trong bệnh viện. Lúc đó, khối Warszawa đứng đầu là Liên Xô đưa quân vào kiểm soát Tiệp Khắc. Jan Palach đã tự thiêu để phản đối cuộc xâm chiếm, “làm người dân thức tỉnh” trước nền chính trị bị ngoại quốc giật dây.[1]

Nơi tưởng niệm Jan Palach tại Prague, thủ đô của Cộng hòa Czech. Ảnh: Pbase.com.

Dân chủ có thể đến bất ngờ

Ngọn lửa của Jan Palach không tạo được tác động gì vào lúc đó. Thế lực của Liên Xô đã củng cố quyền lực gần như tuyệt đối cho chính quyền cộng sản Tiệp Khắc. Mùa xuân Prague, kế hoạch của thủ tướng thuộc nhóm cấp tiến Alexander Dubček với những hứa hẹn cải cách nhân quyền mới chớm nở đã phải lụi tàn. Liên Xô đã thay một vị thủ tướng khác mà họ tin tưởng hơn.

Người Tiệp Khắc tiếp tục sống. Họ không biết khi nào chế độ cộng sản do chính họ bầu chọn mới thực sự kết thúc. Sự lựa chọn đó của người Tiệp Khắc đã phải trả giá bằng chính đời sống của họ.

Đầu những năm 1970, The Plastic People of the Universe làm điên đảo giới trẻ Tiệp Khắc bằng thứ âm nhạc mê hoặc và phong cách trình diễn ấn tượng. Ban nhạc này được thành lập một tháng sau khi khối Warszawa xâm chiếm Tiệp Khắc. Những ca từ phóng khoáng và tinh thần độc lập của ban nhạc khiến chính quyền ngày càng khó chịu.[2]

The Plastic People of Universe năm 1974. Ảnh: Stray Satellite.

Không lâu sau, The Plastic People of the Universe mất tư cách biểu diễn chuyên nghiệp, mất nhạc cụ (vốn khi đó thuộc sở hữu nhà nước) và nơi diễn tập. Việc này nằm trong chương trình chấn chỉnh các hành vi đạo đức và xã hội của chính quyền.

Đến năm 1972, ban nhạc bị cấm biểu diễn công khai. Chính quyền cho rằng âm nhạc của họ là “bệnh hoạn” và “tác động tiêu cực đến xã hội”. Ban nhạc chuyển sang biểu diễn chui ở ngoại ô. Khán giả chỉ biết chính xác địa điểm trước một ngày, hoặc phải đợi cho đến ngày biểu diễn. Người hâm mộ sẽ lần mò trong mưa gió, tuyết rơi để tìm đến các trang trại hay nhà kho bị bỏ hoang được chọn làm địa điểm biểu diễn.

Vào tháng 3/1974, hơn một nghìn khán giả tìm đường đến nghe The Plastic People of the Universe biểu diễn. Họ chẳng thấy ban nhạc ở đâu, thay vào đó là cảnh sát. Cảnh sát đánh đập khán giả ở một đường hầm và đưa một lên tàu chở về Prague. Sáu sinh viên bị bắt giữ, nhiều sinh viên khác bị đuổi học.

Tháng 3/1976, cảnh sát Tiệp Khắc quyết định tiêu diệt bằng được ban nhạc sau một cuộc biểu diễn chui. Cảnh sát mật đã thẩm vấn hơn 100 người hâm mộ, xét nhà, tịch thu nhạc cụ, bắt giữ 27 nhạc sĩ.

“The Second Festival of the Second Culture”, sự kiện âm nhạc do The Plastic People of the Universe (đứng ngoài cùng bên phải) tổ chức tại Bojanovice ngày 21/2/1976. Chỉ trong một tháng sau đó, 27 nghệ sĩ có mặt trong bức ảnh này đã bị bắt. Ảnh: Ondrej Nemec/ martinfryc.eu.

Dưới áp lực của quốc tế, hầu hết các nhạc sĩ sau đó đã được thả. Tuy nhiên, chính quyền kiên quyết đưa bốn người ra xét xử tội gây rối, trong đó có hai thành viên của The Plastic People of the Universe, một nhạc sĩ và một ca sĩ khác.

Các kiểm sát viên đã chỉ trích từ ngữ thô tục trong các bài hát của họ và cho rằng chúng làm băng hoại giới trẻ Tiệp Khắc. Những người bị bắt đã trả lời rằng họ quyết bảo vệ quyền sáng tác và hát những ca khúc mà họ muốn. Bốn người đã bị tuyên án từ 8 tháng đến 18 tháng tù giam.[3]

Phiên tòa bị giới nghệ sĩ, kịch gia, văn sĩ chỉ trích kịch liệt, trong đó có Vaclav Havel, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của nền dân chủ Tiệp Khắc.

Nỗi tức giận về phiên tòa đã khiến hơn 200 người thuộc giới trí thức Tiệp Khắc thành lập một tổ chức nhân quyền không chính thức và phát hành một kiến nghị chỉ trích những hành vi đàn áp nhân quyền vào tháng 1/1977, được gọi tắt là Hiến chương 77. Bản hiến chương gây được tiếng vang lớn, được nhiều tờ báo lớn như Le Monde, The New York Times phổ biến.[4]

Tuy nhiên, giống như vụ tự thiêu của Jan Palach, nền chính trị độc tài ở Tiệp Khắc vẫn không có gì thay đổi. Thay vào đó, Vaclav Havel và một số nhà bất đồng chính kiến phải ngồi tù.

Phải mất thêm 12 năm nữa, người Tiệp Khắc mới làm nên số phận của mình. Tháng 11/1989, hàng trăm nghìn người biểu tình ở Quảng trường Wenceslas trong cuộc Cách mạng Nhung (Velvet Revolution). Cuộc biểu tình lịch sử đó được châm ngòi vào dịp kỷ niệm 20 năm ngày sinh viên Jan Palach tự thiêu.[5]

Cuộc Cách mạng Nhung năm 1989. Minh họa: Czechleaders.com.

Đó chỉ là một trong số vô vàn sự kiện đấu tranh với chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc. Dường như thành công hay thất bại đều không phải là mục tiêu quan trọng đối với họ. Điều quan trọng là họ kiên trì tranh đấu.

Ngay sau khi Cách mạng Nhung thành công, Điều 4 trong Hiến pháp Tiệp Khắc, vốn khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản, đã bị xóa bỏ. Một cuộc bầu cử tự do được tiến hành. Tiệp Khắc thoát khỏi bóng tối cộng sản và tiến đến nền dân chủ.[6]

Kiên trì tranh đấu ở Việt Nam

Vào đêm ngày 15/8/2018, một đêm nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị công an giải tán bằng dùi cui, mũ bảo hiểm, hung khí tự chế. Đó là đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín, nơi anh hát những bài hát trước năm 1975.

Ca sĩ Nguyễn Tín và người tổ chức đêm nhạc Nguyễn Đại nói với RFA là họ bị công an bịt mắt đưa về đồn tra tấn. Sau đó, cả hai người bị đạp ra khỏi xe giữa đường.[7]

Nhà báo Phạm Đoan Trang cũng tham gia đêm nhạc và kết thúc bằng việc bất tỉnh trong bệnh viện. Cô kể, có sáu công an mặc thường phục đánh đập cô bằng nón bảo hiểm, hung khí tự chế.[8]

Đoan Trang nhập viện sau đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín. Ảnh: Phạm Đoan Trang.

Đầu tháng 5/2021, hai mẹ con nhà hoạt động Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư đã bị tòa tuyên án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế cho mỗi người. Họ bị buộc tội đã đăng những đoạn phim bị cho là sai sự thật về tranh chấp đất đai lên mạng xã hội.[9]

Thay vì giải quyết thấu đáo những tranh chấp đất đai, chính quyền chọn cách bỏ tù những người cất tiếng nói phản đối. Thay vì thực thi quyền tự do biểu đạt, xuất bản, hiệp hội như đã cam kết, chính quyền lại chọn cách bỏ tù những người dám thực hành những quyền ấy.

Những hành động bất nhất đó có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho chính quyền, nhưng không dập tắt được sự phẫn nộ nén sâu trong lòng người dân.

Những bản án tù của các nhà hoạt động Việt Nam không phải là vô ích. Chúng có thể ngăn họ trực tiếp tranh đấu cho nhân quyền, nhưng đổi lại, hoạt động tranh đấu của họ đi xa hơn đến đông đảo quần chúng. Trần Huỳnh Duy Thức, Hòa thượng Thích Quảng Độ, nhà báo Phạm Đoan Trang, và rất nhiều nhà hoạt động đã gặp nạn khác luôn là những ngọn lửa soi sáng cho những người đi tìm sự bình đẳng, nhân quyền cho Việt Nam.

Cuộc biểu tình khổng lồ kết liễu chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc có lẽ đã không xảy ra nếu cuộc cải cách Mùa xuân Prague của Thủ tướng Dubček được thực hiện. Việt Nam đã bỏ qua bài học này.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Một bạn tôi kể 2 câu chuyện về ảnh hưởng dây chuyền:

Một buổi sáng, ông giám đốc vào sở với vẻ mặt mệt mỏi vì tối qua bà vợ ông cằn nhằn, lải nhải chuyện không đâu ra đâu.  Vì ngủ không ngon, nên ông có vẻ bực bội với nhân viên.  Anh Tám bị rầy về một lỗi rất nhỏ.  Anh về nhà, lúc giờ ăn, thấy cơm nhão hơn bình thường, anh trút nỗi bực mình lên vợ.  Khi đứa con gái lớn, Thúy,  làm đổ chén canh, chị Tám rầy con khá gay gắt vì chị đang mang mối bực bội trong lòng.  Con Thúy thấy em nó là thằng Thăng lục lọi túi xách của nó, nó vì bực bội quá không kềm được cơn giận nên kí đầu em nó khá mạnh tay.  Thằng Thăng đau quá, đá con chó đứng lảng vảng gần đó.  Con chó sợ hãi chạy phóng ra đường.  Chiếc xe hơi chạy trườn tới, bà lái xe lách để tránh con chó, không ngờ bà bị lạc tay lái, chiếc xe đâm xầm vào một căn nhà.  Sau đó, người ta mới biết người cầm tay lái chính là vợ ông giám đốc và căn nhà bà ủi vô chính là nhà của ông bà.  May mà không có ai bị thương.

Chuyện thứ hai:

Hôm nay, anh Tư được ông chủ cho một trái cam to như để thưởng cho anh vừa giúp cho ông giải quyết một nan đề nhỏ trong sở.  Anh Tư nghĩ tới vợ với bao công việc vô danh ở nhà: dọn dẹp, nấu nướng, chăm sóc con… Anh mang trái cam về tặng vợ.  Vợ anh nghĩ tới đứa con trai đang lúc học thi, chị muốn con ăn để có thêm chất bổ dưỡng.  Thằng Tâm nghĩ tới em gái nó, con Tú, mà nó thường hay chọc.  Nó tặng cho em nó như một cách chuộc lỗi.  Con Tú nhận trái cam, lại nghĩ tới tặng ba nó.  Nó thương ba nó đã chịu khó, chịu cực đi làm nuôi cả nhà, mà tánh ba rất hiền không hề lớn tiếng với vợ con.  Anh Tư nhận trái cam từ con gái, quan sát kỹ thấy đúng là trái cam anh mang về tặng vợ ngày hôm qua.  Anh tụ họp vợ con lại tối hôm đó, hỏi lại câu chuyện từ từng người và mọi người cười vui vẻ khi thấy trái cam chạy vòng vo rồi về chỗ cũ.  Chị Tư bổ trái cam ra làm 4, mỗi người ăn một góc tư và thấy tình thương yêu, niềm vui, hạnh phúc gia đình tăng lên gấp 4.

Con người là một sinh vật xã hội, hay sống bầy đàn, thích nối kết, chịu ảnh hưởng nhau.  Một người có tin mừng, cả sở cũng mừng lây.  Tương tự, một người ho khạc bừa bãi, vi trùng, vi rút từ phổi mình có thể bay vào phổi người khác.

Ảnh hưởng dây chuyền còn được gọi là Hiệu ứng Domino.  Người ta xếp những cây bài domino gần nhau, khi một cây ngã xuống thì kéo theo hàng loạt ngã theo.  Năm 1972, người ta có thêm quan niệm “Hiệu ứng cánh bướm” (Butterfly effect) khi có người đặt câu hỏi:  Liệu cái đập của cánh bướm từ rừng Ba-Tây có thể khiến cuồng phong ở Texas xảy ra? (Does the flap of a butterfly’s wings in Brazil set off a tornado in Texas?).

Tương tự, tục ngữ Việt Nam có câu: “Bứt mây động rừng” hay: “Sấm đằng đông, động đằng tây, Tuy rằng nói đấy, nhưng đây động lòng”.

Bất cứ việc gì mình làm đều có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nhất là với thân nhân và bè bạn.  Lời nói, thái độ của mình đều có tác dụng hay hoặc dở, xây dựng hay phá hoại.   Cha mẹ, thầy cô giáo ảnh hưởng tới tinh thần, tâm tính con trẻ rất nhiều.  Cha mẹ không biết có thể mang thiên đàng đến cho con cái không, chứ chắc chắn lời nói, thái độ có thể tạo địa ngục trần gian cho con khi chúng còn nhỏ.

Câu: “Một con ngưa đau cả tàu không ăn cỏ” làm chúng ta nhớ đến lời ông Phao-lô diễn ý trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng” (12:26) .  Xin Chúa giúp cho chúng ta với mỗi lời mình thốt ra là lời lành, những gì mình làm là những việc thiện tác dụng tích cực lên người khác.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền

“Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.” -1 Cô-rinh-tô 12:6

“Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng.” – 1 Cô-rinh-tô 12:26

“Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.” – Phi-líp 2:4

Ngẫm suy xử thế con người,

Đôi khi bất cẩn nói lời làm đau!

Việc làm tuy có khác nhau,

Nhưng là một Chúa trên cao tạo thành!

Chúng ta hãy thử nhìn quanh,

Bà con cô bác chị anh em mình,

Có cùng một Đức Thánh Linh,

Một Thân liên kết giống hình ảnh Cha!

Ta nên hết sức thuận hòa,

Việc làm, lời nói thật thà giúp nhau,

Chứ đừng nóng giận, càu nhàu,

Phàn nàn, trách móc, thêm vào bất an!

Học Lời Kinh Thánh Chúa ban,

Nói làm ích lợi, sẻ san tình Trời,

Dây chuyền ảnh hưởng mọi người,

Gia đình, Hội-thánh vui tươi theo Ngài!

Nguyện làm nguồn phước hôm nay,

Nói lời khích lệ, giúp ngay đúng thì,

Thánh Linh chỉ dạy ta đi,

Làm theo Ý Chúa chẳng chi lo phiền!

Tiểu Minh Ngọc

From: Tu-Phung

CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI TÙ GIÀ

 Vũ Thư Hiên is with Vũ Lương Vu 

CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI TÙ GIÀ

Kính tặng hương hồn bạn tù Nguyễn Thái Bút

1

Người Tù Già nằm bất động.

Lão nằm và nhìn lên bầu trời xám xịt qua song cửa.

Nhìn đăm đăm và nghĩ miên man.

Những ý nghĩ đứt quãng, trôi nổi, bồng bềnh, lẫn lộn. Trùm lên những ý nghĩ vẩn vơ ấy là một màu buồn u tối.

Đầu đông ở thung lũng là thế. Thời tiết thay đổi từng giờ. Mặt trời không cất mình nổi nơi sương mù giăng mắc giữa ban ngày. Những vạt rừng ngàn năm nhấp nhô đậm nhạt trong thứ nửa mù nửa mưa bao quanh trại tù như vành khăn xô rách rưới. Không phải vô lý mà người ta đặt trại tù trong những thung lũng, lão nghĩ. Họ khôn lắm. Không phải chỉ để ngăn tù trốn đâu. Mà để ngăn cả ý nghĩ vượt ngục của tù nữa, nếu như nó dám nảy ra.

Người Tù Già buồn.

Lão biết lão chẳng còn sống bao lâu. Dấu hiệu đầu tiên của cái chết mà lão biết được là đôi chân không còn nghe theo lão. Lão mất hết cảm giác về chúng. Chúng rời bỏ lão một cách chậm chạp, không sao ngăn nổi. Bắt đầu là hai bàn chân, hôm qua, rồi tới đầu gối, sáng nay, và bây giờ – tới hông. Cả cái mùi khăn khẳn dính chặt vào khứu giác, không biết nó xuất phát từ đâu, có phải đấy là mùi của chính lão?

Lão biết lần ngã bệnh này của lão không như những lần trước, trong suốt đời tù đằng đẵng. Mười một năm rồi chứ ít à? Trong mười một năm ấy lão đã vượt qua cái chết không phải một lần. Nhưng lần này thì không, lão biết. Không qua được. Không ăn thua. Thân thể lão đã cạn khả năng sống sót để chờ thêm một năm, hoặc hai năm, như lão từng chờđể được xét tha sau một lệnh. Lệnh, là gọi tắt một kỳ hạn của cái gọi là “tập trung cải tạo”. Một lệnh là ba năm. Hết ba năm này là ba năm khác. Cứ thế mà diễn.

Mà chắc gì lão được tha cơ chứ?

Cái chết toàn năng, cái chết bất khả kháng, như hốc miệng đen ngòm của một con trăn khổng lồ đang nuốt dần cơ thể lão, từng phút một. Rất chậm, nhưng không dừng lấy một giây.

Lão sợ. Lão không muốn chết một tí tẹo nào. Lão muốn sống. Chao ôi, lão muốn sống lắm lắm. Chưa khi nào lão muốn sống bằng lúc này.

Đấy, ngay bây giờ đây này, lão đang muốn kêu, muốn gào lên, muốn thét lên để thiên hạ nghe thấy mà chạy đến, để thiên hạ xúm lại kéo lão ra khỏi cái hốc khủng khiếp đen ngòm kia. Nhưng lão không kêu được. Từ cuống họng lão chỉ phát ra những tiếng ú ớ mà, lạ thay, lão lại nghe rất rõ. Đôi tai nghễnh ngãng nhiều năm bỗng trở lên thính lạ thường. Tưởng chừng cái sống còn lại trong người lão chỉ tập trung nơi thính giác. Nó, và chỉ có nó, nối lão với thế giới bên ngoài.

Nói lão muốn gọi thiên hạ là nói thế thôi, chứ lão biết cả cái thế giới bên ngoài kia chẳng thèm nhòm nhõi gì đến lão. Đối với cái thiên hạ ấy, lão chẳng là cái gì. Bạn tù cũng chẳng đến thăm lão. Họ mệt lử sau một ngày lao động, lết về được tới phòng là nằm vật ra, còn sức nào để nghĩ tới lão cơ chứ. May cho lão, còn có Tỉnh Trưởng, một người tù già, còn già hơn lão nữa, ở ngay đây, trong trạm xá, thỉnh thoảng vẫn lệt xệt từng bước đến bên giường ngó lão một cái.

Lũ bệnh nhân cùng trạm xá với lão ở ngay cạnh lão thì chẳng nói làm gì – còn khuya cái lũ ấy mới nói với lão một lời. Chúng chẳng bệnh tật gì ráo, chúng được nằm trạm xá vì chúng có tiền cống cho thằng Y Tá, cho ông Y Sĩ . Giờ đây chúng đang túm tụm sát phạt nhau trong canh bạc mới mở. Lão nghe rõ mồn một thằng nào cười hô hố, thằng nào đang ngửa cổ reo, thằng nào vỗ đùi đen đét trong khoái trá, thằng nào văng tục chửi đổng trong cơn bực bội.

Y Tá cũng ngồi trong đám bạc. Mặt bì bì, mắt trắng dã, cặp môi mỏng thâm xì mím chặt, va vật quân bài xuống chiếu cái đét và ngửa cổ lên văng một tràng chửi tục. Không cần nhìn, lão cũng biết nước bọt va văng tung toé. Va không thể nói mà không văng nước bọt.

Y Tá vốn là một bác sĩ khoa sản bệnh viện tỉnh, trước nữa là Y Tá huyện, được học bổ túc lên y sĩ, rồi tiếp tục bổ túc lên bác sĩ. Va là tù có án – năm năm vì tội cưỡng dâm bệnh nhân.

Người Tù Già đón va từ lúc va vừa bước xuống ô tô từ trại tỉnh chở tù lên trại trung ương. Đồng hương gặp nhau ở trong tù thì mừng, là lẽ thường. Chẳng gì cũng cùng quê hương bản quán với nhau, chứ trước kia lão đâu có quen va.

Như mọi nông dân, có bao giờ lão đi bệnh viện. Người nông dân nghe đến bệnh viện là hãi rồi, như chết đến đít rồi, không thế thì chẳng ai tới bệnh viện làm gì. Lão không đến bệnh viện vì sợ tốn. Ốm đau đã có lá lẩu trong vườn, nặng hơn thì tìm đến ông lang ngoài chợ.

Va được phân vào toán đan lát của lão. Lão mừng húm. Lão rủ va ăn chung. Chia sẻ với va từng viên thuốc lào. Ở ngoài, nghe nói va béo lắm. Lên trại, va xuống cân vù vù. Gày tong teo. Đi xiêu vẹo. Va quên sạch mọi thứ trên đời, trừ những cái có thể bỏ vào mồm. Đi làm ngoài trại mắt va láo liên lục bới từng khóm cây bụi cỏ kiếm con cào cào, con châu chấu. Hôm nào vớ được con thằn lằn, hôm đó va như sống lại. Người ta quen thấy va vật vờ ngoài sân, hết rẽ vào nhà này lại nhà kia để kiếm miếng ăn. Một trong những cách kiếm ăn lương thiện nhất, ít bị khinh bỉ nhất, là tẩm quất thuê cho lũ “đầu gấu”, lũ “sĩ quan ”.

Cuộc đời đầy những bất ngờ.

“Y tá trại”, trước kia là bác sĩ một bệnh viện trung ương,án chung thân vì tội dùng thạch tín đầu độc vợ, giữ chức này đã nhiều năm nhờ có quan hệ rộng với các quan chức lớn nên luôn được giảm án, rồi đùng một cái được tha trước hạn. Chân y tá trại béo bở có sẵn nhiều ứng viên sáng giá – mấy tù nhân bác sĩ, người đi tù vì tham ô, kẻ vì buôn lậu. Trời xui đất khiến thế nào, va lại được Ban giám thị chọn. Tính về thành phần xuất thân va ăn đứt bọn kia, va không phải chỉ là nông dân nói chung, va là cố nông từ đời ông bà tính về thành phần, là quân chủ lực của cách mạng. Một bước, va lên quan, dù là quan trong tù.

Làm y tá trong tù bảnh lắm. Muốn nghỉ lao động một ngày, hoặc vài ngày trong đời tù triền miên lao động và lao động, những người tù khốn khổ, không trừ một ai, đều phải cầu cạnh y tá. Tuỳ theo cống vật họ dâng mà ,y tá trại sẽ gia ân cho họ nhiều hay ít – từ một hai ngày nghỉ lao động cho đến nằm khểnh ở trạm xá để theo dõi và điều trị.

Nhà bếp, liên minh thần thánh của trạm xá, bao giờ cũng dành cho Y Tá phần béo bở, ngày thường cũng như ngày ăn “tươi”, trong mốì quan hệ hai bên cùng có lợi. Va mau chóng lên cân trở lại. Trơn lông đỏ da. Rồi béo hú. Va thích kể chuyện những người đàn bà đã qua tay va, như những chiến công, và thề sẽ trả thù con mụ bệnh nhân bị cưỡng hiếp đã làm đơn tố cáo va. Con mụ này là cháu họ xa một quan to.

Người Tù Già không trông cậy ở Y Tá một sự chiếu cố nào. Lão biết có trông cậy cũng vô ích. Ở trong tù mà nói chuyện ân tình là là thậm ngu, là chí ngu. Lão chỉ ân hận một điều – ấy là lão đã không đủ khôn ngoan để nghĩ tới chuyện đút lót Y tá như những người tù khác.

– Ở đời chẳng có gì tự nhiên có, chẳng có gì tự nhiên mất – Y Tá triết lý – Không hiểu điều sơ đẳng ấy thì ô hô, có mà ăn cám.

Người Tù Già không nghĩ tới đút lót có cái lý của lão.

Lão có cái gì để mà đút cơ chứ? Trên răng dưới cát-tút, lão là thế. Lão không thuộc loại người giận đời hoặc đám kẻ sĩ dở hơi đã vào tù rồi vẫn còn cương, không chịu cúi đầu trước bọn cán bộ, đừng nói gì tới Y Tá hay trật tự. Nếu có cái để đút thì lão cũng đút rồi.

Cơ mà Y Tá lại nghĩ khác – ừ thì lão không có tiền thật, lão nghèo rớt mồng tơi thật, đúng thế, nhưng lão có thể xin, có thể vay người này người khác chứ. Vẫn còn những bạn tù tốt sẵn lòng giúp lão lúc hiểm nghèo cơ mà. Vay trước trả sau là chuyện thường tình.

Cho nên Y Tá mới giận. Lão cứ ì thần cụ ra, cứ như thể Y Tá là đồng hương của lão thì va phải có trách nhiệm săn sóc lão. Đừng hòng. Còn khuya nhé!

Y Tá đoán sai – lão hành xử như thế, không tính đến chuyện lão không có tiền, cái chính là vì lão coi thường bệnh. Lão xem trận ốm bất ngờ như một sự bất tiện hơn là một bệnh. Lão tin ở đặc tính sống dai của người tù.

Tù là một sinh vật kỳ lạ – sống không mảy may tiện nghi, thiếu thốn đủ đường, mắc đủ mọi bệnh, thế mà vẫn sống nhăn, như để phô bày một hiện tượng không thể giải thích của nhân loại.

Lão không hề nghĩ đến cái chết khi lão khai ốm. Thậm chí lão còn nghĩa là Y Tá đã nhầm khi cho lão đi nằm trạm xá. Kiết lỵ là cái quái gì cơ chứ? Lão đã chứng kiến một lần tù chết hàng loạt trong một trận dịch kiết lỵ. Kinh lắm. Chôn không kịp. Nhưng dịch là dịch, chứ cái kiết lị bình thường, kiết lỵ hàng ngày, có làm thằng chó nào chết đâu? Lần này lão có đau bụng thật, đau quặn, khó chịu lắm, nhưng cũng chỉ như những lần khác, không hơn. Đến bữa lão vẫn “bụp” đến nơi đến chốn, ngoài suất cơm trại còn ngốn cả mấy chét to rau má mới thấy lưng lửng dạ.

Lão chỉ bắt đầu lo, bắt đầu ân hận đã không đút lót Y Tá khi thấy cái bệnh tưởng chừng vớ vẩn ấy ngày một nặng. Lão bị những cơn đau quặn dữ dộ ở bụng dưới. Mót liên tục. Không nhịn được. Mỗi lần đi cầu sức lực của lão như trôi ra theo đám phân lầy nhầy máu.

Y Tá cũng coi thường bệnh của lão. Khi thấy bệnh nặng thêm thì va cho lão ăn cháo với muối. Muối là lành nhất, không gì lành bằng. Với phương pháp điều trị này, bệnh nhân nào rồi cũng khỏi. Trừ những bệnh nhân đã đến cõi. Khi thấy lão đi nhiều quá, mệt quá, thì y cho uống Berberin. Trong trại Berberin là thần dược. Nó là thuốc bách bệnh.

Nhưng Berberin không ăn thua. Uống vào như không uống.

Người Tù Già thầm trách Y Tá trại nhẫn tâm. Va cho lão nằm trạm xá để làm gì, nếu như va không muốn chữa cho lão khỏi?

Lão không biết rằng Y Tá chẳng tốt mà cũng chẳng xấu với lão. Y Tá chỉ làm việc phải làm mà thôi. Đó là lệnh của Ban Giám thị: “Phải giảm tỷ lệ tử vong xuống!”

Số là từ đầu năm tù ở mấy trại trung ương bỗng lăn ra chết như ruồi trong một trận dịch kiết lỵ. Đến nỗi ông Bộ trưởng Bộ Công an phải ra một chỉ thị đặc biệt để chặn đứng tai hoạ. Không phải bỗng nhiên ông quan tâm tới số phận tù nhân. Sự quan tâm bắt đầu từ việc đứa cháu họ mẹ vợ ông Tổng bí thư đảng, làm công an một trại, đến thăm kể cho bà nghe chuyện tù chết la liệt như thế nào. Anh ta muốn bà nói giúp một tiếng để anh ta được chuyển ngành. Là Phật tử thuần thành, bà lựa lời khuyên ông con rể chớ để sự thể như thế mà luỵ đến đời con đời cháu.

Ông Tổng bí thư, tác giả nhiều cuốn sách về chủ nghĩa duy vật, về tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, về tính bách chiến bách tvag của chủ nghĩa Mác-Lênin, cười giễu cái sự tin nhảm của bà lão. Ông không tin Trời, không tin Chúa, không tin Phật. Ông chỉ tin ở sức mạnh của cái Đảng dưới quyền ông. Có nó, ông muốn làm gì cũng được.

Ông Bộ trưởng Công an và ông Cục trưởng Cục quản lý trại giam được ông Tổng bí thư triệu lên.

– Đường lối của Đảng ta là trị bệnh cứu người – Tổng bí thư ân cần căn dặn – Trấn áp bọn có hại cho an ninh xã hội, nhất là phản cách mạng, tất nhiên không thể nương nhẹ. Đó là nội dung của chuyên chính vô sản. Nhưng khi chúng nó đã vào tù thì phải coi chúng nó như người bệnh, phải chăm nom cho chúng nó khỏi bệnh, để chúng nó còn sống mà trở thành công dân lương thiện. Các đồng chí làm ăn thế nào để đến nỗi tù chết nhiều đến thế? Tôi chỉ thị các đồng chí phát động ngay một đợt thi đua trong các trại giam để giảm ngay lập tức số tử vong. Tôi nhắc lại, ta phải nhân đạo, ngay cả với kẻ thù … Các đồng chí phải quán triệt đường lối ấy.

Hai ông cấp dưới trở về, nói với cấp dưới nữa, rồi cấp dưới nữa lại nói với cấp dưới nữa. Khi nhắc lại lời ông, họ ngước mắt lên trời:

– Thánh thật! Ngồi một chỗ mà cái gì Cụ cũng biết, biết hết. Vớ vẩn với Cụ, toi có ngày!

2

Người Tù Già lắng nghe. Từ xa vẳng lại tiếng gõ chí chạt, đều đều. Cái gì thế nhỉ? A, đúng rồi – đó tiếng dao thớt. Hớn hở và hối hả. Rộn rã. Tưng bừng. Tiếng dao thớt này nghe vui lắm, phấn khởi lắm. Chắc cva phải là tiếng băm thịt, chặt xương. Không phải tiếng băm rau, không phải. Nhà bếp cái gì cũng băm, cho nó nhanh. Có lần lão đã lầm – hôm đó nhà bếp băm bí đỏ. Nhưng tiếng băm bí đỏ có khác với băm thịt. Để ý thì thấy. Nó cũng phầm phập, nhưng không khô, không gọn. Uể oải. Chậm chạp.

Chao ôi! Lão muốn vỗ trán mà reo lên vì phát hiện, nhưng tay lão yếu quá rồi, nó chỉ còn có thể vỗ được trong ý nghĩ. Lão buồn xỉu. Lão hiểu rằng lão đã mất hết ý thức về thời gian. Lão không còn phân biệt được hôm qua với hôm kia. Lão chỉ còn biết hôm nay. Lão chỉ còn biết cái hiện tại, cái bây giờ.

Ngày lại ngày trong đời tù giống hệt nhau. Thế là lẫn. Lão nhớ được hai lần trại “ăn tươi” trước đó – ngày Quốc tế Lao động Mồng Một Tháng Năm và Mồng Hai Tháng Chín. Giữa hai ngày lễ ấy chẳng có lễ nào khác.

Giờ là Tết. Tết tây cũng được bữa tươi. Nhưng Tết ta mới lớn, mới “nhoè”.

Lão mơ màng, lão hình dung những miếng thịt kho tàu màu cánh gián đẹp như được đánh véc ni, những bát canh xương bò nhuếnh nhoáng hằng hà sa số những sao nhỏ sao to trên mặt nước béo ngậy.

Thảo nào, từ buổi sáng lão đã mơ màng nghe tiếng quạ kêu. Cái giống đến là tài, chúng ngửi được mùi xác chết cách xa cả chục cây số. Thế mà lúc ấy lão đã nghĩ dại – lão nghĩ lũ quạ đánh hơi thấy mùi lão. Lão nghe có người bảo giống quạ biết ở đâu đó có súc vật chết, hoặc người chết. Chim lợn còn thính hơn. Nó còn đánh hơi được cả người sắp chết. Là bởi người sắp chết cũng bốc mùi. Cái mùi ấy mũi người không thấy được.

Lão nhếch mép. Không ai có thể bảo đó là lão cười, bởi cái nhếch mép của lão không thành. Lão đang sung sướng trong lòng. Không phải lũ quạ đánh hơi thấy mùi lão. Chúng nó đánh hơi thấy con lợn hay con bò bị làm thịt dưới kia, chỗ nhà bếp. Lão hình dung bữa tươi sắp được hưởng. Miếng mỡ căng phồng khi cắn vào mới ngon làm sao! Là lão nhớ đến miếng mỡ ở ngoài kia kia, ở cái cuộc sống bên kia bốn bức tường nhà tù kia, chứ ở đây có bao giờ được một miếng như thế. Nhưng mỡ thì ở đâu cũng vẫn là mỡ. Nước mỡ ứa ra sẽ làm cho miệng lão hết khô, lưỡi lão hết sưng tấy. Nó giống như nước mưa nhỏ xuống đất cằn.

Thịt cũng thế. Nó làm cho người ốm khỏe ra, làm cho người già trẻ lại. Chỉ mới nghĩ tới nó lão đã tỉnh hẳn, đã quên bẵng nhưng ý nghĩ đen tối về cái chết.

Lão nhớ lại bữa “ăn tươi” cuối cùng xảy ra hôm nào.

Thông thường một tháng tù được “ăn tươi” một lần. Nhưng đã ba tháng rồi chẳng được một bữa tươi nào sất. Ban giám thị cắt ăn tươi toàn trại vì một vụ trốn tù táo bạo – năm tên tù xổng cùng một lúc vào ban đêm. Ban giám thị cho rằng nhiều người biết sự chuẩn bị của vụ trốn, nhưng không chịu tố cáo.

Lão gượng quay đầu nhìn sang giường bên, nơi những con bạc đang mải mê sát phạt. Lão đã thấy chúng mà cả với nhau về giá cả bữa tươi lớn, đặc biệt, sắp tới.

– Thịt!

Đôi mắt mờ đục của lão sáng lên. Chúng thậm chí còn động đậy trong hai hốc sâu của cái sau này gọi là đầu lâu.

Cái chết giật mình. Nó đang say sưa nuốt dần con mồi, nó đã nuốt tới đầu gối, tới hông. Con mồi đã chịu tho, ngoan ngoãn và yên phận. Vậy mà đùng một cái, cái con mồi mềm oặt, đã hết sức sống, bỗng giãy giụa, đẩy nó ra bằng sức mạnh không ngờ. Cái chết ngừng nuốt, nhẹ nhàng tạm nhả miếng mồi.

Y Tá vừa trang bài vừa bực bội vừa nhìn sang giường Người Tù Già.

– Mẹ kiếp, anh giề chưa chết hử? – va hấm hứ – Đã bảo, đừng có rên! Sốt cả ruột!

Cái đầu của Người Tù Già lắc lư khe khẽ.

A, lão còn lắc đầu được kìa, Y Tá nghĩ. Lão cãi đấy. Rằng lão vẫn còn sống, lão chưa chết. Chao ôi, cái giống tù sống dai khiếp! Một bệnh nhân như thế ở ngoài đời thì đã xong từ lâu. Từ hôm kia. Hoặc tới hôm qua là cùng. Mạch gần như không còn, hơi thở mong manh. Từ giường bệnh của lão bốc lên mùi tanh tưởi. Hồi còn ở bệnh viện – va lúc đó là bác sĩ chứ không phải là Y Tá như trong cái trại khốn kiếp này – va không bao giờ đứng lâu trong phòng bệnh nhân. Va lướt qua các giường bệnh một lượt, hỏi han qua loa, rồi đi thẳng. Cuộc chạy việt dã qua các giường bệnh kết thúc bằng việc rửa ráy không với mục đích sát trùng mà chỉ cốt xua tan uế khí của phòng bệnh dính vào da thịt. Thế mà ở đây, va phải chịu đựng cái cực hình đó. Phòng dành cho Y Tá và phòng bệnh nhân thông với nhau, mùi hôi thối và tanh tưởi của phòng bệnh nhân nồng nặc. Tối đến, người ta khóa tuốt tuột cả va lẫn con bệnh của va trong trạm xá. Ít nhất thì cánh cửa liếp cũng ngăn được một phần cái mùi kinh tởm ấy.

Va từng biết ơn Người Tù Già đã giúp va khi va mới tới trại. Lúc đó va khốn khổ lắm. Lúc đó va nghĩ rồi đây va sẽ phải trả ơn lão. Thế rồi va quên bẵng. Trí nhớ của va không giữ lại ý nghĩ xa xỉ đó. Va đã học được cách sống theo luật rừng, không phải ở đây, mà từ ngoài kia. Rừng thuộc về kẻ mạnh. Kẻ nào không học được cách sống ấy, kẻ đó tiêu. Va cho Người Tù Già được nằm trạm xá không phải như một cử chỉ trả ơn. Va thấy mặt lão đã bạc ra vì bệnh. Theo lệ thường người sắp chết phải được đi qua trạm xá để đến nhà xác.

Người Tù Già lại rên. Y Tá rời mắt khỏi mấy quân bài, nguýt lão:

– Gì?

– N..ư..ơ..ớ..c! – Người Tù Già cố gắng mấp máy cặp môi nứt nẻ.

– Để người ta xong ván bài đã nào. Đang đen bỏ mẹ đây này – Y Tá quát – Đừng có ám quẻ!

– N..ư..ơ..ớ..c!

– Mẹ kiếp, “Anh giề” uống đéo gì mà lắm thế? Này, đây bảo cho mà biết: càng uống nhiều thì càng chóng chết đấy!

Nghe đến tiếng “chết” mặt Người Tù Già co rúm. Đó là nói phóng đại lên, chứ mặt lão không còn có thể co rúm thêm được nữa. Mặt lão méo xệch, đôi mắt láo liên, thất thần. Cái tiếng “chết” thốt ra từ miệng bác sĩ là bản án tử hình đọc cho bệnh nhân.

– Sợ hử? – Y Tá liếc xéo gương mặt méo xệch của lão, vừa lắc lư toàn thân vừa xoi bài – Đừng có sợ. Thằng đéo nào rồi chẳng chết. “Anh giề” chết, tôi chết, nó chết, các ông chết, chúng nó cũng chết. Chết sạch. Kẻ trước người sau, vậy thôi. Đéo có đứa nào thoát.

Y Tá ngửa mặt lên cái trần nhà xạm đen, dấu vết của những bữa sột sệt, cười hô hố.

3

Khi nhà bếp gánh cơm đến trạm xá, thì đám bài lá giải tán.

Sĩ Quan nhún chân nhảy xuống đất, khệnh khạng bước ra khoảng trống trong phòng khám. Va chống nạnh nhìn quanh, hai cánh mũi phập phồng, ngực áo phanh ra phô hình con rắn quấn người đàn bà cởi truồng, và ở bên trên là một trái tim bị tên xuyên thủng. Người đàn bà giãy giụa trong vòng xiết của con rắn khi va cử động. .

Khẩu phần ăn của Y tá ở nhà bếp, quân số của va ở đó. Va bưng bát được lĩnh riêng từ nhà bếp lên, lướt qua đám bệnh nhân đang đứng vòng trong vòng ngoài quanh mấy xoong thức ăn sắp được chia, khẽ dặn Sĩ Quan:

– Chia xong, vào ăn với tao!

– Có cay chứ?

– Nhoè!

Đấy là hai đứa nói về rượu. Y Tá đã loay hoay pha chế chất cay, vừa pha vừa huýt sáo. Đó là một hỗn hợp gồm cồn, mật mía, những viên polyvitamine vàng ươm. Từ lâu, Y Tá sát trùng ngoài da cho bệnh nhân bằng nước sôi để nguội, để dành cồn cho những cuộc nhậu nhẹt. Hội của va là vài Sĩ Quan cổ cánh, Trật tự và Thông tin.

Từ giường của Người Tù Già phát ra một tiếng rên to. Sĩ Quan quay lại, bắt gặp cái nhìn lạnh lẽo của Người Tù Già. Ấy là va có cảm giác như vậy chứ chưa chắc đã là sự thật. Va thấy đôi mắt kẻ hấp hối đang hướng về phía đám đông ồn ào chia thịt bỗng quay về phía va.

Sĩ Quan giật mình trước cái nhìn ấy. Chuyện va bao giờ cũng chiếm phần hơn trong những bữa tươi là chuyện đương nhiên. Những người tù buộc phải chia cho va phần hơn – nhiều hơn, ngon hơn. Va đã gặp những cái nhìn không thiện cảm, nhưng chưa bao giờ va gặp một cái nhìn gườm gườm lạnh lẽo như thế.

Va tiến về phía Người Tù Già.

– “Anh giề” không bằng lòng hử? – va hất hàm hỏi, nhưng không sẵng.

Người Tù Già không trả lời. Từ đôi môi xám xịt của lão phát ra một tiếng hừ, giống một tiếng rên. Lão không nói được nữa rồi.

Sĩ Quan nhẹ nhàng hỏi lại lần nữa, một thái độ không thường có ở va:

– Vậy “anh giề” muốn gì nào? Cân nhá? Hay quay mặt đặt tên?

Người Tù Già vẫn không nói, đôi mắt gắn chặt vào mặt Sĩ Quan. Cái nhìn ấy làm va bối rối. Đó là điều chưa từng xảy ra với va. Vào tù, qua nhiều trại, va không sợ một ai. Va tự tin vì va có những quả đấm thành thục. Ngày trước, va là võ sĩ quyền Anh hạng ruồi, từng lên vũ đài và giật giải vô địch đôi ba lần. Rơi xuống đáy vực xã hội va học thêm võ giang hồ. Trong môn võ không môn phái ấy cái đầu tiên cần có là máu liều. Máu ấy va không thiếu. Nhưng hôm nay va cảm thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ. Y Tá bảo lão già chẳng còn mấy nả. Lão già kia, với cái nhìn lạnh lẽo ấy, dám trả thù lắm, dám báo oán lắm, một khi lão thành ma. Đánh nhau với người thì được, đánh nhau với ma làm sao?!

Sĩ Quan đã định bụng nhận phần thịt của mình xong sẽ vào phòng Y Tá với các sĩ quan khác đang đợi va. Nhưng va thấy bữa tươi này cần được chia công bằng. Nếu va có mặt, không đứa nào dám hó hé giở trò bịp bợm. Người Tù Già sẽ được hưởng phần thịt xứng đáng.

– Quay mặt đặt tên nhá?

Va hỏi lại lần nữa, giọng hạ hẳn xuống, dịu dàng. Cái đầu lưa thưa tóc của người hấp hối khẽ cử động. Va hiểu là Người Tù Già gật đầu.

Theo hiệu lệnh câm lặng của va, người tù gày như một bộ xương biết đi liếm đầu bút chì rồi ngồi xổm xuống viết tên những người tù trong trạm xá vào mặt sau vỏ bao thuốc lá đặt trên đầu gối. Người đó viết xong thì một người tù khác cầm tờ giấy lên, quay mặt đi xướng tên người được lĩnh phần, trong khi đích thân Sĩ Quan cầm một cái thìa gõ không theo một thứ tự nào vào từng bát đã được chia. Tên ai được xướng lên trúng vào bát nào thì người có tên nhận bát đó.

Sĩ Quan tự tay bưng bát thịt đến bên giường Người Tù Già, đặt xuống bên cạnh ông

– “Anh giề” ơi, phần Tết của ông anh đây – va nói bằng giọng ngọt ngào và vụng về – tôi bỏ thêm vào cho “anh giề”một miếng phần của tôi nữa đấy, đấy miếng này này. Thế nào, “anh giề” bằng lòng chứ? Phần của “anh giề” không lẫn miếng sụn miếng xương nào đâu, “anh giề” ăn cho khỏe!

Đầu của Người Tù Già đụng đậy, Sĩ Quan hiểu là lão gật, lão hài lòng.

Rồi hạ giọng, va ghé sát vào tai lão thì thầm:

– Nói dại, “anh giề” có đi ngay hôm nay hay ngày mai thì chớ quên phù hộ cho thằng này nhé! Chớ quên rằng thằng này đã tử tế với ông anh.

Va bưng bát thịt của va quay vào phòng trong, ở đó Y Tá đang trịnh trọng rót thứ nước thánh do va chế tạo vào mấy cái chén nhỏ trước những cặp mắt hau háu.

4

Mấy anh tù tự giác đi làm về rẽ qua trạm xá xin thuốc đỏ vừa hút thuốc lá cuốn vừa lắng nghe Y Tá hào hứng kể về những phút cuối cùng của ông lão:

– Cái bát để bên cạnh, ngay chỗ này này, các đằng ấy ạ. “Anh giề” nhà mình thấy cái bát là cố gượng quay đầu lại. Bữa tươi “dầm ”, thịt rang mặn thơm đéo chịu được. Nhưng đến lúc ấy thì “anh giề” hết ngồi lên được rồi. Chết ấy à, chúng mày phải biết, bao giờ cũng phải từ chân lên đầu, ngược lại là không có. Tớ nghe tiếng “anh giề” ú ớ. Chắc lão muốn gọi đứa nào đỡ lão ngồi lên, nhưng lưỡi lão cứng rồi…

Người Tù Già nằm trên giường. Nằm im lặng. Mặt lão xám lại trong vẻ bất cần, trong một vẻ trịnh trọng không nguyên cớ. Trên người lão là tấm chăn rách của trại, phủ ngay ngắn, tấm chăn sợi Nam Định không biết đã được dùng cho bao nhiêu kiếp tù.

– Lão ú ớ một hồi, rồi im bặt, các đằng ấy ạ. Mẹ kiếp, tớ lại ngỡ “anh giề” rên. Mấy hôm nay lão rên suốt ấy mà. Nhưng tớ mặc. Cứ thấy rên mà chạy lại, có mà chạy cả đêm. Ấy vậy, tớ mặc cho lão rên, định bụng ăn xong sẽ cho lão một ống dầu long não. Đã đến nước ấy trời cũng không cứu nổi, dầu long não cứu thế đéo nào được. Nhưng lệ trong nghề tớ là thế, chúng mày ạ – gì thì gì cũng phải cho người hấp hối một mũi tiêm làm phúc. Người không biết thì bảo nó là thuốc hồi dương. Long não chỉ làm cho cái xác sắp chết ấm lên một tẹo thôi. Ra cái vẻ còn nước còn tát ấy mà, chứ ăn thua đếch gì…

– Thế là “anh giề” đi luôn?

Y tá khịt mũi ra chiều khinh bỉ:

– Đi là thế đéo nào? Giống tù là sống dai nhất hạng.

Tỉnh Trưởng lệt xệt đến bên giường người chết. Lão gày tong teo, già nhất trong những người tù già trong toàn trại, mặt nhăn nheo như một quả bưởi héo, nổi tiếng có học nhất trong cộng đồng tù, nhưng ít lời đến nỗi tưởng như câm. Không biết vì lý do gì, nhưng lão cũng được Ban giám thị cho nằm trạm xá từ đời y tá trước. Cái sự được ở trạm xá lâu như thế làm cho lão trở thành có giá, biết đâu tổ con chuồn chuồn, có khi lão có họ hàng hang hốc với ông kễnh nào trong các quan ở Cục hay ở Bộ chửa biết chừng.

Y Tá hằn học nhìn Tỉnh Trưởng. Va coi Tỉnh Trưởng là kẻ làm mất đi một suất trạm xá, suất ấy va có thể “chác” với những người tù khác, nhưng gã e dè không dám xử tệ với Tỉnh Trưởng. Tỉnh Trưởng tlà bạn thiết của Người Tù Già từ những năm cả hai chưa phải nằm trạm xá. Người ta thường thấy bắt gặp họ im lặng ngồi bên nhau sưởi nắng.

Đứng bên người chết, Tỉnh Trưởng nghiêng đầu ngắm nghía bạn mình như thể người ngắm tranh.

– Này, tẩn ngẩn tần ngần làm gì ở đây đấy? – Y Tá nói với Tỉnh Trưởng bằng giọng nhẹ nhàng – Anh giề ạ, rồi anh cũng thế thôi. Chẳng lâu nữa đâu.

Tỉnh Trưởng không nghe thấy câu nói của Y Tá, hoặc làm bộ không nghe thấy. Lão tỉ mẩn xếp lại cái chăn phủ xác chết cho ngay ngắn.

– Tớ tiêm cho “anh giề”một phát long não là “anh giề” hồi lại liền – Y Tá quay lại với câu chuyện – Cứ như thuốc tiên í. Vừa hồi lại là “anh giề” đã cuống lên, ú ớ một chập, mà ú ớ rõ to nhá! Tớ đồ rằng “anh giề” muốn lạy van tớ cứu lão…

– Có khi ông ấy muốn trối trăng điều gì… – Tỉnh Trưởng nói khẽ, như nói một mình.

– Anh bảo sao? Trối trăng à? “Anh giề” ấy thì có cái đéo gì mà trối với trăng chứ. Đừng nói leo! Ra ngoài kia! – Sĩ Quan quát – Tôi bảo anh ra ngoài kia. Tắp lự.

Tỉnh Trưởng lẳng lặng trôi ra ngoài trạm xá như một cái bóng. Lão ngồi bệt xuống đất bên bức vách, úp mặt vào hai bàn tay. Đôi vai gày của lão rung lên từng chập.

– Mặc lão – Y Tá can Sĩ Quan, kể tiếp – Ăn xong, tớ mới ra xem “anh giề” của tớ thế nào rồi, thì cha mẹ ơi, lão đã chống tay trái nhỏm dậy được, tay phải cầm đôi đũa…

– Thánh thật! – một người tù bình luận – Lão nằm liệt từ hôm qua rồi mà.

– Thế mà “anh giề” lại tỉnh, lại nhấc được tay, mới thánh chứ. Từ trước đến nay, các cậu biết, tớ mà đã phán thằng nào mà tớ chịu không chữa được nữa, thì y như rằng thằng ấy ngỏm củ tỏi. Đã tưởng lần này mình sai bét.

– “Anh giề” ghê thật. Chết đi sống lại mấy lần rồi đấy.

– Đéo phải. Tớ không sai. Tớ vẫn đúng. Tớ thấy “anh giề” giơ đôi đũa về phía bát thịt, bàn tay “anh giề” run run, cuối cùng rồi đôi đũa cũng chạm được vào thành bát nghe đánh cóc một cái. Nhưng chỉ đến đấy thôi. Đến lúc “anh giề” run run gắp được một miếng thì hức, “anh giề” nấc lên một tiếng, cả người lão vagiật lên bẳn bặt ….

– Xong phim?

– Xong! – Y tá gật, xác nhận.

– Không thêm một tiếng nào?

– Không. “Anh giề” ngã vật ra, đầu ngoẹo sang một bên. – Y Tá nói – Đéo mẹ, tớ mà đã phán là trúng phóc. Có điều “anh giề” sống dai khủng khiếp. Người khác thì đã ngỏm củ tỏi từ lâu…

– Gắp miếng thịt lên mà không ăn được, cái số con người ta sao mà khốn nạn! – một người chép miệng, lắc đầu – Đúng là nhất ẩm nhất trác giai do tiền định.

– Có cái gì khốn nạn hơn là số phận con người?!!

Người ngồi bên đế thêm và đưa cái điếu cày lên.

– Thế là đéo cần lệnh tha nữa.

Tiếng rít thuốc vang giòn giã.

5

Người Tù Già được chôn chiều hôm đó.

Không người viếng, không tiếng khóc, không vòng hoa. Đám ma tù là thế.

Khi buổi điểm danh lần thứ hai trong ngày kết thúc, tù đã được lùa vào trong các phòng giam, cửa đã được khóa lại, thì mọi thủ tục cho sự ra đi vĩnh viễn của Người Tù Già bắt đầu.

Các bậc chức việc từ khu nhà Ban giám thị ở ngoài trại lục tục mang hồ sơ đến, lấy dấu tay xác chết, đối chiếu mặt xác chết với ảnh trong hồ sơ, lần lượt ký tên vào biên bản. Cái chết như thế mới được coi là hoàn tất.

Lệnh mai táng được phát.

Tổ mai táng gồm bốn người lẻo khoẻo hì hục đặt Người Tù Già nằm vào chiếc áo quan chật chội do đội mộc đóng bằng sáu tấm ván tiết kiệm, mỏng và cong vênh, rồi đóng nắp lại. Tiếng đinh đóng lên ván thiên kêu chan chát. Cái tiếng chan chát ấy chui vào trong các phòng làm cho những người tù lặng đi đúng một phút, như thể họ mặc niệm bạn tù vừa qua đời. Sau đúng phút ấy, phòng nào phòng nấy lại ồn ào như tổ ong.

Luồn hai sợi chão vào đáy, bốn người nọ gánh Người Tù Già ra nghĩa địa.

Theo mệnh lệnh của Sĩ Quan, được phát ra với vẻ mặt nghiêm trang, đội mai táng đặt cái bát sắt tráng men cóc gặm đựng suất thịt của Người Tù Già vào quan tài, bên cạnh ông lão. Bình thường, không ai để phí của giời như thế. Bát thịt – tức là cả cái bát, cả thịt bên trong – sẽ thuộc về một người nào đó, là bạn thân của kẻ xấu số, hoặc một tên “vét đĩa”. Hàng ngũ sĩ quan và “đầu gấu” không bao giờ đụng đến đồ của người chết.

Mệnh lệnh của Sĩ Quan làm mọi người ngạc nhiên. Chưa bao giờ Sĩ Quan ra một lệnh tương tự. Không ai biết rằng va tin Người Tù Già chết vào chính Ngọ sẽ thiêng lắm. Nếu linh hồn Người Tù Già biết va đối tốt với ông ta, va sẽ được lão đền đáp.

Trong trại không có đội mai táng chuyên nghiệp.

Không kể những trận dịch, không phải ngày nào cũng có tù chết, thành thử gọi là đội mai táng cho bảnh, chứ khi nào có người chết thì cán bộ mới gọi người đi chôn.

Người được phân công chôn người chết nhiều lần nghiễm nhiên họp thành đội.

Mỗi lần chôn tù chết, đội được bồi dưỡng một yến sắn, cho dù công việc không vất vả. Đó là mấy người được Ban giám thị đặc biệt tín nhiệm. Tín nhiệm ở đây có nghĩa là người làm việc ấy không lợi dụng cơ hội để trốn trại. Đối với những người được tín nhiệm thì lính áp giải phó mặc họ làm, làm xong tự về. Đi khỏi trại một quãng lính áp giải phẩy tay cho bốn người khiêng áo quan đi, còn tự mình rẽ vào xóm dân ở gần đấy để tán gái, hoặc để mua bán đổi chác.

Khi đám ma ra khỏi cổng trại thì ánh mặt trời đọng trong thung lũng bắt đầu nhạt. Mùa đông, trong lòng chảo lọt thỏm giữa vòng vây của những ngọn núi cao núi thấp ban đêm lạnh thấu xương, nhưng ban ngày thì oi bức. Thứ khí hậu khắc nghiệt này làm cho người ta bao giờ cũng ở trong tâm trạng bực dọc. Những người tù nghe thấy những người coi tù văng tục, không phải một lần:

– Mẹ kiếp, ở cái nơi này mình với thằng tù có khác chó gì nhau!

Tu Sĩ đi đòn trước thở hồng hộc. Lúc qua cổng trại, va lao ào ào, kéo cả bốn người phải lao theo. Va đặc biệt dị ứng với cái cổng trại. Cứ mỗi khi đi qua vòm cổng là va đi thật nhanh, dường như cái cổng đè nặng lên va, rằng nó mới là biểu tượng của sự giam giữ đích thực, mới là nhà tù, chứ không phải phòng giam nơi va ở, không phải khu trại có tường xây bao bọc và dây thép gai bịt bùng mắc trên.

– Này Cha, từ từ chứ nào. Đéo gì mà như ma đuổi thế?

Tên Giết Người càu nhàu. Va bao giờ cũng giữ được dáng nhàn tản. Nhàn tản làm, Nhàn tản ăn. Tưởng chừng khi va giết người đàn bà ở cái ga hẻo lánh để cướp có một cái tay nải không biết trong có gì, va cũng ung dung như thế – rút búa ra, nhằm cẩn thận, rồi bổ một nhát duy nhất. Người nghe hình dung ra cảnh giết người đúng như vậy khi va bình thản kể lại trường hợp phạm tội, vừa kể vừa nhấm nháp từng ngụm trà nóng bỏng.

Tu Sĩ bao giờ cũng nghe lời Tên Giết Người, không dám cãi. Và tránh xa va lúc nào có thể tránh xa. Tu Sĩ sợ va, có vẻ là như thế. Hoặc ít nhất thì cũng rất nể va, như Nhà Báo kết luận. Tu Sĩ bị bắt trong một lần giảng đạo “chui”, trong một bản miền núi. Tội giảng đạo “chui” bị “quả tớm ” đại loại cũng như tội buôn lậu bị bắt với đầy đủ tang chứng, không thể tha. Khác nhau ở chỗ, tên buôn lậu được đưa ra toà xử, có án, còn người giảng đạo chui thì bị “boọp”, tức là “tập trung cải tạo”, thứ tù không biết ngày về.

Nhà Báo, cùng đòn khiêng với Tu Sĩ, thở dài. Trong lòng, va không ưa Tu Sĩ, không ưa cái gọi là đức “khiêm nhường chịu luỵ” của Tu Sĩ. Va là kẻ vô thần. Trong đầu va chỉ có chủ nghĩa duy vật, kết quả của một nền giáo dục duy nhất va được hưởng. Va coi khinh cái cách lý giải mọi sự đời kiểu “Một sợi tóc rơi xuống cũng không ngoài ý Chúa” của tín đồ Thiên Chúa giáo.

Vào tù Nhà Báo mới có dịp thấu hiểu cái xã hội trong đó va phải sống sở dĩ cứ nhơn nhơn tồn tại chính là nhờ thứ “khiêm nhường chịu luỵ” ấy, nơi thay vào Chúa là Đảng và Nhà nước. Nhưng cái lý thuyết lởm khởm nọ một khi đã chui sâu vào đầu va thì cứ ở lì đấy để bắt va suy nghĩ theo cách nó biện giải sự đời. Va không thể hiểu được vì sao con người rất mực hiền lành như Tu Sĩ lại có thể rơi vào sự khốn khó này? Ờ thì chính quyền vô thần không ưa bất cứ tôn giáo nào, nhưng ngoài mặt nó tỏ ra không ngăn cấm tự do tín ngưỡng. Nó chỉ tìm đủ cách không cho các tôn giáo tranh giành địa vị kẻ cai trị về mặt tinh thần với nó mà thôi. Va khác, va có tội thật, vì va đã dám vượt rào phát biểu những ý nghĩ phạm thượng với những kẻ luôn khuyến khích va sử dụng quyền dân chủ để xây dựng đất nước. Chính những kẻ đó đưa va đi tù.

Tu Sĩ ít nói, va giấu giếm làm dấu thánh, giấu giếm đọc kinh vào ban đêm, khi mọi người ngủ say. Những người tù Thiên Chúa giáo kính trọng va. Một lời của Tu Sĩ nói ra được họ coi như một lời của bề trên mà họ phải nghe theo. Qua lời kể của họ, Nhà Báo biết rằng chỉ còn thiếu một chức thánh nữa là Tu Sĩ thành linh mục. Có lẽ vì thế mà những người ngoại giáo trêu chọc gọi Tu Sĩ bằng Cha. Tu Sĩ cam chịu mọi sự trêu chọc và trên gương mặt bất động của va tỏa ra một ánh hạnh phúc, hoặc chí ít cũng là niềm vui từ sự cam chịu đó.

– Này Cha, Cha có nghiệm thấy người chết nặng hơn người sống không? – Nhà Báo bâng quơ hỏi Tu Sĩ – Nói ví thử như lão này, gày như cá mắm, thế mà bây giờ thì nặng chình chịch.

– Cái đó không có lý – Tu Sĩ trả lời – Trọng lượng con người ta lúc sống thế nào thì lúc chết thế vậy.

– Thế thì trong trường hợp này phải có hai thứ trọng lượng, thưa Cha: trọng lượng tuyệt đối và trọng lượng cảm tính. Chính cái chết đã sinh ra cảm giác người chết nặng hơn lúc còn sống

Nhà Báo nói và ngẩng đầu nhìn bầu trời hoàng hôn sơn cước, thứ hoàng hôn cô tịch màu lam ngả sang màu tím. Sương mù trong thung lũng không bao giờ đọng lại dưới lòng chảo lúc hoàng hôn. Chỉ lúc ấy không khí mới có màu hổ phách trong vắt. Mải nhìn trời, va vấp phải hòn đá trồi lên trên mặt đường làm cho cái quan tài nhao đi cùng với cái vấp của va, và từ trong áo quan vẳng ra một tiếng nấc, hoặc một tiếng ợ.

– Cha mẹ ơi, ông ấy còn sống!

Tên Cắp Vặt, trẻ tuổi nhất trong đội mai táng quăng vội cây đòn, nhảy phắt sang một bên. Mặt va trắng bệch. Cái quan tài giộng xuống đường đánh cái kịch, đổ nghiêng. Nghe rõ tiếng xác chết va lục cục vào thành áo quan.

6

Bốn người tù bắt đầu đào huyệt. Trên nghĩa địa tù không có lấy một ngọn gió. Tu Sĩ bắt mệt nhanh hơn ba người còn lại. Mồ hôi chảy thành dòng trên mặt va, mặc dầu khi nắng vừa tắt thì cái lạnh bắt đầu ào ạt dâng lên.

Nhà Báo trầm tư xúc từng xẻng một.

– Cha không cần phải vội – Nhà Báo nhìn Tu Sĩ đang chăm chú đào huyệt – Nghĩa địa không phải bến ô tô. Đã đến đây rồi không ai lỡ chuyến hết.

Tu Sĩ đưa cánh tay quệt mồ hôi trên trán. Trong tầm mắt của va là một vùng nhấp nhô mả lớn mả bé, mả cũ mả mới. Khi Tu Sĩ được đưa tới đây, ba năm trước, nghĩa địa tù chỉ là một mảnh vườn đầy cỏ gà, cỏ xước và những bụi chó đẻ.

– Làm nhanh rồi còn về – Tu Sĩ nói.

– Tôi không vội, thưa Cha – Nhà Báo nói – Tôi không có nhà để mà về. Ở đây, giữa thiên nhiên, tôi thanh thản. Tôi muốn kéo dài thời gian thanh thản này.

– Thôi đi mày – Tên Giết Người gắt – đừng tán dóc. Ta sắp được một bữa sắn nhoè, thanh thản là cái đéo gì.

Nhà Báo nhổ bọt vào lòng bàn tay để cầm cán xẻng cho đỡ rát, lẳng lặng xục lưỡi xẻng vào đất bán sơn địa lổn nhổn sỏi vụn và đá son.

– Mày không thấy lão Tỉnh Trưởng à? Mặt lão bệch ra rồi. Chẳng còn được mấy nả đâu. Lão sẽ đi trước. Sau mới đến lượt thằng Ngựa Điên.

Tên Giết Người thích gọi Nhà Báo bằng “mày” để nhấn mạnh tính chất bình đẳng giữa va và Nhà Báo, thứ bình đẳng chỉ nhờ nhà tù mà có. Ở ngoài đời va chưa từng gặp một nhà báo nào, đừng nói tới chuyện được ngồi ăn cùng, được vỗ vai, được văng tục, được mày tao chi tớ thoải mái với một thằng trí thức như thế.

Nhà Báo trong thâm tâm không thừa nhận sự bình đẳng ấy, va cảm thấy khó chịu, va còn buồn nữa, gọi là tủi thân thì đúng hơn, nhưng va không phản đối. Trong tù cần phải biết chấp nhận mọi điều bất bình thường, phải biết coi tất tật mọi sự là lẽ đương nhiên

Nhà Báo lắc đầu:

– Tỉnh Trưởng còn trụ được lâu.

– Cuộc nào, tao bảo nội trong tuần này là va xong phim – Tên Giết Người hất hàm – Hai suất cơm, chịu không?

– Đừng cuộc – Tu Sĩ khuyên Nhà Báo – Ông ấy nói đúng đấy.

– Tại sao?

– Tôi đã nhìn thấy bóng Thần Chết trên mặt Tỉnh Trưởng.

– Thế còn Ngựa Điên? Cha bảo sao? – Nhà Báo hỏi lại.

– Anh ấy thì đúng là còn lâu.

Tên Giết Người cười lớn. Va không biết kết luận thành lời những ý nghĩ, nhất là những cảm xúc của va.

Ngựa Điên là kẻ mà Tên Giết Người ghét cay ghét đắng. Sự có mặt của Ngựa Điên làm lu mờ danh tiếng của va. Cái tên Ngựa Điên sở dĩ có là do những cái răng cửa dài hơn bình thường và cặp mắt long sòng sọc của người tù mang án chung thân vì tội giết người. Những người tù kính trọng Ngựa Điên vì va giết người chỉ để trả thù cho người cha bị bức tử trong cải cách ruộng đất. Viênquan toà xử cha va về sau giàu sụ, Ngựa Điên hạ sát kẻ thù xong thì chỉ cắt thủ cấp mang về, tịnh không động đến chút gì gọi là của cải. Đặt thủ cấp kẻ thù lên ban thờ cha xong, va xách mã tấu lên đồn Công an đầu thú.

Dọc đường, Tên Cắp Vặt im lặng, không tham gia chuyện người lớn. Bé người, nhưng va có thâm niên tù cao nhất so với các bạn trong đội mai táng. Va vào tù từ lúc còn bị cưỡng bức học trường Phổ thông Công nông nghiệp, thực ra là một hình thức giam giữ thiếu niên hư hỏng. Va bị đưa lên trại sau khi ngủ với một cô giáo ở trường làm cho cô ta có mang.

Cái huyệt được đào xong.

Nhà Báo ngồi lên cán xẻng, bên cạnh quan tài Người Tù Già, nhàn nhã đánh diêm châm điếu thuốc vê. Mấy người kia cũng hút, kể cả Tu Sĩ. Bốn làn khói khét lẹt bay lên trên nền núi xa đã sẫm hơn trên nền trời về tối. Hoàng hôn ở đây bắt đầu sớm nhưng trôi đi rất chậm. Trời mỗi lúc mỗi lạnh.

Tên Giết Người bấm Tên Cắp Vặt, hai đứa lảng ra xa. Ở đó chúng thì thào với nhau, thỉnh thoảng lại liếc về phía Tu Sĩ và Nhà Báo.

Nhà Báo, bằng con mắt nghề nghiệp, đoán chúng đang bàn chuyện gì đen tối. Va theo dõi hai đứa theo thói quen, vì tò mò, chứ mọi âm mưu, mọi thủ đoạn của những người bạn tù đủ mọi loại, đối với va chẳng có nghĩa lý gì. Va đứng trên, đứng xa mọi sự, dửng dưng với mọi sự. Với bộ lạc tù, va được coi là vô hại. Một người dửng dưng với sự đời không bao giờ làm ăng-ten .

Tên Giết Người quay lại bên huyệt, lạnh lùng nói :

– Thưa Cha, xin Cha vui lòng đi ra đàng kia… Một lát thôi. Và quay mặt đi cho con nhờ.

Tu Sĩ không nói không rằng đi ra xa, ở đó va đứng yên như tượng, nhìn lên trời.

– Còn mày nữa, Nhà Báo, mày cũng ra đàng kia. Và quay mặt đi.

– Các anh định làm gì vậy? – Tu Sĩ quay mặt lại, hỏi.

– Cái đó không liên quan đến Cha. Đi xa nữa đi.

Tu Sĩ lẳng lặng bước xa thêm. Va ngắm nghía những đám mây bay chậm trên đỉnh núi cao nhất, lấp lánh màu sắc xà cừ. Những màu sắc thay đổi rất nhanh. Tu Sĩ bất giác nhớ đến những hoàng hôn biển ở quê mình và thở dài. Cuộc đời bên ngoài tù ngục dù sao vẫn đẹp, va sẵn sàng chịu đựng mọi khốn khó Chúa trao.

Nhà Báo cười gượng gạo :

– Tao thì xem được chứ? Vì tò mò thôi.

– Tùy! Nếu mày muốn – Tên Giết Người buông xõng và cầm lấy cái xẻng.

Đôi vai Tu Sĩ giật lên khi nghe tiếng két kéo dài của tấm ván thiên được cậy lên.

– Mày tin là ở trong áo bông? – Tên Giết Người hỏi.

– Người ta bảo thế – Tên Cắp Vặt đáp khẽ.

Tên Giết Người ra lệnh:

– Được. Bây giờ dựng nó dậy.

Tên Cắp Vặt lùi lại, mặt tái mét.

– Em sợ!

– Đồ hèn! – Tên Giết Người cười và nhổ bọt – Quá hèn.

Tên Cắp Vặt xua tay:

– Chớ! Chớ nhổ bọt.

– Thì sao?

– Kiêng đấy.

Tên Giết Người ném cho Tên Cắp Vặt một cái lườm bỏng rẫy rồi xoạc cẳng đứng trên đầu áo quan nhìn xuống.

Va ngạc nhiên thấy sắc mặt Người Tù Già không xám ngoét như lúc nhập quan, mà bỗng có chút hồng. Cái đó có thể do ánh sáng của mặt trời đã lặn phản chiếu từ đám mây trên trời cao mà ra.

Tên Giết Người nhớ đến chuyện một người tù đã đem chôn mà sống lại, bật ván thiên vùng ra khỏi huyệt để lần về trại. Va tát vào má Người Tù Già mấy cái xem lão có phản ứng gì không, nhưng lão nằm yên.

– Đừng, ông – Tên Cắp Vặt nói, giọng van vỉ – Đừng làm thế.

Đáp lại, Tên Giết Người cười khẩy. Va nắm lấy hai vai xác chết, giật mạnh. Xác chết bật dậy, đứng dựa vào ngực Tên Giết Người. Va, một tay đỡ xác chết cho nó khỏi đổ, tay kia lục lọi quần áo người chết.

Nhà Báo nhìn thấy cằm của Người Tù Già tựa vào vai Tên Giết Người, trên gương mặt bất động của xác chết đôi mắt hé mở, lờ đờ.

– Chẳng có chó gì hết – Tên Giết Người càu nhàu – Mày nói thế nào ấy…

– Hay là ở trong áo bông? – Tên Cắp Vặt lí nhí.

– Đưa tao con dao.

Tên Cắp Vặt đưa cho Tên Giết Người con dao to bằng đốt ngón tay làm bằng sắt đai thùng. Roạt, roạt. Tên Giết Người rạch mấy đường làm cho bông gòn trong áo bay loạn lên trong gió.

– Đéo có chó gì hết – va càu nhàu.

– Có khi ông ấy giấu trong quần lót, ông ạ – Tên Cắp Vặt lùi ra xa, mặt xám không kém gì mặt xác chết – Ông “loại” kỹ xem.

– Lại đây, đồ vô tích sự!

Nghe va gọi, Tên Cắp Vặt không những không đến gần mà còn lùi thêm vài bước.

– Lại đây! – Tên Giết Người gắt – Sao mày nhát thế?

Nhưng vô hiệu, Tên Cắp Vặt trợn mắt, cái nhìn dán chặt vào bộ mặt bất động của xác chết.

Nhà Báo nhếch mép, nhưng không cười. Cảnh tượng ấy chẳng thích hợp với nụ cười nào.

– Thôi, mày – Nhà Báo phẩy tay – Chôn đi, rồi còn về.

Ngoái cổ lại, va nhìn thấy Tên Giết Người và Người Tù Già vẫn đứng tựa vào nhau. Hệt như Tên Giết Người đang vuốt ve Người Tù Già và đang thủ thỉ với lão.

– Họ vẫn chưa xong hả? – không quay mặt lại, Tu Sĩ hỏi vọng lại.

– Chưa.

Cảnh tượng Tên Giết Người lục soát xác chết làm cho Nhà Báo thấy trong lòng mình sôi lên một nỗi giận dữ khó hiểu.

Và chẳng biết làm gì với nó, va bước mấy bước về phía Tu Sĩ.

– Này Cha – va nói – Cha tin là có Chúa?

– Tôi hằng tin ở Người – Tu Sĩ đáp, mặt nghiêm trang.

– Vậy thì Chúa ở đâu?

– Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa thông biết mọi sự.

– Cả ở đây nữa chứ thưa Cha, – Nhà Báo mai mỉa – Trong cái chốn chúng ta đang ở này này?

– Trong cả chốn này.

– Thật sao?

– Và cả trong ta – Tu Sĩ nhấc tay làm dấu

– Và Chúa công bằng? – Nhà Báo gặng.

Tu Sĩ vẫn nghiêm trang:

– Không ai công bằng hơn Chúa.

Nhà Báo phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ của va bay xa, đập vào vách núi rồi lại vẳng lại “ha..ha..ha..ha.. ha …a..a…”!

Khi tiếng cười yếu dần rơi xuống ở đâu đó trong những lùm cây đã biến thành những khối đen, Nhà Báo nghe tiếng một vật nặng đập vào gỗ. Va đoán Tên Giết Người đã xong việc, vừa ném Người Tù Già trở lại áo quan.

– Cho mày! – Nhà Báo nghe thấy Tên Giết Người nói.

– Không. Cháu cảm ơn ông.

– Sao? Mày chê ít à?

– Không! Cháu không lấy đâu.

– Mày sợ hả?

Tên Cắp Vặt lắp bắp:

– Cháu thấy… cháu thấy…

– Thấy cái gì?

-… Ông ấy lườm cháu. Tại cháu đầu têu…

Tên Giết Người ngửa mặt lên trời mà cười to.

– Mày không lấy, tao lấy. Tao cóc sợ con khỉ khô nào hết.

Rồi chợt nghĩ ra điều gì, va cúi xuống nhặt cái bát sắt tráng men mà thịt ở trong đã đổ tung toé ra áo quan khi nó bị rơi xuống trên đường.

– Cái bát còn tốt – Tên Giết Người ngắm nghía cái bát rồi nói – Cho mày đấy.

– Không! – Tên Cắp Vặt rền rĩ – Không. Cháu không lấy đâu.

– Thế thì tao cho mày một cái bạt tai – Tên Giết Người quát – Có lấy không? Này đây!

Vang lên một tiếng bốp, rồi tiếng Tên Cắp Vặt nấc lên, không rõ vì đau hay vì sợ.

Tên Giết Người đóng nắp áo quan. Tấm ván thiên xô sang một bên, để lộ nửa mặt người chết, khi bốn người lặng lẽ thòng dây chão vào dưới áo quan để thả nó xuống lỗ huyệt đen ngòm. Chẳng nói chẳng rằng, họ xúc đất đổ xuống cho đến khi nó được lấp đầy. Tu Sĩ là người cuối cùng còn làm việc sau khi ba người kia đã ngồi nghỉ.

Khi nấm mồ đã được Tu Sĩ đắp xong lùm lùm cho ra vẻ một nấm mồ, Tên Cắp Vặt đứng dậy, chạy hộc tốc về phía con suối ở đầu kia của nghĩa địa, từ đó va lặc lè vác một tảng đá đi về phía ba người đứng đợi. Tảng đá nặng làm va thở dốc. Va liếc nhìn Nhà Báo và Tu Sĩ rồi nhẹ nhàng đặt tảng đá xuống đầu nấm mộ. Đoạn lấy tay vun đất chung quanh cho cao thêm.

“Món hối lộ của một lương tâm khiếp đảm”, Nhà Báo nghĩ.

Bốn người tù ra về.

Ngày hết.

Khi họ xuống suối rửa chân tay, Nhà Báo cà khịa với Tu Sĩ :

– Nếu có Chúa và Chúa là công bằng thì ít nhất cũng phải để cho ông lão tội nghiệp nọ ăn xong bữa tươi hôm nay đã… Chúa toàn năng trong trường hợp này còn nhẫn tâm hơn cả người thế tục.

– Lạy Chúa tôi lòng lành! – Tu Sĩ sợ hãi kêu lên.

– Ít nhất thì Chúa cũng phải làm một điều gì đó cho con người bất hạnh ấy chứ, phải không? Nếu không, Chúa sao còn là Chúa?

Tu Sĩ rùng mình trước lời nói báng bổ của Nhà Báo, lẳng lặng ngước mắt lên trời, thành kính làm làm dấu thánh.

– Caeli enarrant gloriam Dei !

Bầu trời đêm chết lặng trước mắt va. Những tầng trời sáng danh Chúa.

Tu Sĩ lẩm bẩm và thở dài não nuột.

1979

TỪ MỘT ĐỨA TRẺ BỊ BỞ RƠI TRỞ THÀNH ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI HOA KỲ VÀ GIỜ ĐÂY CHUẨN BỊ TIẾN CHỨC LINH MỤC

TỪ MỘT ĐỨA TRẺ BỊ BỞ RƠI TRỞ THÀNH ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI HOA KỲ VÀ GIỜ ĐÂY CHUẨN BỊ TIẾN CHỨC LINH MỤC

Cameron Song Sellers từng là đại tá trong Quân đội Hoa Kỳ, từng tham chiến tại Afghanistan, Bosnia và Iraq, và tại chiến trường này nhờ gương sáng của một tuyên úy quân đội mà anh quyết định từ bỏ mọi thứ để trở thành một Linh mục.

Năm nay Cameron Song Sellers 50 tuổi, anh sinh năm 1968 ở Hàn Quốc và hiện đang chuẩn bị tiến chức Linh mục tại Giáo phận California, Hoa Kỳ. Tại chiến trường Trung Đông, anh đã ấn tượng về việc mục vụ của cha tuyên úy quân đội và anh muốn trở nên Linh mục như ngài.

Sau Chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953, Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Hậu quả là nhiều bà mẹ đã bỏ rơi đứa con mình và anh Sellers là điển hình. Mẹ anh đã bỏ anh trong một con hẻm khi anh mới ba tuổi.

Anh kể về bản thân như sau: “Tôi không biết làm thế nào người ta gặp được tôi, và họ đưa tôi vào bệnh viện sơ cứu. Sau đó, một bác sĩ đưa tôi cho một người ở Mỹ nhận làm con nuôi. Và tôi đã lớn lên ở đất nước này”.

Cha mẹ nuôi của anh là những người theo Tin Lành nhưng tuổi thơ của anh cũng không tha thiết gì với tôn giáo. Anh chia sẻ: “Tôi biết mình lớn lên trong gia đình Tin Lành, nhưng tôi ghét Giáo hội.”

Nhưng rồi Chúa có những đường lối đặc biệt của Ngài dành cho anh. Anh quen bạn học ở trường Công Giáo và người bạn này nói rằng anh không biết về giáo lý Công Giáo.” Điều ấy đã thách đố anh và anh bắt đầu tìm hiểu về Giáo lý.

Anh chia sẻ như sau: “Thiên Chúa đã có một kế hoạch cho tôi. Tôi nghĩ Ngài đã sắp xếp mọi sự trong đời tôi, để tôi được nuôi dạy và lớn lên trong một gia đình có tôn giáo.”

Sau khi tốt nghiệp đại học, Cameron gia nhập quân đội và phục vụ tại Bosnia, Afghanistan và Iraq. Anh là một binh lính tốt và được thăng cấp đại tá.”

Trong thời gian ở trong quân đội vào những thời điểm khó khăn, khủng hoảng, anh được các cha tuyên úy quân cho những lời khuyên bảo và bài giảng thấm thía.

Anh bồi hồi nhớ lại: “Âm nhạc, bài giảng, đã làm tôi rơi nước mắt vì nó đem lại sự bình an trong tâm hồn. Trong những khoảnh khắc khó khăn, bạn mới biết chúng quan trọng như thế nào.”

Sau khi rời quân đội Sellers sống tại California và anh quyết định vào chủng viện đi tu. Và Tổng giáo phận San Francisco đã đón tiếp anh, người cựu chiến binh trở về từ chiến trường.

Giờ đây khi chuẩn bị tiến đến chức Linh mục, anh mạnh mẽ chia sẻ: “Có hai điều thực sự tôi dấn thân, tin tưởng và nói tiếng “Xin Vâng” đến cùng: Một là, ‘Bạn có dám sống chết với sứ vụ Linh mục không?’ Câu trả lời là ‘có’. Và điều thứ hai là, ‘Bạn có tin vào các Bí tích không?’ Câu trả lời vẫn lại là ‘có’.

Cuối cùng vị tân Linh mục chia sẻ: “Tôi đã nhìn thấy cách thức mà các Bí Tích đã thực sự chữa lành cho tôi, và tôi cũng mang sự chữa lành này đến cho tha nhân.”

Gx. Cần Giờ – DCCT

May be an image of 1 person