Này người ơi! Ghé bến sang sông,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 4 Phục Sinh năm C 17/4/2016

 “Này người ơi! Ghé bến sang sông,”

Lên đường đi tới, bõ công em chèo thuyền.

Mừng người đi, tìm thấy Tình Duyên,

Con đường đất nước, nối liền lòng dân.”

Phạm Duy – Con Đường Cái Quan)

(1 Tim 1: 3-6)

Trần Ngọc Mười Hai

Có thể nói, đây là lần thứ hai trong chuỗi ngày dài những phiếm và phiếm, bần đạo lại cứ trích và dẫn những câu hát của nhạc sĩ họ Phạm, tương-tự giòng chảy đầy thương yêu, như sau:

 “Sông Thương ơi! Nước chảy (ý) đôi ba giòng,

Anh về Hà-Nội một lòng…(thương) yêu em!

Sông Thương ơi! Nước đục người đen,

Anh về Thành-phố… không quên cô mình.”

(Phạm Duy – bđd)

Tìm hiểu lý do sao lại có chuyện như thế, có bạn đạo cứ cho rằng: có thể, điều ấy do bởi bần đạo đây sinh ra tại đất “Hà-thành” ngàn-năm-văn-vật, nên mới thế. Có bạn khác, lại vẫn nói: sở dĩ người viết phiếm cứ hay trích-dẫn giòng dân-ca có bát-âm hoặc ngũ-cung rất gần lòng người/lòng mình, như vậy.

Có thể là như thế. Như thế, tức như thể: bạn bè gần/xa lại cứ cho rằng: bầy tôi đây, những muốn kết-duyên Đạo/đời bằng địa-danh hay tên gọi của một cõi rất “lòng người” có yêu thương vần vũ, như “sông Thương nước chảy đôi ba giòng”, như là “giòng thương/yêu” trữ-tình gì đó chăng? Yêu thương “đôi ba giòng”, còn là lòng thòng những là “tình người nhà Đạo” thấy ở Kinh/Sách, mỗi khi  quay về, đến hôm nay.

Cũng có thể, đây là: lời gọi/mời gửi đi khắp chốn để người người quay về với Kinh/Sách rất “sông Thương” có những giòng êm-ả chảy mà bậc thày ở đây đó từng nhắc nhớ. Nhắc và nhớ, bắt đầu bằng “lời cuối” của nhân-vật rất tiếng-tăm ngành vi-tính tên Steve Jobs, như sau:

“Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tưởng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui. Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản nhưng tôi cảm thấy thật vô nghĩa trước tử thần, cái chết.

 Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn. Ví dụ như là lịch sử tình yêu nhân loại, nghệ thuật, ước mơ tuổi thơ… Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.

 Thượng Đế tạo dựng chúng ta để cảm nghiệm được tin yêu trong tim, chứ không phải những ảo tưởng về tiền tài, danh vọng như tôi đã làm trong suốt cuộc đời nhưng không thể đem theo tôi được. Tôi có thể mang theo được những kỉ niệm của yêu thương. Đây mới chính là sự giàu sang sẽ có thể đồng hành với bạn, là sức mạnh, ánh sáng soi sáng cho bạn tiến tới. Tình yêu có thể đi hàng ngàn cây số và chính vì thế cuộc đời không có giới hạn. Đi, tiến đến nơi mà bạn muốn, Cố gắng lên để đạt được những mục đích. Tất cả là ở trong tim và trong lòng bàn tay của bạn.

 Cái giường nào đắt giá nhất trên đời? giường bệnh viện, vì nếu có tiền, bạn có thể mướn tài xe lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê người mang bệnh cho bạn. Mất tài sản mình có thể tìm lại được, có một cái khi đã mất thì không thể tìm lại được: sự sống. Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả phải đối diện khi bức màn sự sống kéo xuống.

Làm ơn hãy nâng niu và nhận thức được giá trị tình yêu gia đình, tình yêu bạn đời và tình yêu bạn hữu, gìn giữ sức khỏe cho bạn và chăm sóc đồng bào của bạn.” (Bản dịch của bạn bè trên mạng)

Và, thêm một lời “trần tình” khác cũng từ một bậc thày ở đâu đó, rất Úc Châu như sau:

 “Ngày nay, lại thấy nhiều chiều-hướng quyết quay về học-hỏi những điều hàm-ẩn nội-dung đích-thực của Kinh-thánh hơn là ấp-ủ một số luận-điểm như ta vẫn làm trong quá-khứ. Bởi thế, cũng nên quảng-diễn các luận-điểm cốt-thiết và đích-thực của thời-đại qua đó Kinh thánh được viết, theo đúng nghĩa…” (Lm Kevin O’Shea CSsR, Re-Reading the Bible, ACU hôm 6/9/2008 ở Sydney)

Với nghệ-sĩ ngoài đời, thì sự/việc về với nguồn mạch của Kinh/Sách, được diễn-tả theo cung-cách rất khác biệt. Cung và cách của thể-loại âm-nhạc đi vào lòng người như giòng chảy thân thương của “Cưu Long Giang”, sau đây:

“Cửu Long Giang! Gió về vui trên sóng sông,

Uốn quanh như 9 con rồng, ôm chặt đứa con.

Người từ Tiền giang đi về xa xăm cuối con đường say đắm

Là miền rộng thênh thang…”

(Phạm Duy – bđd)

Là gì đi nữa, “miền rộng thênh-thang” hay chốn miền có những “luận-điểm cốt-thiết và đích-thực” của Sách và Kinh đi nữa, vẫn là những luận-cứ rất nên tìm đọc. Đọc để hiểu, rằng: văn-bản, dù là Kinh/là Sách vẫn có những điều cần tìm-hiểu/học-hỏi xem thực/hư ra sao, như lập-trường của một bậc thày thần-học khác, từng xác-chứng bằng lời lẽ chân-tình sau đây:

“Một trong những điều dị-kỳ rất nực cười của đạo-giáo tân-thời hôm nay, là: việc ký-thác vào sự thật biểu-hiện ra bên ngoài qua một vài hình-thức của Đạo Chúa chuyên chú rao-giảng Tin Mừng thật triệt-để; đồng thời kèm theo tầm nhìn bảo rằng sự thật mang tính khách-quan có thể kiểm-chứng được bằng bất cứ nhà quan-sát vô-tư lâu nay từng đưa dẫn nhiều tâm-hồn người đi Đạo tuân theo sự thật ở bất cứ nơi nào nó dắt đến. Và nơi đến, nhiều lúc lại cũng “xa vời” với Đạo của Chúa rất triệt-để hoặc đầy tính giảng rao.

 Thành thử, nếu trên lý-thuyết ta có khả-năng kiểm-chứng được sự thật “khách-quan” của đạo-giáo và rồi thấy rằng: hoá ra, đạo-giáo đang kiểm-chứng lại sai trái một cách có thể kiểm-chứng được, thì sự việc ấy đưa ta đi về đâu?…

 Càng học hỏi sự thật của Kinh Sách về Đạo Chúa, đặc biệt là về Kinh/Sách, bản thân tôi càng nhận ra rằng: “Sự thật” lại đã dẫn đưa tôi về chốn miền nào đó tôi không đi đến… Và tôi đi đến một cảm-nghĩ hiểu rằng Kinh Sách xưa nay không thể là những gì tôi từng nghĩ. Kinh Sách cũng chứa đựng nhiều sai sót. Và nếu là sách mà lại chứa đựng sai sót, thì đó không thể hoàn toàn đúng thật được. Và đây là vấn-đề đối với tôi, do bởi tôi cứ muốn tin vào sự thật, sự thật thần thiêng thánh ái và tôi đã đạt giai-đoạn thấy được rằng Kinh Sách không là sự thật thần thiêng mà lại không có tàn dư. Kinh Sách thật là sách rất con người.

 Nhưng vấn-đề không dừng lại ở đó. Cuối cùng ra, tôi đạt đến tư-duy nhận ra rằng: Kinh Sách không chỉ chứa đựng những sự-không-thật hoặc các lỗi sai sót bất chợt xảy đến mà thôi, nhưng Kinh Sách cũng chứa đựng những gì mà gần như bất cứ ai sống vào thời này có thể gọi đó là sai lầm. Và đó là những gì tôi muốn viết, ở sách này. Hôm nay. (Gs Bart D. Ehrman, Forged, Why the Bible’s Authors Are Not Who We Think They Are, HarperOne 2011 tr. 3-5)

Thoạt nghe những lời trần tình hoặc trần-thuật rất tình người ở trên, hẳn rằng nhiều người lại sẽ nhớ đến Lời Vàng khi xưa Phaolô thá`nh-nhân từng căn-dặn thừa-tác-viên đồng-hành và là đệ-tử thân thương, rằng:

“Khi đi Makêđônia, tôi đã khuyên anh ở lại Êphêsô

để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác,

cũng đừng chú ý đến những chuyện hoang đường

và những gia phả dài dòng; những cái đó chỉ gây ra tranh luận,

chứ không đóng góp vào kế-hoạch của Thiên-Chúa mà đức tin cho chúng ta biết.

Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch,

lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình.

Vì đi trệch đường lối ấy, một số người đã sa vào tật nói rỗng tuếch.

Họ muốn làm thầy dạy luật, nhưng lại không hiểu cả điều mình nói lẫn điều mình xác quyết.”

(1 Tim 1: 3-6)

Nói như thế, là nói theo bài-bản của những Kinh và Sách, rất công-khai. Nói về những điều hệt như thế, giống như kiểu nói của người ngoài luồng, ở đời, là nói bằng truyện kể dân-gian có những ý và tình như sau:

“…Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học VN. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa dược.

 Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn. Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng… Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, “J.D. Steinberg” được vinh danh trên bảng đồng.

 Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

 Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

 Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi…v…v… Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

 Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái “donut” ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

 Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không? Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa. Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này. Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

 Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm. Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu. Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở VN và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

 Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội. Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi. Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và BS John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quí.

 Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, thần tượng BS Albert Schweitzer. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

 Sau khi tốt nghiệp y khoa Mc Gill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại bệnh viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y sĩ Đại uý John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc liên đoàn 5 lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

 Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

 Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá VN tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, y tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần tổng y viện Cộng Hoà điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh “Công ngủ” thành “Công không ngủ”.

 Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại “Công không ngủ”. Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên “Công không ngủ” nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

 Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

 Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi. Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

 Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến “Công không ngủ”, hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của BS Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

 Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

 Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

 Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

 Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

 Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

 Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs Steinberg…

 Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái “donut” mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

 Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

 Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó. Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà. Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

 Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời…, mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi…. Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về…. Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ…. Mẹ nhớ…Mẹ nhớ…. Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học…. Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con… đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con. Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

 Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, “THẰNG TẦU CON CỦA MẸ”. Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ! Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức…Mẹ, Mẹ… rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

 Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp. Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

 Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

 Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

 Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

 Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

 Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật. Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư. Di chúc chính thức qui định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

 Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

 Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. “Định mệnh đã an bài”, không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.

– Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

– Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền…lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến. Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

 Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

-Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ TÂY…có con là “thằng Tầu con”. (Truyện ngắn của Nguyễn Cát Thịnh, Bà Mẹ Tây, 1/4/2014)

Nói, bằng truyện kể về nhân-sinh-quan/lập-trường sống của người này người khác, thì như thế. Nói như thế cũng có thể không hài-hoà với đề-tài mình bàn-luận. Nhưng, có nói bằng sách, mách bằng chứng rất lớp-lang, lai-lịch một bài dạy của Kinh Sách, phải nói thêm nhiều điều khác rất khó nói. Bởi, đó chỉ toàn những nói và nói, thôi.

Hôm nay, người viết thấy ít hứng-thú để nói, chỉ muốn về với giòng chảy thi-ca và âm nhạc, bèn hát một đoạn làm câu kết, như sau:

“Này người ơi! Ghé bến sang sông,”

Lên đường đi tới, bõ công em chèo thuyền.

Mừng người đi, tìm thấy Tình Duyên,

Con đường đất nước, nối liền lòng dân.”

(Phạm Duy – bđd)

Hát thế rồi, bây giờ mời bạn và mời tôi, ta cứ tiến bước hân hoan mà sống sao cho xứng hợp danh tánh của một “Kitô-khác” rất thân thương, bình thường, không sai lạc. Tiến bước rồi, hạ hồi sẽ tính.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc cũng muốn tính

Những chuyện dân-gian bàn luận

Hay chuyện của chính mình

Cũng không xong.

CON CÓ YÊU MẾN THẦY KHÔNG?

CON CÓ YÊU MẾN THẦY KHÔNG?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi.  Có thể chia đời ông ra làm hai giai đoạn.  Cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy.  Phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Rôma.

Trong cuộc đời phần một của ông, Phêrô đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.  Cuối đời của Chúa, Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14, 66-72).

Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô, ta thấy mảnh đời của ông có nét chân dung thế này: Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.

Mắng lần đầu tiên: Quân yếu tin (Mt 14, 31)

Lần thứ hai: Ngu tối (Mt 15, 16)

Lần thứ ba: Satan (Mc 8, 33)

Chúa chỉ khen có một lần khi Phêrô tuyên xưng: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa “Này anh Simon, con ông Gioana, anh có phúc vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy” (Mt 16:16-17).

Con co yeu men

Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy ba lần.  Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.  Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường chạy trốn.  Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông đã oà khóc nức nở như một đứa bé với dòng lệ sám hối.  Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến.  Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở, giữa xa và gần, giữa trời và đất.  Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng.  Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần một của người môn đệ này vẫn luôn có một tâm hồn chân thành.

Phần hai cuộc đời Thánh Phêrô là một thiên anh hùng ca.  Thiên anh hùng ca bắt đầu từ trang Tin mừng Chúa Nhật hôm nay.  Câu chuyện kể về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria.  Chúa Phục Sinh đã đưa đời ông từ đêm đen mờ mịt ấy đi về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.

Sứ mạng theo Đức Kitô khởi đầu từ đây.  Bảy anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì. Đức Giêsu Phục sinh đến với họ ban cho họ mẻ cá lạ lùng.

Sau mẻ cá, Đấng Phục sinh đã hỏi ông: Phêrô, con có yêu mến Thầy không?  Phêrô đáp: Thưa Thầy, Thầy biềt rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy.  Chúa hỏi ba lần.  Phêrô xác định cả ba lần lòng yêu mến Thầy, càng về cuối càng cương quyết hơn.  Ba lần chối Chúa đi từ chối nhẹ đến nặng thì hôm nay Phêrô ba lần xác định tình yêu từ nông đến sâu.  Ba lời xác định ấy là bình minh rửa tội quá khứ.  Chúa trao đàn chiên cho Phêrô: con hãy chăm sóc đoàn chiên của Thầy.  Rồi Chúa nói với ông rằng: Thầy bảo cho anh biết lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tuỳ ý.  Nhưng khi về già, anh phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn.  Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là: Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào.  Thế rồi Chúa bảo ông: Hãy theo Thầy.  Chỉ chờ đợi lời mời gọi này, Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.  Từ đây “trên tảng đá này, Thầy xây Giáo hội của Thầy, cửa hoả ngục sẽ không thắng được.”  Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.

Ba lần được hỏi và thưa về tình yêu của Phêrô đối với Thầy Giêsu cũng là ba lần Phêrô được giao phó việc chăm sóc đoàn chiên.  Đó là vai trò mục tử của Phêrô.  Bằng tất cả trải nghiệm về đức ái mục tử theo gương Mục Tử Tối Cao, Phêrô đã dạy cho các mục tử trong giáo hội tinh thần: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: Lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèm, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy.  Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.  Như thế khi Vị Mục Tử Tối Cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.” (1Pr 5:2-4).

Phêrô trở thành một người lãnh đạo tốt.  Người lãnh đạo tốt là người biết tự cảnh giác về sự yếu đuối của mình.  Kinh nghiệm sa ngã đã giúp Phêrô thoát khỏi tính tự phụ và tin tưởng mù quáng vào khả năng của mình, đồng thời giúp ông thông cảm với yếu đuối của người khác.  Như thế Phêrô còn học biết một sự thật tuyệt vời về Chúa Giêsu.  Ông học được rằng mặc dù ông đã chối Ngài nhưng Ngài vẫn yêu thương ông.  Chính tình thương của Ngài đã mang ông trở về cuộc sống.  Cái cảm nghiệm được yêu thương trong chính sự yếu đuối và tội lỗi của mình đúng là một cảm nghiệm sửng sốt.  Được yêu trong cái tốt của mình là chuyện bình thường.  Được yêu ngay trong cái xấu của mình, đó mới là sửng sốt.  Chính đó là ân sủng.

Ân sủng của Chúa đối với Thánh Phêrô là tình yêu cứu độ.

Cuộc đời Phêrô đầy lỗi lầm nhưng ông được Chúa yêu thương, chọn lựa một cách đặc biệt.  Sao Chúa không trao Giáo hội cho một Tông đồ trí thức, có tài lãnh đạo, có tài hoạch định?  Chúa không đòi hỏi nơi Phêrô sự tài năng, thông thái, khôn ngoan mà chỉ đòi hỏi lòng mến Chúa.  Sau ba lần hỏi “con có yêu mến Thầy không.”  Sau ba lần Phêrô xác định tình yêu ấy, Chúa trao Giáo hội cho ngài.

Yêu mến chính là điều kiện nền tảng để có thể chu toàn sứ mệnh mà Chúa trao phó.  Không có lòng yêu mến, công việc của người mục tử hay tín hữu dù thành công cũng chỉ là điểm tô, đánh bóng cho cá nhân mình.

Tại sao khi yêu, người ta thích tặng quà cho nhau?  Thích chở nhau đi chơi?  Thích lặn lội mưa nắng đến tìm nhau?  Nếu không yêu thì đem số tiền dành dụm để mua một món đồ đưa cho người khác thì quả là dại!  Nếu không yêu thì gò lưng đạp xe chở người ta đi chơi thì quả là ngu!  Nếu không yêu mà lặn lội mưa nắng đi tìm người ta thì quả là khờ!  Phải không?  Nhưng khi đã yêu thì tất cả đều đổi khác: Tặng quà là một niềm vui, được chở người ta là một niềm vui sướng, lặn lội mưa nắng tìm đến nhau là bằng chứng của cả một tấm lòng thiết tha!  Cho nên thánh Augustinô đã nói rất đúng: Khi đã yêu thì không còn biết cực nhọc.

Đối với Chúa cũng thế.  Nếu ta không yêu mến Chúa hay yêu mến quá ít thì cầu nguyện là việc chán ngán, đến nhà thờ là một gánh nặng, vác thánh giá là một cực hình.  Còn nếu ta yêu Chúa nhiều thì ta thích cầu nguyện, ta thấy hạnh phúc khi đến nhà thờ.  Cho nên muốn sống đạo tốt thì cần thiết phải có lòng yêu mến Chúa.  Yêu mến Chúa nhiều thì hăng say sống đạo tích cực, yêu mến Chúa ít thì ít hăng hái tích cực hơn, và nếu không yêu mến Chúa thì đạo trở thành gánh nặng, làm những bổn phận trong đạo không khác nào con trâu kéo cày.

Tình yêu Giêsu có sức mạnh cảm hóa con người và đối với bất cứ ai nếu họ biết đặt niềm tin nơi Ngài. Tình yêu Giêsu sẽ mở ra tương lai cho tội nhân, khép lại quá khứ để họ trở thành thánh nhân.  Tình yêu Giêsu, một khi ta đã yêu Ngài thật sự, ta sẽ không còn hững hờ nữa mà dấn thân trọn vẹn cả cuộc đời cho tình yêu Giêsu.

Chúa hỏi Phêrô: Con có yêu mến Thầy không?  Đó cũng là câu hỏi mỗi ngày Chúa hỏi tôi: Con có yêu mến Thầy không?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

nguon: langthangchieutim

Cho tôi hát cùng em bài hát cũ,

 Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Ba Phục Sinh năm C 10/4/2016

 Tin Mừng (Ga 21: 1-19)

Bấy giờ, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Simôn Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói với các ông: “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.

Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu. Người nói với các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Người bảo các ông:”Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.

Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: “Chúa đó!” Vừa nghe nói “Chúa đó!”, ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giêsu bảo các ông: “Đem ít cá mới bắt được tới đây!“Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: “Anh em đến mà ăn!” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?” vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Si-môn Phêrô: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” Ông đáp:”Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giêsu nói với ông:”Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi:“Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” Ông đáp:“Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói:“Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba:”Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần:”Anh có yêu mến Thầy không?” Ông đáp:”Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giêsu bảo:”Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông:“Hãy theo Thầy.”

 

“Cho tôi hát cùng em bài hát cũ”,

Bài ngợi ca Thiên Chúa ở trên trời.

Để tôi về cầu nguyện với Ngôi Hai

Cho ta sống một ngày như mấy kiếp.”

                                                       (Dân từ thơ Du Tử Lê)

Mai Tá lược dịch. 

Sống một ngày như mấy kiếp, là lời cầu của bà con người người, với Ngôi Hai. Và, ngày dài như mấy kiếp, lại cũng là hạnh-phúc mà thánh hội thời tiên-khởi, đã có được.

Phụng vụ hôm nay kể về hạnh phúc mà cộng đoàn Hội thánh đã và đang cảm nghiệm vào những ngày giờ, sau Phục Sinh. Hạnh phúc mà Hội thánh cảm nghiệm, là hạnh phúc có Thầy trở về.

Thầy trở về, Hội thánh tiên khởi nay sống thành cộng đoàn nhỏ, rất thân thương. Về với môn đệ, Thầy sống với công việc bình thường của đồ đệ, như khi trước. Sống có chài, có lưới, có nỗi gian lao phấn đấu, tự bao giờ.

Cuộc sống của Hội thánh sau Phục Sinh, nay thấy đồ đệ Thầy mỗi ngày một đông hơn. Đồ đệ Thầy, nay không còn hãi sợ bất cứ ai. Nhưng vững tin hơn, vì có Cha ở cùng. Cha là Bình an. Là, tình Thương yêu luôn đỡ đần.

Kể từ nay, Hội thánh chứng tỏ lòng chung thủy với Cha, và với Thầy như đã dặn. Lời Thầy dặn, nay thành hiện thực. Qua hy sinh, đùm bọc và ủi an. Đùm bọc và ủi an, trên bước đường rao truyền Tình yêu của Chúa với dân gian người đời. Đùm bọc và ủi an, dù phải trải qua những tháng ngày “dài như mấy kiếp”.

Ngày dài Hội thánh luôn có sự hiện diện, đỡ nâng của Thầy. Về với thuyền và với lưới, Hội thánh đại diện cho Chúa, không về để hiện diện, mà thôi. Nhưng, còn hoạt động trong Thầy với dân con của Thầy. Về với Hội thánh, là về với người thân vì Thầy không bỏ đàn con.

Như Phêrô thánh nhân, Hội thánh đã điều chỉnh cách thế ăn mặc, lối sống để tỏ lòng yêu thương chính Đấng mà mình tôn kính. Tỏ lòng yêu thương tôn kính Chúa, Hội thánh cũng san sẻ bẻ bánh với Thầy, với dân Chúa sau Phục Sinh. Hội thánh nay sẻ san yêu thương/tôn kính, qua tiệc thánh ngày cuối tuần, tiệc agapè tương kính.

Cùng bẻ bánh với Chúa Phục Sinh, Hội thánh nay chẳng còn hỏi: Ngài là ai? Vì, nay đã rõ: đó là Thầy. Là, Chúa Phục Sinh vinh hiển. Và, đồ đệ Chúa nay vững tin. Và, cũng biết rằng: từ nay Thầy sẽ xuất hiện nơi diện mạo, của người khác. Có lúc, là hình hài của bạn bè thân thương. Có khi, là người nghèo hèn, đói khổ. Có thể, là kẻ thù mà mình vẫn giữ trong tâm tưởng, trong cuộc sống.

Về với Hội thánh, Thầy không chỉ có mặt vào khoảnh khắc sôi nổi, nhiệt náo vào ngày hội lễ. Mà, Thầy còn hiện diện chốn biển khơi, nơi bờ hồ hoặc bãi biển. Thầy hiện diện, là ở với đồ đệ thân thương trên đường Emmaus và cuộc đời.

Thầy hiện diện nơi phòng chật hẹp, cửa kín then cài vì âu lo. Biết có Thầy ở cùng và ở với, đàn con Hội thánh sẽ ngợi ca Thiên Chúa, như thánh Gioan bày tỏ trong sách Khải Huyền: “Tất cả đều tung hô: xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Chiên Con lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời.” (Kh 5: 13-14)

            Cùng ngợi ca với đàn con thân thương, Hội thánh không chỉ vui mừng vì đã thấy rõ Thầy đã trở về. Nhưng, nay còn chứng tỏ cho người người đều rõ cho cả người trong cuộc, cùng kẻ ở ngoài rằng: từ nay, mình sẽ là Kytô khác. Và, Kytô khác, tức đồ đệ Chúa là: những người nói được như thánh Phêrô, sau lần chối Chúa:“Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21: 16)

Khi nói lời yêu mến, mọi xa cách/chối bỏ, được hóa giải, hàn gắn và thứ tha. Và, đây là lúc Hội thánh gánh vác sứ vụ chăm sóc đàn chiên trong cùng ràn: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy!” (Ga 21: 17).

Chăm sóc chiên, là trách vụ lớn lao không chỉ là nguyện cầu trong hân hoan, hạnh phúc như Thầy để lại. Mà cả trong thực thi trách vụ. Tức, chăn dắt chiên con cho đúng hướng. Chiên con, là những người vẫn ở lại với nhà Đạo hay còn ở ngoài. Chiên con, là những người biết phấn đấu ngợi ca. Thầy trở về, ở với chiên, là thông điệp hân hoan, hạnh phúc.

Tham dự Tiệc hôm nay, ta hiệp lòng cảm tạ ân huệ Cha ban cho mỗi người, mùa Phục sinh. Tràn đầy sức sống. Cảm tạ, vì nay ta được giải thoát khỏi mọi xích xiềng trói buộc của thân xác, rất yếu mềm.

Cảm tạ, vì nhờ có Phục Sinh, ta được giải thoát khỏi mọi hãi sợ như đồ đệ thời trước. Cảm tạ, vì được dẫn dắt theo đường lối, rất Phục sinh. Cảm tạ, để sống cuộc đời có tình thương yêu, đỡ đần, hy sinh và có cứu độ. Một ân huệ, mà lẽ đáng ra, ta không đáng được nhận. Nếu Thầy không yêu thương và cứu rỗi. Cảm tạ, vì Thầy đã ủy thác sứ mệnh rao truyền tình thương yêu Phục sinh với mọi người.

Trong bầu khí hăng say đầy cảm-tạ, ta sẽ cùng với mọi người, nghệ-sĩ cũng như dân con nhà Đạo hân-hoan hát mừng bài ca yêu-thương thuở trước, rằng:

“Đừng sợ bạn ơi, hãy đứng thẳng lên!

Cuộc đời đang giang tay đón ta,

Bằng yêu thươngta đi xoá tan mọi căm hờn.”

(Lê Hựu Hà – Bài hát cho người tuổi trẻ)

 Đúng thế. Đức Chúa Phục Sinh nay đã xoá tan đi mọi hãi sợ, và hờn căm. Và, cuộc đời nay đang giang tay chờ đón những bước chân nhân hiền, để mọi người làm ngay một việc, là: yêu thương ra đi xoá tan màn đêm của hờn căm, với hãi sợ. Và, cũng để em “hát bài hát cũ” ngợi ca Thiên-Chúa ở trên trời, và nguyện cầu Ngôi Hai cho tất cả mọi người cứ thế mà hát. Cứ thế mà yêu thương loan truyền tình thương-yêu cứu-độ, của Đức Chúa, cho mỗi người và mọi người.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

RƯỚC LỄ VỚI NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI LY DỊ

RƯỚC LỄ VỚI NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI LY DỊ

Hỏi : xin cha giải đáp 2 thắc mắc sau đây;

  1. Đức Thánh Cha Phanxicô đã rửa chân cho hết mọi người, kể cả phụ  nữ và người ngoại Đao, như vậy những người không phải là Công Giáo có được rước Lễ khi họ tham dự Thánh Lễ hay không ?
  2. Những người li dị từ nay được rước lễ phải không ?

Trả lời:

  1. Việc rửa chân và rước Mình Thánh Chúa là hai việc hoàn toàn khác nhau.  Rửa chân chỉ là nghi thức nhắc lại việc Chúa Giêsu xưa đã rửa chân cho 12 Tông Đồ trong Bữa ăn sau cùng với họ, trước khi Chúa nộp mình cho những kẻ đến bắt bớ và hành hình Chúa ngày hôm sau. Đây không phải là việc cử hành một bí tích nào của Giáo hội đòi buộc tín hữu phải tham dự để được lãnh ơn cứu độ của Chúa.

Nghĩa là không có luật nào buộc phải tham dự nghi thức rửa chân cử hành trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh muc ngày Thứ năm tuần thánh. Tuy nhiên, nghi thức rửa chân cũng không buộc phải làm vào ngày Thứ năm Tuần Thánh. Phụng vu trong Tuần Thánh chỉ buộc phải cử hành Lễ Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh mục cùng làm phép Dầu Thánh (Chrism) trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh mà thôi, Nhưng ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, vì nhu cầu mục vụ,  Lễ này được làm ngày Thứ ba Tuần Thánh, thay vì Thứ Năm và không có nghi thức rửa chân. Việc này được tùy nghi làm ở các giáo xứ.

Việc Đức Thánh Cha Phanxicô cho rửa chân cả phụ nữ và tội phạm (năm qua tại một nhà tù ở Ý) là sáng kiến riêng của ngài. Ngài có lý do để làm như vậy, chúng ta không dám có ý kiến. Nhưng ngài cũng không buộc Giáo Hội phải làm theo gương của ngài. Nơi nào muốn làm thì tùy ý.

Nhưng không thể suy luận là Đức Thánh Cha rửa chân cho mọi người, không phân biệt nam nữ và tôn giáo, để từ đây cho phép hết mọi người được rước Mình Thánh Chúa, không phân biệt họ có Đạo và đang sạch tội trọng hay không.

Việc rước Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc-tự bản chất- hoàn toàn khác biệt với việc rửa chân nói trên.

Rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô là một việc đạo đức đòi hỏi phải có đức tin và sạch tội trọng. Phải có đức tin để tin rằng Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho. Có tin như vậy thì việc rước Mình , Máu Thánh Chúa mới sinh ích thiêng liêng cho người lãnh nhận. Không tin thì không có ích lợi gì cho dù là người công giáo hay người ngoại.

Phải có đức tin cũng có nghĩa là người muốn lãnh nhận phải là tín hữu Công giáo đang hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Như thế, các Kitô hữu thuộc các giáo phái bên ngoài Giáo hội Công Giáo như các nhánh Tin Lành và Anh giáo ( Englican) kể cả tín đồ của các tôn giáo khác như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Không Giáo, Hồi giáo… thì không được mời rước Mình, Máu Thánh Chúa Kitô, nếu họ vì xã giao đến tham dự Lễ với các tín hữu Công Giáo. Lý do là họ không cùng chia sẻ một niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể nói chung và, cách riêng,  về việc Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho như Giáo Hội tin không sai lầm.

Đây không phải là sự kỳ thị nào đối với các tín hữu bên ngoài Giáo Hội, mà là vì kỷ luật bí tích của Giáo hội đòi buộc người tín hữu phải cùng chung niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể, tức là tin có sự biến đổi bản thể (substance) của chất thể hay tùy thể (accident) là bánh và rượu nho thành bản thể Chúa Kitô. Các anh em Tin Lành và tín hữu các tôn giáo khác đều không chia sẻ niềm tin này, nên họ không thể được mời lãnh nhận MÌnh Máu Chúa Kitô – nếu họ đến tham dự Thánh Lễ với người Công Giáo hay Chính Thống Giáo Đông Phương. ( Eastern Orthodox Churches)

Mặt khác, muốn lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô cách xứng hợp, thì ngoài yếu tố phải là ngươì Công Giáo ra, còn yếu tố quan trọng nữa là phải đang  sống trong tình trạng ơn phúc, tức là đang không có tội trọng (mortal sin), vì theo giáo lý và giáo luật thì:  “ ai đang có tội trọng thì không được làm lễ (linh mục) và rước Lễ (giáo dân). “ ( x.SGLGHCG số, 1415; giáo luật số 916).

Như vậy, không thể trao Mình Thánh Chúa cho hết mọi người, không phân biệt tôn giáo và tình trạng tâm hồn được, vì bất cứ lý do nào.

Rửa chân cho người ngoài Công Giáo thì không vi phạm giáo lý hay tín lý nào của Giáo Hội, vì đó là hành động chủ yếu mang tính chất bác ái, và phục  vụ;  giống như bố thí cho người nghèo, thăm viếng người bệnh, thăm tù nhân thì không cần phân biệt tôn giáo, nam nữ hay đẳng cấp xã hội. Ngược lại rước Mình Máu Chúa Kitô thì phải là người Công Giáo đang sống trong tình trạng ơn phúc, nghĩa là không có tội trọng trong linh hồn như nói ở trên. Hai việc này hoàn toàn khác nhau về bản chất, nên không thể loại suy việc này để làm việc kia được.

  1. Về câu hỏi thứ hai, cần phân biệt hai trường hợp đươc hay không được rước lễ của người ly dị như sau:
  2. Nếu sau khi li dị ngoài tòa dân sự, mà  không sống chung với người khác như vợ chồng thì không có gì ngăn trở  họ đi xưng tội và rước Lễ.
  3. Ngược lại, nếu sau khi li di ngoài tòa dân sự và trong khi chờ phán quyết xin tiêu hôn (annulment) nơi  Tòa hôn phối (Tribunal) của Giáo Phận , mà lại chung sống với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được phép xưng tội và rước lễ, vì lý do sau đây:

Bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ theo giáo luật, thì bấy lâu vợ chồng vẫn còn bị ràng buộc với hôn phối mà hai người đã thành hôn trong Giáo Hội. Nghĩa là việc li dị ngoài tòa án dân sự không có giá trị tiêu hôn cho  hai người đã giao kết thành hôn ở nhà thờ. Do đó, bao lâu việc xin tiêu hôn (annulment) nơi tòa hôn phối của Giáo phận chưa được giải quyết thỏa đáng, thì bấy lâu hai vợ chồng vẫn bị ràng buộc với hôn phối cũ, dù hai người đã li dị ngoài tòa dân sự.

Do đó,  trong khi chờ đợi phán quyết của tòa hôn phối Giáo phận, mà tự ý sống chung với người khác như vợ chồng thì tạm thời không được xưng tội và rước Lễ. Sở dĩ thế, vì khi tự ý sống chung với người khác kể cả việc tái kết hôn với người khác ở ngoài tòa dân sự sau khi li dị, thì bị coi là phạm tội ngoại tình (adultery) vì hôn phối cũ chưa được tháo gỡ nơi Tòa hôn phối giáo phận.  Và đây mới là trở ngại cho việc xưng tội và rước lễ của người li dị. Phạm tội ngoại tình là tội trọng nên không được rước lễ theo giáo lý và giáo luật của Giáo Hội (x. giáo luật số 916, SGLGHCG số  1415).

Nói tóm lại, những người đã li dị ngoài tòa dân sự hay bỏ nhau để đi lấy người khác trong khi hôn phối cũ chưa được tiêu hôn (annulled), thì tạm thời không được xưng tội và rước lễ.

Gần đây, có dự luận cho là Giáo Hội muốn đón mời (welcome) những người li dị vào hiệp thông với Giáo Hội. Nghĩa là cho họ rước lễ như mọi người khác. Điều này không đúng, vì cho đến nay Tòa Thánh chưa hề nói gì về việc này, mà chỉ có chỉ thị mới cho các Tòa án hôn phối các giáo phận phải đơn giản hóa thủ tục xin tiêu hôn, để rút ngắn thời gian cứu xét tiêu hôn và có thể miễn hay giảm lệ phí cho các người xin tháo hôn phối. Ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, thì lệ phí này đã được giảm từ 500 dollars xuống còn 100 dollars kể từ nay.

Sau hết, nếu hôn phối cũ chưa được thẩm quyền giáo phận cho tiêu hôn, thì tính bất khả phân ly (indissolubility) và thành sự (validity) của hôn phối cũ còn tồn tại và đang được cứu xét. Nên tự ý sống chung với người khác như vợ chồng,  thì đã vi phạm tính bất khả phân này, và đó là tội ngoại tình như đã nói ở trên. Phạm  tội này,  thì không thể xưng tội để xin tha được. Muốn tha thì phải từ bỏ việc sống chung bất hợp pháp nói trên, bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ bởi thẩm quyền giáo phận.

Ước mong  những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 3 Phục Sinh năm C 10/4/2016

 “A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,”

Em bắt đem về, hát xẩm mà nghe.

Đừng bắt đem về, đánh lộn làm chi.

Loài giun dế nó mang tội tình gì???”

(Phạm Duy – Bé Bắt Dế)

(Mt 28:18-19)           

            Trần Ngọc Mười Hai

Úi chu choa! Cái gì mà, “loài giun dế nó mang tội tình gì?” Thế còn loài người? Có tội có tình gì không thế?

Để trả lời câu hỏi, như em bé. Hãy cứ nghe câu hát tiếp, hạ hồi sẽ rõ:

A! Này bé, con dế nó nằm lỗ sâu,

            Đào lỗ đem vào cho ở hộp cao.

            Đừng bắt dế nghèo đánh bể đầu nhau,

Để nó phải buồn rầu.

 A! Này bé, con dế nó tội tình chi?

A! Này bé, con dế nó tội tình gì???

 A! Này bé, con dế nó ở đồng quê

Chinh chiến lan về, nó phải tản-cư.

Nó sống trên vỉa hè quanh-quẩn ngoại ô,

Làm thân sống nương ở nhờ!!!

 

A! Này bé, con dế nó cùng chị ve,

Trong mấy tháng hè nó chỉ hoà ca.

Mưa nắng thuận-hoà cho đẹp ruộng ta.

Con dế hát đẹp ngày mùa…

 A! Này bé, con dế nó ở miền quê!

A! Này bé, con dế nó ra kinh-đô…”

(Phạm Duy – bđd)

Chưa đâu, thân phận con dế bé nhỏ, còn bọt bèo hơn nữa, khi ta biết được rằng:

“A! Này bé, con dế nó ở nhà em,

Nên nó cũng thèm coi truyền-hình đêm.

Nó thấy phi-thuyền lên tận mặt trăng

Mà không thấy đâu chị Hằng!!!

 A! Này bé, con dế cúi đầu phục lăn.

Nó hát khen rằng: Con Người Giỏi Dang!

Nhưng vẫn chê rằng: thiếu hẳn tình thương

Lòng vẫn chứa đầy bạo cường…

 A! Này bé, Này bé! Mau thuộc bài đi,

A! Này bé! Cho dế nó coi Tivi!!!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Ví thử ta thay thế cụm từ “em bé” và “con dế” bằng những chữ rất khác như: “linh mục”, Hội thánh”, hay sao đó, hẳn sẽ có người sẽ thêm vào đó cả triệu câu truyện kể rất dễ nể như sau này:

“Truyện rằng:

Hồi ấy, vào thời nước Nga còn thuộc khối Liên-Xô có đảng Cộng-sản do ông Stalin nắm trọn quyền-hành. Một hôm, ông Stalin quyết định ra đi thăm dân để biết sự tình về cuộc sống của tầng-lớp lao-động rày ra sao. Nên, ông ăn vận thật bình-thường như người dân ở huyện rồi ra khỏi điển Cẩm-Linh. Sau một ngày dài, ông trờ tới rạp chiếu bóng để xem dân chúng vui sống ra sao.

 Sau khi bộ phim kết-thúc, trên màn ảnh hiện ra hình-ảnh lãnh-tụ Stalin giơ tay vẫy chào từ biệt bà con lao-động và quốc ca Liên-xô trổi lên. Tất cả mọi người đều đứng dậy và hát theo, riêng chỉ có mỗi ông Stalin là không đứng.

 Khi ấy, có người đàn ông đứng ở phía sau hàng ghế của ông ghé vào tai ông Stalin rồi nói: “Đồng chí à, tôi cũng biết rằng: chúng ta đều nghĩ giống như nhau, nhưng để cho an-toàn hơn, tôi đề-nghị đồng chí cứ đứng lên là xong ngay! Và nghe thế, ông Stalin lưỡng-lự trong giây lát, rồi cũng đứng, chắc để… mình tiễn-biệt mình!” (Truyện kể về “Tiếu-Lâm Liên-xô” nhưng chắc gì đã đúng thật)

             Ấy chết, đừng vội nhận-định, bàn-luận hoặc nói năng sớm như thế mà làm gì. Hãy cứ nghe câu hát tiếp cũng rất hay như sau này:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật.

 A! Này bé, theo dế ra trại định-cư

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

 A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

Và những câu cuối của bài hát, còn đáng để bạn và tôi suy-nghĩ, bàn luận hoặc ít là cứ phiếm, rất như sau:

A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vàng hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng…

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Dế hay bé, rồi cũng có ngày phải đi. Vì khôn lớn, hơn loài thường. Vâng. Chính thế. Bạn đạo hay người đời, có ngày cũng vẫn ra đi. Đi mà tìm về nguồn để học hỏi những lời vàng rằng:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các tông-đồ rằng:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ

nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”

            (Mt 28: 18-19)

Vâng. Lời vàng đầy ý-nghĩa như thế. Nhưng, xem ra thực-tế vẫn như thể: nhiều người còn thắc mắc chuyện này nọ, hoặc chưa am-tường ý-nghĩa của lệnh-truyền ấy có dành cho mình hay không, hoặc chỉ cho mỗi các tông-đồ thời đó, nhấc chân đi theo Đức Giêsu mà thôi.

Ngày nay, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng có những sự-kiện/hiện đáng để bạn và tôi, ta quan-tâm bàn luận, cũng rất nhiều.

Một trong các chuyện đáng bàn và đáng phiếm vẫn là chuyện Đạo ở đời, trong đó có ý-kiến về chuyện: ta có nên cùng với bạn-đạo Chính thống hoặc Cốp-tích Ai Cập định-vị lại ngày tháng cho lễ Phục Sinh hay không, như sau:

“Tổng Giám Mục Justin Welby của Canterbury, Anh Giáo hôm 16/1/2016 có loan-báo: Giáo-hội Anh sẽ tham-gia cuộc bàn luận diễn-tiến giữa Đức Phanxicô và lãnh-đạo Giáo hội Cốp-tích để định ngày tháng thống-nhất tổ-chức Lễ Phục Sinh cho hai Đạo…

 Ông nói: ông muốn được thấy thời-điểm tổ-chức Ngày Lễ này sao cho đơn-giản, đồng-thuận có lợi cho mọi người kể cả trường-học, bậc cha-mẹ đưa đón con em, các doanh-thương cũng như kỹ-nghệ du-lịch thay vì mỗi năm cứ phải xê-dịch ngày thánh, có năm có khi cách nhau đến 35 ngày. Riêng Giáo-hội Chính-thống Đông-phương lại tính toán ngày tháng cho lễ Phục Sinh cũng khác hẳn khi chức-sắc trong Đạo lại dùng lịch cũ của Julian.       

 TGm Welby còn xác-nhận là: các nhà lãnh-đạo Anh-giáo trên thế-giới cũng đã họp bàn và đồng-thuận tham-gia bàn-luận với các Giáo-hội khác, để định ngày thống-nhất. Nhưng ông cũng nói tiếp: thay-đổi thời-gian cho Lễ này cũng phải mất 5 đến 10 năm mới đưa vào hiện-thực được.

 Riêng Đức Phanxicô năm ngoái có thông-báo: ngài cũng muốn bàn-thảo với các nhà lãnh-đạo Giáo-hội Cốp-tích mà số đông tín-hữu của giáo-hội này sống ở Châu Phi và Trung Đông, để tìm ra ngày tháng thống-nhất cho sự-kiện này.” (x. tin trên Courier Mail của Queensland , Chúa Nhật 17/1/2016 tr. 11)   

 Ít hôm sau đó, Tuần báo Công-giáo ở Sydney là tờ The Catholic Weekly cũng loan tin giống như trên, nhưng lại kết thúc bài viết bằng giòng nhận-định bảo rằng:

“Phát-ngôn-viên Giáo-hội Chính-thống thuộc Nga có nói rằng: Thượng-Phụ Mạc-Tư-Khoa hân hoan nghênh-đón ý-kiến về việc cùng nhau cử-hành chung một ngày Lễ, bao lâu quyết-định này phù-hợp với lịch của Chính-thống-giáo.

 Theo linh-mục quản-hạt Nikolai Balashov phó giám-đốc thường-vụ Đại-kết thuộc Toà Thượng-phụ Mạc-Tư-Khoa nói ông đang chờ được nghe chi-tiết đề-nghị từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi nói rằng:

“Giả như Giáo Hội La Mã có ý-định hủy bỏ ngày lễ Phục Sinh tính theo lịch Grêgôriên được đưa ra vào phụng-vụ giờ lễ kể từ thế kỷ thứ 16 về với lịch cũ, sử dụng lúc Giáo-hội Đông và Tây Phương hợp-nhất dùng ngày tháng cố-định do Giáo-hội Chính-thống thiết-lập, thì chúng tôi hoan-nghênh ý của ngài. Thế nhưng, nếu thiết-lập một ngày nhất-định cho Phục Sinh là việc không thể chấp-nhận hoàn-toàn được.” (xem Catholic Weekly News ngày 24/1/2016 tr. 10)

             Xem thế mới biết: muốn định việc gì cho thống-nhất mà không chịu nhượng-bộ từ phía mình, dù là Giáo-phái hoặc Giáo-Hội đã thánh-hoá cách nào đi nữa, cũng là việc khá khó. Khó, thực-hiện. Khó, tạo niềm tin-tưởng vào nhau, rất thân-thương, nhịn nhường là chuyện rất đời thường.

Từ ý-tưởng ấy, đã nảy sinh nhiều ý-kiến có liên-quan đến chuyện đời/việc Đạo ở đâu đó, dù là xó-xỉnh, góc chợ hay bục cao chót vót của thánh hội.

Nói thế rồi, nay ta đi vào sự-kiện khác cũng đáng phiếm, như chuyện khác-biệt chánh-kiến cả về thần-học, lẫn thánh kinh giữa các giáo-phái/giáo-hội cùng thờ một Đức Chúa, ở nhiều nơi. Như, vấn-đề hoặc câu chuyện do đấng bậc nọ đề ra ở trong sách. Thế nhưng, trước khi đi vào thực-tế của chuyện đạo, mời bạn và tôi, ta trở lại câu hát cũng rất “dế” ở trên, mà hát rằng:

“A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vang hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng..

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha! Và, ca hát câu giải hoà”, làm sao được như thế, khi mà nhiều đấng bậc và nhiều người không chịu lắng tai nghe đấng bậc khác, người khác có nhận-định khá sâu-sắc như sau:

“Tính-cách bộ-tộc của Thượng-đế ở đạo-đức Do-thái-giáo đang lớn mạnh. Thuyết duy-vũ-trụ đang ló rạng. Thượng-đế đây khi xưa vẫn là còn như thế cho đến khi Đức Giêsu biến-đổi thành Đức Chúa trước tiên đi vào hiện-hữu và rồi thành Đấng Thánh-hoá cho đi sự sống có thẩm-thấu bộc-lộ cho mọi người thấy được thực-chất của mọi hữu-thể.

 Đức Giêsu sai-phái tông-đồ Ngài ra đi mà đến với thế-gian (Mt 28: 16-20). Các tông-đồ được lệnh vượt lằn ranh biên-giới của nước mình, bộ-tộc mình và đặc-biệt hơn, vượt khỏi đạo-giáo của mình nữa.

 Khi các ngài, cuối cùng, không thể nào thoát khỏi mọi lằn ranh nằm bên trong nhân-loại nay trải rộng và cởi mở, các ngài được lệnh rao-giảng Tin Mừng, tức là: tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa với mọi người mà Chúa đã thực-hiện, một tình-thương vốn không chấp-nhận một lằn ranh cách biệt nào hết.

 Tình-thương không ranh giới sẽ yêu thương cả những người khi xưa tìm cách đóng đinh Tình-Yêu của Chúa vào thập-giá. Nó bao gồm mọi loài, mọi cây cỏ, mọi hành-tinh, mọi bộ-tộc mọi người.

 Tất cả đều được Chúa chọn. Không một ai là người ngoại-cuộc, ngoài hành-tinh. Không ai bị chia-cách khỏi Chúa. Ta sống trong Chúa. Chúa sống trong ta. Ta là nhân-chứng ở Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và “cho đến mút cùng của trái đất” (Cv 1: 8). Tên của Đức Giêsu nay đã là Emmanuel, có nghĩa: Thiên-Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1: 23).

 Và, khi Ngài phán: “Này, ta sẽ ở với các anh mãi.” (Mt 28: 20) tức là Ngài đã nói lên danh-xưng Emmanuel là tính-cách rất thực. Và, khi Thiên-Chúa tự-do như Thần-khí, mọi lằn ranh cách-biệt giữa quốc-gia và thể-chế, biểu-trưng bằng các ngôn-ngữ khác-biệt, thì lằn ranh ấy bị tẩy/bỏ và mọi người được ơn Thánh-thần và bắt đầu nói thứ ngôn-ngữ của tình thương-yêu (Cv 2: 1-4). Và, thần-khí ấy thông-chuyển ngang qua lịch-sử, thì lằn ranh biên-giới lại ngã đổ.

Rồi, khi Phêrô nghe tiếng Chúa trong giấc mộng bảo rằng: “Những gì Thiên-Chúa đã tẩy sạch thì ngươi không được gọi là ô-uế” (Cv 10: 9-16) Phêrô mới trổi dậy từ thị-kiến ấy và đã tẩy/rửa cho Cornêlius, người ngoài Đạo. Sử-thi của Do-thái-giáo đã phá đổ mọi rào-cản rồi đi vào với vũ-trụ trở thành anh-hùng-ca của nhân-loại.” (x. Tgm John Shelby Spong, Jesus beyond religion, the sign of Kingdom of God, The Sins of Scripture nxb HarperCollinsPublishes 2005 tr. 295-298)

Thi-sử hay anh-hùng-ca của nhân-loại nay dàn-trải khắp mọi nơi. Trong mọi người. Thiên-sử ấy gọi là tình thương-yêu. Là Đạo-lý của đạo-giáo rất Kitô. Là, gì nữa thì bạn và tôi, ta cũng nên suy-tư mà nhận–định như thế.

Suy-tư/nhận-định không theo kiểu nghe qua rồi bỏ. Nhưng là nhận-chân ra sự thật ở đời dù nhiều khác-biệt, vẫn cứ là ảnh-hình của một sự thật tình-yêu được người diễn-tả qua văn-chương/nghệ-thuật cùng âm-nhạc, cùng mọi thứ.

Trong cảm-nhận sự khác-biệt trong yêu-thương đoàn-kết cũng rất Đạo, mời bạn mời tôi, ta vào với lối diễn-tả nhè nhẹ ở truyện kể như sau:

“Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé đáng thương.

Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi với tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? Và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn con có đi học không ?

Thằng bé nói:

– Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– Chú làm nghề gì vậy hả chú?

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày.

Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi.

Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang giấu giếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài.

Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều.

Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi.

Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm, một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ – cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn.

Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa.

Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm.

Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa.

Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết!

Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó.

Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nổi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia đình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”.

Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney.

Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. (Truyện kể do Sưu Tầm siêu tầm)

             Đó chỉ là một trong muôn ngàn câu truyện đời nói điều gì đó, mà thiên hạ đời thường vẫn cứ nói và cứ kể. Kể đây, có thể để nói lên lòng bác ái/yêu thương của cá-nhân hoặc tổ-chức giúp người kém may mắn.

Về các trích-dẫn ở trên về các Đạo để tìm ra một ngày lễ chung cho Phục Sinh, là vấn đề kết-hợp/đại-kết, còn là và vẫn là kết và hợp với tất cả mọi người, không phân-biệt tôn-giáo, già/trẻ, gái/trai, tức: hết mọi người. Tất tần tật.

Kết và hợp trong đại-kết hoặc nối-kết với người khác, đạo khác, tổ-chức khác vv.. còn là và sẽ là kết và hợp hoặc kết rồi hợp trong tinh-thần nhín nhường, dành ưu-tiên cho người khác, ở trên và ở trước mình. Ưu-tiên cả trong quyền-hành, tiền bạc và/hoặc chổ đứng lẫn vị-thế ở đâu đó.

Kết và hợp còn là và sẽ là sống cuộc đời rất Đạo ở nhà đạo hay ngoài đời. Sống như thế, còn có nghĩa đem Đạo vào đời người trong khiêm-tốn, cởi mở rất hết mình.

Trong tình-thần đó, mời bạn và tôi, ta lại sẽ hát mãi bài hát có con dế mèn và em bé đơn sơ, hiền hoà, chân-chất, rất như sau:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật

A! Này bé, theo dế ra trại định-cư.

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

             Hát thế rồi, nay ta cứ thế mà sống tinh-thần thân-thương, chân-chất của các bé em hiền-lành ở đời.

                        Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn sống

Như bé em

Chỉ chơi dế.

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C 17/4/2016

 Tin Mừng (Ga 10: 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các người Do thái rằng:

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không AI cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không AI cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.

Mai Tá lược dịch. 

 Thông điệp Chúa Chiên Lành hôm nay, có gốc gác rất xưa cổ, thời Cựu Ước. Đặc biệt là sách Êzêkiel, trong đó sáng ngời hình ảnh vị Chúa Chên có “tình cho đi mà chẳng có về”. “Tình cho đi” của Chúa Chiên hôm nay, là sự đỡ nâng đùm bọc, đầy lòng thương xót. Lòng xót thương hai chiều giữa chiên đàn mà Ngài chăn dắt và Vị Chủ Chăn, rất Nhân Hiền. Ở chiên, luôn có sự tự nguyện dấn bước theo chân vị chủ chăn với lòng trọn vẹn tin tưởng. Ở chủ chăn, đó là “lòng kêu gọi mãi”, dù chẳng AI nghe.

Về chăn chiên, các chủ chăn ở Palestine – Trung Đông có thói quen chăn dắt chiên đàn nơi đồng cỏ xanh tươi, bằng đôi chân bước. Chủ chăn chẳng cần đến đàn chó hoặc ngựa cỡi, để lùa chiên như ở Tô Cách Lan, hay nước Úc. Chủ chăn Do Thái, luôn ở phía trước dẫn đường cho chiên con. Và cứ thế, chiên con nghe tiếng chủ kêu gọi mà bước theo sau, rất tin tưởng. Chiên là thú đàn rất hay lo. Dễ hốt hoảng, cách vô lý. Chiên âu lo, nhớn nhác chạy hỗn độn chẳng nguyên cớ. Bất kỳ chuyện tình cờ nào xảy đến, chiên đàn cũng hốt hoảng, chạy tứ tán. Tìm chủ chăn. Và, khi tìm được chủ chăn, thì chiên con cứ răm rắp bước theo đàn, về cùng hướng. Với chiên, chỉ cần nhận Ra lời kêu gọi của chủ chăn, là đã đủ.

Là thú bầy nhút nhát, hay lăng xăng tò mò. Dễ tổn thương. Âu lo. Nên, chiên đàn luôn hãi sợ. Không khôn ngoan cũng chẳng sáng ý như thú loài, nào khác. Chiên quen nghe tiếng chủ, nên khi nghe chủ gọi, chiên không chần chừ, biết tụ tập ngay thành nhóm, thành đàn, tuân lệnh chủ. Không chậm trễ. Chủ biết tính chiên. Chiên biết tính chủ.

Dựa vào đức tính này, thánh Gioan so sánh tâm lý của vị chủ chăn với chiên bầy dễ bảo. Và, thánh sử ví Đức Kitô như Chúa Chiên Nhân Hiền luôn chăm sóc chiên con, nơi đàn bầy. Đây là biểu tượng mà Hội thánh sử dụng để nói về Ơn Gọi trong nhà Đạo: hãy có quyết tâm tham gia trở thành chủ chăn dẫn dắt đàn chiên ngoan đạo.

Lời mời gọi của Hội thánh hôm nay cũng trở nên cấp thiết, khi dữ liệu cho thấy có sự thiếu cân bằng về số lượng và vai trò của các chủ chăn, trong cộng đồng Giáo hội. Chí ít, là Giáo hội ở phương Tây. Ở nhiều nơi, Giáo hội đang bắt đầu dung nạp các ứng viên cho vai trò của chủ chăn từ các nuớc mà trước đây là cánh đồng truyền giáo, đầy những chiên. Bởi thế, cần suy tư nghiên cứu phương pháp và cấu trúc trong đào tạo chủ chăn. Nói cách khác: với Phụng vụ Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Hội thánh trở về với Ơn Kêu Gọi làm chủ chiên, lo chăn dắt linh hồn chiên đàn, tin vào Đạo.

Bàn về Ơn Gọi làm chủ chăn trong Hội thánh, là bàn về sự quan yếu của tình thân thương mật thiết trong cộng đồng dân Chúa. Trước nhất, là sự mật thiết giữa chiên con và chủ chăn, tức Đức Kitô rao giảng, vẫn được coi như sự thân mật linh thánh giữa các thành viên cùng nhà, tức Hội thánh Chúa. Gia đình Hội thánh Chúa ở đây được hiểu theo nghĩa gia đình hợp nhất. Hợp nhất không chỉ hiểu theo hệ cấp thần quyền bên trên. Mà là, sự thân mật giữa mỗi người và mọi người. Vì, tất cả thành viên trong gia đình Hội thnh đều là chi thể có cùng một thân mình, cùng não bộ chỉ huy; và, cùng nhịp đập con tim, tạo sức sống.

Sự mật thiết thân thương giữa thành viên trong Hội thánh không là sự thân thiết mang tính chai lì, thụ động. Thụ động, như thái độ vẫn thấy nơi dân thường trong hệ cấp chính quyền, ở ngoài đời. Với thế quyền ngoài đời, người dân chỉ biết có đóng thuế. Và, thi hành luật pháp, thế là đủ. Trong đạo, thực thi luật pháp và thi hành lệnh cũng tựa như giữ các điều răn, giới luật của Hội thánh. Như thế chưa đủ. Còn phải biết dấn thân hơn nữa. Tức là đáp lại lời kêu gọi mất thiết của Hội thánh.

Hội thánh thân thương mật thiết kêu gọi con dân nhà Đạo hãy luôn nguyện và cầu. Nguyện cầu cho Ơn Gọi, trong Hội thánh. Kêu gọi mỗi thành viên tham gia trở thành thừa tác viên cho công tác mục vụ của Hội thánh. Công tác này có thể là vai trò của vị chủ chăn, như linh mục, tu sĩ hoặc nữ tu. Cũng có thể là thừa tác giáo dân trong vai trò cộng tác với các linh mục tu sĩ ấy.

Hội thánh hôm nay vẫn tiếp tục kêu gọi mọi thành viên trở nên linh mục tu sĩ lo việc tu đức trong cộng đồng dân Chúa. Nhưng gọi như thế, không có nghĩa Hội thánh lọai bỏ sự trân trọng về nhu cầu cần thiết, nơi vai trò của giáo dân trong công trình hợp tác xây dựng Nuớc Chúa. Ngày nay, có lẽ nên hiểu Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên theo nghĩa phổ cập. Nghĩa là, mỗi người một hoàn cảnh và vị thế, tất cả thành viên đều có thể hoàn thành hợp tác với Hội thánh trong công trình chăn dắt đàn chiên con Giáo hội. Mặc dù, nhu cầu trở thành linh mục/tu sĩ, hoặc nữ tu vẫn được nhấn mạnh và coi là ưu tiên hàng đầu.

Tham gia đáp ứng Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên còn là nhận biết lời mời gọi ấy nay gửi đến chính mình, mỗi thành viên. Không phân biệt giới tính, tuổi tác hay sắc tộc. Nhận biết lời Mời Gọi của Hội thánh, đại diện Chúa Chiên Hiền Lành, cũng phải được cân nhắc theo hoàn cảnh của mỗi thành viên và Giáo hội địa phương.

Lời mời gọi của Chúa Chiên Lành, còn là quà tặng riêng lẻ mỗi người đều có thể sử dụng để làm lợi cho người khác. Thành viên khác. Trong cộng đồng Giáo hội, tức các Kitô hữu. Điều này có nghĩa: trên thực tế, ta hãy cùng nhau thực hiện công tác chung của cộng đoàn tình thương là Giáo hội. Công tác xây dựng cộng đoàn tình thương của Đức Chúa, là Chúa Chiên Lành, vẫn đang chờ sự đáp trả của mỗi thành viên. Thành thử, cầu nguyện cho Ơn Gọi, còn có nghĩa là cầu nguyện cho ta, cho người khác, cho bạn bè người thân cùng có Ơn Gọi, chứ không chỉ mình ta. Cầu cho Ơn Gọi, là cầu cho mọi người nghe được tiếng kêu. Tiếng gọi. Của vị chủ chăn đang khẩn thiết kêu mời tất cả dân con trở thành thừa tác viên – tông đồ cho cánh đồng truyền giáo chung.

Cầu, là cầu cho mỗi người. Ở một vị thế. Ta chung lưng đấu cật, cùng nhau thực hiện sứ vụ dựng xây Cộng đoàn tình thương là chính Hội thánh thân thương, ta đang sống. Cầu, là cầu cho toàn thể cộng đoàn biết nghe tiếng gọi của Chủ chăn. Biết tính của chiên đàn, đang lắng nghe tiếng gọi của người chăn dắt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta hãy để ra nhiều khoảnh khắc mà suy tư nguyện cầu về lời gọi mời của Chúa Chiên Hiền Lành, biết ý chiên con. Nguyện cầu cho lời gọi mời của Chúa Chiên gửi đến mỗi chiên con, đem lại kết quả. Với đáp ứng của chiên con. Trong Hội thánh. Nguyện và cầu cho chiên con biết đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng”. Xin vâng, theo thánh ý Chúa mà lãnh nhận bất cứ vai trị nào để phục vụ Hội thánh. Xin vâng, để nếu không làm linh mục, tu sĩ, nữ tu, ta cũng làm thừa tác viên; hoặc phó tế mở mang Nước Trời. Ở trần gian.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch. 

GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

 GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

Các bạn trẻ thân mến,

Không biết có điều gì thay đổi về vẻ bề ngoài của Chúa Giêsu hay không, nhưng rất nhiều người, dù có một tương quan gắn bó rất chặt chẽ với Ngài cũng không thể nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết.  Đầu tiên là bà Maria Madalena.

EMAU

Buổi sáng ngày đầu tuần, bà cùng một số phụ nữ khác kéo nhau ra mộ, dự định là sẽ dùng dầu thơm để xức xác Chúa, nhưng không thấy xác Chúa đâu.  Bà đứng bên ngoài mà khóc, vì ngỡ là người ta đã nhẫn tâm mang xác Chúa đi giấu ở đâu rồi.  Thầy Giêsu hiện ra đứng sau lưng gọi tên bà, bà cứ ngỡ là người làm vườn.  Mãi đến khi Chúa Giêsu gọi bà bằng cái tên thân thương, bà mới thật sự nhận ra đó chính là Chúa.

Hai môn đệ Emmaus cũng vậy.  Họ đang lê bước về quê nhà sau một thời gian rong ruổi theo Chúa. Cái chết của Thầy dường như là một cú sốc rất lớn với họ.  Họ liên hồi bàn thảo với nhau những chuyện liên quan đến Ngài.  Chúa Giêsu bước tới, giả vờ hỏi han.  Họ chẳng hề nhận ra, còn trách “người khách lạ” sao vô tâm với những chuyện động trời vừa xảy ra ở Giêrusalem trong những ngày vừa rồi.  Thấy họ vẫn còn mê muội chưa hiểu chuyện gì, Chúa Giêsu lên tiếng dạy dỗ họ, giải thích cho họ hiểu ý nghĩa của Thánh Kinh và những lời tiên tri nói về Đấng Mesia.  Lòng họ như bừng cháy, nhưng vẫn chưa nhận ra.  Cho đến khi Chúa Giêsu được họ mời vào nhà và làm những cử chỉ hệt như trước kia là bẻ bánh trao cho mọi người, họ mới nhận ra người đã đồng hành với mình từ chiều đến giờ là Thầy Giêsu chí thánh.

Tại bờ hồ Tiberia cũng vậy.  Suốt một đêm cực nhọc đánh cá, các tông đồ, dù là những tay ngư phủ cừ khôi một thời, chẳng bắt được con cá nào.  Khi ngày vừa lên, họ mỏi mệt chèo chiếc thuyền vào bờ trong tâm trạng của những người thất bại.  Bỗng đâu xuất hiện trên bãi biển một người đàn ông lạ mặt, hỏi han các ông về thành tích lao nhọc của đêm qua.  Họ thật thà trả lời là mình tay trắng mà không hề nhận ra người hỏi đó là ai.  Nghe theo lời chỉ dẫn của người này, họ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền như một hy vọng cuối cùng, vớt vát được chút đỉnh.  Quả nhiên, mẻ cá thu được mới kinh khủng làm sao.  Mọi người tất bật lo kéo lưới để thu lượm cá bắt được, thì chỉ có một người trong số đó nhận ra chính Thầy là người đang đứng trên bãi biển kia.

Các bạn trẻ thân mến,

Nhận ra Chúa hiện diện bên chúng ta là điều không dễ tí nào.  Ngay cả các môn đệ, những người đã từng sống chung với Chúa một khoảng thời gian dài cũng không ngay lập tức nhận ra Ngài khi Ngài hiện đến, huống gì những con người xa lạ như chúng ta.

Chúa Giêsu đã phục sinh, và chắc là sau khi phục sinh, Ngài vẫn là Ngài, nhưng cũng có gì đó khác trước.  Cuộc sống với biết bao khó khăn che khuất đôi mắt của ta bằng những giọt lệ buồn như Madalena, những tranh luận như hai môn đệ Emmaus, hay những chán chường, thất vọng như các tông đồ, khiến ta không còn nhìn thấy Chúa hiện diện ngay bên chúng ta.  Những tư tưởng buồn lại nối tiếp tư tưởng buồn.  Hễ cứ gặp một chuyện không vui là ta tiếp tục suy diễn ra những hoàn cảnh khác tệ hại hơn, khiến cho tâm trí ta chỉ toàn những hố sâu của u buồn và chán nản.  Chúa ở ngay đó, nhưng có mấy khi ta nhận ra Ngài.

Maria Madalena đã được Chúa gọi đích danh mình bằng giọng nói thân quen ngày nào.  Nhờ thế mà bà như bừng tỉnh và được giải thoát khỏi những giọt nước mắt tang thương.  Các môn đệ Emmaus thấy nơi Chúa những lời giáo huấn tuyệt diệu thiêu đốt tâm tư và cử chỉ bẻ bánh mà Ngài vẫn hay làm.  Còn các tông đồ thì nhận ra Ngài qua phép lạ mẻ cá.  Ngày đầu tiên khi Giêsu kêu gọi Phêrô, Ngài cũng thực hiện một phép lạ tương tư như vậy.  Làm từ không ra có, hóa ít ra nhiều, chỉ có thể là Thầy Chí Thánh của mình mà thôi.  Chúa sẽ để lại những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài.  Hai người yêu thương nhau luôn có những ký ức về nhau mà chỉ cần nhìn hay nhớ đến ký ức ấy, là trọn vẹn hình ảnh của người kia sẽ được nhận ra.

Đối với chúng ta, có lẽ Chúa cũng để lại muôn vàn dấu ấn như thế để ta có thể nhận ra Ngài.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người nghèo đang cần hơi ấm, cần chút cơm.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người đi tha hương cầu thực, của những ông già bà lão bơ vơ, hình ảnh của những em bé ngây thơ thiếu thốn tình cảm, nơi những bệnh nhân hay những người bị gạt ra bên lề cuộc sống.  Người ta sẽ nhận thấy Chúa trong ta khi ta cũng biết gọi tên người khác bằng một giọng ấm áp yêu thương, khi ta biết dùng những lời dịu ngọt để vỗ về những con tim khô cứng, biết sống một cuộc đời sẻ chia, nâng đỡ, biết an ủi người khác và làm gia tăng những niềm vui nho nhỏ của mọi người.

Các bạn thân mến, giữa các bạn và Chúa Giêsu có dấu hiệu gì của riêng nhau không để khi bạn nhìn vào đó, bạn có thể gặp được Chúa Giêsu?  Có một ký ức nào về Chúa Giêsu hằn in trong trái tim bạn không?  Chúa Giêsu vẫn đang ở đó, chờ đợi bạn đến gặp Ngài.

Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

langthangchieutim gởi

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm Vọng Phục Sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục Sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô Phục Sinh hiện ra.  Từ những lần thấy Đức Kitô Phục Sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

  1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường

LTXot

Đức Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn trong không gian.  Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau.  Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người.  Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới.  Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài.  Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp.  Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo.  Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài.  Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài.  Đức Kitô Phục Sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian.  Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya.  Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng.  Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày.  Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối.  Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt.  Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định.  Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.  Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá.  Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa.  Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi.  Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

  1. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô Phục Sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con.”  Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo.  Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình.  Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước.  Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình.  Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần.  Sau khi gặp Đức Kitô Phục Sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến.  Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

  1. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu Phục Sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ.  Các môn đệ tuyệt vọng.  Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường.  Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì.  Họ như đã chết với Thầy.  Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi.  Đức Kitô là linh hồn của họ.  Linh hồn đã ra đi.  Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô Phục Sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

  1. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô Phục Sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh

Đức Giêsu Phục Sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ.  Đức Kitô Phục Sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.  Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó.  Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen.  Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh.  Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh.  Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng.  Vì Đức Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ.  Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng.  Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta.  Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên.  Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: Trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời.  Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ.  Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách.  Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ.  Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường.  Người ở bên ngưỡng cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người.  Hãy khao khát đón chờ Người.  Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người.  Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào.  Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn.  Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

PHỤC SINH LÀ GÌ?

PHỤC SINH LÀ GÌ?

PHUC SINH

Phục Sinh là người chết sống lại, hay là sự sống lại từ cõi chết (chứ không phải luân hồi hay đầu thai kiếp khác).  GLGHCG điều 997 định nghĩa: “Sống lại là gì?  Trong sự chết, linh hồn lìa xa thân xác, xác con người ta sẽ hư nát trong khi linh hồn tới gặp Thiên Chúa và chờ đợi tới lúc tái hiệp nhất với thân xác được tôn vinh của mình.  Với sức Toàn năng của mình, Thiên Chúa sẽ vĩnh viễn trả lại sự sống bất diệt cho thân xác của chúng ta bằng cách kết hiệp chúng với linh hồn của chúng ta do quyền năng của Chúa Giêsu Phục Sinh.”

Công đồng Latêranô thứ tư (1215) dạy rằng khi Thiên Chúa trở lại lần thứ hai tất cả mọi người, dù đang ở trong địa ngục cũng sẽ đuợc sống lại cùng với thân xác của họ, để chịu sự phán xét của Thiên Chúa về những việc họ đã làm khi còn sống (lúc này chưa có tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, đến 08-12-1854 mới có).  Theo ngôn ngữ của tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính thì sự sống lại được gọi là sự sống lại của thân xác, vì hai lý do.  Thứ nhất, linh hồn được phát xuất từ Thiên Chúa nên bất tử, do đó không thể gọi là sống lại; thứ hai, theo lạc thuyết mà Thánh Phao-lô đã chỉ trích: “Trong số những người đó có Hy-mê-nê và Phi-lê-tô.  Hai người này đã đi trệch đường chân lý, khi nói rằng sự phục sinh đã xảy ra rồi và như vậy họ phá đổ đức tin của một số người” (2Tm 2:17-18).  Lạc thuyết này cho rằng theo Thánh Kinh thì sự sống lại không phải là thân xác được sống lại, nhưng là sự sống lại của linh hồn từ sự chết trong tội, và linh hồn ấy được vào trong sự sống của ân sủng.  Chúng ta phải loại trừ lạc thuyết này, vì nó sai trật hoàn toàn với tín điều xác loài người ngày sau sống lại của Giáo Hội Công Giáo chúng ta.

Đối với Chúa Giêsu, Ngài có hai bản tính.  Dĩ nhiên với bản tính thần linh làm sao sự chết có thể đụng đến được.  Ngài sống lại vì bản tính, thân xác loài người của Ngài.  Chính thân xác loài người của Ngài sống lại là bảo đảm và bằng chứng rõ ràng cách tuyệt đối cho niềm tin của người Kitô hữu chúng ta. Ngài đã chứng tỏ có uy quyền trên mọi sự dữ, tội lỗi và kể cả tử thần.  Ngài sống lại và sau đó về trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, nghĩa là Ngài rất quyền uy và đã đem theo cả thân xác phàm trần lên Thiên quốc.  Trước kia Chúa phán “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13), nhưng nay thân xác phàm trần hèn hạ, ô uế của chúng ta cũng sẽ được diễm phúc tiến vào Thiên quốc, vì Ngài đã hứa: “… vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:2-3).

Vào thế kỷ 13, Thánh Tôma A-qui-nô (Tiến Sĩ Hội Thánh) được chỉ định để giải thích ý tưởng thần học của Kinh Tin Kính.  Căn cứ từ Thư Thứ I Corintô 15: 42-44 của Thánh Phaolô Tông Ðồ, Ngài đã nêu lên nhiều đặc tính sau khi sống lại.  Bốn trong số đó là:

1/ Không bị chi phối bởi cảm xúc (Impassibilitas): Không biết đau đớn; không cần những nhu cầu cho thể lý như ngủ nghỉ, lương thực.

2/ Sự trong suốt sáng láng (Claritas): Sự trong suốt sáng láng hoàn hảo của linh hồn được thể hiện trên những nét đặc trưng của thân xác.  (Có lẽ đây là lý do khiến các tông đồ không thể nhận ra Chúa ngay, đòi hỏi phải có thời gian mới quen mắt).

3/ Sự nhanh nhẹn (Agilitas): Có thể di chuyển nhanh như sự suy tưởng, nghĩa là nghĩ đến nơi nào là xuất hiện tại nơi đó tức thì.  Chúa Kitô đã đến hoặc đi trong tích tắc.

4/ Tính huyền ảo (Subtilitas): Có khả năng đi xuyên qua các vật thể cứng mà không để lại dấu vết.  Chỉ có Thiên Chúa mới biến đặc tính này thành phép lạ: Đó là Ngài có thể ăn uống, đụng chạm đến người khác bằng xuơng bằng thịt thật sự.

Nhân tiện xin nêu thêm một đặc điểm về tuổi tác khi sống lại.  Thánh Tôma-A-qui-nô viết: “Tất cả đều được sống lại ở độ tuổi hoàn hảo, lý tưởng, đó là tuổi ba mươi hai hoặc ba mươi ba.  Bởi vì những ai chưa đạt đến độ tuổi này, tức là chưa có những đặc tính hoàn hảo, lý tưởng của độ tuổi đó, và những người già cả thì đã bị mất đi những đặc tính này.  Do đó trẻ em và những người trẻ tuổi sẽ được bổ sung những đặc điểm họ thiếu, còn những người già cả sẽ được phục hồi những đặc tính đã mất: “Cho tới khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Ðức Kitô” (Eph 4:13).  Ðiều này có lẽ đã được chứng minh mỗi lần Ðức Mẹ hiện ra như ở Lộ Ðức, Fatima và các nơi khác v.v… đều được chứng thực là một phụ nữ trẻ, đẹp (khi Ðức Mẹ từ trần cũng đã già lắm, it ra cũng 60 hay 70 tuổi chứ không còn trẻ đẹp).

Tóm lại, chính Thần Khí của Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại, thì cũng chính Thần Khí ấy sẽ làm cho chúng ta sống lại.  Và nếu Thiên Chúa đã đem cả thân xác nhân loại của Ngài vào Thiên quốc, thì chúng ta cũng tràn ngập hy vọng, hân hoan, chắc chắn sẽ được gặp và ở với Ngài trên Thiên quốc như Ngài đã hứa.

Sưu tầm

http://www.dccthaingoai.com

***************************************

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.

Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

 

Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 Phục sinh năm A 10/4/2016

 “Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.”

Khi bước ra đường bình minh mới lên.

Ba má đã khuyên mình nên đi sớm.

Em hãy leo lên để anh đi liền!”

(Phạm Duy – Đức Bé Đến Trường)

 (Năm xưa trên cây xồi, Mẹ Maria ôi thôi!)

  Trần Ngọc Mười Hai

Bần đạo đây, mỗi lần viết chuyện phiếm, thường trích-dẫn rất nhiều nhạc bản tình-ca ướt-át, hoặc nhạc đồng quê, sinh-hoạt thật không thiếu. Duy, có nhạc trẻ nhỏ như hôm nay, thật cũng ít.

Chính vì ít, nên bần đạo cũng chẳng bận tâm nhiều đền âm-giai, tiết-điệu mà nhiều lần chỉ chú ý đến ca-từ/lời lẽ sao cho thích hợp với chủ-đề mình muốn bàn mà thôi. Thú thật thì, nhạc đời về tình yêu-đương đôi lứa, thấy rất nhiều. Còn về tình đời bé nhỏ của trẻ em, thật rất ít. Ít-oi, như các lời ở dưới vẫn ca rằng:

 Đưa bé đến trường từ nơi xóm hẹp.

Qua những con đường vòng quanh đã quen.

Ra tới công viên ngựa xe như nước.

Len giữa đám đông chật như đóng nêm.
Trên xe, trên xe em nói huyên thuyên.

Bao nhiêu, bao nhiêu chuyện cổ tích tiên,

anh tuy nghe luôn, anh vẫn quên liền.

 Thôi em, thôi em con dốc nghiêng nghiêng.

Anh đang leo lên nghẹt thở đứng tim.

Xin em im đi cho anh gắng anh đạp!
Xe lăn bon bon chuông bấm kinh coong.

Đang đi em xin ngừng lại gốc soan,

cho em giơ tay em hái hoa đẹp.

 Thôi em, thôi em ta hãy đi mau.

Không ai, không ai chờ đợi bé đâu.

Anh nghe như chuông nơi mái trường reo. “

(Phạm Duy – bđd)

 Thú thật với bạn đọc, rằng thì là: viết phiếm mà không kèm giòng nhạc êm ái, có tiết-điệu diễm-kiều/ủy mị, thì rất khó. Khó là bởi, viết mãi rồi thấy mình toàn những nói và nói, chẳng để người đọc lắng nghe. Mà, người đọc nào chịu nghe nếu không có giòng âm-nhạc ướt-át/trữ-tình cơ chứ. Thế nên, hôm nay, trước khi đi vào chi-tiết cần viết phiếm, xin mời bạn ta nghe thêm ít câu nữa:

Xe đi loanh quanh, mưa xuống nhanh nhanh.

Chân anh, chân em tràn ngập nước văng.

Anh em ca lên cho đỡ run lạnh.

Ca lên, ca lên câu hát anh em.

Ta thương yêu nhau, đời là cõi tiên.

 Nay mai xa nhau, kỷ niệm chẳng quên!
Đưa đón em bằng một xe móp mẹp.

Đưa đón em bằng tình anh với em.

Đưa đón em sao mà vui tha thiết.

Đưa đón em như là đưa người tình.
Mai mốt em thành người trong xã hội.

 Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

Nói gì thì nói. Viết gì thì viết. Viết cho lắm, cho nhiều mà không nghe người đọc phản-hồi, thì hỏng bét, đấy bạn ạ. Bởi thế nên, hôm nay, bần đạo đã từng nghe người đọc có bạn phản-hồi về chuyện hôm trước bần đạo nói về việc tôn-sùng Đức Maria, vẫn chưa đủ ý, đủ lời.

Thật vậy, nay bèn xin phép bạn đọc, ta nghe thêm đôi điều về chuyện này. Trước nhất là lời lẽ của đấng bậc thày dạy, rất thần-học, rằng:

 “Thật ra thì, lối bắt-chước Thiên-Chúa một cách trực-tiếp như thế, lại vắng bóng ở thư đích-thực do ông Phaolô soạn. Bởi lẽ, ông cũng có khuyên những ai dõi bước theo chân ông hãy sao/chép gương lành của Đức Kitô mà thôi.

 Thế nhưng, do bởi ta chỉ hiểu biết rất ít về Đức Giêsu do ông Phaolô trưng-dẫn tựa như lời ông dặn tín-hữu dân ngoại: hãy theo mẫu gương của chính ông hoặc các cộng-sự-viên gần ông nhất, là thứ mẫu và gương họ tạo về Phaolô như lời lẽ trong thư thứ nhất Côrintôi đoạn 11 câu 1 từng tuyên-bố: “Anh em hãy bắt chước tôi, cũng như tôi đối với Đức Kitô.”

 Và, đoạn 4 câu 16 trong thư này, ông còn thôi-thúc tín-hữu nhiều hơn nữa về chuyện bắt-chước như sau: “Vậy, tôi khuyên anh em hãy biết theo gương tôi.”

 Theo cách các nhà mô-phạm vẫn tỏ-bày, thì điều này có vẻ như lời khuyên-bảo về Đạo gửi đến tín-hữu ở Côrintô, ông Phaolô đề-nghị họ hãy sống và làm như ông từng thiết-lập quan-điểm mới về đạo-lý trong đó tín-hữu thấy mình trước nhất có được trạng-huống này là từ Đức Kitô; thứ đến là do Thiên-Chúa mà ra.

 Với một Người Cha ở rất xa và một Đức Kitô không diện-mạo rõ ràng, thì lời khuyên của ông Phaolô đưa ra là dành để cho các tín-hữu mới tòng-đạo còn nhút-nhát khiến họ có thể xem những người gần-gũi với họ xem có ai khiến họ tin-tưởng được hay không, mà thôi.

 Xem như thế, đã bắt-đầu thấy có xu-hướng rất dễ thấy nơi các vị theo Công giáo hoặc Chính-thống-giáo tạo khuôn-mẫu, những người môi-giới và trung-gian hoà-giải giữa các kẻ tin và Thiên-Chúa. Các người trung-gian khi xưa, là: Đức Kitô và ông Phaolô. Và sau này, nhờ nguồn hứng của cộng-đoàn Phaolô khi ấy, là: Đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu Đấng-bậc trong một số nguồn-cội của Đạo Chúa lại có khuynh-hướng được đối-xử gần như nữ-thần, ít ra là Đấng Thứ Tư trong Bốn Ngôi Thần Thiêng Thánh ái.

 Vào các thế-kỷ đầu của Hội thánh, các Đấng được các thánh tử-vì-Đạo gộp chung lại làm một và từ đó, một số các thánh khác ngày càng làm như thế. (Xem Gs Geza Vermes, Khuôn Trăng Diện mạo Ngài thay đổi: Đức Giêsu và cuộc sống trọn lành theo ông Phaolô,

www.giadinhanphong.blogspot.com 14/3/2016)

Những giòng suy-niệm trên đây đại-ý muốn bảo rằng: Đạo của ta cũng đã tạo hình-tượng để dân con mọi người tôn-thờ và bắt chước Đức Maria là mẹ hiền của Hội-thánh luôn thương-yêu, che chở và cầu bàu cho con cái của Mẹ. Tuy nhiên, chừng như ta lại cứ tôn-sùng/phụng thờ Mẹ quá độ, đến là thế.

Tôn-sùng Mẹ đến như thế, như thể nghệ-sĩ già họ Phạm đã đưa lên thành ca-khúc, rất như sau:

“Đón bé ra trường, chiều mưa hoang lạnh.

Manh áo tơi trùm cả em, lẫn anh.

Thương chiếc xe xanh, nhỏ xinh ướt át.

Nhưng ấm trong tim hồi chuông giáo đường.
Đón bé ra trường, chiều mưa xám xịt.

Đi giữa hai hàng đèn đêm đứng im.

 Em bé co ro ngồi ôm tay lái.

Anh cũng so vai còng lưng tiến lên.
Nhưng em không quên em nói, em khoe.

Hôm nay cô cho mười điểm, thích ghê!

Nhưng đôi tai anh đâu có nghe gì.

 Thôi em, thôi em khi nước mưa tuôn,

xe đang đi trên đường hẹp đất trơn.

Em im đi cho anh gắng anh đạp!

(Phạm Duy – bđd)

Tôn-sùng hay phụng-thờ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người, cũng là biểu-tượng của sự tôn-trọng và cảm-kích tình mẫu-tử trong đời người. Kể nhiều về tình này, chắc mỗi người và mọi người đều kích-động, mủi lòng, như truyện kể dài ở bên dưới để minh-hoạ cho bài phiếm hôm nay.

Truyện, là truyện như thế này đây:

“Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc valy nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cái tuổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần:

-Chào mẹ!

Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào.

 Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi. Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lên năm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên… thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ.

 Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giãi bày:

-Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba…

 Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng:

-Đây là sông Potomac . Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phần hình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòng cách đây độ nửa giờ.

 Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ:

-Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!

Bà nói giọng mệt mỏi:

-Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.

Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam . Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi… Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn. “Nhưng vẫn thua phở Hà Nội”, tôi nhanh nhẩu tiếp lời. Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh…

 Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi không có chút gì hòa điệu… Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ:

-Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.

Tôi cười buồn:

-Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…

Giọng mẹ thảng thốt:

-Tại sao thế?

Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi:

-Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết…

Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng gia đình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà.

 Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan. Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười… Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản:

-Sao con không nói gì với mẹ?

Tôi lắc đầu:

-Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!

 Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ. Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi:

-Sao không thấy con thờ ba con?

-“Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?

 Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ.

Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu. Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà còn lạnh lùng với cả người còn sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa.

 Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ.

 Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng:

-Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?

Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp:

– Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!

Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc. Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi:

-Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.

 Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam.Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình.

 Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam . Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản.

 Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường. Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con. Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnh viễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ.

 Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ. Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông…Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi:

-Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?

-Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.

Mẹ nhìn tôi, dò hỏi:

-Con ở đây một mình sao?

Tôi gật đầu:

-Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.

Giọng mẹ ngập ngừng:

-Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…

 Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng. Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp. Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung.

 Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ “có mẹ” mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép. Mẹ nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

-Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.

-Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam . Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?

 Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng:

-Đừng làm mẹ buồn!

Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngã tư…

Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City . Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ.

 Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên:

-Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.

Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam .

Tôi nhìn mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều:

-Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà…

 Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần. Tôi nói chầm chậm:

-Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!

Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:

-Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ý định của mẹ.

Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn:

-Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.

Tôi hững hờ nhận.

Mẹ tiếp:

-Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.

Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa:

-Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!

Mẹ nhìn tôi đăm đăm:

-Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích…

-Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước.

-Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng. Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng:

-Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…

-Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…

 Tôi cố giữ giọng bình thường:

-Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!

 Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi. Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống, tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ:

-Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.

 Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được:

-Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. “Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi.” Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối!

 Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới…Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đã viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài lòng đã được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate . Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh bình mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm.

 Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những hình ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium. Khi chúng tôi về tới quận Cam . Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ.

 Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.

 Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon . Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn. Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục. Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau…

 Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali . Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam . Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi.

 Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói:

-Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không, khi xưa nhiều người chủ-trương đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Mấy chục năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút thế mà giờ đây có người từng đánh đuổi Mỹ lại cứ muốn … “cút” theo Mỹ!

 Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm… Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas . Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam . Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ.”

Truyện kể thì như thế. Chẳng có ý tuyên-truyền chính-trị quốc/Cộng, cũng chẳng muốn phổ biến thói quen tôn sùng Đức Mẹ đến độ thờ lạy. Có nhớ, có lần bần đạo chợt nhận ra ca-từ ở bài hát mình vẫn cùng hát với cộng-đoàn tình-thương đến 60 năm trong đó có câu:

 “NĂM XƯA TRÊN CÂY SỒI

LÀNG FATIMA XA XÔI,

CÓ ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI

HIỆN RA UY LINH SÁNG CHÓI.

MẸ NHẮN NHỦ NGƯỜI ĐỜI

HÃY MAU ĂN NĂN ĐỀN BỒI,

HÃY TÔN SÙNG MẪU TÂM ,

HÃY NĂNG LẦN HỘT MÂN CÔI.

MẸ MARIA ƠI! CON VÂNG NGHE MẸ RỒI,

SỚM CHIỀU TỪ NAY THỐNG HỐI.

MẸ MARIA ƠI! XIN MẸ ĐOÁI THƯƠNG NHẬM LỜI

CHO NƯỚC VIỆT XINH TƯƠI,

ĐỨC TIN SÁNG NGỜI.

Thôi, chết thật rồi, các cụ ạ! Xin gì không xin lại đi xin cho đất nước Việt Nam , ôi thôi! “đức tin sáng ngời” là thứ, là điều chỉ có Chúa mới cho thôi. Còn Đức Maria, dù là Mẹ Việt Nam hay Mẹ quốc tế, chỉ là Đấng hộ-phù, cầu bàu cùng Đức Chúa, mà thôi.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta cứ thế hiên ngang ngẩng đầu về phía trước, không phải để xin xỏ điều gì với Mẹ hiền rất Maria, mà để hát với lũ trẻ bài đồng ca mà rằng:

“Mai mốt em thành người trong xã hội.

Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn hát thật nhiều

Cho vui cuộc đời mình và đời người

Chứ không để xin xỏ, điều gì

Với một ai.

Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm C 03/4/2016

 Tin Mừng (Ga 20: 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

Một người Dtrong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,

Nguyện cầu xin cho thế gian mãi vui”

(Dân từ thơ Quốc Vượng)

 Thắp sáng ngọn nến, để thế-gian mãi vui, còn là thắp sáng cả niềm tin-tưởng của dân gian trần thế, chốn người phàm. Thắp sáng ngọn nến tinh-thần đầy tình thương còn là ý-tưởng được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, ghi lại giòng kể rất thông thoáng những điều dính dấp đến niềm tin của TôMa. Là môn đệ một lòng yêu Chúa, nhưng thánh nhân vẫn tỏ ra hơi cứng tin. Vẫn tuyên bố một lập trường, nghe khá quen. Lập trường: chỉ tin khi được phép sờ vào vết thương đau Thầy Chí Thánh, nay sống lại.

Tôma là hình ảnh của rất nhiều con dân nhà Đạo, ở khắp nơi. Những người có thói quen phản ứng theo cung cách của chốn đời thường. Chí ít, là nơi các kẻ tin cậy và thương mến Đức Kitô, những thành viên dấn bước theo chân Chúa, xưa cũng như nay. Có thể gọi họ là những người có niềm yêu không thay đổi. Nhưng, niềm tin như thế cũng chẳng nên “viết trrên giấy có kẻ giòng”, ngày Chúa sống lại.

Trình thuật tuần Chúa sống lại, là Tin Mừng mới mẻ về một niềm yêu, và cả về niềm tin. Mới mẻ là bởi, trên hết mọi sự, niềm tin phải là tin vào Đức Kitô sống lại. Và, niềm yêu cũng cũng vẫn là lòng thương mến Đấng Nhân Hiền đã dạy đàn con thân yêu phải như thế. Ngài yêu thương loài người rất bền bỉ, cả lúc chết lẫn khi sống lại. Khi sống lại, Ngài hoàn tất sứ vụ Thiên Sai, Cha đã trao.

Tin Mừng Chúa đã sống lại nay hiện diện với Tôma thánh nhân, cũng mang dáng dấp của một thuật truyện khá thần bí. Thần bí với Tôma là đại diện cho nhiều dân con nhà Đạo. Khá thần bí, vì dân con nhà Đạo không hiểu rằng sứ vụ Thiên Sai chỉ kết thúc bằng và qua sự Sống lại của Đúc Chúa; để nhờ đó, Ngài mới về với Thiên tính, hòa hợp cùng Chúa Cha.

Trình thuật hôm nay còn nhắm gửi đến cộng đoàn Êphêsô, là hội thánh đang hoang mang và hãi sợ. Hoang mang, vì cộng đoàn dân Chúa đã kinh qua nhiều thử thách. Hãi sợ, vì Người Do thái vẫn dè chừng, dòm ngó, chẳng để yên. Hoang mang và rất sợ, còn vì người ngoài cuộc chẳng tin là Thầy mình đã sống lại.

Bàn về niềm tin và niềm yêu của người dân đi Đạo, trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh đến sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh. Đức Chúa Phục Sinh nay ở giữa chúng ta, những kẻ cứng tin như thánh Tôma. Và từ lúc đó, việc tin Chúa Phục sinh đã phổ biến rất nhanh, như lời kể trong sách Công Vụ: “Càng ngày có nhiều người tin theo Chúa, cả đàn ông đàn bà rất đông” (CV 5: 12b)

Về niềm tin của cộng đoàn dân Chúa tuy có hãi sợ, lúc ban đầu: “Nơi các môn đồ ở, các cửa đều đóng kín.” (Ga 20: 19). Nhưng với lời chúc phúc của Thầy Chí thánh đã sống, niềm hãi sợ giờ này đã tan đi:  “Bình an cho anh em” (Ga 20: 27).

Với chúc phúc của Đức Chúa, thánh Tôma và dân con nhà Đạo từ nay đã trở về với cung lòng yêu thương của Đức Chúa. Về với niềm tin đích thực, không đổi thay. Được Chúa Nhân Hiền chúc phúc, loài người từ nay được Chúa ờ cùng. Ở với đàn con nay đã có niềm tin và niềm yêu, không đổi thay. Với niềm tin –yêu không còn thay đổi, thánh tông đồ nay đã mở mắt để nhận ra Thầy mình đích thực là Đức Chúa, Đấng Thiên Sai do Cha gửi đến: “Lạy Chúa  con! Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20: 29). Thành thử, lòng cứng tin của thánh Tô ma tông đồ cũng là cơ hội để Chúa Cha chúc phúc cho mọi người. Đứng đầu là thánh nhân.

Qua tuyên xưng của thánh nhân tông đồ, con dân nhà Đạo nay không còn cứng tin nữa. Nhưng, nhận ra Thiên tính của Thầy Chí Thánh, Đấng Nhân Hiền. Và, đây còn là thông điệp đậm nét mà thánh sử Gio-an, người môn đệ “được Chúa thương yêu”, muốn bày tỏ. Thuật lại niềm tin yêu và hãi sợ của Tô-Ma tông đồ, thánh Gio-an cũng minh chứng: đây không đơn thuần chỉ là cuộc xum họp gia đình môn đệ của Đức Chúa, mà thôi.

Nhưng, đây còn là thông điệp mang xác chứng của một lệnh truyền: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20: 21). Là Đức Chúa sống lại, nay Thầy sai anh em ra đi để rao truyền niềm yêu và niềm tin “không còn thay đổi” đến với mọi người. Với lệnh truyền của Đức Chúa Phục sinh được chứng xác, đồ đệ kẻ tin nay được đảm bảo có Thánh Thần Chúa ở cùng. Rồi từ đó, các vị được quyền thứ tha lỗi lầm của anh em cùng niềm yêu và tin, nhưng chưa tha thứ.

Quyền uy tha thứ mọi lỗi phạm của anh em, không chỉ là quyền hòa giải giữa các người anh em với nhau, nhưng còn là một giảng hòa sâu đậm giữa con người với Đức Chúa, nữa. Với lệnh truyền hòa giải, nay  dân con nhà Đạo sẽ trở nên một. Một người con có Cha Chung là Đức Chúa, đã sống lại. Một cộng đoàn gồm những người có niềm yêu và niềm tin. Những người con yêu được ở trong Chúa. Và với Chúa.

Xem như thế, xác định về niềm yêu và tin của mọi dân con Đức Chúa, từ nay được “viết trên giấy có kẻ giòng”, “không đổi thay”. Từ nay, mọi con dân nhà Đạo sẽ không còn cứng tin như Tôma tông đồ, vào dạo trước. Và từ nay, các Tô-ma đương đại sẽ không còn hoang mang, hãi sợ. Vì được Đấng Nhân Hiền Chí Thánh chúc phúc: “Bình an cho anh em!” .

Các Tôma thời đương đại, chung cuộc rồi ra cũng nhận biết được dung mạo của Thầy Nhân Hiền đã sống lại, nơi người anh, người chị của mình tại các xóm nghèo thành thị. Và, những người em còn ở chốn nhân gian đầy kinh sợ. Sợ nghèo, sợ đói. Sợ cả dân gian chưa có được niềm tin. Sợ đến độ chẳng còn biết “tin” vào ai. Nói gì đến niềm yêu “không đổi thay”.

Và nếu con dân nhà Đạo vẫn còn những đồ đệ chưa xác tín, vẫn hãi sợ mông lung, thì này đây thêm một khẳng định, nơi trình thuật: “Những điều được chép ở đây, là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Và, để nhờ tin mà được sống nhờ danh Nguời.” Nói cho cùng, mấu chốt cơ bản của Đạo Chúa không là gì khác ngoài những TIN và YÊU. Một niềm yêu và niềm tin không đổi thay. Và các niềm ấy, không chỉ “viết trên giấy có kẻ giòng”, thôi. Mà, còn được ghi tạc nơi phần sâu thẳm của tâm can mỗi người. Nơi mọi người.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao niềm tin của ta vẫn mãi trong sáng. Không hãi sợ. Không sợ cả người ngoài hay kẻ xấu.

Cầu và mong sao, khi được Chúa chúc bình an và sai đi loan truyền niềm yêu không đổi thay, ta sẽ vững tin hơn, mà lên đường. Vững tin, để rồi với lời chúc phúc bình an của Đức Chúa, ta sẽ nhận ra Ngài nơi mọi người, người trong Đạo cũng như ở ngoài.

 Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.