Gương chịu đựng bệnh ung thư với đức tin của cha Francisco Rencoret

Gương chịu đựng bệnh ung thư với đức tin của cha Francisco Rencoret

Ngày Chuá Nhật 14 tháng 8 vừa qua, hàng trăm người đã tham dự Thánh lễ an táng của cha Francisco Rencoret, một Linh mục trẻ người Chilê, qua đời ngày 13 tháng 8 (2016), sau hơn một năm chịu đựng và chiến đầu chống lại căn bệnh ung thư phổi cách kiên cường và với đức tin mạnh mẽ. Cha hưởng dương 35 tuổi.

franciscorencoret 

Trong Thánh lễ an táng, cha Andrés Ferrada, một vị huấn luyện đào tạo tại chủng viện Giáo hoàng Santiago đã chia sẻ: “Thiên Chúa trung thành với tình yêu không điều kiện của Ngài, bởi vì Ngài là Cha thương xót, bởi vì Thiên Chúa hiền dịu. Đây là những lời cuối cùng mà cha đã nói với ba của mình trước khi bước vào cánh tay của Thiên Chúa Cha: ‘Ba ơi đừng quên, Thiên Chúa dịu hiền’, và xác tín này xuất phát từ đức tin Cha đã nhận được từ trong gia đình, từ trong Giáo hội và nó nuôi dưỡng cha trong suốt cuộc sống của mình. Năm trước, Thiên Chúa đã cho cha thấy rằng các hoạt động cơ bản trong cuộc sống của cha và của sứ vụ Linh mục là ôm lấy Thánh giá. Vì vậy cha đã viết trong sổ tĩnh tâm thiêng liêng của cha: ‘Con chạy đến với Chuá, ôi Chúa Giêsu để ôm lấy Thánh giá’. Trong những tháng ngày này cha đã đón nhận Thánh giá với lòng can đảm, để Thiên Chúa là Thiên Chúa trong cuộc sống của cha, cảm nghiệm sâu sắc hơn sự tha thứ của Ngài và trao ban sự tha thứ cho tất cả.” Đó là những lời có thể nói là tóm tắt con đường thiếng liêng của Cha Rencoret, đặc biệt trong những ngày chịu đựng cơn bệnh ung thư.

 Cha Rencoret chịu chức năm 2013 và được gửi sang Roma để học Giáo luật tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana. Nhưng thật không may, cha đã phải bỏ dở chương trình học, rời Roma để trở về quê nhà điều trị ung thư, sau khi khám phá ra mình mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Trong những tuần trước đây, mọi người hy vọng cha sẽ hồi phục gia khi các xét nghiêm cho thấy một sự tiến triển đáng kể trong việc ngăn ngừa các tế bào di căn ở phổi đã được phát hiện trước đó. Nhưng cũng thật không ngờ, hai khối u não bất ngờ đã tước đi mạng sống của cha.

 Vào giữa tháng 6, cha Rencoret bất ngờ nhân được điện thoại của Đức Thánh Cha Phanxicô. Đức Thánh Cha nghe biết về bệnh tình của cha Rencoret và đã gọi để biết về tình hình sưc khỏe của cha, cũng như cho cha biết là Đức Thánh Cha đang cầu nguyện cho cha. Cha Rencoret cho biết là Đức Thánh Cha đã nâng đỡ, khuyến khích cha rất nhiều cũng như trao mang lại cho cha tình yêu Giáo hội. Cha Rencoret đã thưa với Đức Thánh Cha: “Con đang dâng những đau khổ của con để cầu nguyện cho ơn gọi, những khó khăn và đau khổ của Đức Thánh Cha”. Cha Rencoret đã sống những giây phút cuối đời trong sự bình an, tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

 Cha Mauricio Valdivia, bạn học của cha Rencoret tại Đại chủng viện Giáo hoàng Santiago nói: “Tôi tin là cha Rencoret có thể hiều cách này hay cách khác, không phải là không khó khăn, Thiên Chúa ban cho cha món quà thời gian để cha chuẩn bị cho mình, và tôi tin là thời gian đã chín mùi để cha gặp Chúa. Cha đã cảm nghiệm sự tự phó mình đó khi cha nói cha muốn được cứu rỗi hơn là được chữa lành bệnh, và từ khía cạnh đó cha đã cảm nghiệm nó là một cơ hội đặc ân. Cha luôn rất bình an. Cha đã có thể chuẩn bị cho gia đình, trao cho họ sức mạnh và sự bình an. Tôi đã có cơ hội đi cùng cha đến bệnh viện, ở lại đó một đêm với cha và chúng tôi đã nói nhiều chuyện với nhau và xưng tội với nhau, trong món quà của tình bạn Linh mục, với sự thanh thản của con tim biết cách tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa”

 Cha Valdivia nhớ lại, trong ơn gọi Linh mục của mình, cha Rencoret có một sự cảm thông đặc biệt với những người thấp bé, khốn khổ, cần giúp đỡ nhất. Không có một người ăn xin nào trong giáo xứ lại không biết cha Pancho. Cha giúp đỡ cho các người vô gia cư sống trên đường phố. Tại nơi đầu tiên cha Rencoret được bổ nhiệm đến, có một người nằm liệt giường, cha đã thu góp quần áo và các vật dụng mang đến cho người này. Cha cũng giúp như thế cho nhiều người khác nữa… Cha ao ước mang sự an ủi đến cho những người đau khổ và mang cho họ lòng thương xót của Thiên Chúa. Cha Valdivia đánh giá cao tình bạn với cha Rencoret, cha nói: “Tình bạn với cha Rencoret là một phúc lành tôi nhận được và hôm nay tôi biết mình có một người anh em ở trên Nước Trời đang khẩn cầu cho tôi. Chúng ta cầu nguyện cho cha Rencoret nhưng cũng đặc biệt cầu nguyện cho cha mẹ và gia đình của cha vượt qua được nỗi đau thương mất mát người thân yêu và tìm được sự an ủi”.

 (RadioVaticana 01.09.2016)

Anh chị Thụ & Mai gởi

Nghĩ về sự chết

Nghĩ về sự chết

ĐGM. Gioan B. Bùi Tuần

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.

Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu?Bên kia sự chết có gì không?

Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý.Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt. Đã tới lúc ra đi. Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.

Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi.Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.

Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.

Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô.Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.

Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).

Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1Ga 3,14-19).

“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21)

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.

Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.

Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.

ANH EM LÀM CHỨNG CHO THẦY,

ANH EM LÀM CHỨNG CHO THẦY,

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu,SJ

Trong số 117 vị Tử Đạo Việt Nam, được phong thánh năm 1988, có một phụ nữ duy nhất, mẹ của 6 người con.  Đó là bà Anê Lê Thị Thành, còn gọi là bà Đê.

Trước khi là một anh hùng tử đạo, bà đã là một người mẹ hiền gương mẫu. “Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách dự thánh lễ và xưng tội rước lễ.”  Đó là lời khai của cô con gái út trước giáo quyền.

Nhà bà Đê là nơi các linh mục trú ẩn.  Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 1861, quan Tổng Đốc Nam Định cho quân bao vây làng của bà.  Bà Đê bị bắt lúc đã 60 tuổi.  Bà bị đánh đập tra tấn, bị ép phải chối đạo, bị lôi qua Thánh Giá, bị bỏ rắn độc vào người.  Khi con gái đến thăm bà trong nhà giam, đau đớn vì thấy quần áo mẹ loang đầy vết máu, bà đã an ủi con với một niềm lạc quan lạ lùng: “Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?”  Sau ba tháng chịu đủ mọi cực hình, người phụ nữ ấy đã hiến đời mình cho Chúa.

Cuộc đời của vị thánh nữ tiên khởi của Việt Nam là một sức nâng đỡ lớn cho chúng ta.  Thiên Chúa đã làm điều phi thường nơi một người phụ nữ già nua, yếu đuối.  Quan “Hùm Xám” tỉnh Nam Định cũng phải bó tay trước sự yếu đuối kiên vững của bà.
Khôn ngoan và đơn sơ, can đảm chịu đau khổ, bà thánh Đê đã phó mặc cho Chúa đời mình.  Bà chẳng lo phải nói gì, phải làm gì trước tòa án, vì sức mạnh của Thánh Thần ở với bà.

Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống vì đức tin, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.
Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng lại đòi hy sinh cả tương lai vững vàng ổn định.
Mỗi ngày, chúng ta thường bị đặt trước những chọn lựa, trước thập giá của Đức Giêsu, y hệt như các vị tử đạo ngày xưa.

Có khi chúng ta đã bước qua thập giá, khi chọn mình, đã chối Chúa bằng chính cuộc sống.

Càng có tự do, ta lại càng dễ sa sút đức tin.  Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những thụ tạo gây ra những cuộc bách hại êm ả và khủng khiếp mà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện.

Ước gì chúng ta không để mất đức tin được mua bằng giá máu của bao vị tử đạo, và ước gì chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấy cho hơn 70 triệu đồng bào trên quê hương.
Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm.  Sự hy sinh của các ngài cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết và chết là cửa mở vào cõi sống bất diệt.  Dù mang phận người yếu đuối, nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng, các ngài đã chiến thắng khải hoàn.  Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài biết can trường sống đức tin của bậc cha anh trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa, biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu bằng một đời hiến thân phục vụ.  Ước gì ngọn lửa đức tin mà các ngài đã thắp lên bằng cuộc sống và cái chết, được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.  Ước gì máu thắm của các ngài thấm vào mảnh đất quê hương để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu,SJ

TUYỆT ĐỈNH YÊU THƯƠNG

TUYỆT ĐỈNH YÊU THƯƠNG

Một lần kia, các tu sĩ trong miền dẫn tới Đức Giám Mục Amôna một thiếu nữ mang bầu xin ngài ra hình phạt. Nhưng Đức Cha đã ban phép lành cho thai nhi, rồi ra lệnh cho cô sáu tấm vải bằng lanh mịn. Những kẻ tố cáo lại nói:

– Tại sao Đức Cha làm như thế? Xin ra cho nó một hình phạt.

Ngài ôn tồn bảo:

– Anh em thử nghĩ xem, cô ta đã đau khổ muốn chết được; tôi phải làm gì hơn nữa?

Nói thế rồi ngài cho cô ta về. Từ đấy không tu sĩ nào còn dám tố cáo ai nữa.

***

Cũng như các tu sĩ trong câu chuyện trên, nhóm Pharisêu và các kinh sư thường lên án những người tội lỗi, nên khi Đức Giêsu tiếp đón những hạng người này thì họ lẩm bẩm kêu trách Người. Thấy vậy, Đức Giêsu đã trả lời bằng ba dụ ngôn: Con Chiên Lạc Mất, Đồng Bạc Đánh Rơi, và Đứa Con Hoang Đàng để tỏ bày lòng nhân hậu và niềm vui của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi hối cải ăn năn.

Còn gì vui bằng khi cái đã mất lại tìm thấy được; còn gì sướng hơn khi cái tìm thấy lại là vật qúi. Tìm kiếm chính là mục đích của Con Thiên Chúa khi xuống trần gian: “Con Người đến tìm kiếm những gì đã mất”. Con người là đối tượng duy nhất mà Thiên Chúa muốn kiếm tìm. Con người thật vô cùng quí giá trước mặt Người. Thiên Chúa lao đao vất vả đi tìm kiếm con người. Người không muốn để mất một ai trên trái đất này.

Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi, như người mục tử tốt lành sẵn sàng để chín mươi chín con chiên lại, đi tìm cho bằng được con chiên lạc mất. Khi tìm thấy rồi mừng rỡ khoác chiên trên vai. Thiên Chúa yêu thương kẻ lầm lỡ, như người đàn bà cần mẫn, đốt đèn kiếm cho được đồng bạc bị đánh rơi. Khi thấy rồi tíu tít chia vui với mọi người. Thiên Chúa yêu thương tội nhân, như người cha già nhân hậu, ngày ngày ra ngõ tìm con. Khi thấy con rồi ông vui mừng chạy lại ôm choàng lấy nó.

Thật vậy, “lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa” (A. Pope). Thiên Chúa yêu thưong con người và yêu thương đến cùng. Tuyệt đỉnh của yêu thương chính là tha thứ, vì thế dù phải chịu hấp hối lâu dài và đau đớn khôn tả, phải chịu khinh miệt và chối bỏ, nhưng Người vẫn cầu nguyện tha thiết: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ”. Đây chính là lời rõ ràng và trang trọng nhất nói lên tâm hồn cao thượng và tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa qua Đức Giêsu.

Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, những con người lầm lỗi; nhưng Người chỉ có thể thứ tha khi chúng ta thật lòng sám hối. Người trộm lành suốt một đời lầm lỡ, thế mà chỉ trong giây phút cuối cùng, tỏ lòng sám hối ăn năn đủ trở nên một vị thánh. Ông trở nên thánh không phải vì ông là người tội lỗi, nhưng vì ông nhận biết mình là kẻ có tội. Đứa con hoang đàng được người cha tha thứ cũng vì anh đã biết nhận ra lỗi lầm, trở về sám hối ăn năn. Người cha không chỉ tha thứ mà còn phục hồi chức vị làm con. Một chiếc nhẫn mới, một đôi giầy mới, một bữa tiệc linh đình, vinh dự còn lớn hơn cả trước khi ra đi.

Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì Người muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin ông anh cả tha thứ cho đứa em lầm lỗi.

Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con người mới dễ cảm thông tha thứ cho những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ, đừng đòi hỏi cho được sự công bằng mới thôi, vì Maritn Luther King có viết: “Nếu cứ áp dụng luật “mắt đền mắt” thì mọi người đều trở nên mù lòa”.

***

Lạy Chúa, nếu Chúa không tha thứ cho các tội nhân thì thiên đàng sẽ trống rỗng, và thế giới này chẳng có thánh nhân. Xin cho chúng con mỗi lần được Chúa tha thứ lại thấy mình nên giống Chúa hơn, vì đã biết tha thứ cho anh em. Amen!

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

GIỮ LINH HỒN

GIỮ LINH HỒN

giu-linh-hon

“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”

Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Balylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.

Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao.  May nhờ có sự hổ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên (BC).

Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá.  Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ.  Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.

Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen.  Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta.  Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn.  Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi.  Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trắng xóa.  Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”

Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi.  Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi.  Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ.  Tất cả sẽ bị tàn phá.  Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6).  Đức Giêsu đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra?

Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem.  Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau.  Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết.  Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000.  Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành.  Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc.  Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận.  Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại.  Thời gian sẽ hủy diệt tất cả.  Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng…  của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi.  Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn.  Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.”  Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu.  Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo, và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy” (Mt 11:12).  Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa.  Amen.

Lm.  Bùi quang Tuấn

Thời kỳ đã đến gần hay Chúa đã đến từ khuya rồi

Thời kỳ đã đến gần hay Chúa đã đến từ khuya rồi                                                 

 Khổng Nhuận

Trích Tin Mừng Luca 21 : 5 – 11, 19

Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giê-su bảo :

“Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết,

không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.”

Họ hỏi Người : “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước ?”

Đức Giê-su đáp : “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng :

‘Chính ta đây’, và : ‘Thời kỳ đã đến gần’ ; anh em chớ có theo họ.

Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”. 

10 Rồi Người nói tiếp : “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. 

11 Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém ; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.

19 Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.

Vấn đề Thời kỳ đã đến gần’ 

Chuyện ‘Thời kỳ đã đến gần’  đã xưa lắm rồi. Theo Tân Ước,  có lẽ thánh Phaolo là người đi tiên phong, qua thư thứ nhất gởi giáo đoàn Thexalonica 4:15-18, ngài đã vẽ ra một cảnh tượng tuyệt vời…làm nức lòng các tín hữu.

15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng tanhững người đang sống,những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu. 
16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên ; 
17 rồi đến chúng ta, là những người đang sốngnhững người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mâycùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi. 
18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.

Thực đáng tiếc, gần 2 ngàn năm trôi qua rồi…mà tiếng kèn của Thiên Chúa vẫn chưa chịu vang lên..

Nhưng âm hưởng tư tưởng những người còn lại vẫn còn được nhiều nhóm tận dụng với ý nghĩa:

Sau biết bao nhiêu tai ương : như động đất, sóng thần, thậm chí chiến tranh nguyên tử, chiến tranh sinh học có thể tiêu diệt hàng triệu người trong nháy mắt…..

thế nhưng,  những người trong nhóm ta, trong phong trào ta, trong cộng đoàn ta..trong giáo phái ta…được Chúa gìn giữ…. sẽ vẫn còn sống qua những cơn nguy biến chết người và chúng ta được mệnh danh là những người còn sót lại 

Vớ vẩn, Chúa hơi đâu làm những chuyện ruồi bu ấy. Bởi vì, chết trong chiến tranh loạn lạc hay êm thắm trên giường bệnh có gì là ăn thua gì đâu.!!!

Vấn đề quan trọng là tôi có khám phá ra Chúa trong lòng tôi và kiên trì tập sống.. tập sống… tập sống… tập sống… với Chúa ngay trong đời thường hằng ngày của mình..

Không có vấn đề Chúa gọi…mà chỉ có vấn đề :Dù chết vì bất cứ lý do gì..

Sự chết cũng chỉ là cánh cửa để mở ra một cuộc sống thuần túy tâm linh trọn vẹn trong Chúa…không còn bị vướng bận thân xác nữa…

Chính vì thế tôi mới hiểu được Chúa đã đến từ khuya rồi

Chúa đến mỗi khi tôi rước Chúa..chứ không phải rước lễ hình thức.

Chúa đến mỗi khi tôi đọc Kinh Thánh.

Chúa đến mỗi khi tôi tâm sự với Chúa bất cứ lúc nào.

Chúa đến mỗi khi tôi lắng nghe sức sống Thần Linh của Chúa lan tỏa khắp châu thân.

Thực đáng tiếc, tôi còn quá nhỏ… không thể ý thức rằng:

Chúa đến khi tôi chịu phép Thêm sức

Chúa đến khi tôi chịu phép Rửa

Đặc biệt là mãi 35 tuổi tôi mới nhận ra rằng

Chúa đã đến với tôi ngay khi tôi còn trong lòng mẹ

để thánh hiến tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho muôn dân…(Gr 1:5)

Quả thực, Chúa đã đến từ khuya rồi.

Tóm lại, Thời kỳ đến gần không quan trọng chút nào

Đừng hù ma thiên hạ với những cảnh báo long trời lở đất…dựng tóc gáy !!!!

Chúa đến gần mình mới quan trọng

Cuối cùng, Chúa sống trong tâm hồn mình

mới thực là quan trọng nhất…trong tất cả mọi sự trên trần gian này.

Kinh Mân Côi Cầu Cho Các Đẳng Linh Hồn

Kinh Mân Côi Cầu Cho Các Đẳng Linh Hồn

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt .

kinhmancoi

 

Vào thời kỳ Thánh Đaminh (1170-1221) còn sống, có một phụ nữ nổi tiếng trắc-nết sống tại thủ đô Roma. Nàng tên Caterina. Nếp sa đọa của nàng gây ra không biết bao gương mù gương xấu và kéo theo không biết bao nhiêu đàn ông nghiêng ngả vì nàng. Nhưng nhờ nghe lời giảng thuyết của thánh Đaminh và nhất là nhờ vào lòng từ bi vô biên của THIÊN CHÚA, Caterina quyết định từ bỏ lối sống lăng-loàn. Rồi từ thái-cực sự dữ chuyển sang thái-cực sự lành. Caterina trở thành người say mê yêu mến Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Cùng lúc, trái tim nồng cháy tình yêu của nàng giờ đây dành cho Tràng Chuỗi Mân Côi và các Linh Hồn trong Lửa Luyện Hình.

Để cứu giúp các Đẳng Linh Hồn, mỗi ngày Caterina lần không biết bao nhiêu Tràng Chuỗi Mân Côi. Chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ đã muốn tỏ lộ ơn lành bao la mà tràng chuỗi Mân Côi có thể mang đến cho các Linh Hồn trong Lửa Luyện Ngục.

Một ngày trong khi Caterina đang lần hạt cầu cho các đẳng Linh Hồn đến phần thứ ba của Tràng Chuỗi Mân Côi 150, thì Đức Chúa GIÊSU hiện ra với thánh Đaminh dưới hình dáng một Thiếu Nhi vô cùng khôi ngô. Từ thân mình tuyệt đẹp của Thiếu Nhi phát ra những tia sáng tương đương với 50 Kinh Ave Maria của phần thứ ba của Tràng Hạt Mân Côi. Các tia sáng là tia nước bắn thẳng xuống Luyện Ngục làm dịu mát đau đớn các Linh Hồn đang chịu vì bị các ngọn lửa thiêu đốt. Khi nhận trận mưa hồng phúc này, các Linh Hồn vô cùng sướng và bày tỏ lòng tri ân đối với vị ân nhân đang cứu giúp mình. Các Linh Hồn nói lớn tiếng:

– Cám Ơn! Cám Ơn Caterina nhiều lắm! Vì việc lành làm cho chúng tôi qua tràng hạt Mân Côi, xin THIÊN CHÚA trả công bội hậu bằng ân thưởng nước Thiên Đàng!

… Lời cầu nguyện cho các Đẳng Linh Hồn được các ngài trả ơn và bảo vệ gìn giữ.

Một buổi tối, một chủ tiệm vàng đóng cửa để về nhà. Nhưng vì sợ kẻ trộm lẻn vào ban đêm nên ông quyết định mang về những đồ trang sức quí báu đáng giá nhất. Nỗi lo âu vẫn chưa chấm dứt. Trên đường về, sợ rằng có kẻ gian theo dõi để cướp mất của quí, người chủ tiệm liền khẩn cầu sự trợ giúp của các Đẳng Linh Hồn. Ông sốt sắng lần tràng chuỗi 100 kinh Requiem cầu cho kẻ qua đời.

Đến nửa đêm khi đi vào góc đường dẫn vào nhà, ông chủ tiệm vàng bỗng kinh hãi nhận ra là xa xa có mấy tên gian phi đang đi theo mình. Ông không biết làm gì hơn là tha thiết khẩn cầu sự trợ giúp của các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình. Chính lúc ấy ông trông thấy từ ngôi thánh đường nho nhỏ ở đầu góc đường, lần lượt tiến ra một đoàn rước gồm các tu sĩ mặc áo dòng màu trắng. Các ngài vừa đi vừa hát thánh vịnh giống như đi đưa đám tang một tu huynh quá cố. Người chủ tiệm vàng tức tốc nhập đoàn với các tu sĩ và như thế, ông có thể đi tiếp chặng đường về nhà cách an toàn.

Trong khi đó, người vợ ở nhà lo âu trông ngóng chồng. Vì trời đã khuya mà không thấy bóng dáng chồng đâu nên bà mở cửa sổ ra để nhìn.

Vừa lúc đó thì ông chủ tiệm cũng về đến nhà. Ông vui mừng kể lại cho vợ nghe câu chuyện may mắn ông vừa thoát tay các tên gian phi. Ông nói rằng THIÊN CHÚA Quan Phòng lo liệu cho ông gặp đoàn ngũ các tu sĩ đưa người quá cố đi chôn nên ông nhập đoàn để về nhà. Bà vợ ngạc nhiên cho biết là từ cửa sổ bà chỉ trông thấy ông chứ không hề thấy đoàn thầy dòng đưa đám tang đâu cả! Vã lại, bà vợ nhận xét: đâu có đám tang nào lại tổ chức ban đêm!

Bà vợ nói xong thì cả hai vợ chồng cùng vỡ lẽ ra rằng:

– Đoàn thầy dòng đưa đám tang bí nhiệm ấy chắc hẳn là các Linh Hồn Luyện Ngục đáp lời khẩn cầu kêu xin cứu giúp. Các ngài đích thân tháp tùng ông về nhà bằng an.

Đó cũng là cử chỉ Các Linh Hồn bày tỏ lòng tri ân đối với những ai đọc kinh cầu cho các ngài.

… ”Lạy THIÊN CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (Thánh Vịnh 51(50) 3-9).

(”La Mia Messa”, 1 Ottobre 2010 – 31 Dicembre 2010, Anno IV/C, vol.IV, Casa Mariana Editrice, trang 211-212+247-248)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Anh chị Thụ & Mai gởi

Sức mạnh của lòng tin

 Sức mạnh của lòng tin

“Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” Chúa đáp : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này : ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em.”

Thứ Hai tuần thứ 32 Thường Niên: Lc 17, 1-6.
Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con
Tác giả Luca không nói rõ cho chúng ta biết điều gì đã khiến các Tông Đồ phải xin Chúa gia tăng lòng tin cho họ. Hình như họ đang phải đối diện với một nhiệm vụ gì khó khăn và quan trọng lắm, đòi hỏi họ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa chứ không cậy dựa vào sức riêng mình.

Trong thực tế, trực tiếp ngay trước lời xin này này là lời của Chúa Giêsu yêu cầu các đồ đệ của Ngài phải tha thứ không giới hạn cho anh em mình (Lc 17,3-4). Quả thực, nhiệm vụ tha thứ này là vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tình yêu, lòng bao dung và lòng tin mạnh mẽ. Các Tông Đồ ý thức về tính cách khó khăn, quan trọng và nghiêm túc của việc thực hiện yêu sách đó của Chúa Giêsu. Các ông ý thức về sự yếu đuối và thiếu lòng tin của mình.

Trong hoàn cảnh đó, thay vì thoái lui trước những yêu sách của Chúa Giêsu, các ông cầu xin Đức Chúa ban thêm lòng tin cho họ. Và quả thực, chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban sức mạnh cho chúng ta để chúng ta có thể sống đúng Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Như thế, các Tông Đồ trong bài Tin Mừng hôm nay đã nêu cho chúng ta một gương mẫu rất tốt lành. Hơn một lần chúng ta cảm thấy những nhiệm vụ mà chúng ta phải đảm nhiệm (trong gia đình, trong cộng đoàn, trong Hội Thánh và trong xã hội), những yêu sách của đời sống Kitô hữu, những đòi hỏi của Tin Mừng… là những điều vượt quá sức chúng ta. Hơn ai hết, chúng ta biết mình yếu đuối và giới hạn. Gương của các Tông Đồ trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta đừng buông xuôi hay thoái lui. Hãy chạy đến với Đức Chúa và khiêm hạ xin Ngài ban thêm lòng tin cho chúng ta. Đó là thái độ đúng đắn nhất.

Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải

Đáp lại lời xin của các Tông Đồ, Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (c.6). Cây dâu được nói đến ở đây là một loại cây lớn (có thể sống đến 600 năm) và có một bộ rễ cắm rất sâu dưới đất, nên không dễ gì bật rễ lên mà xuống mọc dưới biển được. Nói cách khác, sự đối nghịch quá lớn giữa hình ảnh một hạt cải rất nhỏ bé và hình ảnh cây dâu bật rễ mà xuống mọc dưới biển, cho thấy rất rõ tính cách vĩ đại của hiệu quả mà lòng tin có thể đem lại.

Điều Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây không phải là sự cần thiết phải có một lòng tin mạnh đủ để có thể làm được những sự lạ cả thể mà mọi người có thể thấy được. Nhưng Ngài muốn nhấn mạnh rằng lòng tin có thể giúp các đồ đệ thực hiện được những điều tưởng như không thể, hay nói cách khác, Ngài muốn các Tông đồ hiểu rằng không có gì là bất khả đối với lòng tin. Chúa Giêsu không muốn đòi hỏi các đồ đệ của ngài phải làm được những điều phi thường, nhưng Ngài muốn họ biết rằng một lòng tin cho dù vô cùng nhỏ bé, dẫu chỉ như hạt cải, miễn là lòng tin đích thực, sẽ luôn luôn có thể làm nên những điều tưởng như là không thể xảy ra.

Vậy, điều quan trọng không phải là độ lớn của lòng tin (điều mà các Tông Đồ đang bận tâm khi xin Chúa tăng thêm lòng tin cho họ) mà là phẩm chất chân thực của lòng tin đó. Lòng tin chân thật sẽ cho phép người ta hoàn toàn mở ra cho Thiên Chúa và để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình.

Sức mạnh và tính hữu hiệu của đời sống các Tông Đồ là thực tại đến từ chính Thiên Chúa và quyền năng của Người.

Đức tin có sức mạnh vô cùng to lớn và có thể giúp chúng ta thực hiện được những điều vốn bình thường là không thể xảy ra. Tại sao? Thưa: bởi lẽ khi tin, chúng ta đặt tất cả sức mạnh của mình nơi Thiên Chúa, hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và vào sức mạnh, quyền năng… của Người.

Vậy vấn đề không phải là lòng tin lớn đến đâu, mà là sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa được thực thi nơi người có lòng tin. Mà với Thiên Chúa thì không điều gì là bất khả.

Điều quan trọng là sự chân thực và thuần khiết của lòng tin. Miễn đó là lòng tin đích thực, thì cho dù chỉ lớn bằng hạt cải nhỏ bé, lòng tin đó vẫn có thể làm nên được những điều kỳ diệu, hay nói cho chính xác hơn, Thiên Chúa vẫn có thể thực hiện những kỳ công lớn lao không ngờ được nơi những con người có lòng tin chân thực đó.

Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện CSsR

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

linh-hon-luyen-nguc
Sự hiệp thông giữa các thánh gồm có tất cả những ai sống trên trái đất, các thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn dưới luyện ngục.  Ba Hội Thánh Chiến Đấu, Khải Hoàn, và Đau Khổ kết hợp thành một gia đình lớn, và hiệp thông với nhau một cách đặc biệt.  Vì thế, sự thống khổ và niềm vui của một người cũng là của tất cả mọi người.  Sự khải hoàn của các thánh, sự đau khổ của các linh hồn và sự thử thách của các người còn sống trên thế gian là điều kinh nghiệm của mọi người.  Khi chúng ta ở thế gian vui mừng khi nghĩ về các thánh, và buồn cho các linh hồn ở luyện ngục, thì các ngài, dù ở trên Trời hay còn ở luyện tội, cũng đều lo lắng cho số phận của chúng ta trên trần thế.  Các ngài thấy và biết rõ các nguy hiểm mà chúng ta đang sống.

Các linh hồn ở Luyện ngục tham dự vào niềm vui huynh đệ với các thánh trên Thiên Đàng, và họ cảm ơn các việc lành thánh mà chúng ta làm để dâng hiến cho họ được sớm giải thoát.  Họ xem chúng ta là những ân nhân của họ.  Khi từ lửa luyện ngục, họ nhìn lên Thiên Đàng và thấy các thánh đang hạnh phúc, thì họ nghĩ rằng một ngày nào đó, họ cũng sẽ được hạnh phúc như thế.  Các linh hồn ở Luyện ngục cũng biết rằng họ có các bạn hữu trên Thiên Đàng đang cầu bầu cho họ trước Ngai Tòa của Chúa.  Do đó, sự liên hệ đặc biệt giữa các linh hồn ở Luyện ngục, với nhân loại trên trần gian, và với các thánh nơi Thiên Đàng, không bị quên lãng.

Chúng ta đừng quên các Thiên Thần, vì dĩ nhiên, các ngài rất chăm sóc cho các linh hồn ở Luyện ngục.  Nhiều linh hồn phú thác cho các Thiên Thần của Chúa.  Các Thiên Thần cho rằng sứ mệnh của họ chưa chấm dứt cho đến khi nào họ đem được các linh hồn lên Thiên Đàng.  Toàn thể các Thiên Thần luôn chú ý đến những linh hồn khi còn sống mà biết tôn kính các ngài.

Nghi lễ cho ngày lễ kính Thánh Micae cho ta biết rằng ngài đã được Chúa chỉ định cho việc nhận các linh hồn vào Thiên Đàng, khi họ rời Luyện ngục.  Do đó, Thánh Micae như là một vị Hoàng tử của vương quốc thống khổ.  Ngài có lòng trắc ẩn với các linh hồn này, và Ngài tiếp tục cầu bầu cho các linh hồn ấy.

Thánh Frances thành Roma rất vui thích khi nói đến các Thiên Thần chăm lo cho mọi người trong suốt đời sống của họ.  Bà nói rằng: “Khi một người chết, tùy theo mức độ công trạng của họ, vị Thiên thần Bản mệnh dẫn đưa người ấy tới phần sâu của Luyện ngục, và ở lại bên phía tay phải của người ấy, trong khi ma quỷ ở phía tay trái người ấy.  Thiên Thần dâng lên Chúa Giêsu các lời cầu nguyện để cầu bầu cho linh hồn ấy được giảm bớt sự đau đớn.  Trong khi ấy, ma quỷ thì chịu sự điều khiển của Lucifer, nên bị hành hạ một cách đặc biệt vì không thể dụ dỗ linh hồn ấy vào Hỏa ngục.  Khi giờ đền tội của một linh hồn đã hoàn tất, người ấy được chuyển qua một nơi chốn cao hơn, và ma quỷ rời linh hồn ấy để trở về với đồng bọn của hắn, những tên ma quỷ khác sẽ chỉ trích hắn vì hắn đã thất bại trong việc dụ dỗ linh hồn ấy.

Như vậy, các Thiên Thần Bản Mệnh thăm viếng các linh hồn nơi Luyện ngục và cầu bầu cho họ trước Tòa Chúa.

Trong chuyến thăm viếng Luyện nguc dài 2 tiếng đồng hồ của Thánh Nữ Mary Magdalen Dei Pazzi, bà thánh đến thăm một nhà tù mà người ta phạm tội vì sự ngu dốt hay yếu kém, và bà thấy các Thiên Thần Bản Mệnh của các linh hồn ấy ở ngay bên cạnh họ để an ủi.
Thánh Nữ Margaret Mary Alacoque cũng vậy, trong khi bà bị bịnh, Thiên Thần Bản Mệnh của bà mời bà đến thăm Luyện ngục với Ngài.  Ngài đưa bà đến một nơi rộng lớn đầy những lửa và than đá.  Tại đó, Ngài cho bà thánh thấy rất nhiều linh hồn trong hình dáng con người, đang giơ tay ra để cầu xin lòng thương xót, và bên cạnh họ là các Thiên Thần Bản Mệnh đang an ủi họ với những lời yêu thương.
Các mặc khải trên đây đúng theo lời giảng dạy về Thần Học và hợp với đại đa số các Tiến sĩ Hội Thánh.  Các ngài nói rằng các Thiên Thần Bản Mệnh đưa các linh hồn vào Luyện ngục, và để cho họ liên lạc với chúng ta, linh hứng để ta cầu nguyện cho các linh hồn ấy, và rồi báo tin cho các linh hồn xem ai là người cầu bầu cho họ.  Khi thời kỳ đền tội đã hoàn tất, các Thiên thần đưa họ lên Thiên Đàng và đến với chúng ta để báo cho ta biết về sự giải phóng của họ.  Chúng ta đoan chắc rằng các Thiên Thần hành động như người trung gian giữa Luyện ngục và Trần gian.

Ngoài ra, các Thiên Thần còn là người trung gian giữa Luyện ngục và Thiên Đàng.  Chúng ta đã nhắc đến việc họ dâng lên Chúa các lời nguyện và sự hy sinh mà chúng ta dâng lên để cầu cho các linh hồn ở Luyện ngục, và các ngài đem những an ủi mà Chúa ban đến cho các linh hồn.

Mỗi khi Chúa hay Đức Mẹ Maria ngự xuống Luyện ngục thì đều có các Thiên thần bao quanh, sự huy hoàng và sáng láng của các Ngài đem lại nhiều an ủi và niềm vui cho các linh hồn ấy.  Nếu các Thiên Thần đã chăm sóc cho các linh hồn ấy khi ở trần gian, tại sao lại không chăm lo cho họ trong thời gian họ ở trong Luyện ngục chứ?

Để kết luận, và để hiểu rõ sự lưu tâm của các Thiên thần ở trong Luyện ngục, chúng tôi kể một câu chuyện do nhà văn Rossignoli kể trong tác phẩm của ông:

“Trong tu viện của Thánh Catherine ở vùng Naples, các tu sĩ có thói quen đạo đức là đọc kinh chiều cho các linh hồn vào mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ.  Như vậy, trước khi nghỉ ngơi, người tu sĩ có thể đem lại chút ủi an cho các linh hồn.  Một tối kia, các nữ tu vì quá mỏi mệt vì lao động mệt nhoài, nên họ không đọc kinh chiều cầu cho các linh hồn.  Do đó, một ca đoàn Thiên Thần từ Thiên Đàng đi xuống và bắt đầu đọc kinh chiều cho các linh hồn trong cung ca đoàn của tu viện.  Nhờ vậy, các linh hồn không lo buồn vì sự thiếu kinh nguyện.  Như vậy chúng ta có cần thêm chứng từ nữa không?”

Vậy chúng ta hãy luôn nhớ rằng niềm vui và hạnh phúc của các thánh, sự đau đớn và thống khổ của các linh hồn ở Luyện ngục và các thử thách và phiền muộn của các người đang sống ở thế gian đều hợp thông với nhau.  Các thánh ở trên Thiên Đàng rất cảm động khi nhìn thấy sự nguy hiểm mà loài người trên trần gian phải đi qua, và các ngài nhìn xuống Luyện ngục với lòng thương xót và trắc ẩn.  Họ cầu bầu cho các anh chị em của họ sớm hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng.  Còn các linh hồn thì cảm ơn các ân nhân ở trần gian, và ngước mắt lên trời để chiêm ngắm các thánh đang hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.  Họ vui mừng và đầy hy vọng khi biết rằng lời cầu bầu của các anh chị em trên trời cũng như trên thế gian sẽ giúp rút ngắn thời gian thống khổ.  Thật là một tương quan đẹp đẽ và thân thiện giữa Luyện ngục, Thiên Đàng và Trần gian, và đó chính là di sản quý báu và đẹp đẽ của Giáo hội Công giáo.

Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

Anh chị Thụ & Mai gởi