Thánh Phêrô Chrysôlogô (Kim Ngôn)- Cha Vương

Bình an và yêu thương trong Chúa nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Phêrô Chrysôlogô (Kim Ngôn), đứng nhầm lẫn với Thánh Gioan Chrysostom (Kim Khẩu). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 3: 30/7/2024

Thánh Phêrô có biệt hiệu là Chrysôlôgô (Kim Ngôn) bởi tài hùng biện đặc biệt của Ngài. Ngài sinh vào khoảng năm 405, tại miền Imola, nước Ý. Đức Giám mục giáo phận Imola là Cornêlliô phong chức phó tế cho Ngài. Dưới sự hướng dẫn của Đức giám mục, Ngài thực hiện những bước tiến lạ lùng trên con đường trong tu viện.

Năm 430, Đức Tổng Giám mục Gioan của Giáo phận Ravenna từ trần. Trong khi tìm vị chủ chăn mới, hàng giáo sĩ và giáo dân đã xin Đức giám mục Iomola nhập đoàn phải họ để đi Roma yết kiến Đức giáo hoàng Sixtô III coi Phêrô như người được tiền định để làm giám mục Ravenna. Ngài liền đặt Phêrô làm giám mục Ravenna, kế vị Đức giám mục Gioan năm 433. Các đại biểu của Giáo phận này lúc đầu tỏ ý bất bình, nhưng rồi đã đổi thái độ khi được đức giáo hoàng Sixtô III cho biết thị kiến của mình.

Vâng theo ý Chúa, Phêrô thụ phong Giám mục và trở về Ravenna. Trong bầu khí tiếp đón nồng nhiệt, Ngài nói: “Tôi đến với anh chị em như một y sĩ đến chữa trị, như một mục tử để dẫn dắt, như một người mẹ để nuôi dưỡng, như một người cha để bảo vệ và chăm sóc phần rỗi đời đời của anh chị em. Vậy anh chị em hãy mau mắn vâng phục cách thích đáng đối với tác vụ rất thánh của tôi.”

Đầy nhiệt thành bứng rễ các việc thờ ngẫu tượng còn rớt lại, cũng như lên án sự giả tạo của giáo dân. Trong một cuộc lễ vào đầu năm, Ngài đã phá những cuộc diễn hành đáng tội trên đường phố: “Ai muốn vui chơi với ma quỉ thì không thể vui hưởng với Chúa Kitô.”

Ngài đã nhiệt tâm rao giảng. Ngày nay chúng ta còn giữ lại được khoảng 180 bài giảng của Ngài. Lời lẽ đơn sơ nhưng đầy nhiệt huyết. Người ta không thể quên được những lời như:

“Nằm trong thói hư tính xấu, chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta sẽ thực sự đứng thẳng khi biết chỗi dậy để tiến thẳng tới bằng các việc lành.”

❦ “Ai biết tìm kiếm trong đức tin, sẽ thấy ngay rằng là Cha đang ở đó, vì họ.”

❦ “Mọi sự dữ cha mẹ làm cho con cái, Thiên Chúa là Cha hết mọi người sẽ trả lại cho họ.”

Các tiền nhân sống cho chúng ta. Chúng ta sống cho thế hệ mai sau. Không ai sống cho mình cả.”

Người ta cũng còn nhớ lời Ngài kêu gọi sống bác ái: “Biết nói sao về niềm tin lễ Giáng sinh, nếu người nghèo than khóc, tù nhân rên siết, dân tị nạn than thở, người lưu đày thổn thức, người Do thái mừng lễ bằng thuế thập phân, còn người Kitô hữu nghĩ sao khi họ không mừng bằng một phần trăm của cải? Tôi đau buồn, phải, tôi đau buồn vì các đạo sĩ trải vàng trên nôi Chúa Kitô trong khi các Kitô hữu để cho thân thể Chúa Kitô trống trải, khi mà những người nghèo than khóc. Đừng nói rằng tôi không có gì. Thiên Chúa muốn xin cái anh em có chứ không phải cái anh chị em không có, khi mà Ngài thương nhận hai đồng tiền của bà góa. Hãy tận tâm với Đấng tạo thành và tạo vật cũng sẽ tận tâm với anh chị em.”

Thánh Phêrô Chrysôlôgô đã trở thành danh tiếng, đến nỗi Đức giáo hoàng Lêo I đã trao cho Ngài đọc tại công đồng Chalcedonia một luận án chống lại lạc thuyết của Eutychèr, Ngài cũng còn viết một bức thư cho kẻ lạc giáo này để khuyên ông ta vâng phục Giáo hội.

Sau cùng, sau khi cai quản giáo phận Ravenna trong 18 năm, thánh giám mục biết rằng mình sắp tới hồi kết thúc các nỗ lực. Ngài muốn lui về Imola để dọn mình chết. Ngày 3 tháng 12 năm 450 Ngài đã từ trần và năm 1729 được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh.

(Mạng: TGPSG)

From: Do Dzung

**************

Tìm Về Bên Chúa (Sáng tác: Jerome) – Đặng Đình Quynh

CÁNH ĐỒNG THỨ HAI – Lm. Minh Anh, Tgp Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp Huế)

“Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con!”.

“Cuộc sống của chúng ta là những cánh đồng chủ yếu đầy cỏ dại; bạn và tôi không thể trồng dâu tây! Chúng ta có thể cắt cỏ dại, nhưng chỉ ngần ấy nỗ lực, sẽ không bao giờ tạo ra những quả dâu tây có thể chấp nhận được. Nếu thực sự muốn sản xuất quy mô những quả dâu chín mọng tuyệt vời, bạn phải đào sâu hơn. Phải cày xới toàn bộ cánh đồng – một cánh đồng thứ hai – và bắt đầu lại với những cây mới!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị với câu hỏi dễ thương của các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay, “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con!”. Và thú vị hơn khi chúng ta hỏi Chúa Giêsu cùng một câu hỏi hoặc những câu tương tự. Hẳn Ngài sẽ nói về một ‘cánh đồng thứ hai’, và nếu cần, “phải cày xới toàn bộ và bắt đầu lại với những cây mới!”.

Chúng ta có thể hỏi Ngài, “Lạy Chúa, cho con biết tại sao con không tiến bộ đủ trong đời sống nội tâm của mình. Cho con biết làm sao con có thể trung thành với Chúa, có thể tìm kiếm Chúa giữa những công việc hoặc trong những hoàn cảnh mà con không hiểu hoặc không muốn? Làm sao con có thể trở thành một tông đồ đủ tiêu chuẩn? Nguyên việc cầu nguyện của con, xin Chúa nói thật rõ! Con cầu nguyện thế nào? Lời cầu nguyện của con có chân thành không? Liên tục không? Có tin tưởng không?

Với các môn đệ, Chúa Giêsu nói đến một thế giới ‘đầy cỏ’, thực tế, như một cánh đồng lớn, nơi Thiên Chúa gieo lúa tốt và kẻ ác gieo cỏ; do đó, lúa tốt và cỏ xấu cùng mọc lên. Với chúng ta, gần gũi hơn, Ngài nói về một ‘cánh đồng thứ hai!’; đó là cánh đồng mà chúng ta có thể dọn sạch – cánh đồng trái tim của mỗi người – cánh đồng duy nhất bạn và tôi có thể trực tiếp can thiệp. Ở đó, lúa mì và cỏ dại chen nhau. Thật vậy, chính từ cánh đồng trái tim – tốt hay xấu – cả hai mở ra cho cánh đồng lớn của thế giới.

Có một phương pháp tốt cho công việc này. Nó được gọi là “xét mình”, tức là xem xét những gì đã xảy ra hôm nay trong cuộc sống của tôi, những gì đã đánh động trái tim tôi và những quyết định nào tôi đã đưa ra. Và điều này chính xác là để ‘gọi tên chúng’, xác minh chúng dưới ánh sáng của Chúa, đâu là cỏ dại và đâu là lúa tốt.

Israel, dân bị Chúa nghiêm phạt – bài đọc một – xem ra cũng đang xét mình, “Lạy Chúa, chúng con nhận rằng mình gian ác và cha ông sai lỗi đã nhiều!”. Israel đang “cày xới”, đang “trồng lại những cây mới”. Thánh Kinh luôn truyền cảm hứng để chúng ta tiếp tục cậy tin và không tuyệt vọng dẫu trong những hoàn cảnh không còn gì để mất. Thánh Vịnh đáp ca thổ lộ, “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!”.

Anh Chị em,

“Bắt đầu lại với những cây mới!”. Trái tim của chúng ta là một cánh đồng tự do, nó không phải là một phòng thí nghiệm vô trùng mà là một ‘không gian mở’; do đó, dễ bị tổn thương. Một mặt cần phải liên tục chăm sóc những chồi non mong manh của lòng tốt; mặt khác, phải xác định và nhổ tận gốc cỏ dại đúng thời điểm. Hãy nhìn vào bên trong, xem xét những gì đang xảy ra, đang phát triển trong tôi, những gì là tốt, những gì là xấu; hay phải chăng cần “phải cày xới toàn bộ và bắt đầu lại với những cây mới?”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn sản sinh ‘những quả dâu tây tuyệt vời’. Cho con biết, việc ‘cải thiện cánh đồng lòng con’ là một tiến trình của ân sủng và cả nỗ lực của con!”, Amen. 

(Lm. Minh Anh, Tgp Huế)

From: KimBang Nguyen

***********************

Thứ Ba Tuần XVII, Mùa  Thường Niên, Năm Chẵn:

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”


 

Tha’nh Mácta (Martha)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 zui zẻ phục vụ với một bầu nhiệt huyết nhé. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 2: 29/7/2024

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc  âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc  am Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc  m đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm, không chèo, không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này. Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon.

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp. (Nguồn: Người Tín Hữu online)

From: Do Dzung

************

Phục Vụ Trong Yêu Thương – Đệ Tử Mân Côi

Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.”- Cha Vương

Reng reng! Thức dậy đi Lễ chứ! Chúc bạn weekend đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

CN: 28/7/2024

TIN MỪNG: Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. (Ga 6:12-13)

SUY NIỆM: Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu không chỉ nuôi dưỡng, ban sức mạnh cho bạn, mà Người còn ban cho bạn mỗi ngày càng nhiều ơn hơn nữa để sống cuộc sống thánh thiện và đẹp lòng Chúa. Giống như phép lạ trong Phúc Âm hôm nay, khi bạn đến với Chúa, bạn chẳng có gì là mất mát và thiệt thòi cả, bạn chỉ có thêm và càng nhiều thêm thôi. Một trong những “miếng thừa” của Thánh Lễ là ân sủng. Ân sủng thuộc về Thiên Chúa. Nó là sự sống của Thiên Chúa ở trong bạn. Nguồn gốc của ân sủng là Thiên Chúa – một cách đặc biệt nhất, đó là công trạng của Đức Giêsu Kitô trên thập giá – và ân sủng là tuyệt đối cần thiết để đạt được sự sống. Nó nuôi dưỡng bạn suốt cả tuần và mở lòng trí bạn ra để bạn chia sẽ tình yêu thương của Chúa với những người bạn gặp gỡ. Một “miếng thừa” khác nữa là lòng biết ơn. Thánh Lễ là hy lễ tạ ơn. Chúa đã nuôi dưỡng bạn bằng Lời Chúa, và đặc biệt hơn là chính Mình và Máu Thánh của Ngài. Ngài biến bạn trở thành người biết ơn hơn. Chỉ có người biết ơn mới có lòng chia sẻ. Còn người phụ ơn thì lại vơ vét vào thêm. Là người biết ơn bạn được thúc đẩy để chăm sóc những nhu cầu về mặt tinh thần và vật chất của người khác. Mỗi khi bạn đến với Chúa trong Bí Tích Thánh Thể, là linh dược kỳ diệu, là nguồn dự trữ ân sủng, và là sự dồi dào của lòng tạ ơn, bạn được cung ứng đủ sức mạnh để đáp ứng những cơn đói sâu thẳm nhất của nhân loại và của chính bạn. Vì vậy, sau mỗi Thánh lễ bạn được sai đi bình an, tôn vinh Chúa bằng chính cuộc sống của bạn.

LẮNG NGHE: Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. (1 Cr 10:31)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “này con đây, hãy sai con đi”, xin giúp con biết đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng cả con tim để con trở thành khí cụ của ân sủng và bình an trong công việc xây dựng Nước Chúa trong môi trường sống hằng ngày của con.

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ một cách chu đáo và nghiêm trang hơn.

From: Do Dzung

************************

Nguồn Suối Yêu Thương (Sáng tác: Sr. Clara Chu Linh . OP) – Kiều Bích Hiền 

 TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”.

“Trao một khúc xương cho con chó không phải là bác ái! Dám chia sẻ với nó một khúc xương đang khi bạn cũng đói như nó mới là bác ái!” – Jack London!

Kính thưa Anh Chị em,

“Đang khi bạn cũng đói như nó!”. Câu nói vắn gọn của J. London đưa chúng ta về hình ảnh một cậu bé vô danh có lẽ cũng ‘đang đói’ mà Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đề cập. Ấy thế, chính cậu đã dám chia sẻ và đã ‘tạo không gian’ cho phép lạ của Chúa Giêsu.

Tin Mừng mời gọi bạn và tôi đồng nhất với cậu bé ấy vì lẽ cậu có một điều gì đó đáng học hỏi. Đối mặt với một đám rất đông đang đói, Philipphê và Anrê hơi bi quan, “Hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Anrê thì biết cậu bé vốn có một ít thức ăn, nhưng kết luận “Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”.

Điều đáng ngạc nhiên là ngay lúc đó, Chúa Giêsu nói, “Cứ bảo người ta ngồi xuống!”; nghĩa là Ngài đã có trên tay những gì Ngài cần, tức là những gì cậu bé trao, trao lúc nào, không ai biết! Cậu bé đâu ngờ rằng, chính sự hào hiệp của cậu đã ‘tạo không gian’ cho Chúa Giêsu; nhờ đó, Ngài thoả mãn cơn đói của hơn 5.000 người. Êlisa – hình ảnh tiền trưng của Chúa Giêsu – thời các Vua đã có một phép lạ tương tự – bài đọc một. Rõ ràng, đây là những ‘bữa tiệc thần thánh’ báo trước tiệc Thánh Thể ban sự sống đời đời Chúa Giêsu sẽ mặc khải trong Tin Mừng Gioan. “Chúa thương rộng mở tay ban, đoàn con hết thảy muôn vàn thoả thuê!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Nhiều lúc trong cuộc sống, các nguồn lực chúng ta có quá nhỏ bé trước hoàn cảnh phải đối mặt, dù đó là ‘nguồn lực vật chất’, ‘nguồn lực thể chất’, ‘nguồn lực tinh thần’ hoặc ‘cảm xúc’. Chúng ta dễ thấy mình là một phiên bản của Anrê, “Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”. Đó là ‘loại’ câu hỏi kéo chúng ta xuống, làm mất sức mạnh, lòng yêu mến, nhất là mất lòng cậy trông! Chúng ta giới hạn quyền năng và tình yêu quan phòng của Thiên Chúa; đang khi lẽ ra phải “dám chia sẻ” và nỗ lực ‘tạo không gian’ cho Ngài.

Cậu bé chỉ cho đi những gì cậu có và điều tuyệt vời đã xảy ra! Nếu bạn và tôi làm những gì ít ỏi có thể, Chúa sẽ làm những gì còn lại theo những cách thức khiến chúng ta vô cùng ngạc nhiên. Ngài không phụ thuộc ai, nhưng sự đóng góp của chúng ta, dù nhỏ bé, có thể rất quan trọng: một cốc nước, một đồng tiền bà goá, một chút men hay một hạt cải! Chính cậu bé đã mở một cánh cửa cho Chúa Giêsu; nghĩa cử của cậu sẽ khởi đầu cho một giáo huấn vĩ đại Ngài sắp công bố: Bánh Từ Trời Ban Sự Sống Đời Đời!

Anh Chị em,

“Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”. Với lý do này, lý do khác, bạn và tôi thường tìm cách thoái thác. Tại sao? “Chúng ta tìm cách tích lũy và gia tăng những gì chúng ta có; chúng ta thích thêm vào, thêm nhiều hơn. Nhưng Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta cho đi, bớt đi; Ngài thích chúng ta trừ đi, lấy đi một thứ gì đó để trao cho người khác. Chúng ta muốn nhân lên; Ngài muốn chúng ta giảm xuống khi chia sẻ, khi cho đi!” – Phanxicô. Đó cũng là những gì Phaolô hôm nay kêu gọi các tín hữu Êphêsô, “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban!” – bài đọc hai.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con vào trần gian với đôi tay trống, con ra khỏi đó với đôi tay trơn. Cho con biết rằng, những gì con mang theo là những gì con ‘đã cho đi!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***********************

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

1 Thưa anh em, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. 2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. 3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. 4 Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. 5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. 6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia biển hồ Ga-li-lê, cũng gọi là biển hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.


 

Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh-Cha Vương

Mến chào “BÌNH AN!” Chân phước George Matulaitis nói: “Mỗi Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng (trong Kinh Mân Côi) giống như lương thực từ trời, củng cổ sức mạnh của chúng ta.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thư 7: 27/7/2024

NĂM SỰ VUI: Thứ năm thì ngắm—Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh. Dù là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng, nhưng Mẹ Maria vẫn là một con người hữu hạn. Nghĩa là, Mẹ không phải là Đấng Toàn Năng. Mẹ không thể biết được mọi sự, làm được mọi thứ, hay siêu vượt hẳn không gian và thời gian. Nhưng Mẹ khiêm tốn nhìn nhận sự giới hạn của mình. Đồng thời, thay vì tự ti, mặc cảm, và đóng kín, Mẹ sống tâm tình tạ ơn và mở lòng cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ. Mẹ cộng tác với ơn thánh (thời gian, sức lực, khả năng riêng, đức hạnh . . .) để công trình của Thiên Chúa được thành tựu. Hôm nay qua việc suy niệm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy mở lòng để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình và xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi. (Luca 2:41-42) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết.(Luca 2:43) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.(Luca 2:44-45) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. (Luca 2:46) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. (Luca 2:47) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Luca 2:48) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? ” (Luca 2:49) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. (Luca 2:50) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. (Luca 2:51)Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.  (Luca 2:52) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay…

From: Do Dzung

********************

Vâng Theo Ý Cha – Angelo Band 

ÔM LẤY NÓ! – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt!”.

“We Are the World”, “Chúng Ta là Thế Giới”, một ca khúc Michael Jackson và Lionel Richie viết. Một đĩa đơn “thu hút sự chú ý chưa từng có của quốc tế về châu Phi” ghi âm năm 1985 với sự góp giọng của hơn 45 siêu ca sĩ; đạt doanh số hơn 20 triệu bản, thu hơn 75 triệu dollars quỹ giúp châu Phi. “Chúng ta là thế giới, hãy học biết chia sẻ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng “Chúng ta là thế giới, hãy học biết chia sẻ!”, khác nào nói, hãy ‘Ôm lấy thế giới!’. Vậy mà, Lời Chúa hôm nay cảnh báo, đó là một thế giới ‘đầy cỏ!’; một thực tế vừa xót xa vừa đáng mừng! Tại sao? Cỏ ở khắp mọi nơi, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn nhiều hơn cỏ; nó bao phủ cả thế giới! Quan trọng hơn, bạn và tôi được kêu gọi để ‘ôm lấy nó’ và cho phép Thiên Chúa ‘ôm nó’ qua chính mình!

Nếu coi lúa tốt là tất cả những gì Chúa Kitô dạy thì thế giới ngày nay có rất nhiều điều trái nghịch Kitô giáo; nói cách khác, lắm cỏ! Cỏ thậm chí sinh sôi nhiều hơn và dễ thấy hơn lúa. Vậy không lẽ Chủ Mùa cho phép cỏ át lúa? Không đâu! Chúa Giêsu nói, “Cha trên trời cho mặt trời mọc trên kẻ xấu và người tốt!”. Vì thế, khi thấy cỏ hầu như ở khắp mọi nơi, chúng ta không nản chí; trái lại, cứ ‘ôm lấy nó’, để Vương Quốc Đức Kitô hiện diện trong đó, ít nữa là ‘thế giới quanh mình!’.

Cần nhớ, cỏ luôn luôn có và nó sẽ có cho đến tận thế! Tập trung vào lúa, đừng tập trung vào cỏ! Tập trung vào cỏ, chúng ta có thể rơi vào phê phán hoặc rút lui khỏi những tương tác với ai không nhìn mọi thứ như chúng ta nhìn; và như thế, trở nên tiêu cực, đánh mất hy vọng và niềm vui. Không! Tình yêu kêu gọi chúng ta không chỉ thấy ‘những gì đang có’ nhưng còn mời gọi chúng ta thấy ‘những gì có thể!’. Mẹ Têrêsa nói, “Tôi tin rằng, Thiên Chúa yêu thương thế giới qua chúng ta!”. Vậy tôi có cho phép Thiên Chúa yêu nó qua tôi, và tôi có cùng Ngài ‘ôm lấy nó’, một thế giới đáng thương?

Thật trùng hợp, điều chúng ta được mời gọi cũng là điều Giêrêmia đã sống! – bài đọc một. Giêrêmia không nguyền rủa dân, một Israel phản nghịch; trái lại, ông ôm lấy dân! Đúng hơn, Giêrêmia cho phép Thiên Chúa qua ông, ôm lấy Israel, “Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này!”. “Nơi” của Chúa là ‘đất Hứa’, là đền thờ, là “Cung điện khả ái” như Thánh Vịnh đáp ca hoài niệm.

Anh Chị em,

“Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt!”. “Mùa gặt” là ‘mùa xót thương!’. Với Chủ Mùa, ‘cỏ thành lúa’ vẫn là điều có thể. Lòng thương xót là nguồn gốc và động lực của mọi cuộc hoán cải. “Lòng thương xót là gì nếu không phải là tình yêu vô bờ của Thiên Chúa, Đấng đã đương đầu với tội lỗi của con người, kiềm chế xung năng của công lý nghiêm khắc, và để cho mình ‘bị lay động’ bởi sự khốn khổ của các tạo vật vốn thúc đẩy đến toàn bộ, đến nỗi trao cả món quà của bản thân, Con Một, trên thập giá!” – Gioan Phaolô II. Cả chúng ta, hãy ước ao thật nhiều về một kinh nghiệm tái tạo của lòng thương xót, để có thể cùng Chúa ‘ôm lấy nó’, một thế giới đáng thương hơn là đáng ghét!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, để có thể ôm lấy một thế giới ‘ít lúa, lắm cỏ’, tiên vàn, xin ân sủng Chúa hoán cải tâm hồn con; nhờ đó, nó ‘đầy Chúa’ và ‘sạch cỏ!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******************

Thứ Bảy Tuần XVI, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

Khi ấy, Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe dụ ngôn sau đây : “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. 25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. 26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. 27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng : ‘Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?’ 28 Ông đáp : ‘Kẻ thù đã làm đó !’ Đầy tớ nói : ‘Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?’ 29 Ông đáp : ‘Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi’.” 


 

MỘT MÌNH – Lang Thang Chiều Tím

 Lang Thang Chiều Tím

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mìnhngoài hiên nắng lóe, đàn

chim giật mình… đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình“biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

Nắng xuyên qua láhạt sương lìa cànhđời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận tình duyên trăm mốimột kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì túy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

 Lang Thang Chiều Tím


 

Thánh Giacôbê (James)Tông Đồ.

Chúc một ngày zui zẻ, phẻ mạnh, và an lành trong Chúa và Mẹ nhé. Hôm nay 25/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Giacôbê (James)Tông Đồ. Mừng quan thầy đến những ai chọn Thánh Giacôbê làm quan thầy hay có tên là James nhé.

Cha Vương

Thư’ 5: 25/07/2024

Thánh Giacôbê [Cả] là anh của Thánh Gioan Thánh Sử. Cả hai được Ðức Giêsu mời gọi khi họ đang trên thuyền đánh cá, làm việc với người cha ở biển Galilê. Trước đó, Ðức Giêsu đã gọi một đôi anh em khác cũng từ một hoàn cảnh tương tự, đó là Phêrô và Anrê. “Ði xa hơn một chút, Người thấy ông Giacôbê, con ông Zêbêđê, và người em là ông Gioan. Hai ông đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Zêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người” (Máccô 1:19-20).

Thánh Giacôbê là một trong ba người được ưu tiên chứng kiến Chúa Hiển Dung, được thấy con gái ông Giairút sống lại và có mặt trong giờ thống khổ của Ðức Giêsu trong vườn Giệtsimani.

Có hai biến cố trong Phúc Âm diễn tả tính khí của thánh nhân và người em. Thánh Mátthêu kể rằng mẹ của hai ông đến để xin cho họ được chỗ ngồi vinh dự trong vương quốc (một bên phải, một bên trái Ðức Giêsu). “Ðức Giê-su bảo: ‘Các người không biết các người xin gì. Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?’ Họ đáp: ‘Thưa được’ (Mt 20:22). Sau đó Ðức Giêsu bảo, quả thật họ sẽ uống chén và chia sẻ sự thanh tẩy của Người trong sự đau khổ và cái chết, nhưng việc ngồi bên phải hay bên trái thì không phải là quyền của Ðức Giêsu – chỗ đó “được dành cho những người đã được Cha Thầy chuẩn bị” (Mt 20:23b).

Các tông đồ khác phẫn nộ khi thấy tham vọng của Giacôbê và Gioan. Sau đó Ðức Giêsu dạy họ bài học về sự khiêm tốn phục vụ: Mục đích của quyền bính là để phục vụ. Họ không được áp đặt ý muốn của mình trên người khác, hay sai bảo người khác. Ðây là vị thế của chính Ðức Giêsu. Ngài là tôi tớ của tất cả; sự phục vụ được giao phó cho Ngài là tuyệt đối hy sinh tính mạng mình.

Trong một trường hợp khác, Giacôbê và Gioan chứng minh rằng biệt hiệu mà Ðức Giêsu đặt cho họ – “con của sấm sét”- thì rất thích hợp với họ. Người Samaritanô không đón tiếp Ðức Giêsu vì Người đang trên đường đến Giêrusalem. “Thấy thế, hai môn đệ là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: ‘Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?’ Nhưng Ðức Giê-su quay lại quở mắng các ông…” (Luca 9:54-55).

Hiển nhiên Thánh Giacôbê là vị tông đồ đầu tiên chịu tử đạo. “Vào thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Vua cho chém đầu ông Giacôbê, anh ông Gioan, và khi thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa” (CVTÐ 12:1-3a).

Chúng ta đừng nhầm lẫn Thánh Giacôbê với Thánh Giacôbê  con Alphê, Thánh Giacôbê hậu “anh em họ” của Đức Giêsu và sau này là Giám Mục Jerusalem cũng là tác giả Thư Thánh Giacôbê.

(Nguồn: Nhóm Tinh Thần, Hạnh Thánh)

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho thánh Giacôbê vinh dự là tông đồ đầu tiên đã chết để làm chứng cho Tin Mừng. Xin cho Hội Thánh tìm được sức mạnh nhờ gương tử đạo của thánh nhân, và nhờ Người cầu thay nguyện giúp, Hội Thánh được luôn nâng đỡ phù trì (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Giacô-bê tông đồ).

From: Do Dzung

**************

Đường con theo Chúa -tinmung.net 

CƠN KHÁT LƯƠNG THỰC – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Trong bối cảnh xã hội hiện tại, khi có những cuộc xung đột căng thẳng ở nhiều cấp độ, thậm chí chiến tranh đã và đang xảy ra ở một vài quốc gia châu Âu, một thuật ngữ được lặp đi lặp lại thường xuyên, đó là “an ninh lương thực.”  Đây là một nhận định và cũng là cảnh báo của các nhà chuyên môn, khi thấy các cuộc cấm vận và những mâu thuẫn chính trị tại một số quốc gia vẫn đứng hàng đầu trong việc cung cấp lương thực cho thế giới.  Nỗi lo cơm bánh vẫn luôn ám ảnh con người, kể cả trong xã hội được gọi là “hiện đại và phát triển” của chúng ta.  Cơn khát lương thực luôn hiện hữu trong cuộc sống, cá nhân cũng như tập thể.

Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay xoay quanh đề tài bánh ăn, hay lương thực, ở những khía cạnh khác nhau:

Trước hết, đức tin Do Thái giáo và Ki-tô giáo đều khẳng định: Thiên Chúa là nguyên lý của mọi phúc lành.  Ngài ban cho mưa thuận gió hòa và những điều kiện thuận lợi để cung cấp bánh ăn cho con người.  Tác giả thánh vịnh đã diễn tả: “Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn.  Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê” (Đáp ca).  Đức tin nói với chúng ta: những gì chúng ta đón nhận hằng ngày, những nhu cầu căn bản cho cuộc sống vật chất cũng như tinh thần đều là ân huệ Chúa ban.  Chúa Giê-su đã quả quyết: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Lc 6,33).  Ý niệm cầu nguyện với Ông Trời và các thần linh để được mưa thuận gió hòa luôn luôn có trong tiềm thức và niềm tin bình dân của người Việt chúng ta.  Bài đọc I kể lại một phép lạ Thiên Chúa đã thực hiện qua trung gian ngôn sứ Ê-li-sa.  Với hai mươi chiếc bánh lúa mạch và chút cốm, vị ngôn sứ đã truyền cho tiểu đồng phân phát cho cả trăm người, mà vẫn còn dư.  Lòng tín thác cậy trông vào Chúa là điều kiện để phép lạ xảy ra.

Đức tin Ki-tô giáo cũng dạy chúng ta: sống trên đời, nếu chúng ta may mắn có được một cuộc sống ổn định hay dư dả về vật chất, đó là của Chúa ban, và chúng ta chỉ là người quản lý.  Thiên Chúa mới là sở hữu chủ chính thức của tài sản trên thế gian.  Vì vậy, mọi người tùy theo khả năng của mình, đều được mời gọi chia sẻ cho anh chị em.  Bác ái chia sẻ là một điểm nhấn nổi bật trong giáo huấn của Chúa Giê-su và của Giáo hội.  Ngôn sứ Ê-li-sa đã lấy hai mươi chiếc bánh người ta tặng cho ông vào thời điểm nạn đói đang hoành hành.  Ông không giữ cho riêng mình, nhưng chia sẻ cho mọi người, và phép lạ đã xảy đến qua nghĩa cử chia sẻ rộng rãi đó.  Thánh Gio-an kể lại trong Tin Mừng: trong đoàn người đến nghe Chúa Giê-su giảng dạy, có một em bé mang theo năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá.  Em bé ấy đã vui vẻ chia sẻ những gì mình có cho mọi người, và phép lạ đã diễn ra.  Đương nhiên, phép lạ đến từ quyền năng Thiên Chúa, nhưng lại dựa trên sự chia sẻ và cộng tác của con người.  Nếu hiểu mỗi người chỉ là người quản lý tài sản Chúa trao, và sau này chết chẳng mang theo được, thì người ta sẽ dễ dàng chia sẻ cho anh chị em.  Nếu các nước giàu chia sẻ cho các nước nghèo, thì lương thực trên thế giới sẽ đủ nuôi mọi người và nạn đói sẽ không còn hoành hành ở một số quốc gia châu Á và châu Phi nữa.

Cùng với những giáo huấn về chia sẻ, Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về lương thực thiêng liêng Chúa ban cho các tín hữu.  Câu chuyện ngôn sứ Ê-li-sa và sự kiện Chúa Giê-su làm phép lạ nhân bánh ra nhiều đều là hình ảnh của Bí tích Thánh Thể.  Trong đêm tiệc ly, Chúa Giê-su đã thiết lập Bí tích Thánh Thể.  Người đã biến bánh thành Mình và rượu thành Máu Người.  Đây không phải là biểu tượng, cũng không phải là nghĩa bóng, mà là một thực tại.  Bí tích Thánh Thể, hay sự hiện diện của Chúa Giê-su trong Hình Bánh Rượu là tín điều, tức là điều phải tin đối với các Ki-tô hữu.

Sau cùng, Phụng vụ hôm nay dạy chúng ta sống mầu nhiệm Thánh Thể.  Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm của sự hiệp thông, hiệp thông với Chúa và với anh chị em mình.  Thánh Phao-lô trong Bài đọc II đã nói đến sự liên kết gắn bó giữa các Ki-tô hữu.  Vị Tông đồ dân ngoại đã dùng hình ảnh của một thân thể, để diễn tả cộng đoàn Ki-tô hữu.  Để có sự hiệp thông đích thực, thánh nhân khuyên các tín hữu Ê-phê-sô: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại: hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng nhau…”  Vâng, bác ái, hiệp thông, chia sẻ… đó là những thông điệp mà Đức Giê-su đang hiện diện trong Bí tích Thánh Thể muốn nói với chúng ta.

Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta là một mẫu gương của thời đại chúng ta về lòng yêu mến Thánh Thể.  Trong đời sống cũng như trong sứ mạng, Mẹ đã khơi nguồn sức mạnh từ Nhà Tạm, nơi Chúa Giê-su hiện diện.  Đối với Mẹ Tê-rê-sa, Thánh Thể chính là tình yêu hy tế mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, để được ăn vào và tiêu hóa, và trở thành một phần trong con người chúng ta.  Khi chúng ta đón rước Thánh Thể, thì chúng ta được Thiên Chúa ban sức mạnh để yêu mến những người khác, với cùng tình yêu mà Đức Ki-tô đã bày tỏ cho chúng ta.  Bằng cách này, Bí tích Thánh Thể giúp chúng ta mang tình yêu của Đức Ki-tô đến với người nghèo, và cảm nhận được sự hiện diện của Người nơi những người ấy.

Thánh nữ đưa ra một lời khuyên rõ ràng: “Tôi xin bạn hãy đến gần hơn với Thánh Thể và Đức Giê-su … Hỡi các linh mục giáo xứ, xin các cha yêu cầu các giáo dân chầu Thánh Thể trong các nhà thờ của mình bất cứ ở đâu có thể được.  Hãy chầu Thánh Thể ít nhất mỗi tuần một lần, sao cho sự dịu hiền của tình yêu có thể phát triển trong tâm hồn các cha, hầu chia sẻ tình yêu ấy cho những người khác.”

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim