Bạo lực phát sinh trong xã hội là do luật pháp lỏng lẻo, hay là do văn hóa truyền thống?

Bạo lực phát sinh trong xã hội là do luật pháp lỏng lẻo, hay là do văn hóa truyền thống?

Bởi  AdminTD

 Trương Nhân Tuấn

19-11-2021

Hầu hết các chuyện cổ tích Việt Nam lưu truyền trong dân gian, kể cả chuyện Tấm Cám, điểm chính vẫn là kẻ ác bị trừng phạt và kẻ hiền gặp lành. Không có văn hóa nào chủ trương bạo lực mà chỉ có những kẻ lợi dụng những điểm đặc thù của văn hóa để mưu đồ chính trị.

Điều gây sốc (trong chuyện Tấm Cám) là cảnh cô Tấm (mặc dầu đã lấy được vua) vẫn trả thù mẹ con cô Cám bằng cách chặt xác cô Cám thành nhiều khúc rồi đem làm mắm. Hũ mắm được gởi về cho mẹ cô Cám ăn. Đây là một “kịch bản” cực kỳ tàn nhẫn và vô luân. Điều may mắn là chuyện trong cổ tích này chưa hề thấy được ngoài đời, trong suốt lịch sử của VN.

Trong thời kỳ đất nước phân chia, một bên sống dưới chế độ cộng sản khắc nghiệt, một bên dưới chế độ dân chủ tự do. Ta chưa bao giờ nghe một câu chuyện tương tự về sự ác độc đã xảy ra trong xã hội. Bởi vì, dầu buông lỏng đến mức nào, hay dầu khe khắc đến mức nào, hai miền Bắc Nam vẫn có (mỗi bên) một hệ thống luật lệ chặt chẽ để bảo vệ mối giềng luân lý và trật tự xã hội.

Đảng cộng sản nào cũng vô luân. Đảng CSVN không ngoại lệ. Họ chủ trương những gì “có lợi cho cách mạng” là “đạo đức”. Kỷ cương đạo đức, luân lý của giống nòi bị chà đạp, khinh miệt. Đời sống đảo lộn. Con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố cáo lẫn nhau. Hàng xóm, bạn bè đối xử với nhau không thật lòng, nếu không nói là việc đối xử với nhau được đặt trên nền tảng ngờ vực và dối trá. Các thảm cảnh từ cuộc cải cách ruộng đất thập niên 50 của thế kỷ trước ở miền Bắc nói lên một phần của sự vô luân này. Dầu vậy, trong xã hội, luật lệ vẫn duy trì (một cách nghiêm ngặt) để giải quyết những tranh chấp giữa những thành tố trong xã hội. Ta thấy chuyện cô Cám bị “đem làm mắm” là không hề xảy ra. Những chuyện ác độc tương tự cũng không hề có.

Sau năm 1975, trên bình diện cả nước, cũng vậy. Xã hội được (hay bị) đặt dưới một hệ thống luật lệ vô cùng nghiêm khắc. Những gì được cho là “bình thường” ngày trước (ở miền Nam) đều có thể bị ghép thành tội. Kho tàng “văn hóa” miền Nam bị đốt bỏ. Trí thức miền Nam bị truy diệt. Nhưng trong xã hội vẫn không thấy cách đối xử đã xảy ra trong chuyện Tấm Cám.

Nếu xem đó (cô Cám bị đem làm mắm) là “văn hóa” của VN tại sao nó lại chưa bao giờ xảy ra trong xã hội VN?

Chỉ đến khi chủ trương “kinh tế thị trường định hướng XHCN” thành hình thì xã hội mới bắt đầu có những xáo trộn lớn lao.

Tội ác, bạo lực bây giờ hiển hiện ở mọi nơi, mọi lúc ở VN. Nguyên nhân không hề do suy đồi “đạo đức” hay do “văn hóa bạo lực” theo lối chuyện Tấm Cám. Nguyên nhân là do hệ thống luật pháp không hoàn chỉnh.

Người ta không thể áp dụng các điều luật ở thời “chuyên chính vô sản” cho xã hội “kinh tế thị trường”. Thị trường bây giờ là “toàn cầu hóa”. Thị trường có luật lệ riêng của nó, áp dụng cho mọi quốc gia, mọi nền kinh tế. Trong khi các giá trị xã hội của cộng sản chủ nghĩa thì đã lỗi thời.

Ở các chế độ dân chủ tự do, kinh tế thị trường, mọi thành tố trong xã hội đều phải có trách nhiệm như nhau trước pháp luật.

Về quyền lực, ở các nơi đây nguồn gốc của quyền lực quốc gia là tụ ở dân chúng. Mọi hình thức quyền lực, mọi cách thức sử dụng quyền lực, nếu không đến từ “người dân” thì quyền lực đó không chính đáng. Quyền lực không còn là của riêng của đảng phái hay cá nhân nào.

Trong xã hội cộng sản (hay XHCN), quyền lực tập trung vào đảng CS. Quyền lực này chỉ chính đáng khi đảng này còn phục vụ cho giai cấp mà họ đại diện, tức giai cấp vô sản, công nhân, nông dân… nói chung là tầng lớp lao động nghèo. Khi đảng này phục vụ cho một giai cấp khác, như tầng lớp tư bản nước ngoài, tầng lớp tư bản đỏ… thì nó đã phản bội. Tính chính đáng để lãnh đạo của nó bị mất đi. Đảng CSVN hiện nay đang trong tình trạng như vậy. Tính chính đáng để lãnh đạo của đảng CSVN đã không còn.

Mặt khác, về pháp luật, đảng CSVN lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi chính trị của nó.

Tức là cái gọi là “nhà nước pháp quyền” của VN hiện nay không phải là một nhà nước hiểu theo kiểu Anh, Mỹ “Rule of law” hay kiểu Pháp “Etat de droit”. Trong một nhà nước theo kiểu “Rule of Law” của Mỹ hay “Etat de Droit” của Pháp, trước 1975 ta gọi là “nhà nước Pháp trị” (từ ngữ này cũng được các nước TQ, Đài Loan, Nhật, Đại Hàn… sử dụng). Thì mọi người, mọi tổ chức (có tư cách pháp nhân) đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Anh ngồi xổm trên luật thì làm sao anh có thể “hòa nhập” vào kinh tế thị trường toàn cầu? Bao nhiêu kinh nghiệm thất bại, bị trừng phạt… do kinh tế thị trường, do các định chế quốc tế… đã làm cho gánh nợ của người dân ngày càng nặng. Anh đâu có quịt được?

Và khi quyền lực anh nắm đã không còn chính đáng thì không ai sợ anh nữa. Những người sợ anh là người được anh ban phát quyền lợi (và quyền lực). Người khác thì khinh bỉ và thù ghét anh.

Khi anh (cả đảng phạm tội), không bị luật pháp phân xử. Khi cả hệ thống quyền lực của anh đều tham nhũng, hối lộ… thì không ai coi trọng anh nữa.

Đồng bạc xé toạc tờ giấy thì luật lệ không còn ai tôn trọng. Người ta giải quyết các tranh chấp bằng bạo lực, bằng thế lực, bằng tiền bạc.

Nhà nước như vậy đã từ nhiệm, nếu không nói là đang trên đường phân rã.

Nguyên nhân bạo lực ở xã hội hiện nay là như thế. Là do pháp luật, là do mâu thuẫn về ý thức hệ, là do việc mất tính chính đáng của đảng lãnh đạo.

Đào sâu vào văn hóa để sửa chữa là sai đường. Hãy xem cái gương nước Nhật. Trước Thế chiến II, dân tộc này “khát máu”, hung bạo biết bao nhiêu? Trước đó đất nước này phân chia làm năm, làm bảy do các sứ quân lãnh đạo. Họ xâu xé, chém giết với nhau hàng ngày. Họ có truyền thống hung bạo đó chớ?

Nhưng từ khi có bản “Hiến pháp hòa bình” (do Mỹ áp đặt) vào thập niên 50 (thì phải) thì dân tộc này là một dân tộc hiếu hòa nhất trên thế giới.

Bạo lực hay không là do luật pháp chớ đâu phải do văn hóa?

Phép dưỡng sinh tốt nhất không phải là ngủ hay rèn luyện: Bí quyết chỉ trong 1 chữ

Phép dưỡng sinh tốt nhất không phải là ngủ hay rèn luyện: Bí quyết chỉ trong 1 chữ

 Hoàng Mai

Ít là phương thức sống tốt nhất, cũng là phép dưỡng sinh cao cấp nhất.

Phép dưỡng sinh tốt nhất là gì? Thật bất ngờ, không phải là ngủ hay rèn luyện, bí quyết chỉ trong một chữ. Ít là phép dưỡng sinh cao nhất.

Kinh Dịch có viết: “Phù thiểu giả, đa chi sở quý dã”, đại ý là: Ít là quý, ít mới có thể đạt được nhiều hơn.

Đời người cũng như vậy, nhiều không bằng ít, ít trái lại khiến cho cuộc sống càng có chất lượng. Ít là phương thức sống tốt nhất, cũng là phép dưỡng sinh cao cấp nhất.

Nói ít thì ít họa

Ngạn ngữ có nói rằng: “Bệnh theo miệng mà vào, họa theo miệng mà ra”. Nếu nói chuyện không biết tiết chế, nói năng tùy ý, thì có thể sẽ tự mình gây ra họa hoạn.

Nói ít, không nói lời cuồng vọng, cẩn thận lời nói, thận trọng việc làm, luôn luôn chú ý lưu tâm, thì mới có thể phân biệt rõ đúng sai, giảm thiểu tai họa. 

Mỗi ngày trước khi ngủ, hãy thử tĩnh tâm xuống, nghĩ lại trong cả ngày, mình đã có lời nói nào không thỏa đáng hay không. Nếu có, thì cần cảnh giác phản tỉnh và cải thiện.

Chu Dịch có viết: “Cát nhân quả ngôn ngữ, táo nhân chi từ đa”, nghĩa là: “Người may mắn thì ít nói năng, người bộp chộp nóng vội thì nói nhiều”.

Có thể thấy, nói ít, không nói lời cuồng vọng, đó chính là nền tảng gây dựng đức, có thể đem đến phúc báo.

Thế nên, trước khi mở miệng nói, cần suy nghĩ sâu sắc chín chắn, thà không nói còn hơn nói nhiều. Người thực sự thông minh thì không cần nhiều lời, không nói lời thừa, thì mới tránh xa mầm họa, mới có thể tu đức tích phúc.

Người thực sự thông minh thì không cần nhiều lời.

Người già thường dạy bảo cháu con rằng: “Ăn được tức là phúc”. 

Có đúng như vậy không? Thực ra còn câu nói nữa, đó là: “Khéo ăn mới là trí tuệ”. 

Đó chính là nói, không lựa chọn đồ ăn, không chọn món ngon, đồ ăn nào cũng ăn được thì đó là phúc. Nhưng hiểu được phép ẩm thực thì mới là người có trí tuệ.

“Tố vấn – Sấu luận” có viết: “Ẩm thực tự bội, trường vị nãi thương”, nghĩa là: “Ăn uống no nê quá thì ruột và dạ dày bị tổn thương”.

Ăn uống quá no trong thời gian dài sẽ khiến ruột và dạ dày bị quá tải, rất dễ dẫn đến nhiều loại bệnh tật như huyết áp cao, đường huyết cao, mỡ máu cao, các bệnh về tim mạch… Vì vậy, bí quyết khiến bệnh tật tránh xa chính là ăn ít, chỉ  phần no, và ăn đúng giờ, thì mới tốt cho ruột và dạ dày.

Tống Mỹ Linh, phu nhân của Tưởng Giới Thạch, người sống thọ 106 tuổi, rất chú ý đến phép ẩm thực. Trong ngày, bà ăn 5 bữa, nhưng mỗi bữa chỉ 5 phần no, ăn một chút là dừng, tuyệt đối không ăn nhiều. Thậm chí bà còn cân trọng lượng thân thể hàng ngày, khi thấy lên cân liền đổi bữa chính thành ăn hoa quả và salad, đôi khi ăn chút sườn bò. Chính vì tự giác ước thúc bản thân, tiết chế ẩm thực, không ăn no, nên bà mới khỏe mạnh và trường thọ.

Ăn 7 phần no, 3 phần đói, tiết chế ăn uống thì dạ dày yên ổn. Ăn uống vừa vặn thì mới khỏe mạnh.

Ít ham muốn thì ít lo âu

Người xưa nói: “Vui vẻ phóng túng ham muốn thì lo âu hoạn loạn sẽ theo sau”

Nếu một người phóng túng dục vọng thì ưu sầu và họa hoạn cũng theo đó mà đến. Ham muốn càng nhiều thì phiền toái càng nhiều. Giảm thiểu dục vọng cá nhân thì mới càng hạnh phúc.

Mọi người thường nói, tuổi càng cao thì càng nhiều ưu phiền. Thực ra bởi vì dục vọng quá nhiều thì mới càng nhiều phiền não. Mong muốn, truy cầu đối với ngoại vật là bản năng của chúng ta, nhưng lòng người có hạn mà dục vọng lại vô cùng, tìm cầu quá nhiều thì trái lại trở thành bi kịch cuộc đời.

Mạnh Tử nói: “Dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục”, nghĩa là “Dưỡng tâm thì không gì tốt bằng ít ham muốn”.

Giảm thiểu dục vọng, nội tâm mới càng phong phú đủ đầy. Ít ham dục, biết đủ, buông bỏ tham niệm, đó chính là phép dưỡng tâm, là đạo dưỡng sinh.

Giảm thiểu dục vọng, nội tâm mới càng phong phú đủ đầy. 

Ít suy nghĩ thì ít ưu sầu

Rất nhiều người luôn luôn ưu sầu khổ não lo lắng về những sự việc chưa xảy ra, nghĩ dông nghĩ dài, khiến bản thân rơi vào tâm trạng phụ diện, khó mà thoát ra được.

Trong Hồng Lâu Mộng, Lâm Đại Ngọc xuất thân đại gia tộc, tài hoa tràn đầy, một cái chau mày, một nụ cười cũng khiến người rung động. Nhưng cha mẹ cô chết sớm, cô thân thể yếu nhược nhiều bệnh, đường tình trắc trở, cuối cùng ngọc nát hương tàn, khiến người ta không khỏi cảm thông và thương cảm. Thực ra kết cục của Đại Ngọc có mối quan hệ rất lớn với tình tình hay suy nghĩ hay lo lắng của cô.

Chỉ cần một chút gió lay cỏ động cũng khiến cô suy nghĩ lung tung, khiến cho tâm trạng như cơn sóng cuộn, khiến thân tâm đều bị hành hạ. Mà tâm trạng lại ảnh hưởng cực lớn đến sức khỏe, với tính cách như thế thì chú định trước bi kịch cuộc đời rồi.

Ưu sầu có lúc chẳng qua là do bản thân suy nghĩ lung tung loạn bậy, tự đóng gông cùm cho bản thân. Chi bằng ít suy nghĩ, một niệm buông xuống thì tâm thanh thản tự tại. Chăm sóc tốt tâm tình thì thân thể càng khỏe mạnh.

Ít oán trách thì ít bi ai

Đời người, chuyện không như ý thường có 8, 9 phần. Khi gặp chuyện không vừa lòng thì có người cười rồi bỏ qua, có người lại luôn miệng oán trách. Oán trách nhiều, xem có vẻ là để xả bỏ bực dọc, nhưng thực tế không những không giải quyết được vấn đề, trái lại, nó sẽ càng trở thành gánh nặng, càng oán trách thì càng bất hạnh, dẫn đến một vòng tròn luẩn quẩn.

Có câu nói rằng: “Nếu oán trách mình ở vào hoàn cảnh đen tối, chi bằng hãy xách đèn tiến bước”.

Giảm oán trách, thay đổi tâm thái, thoáng đạt lạc quan, như thế thì vấn đề sẽ được giải quyết một cách tự nhiên.

Oán trách chẳng có tác dụng gì, càng oán trách thì bi thương càng tiến đến gần, và hạnh phúc càng rời xa. Thay việc oán người trách Trời, chi bằng biến oán khí thành động lực, thiết thực cải biến bản thân, đó mới là vương đạo.

Cuộc sống dẫu có khó khăn đến mấy thì cũng chớ quên mỉm cười.

Cuộc sống dẫu có gian khổ đến mấy thì cũng chớ giảm mất lạc quan.

Ít oán trách, tích cực lạc quan đối mặt với cuộc sống, thì mới trở thành người chiến thắng trong cuộc đời.

Hoàng Mai

From: TU-PHUNG

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Người ta vui mừng khi được thoát chết.  Có khi ăn mừng liên hoan nữa.  “Sắp chết thì lo âu, nhưng được lành bệnh thì vui mừng” là tâm tình chung của con người mà ngôn sứ Isaia đã nói trong chương 38.
 
Phải chết là một nỗi đau khổ của con người vì là án phạt công khai nặng nề của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ sa ngã phạm tội (St 3).  Con người phải cúi mặt đau khổ và chấp nhận thân phận của mình từ nay về sau.  Sẽ mãi vẫn là thân phận thụ tạo thôi dù họ có địa vị cao sang hay tri thức cao vời đến mấy đi nữa.  Không có hình ảnh nào diễn tả đúng nghĩa nhất thân phận nào cho bằng hình ảnh bụi đất.”  Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19b).  Bụi đất của hôm nay và bụi đất của ngày mai chính là sự mỏng giòn và giới hạn rõ rệt của con người đã bị sự chết chi phối.
 
Như vậy ta đã rõ, bản án chỉ dành cho tội nhân.  Tất cả chúng ta đều sinh ra trong môi trường tội lỗi và chủ động phạm tội chẳng lẽ không lãnh bản án sao?  Sự chết là một thực tại minh chứng cho điều này.
 
Trong đời sống con người, sự chết bao hàm một bí ẩn rất lớn về mỗi cá nhân, về cõi vô hình, về tình thương xót của Thiên Chúa.  Điều mà đôi khi người ta quên lãng trong thực tế thì cần phải có một biến cố nào đó nhắc nhở cho.  Biến cố ấy phải có một sức mạnh lớn nhất, ghê sợ nhất và người ta vô phương chống chọi.  Đấy là một bản án kết tội phải chết.  Bản án chọc thẳng vào sự nghiệp và những sự đầu tư tốn kém nhất của con người.  Thật là tiếc xót và đau buốt lắm chứ.  Những vụ tịch thu tài sản vì tham nhũng, hối lộ, buôn lậu và kết án tử hình giống như thế đó.  Thường thì những vụ án này người ta đưa ra xét xử công khai để tội phạm lãnh một bản án cụ thể.
 
Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Kitô giáo, chúng ta không hoàn toàn bi quan trước bản án của sự chết do Thiên Chúa muốn.  Vì “Thiên Chúa đánh phạt rồi lại xót thương, Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống.”  Dù bản án sự chết thuộc về kẻ bất lương nhất, tội lỗi nhất thì chúng ta cũng không được phép đứng về phía quan tòa xét xử, vì Thiên Chúa không đặt chúng ta làm quan án xét đoán anh em, mà phải luôn mặc lấy tâm tình của Thánh Phaolô trong “bài ca đức mến”:
 
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,
Không nóng giận, không nuôi hận thù,
Không mừng khi thấy sự gian ác,
Nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
Hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Đức mến không bao giờ mất được
” (1 Cr 13,4-8).

 
Bình thường đấy không phải là tâm tình tự nhiên của tất cả mọi người.  Bản chất con người đã mang theo sự chết nên cũng thích hùa theo, thích nuôi dưỡng trong mình những sự chết chóc đủ loại.  Một thực tại đau lòng Thiên Chúa ngay cả khi chưa có bản án sự chết của Ngài.  Thực tế này lại được tái diễn nhiều lần trong lịch sử nhân loại và đỉnh cao là cái chết của Đức Giêsu mà bản án do con người chúng ta ký cho Ngài!      
       
Vậy dưới cái nhìn của người Do thái, Đức Giê-su phải lãnh bản án sự chết một cách công khai là hợp lý, vì tội Ngài chồng chất (Mc 14,53–15,1-20).  Thánh sử Máccô ghi rõ: “Bản án xử tội Người viết rằng: “Vua người Do thái” (Mc 15,26).  Họ hoàn toàn hãnh diện và thỏa mãn về việc mình kết tội cho Đức Giêsu phải chết.  Xem ra bản án của họ đã được vua quan cho đến các vị tôn giáo ký thì ngay cả Thiên Chúa cũng thua!  Ông tổng trấn Philatô đã không hề thay đổi ý định của mình: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19,22).
 
Xem ra những quan niện và lý luận của người Do Thái về tội lỗi theo mạc khải Kinh Thánh đúng lắm.  Nên không lạ gì Đức Giêsu bị kết án.  Có tội thì phải chết, nhất là tội xúc phạm đến Thiên Chúa thì không thể tha được.  Đức Giêsu là một điển hình.  Một nhân vật có tiền án tiền sự trong dân và được ghi vào sổ bìa đen trong hàng ngũ tôn giáo, chính trị!
 
Nếu có cùng quan niện và suy nghĩ như người Do Thái về tội lỗi thì thật là dễ hiểu về bản án sự chết.  Kẻ dữ phải chết là đúng.  Nhưng còn kẻ công chính thì sao?  Kẻ vô tội thì sao?
 
Danh mục người công chính thì đông lắm.  Kẻ vô tội thì kể được một vài thôi.  Nhưng tất cả vẫn chịu chung một bản án.  Thật là khó hiểu.  Thật là mầu nhiệm lạ lùng.  Không thể chấp nhận được.
 
Trong chương trình của Thiên Chúa thì cái chết của Đức Giêsu cũng là một bản án công khai, nhưng không phải là bản án kết tội Ngài, vì ngài là Đấng vô tội, mà là một bản án công khai kết tội con người chúng ta.  Vì thế mà Ngài đã bị liệt vào hàng tội nhân (x. Is 53,12).  Không những thế mà tất cả mọi sự xấu xa và tội lỗi của nhân loại trút lên con người Ngài, nên Ngài là: “Con chiên gánh tội thiên hạ.”  Thiên Chúa đánh phạt Đức Giêsu: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32).  Chén đắng, thập tự của Ngài do Thiên Chúa trao như một bản án kết tội từ từ mà Ngài không được xin tha, không được từ chối: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,2).  “Thánh giá Đức Giêsu vừa là sự mạc khải về sự rộng lớn bao la và tính nặng nề của tội lỗi của toàn thể nhân loại, vừa tỏ bày sự bao la của tình yêu Thiên Chúa” (Nol Quesson).

Cái chết của Đức Giêsu là một lời giải thích về tội lỗi, về cái chết của những người công chính, người vô tội. “Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23,31).  Cái chết của Đức Giêsu vừa tố cáo vừa dung tha cho những sai lầm của con người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); vừa thông cảm với nỗi oan nghiệt, nỗi bất công bao người đang gánh chịu hôm nay.
 
Người Kitô hữu đón nhận cái chết trong chương trình của Thiên Chúa để mở rộng tầm nhìn và tăng thêm niềm xác tín vào ơn cứu độ của Đức Giêsu, đồng thời nhìn cái chết của tha nhân (trong đó có cả kẻ ác, kẻ thù của mình) cũng có một giá trị nào đó với mình theo tương quan của ơn cứu rỗi.  Đó là chiều kích cộng đồng cơ bản trong nhân loại, nơi ấy có hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội lữ hành và Giáo Hội đang thanh luyện.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

From: Langthangchieutim

NGƯỜI BẠN CỦA CHA – VietBF

NGƯỜI BẠN CỦA CHA – VietBF

Hồi tôi mới độ 15 tuổi, bố tôi mang về một con chó đực. Con chó có bộ lông trắng, đôi mắt màu nâu đen rất đẹp. Năm đó mất mùa đói kém, gia đình tôi phải thường xuyên ăn độn khoai sắn. Lạ lùng thay, con chó này cứ lớn phổng phao, mượt mà. Nó phải nặng đến 15kg.

Cũng như nhiều gia đình khác, những con chó nuôi đều không được đặt tên. Nó là loài vật, nên vô danh ! Mỗi lần muốn gọi, chỉ cần: “Êu, Êu” là nó xuất hiện, ve vẩy đuôi, miệng rít lên những tiếng như tiếng rên, rất dễ thương !

Thường ngày, khi không có ai cần đến, nó nằm khoanh tròn trong gậm giường, đầu hướng ra phía cửa. Có khách lạ, nó sủa lên vài tiếng báo hiệu. Còn là người quen thân, nó vùng dậy, xông ra, vẫy đuôi rối rít và kêu lên mừng rỡ.

Từ ngày mua được con chó này, nhà tôi như được bình an hơn. Cha tôi quý con chó lắm. Mùa đông giá rét, ông lấy một chiếc bao tải quấn quanh mình, giữ ấm cho nó.. Những ngày hè nóng nực, ông mang nó ra ao tắm cho sạch lông. Nhà tôi nghèo như thế, vậy mà đôi khi ông vẫn đi đâu đó tìm được một khúc xương mang về cho nó gặm. Con chó rất quyến luyến cha tôi, suốt ngày luẩn quẩn bên ông.

Một hôm có hai người khách lạ đến nhà tôi hỏi mua chó. Họ nói, họ ở làng bên cạnh, cách làng tôi một cánh đồng. Ngày mai gia đình họ có đám giỗ, cần một con chó để thịt! Cha tôi nghe vậy không muốn bán, nhưng gia cảnh nhà tôi lúc đó rất nghèo. Cả cha mẹ và bốn anh em tôi, mặc dù bữa ăn phải độn nhiều khoai sắn nhưng không ngày nào thật sự được ăn no.

Mẹ tôi bàn với cha tôi lâu lắm. Nếu tiếp tục nuôi thì không còn gì để cho nó ăn, dù rằng con chó vô cùng dễ ăn. Nó có thể ăn vài cọng rau thừa, dăm bảy cái vỏ khoai lang, mấy cái xương lõi sắn, vài hạt cơm rơi vãi quanh mâm hoặc bất cứ cái gì có thể ăn được mà con người cho phép. Tuy nhiên, nuôi nó cũng như thêm một miệng ăn nữa. “Người chẳng có mà ăn, lấy đâu ra cơm nuôi nó mãi ?” – Mẹ tôi bảo thế.

Có một điều rất lạ là khi cả cha và mẹ tôi miễn cưỡng đồng ý bán con chó, thì tự nhiên nó chạy biến đi đâu mất! Không lẽ con chó này hiểu được tiếng người ? Chúng tôi chia nhau đi tìm mọi xó xỉnh, xung quanh nhà, thậm chí sang cả nhà hàng xóm, nhưng bặt vô âm tín.

Cho đến khi cha tôi nước mắt lưng tròng, lên tiếng gọi, thì từ trong đống rơm ở phía sau chuồng lợn nó chui ra ! Người ta lấy cái chày giã gạo chẹn cổ nó xuống, trói mõm và bốn chân nó lại. Con chó tội nghiệp kêu rên ư ử, hai mép nó sùi bọt. Cha tôi ôm lấy nó, khóc. Nhìn bộ dạng cha tôi, thương lắm. Tôi liên tưởng đến lão Hạc, một nhân vật của nhà văn Nam Cao khi phải bán cậu Vàng !…

Người ta trả tiền cho mẹ tôi và dùng đòn ống khiêng nó đi. Cha tôi buồn bã lên giường nằm, tay trái vắt ngang qua trán, tay phải để lên bụng và thở dài thườn thượt… Chiều hôm đó ông bỏ ăn. Một bát cơm và đĩa khoai phần ông vẫn còn nguyên trong trạn. Mẹ tôi bảo, nó chỉ là một con chó, việc gì phải tiếc quá như vậy ? Nếu muốn, lại sẽ mua con khác về nuôi ! Cha tôi không nói gì, cứ nằm im như người bệnh nặng….

Đêm hôm đó trời tối đen như mực. Cả nhà tôi đã ngủ yên, chỉ một mình cha tôi thao thức. Thỉnh thoảng ông trở dậy, bật diêm hút thuốc. Rồi ông nằm xuống thở dài, trằn trọc, quay ra, lật vào, ngao ngán. Tâm trạng ông nôn nao, buồn phiền như tiếc nuối một vật gì đã mất đi, quý lắm…

Vào khoảng 2-3 giờ sáng, cha tôi là người đầu tiên phát hiện những tiếng động rất lạ ở vách cửa.. Cha tôi yên lặng lắng nghe. Không có nhẽ đêm đầu tiên không có con chó giữ nhà là đã có kẻ trộm ? Mà nhà tôi có gì đáng giá để kẻ trộm phải rình mò ?

Nhưng chỉ một phút sau, linh tính báo cho ông biết, con chó đã trở về ! Nó cào mạnh vào cửa, kêu ư ử như cầu cứu. Cha tôi vồng dậy, kéo cửa ra. Con chó mừng rỡ nhảy sổ vào nhà. Mẹ tôi trở dậy thắp đèn. Tội nghiệp con chó. Cổ nó còn nguyên một vòng xích sắt có khóa, nối với đoạn dây thừng lớn đã bị nó cắn đứt kéo lê theo. Đầu và bụng nó ướt lút thút, bốn chân và đuôi dính đầy bùn. Nó đói quá, hai bên sườn xẹp lại, sát vào nhau.

Cha tôi vội tháo vòng xích, lấy cái khăn rách lau khô lông và lau sạch bùn ở đầu, ở bụng, ở chân và đuôi nó, rồi vào trạn lấy bát cơm còn để phần ông từ hồi chiều hôm trước, trộn với một ít tương cho nó ăn.

Lạ lùng thay, con chó đói gần chết, và lại lần đầu tiên được ăn một bát cơm ngon như thế, vậy mà nó ngước mắt nhìn cha tôi, như nghi ngờ và ngần ngại… Một lúc sau, nó mới cúi đầu xuống ăn một cách từ tốn. Cha tôi vuốt ve nó rất lâu, sau đó cho nó vào gầm giường. Ông lên giường nằm và một lúc sau ông đã chìm vào giấc ngủ bình thản và ngon lành.

Sáng hôm sau, mới tinh mơ hai người mua chó hôm trước quay trở lại nhà tôi. Con chó đánh hơi thấy trước nên nó trốn biệt. Cha tôi điều đình và trả lại tiền cho hai người mua chó. Cả nhà tôi đều hiểu rằng, dù có phải chết đói, cha tôi cũng không bao giờ bán con chó cho ai nữa.

Từ hôm đó chúng tôi để tâm chăm lo cho con chó nhiều hơn. Cha tôi, dù cả bữa cơm ông phải ăn khoai là chính (tiêu chuẩn mỗi người chỉ một bát cơm), song ông luôn dành cho con chó một nửa bát. Con chó hình như cũng hiểu được điều này. Nó trở nên nhút nhát hơn, cảnh giác hơn với mọi người. Nhưng với cha tôi, nó cứ luẩn quẩn bên chân ông. Khi ông ra đìa, nó luôn đi theo ông như hình với bóng. Còn những lúc ông đi làm xa, không cho nó đi theo thì nó ra đầu thềm nhà nằm ngóng ra cổng, chờ cho đến khi nào ông về, nó nhảy xổ ra, mừng rối rít rồi theo ông vào nhà !

Khoảng chừng hai năm sau, kinh tế gia đình tôi khá giả hơn trước. Con chó cũng lớn hơn, khỏe ra, mượt mà, rất đẹp. Nó luôn luôn theo sát cha tôi, không rời nửa bước. Vào một buổi trưa cuối mùa hè, cha tôi ra đìa để vớt bèo lục bình về làm phân xanh. Cái đìa này lầy bùn, cỏ và cây dại mọc dày đặc từ hàng trăm năm nay.

Dưới gốc rễ cây đan quyện vào nhau như những tấm lưới thép, tạo thành những hang hốc sâu đầy bùn. Ở dưới đó, rất nhiều lươn và cá trê lưu cữu to bằng bắp chân người lớn. Đôi khi người ta còn bắt được cả rái cá, kỳ đà. Nhưng không một ai có thể tưởng tượng ra dưới cái đìa rậm rạp đó lại có một con trăn hoang to như một cây tre bương, dài cỡ 3 mét, sống lâu năm và chắc nó cũng đã ăn hết cả mấy tạ cá dưới đìa.

Hôm đó cha tôi lội dưới bùn vớt những đám bèo dày đặc vứt lên bờ. Đến gần gốc một cây vạy, ông nhìn thấy đuôi một con trăn lớn thò ra. Cha tôi quyết định bắt sống hoặc đánh chết con trăn này. Ông chộp lấy đuôi con trăn, đạp hai chân vào gốc vạy, kéo con trăn ra ngoài. Con trăn chống cự. Khi bị lôi ra khỏi hang, nhanh như một tia chớp, con trăn cong người cắn chặt vào bắp chân cha tôi. Ông ngã ra bờ đìa và kêu lên một tiếng sợ hãi.

Ngay lúc đó con chó không kịp sủa một tiếng nào, nó nhảy bổ vào, cắn vào cổ con trăn và dính liền hàm răng vào đó, như không bao giờ muốn nhả ra nữa. Con trăn quật mình cuốn chặt lấy thân con chó. Chỉ bằng một cú núc, nó làm con chó gãy đôi xương sống ! Mõm con chó vẫn cắn chặt vào cổ con trăn. Hai bên mép nó ứa ra hai dòng máu và ở lỗ hậu môn lòi ra một đống phân nhão !

Cha tôi đã ý thức được sự nguy hiểm, ông vớ lấy con dao quắm mang theo để chặt cây, nhằm vào đầu con trăn chém rất mạnh. Con trăn chỉ quằn quại được một lát, nó mềm nhũn ra và bất động. Cha tôi cứ để máu ở chân chảy ròng ròng, ông quay ra cố gỡ mõm con chó ra khỏi cổ con trăn và ôm chặt nó vào lòng. Nhìn thân mình con chó ướt sũng, bê bết bùn, mềm ẹo, mắt nhắm nghiền, cha tôi khóc. Ông nghĩ rằng nó đã chết. Cha tôi mang con chó về nhà, tắm, lau khô và để nó nằm vào một cái nong đặt ở cuối thềm.

Ông bảo tôi đi tìm một cái thùng gỗ, đặt con chó vào và mang nó đi chôn. Khi cha tôi nhấc nó lên, định cho nó vào hòm thì đôi mắt nó mở hé ra và chớp. Cha tôi mừng quá, sai tôi đi tìm ông lang Tá về băng, bó nẹp cố định xương sống cho nó. Xong xuôi mọi việc, cha tôi mới thấy đau ở bắp chân. Ông ngồi xuống bậc thềm, để cho ông lang rửa sạch, sát trùng, bôi thuốc và băng bó vết thương.

Buổi chiều, ông bảo mẹ tôi nấu một nồi cháo gạo, rồi đập hai quả trứng gà vào quậy đều. Đây là một món ăn sang trọng để tẩm bổ mà gia đình tôi rất ít khi được ăn. Ông múc cháo ra tô, chờ nguội và vuốt ve dỗ dành cho con chó ăn. Nó nằm im, đôi mắt ướt nhìn cha tôi, nhưng không ăn một miếng nào.

Cả xóm tôi đem con trăn ra làm thịt chia nhau, ai cũng khen con chó quá khôn, nhưng không ai tin rằng nó còn có thể sống thêm được vài ngày nữa. Nhiều người bảo mẹ tôi đem con chó ra mà thịt, kẻo để nó chết uổng phí của trời ! Chỉ riêng cha tôi không nghĩ thế. Ông luôn tin rằng con chó sẽ sống cùng ông, và nếu chẳng may nó chết, ông sẽ đem chôn nó như chôn một con người !

Khoảng hai tháng sau, với sự chăm sóc của cha tôi, con chó đã bình phục. Tuy nhiên vì xương sống của nó bị gãy nên hai chân sau hoàn toàn bị liệt. Mỗi lần đi, nó chỉ dùng hai chân trước chống xuống đất và lết trên đầu gối của hai chân sau. Điều làm cả nhà tôi ngạc nhiên, từ khi con chó đi được theo kiểu lê lết, nó chỉ gặp khó khăn trong khoảng một tháng đầu. Sau những ngày ấy, nó lết nhanh không kém gì những con chó bình thường.

Từ dạo đó, cha tôi cưng con chó như con. Một suất cơm đạm bạc và ít ỏi của ông, bữa nào cũng được chia làm đôi. Thảng hoặc, ngày nào có một hai miếng thịt, cha tôi cũng dành cho nó một phần. Con chó rất khôn, hình như nó biết tất cả mọi điều đang diễn ra xung quanh. Nó không bao giờ quấy rầy chúng tôi. Nhưng với cha tôi, nó quấn quýt, liếm láp chân tay, không muốn rời ra nửa bước. Ban đêm ông nằm ngủ, nó nằm dưới chân giường. Hình như chỉ như thế thì cả chó và người mới thấy yên tâm !.

Cuộc sống như vậy trôi đi. Cả nhà tôi luôn biết ơn con chó và gần như ngày nào cũng nhắc đến chuyện con trăn ! Cho đến tháng hai năm 1959, nhà tôi có đại tang. Cha tôi bị một cơn bạo bệnh rồi qua đời ! Tôi còn nhớ như in, hôm đưa ma cha tôi, trời mưa tầm tã, rét lắm, nhưng người đi đưa rất đông. Anh chị em, chú bác, cô dì, dòng họ ai cũng khóc như mưa.

Không mấy ai để ý trong dòng người đông đúc đó, con chó liệt cũng có mặt.
Nó ướt lút thút như chuột lột, rét run lẩy bẩy, cố lết trên đôi chân liệt, len lỏi giữa dòng người than khóc sướt mướt trong đám tang. Không ai hình dung ra được con chó liệt đó có thể đi theo đám tang ra tận nghĩa địa, nơi chôn cất cha tôi, và sau đó bằng cách nào nó lại tự lê lết về nhà ?

Chỉ đến khi trời tối mịt, thắp đèn lên, mới tìm thấy nó nằm sâu trong gầm giường, bộ lông hãy còn ẩm ướt và đôi mắt buồn rầu khó tả, cứ nhìn đi đâu đó, như hướng về một cõi nào mơ hồ nhưng ở đâu xa lắm…

Sáng hôm sau, cúng cơm cho cha tôi xong, chúng tôi gọi chó ra cho nó ăn. Không còn thấy nó nằm trong gầm giường nữa. Nó đã lết ra đầu thềm tự khi nào, nằm quay đầu ra cổng ngóng chờ xem một ngày nào đó liệu cha tôi có trở về ?

Tôi bế nó vào nhà, vỗ về và dỗ dành cho nó ăn, nhưng tuyệt nhiên nó không đụng vào bất cứ thứ gì. Tôi đem mấy miếng thịt lợn luộc, những thứ mà ngày thường nó vô cùng thích ăn. Nó quay đầu ra chỗ khác. Tôi đặt nó trở lại gầm giường. Nó không chịu nằm yên, lại lết ra đầu thềm, nằm ngóng ra cổng, kiên trì chờ đợi và im lặng như một mô đất.

Sau hơn một tuần lễ con chó nhịn ăn như thế, nó gầy rạc đi. Cả nhà bận cúng tuần cho cha tôi, nhưng ngày nào tôi cũng để tâm và dỗ dành, hy vọng nó ăn lấy một chút. Nhưng nó không màng.

Rồi một buổi sáng tinh mơ, trời còn đầy sương và se se lạnh, chúng tôi ra nghĩa trang thắp nhang và đặt tấm bia đá trên mộ cha tôi. Tất cả mọi người đều kinh ngạc đến mức không còn tin ở mắt mình: Con chó liệt đã nằm chết trên mộ cha tôi tự bao giờ, hai chân trước chồm lên ôm lấy ngôi mộ, hai chân sau bại liệt như đang quỳ, cơ thể nó đã cứng đơ, đôi mắt nhắm nghiền, thanh thản, nhưng dường như còn hơi ươn ướt…

Chúng tôi trở về nhà đóng một cái hòm gỗ, khâm liệm con chó tử tế và chôn nó dưới chân mộ cha tôi… Tôi cắm mấy nén nhang lên ngôi mộ nhỏ bé này, lòng miên man nghĩ ngợi: Không biết giờ này linh hồn cha tôi đang phiêu diêu bên trời Tây cực lạc, Người có biết con chó đầy ân tình và tội nghiệp của Người đã mãi mãi đi theo Người…

VietBF@sưu tập

ÔNG CÓ PHẢI LÀ VUA KHÔNG?

ÔNG CÓ PHẢI LÀ VUA KHÔNG?

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Ông có phải là vua không?  Đó là câu hỏi Philatô đặt ra cho Chúa Giêsu trong một phiên toà xét xử.  Ông là Tổng Trấn đại diện cho chính quyền Rôma.  Trong vụ việc này, ông là Thẩm phán và Chúa Giêsu là “bị can.”  Câu trả lời không dễ.  Nếu Đức Giêsu không phải là vua, thì Người cũng chỉ như mọi vĩ nhân đã từng hiện hữu trong lịch sử và đã qua đi.  Nếu còn lại thì chỉ là những giáo huấn như di sản cho hậu thế.  Nhưng, nếu Người là Vua thì sao?  Chấp nhận Người là Vua sẽ làm đảo lộn cả thế giới.  Tuyên xưng Người là Vua sẽ làm cho lòng người day dứt khôn nguôi.  Bởi lẽ vị Vua ấy sẽ xét xử mỗi người chúng ta, không chỉ vào lúc tận cùng của thời gian, nhưng mỗi giây mỗi phút của cuộc đời.

Để trả lời câu hỏi này của Philatô, Chúa lại đặt một câu hỏi khác: Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?  Trong các Tin Mừng, ta thấy có những lần Chúa áp dụng hình thức này.  Người không khẳng định mà cũng không phủ nhận nội dung câu hỏi được nêu ra, nhưng Người đáp lại bằng một câu hỏi khác.  Khi một chàng thanh niên hỏi Chúa: Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được cuộc sống đời đời làm gia nghiệp, Chúa hỏi lại: Sao anh gọi tôi là nhân lành.  Khi Phêrô hỏi Chúa: “Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”  Chúa đáp: “Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc? (Lc 12, 41- 42).  Phải chăng Chúa thấy rõ Philatô không thể hiểu đúng chức vị vua của Người, nên Người chỉ tỏ cho ông ta thấy sứ mạng của Người hơn là danh tính hay chức vị.  Chúa đã giải thích: Người đến từ thế giới trên cao.  Người không làm vua theo nghĩa trần tục, nhưng Người là Vua Chân lý.  Điều này, Philatô không thể hiểu.  Ông đặt một câu hỏi khác có vẻ không đúng lúc: Chân lý là gì?  Vì vậy mà Chúa im lặng không trả lời.  Chân lý không thể tóm gọn trong một câu định nghĩa.  Chân lý chỉ được đón nhận với một con tim rộng mở và với một tấm lòng hướng thiện chân thành, để rồi, mọi ngôn hành của con người đều nhằm sống theo Chân lý mà mình khám phá và tôn nhận.  Sống theo Chân lý tức là nỗ lực cố gắng suốt cả cuộc đời.

Ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, người tín hữu cùng với Giáo hội tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu thế, Đấng Giải phóng và là Vua.  Chúa là Vua không theo cách hiểu của người đời.  Vương quốc của Người là vương quốc vĩnh cửu.  Vương quốc ấy không giới hạn bằng ranh giới biên cương, nhưng tất cả những ai sống theo Sự thật thì là công dân của vương quốc này.  Luật của vương quốc này chỉ vỏn vẹn hai chữ: Yêu Thương, vì khi yêu thương thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,10).

Khi nhắc lại câu hỏi của Philatô: Ông có phải là vua không?  Người tín hữu khẳng định niềm xác tín của mình và tuyên xưng Người là Vua vũ trụ.  Một khi tôn vinh Người là Vua, thì Bí tích Thanh tẩy đã làm cho người tín hữu trở thành công dân của vương quốc có Chúa Giêsu cai trị.  Người công dân có bổn phận phải lắng nghe và tuân giữ những chỉ thị của vua mình, hầu kiến tạo sự hoà bình và làm cho vương quốc ấy thăng tiến.

Chúa Giêsu đến trần gian để loan báo Nước Trời: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).  Người cũng dạy chúng ta cầu nguyện cho “Nước Cha trị đến.”  Vương quốc của Đức Giêsu đã được khai mở ở trần gian này rồi, nhưng vẫn chưa được thành toàn.  Sự thành toàn của vương quốc Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong tương lai, lúc ấy, Con Người sẽ từ mây trời ngự đến, thống trị vinh quang mãi mãi (Bài đọc I).  Tác giả sách Khải Huyền (Bài đọc II) nhắc chúng ta: chính Chúa Giêsu, vị Chứng Nhân trung thành, sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế để xét xử con người.  Như thế, hình ảnh “Con Người” mà ngôn sứ Đanien đã được chiêm ngưỡng, đã được các Kitô hữu từ thuở ban đầu áp dụng cho Chúa Giêsu.  Người là Vua vũ trụ và là Đấng thống trị lòng người bằng tình yêu.

“Ông có phải là Vua không?”  Nhân loại hôm nay đang đặt ra câu hỏi ấy.  Là Kitô hữu, chúng ta hãy trả lời và khẳng định: Phải, Chúa là Vua.  Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được Chúa Cha ban cho Người.  Người vẫn đang hiện diện giữa chúng ta để yêu thương và dẫn dắt chúng ta trên mỗi bước đường của cuộc sống, nhờ đó mà chúng ta vững một niềm tin, sẽ đạt tới bến bờ của hạnh phúc.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Ăn thịt bò nhớ Mác

Ăn thịt bò nhớ Mác

Bởi  AdminTD

 Trần Trung Đạo

17-11-2021

Trước ngày ăn miếng bò bít-tếch với giá cắt cổ của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe hay còn gọi Salt Bae (Thánh rắc muối), Tô Lâm hướng dẫn một phái đoàn đến viếng mộ Karl Marx ở nghĩa trang Highgate thuộc vùng ngoại ô London. Theo phiên bản tiếng Anh của báo Công An, hành động của Tô Lâm thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.

Các báo Anh và Mỹ phê bình hành động này. Tựa của bài báo trên The Independent hôm 8 tháng 11: “Bộ trưởng Việt Nam ăn miếng bít tết dát vàng trị giá 1,450 bảng sau khi đặt hoa tại mộ của Karl Marx” (Vietnamese minister fed £1,450 gold-plated steak after laying flowers at Karl Marx’s grave).

Khi đặt tựa như vậy, tác giả bài báo đã thấy ra những điểm nghịch lý giữa hai sự kiện. Dưới lăng kính tư cách lãnh đạo, hai hành động đó chửi nhau.

Tạm gác qua bên chuyện đúng hay sai trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, Tư Bản Luận, Duy Vật Biện Chứng, Duy Vật Lịch Sử, chỉ bàn chỗ đứng của Karl Marx khi nhìn về phía con người. Trong toàn bộ lý thuyết của mình, Karl Marx (Việt Nam gọi là Mác) nhân danh lớp người bị bóc lột tức giai cấp vô sản.

Buổi sáng đặt vòng hoa để tưởng nhớ một người đấu tranh cho giai cấp lao động vô sản rồi tối hôm sau ngồi ăn bò bít tết giá 44 triệu đồng mỗi phần trong khi nhiều triệu người trong tầng lớp lao động vô sản tại Việt Nam không biết ngày mai sống chết ra sao.

Đại dịch ảnh hưởng toàn cầu nhưng chưa ở đâu, ngay cả ở nước có trên tỉ dân như Ấn Độ, đã trải qua thảm cảnh 1.3 triệu người đói khát tìm về quê bằng mọi phương tiện kể cả đi bộ hàng ngàn cây số như tại Việt Nam.

Là lớp người thừa kế gia sản của tiền nhân, giới lãnh đạo đảng CS không làm gì cả ngoài việc hưởng lợi tức để lại từ các thời Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự, Hà Huy Tập, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn theo kiểu cha truyền con nối.

Đảng CSVN không hề chuẩn bị một lối thoát, một phương án nào cho những tình trạng nguy cấp tột cùng. Thực tế bi thảm vừa qua cho thấy, suốt hơn 46 năm, chắc chắn trong các hội nghị trung ương chưa ai từng đặt ra câu hỏi đảng phải làm gì để đối phó nếu môt đại dịch, một đại thiên tai xảy ra trên đất nước. Nhìn cách giải quyết khi biến cố xảy ra để thấy sự bất lực, vụng về, rừng rú và vô nhân của đảng.

Từ khi thành lập đến nay, đảng CS không sáng tạo thêm gì mới ngoài hai phương tiện sẵn có gồm bộ một máy tuyên truyền tinh vi và những cách bách hại người tàn bạo do ông tổ Lenin để lại.

Chúng ta thường nghe những tên đồ tể tàn sát dân Do Thái như Heinrich Himmler, Heinrich Müller vì tên của chúng xuất hiện gần như thường xuyên trên sách báo về Thế Chiến Thứ Hai nhưng rất ít khi nghe tới tên Felix Dzerzhinsky. Thật ra, Heinrich Himmler và Heinrich Müller về lý luận và thực tế chưa đáng là học trò của Dzerzhinsky, giám đốc cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp do Lenin lập ra ngay sau khi cách mạng CS 1917. Ngoại trừ đảng viên CS, hầu hết dân Nga đều run sợ khi nghe tên Dzerzhinsky. Lenin chết sớm nên không bị nguyền rủa nhiều như Stalin và Mao Trạch Đông, nhưng con số gần 100 triệu người bị giết dưới các chế độ CS là sản phẩm của lý luận Lenin.

Nhưng cánh tay tàn bạo, tinh vi và thâm độc của chủ nghĩa Mác Lê không phải giết người mà là tẩy não. Tẩy não (brainwash), khái niệm do Edward Hunter dùng lần đầu năm 1950, là một tiến trình nhằm xóa bỏ mọi nhận thức độc lập của một người qua lao động, qua kiểm soát tâm lý, qua cải tạo tư tưởng để thay vào đó bằng một nhận thức mới, trong trường hợp này là nhận thức CS về mọi lãnh vưc của đời sống con người. Hệ thống tuyên truyền CS có câu trả lời cho tất cả câu hỏi và cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ, từ em bé mới biết đánh vần cho tới nhà khoa học.

Nhưng, dù đứng trên quan điểm tôn giáo nào, con người là một sinh vật có trí tuệ và có các giá trị thiêng liêng không thể bị hoàn toàn xóa bỏ bởi các nhận thức áp đặt.

Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa chân lý và bạo lực, giữa tự do và độc tài vẫn tiếp tục diễn ra. Diễn ra trong âm thầm nơi mỗi con người dẫn đến bán công khai rồi công khai ở từng làng xã, quận huyện, thành phố cho đến phạm vi một nước, khối các quốc gia và cả châu.

Sau khi phong trào CS Châu Âu sụp đổ, ngôi mộ của Mác mà Tô Lâm đến thăm không còn mang tính thời đại mà được xem như một di tích bảo tàng.

Trước 1991, mỗi năm vào sinh nhật 5 tháng 5, mộ Mác tràn ngập những vòng hoa. Tháng 5, 1992, chỉ có một vòng đặt ở chân mộ với hàng chữ “Chúng tôi vẫn giữ vững niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản”. Nhưng rồi những năm sau đó không còn ai đến nữa kể cả những người vừa thề thốt năm qua. Mộ của Mác hai lần bị phá hoại trong năm 2019. Nghĩa trang Highgate có lần được dùng làm ngoại cảnh cho một cuốn phim ma. Điều này vô tình nhưng trùng hợp lý thú với câu mở đầu cho Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản “Một bóng ma đang ám ảnh Châu Âu”.

Nhưng Việt Nam thì khác. Sự kiện Tô Lâm đến đặt vòng hoa tại mộ Mác cho thấy ý thức hệ CS vẫn có tác dụng lừa gạt được một số không nhỏ người Việt thuộc nhiều trình độ nhận thức khác nhau.

Bộ máy tuyên truyền của đảng trong một mức độ nào đó vẫn thành công. Trên sân khấu chính trị Việt Nam, các lãnh đạo đảng không chỉ là những tên hề làm cho khán giả cười nhưng đôi khi còn là những kép mùi như Tô Lâm hát bài “uống nước nhớ nguồn” làm khán giả cảm động. Tô Lâm “uống nước nhớ nguồn” là phải. Không có Mác làm gì có thịt bò bít tết để ăn, xe sang để chạy, nhà sang để ở, thẻ tín dụng để xài.

Có hai thành phần tin Tô Lâm thăm mộ Mác phát xuất từ ý nguyện chân thành.

Một thành phần ít học tin vào đảng và sống theo chủ nghĩa số phận nương nhờ thần linh đảng. Họ xem đảng là nắng, là mưa, là mùa xuân, là hy vọng. Bộ máy tuyên truyền của đảng buộc hơn 90 triệu người dân Việt, từ một em bé vừa tập nói cho đến cụ già đang mất dần trí nhớ, phải học thuộc, phải tin, phải lặp đi lặp lại những khẩu hiệu, những lời sùng bái, ca tụng các lãnh tụ CS cho đến khi chúng được ghi sâu vào ý thức để trở thành một phần trong đời sống đạo đức và tình cảm của con người. Với thành phần này, cơ chế chính trị CS là tất yếu chẳng khác gì thời tiết. Họ vui khi một cơn gió mát thổi qua những không buồn lắm khi trời nắng rát.

Một thành phần khác có học và đọc sách vở từ nhiều nguồn nhưng vẫn tin nơi đảng CS. Thành phần này có lý luận hơn, biết so sánh tốt xấu, biết chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội và thậm chí có khi cũng lên tiếng phản biện vài sai lệch của đảng nhưng trong đáy lòng họ vẫn nghĩ chỉ có đảng CS mới đủ tư cách chính trị để lãnh đạo đất nước. Họ được chích vắc-xin nghi ngờ mọi thứ ngoại trừ đảng vào nhận thức còn sớm hơn trẻ em được chích vắc-xin phòng cúm. Tại Việt Nam số người không phân biệt được sự khác nhau giữa một ông Tây và một ông Mỹ còn rất nhiều, và vì thế họ đồng ý với đảng cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ đánh đuổi Thực Dân Pháp và Đế Quốc Mỹ” dẫn tới “cách mạng xã hội chủ nghĩa” là một chọn lựa đúng đắn của dân tộc Việt Nam.

Theo họ, xã hội nào cũng có mặt tốt và mặt xấu. Đảng cũng thế. Đúng thì khen, sai thì sửa nhưng thay đổi thì không. Họ ngụy biện rằng trình độ hiểu biết của người Việt nói chung còn thấp để có thể xây dựng một chế độ dân chủ theo kiểu Mỹ, kiểu Pháp, kiểu Anh, và do đó, đa đảng chỉ dẫn đến hỗn loạn trong khi đất nước đang cần đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN.

Thế nào là thấp?

Dân chủ là một tiến trình chứ không phải mà một món đồ hộp chế biến sẵn chỉ khui ra là ăn.

Dân tộc Mông Cổ có thể nói chưa bao giờ thật sự sống dưới chế độ dân chủ trước ngày bầu cử đa đảng 29 tháng 7, 1990. Nhưng cũng từ ngày vui đó một nền cộng hòa được ra đời và phát triển tương đối ổn định cho đến nay. Quốc gia nằm sâu trong đất liền này đã vươn lên từ một dân tộc sống rải rác trên các thảo nguyên bát ngát để ngày nay có Tổng Sản Phẩm Nội Địa (GDP) tính theo đầu người 4,007 Mỹ kim. Người chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ trước năm 1990, theo cách nói của Mác, chỉ là một công cụ sản xuất giống như cừu, hôm nay ông ta là một con người tự do.

Điều này cho thấy dân chủ cần được hoàn thiện theo đà phát triển của một quốc gia nhưng đồng thời cũng luôn thích nghi với con người dù trong trình độ giáo dục nào, nhận thức nào và đang sống ở đâu trên mặt đất này.

Phải chăng đa đảng dẫn tới hỗn loạn?

Kinh nghiệm của các nước cựu CS cho thấy con đường dân chủ có nhiều ổ gà, nhiều gai góc nhưng là con đường thời đại.

Cộng hòa Ba Lan có tới 97 đảng chính trị trong đó 19 đảng có đại diện trong quốc hội nhưng không phải vì thế mà gây ra bất ổn. Ba Lan ngày nay là một quốc gia hùng mạnh và GDP tính trên đầu người tăng từ 1,731 Mỹ kim vào năm 1990 đến 15,600 Mỹ kim vào năm 2020.

Hai thành phần tin đảng CS nêu trên khác nhau về cách thể hiện và biện luận nhưng bản chất nô lệ vào đảng CS vẫn giống nhau vì cả hai đều là kết quả của chính sách nhồi sọ có hệ thống. Bài viết này không nhắm vào một thành phần khác tạm gọi là “thành phần phên giậu” biết đảng sai nhưng vẫn phò vì bổng lộc.

Khát vọng tự do của mọi con người trên trái đất đâu cũng giống nhau nhưng các điều kiện lịch sử và văn hóa đã làm cho cuộc đấu tranh chống chế độ CS tại một nơi chậm hơn vài nơi khác. Điều này đòi hỏi những người Việt quan tâm đến vận nước, ngoài đức độ và tài năng, còn phải có thêm tính kiên nhẫn để soi sáng con đường trước mặt. Đó là con đường dân chủ cho Việt Nam và không có con đường nào khác.

6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Van Pham  

GÓC SUY GẪM…

6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Hàng ngày, chúng ta đều bận rộn với học hành, công việc mà quên mất rằng cuộc sống vẫn đang trôi qua ngoài kia, với những quy luật khắc nghiệt của nó. Sáu thời điểm sau là lúc bạn hiểu thấu những quy luật này!

  1. Khi gặp hoạn nạn

Ngày thường, xung quanh ta là biết bao nhiêu anh em, bạn bè, ai cũng cười cười nói nói, thân thiết như chung một nhà. Đến khi ta gặp chuyện không may, có người nhiệt tình giúp đỡ, có người khoanh tay đứng nhìn, nhưng cũng không thiếu kẻ mượn gió bẻ măng.

Bởi vậy, chỉ trong hoạn nạn, ta mới phân biệt được lòng người ngay giả, biết được ai là người quân tử, ai là kẻ tiểu nhân. Có như vậy, ta mới hiểu thế nào là “chọn bạn mà chơi”.

  1. Khi lâm bệnh nặng

Chỉ khi nào ốm đau liệt giường, ta mới thấm thía hết tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, những thứ khác đều chỉ đáng xếp sau. Nếu không có sức khỏe thì giàu sang, phú quý cũng đều là vô nghĩa.

Chính vì thế, chỉ khi thoát cơn bạo bệnh, con người mới học được cách trân trọng sức khỏe, cũng như coi nhẹ của cải vật chất – những thứ mà ngày thường ta vẫn điên cuồng theo đuổi.

  1. Khi bị mất chức quyền

Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức trọng quyền cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyền lực đã không còn trong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh trước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.

Vì thế, dù có được công danh, bạn cũng đừng nên vội đắc ý trước những lời ngợi ca, tâng bốc. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta trở nên ích kỷ và thiển cận.

  1. Khi đã về hưu

Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia công tác nhiều năm, vì ham chức ham quyền mà cấp trên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấu đá lẫn nhau. Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi rồi cũng chẳng mang theo được.

Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp trên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao? Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì trước đây hà tất phải tranh đấu? Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm.

  1. Khi rơi vào cảnh ngục tù

Con người có thể ngộ ra điều gì khi bị giam giữ trong bốn bức tường nhà ngục? Đó chính là “ác giả ác báo”. Luật pháp không phải trò đùa, người làm việc xấu sẽ phải đền tội, chỉ là quả báo đến sớm hay muộn mà thôi.

Nếu một người không chịu tu thân dưỡng tính, chỉ chuyên hãm hại người khác để tư lợi cá nhân thì sẽ có ngày chịu sự trừng phạt. Giam giữ – hình phạt tưởng chừng như nhẹ nhàng nhất cũng chính là cách tước đoạt đi thứ quý giá nhất của con người, đó là sự tự do.

  1. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng

Trớ trêu thay, lâm chung là lúc con người trở nên thông suốt nhất. Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ? Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ra đi thanh thản.

Rắc những đau thương…

Lê Vi

Rắc những đau thương…

Phạm Minh Vũ

Mạng xã hội lại dậy sóng chuyện “rắc muối”, khi công an Đà Nẵng đến triệu tập một người, từng làm clip “rắc hành” vào tô bún bò.

Tưởng chuyện ăn bò dát vàng của Tô Lâm đã yên, nhưng nó lại được đào bới, và người ta lại chế nhạo tiếp tục hình ảnh há mồm của Tô Lâm lúc Lâm ăn bò ở Anh.

Sự khinh bỉ của người Dân dành cho Tô Lâm đã được người Dân nhắc đi nhắc lại khi mà người Dân trong nước tới cơm không có mà ăn, vậy mà quan chức tầm cỡ như Lâm lại ngang nhiên nuốt miếng bò dát vàng tận xứ Tây với nụ cười khả ố, nhìn nó đểu cáng vô cùng. Mỉa mai hơn, trước đó Lâm lại đi thăm và dâng hoa tới ông tổ cộng sản Các – Mác, người cả đời lên án chủ nghĩ bóc lột.

Nơi Lâm và đám đệ tử ăn uống xa xỉ ấy, thật đau xót là nơi nơi hơn 2 năm trước, 39 người Việt Nam đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh khi cố vượt biên vào nước Anh để kiếm miếng ăn.

Nơi người Việt Nam bỏ mạng không chỉ một hoặc hai mà tận 39 người một lúc, mà Tô Lâm cùng đám đàn em tới thể hiện sự xa xỉ thì sự trơ trẽn nào bằng?

Như đây, mới đây trên báo Lao Động ghi lại một bữa cơm của học sinh một xã ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Thức ăn của các em là ốc mò dưới ruộng, là lá mì, là sâu đất đào đâu đó trong rừng.

Nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các em, bên cạnh thức ăn chính là thứ săn bắt hại lượm được, và một bên là đám quan chức tụ tập ăn nhậu ở tận trời Tây với bữa ăn hàng chục ngàn đô la, ai chỉ cho tôi biết đâu mà bình đẳng? Và xa hơn đâu là lý luận Do Dân, vì Dân? Hay xa nữa đâu là vì ươm mầm cho tương lai Việt Nam? Hay tất cả những khẩu hiệu nổ vang trời ấy, tất cả là màu hồng để tô vẽ cho sự ngạo nghễ vĩ đại của bọn cầm quyền bất nhân, và vì chính bản thân của những kẻ cầm quyền?

Nhìn cảnh đầu bếp nổi tiếng người Thổ trên tay làm động tác rắc muối, và miếng bò dát vàng đút vào mồm Tô Lâm nó khác gì rắc vào vết thương đang rỉ máu trên đất Mẹ Việt Nam, nơi mà bắt ốc đào sâu để ăn hàng ngày?

Rắc muối hay rắc những nỗi đau?

 Phạm Minh Vũ

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Lương Văn Can

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Trước năm 1975 ở Miền Nam đề ra ba nguyên tắc căn bản trong mục đích, tôn chỉ giáo dục là: Nhân bản, Dân tộc và Khai Phóng. Chính những nguyên tắc nầy đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn, phát triển vững vàng nhưng không bảo thủ và từng bước theo kịp đà tiến triển của nhân loại. Vì vậy ở bậc Trung học, không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy dạy , trò học theo. Giáo viên tự chọn sách giáo khoa để dạy miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo. Trên thị trường cũng xuất hiện rất nhiều loại sách giáo khoa do các nhà giáo biên soạn.

Khi được được học trong một môi trường giáo dục như thế chúng ta cảm thấy mọi việc đều bình thường, cho đến sau năm 1975 đất nước thống nhất rồi mới có dịp so sánh với hai đường lối giáo dục Nam-Bắc mới thấy có nhiều điều rất khác biệt. Cái khác rỏ nét nhất là ở Miền Bắc đã đưa quan điểm về chính trị, chính kiến vào chương trình học nhằm mục đích tuyên truyền phục vụ cho chế độ, trong khi giáo dục ở Miền Nam thì chỉ tuân thủ ba tôn chỉ nêu trên mà không bị chi phối bởi áp lực chính trị nào cả.

Với hai đường lối giáo dục khác nhau nên các học sinh của hai miền cũng được trang bị kiến thức và nhận thức khác nhau, thế nên hành trang của họ mang vào đời cũng khác nhau.

Chỉ nói riêng về môn Văn, trong khi ở Miền Nam chúng tôi được học một chương trình Văn học rất thông thoáng và khách quan, không hề bị quan điểm về chính trị chi phối nên đều chọn lọc những tinh hoa văn học nước nhà qua các thời kỳ để học. Trong chương trình Văn Học Sử chỉ nói về văn học cận đại thôi, chương trình học cũng rất công tâm, bình đẳng, tất cả các tác giả có tác phẩm đóng góp công lao cho nền văn học nước nhà cho dù họ đang ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều được đưa vào chương trình không hề phân biệt. Vì thế chúng tôi đã được học tác phẩm và tìm hiểu về những tác giả đang phục vụ tại Miền Bắc như Xuân Diệu với Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió…, Huy Cận với Lửa Thiêng, Nguyễn Bính với Chân Quê, Lỡ Bước Sang Ngang, Thế Lữ với Nhớ rừng, Vàng Và Máu, Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu…Những nhà thơ có sự nghiệp muộn hơn như Quang Dũng, Hoàng Cầm…cũng đều có tác phẩm xuất bản trong Miền Nam để cho công chúng được tìm hiểu. Về văn xuôi cũng vậy, những tác giả đang ở Miền Bắc cũng được đưa vào chương trình giáo khoa như Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Nam Cao với Sống Mòn,Chí Phèo… Nguyễn Công Hoan với Tắt Lửa Lòng, Bước Đường Cùng… Vũ Trọng Phụng với Số Đỏ, Ngô Tất Tố với Tắt Đèn… Lược kê một vài tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu như thế để chứng minh nền giáo dục mang tính nhân bản, dân tộc và khai phóng được thể hiện rất rỏ nét trong chương trình học ở Miền Nam. Trong khi đó môn Ngữ Văn học sinh miền Bắc rất chú trọng văn học thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, còn các nền văn học khác thì xem nhẹ. Các tác giả sáng tác với mục đích phục vụ, tuyên truyền cho chế độ thì được vinh danh và đưa vào chương trình học mặc dù xét về văn chương những tác phẩm đó không có giá trị mấy. Trong khi những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng thoáng đạt sáng tác trên tinh thần nghệ thuật vị nghệ thuật mà không có tư tưởng tuyên truyền cho chế độ hoặc có quan niệm, chính kiến khác thì sẽ bị chối bỏ và tác giả sẽ bị liên lụy như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chẳng hạn. Cái thiếu sót lớn nhất trong chương trình Ngữ Văn ở miền Bắc (và cả nước sau năm 1975) là chương trình Văn Học Sử cận đại đầu thế kỷ XX chỉ đưa vào sách giáo khoa những tác giả viết về hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trong Phụng, Nguyên Hồng…mà đã cố tình bỏ qua những nhà văn, bút nhóm không đồng chính kiến khác.

Đầu thế kỷ XX nền văn học quốc ngữ nước ta rất non trẻ, trong giai đoạn chuyển tiếp từ nền Nho học qua Việt học đã có những nhà văn có công lớn trong sự phát triển văn học quốc ngữ đó là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã cho xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên dó là tờ Gia Định báo năm 1865 tại Sài Gòn. Tiếp theo là các bút nhóm như Nam Phong với Nam Phong tạp chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhóm Đông Dương tạp chí (1913-1917) do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Đây là những người tiên phong trong việc truyền bá văn xuôi quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai của nền văn học quốc ngữ nước nhà.

Văn Học Sử Miền Bắc hồi đó và cả nước bây giờ cũng không đề cập đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn gồm các nhà văn Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng-Trần Khánh Giư, Hoàng Đạo-Nguyễn Tường Long, Thạch Lam-Nguyễn Tường Lân, Thế Lữ-Nguyễn Thứ Lễ… trong khi đây là một bút nhóm có công rất lớn trong việc phát triển nền văn học cận đại. Tự Lực văn Đoàn đã đề xướng dòng văn học lãng mạn và những tiểu thuyết luận đề như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn…của Nhất Linh, Nữa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Thoát Ly, Thừa Tự… Của Khái Hưng, Gió Đầu Mùa, Nắng Trong Vườn Của Thạch Lam, Con Đường Sáng của Hoàng Đạo…Với lối hành văn trong sáng, giãn dị, văn phong hiện đại và phóng khoáng. Cơ quan ngôn luận của nhóm là báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1936…) TLVĐ còn có nhà xuất bản Đời Nay để in ấn các tác phẩm của họ. Những tiểu thuyết trong nhóm TLVĐ đã đưa nền văn xuôi nước ta phát triển một bước tiến dài, lối viết của TLVĐ đã ảnh hưởng sâu rộng đến những nhà văn thuộc các thế hệ sau. Tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục và canh tân đất nước. Dưới nhãn quan của những nhà biên soạn Văn Học Sử Miền Bắc thì Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh được cho là làm việc cho Pháp. Những nhà văn, nhà thơ trong TLVĐ tuy có công lớn trong giai đoạn phát triển nền văn học nước nhà đầu thế kỷ XX nhưng bất đồng chính kiến với chế độ. Nhóm TLVĐ đa số họ trước đây đều gia nhập Việt Minh nhưng sau này vì không đồng quan điểm, chính kiến nên đã rời bỏ Việt Minh và bị xem là phản động. nhà văn Nguyễn Tường Tam linh hồn của TLVĐ và những nhà văn chủ chốt trong nhóm đa phần là thành viên Việt Nam Quốc Dân đảng bị VM xem là thù địch, Khái Hưng bị VM thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà. Tất cả những công lao của những người là lá cờ đầu cho một giai đoạn văn học quan trọng như thế nhưng lại không được đưa vào chương trình Văn Học Sử khiến cho nhiều thế hệ học sinh Miền Bắc và cả nước bây giờ không biết một tý gì khi nói về những nhà văn có công lớn trong giai đoạn văn học quan trọng này. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ học sinh tại miền Bắc trước năm 1975 và cả nước trong nửa thế kỷ qua.

Có câu chuyện cười ra nước mắt chứng minh sự “mịt mù” về TLVĐ của những người được đào tạo trong một nền giáo dục đầy thiên kiến như vậy là ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam.

***

Câu chuyện cười ra nước mắt này phản ảnh đúng thực chất là học sinh Miền Bắc trước đây và cả nước bây giờ là không hề được nghe đến Tự Lực Văn Đoàn chứ đừng nói chi đến công lao, văn nghiệp của họ. Có thể chúng ta không trách cô giáo nọ vì mấy chục năm học hành cô có nghe gì đến TLVĐ đâu (!) Có buồn chăng là khả năng suy luận của cô ấy cũng như anh bạn kia quá kém, dù sao trong cái tên nhóm cũng có hai chữ Văn Đoàn mà sao cô giáo không liên tưởng tới một hội đoàn văn chương mà lại nghĩ đến gánh hát cải lương?!. Còn anh bạn được giới thiệu là người đọc sách nhiều, kiến thức rộng kia không biết anh ta căn cứ vào đâu mà trả lời chắc như đinh đóng cột vậy? Cái chúng ta cảm thấy buồn vì một đường lối giáo dục đặt nặng tuyên truyền chính trị và đầy thành kiến, thiếu khách quan, thiếu công tâm với lịch sử đã gây ra nhiều hệ lụy xấu cho nhiều thế hệ học sinh nước ta.

Dạy Văn Học Sử cho học sinh mà chủ trương đưa quan điểm tuyên truyền và ý thức hệ chính trị vào trong đó, rồi loại những người có công lớn với nền văn học nước nhà nhưng bất đồng chính kiến là một sai lầm lớn. Chính cái lối giáo dục đó đã đào tạo ra hàng triệu học sinh mà ngày nay họ là những công dân, có những người đang giữ vai trò trọng trách đối với xã hội có những kiến thức lệch lạc về lịch sử, có những hiểu biết hết sức phiến diện về một giai đoạn văn học quan trọng cũng như thiếu hiểu biết về những người có công lớn trong việc phát triển nền văn học nước nhà đó thì thật là đáng tiếc.

Gần đây đã có nhưng công trình nghiên cứu, những hội thảo về TLVĐ, đã có đánh giá công nhận công lao của nhóm TLVĐ, dĩ nhiên vấn đề được nhìn nhận dưới nhãn quan của những nhà nghiên cứu CS. Việc nào ra việc đó, hãy đối xử công bằng, khách quan với những người đã đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng cho nền văn học nước nhà có được như ngày hôm nay. Đó cũng là tôn trọng lịch sử và văn hóa dân tộc.

Nguyễn Ngọc Luật

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

May be an image of 7 people and text