HENRI NOUWEN, MỘT VỊ THÁNH CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA

HENRI NOUWEN, MỘT VỊ THÁNH CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.

Triết gia Simone Weil đã viết câu đó, và bà đúng.  Chúng ta cần những vị thánh mà thời điểm hiện tại đòi hỏi và tôi muốn đề xuất một người mà tôi tin rằng phù hợp với mô tả này, đó là linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng đã qua đời năm 1996.  Sự thánh thiện của ngài là gì và tại sao nó đặc biệt thích ứng vời thời hiện tại?

Henri Nouwen được cho là ngòi bút thiêng liêng có sức ảnh hưởng nhất thế hệ chúng ta.  Tuy nhiên, linh đạo của ngài không phát xuất từ lòng sốt mến dễ dàng hay đức tin chưa qua thử thách.  Như tác giả Michael Higgins viết trong quyển tiểu sử Nouwen, ngài là “một thiên tài sinh ra từ thống khổ.”  Nouwen là vị thánh bị lo âu dày vò, một vị thánh lý tưởng cho một thời đại chìm trong lo âu.

Ngài là con người lo âu, đau đớn, phức tạp với một cá tính quá đỗi nhạy cảm.  Ngài có xu hướng ám ảnh trong các mối quan hệ thân thiết, có khi thể hiện những nhu cầu ấu trĩ như trẻ con và dù đã có được biết bao tình yêu thương, được đón nhận và thành công, nhưng ngài luôn mãi bị ám ảnh với ý thức, mình không được yêu thương thật sự và không có nơi nào là mái ấm cho mình.  Ngài còn nuôi dưỡng một vết thương trong lòng mà ngài không bao giờ giải thích cho người khác cũng như không hòa giải với chính mình.  Với biết bao chuyện như thế, ngài lại còn có tính khí của một nghệ sĩ, vừa là một ơn vừa là gánh nặng, và như nhiều nghệ sĩ khác, ngài phải đấu tranh để giữ sự bình thường, thiết thực và cân bằng khi sáng tạo, tận hưởng sự tỉnh táo thực tế và không vượt ra khỏi lời khấn khiết tịnh.  Vì thế, ngài có thể lên sân khấu, tỏa một sức sống mãnh liệt, rồi bước xuống sân khấu và vài phút sau đã bật khóc và xin người khác an ủi mình.  Về tính dục, dù đã có lời khấn độc thân khiết tịnh và vẫn giữ trọn lời khấn, nhưng có những lúc ngài yêu đến ám ảnh một ai đó, đến nỗi ngài chỉ có thể giữ trọn lời khấn và sự tỉnh táo bằng cách tìm đến bác sĩ chuyên khoa.

Đây không phải là những điều mà bạn thường đọc thấy nơi cuộc đời các thánh, ít ra là những thánh đã được chính thức phong thánh và được xem là gương mẫu của thánh thiện, nhưng thật ra, nó chính là chất liệu của sự thánh thiện.  Triết gia Soren Kierkegaard, người mà linh mục Nouwen ái mộ, đã định nghĩa một vị thánh như sau: thánh là người chỉ muốn một điều.  Đó là một việc không dễ dàng gì.  Không phải vì chúng ta khó mong muốn điều đúng đắn, nhưng vì chúng ta còn muốn nhiều điều khác nữa.  Thánh Tôma Aquinô đã xác nhận, mọi lựa chọn là một sự từ bỏ.  Nói thế là nói ngắn gọn.  Mọi lựa chọn là một loạt những từ bỏ, và chính vì thế mà lựa chọn và thánh thiện đều là việc khó khăn.

Trong nhật ký của mình, linh mục Nouwen mô tả sự đấu tranh của mình như thế này.  Tôi muốn làm một vị thánh vĩ đại, nhưng tôi còn muốn trải nghiệm mọi cảm giác mà những người tội lỗi cảm nghiệm.  Tôi muốn rút lui vào thinh lặng của cầu nguyện, nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì trên đời.  Tôi muốn chôn mình trong vô danh sống giữa người nghèo, nhưng tôi cũng muốn viết sách, muốn người ta biết đến, muốn đi đây đó, gặp mọi người và làm những việc thú vị.  Đó là những điều mà ngài đã phải đấu tranh, cũng như chúng ta vậy, nhưng cuối cùng, ngài đã tìm được cách để chỉ muốn một điều.

Ngài làm bằng cách nào, làm sao bất chấp tất cả mọi chuyện này, ngài đã trở nên một vị thánh?  Ngài làm được nhờ sự chân thật khiêm hạ không bao giờ chối bỏ những đấu tranh vật lộn của mình.  Ngài làm được như thế nhờ ngài chấp nhận sự phức tạp của mình, bằng cách quỳ gối trong những lời cầu nguyện bất lực, khi sức của ngài không đủ, và bằng cách để người nghèo yêu mến mình.  Và ngài làm như thế bằng cách chia sẻ những vết thương của mình với mọi người, bằng cách tìm sự giúp đỡ của chuyên gia khi suy sụp, bằng cách học lấy từ mọi nỗi đau, ám ảnh và đau lòng, rằng, đến tận cùng, trái tim chúng ta mạnh hơn những vết thương và vì thế chúng ta có thể giữ được những cam kết và cuối cùng có được bình an trong phức tạp, cám dỗ và đấu tranh.

Chắc chắn các vị thánh thời xưa đã có những đấu tranh của riêng họ khi cố gắng chỉ muốn một điều, cố gắng dẫn truyền sinh lực bất kham của họ và phó mình trong tay Thiên Chúa.  Tuy nhiên, những câu chuyện chúng ta nghe về cuộc sống các ngài lại có khuynh hướng làm nổi bật những nhân đức hơn là đấu tranh.  Ví dụ Mẹ Têrêxa cũng là vị thánh của thời đại chúng ta, là vị thánh đã tạo nhiều cảm hứng tích cực.  Với nhiều người chúng ta, cuộc đời và nhân đức của Mẹ dường như quá xa vời với những đấu tranh rối ren và trần tục của chúng ta, đến nỗi chúng ta xem Mẹ như một vị thánh để ngưỡng mộ chứ không phải để noi gương.  Dĩ nhiên như thế là không đúng.  Mẹ cũng có những đấu tranh, và là đấu tranh cực lớn. N hưng khi kể lại chuyện đời của Mẹ, những đấu tranh đó lại không thường được nêu bật.

Câu chuyện của linh mục Henri Nouwen và các tác phẩm của ngài, lại nêu bật những đấu tranh, chứ không chỉ nhân đức và sự khôn ngoan của ngài.  Biết được sự trần tục trong những đấu tranh của ngài, có thể gây nên ấn tượng rằng nơi ngài có ít điều đáng ngưỡng mộ hơn Mẹ Têrêxa.  Có lẽ thế. Nhưng, nơi cha Nouwen, chúng ta thấy một người mà chúng ta dễ noi gương hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

TÂM HỒN CAO THƯỢNG

TÂM HỒN CAO THƯỢNG

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Năm 1886, cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng” của Edmondo De Amicis ra đời; nguyên tác là “Cuore,” nghĩa là “Trái Tim.”  Hơn 130 năm, tác phẩm đã chinh phục hàng triệu trái tim độc giả trên thế giới.  “Cuore” viết theo thể nhật ký thông qua lời kể của Enrico, một cậu bé 10 tuổi, xuất thân từ tầng lớp thượng lưu đang hoà nhập cùng bạn bè thuộc giới lao động.  Đó là những câu chuyện nhỏ, diễn ra suốt năm học lớp 3, dưới góc nhìn của cậu bé.  Thế giới trẻ thơ ấy có những va đập, bất đồng liên tục.  Thế nhưng, thật bất ngờ, sau những va đập đó, là những mảnh vỡ nhặt được, lại lóng lánh bao giá trị sống; đó là lòng yêu nước, sự chân thành và hơn cả, lòng tốt của mỗi con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta mục kính những “tâm hồn cao thượng” không phải vào thời Enrico, nhưng những “tâm hồn cao thượng” thời Cựu Ước và cả thời Tân Ước.  Thế nhưng, Tin Mừng không chỉ dành cho trẻ em, mà còn cho cả người lớn; nên bên cạnh đó, Chúa Giêsu không ngại chỉ ra những tâm hồn rất ít cao thượng; đó là những luật sĩ mà Ngài phải nặng lời khi nói về họ.

Trước hết, những “tâm hồn cao thượng” thời Cựu Ước, đó là cha con ông Tôbia.  Họ đã bàn bạc với nhau, “Chúng ta phải tặng cái gì cho người thánh thiện đã đi với con?”  Rồi cả hai cha con gọi thiên thần đến, đưa người ra chỗ riêng và xin người vui lòng nhận một nửa những gì đã mang về.”  Thật thú vị, bà Tôbia và cô dâu Sarah không được nghe!  Và nếu chúng ta tò mò muốn biết “những gì đã mang về” ấy, thì sách Tôbia cho biết, có đến 300 ký bạc, chưa nói số lãi trong 20 năm; đó là cả một gia tài.  Và ở đây, chúng ta không thể bỏ qua “tâm hồn cao thượng” của Gabael, người giữ số bạc cho Tôbia, ông sẵn sàng trao lại những gì đã giữ theo khế ước.  Chuyện như mơ đối với người thời nay!  Và này, một “tâm hồn cao thượng” khác đã kịp được tiết lộ trước khi sách Tôbia khép lại; đó là Raphael, Tổng lãnh thiên thần, bạn đồng hành của “Tôbia con.”  Bấy giờ, Raphael mới tỏ lộ danh tánh, tỏ lộ sứ vụ trợ giúp gia đình Tôbia; và rồi, không lấy một xu, vì thiên thần đâu cần tiền như chúng ta!  Ngài nói, “Vậy đã đến lúc tôi phải trở về cùng Đấng đã sai tôi; còn các người, hãy chúc tụng Thiên Chúa và cao rao mọi việc kỳ diệu của Ngài!”  Tâm tình ngợi khen đó được nhắc đi nhắc lại trong câu đáp ca, “Chúc tụng Thiên Chúa, Đấng muôn đời hằng sống!”

Với bài Tin Mừng, thật đặc biệt, đó là “tâm hồn cao thượng” của một bà goá thời Tân Ước.  Bên hòm dâng cúng, Chúa Giêsu đã nhìn thấy bà bỏ nhiều hơn ai hết; Ngài nói, “Bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.”  “Để nuôi sống” chính là sự sống, là máu.  Chúa Giêsu nhìn thấy những gì không ai khác nhìn thấy, Ngài nhìn thấy bà, một người gần như bị mọi người phớt lờ; Ngài còn nhìn thấy đó là một hành động nhân đức ngời sáng; tính xác thực của món quà bà dâng gấp đôi.  Bà lặng lẽ đưa ra, mà không hề nghĩ đến việc giành được lời khen ngợi; món quà của bà chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Và những gì bà cho đi tuy thật nhỏ bé, nhưng thực chất là tất cả của bà.  Bác ái thuần tuý được thực hiện cho Thiên Chúa liên quan đến sự dâng hiến toàn bộ bản thân chúng ta; đó là một sự hiến dâng không dè giữ, sẵn sàng yêu thương, phục vụ; bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào.  Đó là bác ái đích thực của một “tâm hồn cao thượng!”

Ngoài những “tâm hồn cao thượng” đáng ngưỡng mộ trên, chúng ta còn chứng kiến những tâm hồn ít cao thượng mà Chúa Giêsu chỉ ra; đó là các luật sĩ giả hình đang “biểu diễn” trước mặt mọi người.  Áo xống họ thùng thình gây sự chú ý; những chức danh, tước vị đi liền sau tên họ, xem ra đang tặng cho họ những giá trị bản thân.  Vị trí lãnh đạo của họ đặt lên vai họ một trách nhiệm lớn lao; tuy nhiên, khác xa với những điều tốt đẹp họ có thể làm, họ đã sử dụng nó để lợi dụng người khác.  Họ không biết họ sống vì ai?  Họ dạy dỗ, cốt để gây ấn tượng; họ cho đi, cốt để tạo danh tiếng; họ cầu nguyện, cốt để biện minh cho tất cả những gì họ đã lấy trộm của người nghèo.  Họ không phải là những con người xấu xa; họ là những “quý ông tốt,” nhưng đã bị cuốn hút bởi việc tìm kiếm hư danh và yêu bản thân.  Điều này giải thích tất cả những gì họ đã làm; ngay cả khi họ tình cờ làm một điều gì đó, giá trị của nó cũng trống rỗng, vì cái họ tìm kiếm là tôn vinh chính mình.

Anh Chị em,

Có tâm hồn nào cao thượng bằng tâm hồn của Thiên Chúa; “tâm hồn cao thượng Giêsu” đã chết, đã sống lại và giờ đây đang âm thầm hiến mình trên các bàn thờ, trong các nhà chầu.  Ước gì lòng bác ái của chúng ta luôn được lặng lẽ kín đáo như Ngài; và sự hiến dâng của chúng ta cũng là một điều gì đó mà chỉ một mình Thiên Chúa biết.  Bởi lẽ, việc tìm kiếm chính mình sẽ giết chết giá trị của sự hiến dâng, ám sát những nỗ lực hình thành các nhân đức, và bóp nghẹt trái tim của một con người hầu kìm hãm, không cho nó có khả năng vươn tới một “tâm hồn thuộc cõi trên.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để của cải chiếm hữu con nhưng cho con biết cách sở hữu của cải; xin giết chết thói hư danh nơi con, hầu con có một “tâm hồn cao thượng.”  Xin làm im tiếng sự cho đi của con, để phần thưởng của con chỉ được tìm thấy nơi một mình Chúa”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

“Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng…”

“Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng…”

Bởi  AdminTD

 BTV Tiếng Dân

1-6-2021

Đại dịch cho thấy rõ, chính quyền nào là chính quyền thật sự của dân; chính quyền nào là chính quyền lo cho dân. Những tiếng kèn thắng trận đã nổi lên quá sớm ở Việt Nam qua những khẩu hiệu tuyên truyền như Việt Nam “chống dịch tốt nhất thế giới”, rằng các nước ấn tượng về “thành tích chống dịch của Việt Nam” và “thế giới phải học Việt Nam cách chống dịch”… chỉ mua vui được một thời gian.

Sau hơn một năm thì mọi chuyện đã thay đổi, nhiều nước đã chích ngừa miễn phí cho dân và gần như trở lại bình thường, trong khi Việt Nam vẫn loay hoay dập dịch. Do lãnh đạo CSVN quá tự tin vào các biện pháp khoanh vùng, cách ly, truy vết… rồi “ngạo nghễ” tự tin rằng mình sẽ chiến thắng được dịch qua cách chống dịch kiểu này, mà không có kế hoạch chích ngừa cho toàn dân, để bây giờ trở thành nước nằm trong nhóm có tỉ lệ chích ngừa thấp nhất thế giới (hiện chỉ có khoảng 0,5% dân được chích ngừa đủ hai liều).

Trong khi các nước chích ngừa miễn phí cho dân, thì Việt Nam “xã hội hóa vaccine”, kêu gọi người dân trong và ngoài nước góp tiền để mua thuốc chích ngừa. Đại dịch xảy ra khắp nơi trên thế giới, trong đó số ca nhiễm ở VN công bố thuộc nhóm thấp nhất so với hầu hết các nước. Nhiều nước bị dịch nặng nề, nhưng cũng đã giúp đỡ cho Việt Nam hơn một năm qua, chưa kể Việt Nam tăng trưởng cao, trong lúc thế giới gồng mình chống dịch.

Dịp Tết Nguyên đán vừa qua, tác giả Phương Hạ còn có bài viết đầy lạc quan: “Niềm tin và khát vọng“, qua câu kết như sau: “Trong bức tranh u ám kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP 2,91% thật sự là kỳ tích, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, là cơ sở để các tổ chức quốc tế lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2021 và những năm tiếp theo“.

Lạc quan về những “kỳ tích”, tự hào, “ngạo nghễ” qua chuyện chống dịch, qua triển vọng kinh tế sáng sủa… nhưng đến bây giờ, chính phủ CSVN vẫn tiếp tục kêu gọi thế giới hỗ trợ, kêu gọi người dân góp tiền mua vaccine!

Xin được giới thiệu bài viết của các tác giả: Song Chi, Hoàng Ngọc Diêu và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dưới đây, để quý bạn đọc hiểu thêm về cái gọi là nhà nước “của dân, do dân và vì dân” ở Việt Nam.

***

Song ChiDân mình thật… dễ chịu, khi đại dịch chưa bùng phát mạnh ở VN và các nước láng giềng mà chỉ hoành hành ở Mỹ và châu Âu, nhiều người Việt cứ nắc nỏm khen “chính phủ ta” chống dịch giỏi, rồi còn tự hào thật may mắn đang ở VN, nhìn sang Mỹ sang châu Âu kia chết như rạ v.v…

Nhưng cuối cùng thì đại dịch COVID-19 chả chừa quốc gia nào, và khi dịch nặng thì rõ ràng những cái tệ hại của một quốc gia độc tài, một chính phủ không biết nghĩ cho dân càng lộ ra rõ rành rành.

Trong khi các nước từ Mỹ cho tới châu Âu, Canada, Úc v.v… chính phủ đều có những chính sách hỗ trợ cho các thành phần bị thiệt hại vì đại dịch, từ người thu nhập thấp, người thất nghiệp, lao động tự do, doanh nghiệp nhỏ cho tới doanh nghiệp lớn; mọi người dân đều được chích vaccine miễn phí, ưu tiên những người hoạt động trong ngành y tế, người già, người có bệnh nền được chích trước, Thủ tướng, Tổng thống thì cũng phải chờ đến lượt; vậy mà dân ngày nào cũng kiếm cách chỉ trích chính phủ đủ thứ…

Còn ở VN, dân đóng bao nhiêu thứ thuế, nhưng lại không được hỗ trợ cái gì, khi thiên tai lũ lụt cho tới đại dịch, lúc nào nhà cầm quyền cũng kêu gọi người dân đóng góp, và dân thì cứ phải đứng ra tổ chức quyên góp giúp đỡ nhau, rồi bây giờ thì lại kêu gọi “xã hội hóa vaccine”, đóng tiền mua vaccine… Cái gì cũng đè cổ dân!

Mấy hôm nay lại thấy đổ hết tội lan truyền dịch cho cái Hội thánh gì đó, vậy chứ giữa khi đang có dịch vẫn cứ tổ chức trò hề bầu cử Quốc hội, vừa tốn kém bao nhiêu tiền của, vừa lây lan dịch thì sao? Cái số tiền “khủng” bỏ ra cho cái trò hề đó cũng mua được bao nhiêu liều vaccine đấy!

***

Hoàng Ngọc Diêu: Ở Úc, từ lúc bùng nổ đại dịch đầu 2020 đến nay, chưa hề thấy chính phủ Úc kêu gọi quyên góp hoặc giúp đỡ cái gì. Ngược lại, chính phủ Úc liên tục giúp đỡ người dân bằng mọi cách. Đến nay, thuốc chích ngừa cũng do chính phủ giàn xếp mọi thứ và người dân chỉ việc đi chích miễn phí.

Nhiều bạn nói, so sánh Úc với Việt Nam là khập khiễng nhưng xét về khía cạnh trách nhiệm của chính phủ Việt Nam (lúc nào cũng rêu rao đúng đắn tài tình) thì vẫn cần so sánh và quả là sự khác biệt một trời một vực. Hết kêu gọi cái này, đến xin xỏ cái kia, thậm chí còn đại ngôn kiểu “đề nghị chuyển giao công nghệ” này nọ. Nay thì lại đẻ ra cái chuyện kêu gọi dân góp tiền mua vaccine, rồi đề nghị doanh nghiệp tự lo chuyện vaccine, thậm chí đẻ ra chuyện “đấu giá vaccine”.

Lúc bình thường thì đẻ bao nhiêu là thuế, phí và lắm trò hút máu dân để tham nhũng, để xây tượng đài, để làm những thứ vô ích và phí phạm. Đụng chuyện thì viện cớ, đổ thừa, xin xỏ. Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng như vậy mà vẫn tiếp tục tồn tại thì quả là chuyện bi hài.

Vậy chớ ít bữa đâu vào đó, chắc chắn lại tiếp tục cái trò “ơn đảng”, “đúng đắn, tài tình”.

***

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh: Sơ kết một số khoản hỗ trợ của quốc tế dành cho Việt Nam trong năm 2020 – 2021.

– Tháng 4/2020: Thông cáo của Đại sự quán Hoa Kỳ cho biết Mỹ hỗ trợ y tế gần 4,5 triệu USD giúp Việt Nam đối phó với dịch COVID-19.

– Tháng 4/2020: Đại diện tổ chức Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam đã tiến hành lễ bàn giao 3 thiết bị y tế với tổng trị giá 50 triệu yen cho Bệnh viện Trung ương Huế nhằm hỗ trợ bệnh viện này phòng, chống dịch COVID-19.

– Tháng 5/2020: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiết lộ thêm con số 5 triệu đô la cho quỹ hỗ trợ kinh tế giúp Việt Nam trong đại dịch, Tổng hai lần hỗ trợ từ Hoa Kỳ ở thời điểm này là $9,5 triệu.

– Tháng 5/2020: Úc cam kết hỗ trợ Việt Nam 10,5 triệu đôla Úc cho nỗ lực ứng phó và phục hồi từ COVID-19.

– Tháng 7/2020: Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia Đông Nam Á sẽ nhận được sự giúp đỡ từ gói hỗ trợ hơn 800 triệu euro của EU.

– Tháng 9/2020: Nhật Bản sẽ viện trợ gần 500 tỷ đồng giúp Việt Nam phòng, chống dịch COVID-19. Thông tin này được công bố trong Lễ ký công hàm trao đổi giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản về khoản viện trợ không hoàn lại phòng, chống dịch COVID-19.

– Tháng 4/2021: Chính phủ Nhật Bản, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc hỗ trợ Việt Nam 2,8 triệu USD cho nhóm dân số dễ bị tổn thương bởi Covid-19.

– Tháng 5/2021: Hàn Quốc hỗ trợ hệ thống máy đo thân nhiệt trị giá gần 1 triệu USD cho Việt Nam.

– Tháng 5/2021: Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam 1,8 triệu đô để xây dựng hệ thống kho lạnh trong kế hoạch tiếp cận vaccine.

– Việt Nam tham gia chương trình COVAX của Tổ chức Y tế thế giới nên sẽ nhận được 1,7 triệu liều vaccine thông qua WHO.

Trên đây tôi chưa tính đến các khoản viện trợ thiết bị y tế, test kit từ Hàn Quốc và một số nước khác cho Việt Nam.

Cuối cùng thì chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sau hơn 1 năm tuyên bố đã chế tạo thành công bộ xét nghiệm, đang nghiên cứu và sẽ đưa vaccine made in Vietnam vào sử dụng cuối quý 3/2021, rộn ràng ca ngợi “mặt trời Việt Nam đang tỏa sáng trong khi thế giới u ám”, giờ làm gì?

Chính phủ hô hào cùng nhân dân chống dịch, không để một ai lại phía sau, bây giờ không những không giải ngân ngân sách giúp dân vượt qua khó khăn trong đại dịch, mà còn mở tài khoản để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, kiều bào xa quê góp tiền để mua vaccine.

Gói 62,000 tỷ hỗ trợ dân trong đại dịch từ tháng 4/2020 đến nay vẫn chưa giải ngân xong và cũng không có một lời giải trình, tổng kết gì.

P/s: Đây là chưa tính đến khoản hỗ trợ quốc tế cho người dân Việt Nam trong bão lũ tháng 10/2020 lên tới hơn 10 triệu đô nữa.

Không lẽ năm nào cũng vậy và không lẽ hết lần này đến lần khác, chính phủ không có kịch bản gì do dân và vì dân hay sao?

Orange County có thêm 6 thủ khoa gốc Việt

Orange County có thêm 6 thủ khoa gốc Việt

June 6, 2021

ORANGE COUNTY, California (NV) – Không chỉ đứng đầu trong học khu lớn nhất ở Little Saigon là Học Khu Garden Grove, học sinh gốc Việt còn chiếm nhiều vị trí thủ khoa của các học khu khắp Orange County.

Các học khu như Santa Ana, Anaheim, Fullerton và Placentia có tổng cộng sáu thủ khoa gốc Việt.

Các thủ khoa gốc Việt của những học khu bên ngoài Little Saigon. Từ trái, theo chiều kim đồng hồ: Matthew Nguyễn, Brendan Mai Hà, Emily Ngô, Wilton Phùng, Jacqueline Dương, và Andrew T Ngô. (Hình: Học sinh cung cấp cho OCR)

Sau đây là danh sách sáu thủ khoa gốc Việt của những học khu ngoài Little Saigon. Hình ảnh do học sinh cung cấp cho nhật báo The Orange County Register.

Matthew Nguyễn

Matthew Nguyễn là thủ khoa của trung học Esperanza ở Anaheim, tốt nghiệp với điểm GPA 4.84.

Về các sinh hoạt, Matthew từng là thành viên của Hội Học Sinh Danh Dự Hóa Học Olympic.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Matthew sẽ vào đại học UCLA, sau đó vào trường y khoa với mục tiêu trở thành bác sĩ.

Brendan Mai Hà

Brendan Mai Hà là thủ khoa của trung học Segerstrom ở Santa Ana, tốt nghiệp với điểm GPA 4.8.

Các sinh hoạt của Brendan gồm có phó chủ tịch Liên Đoàn Học Bổng California, thư ký và điều phối viên cho Key Club, và là thành viên đội bơi lội và đội bóng nước của trường.

Sau thi tốt nghiệp trung học, Brendan muốn nhập ngũ, và cho biết chưa quyết định sẽ theo đuổi sự nghiệp nào trong tương lai.

Emily Ngô

Emily Ngô cũng là thủ khoa của trung học Segerstrom ở Santa Ana, tốt nghiệp với GPA 4.9.

Các sinh hoạt của Emily gồm có đội trưởng của đội bóng rổ và chủ tịch Liên Đoàn Học Bổng California cho trường.

Sau khi tốt nghiệp, Emily sẽ vào đại học UCLA theo ngành tâm lý sinh học với mục tiêu trở thành dược sĩ.

Wilton Phùng

Wilton Phùng là thủ khoa của trung học căn bản Godinez ở Santa Ana, tốt nghiệp với điểm GPA 4.7.

Về các sinh hoạt trong trường, Wilton từng là thành viên của đội bơi lội và đội bóng nước.

Sau khi tốt nghiệp, Wilton sẽ vào đại học UC Riverside theo ngành kỹ sư sinh học.

Jacqueline Dương

Jacqueline Dương là thủ khoa của trung học Valencia ở Placentia, tốt nghiệp với điểm GPA 4.91.

Các sinh hoạt của Jacqueline gồm có chủ tịch câu lạc bộ diễn văn và tranh luận, thành viên đội quần vợt nữ, dạy học cho trẻ em tại nhà thờ Saint Martin ở Yorba Linda. Jacqueline còn nhận được chứng chỉ International Baccalaureate, và được nhà trường trao ba giải thưởng Anh Ngữ, toán học, và thể thao.

Sau khi tốt nghiệp, Jacqueline sẽ vào đại học UCLA để học các môn cần thiết cho y khoa và theo đuổi mục tiêu trở thành bác sĩ.

Andrew T Ngô

Andrew T Ngô là thủ khoa của trung học Sunny Hills ở Fullerton, tốt nghiệp với điểm GPA 4.74.

Các sinh hoạt của Andrew gồm có làm việc cho tờ báo của trường, thành viên của đội quần vợt, thành viên Hội Lãnh Đạo Kinh Doanh Tương Lai của Hoa Kỳ, và thành viên của Hội Sinh Viên Việt Nam. Andrew còn là ứng cử viên nhận chứng chỉ International Baccalaureate.

Sau khi tốt nghiệp, Andrew sẽ vào đại học University of Southern California (USC) với mục tiêu trở thành chuyên gia tài chánh địa ốc. (TL) [đ.d.]

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nguyên Ngọc / Hà Giang & Hoa Thuốc Phiện

                 

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nguyên Ngọc / Hà Giang & Hoa Thuốc Phiện

05/06/2021

blank

Trước khi “tập kết ngược” (trở lại miền Nam) vào năm 1962, Nguyên Ngọc có thời gian lang thang ở cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc. “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng” là chuyện viết về người thật việc thật, nơi vùng giới tuyến (Việt/Hoa) này.

“Đây cũng là một truyện ngắn hay của ông. Cô gái Mèo Vàng Thị Mỹ ở với bố trên những đỉnh núi cao quanh năm mây phủ. Ở đó nếu có khách tới nhà thì chỉ là thú rừng thôi. Cô bé thấy thèm người. Rồi ông bố cho cô đến với người.

 Đó là một phiên chợ. Cơ man nào là người. Ông bố bán thuốc phiện, một thứ vàng đen, mong giúp con gái đổi đời. Nhưng bị trả quá rẻ, ông không bán. Thế rồi dọc đường trở về, bố con ông bị bọn người đó chặn lại. Chúng cướp không số thuốc phiện rồi bắn chết ông. 

Cô bé may mà thoát chết. Rồi cô được một bà goá đem về nuôi. Năm 13 tuổi, cô bị gả chồng. Chồng cô là thằng bé mới 7 tuổi, con lão chúa đất. Ngày về nhà chồng, cô khóc nhiều lắm. Khóc vì không được cô độc sống giữa các vách núi. Cô lại phải đến với người.

 Ở nhà chồng, cô bỗng nhận ra bố chồng là một tên dã thú đã giết bố cô. Thế là cô bỏ trốn. Bây giờ thì cô sợ phải gặp người. Cứ thấy làng, thấy người là cô tránh. Cô đi lang thang rồi lạc vào rừng. Hoang mang và đói lả, cô ngồi thụp xuống bên hang đá, thiếp đi. Rồi cô chợt bừng tỉnh khi thấy trong hang lại có tiếng người. 

Thế là cô bé lại vùng dậy chạy. Nhưng không còn sức chạy nữa. Cô lại phải gặp người. Không phải người thú mà người cách mạng. Chính người cách mạng đó đã cứu cô. Rồi cô gặp Đảng. Đảng chỉ cho cô đường đi, nước bước. Đảng bảo phải bỏ cây thuốc phiện. Nó chính là nguồn gốc mọi nỗi đau khổ của người Mèo. Phải phá bỏ cây thuốc phiện trồng ngô sắn. Rồi Nguyên Ngọc còn để cô Vàng Thị Mỹ nói với đồng bào Mèo nguyên văn như thế này: ‘Ngày xưa, người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng, có chính phủ, có Cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như thể anh em một nhà vậy. Đó là bản chất của Chủ nghĩa xã hội đấy, bà con ạ…”  (Trần Đăng Khoa. Chân Dung Và Đối Thoại. NXB Thanh Niên: 1998).

Với thời gian, cái “bản chất của Chủ Nghĩa Xã Hội đấy” – mỗi lúc – được “bà con”  nhận thức rõ ràng hơn. Năm 1991, Nguyên Ngọc có dịp quay lại Hà Giang. Vẫn cảnh cũ, người xưa nhưng nỗi lạc quan của nhà văn thì đã hoàn toàn tan biến: 

Phiên chợ Mèo Vạc nghèo và buồn. Phải nói thật điều này thôi: không bằng 30 năm trước. Không còn những chõ xôi vàng rực, chỉ nhìn đủ thèm. Không còn những gói hoàng tinh (mà ở đây người ta gọi là voòng chính) mỡ màng chất đầy các củi tấu. Không còn những chú lợn béo ụ được dòng dây vào cổ, người bán người mua thách và mặc cả ầm ĩ… không còn thấy cảnh các đôi trai gái say mèm, người con trai cầm khèn vừa nhảy lò cò vừa thổi, người con gái cầm ô xanh đỏ hát dìu dặt Tu tè chí dù mưng, rồi dìu nhau vào các hốc đá tiếp tục cuộc tình đắm đuối cho đến tối mịt… Mới trưa chợ đã vãn. Không gì bộc lộ rõ rệt đời sống của người dân bằng cái chợ… (Nguyên Ngọc. “Trở Lại Mèo Vạc”).

blank

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng “buông một tiếng thở dài” tương tự khi bước chân đến cái cao nguyên đá dựng này: “Người ta nói, đi qua một khu chợ sẽ biết đời sống của cư dân ở đó. Mình tin điều đó. Và nhìn món hàng bày trước mặt những người phụ nữ vùng cao, mình hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…”

Những sản phẩm mà Nguyễn Ngọc Tư “nhìn” được ở chợ Hà Giang hồi mười năm trước (“nụm nịu một hai nải chuối, co ro vài ba bó củi”) hay hình ảnh những em bé H’Mong đang ngồi vật vạ (bên mấy mớ rau rừng) ngày nay giúp cho kẻ ở miền xuôi “hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…” của đồng bào nơi mạn ngược.

Vấn đề của họ cũng không chỉ giới hạn vào “nồi cơm” hay “căn bếp.” Những cuộc nổi dậy liên tiếp (vào những năm 2001, 2004, và 2011) cho thấy sự bất ổn và khủng hoảng trầm trọng trong cuộc sống của người dân bản địa tại Việt Nam, ở rất nhiều nơi. 

Phóng viên  Thanh Trúc (RFA) tường thuật: “Từ một thập niên trở lại đây, vì thường xuyên bị sách nhiễu và gây khó dễ trong cuộc sống, nhiều người H’mong, phần lớn đi đạo Tin Lành và thường tụ họp để thờ phượng Chúa như họ kể, từ Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang… vượt biên giới sang Lào rồi tìm đường sang Thái Lan xin tị nạn.”

Kể từ “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng”, cho đến khi xẩy ra cuộc Chiến Tranh Biên Giới Việt – Trung (Sino -Vietnamese War) nhà đương cuộc Hà Nội – dường như – không hề có bất cứ một dự án hay hành động thiết thực nào để để giúp đỡ người H’Mong cả. 

Hệ quả, hay hậu quả, nhãn tiền: “Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Đó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc.” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. NXB Văn Nghệ: California 2000).

Thêm gần nửa thế kỷ đã qua, và những “chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” – xem chừng – mỗi lúc một thêm tệ hại. Người H’Mong vẫn bị bỏ mặc cho chính quyền địa phương áp bức hay dầy xéo. Công luận đã từng biết đến tên tuổi những quan chức “khét tiếng” ở Hà Giang (Sầm Đức Xương, Nguyễn Trường Tô, Triệu Tài Vinh, Vũ Trọng Lương) và vô số tệ trạng nơi đây. 

“Thật sự chưa có con đường ra cho cái cao nguyên đá kỳ dị này” là nguyên văn lời của Nguyên Ngọc, cùng nỗi “ấm ức” của ông:.

Ba mươi năm trước, người H’mông chuyên trồng loại cây đắt giá nhất, kỳ ảo nhất, say đắm nhất trên đời này: cây thuốc phiện.

Bây giờ thuốc phiện bị cấm rồi. Thay bằng cây ngô. Trồng ngô ở đây, thì chết đói.

Trồng thuốc phiện – thì hư hỏng. Hư hỏng cả xã hội.

Làm sao?

Cuộc nổi phỉ và cuộc tiễu phỉ ác liệt năm 1959, với tất cả sự đan chen vô cùng phức tạp của các mưu đồ chính trị lớn và nhỏ, trong nước ngoài nước… đều dính líu chằng chịt đến chuyện trồng cái cây gì trên bụm đất nhỏ xíu còn sót lại giữa các hốc đá nham nhở nơi này.

 Trồng cây gì?

Câu hỏi chừng đơn giản vậy mà đẫm máu, mà chi phối khắc nghiệt số phận hàng vạn con người, từng số phận con người, từng chặng đường số phận mỗi con người…

Tôi liều mạng bục ra một câu hỏi kỳ thực vẫn ấm ức từ lâu:  Hay trở lại cây thuốc phiện?

“Trở lại” e đã muộn. Bây giờ thì chất gây nghiện có thể chế tạo bằng nhiều thứ hoá chất chứ không nhất thiết phải cần đến nhựa của hoa Anh Túc nữa. Và “xã hội thì hư hỏng” hết rồi. Ma túy đã được vận chuyển (theo đơn vị tấn) đi khắp mọi nơi: 

Cái ảo vọng của Tố Hữu về tình hữu nghị (bên ni biên giới là mình/bên kia biên giới cũng tình quê hương) cũng đã tan vỡ từ lâu. Sớm muộn gì thì “bọn bành trướng Bắc Kinh” cũng sẽ “tràn sang” lần nữa thôi, trong khi “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì vẫn cứ tiếp tục xô đẩy người dân về phía kẻ thù! 

Chả phải vô cớ mà tiếng nói của Nguyên Ngọc bỗng trở nên tiếng cú: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?” Kịch bản nào cũng được vì ngày nào mà cái chính thể hiện hành còn tồn tại thì cả nước Việt sẽ không có lối ra, chứ chả riêng chi vùng cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc.

Chung Thủy…

Chung Thủy…

Ngày đó mới về nông trại ở, thấy cái gì hay con gì cũng ngắm.
Hãng cho làm ở nhà, giờ giấc không cần thiết phải theo giờ hành chính nhưng phải hoàn tất project đúng kỳ hạn. Mình tranh thủ làm nên có nhiều thời giờ rảnh để ngắm.

Buổi chiều nọ đi lại một gốc bụi cây thì thấy con ngỗng Canada đang nằm trong tổ. Mình lại gần nên nó bay đi. Nhìn vào tổ thấy có ba trứng ngỗng to nên cầm ra ngoài khoe. Sau đó bỏ trứng lại nhưng con ngỗng không bay về tổ nữa. Sau này mình mới biết ngỗng mẹ ngửi mùi tay người là nó bỏ. Buộc mình phải đem trứng bỏ trong lò ấp. Khi nở ra thì chỉ có hai con. Còn một trứng thì bị hư.

Từ đó mình làm mẹ ngỗng Canada. Lúc nào cũng để nó theo mình. Cặp đôi lớn như thổi lúc nào cũng quanh quẩn bên mình. Lớn xác nhưng chưa biết bay dù mình thấy hai đứa nó cũng có thân xác to bằng những con ngoài trời.

Rồi tháng ngày qua đi, con mình nó cũng biết bay. Mỗi lần thấy ngỗng trời bay đậu gần nhà thì mình bò theo để con mình nó ra gặp bà con cùng giống của nó. Biết đâu nó sẽ theo bầy. Mình quan niệm của thiên nhiên trả về thiên nhiên nếu hợp với hoàn cảnh ưa thích của nó. Cặp con mình cũng bay lại làm quen với bầy. Rồi một ngày cặp con của mình nó vỗ cánh theo bầy. Con nó lượn một vòng nhìn mình lần cuối rồi mất dần về hướng Bắc.

Nuôi hơn một năm trời, bắt từng con trùng, hái từng ngọn cỏ đút nó ăn nên tình cảm cũng dính liền với nó. Nhớ và thương nó nhiều.

Rồi tháng ngày bận rộn nên mình cũng quên, thì hai đứa con mình nó bay về. Hơi ngờ ngợ vì nó dẫn thêm năm con khác nữa (con của nó). Lúc đó mình mới biết hai con của mình là đực cái.

Hai đứa nó lại gần và để mình ôm nó vuốt ve nó. Tuyệt nhiên năm đứa con của nó đứng xa xa nhìn. Mình đem bắp cho hai đứa ăn nhưng con nó không ăn từ tay mình, ngay cả lúc mình giục bắp gần tụi nó, nhưng tụi nhỏ không ăn. Nó lòng vòng bay đi và về trong một tuần rồi bay mất.

Hàng năm vào cuối tháng 11 thì hai đứa nó về và dẫn theo một bầy ngỗng mỗi năm mỗi nhiều hơn. Cứ thế hai đứa ở nhà một tuần rồi mất dạng.

Mỗi năm mỗi về và năm thứ 14 thì về chỉ một con, nguyên đàn của nó chỉ bay lạng về ngày đầu rồi bay mất. Lính cảm cho mình biết là một đứa bị chết.

Mình bắt đầu đọc sách về loại ngỗng Canada. Loài này chỉ một vợ, một chồng. Nếu một trong hai con chết thì con kia sẽ không bao giờ tìm bạn tình. Trước khi chết bao giờ nó cũng về nơi nguyên thủy của nó.

Nó ở với mình một năm. Nó bay đi bay về và tối ngủ lại nhà. Rồi bỗng nhiên nó chỉ nằm trong tổ không bay đi đâu, mình đem cỏ tươi và nước nhưng nó không ăn. Được ba ngày như vậy thì mình tính đưa đi bác sĩ thú y. Mình nghĩ nó bệnh…. nhưng tối đó mình lại, nó chúi đầu vào lòng mình. Mình ôm nó thật lâu rồi mới vào nhà. Đêm đó nó qua đời , thọ 15 năm…. không ngờ nó nhịn đói, khát để chết.

Buồn mấy tháng trời. Giờ mỗi lần thấy ngỗng Canada là nhớ nó.
Tuổi thọ của ngỗng Canada là 25 năm.
Nhớ con quá!

 From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

TOA THUỐC THẦN KỲ CHO THỂ XÁC VÀ TÂM HỒN

TOA THUỐC THẦN KỲ CHO THỂ XÁC VÀ TÂM HỒN

I. Sức khỏe

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”…

II.Bí quyết trường thọ

  1. Chấp nhận với những gì mình đang có
  2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình đang sống
  3. Điều chỉnh tâm hồn để đạt được điều mong muốn

III. Phòng ngừa bệnh tật

  1. Không vui quá hại tim
  2. Không buồn quá hại phổi
  3. Không tức quá hại gan
  4. Không sợ quá hại thần kinh
  5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
  6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng bao dung tha thứ.
  7. Tránh tranh luận hơn thua.

IV. Thức ăn & uống trong ngày:

Một củ hành: chống ung thư

Một quả cà chua: chống tăng huyết áp

Một lát gừng: chống viêm nhiễm

Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch

Một trái chuối: phấn chấn thần kinh, chống táo bón, giảm béo.

Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng

Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể

V.Triết lý hiện đại:

  1. Một Trung Tâm là sức khỏe
  2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
  3. Ba Quên: Quên tuổi tác. Quên bệnh tật. Quên hận thù
  4. Bốn Có: Có nhà ở. Có bạn đời. Có bạn tri âm. Có lòng vị tha.
  5. Năm Phải: Phải vận động, phải biết cười; phải lịch sự hòa nhã; phải biết nói chuyện, phải coi mình là người bình thường.

VI.Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:

  1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
  2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
  3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
  4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
  5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
  6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
  7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
  8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ:

Mẹ Thêrêsa Calcutta:

Hãy dành thì giờ để suy nghĩ: Đó là nguồn sáng tạo.

Hãy dành thì giờ để cầu nguyện: Đó là sức mạnh toàn năng.

Hãy dành thì giờ cất tiếng cười: Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.

Hãy dành thì giờ chơi đùa: Đó là bí mật trẻ mãi không già.

Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu: Đó là điều Thiên Chúa ban.

Hãy dành thì giờ để cho đi: Đó là phúc đức sẽ tồn tại mãi.

Hãy dành thì giờ đọc sách: Đó là nguồn mạch minh triết.

Hãy dành thì giờ để thân thiện: Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.

Hãy dành thì giờ để làm việc: Đó là giá của thành công.

Hãy dành thì giờ để sống bác ái: Đó là chìa khóa cửa thiên đàng.

Thèm – Tiểu Tử

Kimtrong Lam

Thèm –

Tiểu Tử

Mày biết không ? Bây giờ tao đi làm bằng xe đạp. Tụi bây đừng cười. Tao không giỡn đâu. Hồi xưa, hồi trước 1975, trong bọn mấy đứa tụi mình, tao là thằng tếu nhứt. Tao hay kể chuyện tiếu lâm, hay bịa chuyện này chuyện nọ để chọc cười, để phá phách cho vui với nhau. Nên tụi bây thường nói: “Coi chừng ! Nó nói cái gì mình phải xin keo coi có đúng không, rồi hãy tin”. Hồi đó, khác. Bây giờ, khác. Tụi bây đi hết rồi, chỉ còn mình tao kẹt lại. Nói thiệt hay nói dóc đều không còn ý nghĩa gì nữa, cũng không còn giá trị gì nữa đối với tao. Bởi vì không còn ai để giỡn, không còn lòng dạ đâu để giỡn, và cái cười của tao đã vượt biên đâu mất từ lâu…

Điều ngộ nghĩnh là, bây giờ, bất cứ chuyện gì tao kể ra chắc chắn tụi bây đều không tin ráo ! Bởi vì tụi bây đã di tản trước ngày 30 tháng tư 1975, không thấy không biết những gì đã xảy ra ở trong nước, làm sao mà tin ? Vả lại “những gì đã xảy ra” đã không xảy ra theo quy luật thông thường. Tất cả đều bị xáo trộn, đảo lộn một cách nghịch lý đến nỗi tao là người sống trong đó mà lắm khi tao phải tự hỏi: “Làm sao có thể như vậy được ?”. Vậy mà nó đã “như vậy được” tụi bây à ! Khó tin nhưng có thật ! Cho nên, những gì tao viết ở đây cho tụi bây hoàn toàn là những chuyện có thật mà… khó tin đó.

Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, tao cứ phải nghe ra rả nói láo nói dóc, cứ phải luôn luôn nói láo nói dóc… Nào là “Đã vượt chỉ tiêu 150%” (Chỉ tiêu là con số đã được ấn định trước cho mức sản xuất, không biết là bao nhiêu, nhưng thấy tháng nào cũng vượt, năm nào cũng vượt, nghành nào cũng vượt – tao phải… dịch những chữ mới rõ ràng ra như vậy cho tụi bây hiểu, bởi vì bây giờ mình không còn nói giống như hồi trước nữa). Nào là “Đã hồ hởi phấn khởi đi làm nghĩa vụ” nghĩa là đi làm cái nghĩa vụ gì đó một cách… khoái trá sôi động bởi vì biết chắc rằng không đi cũng không được. Nào là “Hoàn toàn nhất trí” ( Bây giờ không nói nhứt nữa, mà nói nhất. Nghe… cách mạng hơn ), nghĩa là “đồng ý hoàn toàn”, cho nó rồi, kẻo không thì… kẹt lắm. Mọi người đều “nhất trí” hết mà mình không “nhất trí” thì nó… lòi ra coi không giống ai. Thành ra “nhất trí” cũng có nghĩa là “phải làm như mọi người”. Tụi bây hiểu chưa ? Nào là “Làm việc rất là năng nổ”. Tao nghĩ chắc khỏi cần dịch. Tụi bây cứ nghe “nó… lốp bốp” là đoán ra cái nghĩa của nó rồi. Đại khái là làm việc giống như có cờ phất trống khua, có loa trên loa dưới ồn ào, còn lè phè suốt buổi hút thuốc uống trà là chuyện khác… vân vân và vân vân… Kể không hết !

Sau bao năm dài sống trong môi trường như kể trên, “cái thèm” rất lớn của tao là được sống thật, nói thật. Cho nên, viết cho tụi bây giống như tao được… giải phóng. Vậy những gì tao kể ra đây, tụi bây khỏi phải xin keo !

Bây giờ, tao đi làm bằng xe đạp. Vẫn làm ở sở cũ. (Còn được làm việc ở sở cũ là may đó nghen. Nhiều người bị đổi đi nơi khác xa hơn và thường thì ở một ngành nghề không dính dấp gì với phần chuyên môn của mình hết. Cách mạng mà !). Cái xe hơi con cóc , tao đã cho nó lên nằm trên bốn gộc cây để bán lần bán hồi bốn bánh xe, cái bình điện, cái đề-ma-rơ… Hầu như tháng nào tao cũng phải bán một món gì trong nhà, bởi vì lương của tao cộng với những gì vợ tao và hai con gái lớn kiếm được hằng tháng… không đủ sống. Tình trạng đó bắt đầu từ sau hai “trận” Nhà Nước đổi tiền.

Đạp xe riết rồi cũng quen. Khoảng cách trên mười cây số từ nhà đến sở, tao coi như “pha”. Chỉ bực mình là xe đạp của tao hay sút sên khi nó “nhảy” ổ gà. Mà đường sá bây giờ, ổ gà ở đâu nó… lòi ra nhiều quá. (Người ta nói Mỹ rút đi, để lại toàn là đồ giả không – tao nghe sao chép vậy !). Cho nên, ở nhiều đoạn đường, tao lái xe tránh ổ gà giống như người say rượu ! Vậy mà có hôm vẫn cứ sút sên vì “nhảy” ổ gà, cho nên, vào tới sở hai tay tao thường lấm lem dầu, đất, mà áo quần thì ướt đẵm mồ hôi.

Bây giờ, tao làm việc “thông tầm”, nghĩa là làm suốt tới chiều rồi về sớm không có về nhà ăn cơm nghỉ trưa như hồi trước. Vì vậy, mỗi sáng tao mang theo một lon ghi-gô cơm với vài miếng cá mặn để ăn tại bàn viết buổi trưa. Chiều về sớm, tao có bổn phận nấu cơm làm đồ ăn – những món tầm thường như hột vịt luộc hột vịt chiên…vv – bởi vì giờ đó vợ con tao còn kẹt ở tổ may thêu tuốt trong Gò Vấp. Ờ…bây giờ tụi nó cũng đạp xe đi làm xa như tao và cũng đi hằng ngày như tao. Đổi đời mà….

Mỗi sáng đi làm, lúc nào tao cũng đem theo cái giỏ đi chợ treo tòn ten ở ghi-đong, giống như đi chợ chớ không giống đi làm ! Bởi vì trong sở thường hay… bất thần bán cho nhân viên (gọi là “phân phối” chớ không gọi là “bán”, nghe có vẻ như được… cho, nhưng mình phải trả tiền !) cá, rau cải… vv. Tuy không nhiều và không được lựa chọn vì phải… bắt thăm trúng lô nào lấy lô đó, nhưng rẻ hơn ngoài chợ thành ra cũng đỡ. Cho nên, đi làm việc mà ngày nào cũng nhóng nhóng hỏi thăm “coi bữa nay có phân phối gì không ?” và chiều về đến nhà, thằng con tao – thằng út đó, tụi bây nhớ không ? bây giờ nó lớn đại rồi – chạy ra mở cổng lúc nào cũng hỏi: “Bữa nay có mua được gì không ba ?”. Và hôm nào thấy trong giỏ có đồ gì để ăn là mắt nó sáng rỡ. Tội nghiệp, sống trong sự thiếu thốn triền miên, có đứa nhỏ nào, có người lớn nào mà không nghĩ đến miếng ăn ?

Bây giờ, tao hút thuốc lá vấn tay. Tao tự vấn lấy. Không phải tao muốn lập dị mà vì tao không đủ tiền mua loại thuốc điếu kỹ nghệ thông thường (Ờ ! Nghèo đến nước đó. Tụi bây có tin không ? ) Mới đầu, tao vấn thuốc rê Gò Vấp. Nó nặng muốn… tét phổi ! Về sau, tao bắt chước thiên hạ mua thuốc lá Lạng Sơn đã xắt sẵn – nghe nói là giống thuốc Virginia, mấy ông ngoài Bắc bảo thế ! – đem trộn với thuốc Gò Vấp, hút thấy được. Vậy là mỗi khi muốn hút, tao cứ tà tà xé một miếng giấy quyến, tà tà rứt một miếng thuốc kéo cho dài dài ra khi để lên lòng giấy, rồi đặt hết tâm tư vào mấy ngón tay (của cả hai bàn tay đang chụm đầu lại nâng nhẹ giấy và thuốc !) để ém, lận, cuốn, xe… cho điếu thuốc được tròn đều trước khi đưa lên lưỡi liếm. Xem thật “ung dung nhàn hạ”. Giống như một nghi thức. Và tao có quyền tà tà vấn thuốc như vậy bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào: trong khi làm việc, trong các buổi hội họp học tập, và cả ngay trước mặt ông xếp của tao nữa (Bây giờ gọi là “thủ trưởng”, nôm na là “cái đầu đứng đầu”. Còn cái đầu có cái gì trong đó hay không lại là chuyện khác). Cho nên, hút thuốc vấn – đối với tao – giống như là một cách thoát tục, cái “tục” quá… tục mà tao đang sống bây giờ. Tuy nhiên, sao tao vẫn nghe thèm điếu thuốc ba số năm là loại thuốc mà mấy chục năm tao đã hút ! Làm như mùi vị của nó còn nằm ở đâu trong máu trong xương. Nhiều đêm trở giấc, tao nghe thèm ray rứt, thèm chảy nước mắt !

Chiều hôm qua, trên đường về nhà, đạp xe tới chợ Tân Định thì trời bỗng đổ mưa. Tao tấp vô đụt mưa dưới mái hiên tiệm nước nằm ở góc đường dọc hông chợ (tao quên tên) và đường Hai Bà Trưng. Lúc đó, cỡ gần năm giờ (đồng hồ tay, tao đã bán từ lâu, nên từ lâu, tao chỉ… đoán giờ thôi !). Trong tiệm thấy lai rai có người ăn uống.

Tao đã đứng sát vào vách vậy mà gió cũng tạt mưa vào ướt hết phía dưới chân. Một lát, tao nghe lạnh chân. Rồi tao nghe đói. Cái đói đến một cách đột ngột, giống như nó chui từ dưới chân chui lên. Hồi nãy đạp xe trên đường, tao có thấy đói đâu, mặc dù buổi trưa tao chỉ ăn có một lon ghi-gô cơm với ít mắm ruốc – dĩ nhiên là tao có uống thật nhiều trà, thứ này, loại thường thôi, trong sở ( Bây giờ gọi là “cơ quan”) có chị nhân viên tối ngày cứ châm đầy bình cho mình uống “líp” – Vậy mà bây giờ tao lại thấy đói. Có lẽ tại vì lỗ mũi tao nghe mùi hủ tiếu, mùi mì. Ờ… tụi bây không biết chớ từ lâu rồi – tao không nhớ là bao nhiêu lâu, nhưng chắc là lâu lắm – tao chưa được ăn mì. Bây giờ đứng đây, bên đường ngang hông chợ Tân Định, phía trên gió, vậy mà vẫn “đánh hơi” rõ mồn một mùi nước lèo của xe mì nằm bên đường Hai Bà Trưng, phía dưới gió, rõ như hơi của nước lèo đang bốc lên ngay trước mũi ! Tao nuốt nước miếng.

Thèm quá ! Tao thèm ăn ngay một tô mì ! Thọc tay vào túi quần, tao đụng hai tờ giấy bạc. Móc ra xem thì ra là hai đồng. Tao chỉ có ngần đó thôi ! Nhưng hai đồng, đủ để ăn một tô mì rồi ! Thì ăn… đại một tô cho nó đã ! Tao dợm bước vào tiệm nước bỗng nhớ lại vợ tao hồi sáng khi trao cho tao hai đồng đó, có dặn: “Chiều, anh ghé chợ Cây Quéo mua 6 cái hột vịt và nửa giỏ rau. Về, anh bắc nồi cơm bỏ vô luộc trước. Chừng mẹ con em về, em làm nước mắm rồi dầm cho nhà ăn.” Hình ảnh cả nhà tao 7 đứa quây quần bên “nửa giỏ rau và 6 cái hột vịt” và hình ảnh tao một mình ngồi ăn tô mì… làm tao khựng lại. Tô mì mà tao muốn ăn, thèm ăn, là cả một bữa ăn của gia đình ! Tao không thể đổi được. Thà là tao nhịn thèm. Thà là tao chịu đói để về ăn chung với vợ con. Ăn thứ gì cũng được, ít nhiều gì cũng được, dở ngon gì cũng được. Miễn là ăn chung với tụi nó. Để thấy rằng cuộc đời tao bây giờ chỉ còn lại có tụi nó là quí thôi ! Tao nghe thương vợ thương con vô cùng. Và tao cũng nghe thương thân tao vô cùng…

Tao đứng yên nhìn ra mưa bỗng nghe hai má của mình ướt ướt. Tao đưa tay lên vuốt mặt mà nghĩ rằng mình vuốt nước mưa trên má…

(Trên đây là lá thơ viết lỡ dở, của ai viết cho ai tôi không biết. Thơ viết trên giấy tập học trò, chữ nhỏ li ti, nhưng đẹp và rõ nét. Tình cờ, tôi nhìn thấy nó trong xấp giấy gói hàng của bà bán xôi đầu ngõ Ngô Tùng Châu, vì tò mò nên tôi xin.Về nhà, đọc thơ mà lòng nghe rưn rứt. Rồi thắc mắc tại sao người viết không gởi đi, để nó phải ra nằm chung với giấy vụn gói hàng ? Một phần vì vậy mà tôi đã mang nó theo khi tôi vượt biên, để bây giờ tôi chép lại gởi đăng đây đó với hy vọng có người đọc và nhận ra thằng bạn còn kẹt lại mà viết cho ông ta ít hàng, đại khái : « X. ơi ! Tao nè ! Tao đã đọc được thơ mầy… » Chỉ bao nhiêu đó thôi, tôi cũng thấy mãn nguyện).

Tiểu Tử

May be an image of 1 person, sitting and food

Làm Sao Để Áp Huyết Không Cao?

Đừng hút thuốc, không uống rượu. Giám thiểu tối đa ĐƯỜNG MUỐI MỞ

Làm Sao Để Áp Huyết Không Cao?

Cái ống màu vàng (aorta) là đại động mạch, máu bơm vào đó từ tâm thất trái (left ventricle) Aortic valve chận không cho máu đã bơm ra bị dội về.

Đầu tiên, chắc ai cũng biết người Việt mình thường nói áp huyết của một người là “mười lăm tám” (15/8) hay mười bảy chính (17/9), còn ở Úc thì người ta nói 150/80, hay 170/90. Vậy các con số ấy là gì?

Lấy ví dụ áp huyết một người là 120/80, thì có nghĩa là áp suất máu trong động mạch là 120mm thủy ngân và 80 mm thủy ngân, tức là có hai con số để đo áp suất trong động mạch, một số trên và một số dưới.

Chúng tôi có xem qua tự điển trong Google, họ ghi rằng systole là sự thu sức của trái tim, nó cũng “dễ hiểu” như nghe tiếng LaTinh. Thôi thì mình gọi số trên là systole (hay systolic blood pressure) và số dưới là diastole (hay diastolic blood pressure) cho nó giống tiếng… Mỹ hơn tiếng La Tinh.

Coi vậy chớ không phải ai cũng biết tại sao áp huyết của ta lại có số trên (systole) và số dưới (diastole).

Số là trái tim chúng ta có hai thì, bóp vô và phồng ra. Khi tim bóp vô, máu phọt vào động mạch, khi tim phồng ra, thì máu từ tĩnh mạch chảy vô tim, còn máu từ động mạch thì không chảy ngược vô tim vì các valve tim chận sự hút ngược máu từ động mạch.

Vậy con số trên của áp huyết là áp suất của máu trong động mạch khi tim bóp vô, đẩy máu vào động mạch và số dưới là khi tim nhả ra, hay phồng ra. Khi máu được bơm vào động mạch, áp suất tăng cao, nên con số trên cao, còn khi tim nhả ra, không bơm vô động mạch thì áp suất thấp xuống, nên ta có systole cao hơn diastole.

Bây giờ mình tìm hiểu xem làm sao mà người ta đo máu, nguyên tắc để biết số trên và số dưới của áp huyết như thế nào.

Không biết các vị thần y của phương Đông có ngón tay nhạy cảm thế nào, nhưng theo Tây học thì nguyên lý của nó căn bản nhưng cũng khá ảo diệu.

Đầu tiên chúng ta nên biết sơ về hiện tượng turbulence, tức là sự náo động, lộn xôn, mất trật tự. Đôi khi bà con đứng cạnh một dòng sông bát ngát, lượng nước trôi theo dòng hàng ngàn thước khối mỗi giây, nhưng vẫn không nghe tiếng ầm ầm. Nhưng khi bà con mở một vòi nước phông tên trong nhà, lượng nước chảy chỉ là hạt cát trong sa mạc so với dòng sông, nhưng lại nghe xì xì rất lớn.

Tại sao vậy? Nhưng khi vặn rôbinê lỏng thêm một chút thì lại không nghe xì xì ì xèo như trước. Tại sao vậy?

Khi nước chảy trong dòng sông những phân tử nước chảy trật tự, lớp trên theo trên, lớp dưới theo dưới, như dòng xe chạy êm đềm trên xa lộ. Nhưng trong ống nước, khi từ ống lớn chảy qua cái vòi nhỏ thì ở chỗ miệng vòi nhỏ, các phân tử nước không còn được chảy lớp lang như trước mà những đứa ở phía ngoài bị chạm vào thành ở chỗ ống hẹp, khiến nó dội lại, cuộn lên cuộn xuống, va chạm lẫn nhau, như cả đoàn xe hơi đang chạy trên freeway 6 lane thì không sao nhưng bỗng bị chui vô 1 lane, thì cụng nhau chát chúa, tạo nên tiếng động.

Áp dụng nguyên tắc này, người ta bơm cái cuff (cái vòng bơm hơi chung quang cánh tay khi đo máu) lên quá áp xuất của máu. Lúc ấy đông mạch sẽ bị chẽn cứng lại, như kẹt xe, không có tiếng động gì cả. Rồi từ từ người ta giảm áp suất trong cuff.

Đến một lúc nào đó thì áp xuất bên ngoài tương đương với áp suất bên trong động mạch, và rồi sau đó giảm tiếp, hơi thấp hơn áp xuất động mạch một tí. Khi ấy, máu trong động mạch bắt đầu có cơ hội chui qua một lỗ nhỏ trong động mạch khi tim bóp lại, như đường 6 lane chui vào 1 lane, tạo nên hiện tượng turbulence của máu, nghĩa là các phân tử máu va chạm nhau, như nước chảy từ ống lớn chui qua lỗ nhỏ. Nó sẽ tạo ra tiếng “xì, xì”, mỗi khi tim bóp vào, bơm máu. Tiếng xì đầu tiên mà người đo máu nghe được chính là số bên trên của áp huyết, hay systole.

Tiếng xì xì đồng nhịp với sự co thắt của tim tiếp tục nhịp cho đến khi áp suất bên ngoài, tức là áp suất của cái cuff vòng cánh tay mình, giảm xuống đến mức độ bằng hoặc thấp hơn áp suất của động mạch khi tim phồng ra, hay nhả ra. Lúc ấy thì hiện tượng đường 6 lane chui vô 1 lane không còn nữa, xe chạy thong thả trong 6 lane xuyên xuốt, không đụng ầm ầm, không có turbulence, và do đó không còn tiếng “xì” nữa. Tiếng xì cuối cùng chính là diastole.

Người đo máu mắt thì ngó cột thủy ngân, tai thì nghe các tiếng xì xì (nhưng thường thì nghe như “tục tục” hay “bịch, bịch”). Họ ghi nhận áp suất ở tiếng “bịch” đầu tiên, gọi là số trên (systole) và tiếng bịch cuối cùng, là số dưới (diastole).

Thế là xong phần nguyên lý đo áp huyết.

Vậy thì áp huyết bao nhiêu là vừa?

Người ta thường nói 120/80 là trung bình. Các bà, các cô VN hay Á đông hễ thấy áp huyết 106/62, chẳng hạn, thì xanh mặt.

“Ôi, tui thiếu máu”, “ôi, tui bị áp huyết thấp, chóng mặt wá, nhức đầu wá”.

Ngay cả nhiều BS cũng hát bè theo, “ồ áp huyết của chị hơi thấp”.

Rầu thấy mồ luôn, chẳng thiếu máu cũng chẳng bị áp huyết thấp chi cả.

Thưa bà con, nhiệm vụ của trái tim là làm sao bơm máu đi châu thân, đến “tiền tuyến” hay mô ngoại vi như ngón tay, ngón chân, một cách hiệu quả. Con voi bự như cái đình, ắt cần trái tim bơm rất mạnh, áp huyết cao, mới đẩy máu tới cái chóp đuôi của nó được. Còn con chuột lắc thì nhỏ xíu, có cần cái máy bơm khổng lồ với công suất của trái tim con voi, áp huyết của con voi chăng? Dĩ nhiên là không.

Tây y bắt nguồn từ người phương Tây, ông nào bà nấy như con voi, còn mình thì chỉ hơn con chuột lắc một chút. Con số 120/80 là trung bình cho người Tây Phương nhưng không phải như vậy mới là chuẩn.

Người đàn bà, con nít, áp huyết thấp hơn như vậy là thường, chẳng bệnh hoạn gì cả. Chỉ khi nào áp huyết của mình bình thường khoảng 145/95, nay bỗng tuột cái rẹt xuống còn 90/45, thì lúc ấy mới có vấn đề.

Vậy thì áp huyết bao nhiêu thì gọi là cao, bao nhiêu là thấp?

Theo sách y, nếu con số trên từ 140 trở lên, hoặc con số dưới từ 90 trở lên thì là áp huyết cao. Nhưng định nghĩa này chỉ có tính tương đối. Còn nếu con số trên dưới 80, con số dưới dưới dưới 40 thì thấp.

Câu hỏi kế tiếp của quý vị là sao áp huyết của tui là 178/67, vậy thì cao hay thấp?

Số trên thì cao, số dưới thì dưới trung bình.

Đây là hiện tượng cao áp huyết thưòng thấy ở người cao niên. Quý vị sẽ thấy cái “gap”, sự cách biệt giữa số trên và số dưới khá xa (nếu áp huyết 120/80 thì sự cách biệt giữa hai con số là 40mmHg (thủy ngân)), trong trường hợp áp huyết 178/ 67 thì sự cách biệt đến 111mmHg, khác quá xa.

Tại sao như vậy?

Vấn đề không nằm ở trái tim mà ở động mạch. Khi ta còn trẻ, động mạch mềm, dễ co giãn. Khi tim bóp cái xịt, máu phọt ra, động mạch sẽ chìu ý mà nở ra dễ dàng, do đó tuy khi tim đập áp huyết có cao hơn khi tim nhả ra, nhưng không tăng quá cao.

Người già, động mạch của họ như cái ống nước cao su bị phơi nắng hàng mấy chục năm trường (như thôi, chớ đương nhiên động mạch thì không phơi nắng được), nó so cứng lại, mất tính mềm dẽo, đàn hồi. Và thế là khi trái tim bóp cái xịt, động mạch không thèm nở ra, khiến lòng mạch chật chội, áp huyết tăng cao. Nhưng khi tim nhả ra, không bóp máu, thì động mạch dù sơ cứng cũng không ảnh hưởng đến áp suất vì không bị máu bơm thêm vào.

Do sự sơ cứng của động mạch trong người già, quý cao niên thường có systole, con số trên cao, và cách biệt giữa số trên và dưới khá xa. Nói đây là bệnh cao áp huyết cũng được, nhưng nhìn hiện tượng cao áp huyết này như một lẽ thường của sự lão hóa thì cũng không sai. Hầu như, chỉ hầu như, đương nhiên già thì bị.

Những người tập thể thao nhiều, đông mạch co giãn hoài, cộng với đời sống điều độ, thì ít bị sơ cứng động mạch hơn. Ngày xưa người ta quan niệm áp huyết (systole) của một người già bằng với số tuổi của họ cộng với 100. Nghĩa là nếu cụ 75, có áp huyết 175 (số trên) là chuyện thường ngày ở huyện.

Quan niệm ấy vẫn đúng, nhưng nay người ta thấy rằng nếu làm áp huyết của cụ giảm xuống thì cụ sống lâu hơn một chút.

Vậy áp huyết hại ta như thế nào?

Rầu nhất hạng là người thường không hiểu về tác hại của áp huyết, hở mỗi chút là mỗi lo.

Áp huyết của một người, trong một ngày, lên xuống ì xèo, không thể vì một lần đo thấy 178/99 rồi xanh mặt chao dao, tưởng như mình s ắp đứt gân máu. Khi ta nóng giận, tức tối, đau đớn, khó chịu, thiếu ngủ, căng thẳng, áp huyết đều tăng.

Nhưng áp huyết cao chỉ có hại nếu nó cao trường kỳ. Nó sẽ làm hư hao động mạch. Vì bộ phận nào của ta cũng đều cần máu nuôi dưỡng, mạch dẫn đến cơ quan nào hư thì cơ quan đó “dẹo niền” luôn. Mạch lên não hư thì tai biến mạch máu não, tức là stroke, mạch dẫn đến (bắp thịt của) tim hư thì bị nhồi máu cơ tim. Mạch dễn đến mắt hư thì… đui. Mạch dẫn đến dương vật hư thì… liệt. Đơn giản chừng ấy.

Vậy làm sao để áp huyết không cao?

Trước khi dùng thuốc thì tập thể dục, thể thao, ăn uống vừa phải (ít chất mặn). Nếu áp huyết vẫn cao thì uống thuốc. Quý vị nào muốn dùng thuốc cỏ, thuốc Nam, rau cần, vân vân thì cứ dùng. Chúng tôi cho rằng các thứ thuốc Nam này cũng có dược tính nhưng liều lượng cần thiết, phản ứng phụ và hiệu nghiệm ra sao, chúng tôi không biết (và cũng KHÔNG CẦN BIẾT vì chúng tôi chỉ cần uống một viên thuốc bằng ăn mấy bó rau).

Nếu ai đó quan niệm rằng uống dược thảo sẽ không bị phản ứng phụ, không bị “nóng”, tốt hơn thuốc tây, thì trước khi kết luận, xin điều nghiên qua một ít thống kê xem người xưa dùng thuốc cỏ có ít bị tai biến mạch máu não, nói nôm nay là trúng gió, có ít bị nhồi máu cơ tim, có sống dai hơn người dùng thuốc Tây thời nay không.

Tóm lại, quan niệm của chúng tôi vô cùng đơn giản..

Thứ nhất, không ai tránh được bệnh và chết (trừ phi chết bất đắc kỳ tử), nên khỏi cần lo lắng về bệnh tật, chắc chắn nó sẽ đến với ta. Không lo cũng bệnh mà lo thì càng… dễ bệnh hơn.

Thứ hai, khi cái xe của chúng tôi bị hư, vì không biết về cơ khí, tôi giao phó nó cho anh thợ hay kỹ sư. Bệnh nhân cũng nên có thái độ này đối với sức khỏe của mình, giao cho BS lo… Tiếc là trong đời hành y của tôi, số người Việt không giỏi tiếng Anh mà có quan niệm và thái độ điềm tĩnh này chiếm KHÔNG ĐẾN 10%, chưa chắc đến 5%.

Kết quả là áp huyết của họ cao vì lo lắng những chuyện không đáng lo.

Cuối cùng, chúng tôi quan niệm người ta bệnh trầm kha và chết mỗi ngày, mình vẫn dửng dưng.

Nếu khi mình bệnh mà mình lo lắng thái quá thì vừa chứng minh lòng vị kỷ, vừa tổn tâm hao trí.

Đời sẽ mất vui.

BS Nguyễn Văn Hoàng

From: TU-PHUNG

HÃY CƯỜI ĐỂ CUỘC SỐNG LUÔN ĐẸP

 

HÃY CƯỜI ĐỂ CUỘC SỐNG LUÔN ĐẸP

Có thể bạn sẽ ngất xỉu khi nhìn thấy cảnh một phụ nữ sinh nở – trần trụi và đau đớn. Nhưng bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi chính người phụ nữ ấy, phút trước còn như ở dưới mười tầng địa ngục, bỗng như đã quên tất cả, đón vào vòng tay mình cái sinh linh bé nhỏ thân thương, và mỉm một nụ cười của hạnh phúc thiên đàng, sẵn sàng cho cuộc sống làm mẹ đầy gian nan nhưng cũng rất ngọt ngào sắp tới.

Có thể bạn đã từng cãi nhau với một đứa bạn thân. Hai phía đều tổn thương ghê gớm. Đã có rất nhiều nước mắt. Đã có vô số hờn giận. Bạn tự nhủ rằng từ nay, coi như đã mất đi đứa bạn mà tưởng như sẽ có trọn đời. Vậy mà, chỉ một tuần sau, bạn bỗng thấy nhớ nụ cười của nó ghê gớm. Và khi nhìn thấy nó đang liếc nhìn mình, e dè dò xét, bạn lấy hết sức bình sinh nở một nụ cười cầu hoà. Và bất ngờ đến sững sờ khi lao tới đón nhận nụ cười của bạn là một nụ cười ngỡ ngàng sung sướng của nó. Và những hờn giận bỗng bốc hơi như sương trong một ngày nắng đẹp, chỉ sau có hai nụ cười.

Có thể bạn chưa biết rằng, trong những ngày tăm tối nhất của chiến tranh, có những người lính đã hạ nòng súng khi thấy người lính đối phương đang trong tầm ngắm của mình bỗng mỉm cười khi đọc lá thư nhà. Nụ cười đã khiến con người gặp con người, đã làm nguôi ngoai đi những điều tưởng chẳng thể nguôi ngoai, làm vơi đi định kiến và thù hận.

Có những ngày của thất bại và buồn nản. Tưởng như xung quanh bạn chẳng còn chút gì hy vọng, tương lai là một khối mù mịt không ánh sáng. Bạn bỗng thấy chú mèo con đang đùa nghịch với bóng nắng, nhẩy cẫng lên với một cái đuôi xù lên như một cây thông Noel! Bạn bỗng thấy mình mỉm cười. Và sau nụ cười đó, mọi thứ như sống lại. Những chuyện khủng khiếp bỗng không còn quá khủng khiếp, bạn cảm thấy mình hoàn toàn có thể tiếp tục sống và bước tới.

Nụ cười có thể làm niềm vui sống thức giấc và vươn vai trong bạn, như tia nắng đầu tiên sau đợt mưa dài báo hiệu những ngày sáng sủa, như tiếng gà gáy lúc vẫn còn đêm báo hiệu trời sắp hừng đông, như cơn mưa đầu tiên báo hiệu đã qua thời hạn hán. Một điềm lành do chính bạn tạo nên trên môi mình, nói rằng bạn đã bỏ lại quá khứ không thể thay đổi lại phía sau để sẵng sàng sống cho những điều sắp đến. Nụ cười báo hiệu là bạn đã ra khỏi trạng thái tê liệt, thụ động trước số phận, đang quay lại với cuộc sống, chủ động nắm lấy vận mệnh của mình.

Dù biết rằng, cười trong những khoảnh khắc khó khăn là điều không hề dễ. Nhưng hãy biết rằng trong mỗi chúng ta luôn đủ dũng cảm cho một nụ cười, để rồi ngay từ khoảnh khắc ấy quay lại là chính mình, can đảm mà bước tới.

@ Suy ngẫm

+ Nụ cười sẽ cho bạn một sắc thái tích cực

Khiến người khác thấy thoải mái khi ở bên bạn.

+ Nụ cười xuất từ nội tâm

Là một loại ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới.

Như ánh nắng và nhịp cầu,

nụ cười đem đến sự ấm áp và hòa ái

đến tất cả mọi người.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Mẹ mỉm cười con dây vững tâm

Bước vui can trường lòng phấn chấn

Vòng tay ôm ấp xóa đau thương

Loan báo Tin Vui sống nhịp nhàng.

Con noi gương Mẹ mỉm cười vui

Rạng rỡ cho đời bớt dỗi hờn

Rộng lượng thứ tha mở lối đi

Nước Trời phía trước miệng vui ca. Amen.

May be an image of 1 person