CHO PHÉP LINH HỒN QUỲ GỐI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Hãy để cô ấy yên!”.
“Bất kể trạng thái tâm thần bạn làm sao, hãy luôn cho phép linh hồn quỳ gối! Bởi lẽ, thờ phượng và yêu mến luôn cần cho sự thánh thiện và hạnh phúc của bạn!” – Anon.
Kính thưa Anh Chị em,
Maria trong Tin Mừng hôm nay là kiểu mẫu của một người luôn ‘cho phép linh hồn quỳ gối!’. Cô cho thấy Chúa Giêsu đáng giá hơn bình dầu trị giá 300 ngày công. Và còn hơn thế! Ngài đáng để mỗi người đánh đổi mọi sự, ngay cả phẩm giá. Bởi lẽ, Ngài là nguồn thánh đức, sự sống và niềm vui; Đấng cần cho sự thánh thiện và hạnh phúc của bạn!
Vậy mà Giêsu đó đã để Maria, một phụ nữ, quỳ gối ‘tỏ tình’ giữa phòng tiệc – thậm chí – để cô ấy lấy một cân dầu thơm hảo hạng đổ lên chân mình và lau nó bằng tóc. Với những gì kín đáo và quý báu nhất của một phụ nữ, cô ‘tỏ tình’ với người cô yêu. Điều lý thú là, Giuđa bất bình; nhưng lý thú hơn, Chúa Giêsu trách Giuđa và nói, “Hãy để cô ấy yên!”.
Với Chúa Giêsu, đây là một hành động yêu thương, cao quý và khiêm nhường! Dầu này rất đắt. Đúng! Nhưng nếu ai khác nói điều này, người ấy có vẻ tự tôn; đàng này, chính Chúa Giêsu; với Ngài, hoàn toàn vô vị lợi! Vậy, hành vi này nói lên điều gì? Nó nói lên cái nhu cầu thiết thực nhất mà Maria cần, cũng là điều bạn và tôi đang rất cần! Như Maria, chúng ta cần tôn thờ Ngài, tôn vinh Ngài, để Ngài trở nên trung tâm đời mình. Không phải vì Ngài cần điều đó, nhưng bởi ‘chính chúng ta’ cần tôn kính Ngài ‘theo cách đó!’. Tôn kính, yêu mến Chúa Giêsu là điều bạn và tôi cần cho sự thánh thiện và hạnh phúc! Ngài biết điều này; vì vậy, Ngài thầm khen, tán thành, nếu không nói là ‘tôn vinh’ Maria. Và tất nhiên, Ngài không ngần ngại bênh vực, “Hãy để cô ấy yên!”.
Kể lại câu chuyện này, Gioan mời chúng ta làm như Maria, sẵn sàng “đổ” hết cho Chúa Giêsu! Không gì là quá đắt đối với Ngài. Không gì đáng giá hơn việc thờ phượng! Thờ phượng và yêu mến sẽ biến bạn thành con người mà bạn phải trở thành, để tôn vinh Thiên Chúa và yêu mến Ngài “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực”. Thật ý nghĩa với xác tín của Thánh Vịnh đáp ca, “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”. Ngài là Ánh Sáng ban ánh sáng; Sự Sống ban nguồn sống, cũng là “Đấng sáng tạo và căng vòm trời; Đấng ban hơi thở cho dân trên mặt đất” – bài đọc một.
Anh Chị em,
“Hãy để cô ấy yên!”. Chúa Giêsu chấp nhận sự “quỳ gối” bên ngoài lẫn bên trong trái tim của Maria; vì lẽ, đang khi các môn đệ dường như không mảy may thấu cảm, không một lời ủi an, không một chút băn khoăn trong những ngày cuối đời của Thầy, thì Maria lại thực hiện một hành vi yêu thương sâu sắc nhất. Bằng chứng là Ngài đã đi xa hơn và bóc trần sự thật về mình, “Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy!”. Trong những ngày hôm nay, Giáo Hội mời chúng ta học nơi Maria, luôn ‘cho phép linh hồn quỳ gối’, yêu mến Đấng Cứu Độ. Ngài đáng cho chúng ta “đập vỡ” không chỉ bình dầu, hy sinh mái tóc nhưng cả con người hồn xác trí tri, “đập vỡ” ý định tăm tối, vạy vò, tội lỗi… để chỉ yêu mến và phụng thờ duy một mình Ngài.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, những ngày Tuần Thánh còn lại, dạy con biết quỳ gối nhiều hơn. Cho con hiểu được ‘con đầy tội, Chúa đầy tình!’”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
************************************************************
Thứ Hai Tuần Thánh
Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,1-11
1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su ; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. 3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. 4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói : 5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?” 6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. 7 Đức Giê-su nói : “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. 8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có ; còn Thầy, anh em không có mãi đâu.” 9 Một đám đông người
Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa, 11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.
Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! (Lc 19:36-38) – Cha Vương
Giáo Hội mừng Lễ Lá và bắt đầu bước vào Tuần Thánh – Cha Vương
CHÚT TÂM SỰ CÙNG GIUĐA -Lm. Hạ Trân
Lm. Hạ Trân
P/s: Gợi lại chút suy tư nhân đọc đề thi Văn – Kỳ thi Tuyển sinh Đại Chủng viện Thánh Phanxicô Xaviê khóa XIX: “Hãy viết về ông Giuđa Iscariot trong Tân Ước?” Ai trong chúng ta cảm nghiệm được rằng: mình đã từng có những khoảnh khắc giống Giuđa?
——————————-
Giuđa, anh thân mến!
Dịp Tuần Thánh vừa qua, đang khi chìm vào suy tư, tôi bồi hồi chợt nhớ về đêm tối xa xăm. Sương mù phủ kín suối Kit rôn uốn khúc lượn lờ. Vườn cây dầu đột nhiên ồn ào bởi tiếng lao xao. Một cuộc bố ráp qui mô. Kỳ cục thay, tôi thấy anh lạnh lùng, hăm hở dẫn đầu ba quân vây bắt thầy mình…
Thế rồi, màn đêm âm u đã đẩy cao tấn bi kịch.
Mỉa mai thay, sự phản trắc che đậy bởi nụ hôn nồng nàn của tình thầy trò vào sinh ra tử: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48). Cái bi đát là tình nghĩa hoen ố bởi cử chỉ âu yếm, thân mật nhất. Một nụ hôn đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.
Và thước phim cứu độ tiếp tục được quay với những hình ảnh chóng vánh: Thầy Giêsu bị điệu ra trước tòa Công nghị, bị các thượng tế và hội đồng kết án. Tổng trấn Philatô của Rôma chuẩn y án tử hình thập ác. Thầy Giêsu đã nắm chắc cái chết. Đằng sau bản án oan khiên ấy có lỗi lầm không nhỏ của anh.
Giuđa ơi!
Anh đã lựa chọn lối đi dẫn về ngục tù hun hút. Anh đã đến ở lưng chừng và rồi cũng ra đi lưng chừng: Lưng chừng giữa niềm tin và thất vọng, giữa niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau thương…
Ai đó bảo rằng số phận anh đã được tiền định để đi đến chỗ tiêu vong. Điều này là một nan đề khó phân biệt đúng sai nên tôi không dám luận bàn.
Tuy nhiên, tôi cảm nhận mọi thứ với anh đã từng rất đẹp bên Thầy Giêsu, đúng không nhỉ? Anh đã rong ruổi theo Thầy ngay từ đầu, chia sẻ buồn vui, đói no, thành công hay thất bại. Không yêu sao có thể đi theo lâu đến vậy? Không mến sao có thể hy sinh như thế?
Nhưng điều gì đã diễn ra nơi trái tim khiến anh thay đổi khủng khiếp đến vậy? Tôi nghĩ rằng, việc ôn lại một vài biến cố quan trọng trong cuộc đời anh nhắc nhở tôi những bài học ý nghĩa về cuộc sống và tình yêu đời dâng hiến.
Thứ nhất, phải chăng anh là nạn nhân của nỗi cô độc ngay trong chính hành trình theo Chúa? Anh và Thầy Giêsu cùng các anh em đồng hữu có duyên gặp gỡ nhưng chẳng đủ nợ để chung đường.
Phải chăng con người anh đã nhiều lúc phải đối diện với những khoảng trống vô hồn và những bất an vô định, những tháng ngày mải miết đi trong khu vườn miên viễn rồi chết nghẹt vì mãi không tìm thấy lối ra? Trong thế giới nhỏ bé của anh bộn bề suy nghĩ khác với mọi người. Anh chìm trong mớ cảm xúc hỗn độn, quá nhiều lựa chọn khiến anh mắc kẹt giữa tuổi thanh xuân của chính mình.
Anh cảm thấy cô độc giữa đám đông huynh đệ chi binh. Dù quây quần bên Thầy, bên anh em mà anh vẫn thấy riêng mình “một trời tâm sự.” Đang cùng bạn bè vui đùa sau một ngày dài di chuyển mệt nhọc mà anh vẫn nhủ thầm rằng chẳng ai hiểu lòng ta đang canh cánh một nỗi lòng phục hưng xứ sở, đánh đuổi ngoại bang. Cô độc vì anh tự nhận mình là người Giuđêa duy nhất lọt thỏm giữa đám người Galilê xa lạ…
Thật tai hại, anh đã “lấp đầy” cô đơn bằng sự hiện diện của thế lực đen tối. Nói đúng hơn, Satan đã nhập vào anh (Ga 13, 27). Anh đã không thể đối phó với ông bạn kinh khủng ấy, không kịp chê chán gã ác thần như đã quay lưng với Thầy Giêsu và các bạn hữu.
Sự dữ nhanh chân chiếm giữ tâm hồn và làm anh khốn khổ. Sự việc này nói lên một điều rằng anh đã đánh mất bài học cảnh giác, để cho kẻ thù từng bước len lỏi vào hồn mình.
Kể từ đây, con người anh thêm hoang hoải, chẳng còn gì khác ngoài đôi chân mệt mỏi, đầu óc đầy dẫy toan tính và trái tim thiếu hẳn tình thương.
Thứ hai, tôi không biết anh “trở cờ” với Thầy lúc nào nhưng tôi thấy tâm hồn anh từ lâu đã bị hoen mờ bởi đồng tiền và cả sự tham lam, ích kỷ, biển lận tầm thường, buông chiều theo sự tự do.
Thần tài là một thứ ngẫu tượng hết sức quyến rũ. Thần tài chống lại Thiên Chúa vì nó tạo ra nơi con người một tinh thần khác, nó thay đổi mục đích của nhân đức đối thần. Kinh Thánh đã từng nói: “Lòng yêu mến tiền bạc là căn nguyên của mọi tội lỗi” (1Tm 6, 10).
Anh cũng vậy, anh đã để đồng tiền khuynh loát bản thân. Tính gian tham biểu lộ đặc biệt ở nhà ông Simon, khi người phụ nữ tội lỗi không được mời nhưng lại xông vào nhà rồi đổ dầu thơm trên chân Thầy Giêsu, lấy tóc mà lau, làm cho cả nhà sực nức hương thơm. Trong cái vỏ bọc và bức bình phong hoàn hảo, anh mặc sức tô vẽ mọi thứ theo ý riêng của mình: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo” (Ga 12, 5).
Tin Mừng còn một lần nữa khắc họa sự dính bén vật chất của anh. Anh phải kiếm chác được một cái gì đó cho thỏa tính tham của mình: “Bây giờ, một trong nhóm Mười Hai, gọi là Giuđa Iscariôt, đến gặp các thủ lãnh, tư tế và mà nói: Tôi nộp ông ấy cho quý vị, quý vị muốn cho tôi bao nhiêu? Họ cho Giuđa ba chục đồng bạc” (Mt 26, 14-15).
Giá phản bội Chúa chẳng cân xứng với giá trị thật chút nào. Anh đâu cần phải bán Chúa mới có được nhúm tiền mà anh có quyền tiêu pha bất cứ lúc nào trong quỹ chung?
Giá như anh đừng quá chăm chút cho riêng mình. Giá như anh cũng hào phóng như người phụ nữ tội lỗi đã làm với Thầy Giêsu. Giá như anh đừng để mình rơi vào khoảng tối điêu linh, huyễn hoặc của lòng đam mê tiền của. Thật buồn là sau tất cả vẫn phải nói: “Giá như…”
Thứ ba, Tin Mừng mô tả anh đã đánh mất niềm hy vọng vào tình thương xót hải hà của Thiên Chúa. Tội ác vừa phạm xong, anh đã cảm thấy chán chường. Tôi đã mừng hụt khi đọc đến đoạn mô tả anh hối hận.
Thế nhưng, chán chường tội lỗi không đủ, đó là bước tiến trên đường đạo đức nhưng chưa hẳn là đạo đức, phải ăn năn thống hối nữa. Có thể anh không hối hận vì Chúa mà là vì mình. Như vậy là giận ghét mình, mà sự giận ghét mình dẫn đến tự vẫn, vì ghét mình tức là giết mình; chỉ khi sự ghét mình kết hợp với lòng mến Chúa mới đáng được cứu rỗi.
Các bản văn Tin Mừng đề cập việc anh thức tỉnh. Thay vì xử sự như Phêrô, cách làm của anh thật tệ hại: Anh đã chọn cho mình sợi dây thừng và tự xử. Tôi không dám mường tượng hình ảnh hãi hùng lúc đó. Chỉ biết là anh đã để lỡ cơ hội.
Anh nên hiểu rằng: trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa, cho dù chậm chạp hay té ngã nhiều đến đâu nữa nhưng nếu biết chỗi dậy thì Người vẫn luôn rộng lòng thứ tha.
Hỡi Giuđa, chàng trai trẻ xứ sở phương Nam!
Đêm nay, tôi viết thư cho anh. Một đêm mưa nhiều nên lối vắng âm u, mây giăng kín trên vòm trời. Không biết giữa khoảng trời này, đêm có còn nhớ đến kẻ tội đồ năm xưa?
Riêng tôi, nhớ về anh, lòng lại thêm phiền não, ủ dột, âu sầu. Những biến cố của cuộc đời không lường kịp, mà phận người thì quá đỗi mỏng manh đã cuốn anh vào thiên thu.
Như sợi chỉ thanh mảnh cố níu kéo những ký ức đang chìm sâu vào nấm mồ tuổi trẻ, thư tôi viết cho anh không mong chờ dòng hồi âm ngắn ngủi.
Dẫu sao, tôi – một đồng hữu đang bước theo Thầy Giêsu – luôn cầu mong số phận sẽ đổi khác với anh, chí ít là trong tích tắc cực ngắn nào đó trên cành cây lơ lửng, Thiên Chúa dủ tình với anh như đã dủ tình với người trộm lành năm xưa. Lúc ấy, tôi có thể nhìn thấy anh rạng rỡ hơn, đúng không?
Mến chào anh trong Thầy Giêsu!
Lm. Hạ Trân
(Bài viết trích trong sách “Lời hứa ghép tim” – NXB. Tôn Giáo, 2021)
CON TIM TINH KHIẾT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
KIỆT TÁC -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó!”.
Trong Xuất Hành, từ chương 25-30, Chúa chỉ thị cho Môsê cách thức thiết kế Nhà Tạm, Hòm Bia, bàn thờ và phẩm phục. Môsê phải tìm các nghệ nhân. Họ lấy vàng bạc, vải vóc và đá quý để thiết kế chúng lộng lẫy nhất có thể. Mục đích của Chúa gợi lên mục đích chung cho mọi công trình lớn nhỏ của Ngài: “Tôn vinh vẻ huy hoàng và biểu lộ vinh quang Thiên Chúa”. Chúng phải là những kiệt tác phô diễn sự thánh thiện của Ngài!.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay nói đến những ‘kiệt tác’ phô diễn sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chúng không chỉ là những gì được đem vào đền thờ, nhưng còn là những con người và những chứng từ không lời của họ.
Chúa Giêsu tiết lộ một điều hết sức quan yếu: đức tin không chỉ đặt nền tảng trên những gì Chúa hứa, nhưng còn trên những việc Ngài làm! Việc vĩ đại nhất Chúa Cha đã làm là phục sinh Chúa Con mà Giáo Hội đang hướng về; và Chúa Con vẫn tiếp tục thực hiện các công trình của Cha qua các chứng nhân của Ngài và qua các Bí tích. Đó cũng là những ‘kiệt tác’ phô diễn sự thánh thiện của Chúa.
Chúng ta không đánh giá thấp tầm quan trọng và sức mạnh của những lời chứng cá nhân trong một thế giới ngập tràn thông tin thuộc mọi kiểu; tuy nhiên, trong bối cảnh hỗn tạp này, chỉ những ‘kiệt tác’ bày tỏ sự thánh thiện của Thiên Chúa mới có thể có tiếng nói mạnh nhất, vang vọng nhất! “Người đương đại cần lời chứng hơn lý lẽ!” – Phaolô VI. Các việc bạn làm có phù hợp với lời bạn nói? Chúng có nói lên điều bạn tuyên xưng? Hay “Tất cả chỉ là từ ngữ?”.
Gioan kết thúc Tin Mừng hôm nay: “Ở đó, nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu”. Bất chấp bao chống đối, lời nói và việc làm của Ngài vẫn có khả năng thâm nhập trái tim con người. Sự chống đối khủng khiếp – thậm chí, thâm độc – không thể cản trở người khác tin Ngài. ‘Mầu nhiệm’ này lặp đi lặp lại trong đời sống Hội Thánh! Ở đâu có sự chống đối lớn nhất đối với Tin Mừng, ở đó luôn có những ‘kiệt tác hoán cải’ lớn nhất!
Giêrêmia đã trải nghiệm một niềm vui tương tự. Dẫu bao bạo hành, bách hại của dân, ông vẫn chứng tỏ là một ngôn sứ được Chúa sai đến để hoán cải họ; lời nói và việc làm của ông đầy thuyết phục, “Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Lúc ngặt nghèo, tôi kêu cầu Chúa; Người đã nghe tiếng tôi!”.
Anh Chị em,
“Hãy tin các việc đó!”. Hãy chiêm ngắm một Giêsu co ro trong hang đá Bêlem; lặng nhìn một Giêsu giãy giụa trên đồi Sọ để thấy “việc” Thiên Chúa làm! Hãy trầm mình sâu lắng bên Thánh Thể để hiểu Thiên Chúa là ai, Giêsu là ai, may ra con tim của bạn và tôi có thể dịch chuyển. Nếu các việc làm của Chúa Con tiết lộ danh tính Ngài, thì “thập giá” là ‘kiệt tác’ biểu lộ danh tính Ngài trọn vẹn nhất, Ngài là Con Thiên Chúa! Nhờ ‘kiệt tác tử nạn và phục sinh’ – kiệt tác của mọi kiệt tác – bạn và tôi được tái sinh, không chỉ để trở nên một tạo vật mới, nhưng còn là những ‘kiệt tác’ cho vinh quang Chúa!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con không bắt đầu từ đâu khác, cho bằng khởi đi từ việc hoán cải chính mình và con cũng trở nên một ‘kiệt tác’ của Chúa. Tại sao không?”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
Người đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo. (Gr 20:12-13)- Cha Vương
ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Phụng vụ Tuần Thánh mở đầu bằng nghi thức làm phép lá và rước lá, sau đó là thánh lễ mà đỉnh cao là trình thuật về cuộc thương khó của Đức Giê-su. Các Bài đọc Kinh Thánh, nhất là Bài Thương khó, nêu bật hai khía cạnh của cuộc thương khó Đức Giê-su: Đau khổ và Vinh quang. Hai khía cạnh này hòa quyện với nhau, tạo nên nét độc đáo và làm cho cuộc tử nạn của Chúa Giê-su trên đồi Can-vê năm xưa không giống như bất kỳ vụ thi hành án nào trong lịch sử.
Bài đọc I trích sách Ngôn sứ I-sa-i-a nói với chúng ta về một nhân vật bị đánh bầm dập, thân mình mang đầy thương tích. Tuy vậy, nhân vật được trình bày lại chấp nhận đau khổ như một tự nguyện. Nhân vật ấy là Người Tôi tớ Đức Gia-vê. Vị Tôi tớ luôn trong trạng thái tỉnh thức để lắng nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa, và niềm tin cậy phó thác đã đem lại cho Người sức mạnh trong gian nan. Dưới lăng kính Ki-tô giáo, đây chính là hình ảnh của Đức Giê-su chịu khổ hình. Cuộc thương khó vừa là một khổ hình do người Do Thái gây nên, đồng thời cũng là một hành vi tự nguyện của Chúa Giê-su, vì vâng lời Chúa Cha. Mặc dù sợ hãi đến mức toát mồ hôi máu, Đức Giê-su, người Tôi tớ Gia-vê đã tự nguyện bước vào cuộc thương khó, với niềm xác tín “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi.” Cần lưu ý là sách ngôn sứ I-sai-a có bốn bài ca về Người Tôi tớ Đức Gia-vê. Mỗi bài diễn tả một khía cạnh, và tất cả bốn bài ca đó đã trở thành hiện thực nơi Đức Giê-su. Bài cuối cùng ở chương 52 được đọc trong Phụng vụ suy tôn Thánh giá chiều thứ Sáu tuần Thánh, với nội dung diễn tả cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giê-su qua biến cố thập giá.
Hai khía cạnh đau khổ và vinh quang cũng được thánh Phao-lô quảng diễn trong Bài đọc II. Đức Giê-su là Thiên Chúa tối cao. Người đã hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, chỉ ngoại trừ tội lỗi. Người đã trút bỏ vinh quang để mang thân phận nô lệ. Sự hạ mình của Ngôi Lời vừa thể hiện qua mầu nhiệm nhập thể, vừa thể hiện qua biến cố khổ nạn thập giá. Nói cách khác, sự khiêm tốn vâng lời liên lỉ của Đức Giê-su, được trải dài từ ngày Truyền tin đến đỉnh đồi Can-vê. Tuy vậy, thánh Phao-lô khẳng định, cái chết và nấm mộ không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa. Sau thập giá là vinh quang. Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Đức Giê-su, và ban cho Người danh hiệu “trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu.” Điều thánh Phao-lô viết trong thư gửi giáo dân Phi-líp-phê hôm nay đã được thực hiện: đó là hàng tỷ Ki-tô hữu trên hoàn cầu tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Cứu độ.
Trình thuật thương khó theo thánh Lu-ca như một vở kịch gồm nhiều phân cảnh, với nhiều cung bậc cảm xúc. Vở kịch này khởi đầu từ phòng tiệc ly và kết thúc trên đồi Can-vê. Chúng ta thấy mỗi khi Đức Giê-su nói về những gì đang xảy ra trong hiện tại, thì Người cũng liên hệ tới tương lai. Nếu bữa tiệc ly là lần cuối cùng Người uống chén rượu nho vật chất, thì Người cũng hứa sẽ được cùng với các môn đệ dùng rượu nho mới khi triều đại của Thiên Chúa đến. Khi bị bắt trong vườn Cây Dầu, dù bị quân lính bao quanh sát khí đằng đằng, Chúa Giê-su vẫn khảng khái nói: Đây là giờ của quyền lực tối tăm. Nhân vật Phi-la-tô được trình bày nổi bật trong cuộc thương khó của Đức Giê-su. Ông này vừa kính phục Chúa Giê-su, nhưng lại sợ người Do Thái. Thực sự ông muốn cứu Chúa Giê-su, và ông đã tìm một lối mở, đó là đưa ra trường hợp Ba-ra-ba như một lá bài để thương thuyết. Ấy vậy mà người Do Thái đồng thanh xin tha cho một kẻ giết người. Trong cuộc thương khó, giữa tiếng ồn ào của đám đông bị kích động, Con Thiên Chúa thì bị án tử, và kẻ sát nhân lại được tha! Chi tiết này đã làm cho cuộc thương khó của Chúa Giê-su thêm phần bi kịch.
Trình thuật thương khó kết thúc ở nấm mồ. Các môn đệ và những người phụ nữ trước đây đã theo Chúa Giê-su đang ở trong một tâm trạng hoang mang tột độ. Họ không biết những gì sẽ tiếp tục xảy đến. Với lòng yêu mến và kính trọng Thầy mình, các môn đệ đã hạ xác Chúa và vội vàng an táng trong mồ. Những người phụ nữ thì chuẩn bị thuốc thơm để sau ngày nghỉ lễ sẽ xức xác Chúa. Bài Thương khó kết thúc như những dấu chấm lửng, dường như muốn cho các độc giả hãy đón đọc ở phần sau, với nhiều hấp dẫn mới. Sau khi cử hành Phụng vụ Lễ Lá, Phụng vụ Tuần Thánh giúp các tín hữu tiếp tục suy tư về những gì mình đã được chứng kiến trong trình thuật hôm nay. Chúng ta sẽ dần dần từng bước cử hành những biến cố quan trọng trong những ngày cuối đời dương thế của Chúa Giê-su. Nói cách khác, trình thuật Thương khó như một dẫn nhập để đưa các tín hữu tới những nghi thức long trọng của Tuần Thánh.
Nếu đau khổ và vinh quang cùng đan xen trong biến cố khổ nạn của Chúa Giê-su, thì hôm nay, trong cuộc sống của chúng ta, đau khổ và vinh quang cũng vẫn đang cùng nhau hòa quyện. Người tín hữu nhìn thấy qua mầu nhiệm thập giá vinh quang của Thiên Chúa. Vinh quang ấy chiếu tỏa cho mọi thế hệ, để những ai đến với thập giá Chúa Ki-tô, sẽ tìm được bình an và hướng đi cho đời mình. Trong cuộc sống đầy gian nan thử thách, những ai tin cậy phó thác nơi Chúa, sẽ cảm thấy gánh cuộc đời nhẹ nhàng hơn. Chúa Giê-su đã mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Chúng ta hãy tham dự nghi thức Tuần Thánh với niềm phó thác cậy trông để có thêm nghị lực bước đi trên con đường thập giá cuộc đời.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
CHÚA GIÊ SU DANG TIẾP TỤC CHỊU KHỔ NẠN -Linh mục I-nha-xi-ô Trần Ngà
Linh mục I-nha-xi-ô Trần Ngà
(Suy niệm Chúa nhật lễ Lá)
Sứ điệp: Là chi thể của Chúa Giê-su, chúng ta cùng vác thập giá với Ngài.
Vào khoảng năm 1978, đang lúc kinh tế còn khó khăn, bác Năm từ thành phố về thăm người em ruột ở miền quê. Khi trở về nhà, bác thu gom nhiều thứ “cây nhà lá vườn” của gia đình chú em, mang về cho vợ và các con ở nhà.
Khi xe đến bến, bác và cô con gái lớn phải cuốc bộ về nhà cho đỡ tốn tiền xe ôm. Bác lụm cụm bước đi, một tay xách bị xoài, tay kia xách bị khoai; còn vai thì mang bị gạo, lưng còng xuống vì tuổi già sức yếu, người nhễ nhại mồ hôi dưới ánh nắng mặt trời gay gắt… Trong khi đó, cô con gái bác là giáo viên cấp ba bước thong thả bên cha già, vai đeo ví đầm xinh xắn, đi tênh tênh như cô chủ sang trọng bên cạnh người tôi tớ già nua… mà không chút đoái hoài!
Cảnh tượng nầy khác gì việc Chúa Giê-su hôm nay vẫn đang vác thập giá nặng nề để đền tội cho nhân loại, trong khi đông đảo những người con Chúa vẫn phớt lờ khổ hình Chúa chịu để đắm mình trong lạc thú, xa hoa…
Chúng ta đừng quên rằng: Các tín hữu là chi thể của Chúa Giê-su, là thân mình mầu nhiệm của Ngài, Ngài tự đồng hóa mình với họ.
Vì thế, hôm xưa, khi Sao lô rong ruổi trên đường đi Đa-mát để lùng bắt các ki-tô hữu đầu tiên, bỗng nhiên ông bị ngã ngựa và nghe tiếng Chúa Giê-su phục sinh vang vọng bên tai: “ Sao-lê! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?… Sao-lô hỏi: “Ông là ai?” Có tiếng trả lời: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.”
Thế mới biết: Hôm nay, Chúa Giê-su còn đang bị bắt bớ, đang chịu đau khổ nơi các tín hữu là chi thể của Ngài, để mang lại ơn tha tội cho muôn dân.
Và Ngài thiết tha mời gọi chúng ta cùng vác thập giá, tức là cùng chịu đau khổ với Ngài, để góp công với Ngài trong công trình cứu độ.
“Ngài nói: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, hãy vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Ngài còn nhấn mạnh: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27).
Vác thập giá cách nào?
Trước hết chúng ta hãy nhớ rằng hôm nay, Chúa Giê-su đang sống trong ta như lời thánh Phao-lô dạy: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa Giê-su đang sống trong tôi” (Galat 2, 20).
Vì có Chúa Giê-su đang sống trong ta và ta là chi thể của Ngài, nên những việc ta làm không còn là việc riêng của ta, những đau khổ ta chịu… không còn là nỗi khổ của riêng ta, mà là “chính Chúa Giê-su đang làm việc, đang chịu khổ trong thân xác ta.
Vậy thì khi tôi làm việc, “không còn là tôi, mà là Chúa Giê-su” đang làm việc trong tôi… Khi tôi vất vả cực nhọc, “không còn là tôi, mà là Chúa Giê-su” đang chịu vất vả cực nhọc trong tôi…
Như thế, nếu chúng ta kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su để làm mọi việc hằng ngày, để chịu đựng những khổ đau xảy đến… thì chính là Chúa Giê-su đang tiếp tục chịu thương khó trong thân mình chúng ta. Thế là chúng ta đang vác thập giá với Chúa.
Còn nếu không kết hợp với Chúa Giê-su để làm việc cũng như chịu đựng đau khổ với Ngài, thì chúng ta chẳng khác gì cô giáo kiêu kỳ trong câu chuyện trên đây, chẳng đoái hoài đến người cha của mình đang mang gánh nặng nề, và vì thế, cũng chẳng được công phúc gì.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con chấp nhận vác thập giá với Chúa mỗi ngày qua việc bổn phận, để thông hiệp vào công trình cứu độ của Chúa để mang lại ơn tha thứ cho những người tội lỗi. Amen.
Linh mục I-nha-xi-ô Trần Ngà
BẤT TỬ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!”.
Năm 125 sau Công Nguyên, Aristides giải thích sự thành công lạ thường của ‘một tôn giáo mới’: “Bất kỳ một Kitô hữu chân chính nào rời khỏi thế giới, họ đều hân hoan dâng lời cảm tạ Chúa; họ mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn! Như bất tử, họ đang đi từ một nơi này đến một nơi khác gần đó; một sự dịch chuyển không thể phi thường hơn!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay nói đến sự ‘bất tử’ Aristides đề cập! “Chim sắp chết, chim kêu thống thiết; người sắp chết, người nói lời thiệt!”. Biết mình sắp chết, Chúa Giêsu đưa ra một tuyên bố ‘rất thiệt’ về sự ‘bất tử’ của Ngài, “Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!”.
Ghi lại lời này của Thầy – “Tôi Hằng Hữu!” – tác giả về lại lời tựa Phúc Âm của mình; ở đó, ‘phượng hoàng Gioan’ chấp cánh bay lên tận mút cùng của tạo thành, “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa; và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Cùng hiện hữu với Chúa Cha, Ngôi Lời có trước cả Abraham, trước bất cứ ‘nguyên tổ’ của bất kỳ thọ tạo nào! Tuy nhiên, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, hạ cố để ở với con người, cứu lấy con người dù vẫn ở với Cha. Và dẫu đã về trời bên hữu Cha, Ngài vẫn ở với loài người. Đây là sự hiện diện tất yếu của một tình yêu ‘bất tử’ nơi một Thiên Chúa ‘bất tử!’.
Chúa Giêsu còn nói, “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết!”. Hãy nhìn vào Abraham, một người “tuân giữ” hoàn toàn lời Thiên Chúa và Ngài đã chúc phúc cho ông, “Ta sẽ lập giao ước giữa Ta với ngươi từ thế hệ này qua thế hệ khác”; “Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này” – bài đọc một. Với Đavít, giao ước Chúa đã lập với Abraham sẽ mãi bền bỉ, trường tồn, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, Abraham ‘bất tử’ với miêu duệ của mình.
Vì thế, khi nói “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết”, Chúa Giêsu nói đến cái chết linh hồn. Ai giữ lời Ngài, sẽ không biết cái chết ‘kiểu đời đời’ này! Bởi lẽ, họ đã chia sẻ cuộc sống thần linh của Ngài ‘ở đây và lúc này’, một cuộc sống vượt quá cái chết. Vì thế, sự hiệp thông với Đấng hằng sống sẽ không bị phá vỡ bởi cái chết; đúng hơn, được đào sâu bởi nó!
Anh Chị em,
“Tôi Hằng Hữu!”. Dẫu “hằng hữu”, Con Thiên Chúa vẫn cam lòng chịu – ‘hạn hữu’ – chết cho tội lỗi của con người; nhưng Ngài đã sống lại cho sự ‘bất tử’ của nó! Ngài đang sống trong bạn, trong tôi, trong thế giới nhiễu nhương này. Vì thế, không chỉ khi còn sống, chúng ta hân hoan ca tụng Ngài, mà cả khi rời thế giới, bạn và tôi “mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn!”. Là con ‘Đấng Bất Tử’, chúng ta sống sự sống thần linh đời đời của Ngài. Do đó, đừng để cho sự tẻ nhạt và đơn điệu của cuộc sống với những tân toan kéo ghì chúng ta xuống. Hãy sống tâm thế của con cái Thiên Chúa ngay hôm nay, giữa đời thường, “Tâm hồn luôn hướng lên cao cùng với lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”. Và như thế, bạn và tôi ‘bất tử!’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, sinh ra là một bản gốc – bất tử – đừng để con ‘tử sớm’ như một bản sao. Cho con thật cao thượng ngay cả trong suy tưởng và ước muốn!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
****************************************************************
Thứ Năm Tuần V Mùa Chay
Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 8,51-59
51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.”
52 “Người Do-thái liền nói : “Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : ‘Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.’
53 “Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai ?” 54 Đức Giê-su đáp : “Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.”
57 Người Do-thái nói : “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !” 58 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !”
59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ.



