BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

Chúa Giêsu đã từng nói: “Được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, nào có ích gì”.  Thực vậy, có những người khi sống đã được cả thế gian, nhưng cuối đời họ đã đánh mất tất cả.  Mất cả danh dự.  Mất cả bổng lộc.  Mất cả người thân và cuối cùng là mất cả mạng sống.

Cuối năm 2006, toàn thể thế giới đều nghe nói về ba cái chết của ba nguyên thủ ba quốc gia.  Ba người ba cá tính, ba cung cách lãnh đạo khác nhau.  Trước cái chết của họ, có kẻ khóc, có người vui. Có kẻ ngậm ngùi thương tiếc, có kẻ khai rượu ăn mừng.  Điểm chung của họ là được cả thế gian nhưng rồi họ cũng ra đi tay trắng như bao người khác.

Người thứ nhất đó là tổng thống Chilê, Ausgusto Pinochê đã qua đời ngày 10/12/2006.  Ông đã cai trị nước Chi Lê từ năm 1973 đến 1990.  Các tổ chức nhân quyền của Chi Lê đã ước lượng dưới quyền thống trị của ông, có ít nhất 2,100 người bị xử tử vì lý do chính trị, hơn 1,100 tù nhân bị mất tích và khoảng 10,000 tù nhân bị tra tấn trong những trại tù bí mật ở trong nước.  Ông đã bị toà án quốc tế truy tố năm 1998 về tội diệt chủng.  Ngày an táng của ông, Đức Hồng Y Karmelic đã cầu xin Thiên Chúa “quên đi những lầm lỗi của Augusto Pinochê”.

Người thứ hai đó là tổng thống Geral Ford, tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ.  Ông đã an nghỉ vĩnh viễn vào ngày 26/12/2006.  Cuộc đời ông không có gì vẻ vang, không có chiến tích đánh đông dẹp tây, nhưng ông được nhìn nhận là người ôn hoà.  Ông đã có một hành động thật phi thường là tha thứ cho cựu tổng tống Nixon khỏi bị truy tố.  Ông đã nói rằng: Ông tha thứ cho Nixon vì quốc gia Hoa Kỳ chứ không phải vì bản thân Nixon.

Cuối cùng là cái chết của nhà độc tài Sadam Hussen, cựu tổng thống Iraq.  Ông đã bị kết án treo cổ tử hình vì tội giết người vô tội.  Ông là một người đã được trời ban cho mọi vinh hoa phú qúy trần gian, nhưng khi chết chỉ có một dây thòng lòng quốn quanh cổ.  Dù rằng, ông không chấp nhận bản án, không chấp nhận cái chết nhục nhã này, nhưng định mệnh đã lấy đi mạng sống của ông khỏi trần gian.

****************************************

Ba nhân vật này đã đi vào cái chết khác nhau.  Có người bình thản ra đi.  Có người ra đi nhưng vẫn ôm trong lòng những ray rức lương tâm.  Có người ra đi trong bất mãn tột cùng.  Và như vậy, cuộc đời chỉ có giá trị khi mình biết sống để phục vụ sự sống.  Cuộc đời sẽ bị người đời khinh chê nếu chỉ biết gieo vãi sự chết chóc và kinh hoàng.  Sự ra đi trong thanh thản bình an hay lo âu sợ hãi cũng tùy thuộc vào cuộc sống của chúng ta: nhân đức hay tội lỗi, công bình hay giả dối, hiền lành hay gian ác.

Cách đây hơn hai ngàn năm, trên đồi Golgôtha, có ba tử tội đã bị kết án tử hình trên thập tự giá.  Ba tử tội, tuy sinh không cùng năm nhưng lại chết cùng ngày, cùng tháng.  Ba tử tội đã đi vào cái chết thật khác nhau.

Người thứ nhất bên tả đã oán hận phận số của mình.  Cuộc đời của anh chỉ biết giết người và cướp của.  Cuộc đời anh chỉ lo gom góp cho bản thân, chỉ nhằm phục vụ bản thân, cuối cùng anh đã ra đi tay trắng trong uất hận đau thương.

Người thứ hai bên hữu đã đón nhận cái chết trong khiêm tốn, ăn năn. Anh đã hoang phí cuộc đời để chạy theo ảo ảnh trần gian. Thế nhưng, anh đã kịp ăn năn về cả một quá khứ lầm lạc.  Anh đã chấp nhận cái chết khổ hình như một hình phạt xứng với tội lỗi của mình.  Anh ra đi trong an bình của người biết sám hối ăn năn.

Ở chính giữa là thập giá Chúa Giêsu.  Chúa đi vào cái chết như của lễ đền tội cho nhân sinh. Chúa chấp nhận cái chết vì loài người và để cứu rỗi loài người.  Chúa đã chịu khổ hình không do lầm lỗi của mình mà vì vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Chúa đã chết vì tình yêu đối với nhân loại, đến nỗi đã trở thành khuôn mẫu cho mọi tình yêu.  Vì “không có tình yêu nào cao qúy hơn tình yêu dám chết thay cho bạn hữu”.

****************************************

Hôm nay thứ sáu tuần thánh, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu.  Khi mang thân phận của một con người như chúng ta, Chúa Giêsu đã sống một đời để phục vụ con người, và Ngài cũng đón nhận cái chết vì con người.  Thế nên, tình yêu của Ngài đã thành bất tử trên trần gian.  Thập giá không còn là nỗi ô nhục mà là một cuộc khải hoàn vinh quang.

Đó chính là sứ điệp ngày thứ sáu tuần thánh mà Chúa đang mời gọi chúng ta, muốn trở nên môn đệ của Chúa hãy vác khổ giá mà buớc theo Chúa.  Hãy sống một đời biết cho đi.  Hãy biết dùng khả năng của mình mà phục vụ sự sống cho đồng loại.  Và hãy biết hiến thân mình để đem lại hạnh phúc cho tha nhân, vì chưng: “được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”  Amen!

Trích từ Veritas

ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

  ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

Cv 10,34a.37-43; 1Cr 5,6b-8; Lc 24,13-35

Tác giả:  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự sống.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1.Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

 2.Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3.Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì  Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4.Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

 5.Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

+ TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Đan viện Châu Sơn – 2016

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

LM Giuse Phạm Thanh Liêm

DUC GIESU

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi đến thăm mồ Đức Giêsu, chị Maria Magdala phát hiện không có xác Đức Giêsu trong đó.  Chị cho rằng có ai đã lấy xác Đức Giêsu và quăng đi đâu đó, vì có lẽ chị không biết mồ nơi an táng Đức Giêsu là tài sản của ông Giuse Arimathia.  Chị chạy về báo tin cho các tông đồ, cụ thể là cho Phêrô và Gioan.  Hai môn đệ này tới, và cũng nhận thấy xác Đức Giêsu không còn trong mồ nữa.  Tin mừng Gioan cho thấy “người môn đệ đến trước,” đã thấy và đã tin (Ga 20:8); tuy nhiên tin mừng lại không cho thấy ông tin điều gì.  Theo tin mừng Maccô, không có tông đồ nào tin Đức Giêsu Phục Sinh khi các chị phụ nữ báo tin Đức Giêsu đã phục sinh (Mc 16:9-14).

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, khi các ông gặp gỡ Ngài.  Trong lần hiện ra đầu tiên cho các tông đồ, Thomas không ở đó nên không thấy, nên ông đã không tin Đức Giêsu phục sinh cho dù các tông đồ khác và các chị phụ nữ loan tin cho ông.  Tám ngày sau, khi Chúa Phục Sinh hiện ra với ông, ông mới tin.  Phục Sinh, là điều vượt trên kinh nghiệm bình thường của con người, nên các tông đồ không tin Đức Giêsu Phục Sinh, cũng là điều dễ hiểu.  Đã đành các tông đồ có kinh nghiệm người chết sống lại như trường hợp con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô, Lazarô em của Matta và Maria, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh khác với những người khác sống lại.  Ngài vẫn sống nhưng người ta không giữ Ngài lại được.  Ngài hiện ra và biến đi, không gì ngăn cản được Ngài.

Những người được Đức Giêsu phục sinh như Lazarô, con trai bà góa thành Naim, ai muốn gặp có thể tới để gặp họ.  Đức Giêsu Phục Sinh thì không như vậy.  Chỉ người nào Ngài muốn, người đó mới được gặp Ngài mà thôi.  Trong khoảng 40 ngày, các tông đồ còn có thể gặp Ngài (Cv 1:3); nhưng sau thời điểm này, không ai được diễm phúc gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh nữa.  Ai tin Ngài, là ngang qua những chứng nhân để tin vào Ngài.  Đức Giêsu Phục Sinh là một biến cố mà người ta phải tin để biết.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin.”  Bao nhiêu người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đều là những người được ơn đức tin.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân lớn lao.  “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không nhờ Thần Khí” (1Cor 12: 3).

Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một hành vi tự do.  Những lý chứng cho thấy Đức Giêsu Phục Sinh, không đạt được tính buộc người ta phải chấp nhận như luận chứng toán học 2+2=4.  Người ta vẫn tự do để tin Đức Giêsu Phục Sinh hay không.  Tin cũng là biết.  Hai anh chị yêu nhau, người này nói yêu người kia, và người kia cần tin.  Tin vào người khác, là một cách biết người đó.  Tin ai đó, cho rằng những điều người đó nói hay làm chứng là đúng, và nếu không tin thì không thể biết được vậy.

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, sau khi các ngài đã được thấy Đức Giêsu Phục Sinh.  Sau đó những ai tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đều phải tin qua lời chứng của các tông đồ.  Các tông đồ đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng rằng những gì các ngài nói là sự thật.  Từ ngữ tử đạo (martureô) có nghĩa là làm chứng.  Lời chứng đáng tin nhất, là lời chứng của người dám dùng chính mạng sống mình để bảo đảm rằng điều mình khẳng quyết là sự thật.  Tất cả các tông đồ đều tử đạo trừ tông đồ Gioan.

Không tin Đức Giêsu Phục Sinh, đây là điều bình thường.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một ơn vô cùng lớn.  Kitô hữu không ngạc nhiên khi người ta không tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Kitô hữu cũng biết rằng họ muốn người khác chia sẻ niềm tin với họ, là để người đó hạnh phúc hơn.  Tuy nhiên, đức tin là một hồng ân, là điều vượt khả năng của Kitô hữu.  Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban hồng ân ấy cho người ta.  Muốn tin Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu phải cầu xin Chúa ban ơn ấy cho người đó. Không phải vì người Kitô hữu giảng hay, dạy tốt mà người đó tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, không phải là chuyện con người có thể làm được.  Đó là hồng ân của Thánh Thần.

Để có thể đón nhận đức tin, để có thể biết như người của Thiên Chúa, người đó phải có đời sống có thể đón nhận đức tin.  Nếu một người có đời sống bất lương, nếu người đó chỉ tin vào mình, thì cũng khó có thể tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, đòi người đó phải đổi đời, phải có đời sống mới, phải sống lương thiện.  Không sẵn sàng đổi đời để thành người lương thiện, người đó sẽ tìm mọi cách để biện luận từ khước tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Kitô hữu không là những người mê tín, nhưng là những người ý thức mình được ơn đặc biệt.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân vô cùng lớn.  Niềm tin này làm Kitô hữu có cái nhìn mới về thế giới, về Thiên Chúa, và về con người.  Tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.  Và một khi biết Thiên Chúa yêu thương mình, mình có thể phó thác đời mình trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương mình vô cùng, Ngài sẵn sàng làm tất cả mọi sự để được mình.

LM Giuse Phạm Thanh Liêm

 

Lịch sử và ý nghĩa cuả nghi lễ Rửa Chân

Lịch sử và ý nghĩa cuả nghi lễ Rửa Chân

Những năm vừa qua, nhiều người đã bỡ ngỡ khi nhìn thấy ĐGH rửa chân cho tù nhân, cho phụ nữ và cho cả những người ngoại đạo nữa (một cô gái Hồi Giáo). Thế rồi năm nay một sắc lệnh đã ban ra là từ nay các giáo xứ có thể rưả chân cho phụ nữ, trẻ em vv…

GH RUA CHAN

Có ngươì đã than phiền rằng ĐGH đi quá đà, quá ‘cấp tiến’!

Căn cứ vào bài phúc âm được đọc trước nghi thức Rửa Chân, kể lại việc Chuá Giêsu rửa chân cho 12 môn đệ, thì rõ ràng là cha xứ, đại diện cho Chuá Giêsu, rửa chân cho 12 chức sắc quan trọng cuả giáo xứ, là đại diện cho 12 môn đệ!

Các môn đệ đều là đàn ông, cho nên một phụ nữ lạc lõng vào danh sách 12 vị này, thì khó coi làm sao!

Thực ra những than phiền đó, dù là được nói ra hay chỉ là thầm kín ở trong lòng, thì cũng chỉ là do ngộ nhận mà thôi, và có thể được giải toả nếu nhìn đến hai khía cạnh sau đây: ý nghĩa và lịch sử cuả nghi lễ Rưả Chân.

I- ý nghĩa.

Xã hội Việt Nam không có tục lệ rửa chân, và hầu như mọi người ngày nay không có ai còn nhớ về những lễ nghi trước năm 1955, là trong một thời gian dài khoảng 400 năm, nghi lể rửa chân đã bị tàn lụi. Năm 1955 Giáo Hội tái lập lại ‘nghi thức Rửa Chân’ với một hình thức là sau khi đọc bài Phúc âm cuả thánh Gioan (John 13:1-7 ), vị thày cả cửi áo choàng và rửa chân cho 12 người.

Cho nên chúng ta hiểu về nghi lễ rửa chân qua bài Phúc âm mà Chuá rửa chân cho 12 môn đệ, do đó dễ dàng nghĩ rằng nghi lễ mà các cha xứ cử hành là việc diễn lại sự tích rửa chân cuả Chuá.

Nhưng nghi lễ rửa chân không phải là việc ‘diễn lại một sự tích’!

***Chúng ta đều biết rằng trước giờ chiụ nạn, Chuá đã để lại cho các môn đệ 2 lệnh truyền. Lệnh truyền thứ hai nhưng lại cao trọng nhất là bí tích Thánh Thể “Này là Mình Ta…Này là Máu ta… Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

Nhưng trước đó Chuá đã ban cho một lệnh truyền khác, đó là sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Chuá nói “Các ngươi có hiểu ta đã làm gì cho các ngươi không? …Vậy nếu Ta là Thầy, là Chuá, mà đã rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng phải rửa chân cho nhau…”

Chuá nói “các ngươi cũng phải rửa chân cho nhau” chứ không nói “hãy diễn lại sự tích này” hay là hãy “thay mặt Ta mà làm việc này”.

Cho nên khi một vị linh mục rửa chân cho giáo dân, là chính vị linh mục đó thực hiện nghĩa cử bác ái yêu thương và nhân đức khiêm nhường, chứ không phải chỉ tạm thời đóng vai cuả Chuá qua một nghi lễ.

Nghĩ thấu đáo về ‘lệnh truyền’ ấy, thì mọi giáo dân cũng phải rửa chân cho nhau nữa. Có một số giáo phái Tin Lành đã làm như vậy.

Do đó ‘nghi lễ rửa chân’ không chỉ là rửa chân theo vẻ bề ngoài mà phải là ‘thi hành lệnh truyền cuả Chuá về đức bác ái, thương yêu và khiêm nhường’. Mà thực thế, sách Phụng Vụ cuả Giáo Hội không gọi nghi lễ này là ‘Rửa Chân’ như người Việt Nam ta, mà goị là ‘Mandatum,’ nghĩa là ‘thực hành điều Chuá ra lệnh’.

Nhưng để cho dễ hiểu, chúng tôi vẫn xin dùng từ ngữ quen thuộc là ‘Rửa Chân’ nhưng xin được hiểu hai chữ đó là ‘việc thực hành lệnh truyền cuả Chuá’ (Mandatum).

II lịch sử cuả Rửa Chân.

Có nhiều bằng chứng ghi chép về sự thực hành này ngay từ thuở sơ khai cuả lịch sử Giáo Hội, có bằng chứng là rõ ràng vì được ghi chép là ‘rửa chân’ nhưng cũng có những bằng chứng thuộc loại ‘gián tiếp’ , nghĩa là chúng ta phải giả sử là đúng vì không có cách giải thích nào khác hơn.

-Bằng chứng đầu tiên là trong Thư Thứ Nhất gửi cho Timothê, thánh Phao lô đề cập đến việc ‘rửa chân cho các thánh’ (ghi chú: Thánh Phaolô gọi các giáo hữu là thánh) khi giảng dậy về các nhân đức cuả các bà goá (cf. 1 Tim. 5:10). Chúng ta có thể kết luận rằng việc rửa chân đã được thực hiện như là một nhân đức, nhưng chưa phải là một nghi lễ, do đó không có ghi chép về nghi thức một cách rành mạch rõ ràng.

-Khoảng năm 381-384, một khách hành hương đến Jerusalem tên là Egeria đã ghi chép một ngày lễ đặc biệt tưởng niệm Bữa Tiệc Ly cuả Cộng đoàn Kitô hữu ở đây. Egeria cho biết việc tưởng niệm Bữa Tiệc Ly được tổ chức tới 3 lần trong một ngày, lần thứ nhất vào buổi sáng, lần thứ hai lúc 4g chiều, và lần thứ 3 lúc 7g tối. Một cách gián tiếp chúng ta có thể biết rằng việc ‘rửa chân’ là một sự việc rất quan trọng (vì cử hành làm một buổi lễ 4g chiều) trong ngày Thứ Năm Phục Sinh.

-15 năm sau đó lại có tài liệu cuả thánh Augustinô, đề cập đến 2 lễ nghi trong ngày Tiệc Ly (thư thứ nhất gửi cho Januarius). Thánh Augustinô viết rằng lễ thứ hai thì quan trọng hơn, vì là lễ Truyền Phép Thánh Thể sau bữa ăn tối. Tuy không nói rõ lễ thứ nhất có mục đích rửa chân nhưng chúng ta có thể ‘gián tiếp’ tin là việc rửa chân đã được thực hành trong lúc này.

-Sau Thánh Augustinô, thì có việc xuất bản hai cuốn sách Lễ goị là Armenian Sacramentary (in năm 450) và Capitulary of Wurzburg (in năm 675.) Cả hai cuốn sách lễ đã thay bài thánh kinh Thứ Năm Tuần Thánh từ Tin Mừng cuả Thánh Matthew thành tin mừng cuả Thánh Gioan (giống như ngày nay). Như vậy thì ‘lệnh truyền rửa chân’ đã được ‘nhấn mạnh’ thêm lên vì chúng ta đều biết rằng chỉ trong tin mừng cuả thánh Gioan mới có câu chuyện Chuá rửa chân cho các môn đệ.

-Vào năm 694, vua Egica cuả dân Visigoth đã triệu tập Công Đồng Toledo (ngày xưa các Công đồng đều do các hoàng đế triệu tập). Trong 8 điều luật mà công đồng tuyên bố thì có điều sau đây: “Việc rửa chân trong ngày lễ Tiệc Ly đã bị bỏ bê ở nhiều nơi, vậy từ nay phải được thực hiện lại ở khắp mọi nơi.” Điều luật trên cho thấy ‘tục lệ’ rửa chân vẫn là ‘hằng có,’ nhưng sự thực hành đang bị bê trễ, cho nên Công Đồng nhìn thấy nhu cầu cần phải ra lệnh bắt buộc.

Dầu sao thì cho tới đây, ‘Rửa Chân’ vẫn chỉ được coi là một tục lệ hay là một nhân đức chứ chưa được nâng lên thành một nghi lễ có nghi thức rành mạch rõ ràng. Phải đợi tới thế kỷ thứ 7 người ta mới tìm thấy những chứng cớ chắn chắn là việc Rửa Chân đã trở thành một nghi lễ.

-Vào thế kỷ thứ 7, thì cuốn luật có tên là “Roman Ordo in Coena Domini” (Luật La Mã trong lễ Tiệc Ly) có ghi chép những nghi thức cuả Giáo Hoàng rửa chân cho các người giúp lễ như thế nào.

Lúc này thì dòng Biển đức đã toả rộng ra khắp âu Châu, và có nhiều học giả đã cho rằng nghi thức Rửa Chân đã được hình thành theo cách thức cuả các dòng Biển đức.

Theo bộ luật dòng cuả thánh Biển đức (năm 529), thì người đan sĩ đang thi hành nhiệm vụ đầu bếp trong tuần nên thực hiện việc rửa chân cho các đan sĩ khác vào mỗi thứ Bảy; bộ luật cũng chỉ thị rằng vị đan viện trưởng và những vị đồng nhiệm cũng phải rửa chân cho những người được coi là khách. Việc rửa chân này là một nghi thức đạo đức và phải đi kèm với những lời kinh nguyện và những bài hát thánh thi, bởi vì, bộ luật nói thêm “chính ở nơi người khách mà Chúa Kitô được tôn vinh và được nhận ra”. (trích dẫn Bách Khoa Tự Diện Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) )

Sang đến thế kỷ thứ 8 thì có sự việc các nhà dòng Biển Đức ở bên Anh Quốc viết lại bộ luật lấy tên là Constitutions of Lanfranc of Canterbury, mục đích là để cho các việc thực hành ở bên Anh được ăn khớp với nhửng thực hành cuả các dòng Biển Đức ở bên đất liền (Pháp), nhờ có bộ luật này mà chúng ta biết thêm về những thực hành cuả việc Rửa Chân lúc đó như sau:

Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, một nhóm người nghèo sẽ được dẫn vào đan viện và đặt ngồi thành một hàng. Các đan sĩ sẽ đi vào đứng trước từng người một, còn vị đan viện trưởng thì đứng trước 2 người nghèo. Vị đan sĩ niên trưởng sẽ đập lên một thanh khắc 3 lần, và các đan sĩ sẽ quì gối xuống trước người nghèo, tuyên xưng việc Chuá Kitô đang hiện diện nơi họ. Rồi rửa chân cho họ, hôn chân, và lấy khăn lau khô. Sau cùng các đan sĩ sẽ gập mình xuống, khấu đầu vào chân người nghèo. Những người nghèo được dâng lên trà nước và được tặng 2 đồng bạc pences. Buổi lễ kết thúc với lời chúc lành cuả vị đan viện trưởng.

Nghi lễ Rửa Chân ở một đan viện vẫn chưa kết thúc ở đó, sau khi các người nghèo đi về rồi, các đan sĩ sẽ tụ họp trong nguyện đường để thực hiện một lễ rửa chân thứ hai. Vị đan viện trưởng và đan sĩ niên trưởng, mặc áo thô, sẽ quì trước từng đan sĩ mà rửa chân, lau khô và hôn chân họ. Sau đó hai vị đan viện trưởng và niên trưởng sẽ rửa chân cho nhau.

Việc rửa chân 2 lần như thế đã ảnh hưởng lên các nghi lễ áp dụng cho giáo hoàng. Từ thế kỷ thứ 11 cho tới thế kỷ thứ 14, sách lễ cuả giáo hoàng (Roman pontifical liturgy) ấn định 2 việc rửa chân, một cho giáo sĩ (clerical Mandatum) và một cho người nghèo (Mandatum of the poor). Trước tiên, vị giáo hoàng sẽ rửa chân cho các vị đồng tế (subdeacons) trong một buổi lễ công cộng, sau đó tại phủ giáo hoàng, ngài rửa chân cho 13 người nghèo trong một khung cảnh riêng tư.

Tới thế kỷ 15 thì không hiểu vì lý do gì, nghi thức rửa chân cho người nghèo không còn được đề cập đến nữa, nhưng tới năm 1600 thì sách lễ cuả giáo hoàng, được gọi là ‘Ceremoniale Episcoporum of 1600’ (Nghi lễ cuả Giáo Hoàng năm 1600) ấn định rằng từ nay có thể ‘tuỳ chọn’ 13 người nghèo hoặc là 13 giáo sĩ cho buổi lễ công cộng.

Có học giả cho rằng chính các đan sĩ Biển Đức đã cải biến tục lệ rửa chân trở thành một nghi lễ phụng vụ. Ông Boniface, sáng lập ra trang web Unam Sanctam Catholicam, lập luận rằng vì ảnh hưởng cuả dòng Biển đức lan toả ra khắp Châu Âu và họ có nhiều giám mục cũng như giáo hoàng nổi tiếng về văn học và biện luận, như thánh Augustino Canterbury và Thánh Giáo Hoàng Gregory I (còn gọi là Gregory the Great). Nhưng xin ghi nhận đây chỉ là một giả thuyết mà thôi.

-Nhưng dù lịch sử có như thế nào chăng nữa thì từ đầu thế kỷ thứ 8, năm 700, đã có tài liệu về ‘nghi lễ rửa chân’ áp dụng vào sách lễ giáo dân, nghĩa là không còn là một nghi lễ dành riêng cho Giáo Hoàng mà thôi, đó là hai cuốn sách Lễ tên là Gelasian Sacramentary và Gregorian Sacramentary, đều có nghi thức rửa chân trong Lễ Thứ Năm Tuần Thánh.

Nhưng dù được đưa vào sách lễ, lúc đó Giáo Hội vẫn cho phép các nơi được tuỳ chọn chứ không bắt buộc, do đó mà nghi thức ‘Rửa Chân’ (Mandatum) còn cần một thời gian nhiều thế kỷ nữa trước khi được phổ biến rộng rãi ra khắp mọi giáo xứ.

III Những áp dụng và lạm dụng

Trong nhiều thế kỷ, nghi lễ rửa chân đã gợi hứng cho nhiều triều đình cuả các nước Kitô giáo.

-Vua Robert II cuả nước Pháp (trị vì 996-1031) có lần thực hiện một lễ rửa chân cho 160 giáo sĩ.

-Nữ thánh Elizabeth cuả nước Hung Gia Lợi (nữ vương), mỗi năm rửa chân cho 12 người cuì.

      Nhưng ngoài những hành vi thánh thiện, cũng có những sự thực hành rửa chân chỉ mang tính cách phô trương mà thôi.

Tác giả James Monti trong cuốn sách The Week of Salvation đã diễn tả một cảnh huy hoàng cuả một lễ rửa chân trong triều Tây Ban Nha vào lúc gần tàn như sau (1874 – 1885):

Sau khi dự lể tại nguyện đường trong cung điện xong, vua và hoàng hậu ngự giá qua phòng đại sảnh có tên là Hall of Columns, thường là vào khoảng 2 giờ chiều. Vua Alfonso XII mặc áo đại triều với đầy đủ huân chương trong khi hoàng hâu Maria Christina với chiếc áo lông và áo choàng gợn sóng, một khăn phủ đầu trắng tuốt và vuơng niệm nạm kim cương chiếu sáng lóng lánh.

Ở giửa đại sảnh là hai cái thềm; một cái ngồi 12 ông lão nghèo, đã được nhà vua may cho áo mới; Trên chiếc thềm khác ngồi 12 bà lão, cũng trong những bộ áo mới do hoàng hậu ban cho.

Có một chiếc bàn thờ nhỏ với Thánh Giá và hai ngọn nến. Đức Giám Mục, chức vụ tổng giám mục vùng biển Indies, bước tới bàn thờ và đọc bài Phúc âm cuả Thánh Gioan, nói về việc Chuá rửa chân cho các môn đệ.

Sau phúc âm, người ta cột một dây lưng cho đức vua, một chiếc dây nạm vàng óng ánh để biểu hiệu cho chiếc khăn mà Chuá cột vào mình. Rồi đức vua bước lên thềm, với một người phụ tá bưng theo một chiếc bình vàng (đựng nước) và một thau vàng hứng nước. Vua bèn quì xuống trước từng ông lão, rửa chân, lau chân và hôn chân ông ta.

Cũng vậy, hoàng hậu cũng quì và rửa chân cho những bà nghèo. Người ta kể lại ngày xưa khi Nữ Hoàng Isabella II (trị vì 1833-1868) đã làm rớt một chiếc vòng ngọc xuống thau nước, và người phụ nữ được rửa chân đã vội vớt nó lên mà dâng lại, nhưng nữ hoàng nói :”Dơ bẩn dơ bẩn, giữ lấy nó đi, đó là điềm may mắn cuả bay.”

Sau đó nhà vua dẫn 12 lão già tới một chiếc bàn có dọn sẵn một bữa tiệc hải sản 15 món, có 15 loại tráng miệng và một hũ rượu. Cũng vậy hoàng hậu dẫn 12 lão bà tới một chiếc bàn khác và cũng đãi họ như nhà vua. Sau khi ăn xong, tất cả đồ ăn còn thừa, cùng với chén bát muỗng đĩa loại đắt tiền, được gói vào trong 24 cái giỏ lớn để cho mỗi người có thể mang về làm cuả, đồng thời mỗi người còn nhận được một túi tiền có 12 đồng vàng nữa.

IV Sự mai một và tái lập

Cũng vì những lạm dụng chỉ nhằm vào việc phô trương như thế mà Martin Luther đã cực lực chế nhạo đó là một hình thức giả hình. Rồi phong trào Thệ Phản ra đời, và như thế từ năm 1600 cho đến đầu thế kỷ 20 thì những nghi lễ rửa chân ‘tuỳ chọn’ dần dà bị người ta ‘tránh né’ đi. Tới năm 1900 thì hầu như không có giáo xứ nào còn cử hành nghi lễ này nữa.

Và Giáo Hội lại phải ‘tái lập’ nghi lễ đó vào năm 1955 như đã nói ở trên.

Tóm lại, qua ý nghiã và lịch sử cuả nghi thức Rửa Chân, đã không có khi nào mà những người được rửa chân được coi là đại diện cho các thánh tông đồ cả, và cũng chưa khi nào thể thức chỉ được dành riêng cho nam giới hay cho người có đạo mà thôi. Việc chúng ta rửa chân cho những người tù, người nghèo, đàn bà mang thai, phụ nữ Hồi Giáo vv… thì không có gì là ngược với giáo huấn cuả hội thánh hay ngược với ý nghĩa hoặc thể thức cuả ‘Lệnh Truyền’ cả, và như thế thì việc các giáo xứ chọn những người được rửa chân làm sao cho có sự phản ảnh cuả thành phần dân Chuá cũng là một sự hợp lẽ nên làm.

(Trần Mạnh Trác, VCN 21.03.2016)

Anh chị Thụ & Mai gởi

SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU THEO THÁNH GIOAN

SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU THEO THÁNH GIOAN

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHUA GIE SU

Mỗi năm vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh, giáo hội chúng ta đều đọc Sự thương khó của Chúa Giêsu theo thánh Gioan.  Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gioan viết sau các phúc âm khác, có lẽ khoảng bảy mươi năm sau khi Chúa Giêsu chết, các năm tháng này đã cho thánh Gioan nhiều thì giờ chiêm nghiệm về cái chết của Chúa Giêsu, nêu bật lên một số khía cạnh mà các phúc âm khác không nêu rõ bằng.  Những khía cạnh đặc biệt đó là gì?

Lời kể của thánh Gioan về cái chết của Chúa Giêsu nhấn mạnh đến cuộc xét xử.  Phần lớn tập trung vào cuộc xét xử chúa Giêsu và phán quyết cuối cùng là lên án tử hình.  Nhưng nó được viết một cách tài tình.  Gioan viết về cuộc xét xử Chúa Giêsu theo một cách mà, trong khi Chúa Giêsu là người đang bị xử tội, thì tất cả các người khác đều đang bị xét xử ngoại trừ Ngài.  Philatô đang bị xét xử, các nhà cầm quyền Do Thái đang bị xét xử, các vị tông đồ và môn đệ của Giêsu đang bị xét xử, đám đông đứng xem xử tội đang bị xét xử, và chúng ta những người nghe câu chuyện này bị xét xử.  Riêng một mình Chúa Giêsu là không bị xét xử, dù cuộc xử tội của Người là cuộc xử tội của mọi người khác.  Vì vậy mà khi Philatô hỏi Chúa Giêsu:  Sự thật là gì?  Thì sự im lặng của Chúa Giêsu đã đưa Philatô ra xét xử bằng cách ném lại sự im lặng cho chính ông, sự thật của chính ông.  Với chúng ta cũng vậy.

Tiếp theo, thánh Gioan nhấn mạnh vào thiên tính của Chúa Giêsu trong câu chuyện về sự Thương khó của Ngài.  Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gioan nhấn mạnh về sự hiện hữu trước của Chúa Giêsu với thiên tính của Người nhiều hơn là nhân tính.  Điều này soi sáng trong toàn bộ câu chuyện: Trong phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu dù đang bị đóng đinh trên thập giá nhưng Người luôn luôn chủ động.  Người không hề e sợ, không tỏ vẻ yếu đuối, mang thập giá của chính mình, chết một cách thanh thản và được chôn như một vị vua (với dầu thơm và dầu lô hội, áo liệm ướp hương nhu).  Giêsu của thánh Gioan không cần bất kỳ ông Simon vùng Cyrene nào mang giúp thánh giá, cũng không hề khóc lóc trong đau đớn và bị bỏ rơi.  Thánh Gioan viết sự Thương khó của Chúa từ góc độ thiên tính của Ngài.

Sau đó thánh Gioan sử dụng một số hình ảnh có tác động mạnh để giúp nhấn mạnh những điểm này.

Thánh nhân viết Giuđa và quân lính đến bắt giữ Giêsu mang theo “đèn lồng và đuốc.”  Người định nêu một nét khôi hài mạnh mẽ như sau:  Giêsu là ánh sáng của thế gian và không thể không nhận thấy nét khôi hài ở đây, những kẻ chống đối người, những kẻ đến tìm người mà phải tự dẫn đường bằng thứ ánh sáng nhân tạo yếu ớt – đèn lồng và đuốc.  Bên cạnh những điều khác, điều này cho thấy bọn họ yêu thích bóng tối hơn ánh sáng và họ biết những gì họ đang làm chỉ làm được ban đêm vì nếu làm dưới ánh sáng mặt trời, chuyện này sẽ bị phơi bày một cách nhục nhã.  Những thế lực chống đối Chúa cần phải có lớp che đậy là bóng đêm và ánh sáng nhân tạo.
Kế đó, vào cuối cuộc xét xử, Philatô đưa Giêsu ra trước đám đông và hỏi họ có muốn công nhận Người là vua của họ hay không.  Bọn họ đáp lại: “Chúng tôi không có vua nào, trừ Xêda!”  Về mặt lịch sử, đối với người theo đạo Do Thái, nói như vậy vào thời Chúa Giêsu giống như chối bỏ hy vọng của họ về Đấng Thiên Sai.  Điều này cũng đúng với chúng ta:  Bất cứ khi nào chúng ta không thừa nhận quyền năng của Chúa nơi con người đang bị đóng đinh trên thập giá kia, chúng ta đang chối bỏ hy vọng cứu rỗi của chính mình và công nhận quyền năng của thế gian này, đối với chúng ta, là thực tại sâu sắc nhất.

Ngoài ra, câu chuyện thương khó của thánh Gioan nhấn mạnh Chúa Giêsu bị kết án tử hình vào chính ngọ, chính cái giờ trước ngưỡng cửa của lễ Vượt Qua khi các thầy tư tế trong nhà thờ bắt đầu giết cừu tế lễ.  Rõ ràng có thể suy luận ra:  Giêsu chính là con cừu tế lễ thật sự đã chết để chịu tội.

Cuối cùng, trong câu chuyện về sự thương khó của thánh Gioan, sau khi Chúa Giêsu chết, binh lính đến và lấy mũi giáo đâm mạn sườn Người.  Ngay lập tức máu và nước chảy ra.  Đây là hình ảnh giàu ý nghĩa:  Trước hết, nó tượng trưng cho sự ra đời.  Khi đứa trẻ chào đời, máu và nước đều chảy ra.  Đối với thánh Gioan, cái chết của chúa Giêsu là sự chào đời của một điều gì đó mới mẻ trong đời sống chúng ta.  Đó là điều gì?

Các Kitô hữu đôi khi quá vội vàng coi hình ảnh này là ngụ ý về các bí tích của lễ Rửa Tội và Thánh Thể, dòng máu chảy là tượng trưng cho Thánh Thể và dòng nước tượng trưng cho Rửa Tội.  Có thể điều này thật sự có ý nghĩa, nhưng trước hết có một điều còn quan trọng căn bản hơn hình ảnh đó:  Máu tượng trưng cho dòng sự sống trong chúng ta.  Nước vừa xoa dịu cơn khát vừa rửa sạch bụi bặm khỏi thân thể chúng ta.  Điều mà thánh Gioan muốn nói qua hình ảnh này là những người chứng kiến cái chết của chúa Giêsu nhận ngay lập tức tình thương mà Giêsu đã thể hiện qua việc chết theo cách đó đã tạo ra một nguồn năng lượng và tự do mới trong cuộc đời của họ.  Họ cảm thấy vừa có một nguồn năng lượng vừa là một sự gột rửa, máu và nước, tuôn chảy từ cái chết của Giêsu.  Cốt yếu, họ cảm thấy một quyền năng chảy từ cái chết của người vào cuộc đời họ giúp họ sống bớt sợ hơn, ít mặc cảm tội lỗi hơn, nhiều niềm vui hơn, và nhiều ý nghĩa hơn.  Điều này vẫn còn đúng với chúng ta ngày nay.

Câu chuyện thương khó của thánh Gioan đem tất cả chúng ta ra xét xử và đưa ra một phán quyết giải phóng chúng ta khỏi những xiềng xích sâu xa nhất của mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

RỬA CHÂN

RUA CHAN

Trầm Thiên Thu

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm.

Rửa là hành động làm cho sạch.  Cái gì cũng phải rửa mới sạch, thân xác cần được rửa đã đành, chính tâm hồn cũng cần được rửa để làm sạch những “vết nhơ.”

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ).  Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ.  Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ.  Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.”  Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ.”

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa.  Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay.”  Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.

Rửa Chân Là Yêu Thương

Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian.  Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm.  Rửa chân người khác là hành động yêu thương.  Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu.  Người rửa chân là “người thực hành yêu thương,” còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8).  Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10).  Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận.  Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4:12).  Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa.  Chết vì yêu là sống trong tình yêu.” Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu.  Quá ngược đời, và lạ thật!  Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.

Rửa Chân Là Khiêm Nhường

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường.  Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức.  Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng.  Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài.  Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại.  Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước.  Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân.  Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc, nhưng thật là dễ thương!

ĐGH Phanxicô, lúc còn là Hồng y Bergoglio TGM của TGP Buenos Aires, ngài cũng đã rửa chân và hôn chân người được rửa.  Một biểu hiện của đức khiêm nhường và tôn trọng nhân vị của người khác.  Ngài chỉ thở bằng một lá phổi từ hồi thiếu niên, nhưng ngài vẫn khỏe mạnh vì lá phổi đó hít thở không-khí-yêu-thương của Đức Kitô.  Ngài sống giản dị, thương người nghèo, tự nấu ăn và không có xe đưa rước, sống cầu nguyện, điều đó cho thấy ngài là một người thánh thiện.

Ngày nay khó tìm được những linh mục, giám mục và hồng y sống khó nghèo như vậy.  Không can đảm thì không thể sống nghèo và sống phục vụ trong yêu thương!  ĐGH Phanxicô đã và đang làm gương cho mọi người là HÀNH ĐỘNG chứ không NÓI SUÔNG, nhất là đối với những người Công giáo, và đặc biệt là đối với các giáo sĩ.

Rửa Chân Là Phục Vụ

Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác.  Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26).  Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ.  Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều.”  Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực.”

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình.  Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ.  Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.  Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.  Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất.  Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân.  Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.  Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai?  Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22:24-27).

Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau.  Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ.  Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”  Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”  Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”  Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”  Sợ không được chung phần, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa.”  Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch.”  Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”

Rửa Chân Là Tha Thứ

Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ.  Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác.  Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ.  Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng.  Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt.  Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21).  Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22).  Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27).  Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần.  Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “khá” lắm rồi, ai dè…!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa.  Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch.  Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ cho nhau như Con Một Ngài.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con.  Amen.

  Trầm Thiên Thu

CHA PIO NĂM DẤU VÀ PHÉP GIẢI TỘI

 CHA PIO NĂM DẤU VÀ PHÉP GIẢI TỘI

Giải tội cho người thập phương:

Ngài giải tội tùy theo tình trạng mỗi tâm hồn, chỉ cốt sao cho họ thành thực, được ơn tha thứ và cải thiện đời sống, nên nhiều khi ngài có những cư xử khác thường:

CHA PIO NAM DAU

1/ Một người viết báo ở Rôma kể: Trước khi cha Piô ban phép giải tội, ngài nói với tôi cách gắt gỏng là hãy cẩn thận với vài khuyết điểm. Lời ngài nói như xuyên qua linh hồn tôi. Trong một dịp khác, ngài vạch rõ những khuyết điểm ăn sâu trong lòng, và tôi dần dà cải đổi. Lần thứ ba, ngài hỏi: từ bấy lâu nay có xưng tội không? Tôi mỉm cười và trả lời tự tin: Ngày nào con cũng dự lễ và rước lễ mà. Cha Piô nhăn mặt và gay gắt nói:
– Con đến đây để xưng tội chứ không để ca ngợi mình. Thế con có nóng giận với các em gái con không?
– Dạ có.
– Đó là điều con phải xưng. Và đừng làm thế nữa.

2/ Một bà kia xưng tội phạm đức trong sạch. Bà biết rõ khi trở về bà sẽ bị cám dỗ và sa ngã lại. Cha Piô từ chối ban phép giải tội. Lần sau bà đến nữa, ngài cũng không giải tội. Lần thứ 5, khi xếp hàng, bà nghĩ: Tôi thà chết không phạm tội này nữa. Khi bà xưng, cha Piô lắng nghe, và ngài đã ban phép giải tội cho bà. Ngài biết được nội tâm người ta.

3/ Một bà khác xưng rằng:
– Con đọc sách báo xấu.
– Con có xưng tội này rồi phải không?
– Dạ phải.
– Cha giải tội nói gì với con?
– Cha giải tội bảo con không được phạm tội này nữa.
– Không nói một lời, cha Piô đóng sầm cửa sổ, quay sang giải tội cho người bên kia. Người phụ nữ ấy khóc lóc và đi xưng tội với một linh mục khác, sau đó rước lễ từ tay cha Piô. Trước khi ra về bà khóc lóc, nói: “Tôi muốn đốt hết tất cả những sách báo xấu xa trên toàn thế giới”.
Cha Piô thật hài lòng, ngài muốn tội nhân thay đổi khi ra khỏi tòa giải tội.

4/ Ngày kia, có một anh thanh niên đến xin xưng tội với cha Piô. Ngài nhìn anh với đôi mắt nghiêm nghị, ngài la lên “đồ con heo!”. Mọi người quay về phía anh, thật nhục nhã, anh ta vội vả rời phòng giải tội. Một linh mục kinh ngạc, đăm đăm nhìn cha, nói:
– Sao cha dùng những lời lẽ thậm tệ đến thế?
– Cha Piô nhún vai: nếu tôi không la vào mặt hắn, hắn sẽ phải án phạt đời đời. Hắn sống với vợ lẽ, và đây là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Sự nhục nhã đó có lợi cho hắn, vài ngày nữa hắn sẽ trở lại. Nếu tôi ban phép giải tội cho hắn bây giờ, hắn sẽ không sám hối và không sửa đổi.
Anh ta đã không thể ngủ nghỉ, ăn uống khi nghĩ tới mối liên hệ bất chính. Anh ta đã trở lại, quì gối xuống ăn năn khóc lóc trước mặt cha Piô. Ngài cúi xuống khoác tay lên người anh, ngài ôn tồn nói:
– Con thấy không, bây giờ Chúa Cứu Thế rất hài lòng về con.

5/ Một hôm, ngài đang nói chuyện với một bà có ông chồng vừa qua đời. Trước đây chồng bà đã bỏ bà và 2 con nhỏ để sống với một phụ nữ khác trong 3 năm. Bất thình lình ông bị bệnh ung thư. Trước khi ông chết, bà vợ này khẩn khoản xin ông lãnh nhận các Bí tích cuối cùng. Ông nhận lời.
Người đàn bà nhỏ nhắn và đơn sơ này đưa tay sửa lại chiếc khăn vuông trên đầu và hỏi cha Piô:
– Thưa cha, linh hồn chồng con bây giờ ở đâu?
– Cha Piô nhìn bà ta với đôi mắt lo ngại. Hình như ngài cảm được nỗi buồn phiền trong tâm hồn của bà, Ngài nói khẽ:
– Linh hồn chồng bà đã bị án phạt đời đời.
Người đàn bà lắc đầu khổ sở, nước mắt tuôn tràn.
Cha Piô nói tiếp cách buồn bã:
– Khi nhận các Bí tích sau cùng, ông ta đã giấu nhiều tội. Ông không ăn ăn hối hận, cũng không quyết tâm chừa cải. Ông vẫn là tội nhân đối với lòng thương xót Chúa, vì ông muốn hưởng hết lợi lộc của cõi đời này, rồi sau đó mới quay về ăn năn, thống hối…, nhưng không còn thì giờ cho ông nữa!.
Trước khi bà ra về, ngài hết sức an ủi bà, nhưng suốt ngày những điều ấy chờn vờn trong tâm trí ngài, vì một người đã bị hư mất.
(Cuộc đời Cha Piô, Người Tín Hữu xb, 2000, trang 188).

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

Cô Ann Thomas kể lại câu chuyện sau đây:

Hôm đó, cô và Betty ghé vào một sạp bán đồ cũ. Ann vừa lôi ra một khay đồ linh tinh, Betty bước tới hỏi:

– Cô có đồ gì đáng giá không?

Ann trả lời:

– Không toàn là đồ năm vố thôi.

Đoạn cô bước sang bên cạnh nhường cho Betty vào xem. Betty chăm chú nhìn vào đống lặt vặt, nhặt lên một cây thập giá cũ han gỉ và nói:

Thật khó mà tin được. Tôi đã tìm được đồ quí: cây thánh giá này làm bằng chất bạc xưa.

Cô bạn của Ann đem về nhà lau chùi và đánh bóng cây thập giá. Đây quả là một vật quí.

Về sau, đứa con trai bảy tuổi của Betty tên Bobby cầm cây thập giá lên ngắm nghía hồi lâu. Bỗng nhiên cậu bé oà lên khóc. Betty liền hỏi:

– Con sao vậy?

Bobby nói:

– Con không cầm lòng được khi thấy Chúa Giêsu bị treo trên thập giá.

***

Ba người nhìn vào cây thập giá, có ba thái độ khác nhau: một người dửng dưng cho là đồ ve chai, người khác thích thú vì khám phá ra vật quí, còn người khác nữa lại xúc động rơi lệ vì nhận ra Đức Giêsu chịu đau đớn trên thập giá.

Tin Mừng hôm nay kể, Đức Giêsu bất thần hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gioian Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại”. Nhưng Người lại muốn biết suy nghĩ của chính họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Và chỉ một mình Phêrô mau mắn, đầy xác tín thưa: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9:18-20).

Phêrô trả lời quá chính xác, các môn đệ khác thở phào nhẹ nhõm vì các ông còn mơ hồ không biết Thầy là ai. Nhưng Đức Giêsu phải xác định ngay rằng Đấng Kitô đây không phải là vị vua chiến thắng muôn nước, bá chủ muôn dân, khôi phục nước Israel, giải phóng nô lệ Rôma như họ vẫn nghĩ. “Đấng Kitô của Thiên Chúa” sẽ là vị vua chiến thắng tử thần, chinh phục các tâm hồn, khôi phục quyền làm con Chúa, và giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỉ.

Tuy nhiên, con đường đi đến chiến thắng lại là con đường đau khổ, con đường thập giá: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại” (Lc 9,22). Tất cả những ai muốn làm môn đệ Người, không thể đi con đường nào khác: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Thập giá tuy là một khí cụ độc ác và ô nhục mà con người đã nghĩ ra để hành hạ kẻ khác, nhưng Đức Giêsu lại biến nó thành dấu chứng của tình yêu: Tình yêu vâng phục thánh ý Cha và tình yêu dâng hiến cho nhân loại. Khi nhìn lên thập giá, chúng ta không ngừng nghe vang vọng lời yêu thương ấy. Chính tình yêu đã biến thập giá trở nên nhẹ nhàng, và khổ đau thành nỗi hân hoan.

Chúa đã chết thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta không xứng đáng ơn cao cả ấy, tại sao chúng ta lại không dám chết cho chính mình, từ bỏ tội lỗi để bước theo chân Người? Chúa đã sẵn lòng chịu mọi đau khổ cực hình thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta ngàn lần bất xứng, tại sao chúng ta lại từ chối hy sinh cho anh em, đang cần sự nâng đỡ ủi an?

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”, xin ban cho chúng con ơn can đảm, để chúng con luôn sẵn lòng bỏ mình cho tình yêu. Xin cho chúng con tìm được niềm vui khi đón nhận mọi gian nan thử thách Chúa gởi đến trên đường đời. Amen!

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

Trần Duy Nhiên

Nếu bạn hỏi mười người xem, ngoài Ðức Mẹ, vị thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có sáu đến bảy người sẽ nói rằng đó là thánh Giuse.

GIUSE

Nhưng nếu đề nghị họ kể bạn nghe những điều thánh Giuse đã làm, thì rất ít người có thể nói một cái gì mới lạ: họ sẽ bảo rằng thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu, hoặc kể vài chuyện truyền kỳ về ngài mà ta không biết đúng sai đến độ nào: ví dụ như câu chuyện chàng thanh niên Giuse được chọn làm hôn phu của cô Maria vì cây gậy của chàng trổ hoa…

Ta hãy trở lại Kinh Thánh để xem các tác giả viết gì về thánh Giuse.

Thánh Mat-thêu giới thiệu như sau: “Bà Maria, thân mẫu của Ðức Giêsu, đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên định bỏ bà kín đáo.  Ông tính làm như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về…” Thức giấc, ông Giuse vâng theo sứ thần Chúa dạy, rước vợ mình về nhà.” (Mt 1, 18-24)

Bạn thuộc đoạn văn trên nằm lòng đến độ tôi rất ngại ngùng khi phải chép lại.  Mọi chuyện đã rõ:  Thánh Giuse có do dự đấy, nhưng thiên sứ đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy, đúng với “chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa”

Mọi chuyện có thực sự xảy ra dễ dàng như thế không?

Tôi không chắc đâu.

Hình ảnh thánh Giuse luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi, một người cha nhân lành và không biết thế nào là đam mê của tuổi trẻ.

Xin bạn nhớ cho: Cô Maria lúc ấy là một thiếu nữ vào độ tuổi 15-17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già.  Chàng Giuse lúc bấy giờ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi.  Chàng và Maria yêu nhau thắm thiết.  Cặp tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn.  Giuse thật hạnh phúc và bình an: Một người như Maria thì không thể có gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai họ bị đe dọa.

Thế mà đùng một cái: Người hôn thê thánh thiện của chàng lại mang thai!  Giuse có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không thể hình dung nổi một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế!

Thế nhưng, sự việc đã hiển nhiên như vậy đó.  Dù vậy, tự thâm sâu, tình yêu của Giuse vẫn trỗi vượt.  Ông không hề quay lại bản thân để cảm thấy mình bị lừa dối, bị xúc phạm, mà chỉ hướng về người yêu để tiếp tục tin rằng người hôn thê mình trong sạch vẹn tuyền.  Ông không hề tra hỏi dằn xé Maria một lời.  Ông im lặng ôm lấy nỗi đau và âm thầm trả Maria về với bí mật của cô.

Bạn sẽ bảo rằng tình yêu này đã được tưởng thưởng, bởi vì sau đó, sứ thần đã đến trình bày mọi sự.  Bạn có đi quá xa thực tế chăng?

Kinh Thánh ghi rõ: “Sứ thần đến báo mộng…”  Bạn thử sống lại hoàn cảnh của Giuse lúc ấy xem.  Bạn có một người hôn thê, bỗng nàng có mang, bạn nằm mộng thấy thiên thần bảo rằng hôn thê mình chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào và bào thai trong lòng là do phép lạ Thiên Chúa.  Khi thức giấc, bạn có tin không?  Tôi thì dứt khoát không.

Thế mà Giuse đã làm gì nào?  “Thức giấc, Giuse vâng theo sứ thần, rước vợ mình về nhà.”  Ðơn giản chỉ có thế.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Vâng, thế đấy.  Giuse vâng phục thánh ý Chúa một cách chóng vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý.  Ông chỉ cần một dấu hiệu cỏn con là đọc được thánh ý Chúa và thực thi ngay lập tức:  Đó là lý do mà ông được gọi là “người công chính.”

Còn bạn và tôi thì sao?

Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng?  Chúng ta có sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa qua một dấu hiệu thật nhỏ và tuân theo mà không bàn cãi chăng?  Hay chúng ta chờ đợi những phép lạ nhãn tiền và sau đó, lý luận, mặc cả trước khi hành động?

Người công chính” Giuse suốt đời là một người luôn thức tỉnh trước thánh ý Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ.  Bằng chứng?  Bằng chứng là mỗi lần Chúa tỏ ý, là mỗi lần ông nằm mộng.

Ngoài lần nằm mộng ở Nazaret, thì ít nhất còn ba lần khác:

– Ở Bêlem: Sứ thần đến với ông Giuse báo mộng rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi trốn sang Ai-cập… (Mt 2, 3)

– Ở Ai-cập: Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse ở bên Ai-cập, bảo rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi về Israel… (Mt 2, 19)

– Ở Giuđê: Khi biết Akêlao thay Hêrôđê thì ông sợ, thế là theo như lời Thiên Chúa báo mộng, ông lánh sang vùng Galilê (Mt 2, 23)

Sở dĩ Giuse xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là thánh ý Chúa, ấy là vì cứ mỗi lần nằm mộng, là mỗi lần ông phải quyết định ngược lại với mọi toan tính của mình.

Khi ông dự định âm thầm rời bỏ Maria thì Thiên Chúa bảo ông ở lại với hôn thê mình.

Ngược lại, khi ba vị đạo sĩ đến xác nhận vương quyền của Hài nhi và hẳn là người cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ có thể thoải mái ở lại Bêlem cho đến khi con mạnh mẹ khỏe, thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay, giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc; không phải về quê nhà, mà sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày.  Ông nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm, mà vợ yếu con sơ?  Ông nghĩ gì khi ngày mai, ở xứ lạ quê người, tương lai ông cũng tối đen như trời khuya hôm ấy?

Thánh Kinh nói rất gọn: “Giuse chỗi dậy, đem Hài nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2, 13).  Lại thật đơn giản.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Sau những ngày đầu khó khăn ở Ai-cập, giờ đây, Giuse hẳn đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình.  Thế nhưng, một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi.  Ông nghĩ gì khi nhìn lại cơ ngơi mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng?  Ông nghĩ gì khi nhìn về cái quê hương đã muốn giết hại con mình, rồi giờ này ông lại phải trở về mà không biết sẽ cư ngụ nơi đâu?  Nhưng Giuse vẫn là Giuse. “Giuse chỗi dậy đem Hài nhi và Mẹ về đất Israel” (Mt 2, 21).  Cũng lại đơn giản đến độ vô lý.

Tất cả những truân chuyên mà Giuse gánh chịu, rốt cuộc để làm gì?  Phải chăng vì lợi ích bản thân?  Tuyệt nhiên là không.  Tất cả là để bảo vệ Hài nhi, mà có lần trong mộng, ai đó đã bảo rằng Hài nhi ấy sẽ là vị cứu tinh dân tộc.  Giuse không bao giờ đặt lại vấn đề.  Không bao giờ ông cho rằng con trẻ gây cho ông quá nhiều rắc rối.  Ông chỉ một mực canh giữ con trẻ, người con do Thánh Thần, trong mọi toan tính hằng ngày.

Bạn và tôi có sẵn sàng trả giá để cho Chúa Giêsu luôn mãi sống trong mình chăng?  Hay nhiều khi quá mệt mỏi, ta chỉ muốn yên thân lo toan chuyện của mình và bỏ mặc dung mạo Chúa Giêsu ra thế nào thì ra?

Giuse đã trả mọi giá để giữ gìn Giêsu, nhưng đôi khi sức người cũng có hạn.  Trong chuyến đi Giêrusalem, năm con trẻ 12 tuổi, ông đã để Giêsu vuột khỏi tầm tay.  Ba ngày ròng, ông kiếm tìm.  Ba ngày ròng, ông bà “đau khổ tìm con”.  Và khi tìm thấy thì ông được gì?  Một gáo nước lạnh tạt vào mặt: “Sao lại phải tìm con? Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).

Cậu bé ấy khi ra đời, chỉ là một hài nhi nằm gọn trong máng cỏ.  Mười hai năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn thế này.  Mười hai năm trời yêu thương để thêm da thêm thịt cho cậu thành một thiếu niên nặng cân như thế.  Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao nhiêu tình thương, cậu mới được như ngày hôm nay…!  Thế mà gặp một câu trả lời…!  Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn đón nhận lặng thinh.

Và đấy cũng là chiều kích bất ngờ của thánh Giuse.  Trong suốt bốn cuốn Tin Mừng, không thấy ghi lại một câu nói nào của thánh Giuse.  Ðức Maria được xem là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Người luôn ghi nhận và suy niệm trong lòng, thế nhưng cũng có 6 lần, Người lên tiếng.  (2 lần ngày truyền tin, 1 lần trước Ysave, 1 lần khi tìm lại trẻ Giêsu, 2 lần trong tiệc cưới Cana).  Còn thánh Giuse thì tuyệt đối không hề nói một lời.  Ngay cả lần tìm lại con ở đền thờ, thì cũng chính người mẹ lên tiếng: “Sao con lại làm như thế, cha con và mẹ đã đau khổ tìm con” (Lc 2, 48)

Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, phụ nữ là hạng người không đáng kể.  Phúc âm thánh Mat-thêu ghi lại hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5000 người, không kể đàn bà và trẻ con, lần thứ hai 4000 người, không kể đàn bà và trẻ con (x. Mt 14, 21; 15, 38).  Giuse biết mình là chủ gia đình, nhưng người lên tiếng, vẫn là Maria.

Giuse sống cuộc sống càng ngày càng mờ để cho Ðức Giêsu càng ngày càng sáng.  Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong thị trấn Nazaret không buồn nhớ đến tên ông, mà chỉ gọi là “ông thợ mộc.”

Theo thánh Mat-thêu và Mac-cô, khi Ðức Giêsu trở về Nazaret sau những ngày rao giảng, người đồng hương bàn tán: “Ông ấy không phải là con ông thợ mộc và bà Maria sao?” (Mt 13, 55; Mc 6, 3).  Sau này, khi viết lại Phúc âm, thánh Luca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã sửa lại: “Ông ấy không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 23).

Dù sao đi nữa, sự âm thầm của Giuse quả là một đặc trưng của thánh nhân.  Âm thầm đến độ mà khi Ðức Giêsu bắt đầu lên tiếng trong đời sống công khai, thì Giuse không còn được nhắc đến mảy may; thậm chí thánh nhân chết lúc nào, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai nói đến.  Trong cuộc đời công khai của Chúa thì thánh Giuse, người cha của Ðức Giêsu, có vẻ như bị xem nhẹ hơn cả bà gia của Phêrô hay đứa con gái của Zairô.

Nhưng chính điều đó đã biến thánh Giuse thành một vị đại thánh, bởi vì ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Gioan Tẩy giả đã khiêm tốn rao giảng: “Chúa phải lớn lên và tôi phải nhỏ lại.”  Thánh Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.

Tiếng “xin vâng” của Ðức Mẹ ở Nazaret và tiếng “xin vâng” của Chúa Giêsu ở Getsêmani đã được hòa âm trong trọn cuộc đời thánh Giuse.

Và Thánh Giuse sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.

Tấm gương của một con người luôn luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa, và khi nghe được thì đáp lại không chần chừ, dù cho phải trả giá.

Tấm gương của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách để gìn giữ Chúa với mình, và nếu chẳng may lạc nhau thì đi tìm Chúa không ngơi nghỉ cho đến khi gặp lại.

Tấm gương của một người “công chính,” chỉ làm có mỗi một điều là trình bày Chúa Giêsu cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa bắt đầu lên tiếng với các linh hồn.

Trần Duy Nhiên

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

R. Veritas

Một người đàn ông sau những ngày đắm chìm trong sự cô đơn và thất vọng đã quyết định thắt cổ tự tử. Sau khi đã thắt dây thòng lọng quanh cổ và cột dây vô một cành cây. Ông nhảy vội từ cành cây xuống và nói:

– Tạm biệt thế giới tàn ác, buồn thảm và xấu xa này.

Tuy nhiên sợi dây bị đứt và ông té xuống đất mà vẫn sống như thường. Bực quá, ông về nhà lấy khẩu súng lục và bắn xuyên qua trán, nhưng cò súng gẫy và súng cũng chẳng nổ được. Người đàn ông vẫn khăng khăng không chịu thôi. Ông chạy xuống bếp và lấy con dao chặt cánh tay mình, nhưng ông rất ngạc nhiên vì dao cùn quá nên da ông cũng không đứt. Quá giận dữ, ông quyết định đi mua thuốc độc. Ông chạy ào ra đường và dừng lại một lúc bên vệ đường. Tên qủy từ đầu đến giờ vẫn theo đuổi người đàn ông sung sướng lắm và thì thầm thúc giục ông:

– Sao lâu thế? Lẹ lên! Hãy mua thuốc độc và uống đi! Ta sắp sửa lấy được mạng của ngươi rồi.

Người đàn ông lập tức trả lời tên quỷ:

– Sao mày ngu thế? Mày đui à? Hàng loạt xe nối tiếp nhau đang chạy như bay, tao băng qua bây giờ thì chết làm sao?

***

Sống trên cõi đời, thế nào cũng có lúc ta cảm thấy cô đơn. Sự cô đơn rất dễ làm cho chúng ta buông thả và có thái độ tiêu cực. Thường thì sự cô đơn sẽ dẫn đến một tâm trạng buồn tủi. Hơn nữa, nếu ta cứ để mặc cho nỗi buồn cuốn ta đi thì sức mạnh của nó sẽ tăng lên cấp số nhân và tàn phá tâm hồn ta đến tan nát, nó rút hết nhuệ khí của ta và làm cho ta trở nên kiệt quệ.

Cô đơn trong nỗi đau sẽ dẫn ta đến sự cô độc. Chính nỗi buồn và sự cô đơn đã đưa người đàn ông trong câu chuyện trên đây đi đến quyết định đầy tiêu cực là tìm đến cái chết bằng bất cứ giá nào. Chỉ có cách duy nhất giúp ta thoát khỏi những nỗi cô đơn và những hệ quả tiêu cực là chúng ta hãy dừng lại để suy nghĩ về những giá trị của con người và của cuộc sống.

Như chúng ta quan sát thấy trong câu chuyện vui trên, chỉ một chút dừng lại bên vệ đường cũng đủ làm cho người đàn ông trên nhận ra rằng dù sao cuộc sống vẫn còn đáng sống, cuộc sống tự nó vẫn có giá trị. Hơn nữa, là người Kitô, chúng ta còn có mẫu gương của Chúa để chiến thắng và thách thức sự cô đơn. Người biết đi vào trong thinh lặng để trở về với Thiên Chúa Cha, để lắng nghe, để xác nhận sứ mạng được Chúa Cha trao phó là chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người vào trần gian:

“Lạy Cha, xn hãy cất lấy chén này khỏi con, nhưng xin đừng theo ý riêng con mà vâng theo ý Cha mà thôi”.

Chúa Giêsu luôn hướng về Cha, vì Người biết rằng trong mọi hoàn cảnh, mọi thăng trầm và mọi đảo điên của cuộc sống chỉ có ý của Thiên Chúa Cha mới giải thoát Người. Nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đều nhằm thực hiện thánh ý Chúa Cha. Vậy, bằng hết khả năng của mình, chúng ta hãy sống cho trọn vẹn những giá trị cao đẹp của con người với ý thức rõ ràng về sứ mạng lãnh nhận từ Chúa, với quyết tâm thực hiện thánh ý Chúa trong mọi sự.

Chắc hẳn có những lúc chúng ta cảm thấy cô đơn, cảm thấy đơn thương độc mã, cảm thấy bất lực, mỏng dòn, khi đó ta cần biết mình phải nương tựa vào Chúa, Đấng đã sống đến tột cùng của sự cô đơn và những yếu đuối, nhưng đã toàn thắng và luôn sẵn sàng nâng đỡ ủi an chúng ta.

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống và chia sẻ với chúng con trong nỗi cô đơn tột cùng của con người, trong bản tính nhân loại. Xin ban ơn trợ lực để chúng con luôn biết hướng lên Ngài, tìm ra con đường Ngài muốn chúng con đi, vì chúng con biết rằng chỉ có Chúa là Đấng giải thoát chúng con khỏi những thăng trầm của cuộc sống, nhờ đó, chúng con sẽ vững vàng bước đi trong hành trình đức tin.

R. Veritas

Xin cho con có được những gì con muốn, để những gì con có đều là của Chúa

CO DON

 

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

Thiên Ân

Khi nói đến Mùa Chay, người ta thường hay đề cập đến những từ như ăn chay, giữ chay, hoán cải, trở về, cầu nguyện, sám hối, bố thí, chia sẻ bác ái cho người nghèo kèm theo.  Nhưng tất cả những điều đó chỉ là những phương thế để dẫn đến một mục đích tối hậu là “đói khát Thiên Chúa.”

Là người giáo dân, khi nghe cụm từ “đói khát Thiên Chúa,” tôi thấy thật lạ tai!  Tôi thầm nghĩ chỉ có các tu sĩ, linh mục và những ai muốn làm… thánh sống, mới có khát khao ấy, chứ còn mình – với tâm hồn lạnh tanh, làm sao có tâm trạng đó được!

MUA CHAY

Tuy nhiên, sau một thời gian ngẫm nghĩ cặn kẽ, với nhiều Mùa Chay tiếp nối, nhờ ơn Chúa, tôi chợt khám phá ra, khao khát Thiên Chúa phải trở nên mẫu số chung và là lẽ sống của mọi Kitô hữu.  Câu chuyện sau đây đã giúp tôi tỉnh ngộ:

Thuở xưa, vua Salomon nổi tiếng thông minh, đã đưa ra một câu đố cho quan cận thần: Tìm đâu ra một chiếc vòng mà khi nhìn nó, người hạnh phúc hóa ra u buồn; người đau khổ nhìn nó thì lại thấy niềm vui?

Nghe vua nói thế, quan sa sầm nét mặt, vì biết đó là một bài toán khó có lời giải đáp vẹn toàn.  Quan lên đường chu du khắp năm châu bốn bể mong tìm ra chiếc vòng kỳ diệu.  Lang thang từ các làng mạc đến chốn thị thành nhiều tháng ngày, cực nhọc trăm bề, mà vẫn vô vọng, chưa tìm ra lời giải đáp nào cho nhà vua, khi kì hạn đã gần hết.

Bỗng một hôm, khi đến một làng, ông gặp một ông lão ngồi bán đồ linh tinh ở ven làng.  Ông lão ngồi bán nhưng như không bán, ông cứ đưa mắt nhìn xa xôi, rồi nhắm mắt trầm tư trong tư thế thiền!

Quan ghé vào tai ông lão hỏi nhỏ:

– Ông ơi!  Ông có bán chiếc vòng nào, khi nhìn nó, người vui hóa buồn; người buồn hóa vui không ông?

Lão ông không nói gì, lẳng lặng mở chiếc túi vải đeo bên mình ra và lấy một chiếc vòng bên trên có hàng chữ: “điều đó rồi cũng qua đi,” rồi trao cho ông quan.

Thì ra là như vậy, tất cả mọi sự ở trên đời này rồi cũng trôi qua.  Dẫu là sướng vui hay vất vả, đau khổ, tất cả rồi cũng sẽ tan bay.  Chỉ có Thiên Chúa mới chính là suối nguồn hạnh phúc chân chính và vĩnh cửu.

Bằng cách này hay cách khác, hành động của mọi người đều nhằm mưu cầu hạnh phúc đời này và cả đời sau, như niềm tin đa số tín hữu.  Mùa Chay cho ta cơ hội để tái định hướng hạnh phúc mà mình đang tìm kiếm.  Đây là mùa sống chậm, để sống đậm chiều kích tâm linh, nâng cao chất lượng nội tâm.  Mùa Chay cũng là thời gian phục hồi, bồi dưỡng tâm hồn.  Là lúc “thuận tiện,” là “giờ cứu độ” để ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng lễ Chúa Phục Sinh và kết hiệp với Chúa Kitô Phục sinh.

Hành trình hoán cải và canh tân trong Mùa Chay gồm các bước sau:

–       Ý thức tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa

–       Hối hận tội mình đã phạm: ray rứt, đau buồn (nhưng không mặc cảm tội lỗi)

–       Gặp gỡ Thiên Chúa trong nội tâm

–       Quyết tâm thú nhận tội – đón nhận Bí tích Hòa giải

–       Thực sự sửa đổi đời sống (thường ta hay quên bước này)

Thế nên, tâm trạng đói khát Thiên Chúa không thể chỉ là tâm trạng của riêng giới nào, mà phải là tâm trạng của con cái Chúa, thái độ của những ai muốn đi theo làm môn đệ của Đức Giêsu Kitô.

Lạy Chúa,
Bước vào Mùa Chay thánh này, con mang theo gì?
Nếu không phải là những hành lý nặng nề của con,
Với tâm tư nặng trĩu những lo toan, gánh bổn phận hàng ngày
Cơn mê bã lợi thú, danh vọng phù hoa đang bủa vây
Chúa ơi!  Chúng giăng bẫy rình rập con tứ phía
và kiềm hãm con tiến bước đến bên lòng Chúa khoan nhân.

Con vẫn biết: chúng chỉ là phù vân và sẽ qua đi
Nhưng thú-lợi-danh mạnh mẽ lôi kéo con từng giờ
Và vẻ bề ngoài của chúng thật hấp dẫn, êm ái!
Trong quá khứ, con đã không đủ sức để vượt thắng chúng.
Con đã sa lưới kẻ thù, vấp ngã thê thảm, té đau từ trên cao.

Chúa ơi!  Chẳng lẽ Mùa Chay này cũng sẽ trôi qua vô vị
và con lại tiếp tục ra đi với hai bàn tay lấm lem?

Tâm hồn con đang tan nát, rã rời,
như kẻ dở sống, dở chết,
khi kẻ nội thù như sư tử đang rình rập, chờ dịp cấu xé con.

Giờ đây, con chỉ có thể trông mong Chúa xót thương
Và cậy dựa vào quyền năng của Chúa.
Con không dựa dẫm vào người đời,
vì họ không thể giúp con tránh xa tội.

Chúa ơi!  Xin cứu giúp con người đầy yếu đuối của con.
Xin ban ơn hoán cải, để con cương quyết dứt bỏ tội lỗi,
Can đảm khước từ bóng tối
Và vui sống như con cái của sự sáng
Xin đừng để cho bất cứ điều gì chiếm hữu lòng con,
ngoại trừ một mình Chúa.
Hãy cho con không ngừng đói khát Chúa,
Hạnh phúc đích thực và trường tồn của đời con!

Thiên Ân