Linh Muc Việt Nam đầu tiên làm viện trưởng Viện Thần Học Giáo Hội Công Giáo La Mã

 Linh Muc Việt Nam đầu tiên làm viện trưởng Viện Thần Học Giáo Hội Công Giáo La Mã

Baoconggiao.com

Linh Muc Việt Nam đầu tiên làm viện trưởng Viện Thần Học Giáo Hội Công Giáo La Mã

Sự kiện thứ hai là lần đầu tiên trong lịch sử của Giáo Hội Công Giáo La Mã có một phụ nữ được chỉ định làm hiệu trưởng trường đại học Pontifical University Antonianum, nữ giáo sư Mary Melone của dòng Franciscan Sisters Angeline.


Linh mục Đinh Anh Nhuệ Nguyễn (Ảnh: heraldmalaysia.com)

Theo heraldmalaysia.com, có 3 sự kiện lớn vừa diễn ra tại Rome trong thời gian qua.

Thứ nhất là sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng người châu Mỹ La tinh đầu tiên.

Sự kiện thứ hai là lần đầu tiên trong lịch sử của Giáo Hội Công Giáo La Mã có một phụ nữ được chỉ định làm hiệu trưởng trường đại học Pontifical University Antonianum, nữ giáo sư Mary Melone của dòng Franciscan Sisters Angeline.

Sự kiện thứ ba là cha Đinh Anh Nhuệ Nguyễn, người Việt Nam đầu tiên được chỉ định làm viện trưởng Viện Thần Học Giáo hoàng St. Bonaventure – Seraphicum tại Rome.

Vị linh mục 46 tuổi này thuộc dòng Phanxico Viện tu, OFMConv., và từng là kỹ sư điện.

Ông cũng từng là giáo sư của trường đại học Thần Học tại Melbourne, Australia, và hiện nay là giáo sư của trường đại học Pontifical Urbaniana University.

Cha Đinh Anh Nhuệ Nguyễn đã nhận được nhiều giải thưởng, và năm 2014 đã được vinh danh và trao giải Martini International Award, nhờ cuộc nghiên cứu về chủ đề “Thánh Kinh Và Nền Văn Hoá”.

Tác phẩm giúp ông đoạt giải mang tên Thánh Kinh và các nền Văn Hoá Á Châu: Đọc Lời Chúa trong bối cảnh văn hoá của nó và ngữ cảnh Việt nam (The Bible and Asian cultures. Reading the Word of God in Its cultural background and in the Vietnamese context).

Công trình này khảo sát những câu châm ngôn Kinh Thánh trong tiếng Việt; hình ảnh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa trong Tân Ước và trong truyền thống Việt nam; và ngôn ngữ tình yêutrong Diễm Tình Ca cũng giống chữ tình trong văn chương tiếng Việt.

Cha Đinh Anh Nhuệ Nguyễn đã vượt qua chặng đường dài từ Nga, đến Ba Lan, và rồi đến Italy để hoàn tất cuộc nghiên cứu về thần học. Theo ông, Thiên Chúa luôn luôn kêu gọi và chuẩn bị cho tất cả mọi người đến với con đường phụng sự Giáo Hội ở mọi thời đại, mọi nơi chốn và mọi quốc gia.

Song Châu / SBTN
https://zenit.org/articles/interview-a

Vị lãnh đạo hội thánh Tin Lành của “nhà thờ khổng lồ” trở lại Đạo Công Giáo‏

Vị lãnh đạo hội thánh Tin Lành của “nhà thờ khổng lồ” trở lại Đạo Công Giáo‏

baoconggiao.com

Vị lãnh đạo hội thánh Tin Lành của “nhà thờ khổng lồ” trở lại Đạo Công Giáo‏

 

Mục sư của “nhà thờ khổng lồ” giáo phái Phúc âm kể câu chuyện trở lại vang lừng của mình

Mục sư người Bắc Âu Ulf Ekman thổ lộ với đồng hương người Thụy Điển Henrik Lindell của mình.

Từ ba mươi năm nay, mục sư Ekman là người rao giảng phúc âm nổi tiếng nhất, ông sáng lập “nhà thờ khổng lồ” Livets Ord (Lời Sự sống). Trước hết là từ mạng của các cộng đồng quy tụ hơn 250 000 tín hữu ở Bắc Âu, nước Nga và vùng Caucase, ông cũng là một trong những người biểu tình chống cuộc viếng thăm của Đức Gioan-Phaolô II tháng 6 năm 1989 ở Stockholm, thủ đô Thụy Điển. Và bây giờ, ông được Đức Phanxicô ban phép lành ở Quảng trường Thánh Phêrô, ông tuyên bố: “Tôi muốn tất cả tín hữu kitô giáo trở lại đạo công giáo”!

Sững sờ, chướng tai, chất vấn…

Việc mục sư Ulf Ekman trở lại đạo công giáo đã gây kinh ngạc, tai tiếng nơi người Tin Lành, nhưng cũng tạo chất vấn nơi người công giáo, những người nghĩ rằng tinh thần đại kết là đời đời kiếp kiếp “ad vitam aeternam”, ai ở nhà đó. Ký giả báo Sự sống (La Vie) Henrik Lindell hiếu kỳ muốn biết tại sao có sự trở lại này, ông đã “tra hỏi” rất lâu dài đồng hương Ulf Ekman của mình để biết tiến trình này. Kết quả thật lôi cuốn. Sự quan tâm này không phải chỉ do bối cảnh trở lại của ông và vợ ông là bà Birgitta, nhưng còn do lập luận sáng rõ của mục sư về đại kết, về uy quyền của Đức Giáo hoàng, về đơn vị hợp nhất của Giáo hội, về vị trí của Đức Mẹ, về các Sách Thánh, các bí tích, cũng như các chủ đề chính yếu mang yếu tố quyết định đến cho chọn lựa của mục sư Ekman và ngoài ra cũng còn nhờ ơn sủng giúp đỡ.

Theo bước chân của Hồng y Newman

Tiến trình trở lại của mục sư không thể nào không liên tưởng đến tiến trình của Hồng y John Henry Newman, một nhà rao giảng Tin Lành nổi tiếng, tinh hoa của đại học Oxford, mà sự trở lại đạo công giáo năm 1845 của Hồng y đã làm cho Giáo hội Anh giáo và cả nước Anh sững sờ chấn động. Chúa nhật 9 tháng 3 năm 2014, ở Thụy Điển cũng có một cơn sốc không kém, khi từ trên bục giảng của nhà thờ do chính tay mình xây dựng ở thành phố đại học Upsal, mục sư Ulf Ekman loan báo tin mình sẽ trở lại đạo công giáo. Đài truyền thanh, truyền hình loan tin này ngay, tin chấn động vì liên quan đến một Giáo hội xưa cổ Luther, một Giáo hội để cho chủ thuyết tự do và chủ thuyết tương đối thắng thế (Ulf Ekman chống mãnh liệt các việc phá thai, phong chức cho phụ nữ, cũng như ban phép lành cho các cặp đồng tính). Cũng như người tạo cảm hứng cho mục sư một thế kỷ rưỡi trước đây, mục sư Newman, ông Ulf Ekman muốn quay về với các nền tảng đức tin và mang lại sức sống cho sứ vụ truyền giáo, nhưng không vì vậy mà ông làm lợi cho những người “thần phục giáo hoàng”. Lòng kính mến Đức Mẹ, lòng sốt sắng và sự ngay thẳng sâu đậm về mặt trí tuệ đã đem ông đến một nơi mà ông không nghĩ là mình sẽ đến: Thần Khí chờ ông ở điểm ngoặc…

“Biết bản chất tự nhiên của Giáo hội”

Chính đây là điểm ngoặc hay đúng hơn là sự quay về mà ông mô tả và giải thích cho ký giả Henrik Lindell. Ký giả Lindell theo dõi ông và vợ ông là bà Birgitta trên con đường hành hương thiêng liêng, vừa trí thức mà cũng vừa thể lý vì ông đưa họ đến Đất Thánh sống ba năm. Bà Birgitta vợ ông là người phụ nữ có trực giác, bà thường đi trước như các phụ nữ thánh đã đi trước các thánh tông đồ. Tại Đất Thánh, bước đầu họ tìm hiểu thế nào là đối thoại đại kết, bằng cách hỏ hết các thành kiến về các giáo hội bạn, nhất là Giáo hội công giáo. Những buổi cầu nguyện chung với những người công giáo có “đặc sủng”, những buổi tĩnh tâm thiêng liêng đã làm  thuận lợi cho sự xích lại gần. Nhưng cũng giống như Hồng y Newman ngày xưa, người kiên nhẫn và nghiêm nhặt tìm hiểu về mặt thần học, bám rễ sâu xa trong Lịch sử và trong các bài viết của các Tổ phụ để “hiểu bản chất thật của Giáo hội”, hai vợ chồng mục sư Ekman cũng đã tìm hiểu từ nhiều năm nay. Đối với mục sư Ulf và vợ là bà Birgitta, đây không đơn giản chỉ quan tâm đến tự biện nhưng là cả một khẩn cấp trong công việc truyền giáo, đáp trả lại lời kêu gọi tối thượng của Chúa Kitô: “Để tất cả nên một, như vậy thế gian sẽ tin” (Ga 17, 21).

Sự thẳng thắn và nghiêm nhặt không nhân nhượng của mục sư Ulf Ekman, người không che niềm vui chứng tá của mình, đã làm cho cuộc phỏng vấn với ký giả Henrik Lindell đích thực là một nguồn vui thiêng liêng. Một quyển sách nên đọc lui đọc tới, nên chiêm niệm để đến lượt chúng ta, chúng ta bỏ hết các thành kiến về Giáo hội công giáo và truyền thống của nó và để chúng ta tìm lại lòng “sốt sắng đầu tiên” này mà các Giáo hội Phương Tây cần biết bao.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch, phanxico
aleteia.org, Philippe Oswald,

Người bị mạo nhận

Người bị mạo nhận

Trải qua nhiều thế kỷ, thánh nữ Maria Madalena bị mạo nhận là người đàn bà tội lỗi. Nhưng thiết nghĩ: Thánh nữ chỉ mỉm cười và xác quyết rằng: “Sự mạo nhận này cũng không có gì là quá đáng, vì chúng ta tất cả là những người tội lỗi, cần thống hối ăn năn và cần ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Ngoại trừ Mẹ Của Chúa Giêsu, trong các Phúc Âm ít có phụ nữ nào được viét đến nhiều và với đầy sự tôn kính bằng thánh nữ Maria Madalena mà Giáo Hội mừng lễ hôm nay.

Tuy nhiên, người ta có thể gọi Maria Madalena là thánh nữ của sự vu oan vì tuy các Phúc Âm nói đến ba phụ nữ cùng mang tên Maria, nhưng truyền thống trong Giáo hội Tây phương đồng hóa cả ba thành một người phụ nữ duy nhất. Bởi lẽ đó, Maria Madalena cũng được cho là người phụ nữ tội lỗi không được nêu tên trong đoạn 7 của Phúc Âm thánh Luca, người đã bất chợt đem bình dầu thơm xức chân Chúa Giêsu rồi lấy tóc lau và sau đó được Chúa Giêsu tha thứ mọi tội lỗi, vì bà đã yêu mến nhiều.

Ngày nay, người ta phân biệt ba thánh nữ mang cùng một tên Maria, mà từ lâu lịch phụng vụ của Giáo Hội Hy Lạp đã kính riêng rẽ. Ðó là Maria làng Batania, chị bà Martha và ông Lazarô. Rồi người phụ nữ đã được tha nhiều vì yêu mến nhiều và sau cùng là bà Maria Madalena, hoặc Maria làng Madala, người được Chúa chữa khỏi “7 quỷ dữ”. Cách nói “7 quỷ dữ” này không thể hiểu là Maria Madalena đã sống một cuộc đời vô luân, nhưng chỉ có nghĩa là bà bị quỷ ám nặng nề.

Ðoạn 8 của Phúc Âm thánh Luca thuật lại hoạt động của thánh nữ Maria Madalena và một ít phụ nữ khác như sau: “Sau đó, Chúa rảo qua các thành, các làng mà rao giảng… Có nhóm Mười Hai đi với Ngài và ít phụ nữ đã được chữa lành khỏi quỷ dữ cùng bệnh hoạn: Maria gọi là người Madala, đã được đuổi khỏi 7 quỷ dữ và Gioanna… cùng nhiều bà khác: Họ đã lấy của cải mình mà trợ giúp Ngài”.

Và con đường nối gót theo thầy Giêsu đã dẫn Maria Madalena từ Galilêa đến Giuđêa, cho tới chân thập giá và chính Marian Madalena cũng là người trước tiên tìm đến mộ Thầy, vào sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, để được thấy Chúa Giêsu Phục Sinh và được trao cho nhiệm vụ đi báo cho các tông đồ: “Hãy đi gặp anh em Ta và nói với họ: Ta lên cùng Cha ta và cũng là Cha anh em, Thiên Chúa của ta và Thiên Chúa của anh em”.

Theo truyền thống Hy Lạp, sau này Maria Madalena đến sống tại Êphêsô cho đến khi qua đời.

Trải qua nhiều thế kỷ, thánh nữ Maria Madalena bị mạo nhận là người đàn bà tội lỗi. Nhưng thiết nghĩ: Thánh nữ chỉ mỉm cười và xác quyết rằng: “Sự mạo nhận này cũng không có gì là quá đáng, vì chúng ta tất cả là những người tội lỗi, cần thống hối ăn năn và cần ơn tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng quan trọng hơn là chúng ta hãy chấp nhận sứ mệnh rao truyền Tin Mừng Phục Sinh qua cuộc sống chứng tá của chúng ta”.

Nguồn: R.Veritas

Ta sống mãi với muôn xuân đầm ấm,

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 17 thường niên năm C 24/7/2016

               Tin Mừng (Lc 11: 1-13)

Một hôm, Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông.” Người bảo các ông: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói:

Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

Triều Đại Cha mau đến,

                       xin Cha cho chúng con

ngày nào có lương thực ngày ấy;

xin tha tội cho chúng con,

vì chính chúng con cũng tha

cho mọi người mắc lỗi với chúng con,

và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.”

Người còn nói với các ông: “Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: “Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả“; mà người kia từ trong nhà lại đáp: “Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.? Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó. “Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? “

* * * *

“Ta sống mãi với muôn xuân đầm ấm,”

Trong mây kinh và trong gió nguyện-cầu.

Nào trân-châu, nào thanh-sắc cho mau,

Dâng hết cả, thanh-âm dường tu khí.

Hồn ta đây bất-diệt với Hà sa.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Mai Tá lược dịch.

Xuân đầm ấm – Gió nguyện-cầu – Thanh-âm dường tu-khí, tất cả khiến hồn người thành bất-diệt. Hồn bất-diệt, để sống mãi với muôn Xuân. Có gió, có mây, có lời kinh nguyện-cầu như Lời Chúa dạy rất hôm nay.

Trình thuật, nay Chúa dạy dân con nhà Đạo khi dấn bước theo Ngài, phải biết cách nguyện cầu với Cha. Nguyện những gì? Cầu ra sao? Mong ngóng điều gì cho mai sau, khi đã nguyện, và đã cầu? Vì thế, môn đệ đã  hỏi Ngài: nên cầu nguyện thế nào cho phải cách? Nói những gì trong lời kinh? Và từ đó, ta có lời kinh “Lạy Cha”, rất hợp ý.

Lời kinh hợp ý, thánh Luca ghi, thường gọn ngắn, chỉ 38 chữ. Ít hơn nội dung trình thuật thánh Mátthêu. Ta hẳn biết, hai bản văn của thánh Luca và Mat-thêu về nguyện cầu, cùng xuất từ một bản gốc.

Nhưng, mỗi thánh sử diễn tả “lời cầu hợp ý Cha”, theo cung cách khác nhau mà vẫn đáp ứng nhu cầu của cộng đoàn mình rao giảng. Tựu trung, văn bản thánh Luca ghi vẫn sớm hơn và sâu sát hơn với thời Chúa sống.

Từ đó đến nay, dân con nhà Đạo vẫn cứ nguyện cầu theo lời dặn của Đức Chúa, vào thánh lễ. Cả vào khi lần chuỗi Mân Côi. Tuy nhiên, điều Chúa dạy hôm nay, không đặt nặng nơi lời kinh; mà, vào thực tế của lời cầu.

Lời cầu “Lạy Cha”, nay không là lời thưa gửi ta có với Chúa. Với Thầy. Hoặc, với vị chánh án, ngồi ở toà. Cũng không là bái lạy/bẩm thưa dâng lên Đấng Hóa Công. Mà, là lời gửi đến người Cha mà ta được phép gọi là “Abba”, Tức, Ba hay Bố. Nguyện cầu đây, là lời trần tình đệ trình lên Cha, như tâm tình của đàn con yêu dấu ngỏ lời cùng đấng bậc sinh thành không chỉ thuộc riêng ai, nhưng hết mọi người. Tức, những người con cùng chung một cha, một bố. Để kêu lên: “Lạy Cha chúng con”, như thế.

Với người Do Thái, tên gọi mỗi người không chỉ đơn thuần nói lên căn cước/lý lịch của một người, thôi; mà là, toàn bộ nhân vị của người ấy, nữa. Ngày xưa, khi trò chuyện thưa gửi với Giavê Thiên Chúa, Môsê đã gạn hỏi danh xưng/tên gọi của Chúa để biết “Người là ai”? Hôm nay cũng thế, khi ghi lại trình thuật thật rõ nét, các thánh sử muốn xác định tính thần thiêng linh thánh của Chúa, nơi Đức Kitô.

Xin cho Triều Đại của Cha mau đến”, là muốn cho Vương Quốc của Chúa mau trở thành hiện thực đối với mọi người. Mong, niềm tin vào Chúa đặt nền tảng trên chân lý. Trên tình thương yêu, đùm bọc, công lý, lẫn tự do. Chú trọng đến phẩm giá, bình an và hài hoà. Cầu, là cầu cho Vương Quốc Nước Trời mau thể hiện. Cầu, là muốn cho thế giới biết cách mà sẻ san sự sống. Sống, cho trung thực. Sống, hợp tác sao cho yêu cầu của mọi người thành hiện thực.

Xin cho Triều Đại Cha mau đến”, là mau thực hiện nơi cộng đoàn. Nhưng, các khiếm khuyết vẫn còn xảy đến với nhiều cộng đoàn yếu kém. Thành thử, nguyện cầu là để “Nước Chúa” đi vào hiện thực nơi cuộc sống của tất cả cộng đoàn, dân nước. Không chỉ một vài cộng đoàn, rất ít oi.

Xin cho chúng con lương thực hằng ngày”, là lời cầu mong được Chúa phú ban “vừa đủ” mọi thứ vật chất, ta cần có hằng ngày. Vật chất ta xin, từ nhu cầu cơm – bánh, cho chí thực phẩm nuôi sống bản thân, rất cần thiết. Lời cầu như thế tuy mang tính vật chất, nhưng là để ta “quẳng gánh lo đi” mà đặt ưu tư cho tương lai mai ngày, ở với Chúa. Để rồi, sẽ đạt trọn “mùa xuân đầm ấm”, sống ngày mai.

Nguyện cầu như thế, là đặt tương lai trong tay Chúa. Là, dành mọi chuyện để Chúa lo liệu. Nguyện cầu, còn là chấp nhận mọi thử thách gửi đến. Thử thách hàm ngụ một nhắn nhủ: hãy cứ lo cho ngày hôm nay, thôi. Tương lai, để Chúa lo.

“Xin thứ tha mọi lỗi lầm của chúng con”, ý là mong được Cha xóa bỏ mọi hệ lụy, quanh lỗi phạm mọi người mắc phải, thời đã qua. Nguyện cầu, là lời cầu rất đích thật, nhưng kết quả chỉ đạt, nếu người người biết thứ tha mọi lầm lỡ mà người khác đã trót phạm, với mình. Lầm lỡ, không chỉ ở những điều mà ta làm cho người khác phiền lòng, mà thôi.

“Xin chớ để chúng con sa cơn cám dỗ”, là cầu cùng Chúa biện hộ cho ta vào giờ xét xử, lúc về sau. Tức, những hệ lụy làm ta ngã gục hoặc trệch ý hướng, tức: không dấn bước theo chân Chúa được.

Khi dạy dân con đồ đệ biết cách mà nguyện cầu cho đích đáng, Đức Kitô nhắc mọi người, một chân lý. Chân lý ấy, tóm gọn nơi lời khuyên: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.” Và: “Ai trong anh em là người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó ư?” (Lc 9-10)

Thoạt nghe, ta tưởng chừng như có nghịch lý, khác thường ở lời Ngài. Nếu Cha trên trời đã chăm lo cho ta đủ mọi điều, thì sao ta lại cứ phải liên tục xin xỏ mãi như thế? Cầu nguyện, như Đức Kitô dạy, không phải là cứ lải nhải như người ở ngoài. Hẳn mọi người đều nắm chắc: Cha chỉ phú ban những gì ta cần, chứ không phải những gì ta muốn hoặc ưa thích. Bởi, điều mọi người ưa thích chỉ là vật chất tạm bợ, chỉ tập trung cho riêng mình, mà thôi.

Cách hay nhất để nguyện cầu, là: hãy tìm hiểu xem mình đang ở vị trí nào trong tương quan với Chúa. Với mọi người. Với thế giới quanh ta. Liên lỉ nguyện cầu -nhưng không phải cứ ê a sớm tối, mà là giúp ta định ra được những gì mình cần xin và cần làm gì.

Và, liên lỉ nguyện cầu, còn giúp ta biết lọc lựa, cả lời kinh. Nguyện cầu, giúp ta làm sáng tỏ giá trị nội tại cũng như hy vọng mình đang có. Có nguyện cầu như thế, ta mới chú tâm đến những gì mình thực cần thiết, để được cứu rỗi. Nguyện cầu, là mong Chúa thực hiện điều mà Ngài muốn ta làm. Làm, đúng theo ý Ngài.

Nói tóm lại, mục đích tối hậu của nguyện cầu, là biết đầm mình trong tương quan với Chúa. Với mọi người quanh ta. Vào với tiệc lòng mến hôm nay, ta sẽ cùng với người anh/người chị trong Hội thánh chung vai sát cánh mà nguyện cầu cho mọi người sẽ mãi mãi ở lại trong tương quan với Cha. Để rồi, cùng với Đức Kitô, ta sẽ thực hiện thánh ý Cha trong mọi hoàn cảnh của đời thường.

Trong tinh-thần ấy, ta hân-hoan bày-tỏ lòng vui sướng hiệp-thông với mọi người anh, người chị trong cộng-đồng dân Chúa, thật phấn-chấn những hát rằng:

 “Hỡi những người thân yêu ơi!

Đây mùa xuân đầm ấm chờ mong một đời.

Cố níu lại ngày yên vui,

Cho nụ cười mặn mà tươi thắm trên môi.

Ta đã có mùa xuân ta chờ đợi.

Muôn tấm lòng rộn vui như nắng mai,

Từ bao năm ta nghe trong diệu-vợi,

Ôi ngờ đâu xuân đã đến hôm nay.”

(Trầm Tử Thiêng & Nhật Ngân – Ta Đã Gặp Mùa Xuân)

Quả là xuân đầm ấm, đang ở trước mắt. Hãy cứ vui. Đã có Xuân Bất Diệt đang ở với ta. Và, “ta sống mãi với muôn Xuân đầm ấm”, xuân miên-trường. Hoan lạc. Xuân nguyện-cầu và thương yêu.

 Lm Richard Leonard sj biên-soạn  – Mai Tá lược dịch.

Cứ Xin Thì Sẽ Được, Cứ Tìm Thì Sẽ Thấy, Cứ Gõ Thì Cửa Sẽ Mở!

Cứ Xin Thì Sẽ Được, Cứ Tìm Thì Sẽ Thấy, Cứ Gõ Thì Cửa Sẽ Mở!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

… Joseph là thanh niên bất toại, tuổi hơn 30. Anh đi bằng hai đầu gối và rất nghèo. Tuy Joseph nghèo của cải nhưng không nghèo niềm tin, lòng hy vọng và nhất là tình yêu thương. Niềm hạnh phúc duy nhất và tràn trề của anh là dành trọn thời giờ để giúp đỡ tha nhân.

Joseph sinh trưởng trong gia đình ở làng nhỏ tại Auvergne (Trung Pháp). Tuổi thơ Joseph trôi qua trong bình lặng nơi khung cảnh gia đình nghèo. Sau khi học xong tiểu học, cậu bé bắt đầu làm việc giúp đỡ cha mẹ.

Không bao lâu sau cảnh thiếu ăn gây ảnh hưởng mạnh trên thân xác gầy còm của cậu bé. Joseph mất dần sức mạnh nơi hai cánh tay: không cầm nổi các vật dụng để làm việc. Cậu cũng không đứng vững nữa. Đến năm 20 tuổi thì Joseph hoàn toàn không sử dụng được đôi chân. Chàng phải bò lết hoặc đi bằng hai đầu gối.

Tàn tật vào lúc 20 tuổi, quả là thử thách nặng nề! Joseph cảm thấy đau đớn khi phải sống nương tựa vào gia đình, trong khi gia đình lại nghèo thật nghèo, cần chàng giúp đỡ một tay. May mắn Joseph là tín hữu Công Giáo nhiệt thành. Chàng sống thật niềm tin của mình. Chàng đặt trọn cuộc đời trong bàn tay Quan Phòng của THIÊN CHÚA. Thêm vào đó, Joseph rất có lòng sùng kính Đức Mẹ MARIA. Và đây là phương thuốc hiệu nghiệm cứu chàng thoát mọi chán nản thất vọng. Chàng lần hột Mân Côi hàng ngày và tìm cách giúp đỡ tha nhân thay vì sống co rút vào nỗi khổ vào cái bất hạnh của chính mình. Chàng cố gắng làm những gì có thể hầu giúp người khác và đỡ gánh nặng cho gia đình. Chàng tự sáng chế hai ống gỗ bao đầu gối và dùng đầu gối đi lại. Nhiều khi chàng đi bằng đầu gối những quãng đường dài đến 8 hay 10 cây số.

Sau đó, chàng ghi tên làm người canh gác đền thờ Đức Mẹ Orcival. Nhờ công việc này, Joseph nhận rất nhiều an ủi. Nhất là chàng hãnh diện vì được phục vụ Đức Trinh Nữ MARIA, Hiền Mẫu thiên quốc. Đền thánh này hàng năm có nhiều tín hữu hành hương đến khẩn cầu cùng Đức Mẹ MARIA. Nhưng rồi dần dần có người đến gặp Joseph, nhờ anh an ủi hoặc chỉ dạy nhiều điều họ cần biết.

Để giúp đỡ tha nhân cách đắc lực hơn, Joseph dọn đến ở với anh rể và xin đặt điện thoại riêng cho mình. Như thế, anh có thể liên lạc thẳng với các bàn giấy, dịch vụ chuyên môn hầu chỉ dẫn lại cho người khác. Anh nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến trợ cấp xã hội, bảo hiểm v.v. Anh trở thành nhân vật quan trọng. Mỗi ngày, số người đến gặp anh đông hơn đến gặp ông trưởng phòng tòa thị trưởng thành phố.

Anh lắng nghe tâm sự, khó khăn của người khác, rồi anh tìm cách khuyên lơn, an ủi, khiến ai ai cũng cảm thấy thỏa lòng mát dạ. Tất cả những gì người ta mang đến dâng biếu, cảm tạ anh, anh phân phát lại cho người nghèo. Nhưng thường thì anh tiếp khách vào ban chiều, và đôi khi kéo dài đến nửa đêm hoặc hai giờ sáng. Nếu có ai tỏ dấu lo ngại cho sức khỏe, anh chỉ mỉm cười trả lời:

– Nếu như đó là tiếng Chúa gọi tôi thì sao?

Kinh nguyện và nhất là lòng sùng kính Đức Mẹ MARIA gìn giữ bảo trợ Joseph luôn luôn trong trạng thái vui vẻ và tin tưởng phó thác. Anh thật hạnh phúc. Và niềm hạnh phúc này anh thông truyền sang những ai có dịp tiếp xúc, tỏ bày tâm sự với anh. Anh giải thích lý do niềm vui nội tâm sâu xa:

– Không biết tôi sẽ ra sao, nếu tôi không bị tàn tật? Quả thật tàn tật trở thành kho tàng, suối nguồn hạnh phúc. Không bị tàn tật, có lẽ tôi sẽ khốn khổ. Trong khi nhờ tàn tật tôi sống tình trạng nghèo khó, thiếu thốn nhưng bù lại, tôi hạnh phúc và có thể trao hạnh phúc cho người khác.

… “Thế nên Thầy bảo anh em: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi CHA trên Trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Luca 11,9-13).

(Albert Pfleger, “FIORETTI de la Vierge Marie”, Mambre Editeur-Diffuseur, 1990, trang 92-94)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 11/9/2014

Anh chị Thụ & Mai gởi

MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?

MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?

Mary Ann Getty

MADALENA
Maria Mađalêna có một ảnh hưởng bền bĩ lâu dài, gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ, tội nhân lẫn các thánh và cả những môn đệ của Đức Kitô qua nhiều thời đại.  Tiếng tăm này không thể dễ dàng giải thích dựa vào các thông tin về bà trong Kinh Thánh.  Điều Tân Ước nói về bà thật ít ỏi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố.  Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.
Có điều gì đó bí ẩn và hấp dẫn về người phụ nữ này trong các Tin Mừng.  Một người phụ nữ mà tên riêng không đi kèm với tên một người đàn ông nào khác ngay trong Tân Ước thì đó là điều thật có ý nghĩa.  Khi xếp bà riêng ra thì hoặc bà là một nhân vật ngoại thường hoặc có vấn đề gì ở đây.  Có lẽ chính vì thế mà óc tưởng tượng bình dân đã “điền vào chỗ trống” và gán ghép bà với những phụ nữ khác trong Tân Ước, tạo nên một khối tù mù.  Trước khi xem các Tin Mừng nói gì thì chúng ta hãy xem thử những gì mà các Tin Mừng không hề nói.

Bà không phải là ai 
      Thỉnh thoảng Maria Mađalêna bị đồng hóa cách sai lầm với người phụ nữ xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu.  Sự đồng hóa này lại càng thêm phức tạp bởi vì người ta thường nhầm lẫn câu chuyện xức dầu với một người phụ nữ tội lỗi, một cô điếm.  Và góp phần khiến vấn đề trở nên tệ hại hơn là hình ảnh của Maria Mađalêna và một người phụ nữ bị cáo buộc ngoại tình trong Tin Mừng Thánh Gioan lại nhập nhằng với nhau.
Trong câu chuyện Khổ Nạn, dầu mục đích sử dụng câu chuyện khác nhau, cả bốn Tin Mừng đều nói về một phụ nữ xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Mc 14, 3-9; Mt 26, 6-13), Thánh Marcô và Matthêu đưa trình thuật nói về một phụ nữ vô danh xức dầu cho Chúa Giêsu có ý nói về cuộc mai táng của Ngài.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang ở nhà của ông Simon người phung hủi, ở Bêthania gần Giêrusalem.  Thánh Gioan cũng thuật lại câu chuyện xức dầu chân Chúa Giêsu không lâu trước cái chết của Ngài, xác định người phụ nữ là Maria thành Bêthania, bà làm thế để tỏ lòng biết ơn Chúa Giêsu đã làm cho em bà là Lazarô sống lại.  Maria là một tên gọi rất thông dụng và có lẽ chính vì thế mà hai bà tên Maria đã bị hòa lẫn vào nhau trong truyền thống Kitô giáo sau đó.
Thánh Luca kể về một phụ nữ vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu khi Ngài đang ngồi bàn ăn trong khi đang thực hiện sứ vụ (Lc 7, 36-50) chứ không phải lúc cuối đời.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang dùng bữa tối tại nhà ông Simon người Pharisiêu.  Có lẽ Maria Mađalêna đã bị nhầm lẫn với người phụ nữ này bởi vì Maria Mađalêna lần đầu tiên được gọi đích danh trong câu chuyện tiếp liền ngay sau trình thuật xức dầu của Thánh Luca (Lc 8, 2).  Góp phần để tạo thêm nhầm lẫn là người phụ nữ này đôi khi được miêu tả là người tội lỗi công khai (một cái tên thanh tao để gọi nghề làm điếm), người đã đổ nước mắt vì thống hối và hành động vì lòng hối hận.  Thế nhưng người phụ nữ xức dầu chân Chúa Giêsu là một phụ nữ vô danh trong Tin Mừng Thánh Luca, và nếu bà được ghi nhớ chỉ vì “tội lỗi” của mình hơn là tình yêu đưa dẫn đến hành động xức dầu chân Chúa, thì điều đó vừa trái với ý nghĩa của dụ ngôn mà Chúa Giêsu vừa mới nói đến trong dịp này lại vừa không phải là mục đích của Thánh Luca khi kể lại câu chuyện.
Vấn đề càng thêm phức tạp khi có một vài thủ bản Tin Mừng Thánh Gioan (7, 53 – 8, 11) nói về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và gán ghép chị này với Maria Mađalêna.  Một truyền thống lâu đời trong văn chương và nghệ thuật Kitô giáo đã vẽ nên một Maria Mađalêna là người tội lỗi ăn năn, sau khi gặp được Chúa Giêsu thì bà đã trải hết phần đời còn lại để khóc than tội lỗi mình.  Thế nhưng các Tin Mừng không hề gán ghép Maria Mađalêna với người phụ nữ tội lỗi, hoặc tệ hơn nữa là một cô điếm.

Các Tin Mừng nói gì
Trong các Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca, bà được gọi là Maria Mađalêna hay “Maria Magđala” (xem Mt 27, 56.61; 28, 1; Mc 15, 40.47; 16, 1,9; Lc 8, 2; 24, 10).  Thánh Gioan gọi bà là “Maria thành Magđala”, một thành phố vô danh trong Kinh Thánh (xem Ga 19, 25; 20, 1.18).  Vài người cho rằng đó là thành phố Magađan (xem Mt 15, 39; Mc 8, 10), một thành phố nằm bên bờ Tây của Biển hồ Galilê, giữa Tiberia và Capharnaum.

Maria thành Magđala được ghép với một địa danh chứ không phải với tên của bất kỳ người đàn ông nào bên cạnh Chúa Giêsu.  Trong thế giới Tân Ước, người phụ nữ thường gắn liền với chồng, cha, con trai hoặc anh em của họ.  Như vậy, người phụ nữ vô danh đã theo Chúa Giêsu và hiện diện dưới thập giá đơn giản chỉ được gọi là “bà mẹ của các con trai ông Zêbêđê.”  Tên gọi Zêbêđê xuất hiện ở đây không phải vì ông hiện diện dưới chân thập giá cùng với vợ con ông, những người đã theo Chúa Giêsu từ Galilê cho đến Giêrusalem.  Song chính ông được nêu tên chứ không phải bà vợ đầy lòng tin của ông.

Maria thành Nazareth, Maria và Martha thành Bêthania được gắn liền với thành phố quê hương của họ nhưng đồng thời cũng được gắn liền với người đàn ông:  Maria với Giuse, Maria và Martha với Lazarô.  Còn Maria Mađalêna chính là môn đệ và tông đồ của Chúa Giêsu.  Không có hàng chữ nào nói lên vai trò này của bà trong Tân Ước.  Đúng ra, các Tin Mừng chỉ phác họa Chúa Giêsu là người thâu nhận “những người học việc” (“môn đệ”).  Sau thời gian học tập với vị Tôn Sư, các môn đệ này được “sai đi” (ý nghĩa của từ “tông đồ”) để rao giảng và hành động với thẩm quyền của Chúa Giêsu.  Từ các Tin Mừng, chúng ta biết rằng các môn đệ được kêu gọi. Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng họ phải làm nhân chứng, tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Giêsu đã khởi đầu.  Các môn đệ được đòi hỏi phải theo Chúa Giêsu và kiên trì cho đến chết.  Họ đã tin và rao giảng sự phục sinh.

Ơn gọi của Maria
Có vài môn đệ được kêu gọi từ bỏ cuộc sống đang đà thuận lợi.  Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan đã “bỏ mọi sự” mà theo Chúa Giêsu (Mc 1, 18).  Lêvi (hay Matthêu) là người thu thuế đã lập tức đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (Mc 2, 13-14; Mt 9, 9).  Những người khác đã bỏ lại bệnh tật và khiếm khuyết của mình và “ơn gọi” của họ thật sự là một phép lạ đúng nghĩa.  Người mù gặp được Chúa Giêsu và được chữa lành.  Kể từ đấy ông đã “đi theo Người trên con đường người đi” (xem Mc 10, 52).  Tương tự như vậy, Maria Mađalêna sau khi được trừ “bảy quỷ,” đã đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 8, 2; Mc 16, 9).  Thánh Luca kê tên bà trong số mấy phụ nữ được trừ quỷ và chữa lành bệnh tật đã đi theo Chúa Giêsu từ Galilê đến Giêrusalem, chăm sóc cho Ngài.

Các chứng nhân làm chứng cho điều họ thấy và nghe.  Các môn đệ được kêu gọi làm chứng cho Nước Trời đã đến trong lời nói và hành động của Chúa Giêsu.  Họ được trao ban nhiệm vụ (xem Mt 10; Lc 9 – 10) và được sai đi để làm điều Chúa Giêsu đã làm (Lc 10, 1.3.9).  Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải trở nên đất tốt để “khi nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, họ nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả” (Lc 8, 15).  Lời dạy này phù hợp với những miêu tả về Maria Mađalêna, sau khi được trừ quỷ, đã kiên trì và trung thành theo Chúa Giêsu cho đến khi Ngài chết trên thập giá, ngoài ra còn lấy nguồn lợi tức của riêng mình để chăm sóc cho Ngài và các môn đệ khác với tình chân thật và lòng quảng đại.

Theo Thánh Marcô, lời dạy cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước cuộc Khổ Nạn là “Hãy tỉnh thức!” (Mc 13, 36).  Họ đã chứng kiến sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu và cuối cùng là sự phục sinh của Ngài.  Thế nhưng các tác giả Tin Mừng nhìn nhận rằng các đấng môn đệ nam nhi đã không thể “tỉnh thức” với Chúa Giêsu dầu chỉ một thời gian ngắn ngủi trong Vườn Cây Dầu.  Vậy mà bà Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã “tỉnh thức” để trông xem cuộc đóng đinh và rồi nán lại để “nhìn xem” xác Ngài được đặt ở đâu.  Thánh Matthêu nói rằng Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã ra mộ từ sáng sớm ngày Phục Sinh để “trông chừng” ở đấy (xem Mt 27, 55-56.61; 28, 1.8-10).  Họ đã “xem thấy” ngôi mộ trống.  Cuối cùng, theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, những phụ nữ này đã nghe sứ điệp phục sinh và về thuật lại cho những người khác.  Họ đã được “sai đi” làm sứ giả hay tông đồ cho các môn đệ khác.

   Chứng nhân và sứ giả
Marcô đã xếp đặt bà Maria Mađalêna và những phụ nữ khác đứng dưới chân thập (Mc 15, 40-41).  Sử dụng Tin Mừng Marcô, Thánh Luca đã đặt ngay tâm điểm sứ vụ của Chúa Giêsu đoạn văn nói về những phụ nữ đi theo Ngài từ Galilê cho đến Giêrusalem để nói lên đức tin và sự kiên trì của họ (Lc 8, 1-3).  Còn theo Thánh Luca, tại Bữa Ăn Tối Cuối Cùng, Chúa Giêsu nhắc đến các môn đệ như là những người cùng đứng với Ngài trong cơn thử thách, “một lòng gắn bó với Thầy giữa lúc gian nan” (Lc 22, 28).  Maria Mađalêna chắc chắn là một trong số người đó.
Bất kỳ khi nào được nêu tên (ngoại trừ Ga 19, 25-27), Maria Mađalêna đứng đầu danh sách những phụ nữ đi theo và hầu hạ Chúa Giêsu.  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, các phụ nữ này đã rời bỏ tuyến hậu phương để xuất hiện dưới chân thập giá.  Chỉ trong Tin Mừng Thánh Gioan thì nhóm phụ nữ này gồm có cả “thân mẫu Chúa Giêsu,” cùng với chị của thân mẫu Chúa Giêsu là bà Maria vợ ông Clopas, và Maria Magđala” (Ga 19, 25).  Được sự ttháp tùng của các phụ nữ này cũng như người Môn đệ Chúa yêu (theo chứng từ của Tin Mừng thứ tư), “thân mẫu Chúa Giêsu” đến sát cây thập giá đủ gần để nghe Chúa Giêsu trăn trối mình cho người môn đệ ấy chăm sóc.  Maria Mađalêna cũng đứng gần đấy, chứng kiến cái chết và lắng nghe Ngài như bà đã từng làm trong suốt cuộc đời mình.

Trái hẳn với các môn đệ nam nhi đã bỏ Chúa Giêsu mà chạy trốn, Maria Mađalêna cùng những người đồng hành phụ nữ không chỉ chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu mà còn nán lại để xác minh nơi chôn cất.  Và các bà đã quay trở lại ngôi mộ để xức dầu thơm xác Ngài vào lúc sáng sớm sau ngày Sabbath.  Sau khi được Chúa Giêsu hiện ra, Tin Mừng Nhất Lãm nói rằng bà Maria Mađalêna đã đi và nói cho các môn đệ khác biết sự việc đã xảy ra thế nhưng họ không tin phụ nữ (Mc 16, 20; Lc 23, 49).  Dường như các môn đệ không tin vì họ xưa nay vốn chẳng tin chuyện phụ nữ.
Trong Tin Mừng Gioan, Maria Magđala đi ra mồ “từ lúc sáng sớm khi trời còn tối.”  Thấy tảng đá che cửa mồ đã lăn sang một bên, bà chạy đi báo cho Simon Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu (Ga 20, 1-2).  Cả ba chạy trở lại ngôi mộ rồi các môn đệ trở về (Ga 20, 9).  Maria vẫn ở lại, khóc lóc (Ga 20, 11).  Cuối cùng, Chúa Giêsu hiện ra và nói chuyện với bà (20, 11-18).  Bà đã về và báo cho các môn đệ rằng: “Tôi đã thấy Chúa” và kể lại những gì Ngài nói với bà (Ga 20, 18).  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, không thấy có ám chỉ nào nói rằng Phêrô và những môn đệ khác không tin Maria hoặc bà là một chứng nhân không đáng tin vì là phụ nữ.  Gioan chỉ nói rằng Phêrô và Môn đệ Chúa yêu đã chạy ra mộ đ
nhìn tận mắt, và người môn đệ Chúa yêu đã tin.  Gioan dường như bóng gió rằng Phêrô không tin ngay lập tức.  Maria Mađalên đã thấy chính Chúa Giêsu và lòng tin của bà được khẳng định trong nhiệm vụ được giao là nói cho những người khác biết về sự phục sinh của Chúa.

Vài kết luận 
Các Tin Mừng đã phản ảnh một tranh luận trong xã hội ở thế kỷ đầu tiên về giá trị chứng từ của những người phụ nữ.  Sự chắc chắn và nhất quán của các Tin Mừng về tính đáng tin cậy của những phụ nữ và đặc biệt của Maria Mađalêna cho thấy rằng các cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu đã có một nhãn quan mới về phụ nữ và chỗ đứng của họ trong một xã hội mới và trong Giáo Hội.  Một cách rất có ý nghĩa, các Tin Mừng đã ghi lại sự thất bại thảm hại của các đấng môn đệ nam nhi trong “giờ khắc” gay cấn nhất, rồi tiếp theo đó là họ đã không tin Maria Mađalêna cùng những phụ nữ khác đã vội vã chạy về loan tin Chúa Giêsu phục sinh cho họ.

         Kinh Thánh thoát thai trong một nền văn hóa gia trưởng phụ quyền.  Trong nền văn hóa như vậy, người ta nói về phụ nữ không mấy tích cực. Để vượt qua bối cảnh này, cần phải thẳng thắn khi nói về các đấng môn đệ nam nhi cư xử như thế nào vào thời khắc cao điểm trong cuộc tự hiến của Đức Giêsu và giải thích vai trò cần thiết của các phụ nữ cũng trong thời điểm ấy. Trong suốt Tân Ước, đặc biệt là các Tin Mừng, hình ảnh tích cực của các phụ nữ vẫn còn là một tiếng nói muốn được giải thích và trả lại tính xác thực.

Maria Mađalêna đã bị đánh giá sai thậm chí bị khinh khi, qua nhiều thế kỷ chúng ta đã đánh mất hoặc bỏ qua vai trò của bà như là người tông đồ đầu tiên.  Mặc dầu các bình luận về bà vẫn còn dè dặt để chỉ nói điều ít nhất, cả bốn Tin Mừng đều đồng ý rằng bà Maria Mađalêna đã ở dưới chân thập giá, nơi ngôi mộ trống và là một trong những chứng nhân đầu tiên về sự phục sinh của Chúa Giêsu.  Bà đã trở thành người mà phụng vụ mùa Phục Sinh gọi là “Apostola Apostolorum” (Tông đồ của các Tông đồ).

Mary Ann Getty

LM Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

From: KittyThiênKim

TÂM TƯ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC THỜI SỰ CỦA GIÁO HỘI

TÂM TƯ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC THỜI SỰ CỦA GIÁO HỘI

Lời người dịch: Đọc trong tập san S.J.M. tôi thấy bài của một linh mục viết về thời sự Giáo hội rất thiết thực và sâu sắc, rất đáng cho các Kitô hữu dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân cùng suy tư. Xin chia sẻ với độc giả.  

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng Nhà Hưu Dưỡng linh mục Cần Tho

 

  1. Người ta thích dán nhãn hiệu. 

1.1 Cho Chúa Kitô.

Ôi Chúa Kitô, Chúa đẹp nhất trong con cái loài người, con yêu Chúa!

Ôi Chúa Kitô, Chúa là nạn nhân đến nỗi không còn hình tượng là người nữa và mình đầy thương tích, con yêu Chúa, ôi, con càng yêu hơn biết bao!

1.2 Cho Giáo hội.

Ôi Giáo hội trong sạch và vô nhiễm tội, Giáo hội là Hiền thê của Con chiên không tì vết, con yêu Giáo hội.

Ôi Giáo hội bị chia rẽ và bệnh tật, Giáo hội là Hiền thê của Đấng vô tội bị xé xác, con yêu Giáo hội, ôi, con càng yêu hơn biết bao!

1.3 Cho linh mục.

  • Người ta thấy tôi mặc áo dòng vải thô và họ thường hỏi tôi: Cha là người bảo thủ (toàn vẹn) phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế.
  • Người ta biết tôi có viết trong tập san “Lửa và ánh sáng” và họ hỏi tôi: Cha là người nhóm đặc sủng phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế.
  • Người ta biết tôi làm việc trong các khu ổ chuột ở Mỹ Latinh và ở đó họ hỏi tôi: cha là nhà thần học giải phóng phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế. Còn tôi chỉ có một câu đáp: “Tôi cố gắng là người công giáo!” Và đó là tham vọng duy nhất của tôi.
  • Người ta tìm cách dán nhãn hiệu cho tôi, đó là họ giới hạn tôi, nhốt tôi lại, xếp loại tôi. Và dán cho cả nhiều người khác nữa với tôi.
  • Người ta đặt tôi vào một cái hộp, điều này làm đau lòng Chúa, và khi họ đặt tôi vào một cái hộp là họ đặt Thiên Chúa vào một cái hộp và họ xếp cái hộp trong tủ nếu gặp nguy khó, gặp chiến tranh, hoặc phải đói kém.
  • Thiên Chúa của tôi không phải để được bỏ vào các hộp, không phải để được dán cho các nhãn hiệu, không phải để được xây những bức tường, không phải để được xếp loại, không phải để được giới hạn!
  • Thiên Chúa của Phúc Âm mà tôi yêu là Thiên Chúa không nhãn hiệu, không tường, không giới hạn.
  • Thiên Chúa của Phúc Âm mà tôi yêu, là Thiên Chúa của tự do, Thiên Chúa sai truyền tôi luôn đi xa hơn, nâng tôi luôn lên cao hơn, yêu tôi luôn nhiều hơn.
  • Người ta mất biết bao thời giờ để nghi kị, để xét đoán, để loại trừ.

Ôi đúng vậy! đã mất đi bao thời giờ, lạy Chúa!

  1. “Những điều trông thấy …”

2.1 Ngoài kia có bao nhiều kẻ trần truồng….

  • Những bức tường của Giáo hội chúng ta có phải là những bức tường sẽ sụp xuống sau cùng không? (tường Bá Linh đã sụp năm 1989)

“Lạy cha, Con van xin Cha để chúng nên một, như Cha và Con là một …”

  • Cái áo đỏ của Chúa tôi ở đâu? Người ta đã làm cho nó thành cái áo vá chằng vá đụp!
  • Cái áo dệt liền từ trên xuống dưới của Chúa tôi ở đâu? Đó là một cái áo rách bươm, đầy những miếng vá chằng chịt!
  • Với cái tên của tôi, người ta nói với tôi: “Cha sẽ là linh mục của giới không muốn lệ thuộc!” Không đâu! Tôi muốn là linh mục của tất cả những ai muốn lệ thuộc vào Chúa Kitô.
  • Với cấp bằng của tôi, người ta nói với tôi: “Cha sẽ là linh mục của giới trí thức!” Không đâu! Tôi muốn là linh mục của Chúa Giêsu Kitô, muốn hiến thân cho mọi người!

2.2 Ngoài kia mọi người đang đói!

Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn!

Tất cả anh em hãy cầm lấy mà uống!

  • Lúc bình minh, Tôi là Giêsu thích đến lối vào các công xưởng và nói với các bạn thợ: “Các bạn có biết Cha tôi luôn luôn làm việc không? Có biết Cha tôi đang làm việc với các bạn không?”
  • Buổi sáng, Tôi thích ra chợ và nói với các phụ nữ: “Các chị có biết một thứ lương thực không hư nát, một thứ lương thực ban sự sống và sự sống đời đời không?”
  • Buổi chiều, Tôi thích đến các nhà tù và nói với các tù nhân: “Các bạn có biết rằng các bạn có tự do không? Tình yêu của tôi đã đến đem các bạn ra khỏi tù đấy!”
  • Buổi chiều, Tôi còn thích đến các trường học, ở đó có các cháu gái đi dép hài và mặc áo dễ thương và Tôi nói với chúng: “Ôi, các bé gái mà Thiên Chúa yêu thương, các con có biết hạnh phúc thật là cho đi tất cả và cho đi chính bản thân không?”
  • Đêm đến, Tôi thích đi đó đây trong các điểm khiêu vũ và nói với người đến ngồi bàn với Tôi: “Bạn có biết, có gì còn hay hơn nhạc rock không? Bạn có biết rằng trái tim và thân xác được tạo dựng cho một cuộc khiêu vũ khác không?”

2.3 Ngoài kia có những trái tim đang chết.

A! Tôi yêu Giáo hội có muôn ngàn gương mặt biết chừng nào, Giáo hội là mẹ tôi có muôn mặt! Tôi yêu Giáo hội được xây móng trên Phêrô và nghiêng mình trên Gioan. Tôi yêu Giáo hội chú mắt vào Đức Maria như ánh sao và nhận ra mình rất đúng nơi Tôma.

  • Tôi nghe nói rằng giám mục của tôi theo truyền thống và giám mục giáo phận bên cạnh thuộc loại tiên tiến. Thật là kỳ cục: Tôi tưởng rằng cả hai đều là những đấng kế vị các tông đồ! Mọi điều khác còn lại chỉ có lợi cho chia rẽ.
  • Tôi nghe nói rằng báo chí Kitô giáo kích động những căng thẳng và những chia cắt. Thật là kỳ cục: tôi tin rằng một tờ báo Kitô giáo là để làm cho hiệp nhất, giống như cây thánh giá hợp nhất chiều đứng với chiều ngang.
  • Tôi nghe nói rằng có những chồi còn rất non bị đè bẹp vì nó mọc nghiêng. Thật là kỳ cục: Phải chăng chỉ cần một cọc đỡ thẳng cũng đủ? Nếu không, từ lâu vườn của tôi sẽ là sa mạc. Không còn một cây liễu, không còn một cây cẩm chướng, không còn một cây hoa hồng. Dường như các cây già cảm thấy bị đe dọa bởi các cây mới được trồng. Trong Phúc Âm của tôi, người ta gọi là sự tàn sát các trẻ con vô tội.

“Chúa sẽ không bẻ gẫy cây sậy bị giập, Chúa sẽ không dập tắt tim đèn còn leo lét, mà sẽ xét xử trong tất cả sự trung trực”.

  • Tôi nghe nói rằng các cộng đoàn tu dòng lấy trộm ơn gọi ở các giáo phận. Tôi nghe nói rằng có các giáo phận quay hướng các ơn gọi tu dòng cho lợi ích giáo phận. Tôi nghe nói rằng có những cộng đoàn lấy trộm ơn gọi của nhau và các giáo phận cũng lấy trộm ơn gọi của nhau. Thật là kỳ cục: Tôi tưởng rằng tất cả mọi người đều làm cho cùng một vườn nho!
  • Tôi nghe nói về Giáo hội của người nghèo và Giáo hội của người giàu, Giáo hội của thợ thuyền và Giáo hội của chủ nhân. Thật là kỳ cục: tôi tưởng rằng Giáo hội là cái gì khác với một nghiệp đoàn. Tôi tưởng rằng Giáo hội là nơi duy nhất mà tiền bạc không phải là một tiêu chuẩn để đánh giá, Giáo hội là nơi mà mọi người có thể nhận ra mình là anh em.
  • A! Người ta dán vào mình những nhãn hiệu….

Đó là trò chơi độc ác đối với những ai khám phá rằng cuộc sống không phải là một trò chơi! Tốt hơn là người ta xóa bỏ những cách gọi tên không được kiểm tra. Và ban đêm, người ta xây tường – Ô, đúng vậy, đúng là việc làm của ban đêm! – Đáng lẽ là khắp nơi người ta phải xây các cây cầu.

2.4 Ngoài kia có những người đang chết đuối.

  • Người ta bảo tôi: “Giáo hội phải lo cho người nghèo!” Trúng lắm: tôi khám phá rằng mọi người đều nghèo – mà tôi là người nghèo nhất.
  • Người ta bảo tôi: “Ưu tiên cho những ai khóc!” Trúng lắm: Tôi khám phá ra rằng mọi trái tim đều khóc!
  • Người ta bảo tôi: “Đừng quên những kẻ làm điều xấu!” Trúng lắm: mọi người đều là tội nhân – mà tôi là tội nhân số một.

Chúa chẳng cho mưa xuống trên người lành và trên cả người dữ sao?

  1. Tâm tư của tôi đối với Giáo hội.

3.1 Tôi yêu Giáo hội không có các giai cấp và không có các nhãn hiệu. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: có các bức tường và các nhãn hiệu. Phải chăng đó là cách tốt nhất để chữa lành Giáo hội?

3.2 Tôi yêu Giáo hội cởi mở toàn vẹn, không đe dọa, không ngờ vực, không lãnh đạm. Nhưng tôi yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: với những mánh lới và loại bỏ những sợ hãi và những chuyện gây hiếu kỳ. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội đẹp hơn?

3.3 Tôi yêu Giáo hội biết cảm thương đang đứng dưới chân mọi người bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội còn cứng cỏi, Giáo hội loại trừ mà không lắng nghe và không còn biết khóc với kẻ khóc nữa. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội mềm mỏng hơn?

Tóm lại, tôi không yêu một người mẹ mà tôi mơ, tôi mơ một người mẹ mà tôi yêu.

From: vongtaysongnguyen

PHẢI CHĂNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG TÔI ĐÃ CHẾT?

PHẢI CHĂNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG TÔI ĐÃ CHẾT?

EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.    

LONG TH XOT

 

 

 

 

 

 

 

Triết gia J.P. Sartre đã khẳng định: “Tha nhân là hỏa ngục.” Dường như lời phát biểu này được thốt ra trên môi miệng của một người đang trong cơn bấn loạn và mất bình an.  Ông đã phóng chiếu cái nhìn nội tâm lên ánh mắt của tha nhân để rồi ông chỉ nhận ra tha nhân coi mình như một sự vật chẳng hơn chẳng kém.  Có thể nói, tư tưởng này phần nào đã dẫn lối cho những chủ trương sống phóng túng và bất cần sự hiện hữu của tha nhân.  Và như thế, tha nhân đang phải đối diện trong tình trạng dở sống dở chết chẳng làm tôi mủi lòng.  Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?

Chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao duy vật hưởng thụ, “chân lý bằng với chân giò”, “nhân phẩm chỉ ngang giá thực phẩm” thì đâu là bậc thang giá trị để định hướng con người thăng tiến?  Gặp một người bị nạn giữa đường, tôi dừng lại và cúi xuống ra tay thi thố lòng thương xót, nào ngờ lại bị chính nạn nhân trở mặt cướp của giữa ban ngày, hay đứng trước một cuộc ẩu đả, người này vô tay, người khác lấy máy quay phim chụp hình, mặc cho nạn nhân bị đe dọa đến tính mạng…  Đứng trước những tình cảnh bi đát đại loại như thế, Đức Phanxicô phải kêu gào nhân loại: Hãy tránh tình trạng toàn cầu hóa sự dửng dưng.  Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?

Tôi đã rảo quanh trên khắp nẻo đường dương thế để tìm những tâm hồn có lòng thương xót.  Tôi đã thấy một gã xe ôm gầy nhom đang chở một ả mua hương bán phấn trên đường X.  Bỗng thình lình gặp một chàng thiếu niên bị tai nạn dọc đường, họ quyết định cứu giúp nạn nhân.  Họ cho lên xe chở vào bệnh viện gần đó để cấp cứu.  Vì máu ra quá nhiều, người phụ nữ này đã cởi áo mình ra để băng bó vết thương nạn nhân.  Nàng đã cứu người bất chấp thân thể lõa lồ của mình.  Đến bệnh viện, y tá nghi ngờ đây là một ca “có vấn đề”, cô chần chừ và e ngại.  Một lát sau, cô đòi tiền tạm ứng để nhập viện, cả ông xe ôm và cô điếm móc tiền trong túi ra nhưng không đủ, buộc ông này phải đi cầm chiếc xe cũ kỹ tại một tiệm cầm đồ.  Ông đã cứu người bất chấp sự an toàn là chiếc xe làm phương tiện nuôi sống bản thân và gia đình.  Cả hai đang chờ tin tức mới thì được báo tin: Nạn nhân cần tiếp máu trực tiếp vì máu ra quá nhiều.  Một lần nữa cả hai lại xung phong xét nghiệm máu để có thể cứu sống nạn nhân.  Họ bất chấp mọi nguy hiểm bản thân để cứu sống người khác…  Tôi đã tìm thấy lòng cảm thương giữa một xã hội đua chen đi tìm thú vui hưởng thụ.  Phải chăng chỉ có những con người bị xã hội coi thường vì làm những việc tay chân thấp kém, hay bị xã hội sỉ nhục vì bán thân nuôi mình, những con người bị tổn thương ấy lại có một tấm lòng quảng đại?  Họ là niềm hy vọng cho những người thiện chí vì họ đã bất chấp thân thể, bất chấp sự nguy hiểm bản thân để thực thi lòng thương xót.

Thật vậy, lòng thương xót là hoa trái của tình yêu mà Thiên Chúa đặt để trong lòng con người, không thể chết.  Nó như một lớp than hồng đang tạm thời bị bao phủ bởi một lớp tro nào đó; lớp tro của nền văn hóa hưởng thụ, văn hóa sự chết hay một ý thức hệ nào đó…

Lòng thương xót là mầm thiện mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng người; nó chỉ chết khi nào con người không còn tồn tại trên thế gian này.  Tất cả chúng ta đều được mời gọi làm cho mầm sống ấy đơm hoa kết trái trong cuộc đời để nỗi đau được vơi đi và niềm vui tăng trưởng mãi.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng để làm gì em biết không? – để gió cuốn đi…  Chúng ta cần để gió cuốn đi những lớp tro vị kỷ và để cho lòng thương xót như lớp than hồng sưởi ấm tấm lòng con người.  Nhờ đó, sự lạnh lùng băng giá, sự thờ ơ lãnh đạm, toàn cầu hóa sự dửng dưng… không còn cản bước tiến của chúng ta trên đường hành thiện, thực thi lòng thương xót.

Nếu đã xác quyết: tư tưởng dẫn đến hành động, chúng ta sẽ không để cho tư tưởng: tha nhân là hỏa ngục tồn tại trong tâm trí mình.  Mặc dù, có đôi khi nó là tiếng nói nội tâm của ta trong một quãng đời đen tối nào đó; nó cũng không được quyền làm ta ngã quỵ mà thỏa hiệp với những chủ trương thế tục.  Con người sẽ sống ra sao nếu không còn lòng thương xót?  Tha nhân không là hỏa ngục nhưng một thế giới vắng bóng lòng thương xót là hỏa ngục trần gian.  Đúng thế, Tha nhân là nạn nhân đang chờ ta thi thố lòng xót thương.

Cục than hồng của lòng thương xót có thể sưởi ấm một con tim giá lạnh và thắp sáng một cõi lòng u mê. Nhưng nó cũng có thể làm tổn thương cho ai đụng chạm vào nó.  Lòng thương xót khả dĩ chữa lành nhiều vết thương, đồng thời, có nguy cơ làm tổn thương hơn những tâm hồn tế nhị.

Lòng thương xót là quà tặng mà Thiên Chúa đã trao cho mỗi người, đòi buộc ta phải trao ban.  Tuy nhiên, trao ban cách nào là cả một nghệ thuật nếu không, chúng ta dễ ảo tưởng mình là một kẻ trên cao có quyền ban phát: đó là lòng thương hại.  Có thể nói, thi thố lòng thương xót là một nghệ thuật phát xuất từ con tim, nghĩa là nó không những đòi hỏi một thái độ thấu cảm mà còn phải hiểu lý lẽ của con tim mình mà đến với tha nhân; một người đã từng bị tổn thương dễ dàng tìm cách để băng bó những tấm lòng tan nát.  Người ấy đáng được Chúa chúc phúc: Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.    

NHỮNG MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

NHỮNG MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay cho thấy những tấm gương sống Lời Chúa trong những hoàn cảnh khác nhau: Abraham, Maria và Phaolô.

Chọn điều tốt nhất

Đức Giêsu trên đường rao giảng, ghé vào một gia đình rất quý mến Ngài.  Đó là gia đình của Martha, Maria và Lazarô.  Cô Martha lo làm đồ ăn đãi khách.  Có lẽ có cả các tông đồ cùng ở với Đức Giêsu, vì thế Martha một mình làm bếp cho mười sáu người ăn.  Với gia đình này, Đức Giêsu và các tông đồ là những vị khách quý, nên có thể đây là bữa tiệc.  Biết bao việc phải làm, thế mà Maria vẫn ngồi bên chân Đức Giêsu và nghe Ngài giảng dạy.  Chắc Martha đã ra hiệu hoặc nói với Maria giúp mình, nhưng Maria vẫn giữ lập trường: Ngồi tiếp chuyện Đức Giêsu, ngồi nghe Ngài giảng dạy.  Không thể chịu nổi nữa, Martha đã xin Đức Giêsu can thiệp: “Em con để một mình con với bao nhiêu việc, xin thầy bảo nó giúp con một tay.”

MARTHA

Theo nhiều người, Martha hoàn toàn có lý.  Cả Maria lẫn Đức Giêsu đều không được tế nhị lắm. Có lẽ Martha không chỉ trách Maria, mà trách cả Đức Giêsu như thể Đức Giêsu vô tình không để ý đến vất vả của Martha.

“Martha, chị lo lắng về nhiều chuyện quá.  Chỉ cần một điều thôi.  Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai cướp đi được.”  Trên đời có nhiều điều có thể làm, phải chọn điều nào quan trọng và cần thiết để làm.  Trong trường hợp này, không cần phải làm nhiều món để đãi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài.  Không cần phải vất vả như vậy.  Tại sao lại phải làm nhiều món, và điều đó lại là không quan trọng (đối với Đức Giêsu), để rồi phải càm ràm oán trách người khác.  Maria đã chọn nghe Lời Chúa, và cũng sẵn sàng chấp nhận bị chị càm ràm, và cả người đời càm ràm chê trách, như thể là người lười, như thể là người không tế nhị và không biết giúp đỡ chị nữa.

Không có một bản lĩnh và một chọn lựa dứt khoát, không thể hành xử như Maria được.  Trong cuộc sống, tôi đã chọn điều gì là quan trọng?

Niềm nở ân cần tiếp đón tha nhân

“Đang ngồi hóng mát, nhìn lên Abraham thấy “ba vị” đang đứng gần.  Abraham chạy lại, cúi mình chào các vị, mời các vị khách rửa chân cho thoải mái trong một môi trường nóng bức, và dùng bữa.”  Với Abraham, đây không phải là những người quen thường gặp, thế nhưng Abraham đã tiếp đón rất ân cần tử tế.  Thái độ hiếu khách của Abraham đã làm tương quan giữa Abraham và khách trở nên rất tốt, đến độ các vị khách đã “tỏ mình” cho Abraham.

Thái độ hiếu khách của Abraham đặt vấn đề cho con người ngày nay.  Thái độ sống của tôi đối với những người tôi gặp gỡ như thế nào?  Abraham đã đón tiếp tha nhân, và cuộc đón tiếp này đã trở thành cuộc đón tiếp Thiên Chúa.  Đức Giêsu cũng đã đồng hóa mình với những người nghèo, đến độ ai đón tiếp người nghèo là đón tiếp Chúa, ai cho người nghèo ăn là cho Chúa ăn, ai đi thăm và giúp đỡ người nghèo là đi thăm và đón tiếp Chúa (Mt.25, 31tt).  Đối xử với con người, là đối xử với Thiên Chúa.

Rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô

Cả cuộc sống của Phaolô sau khi trở lại, là rao giảng, phục vụ Tin Mừng.  Ngài được gọi để được sai đi rao giảng, và Ngài đã thực hiện sứ mạng của Ngài trong mọi hoàn cảnh, bất chấp những khó khăn và nguy hiểm.  Ngài rao giảng cả khi ở trong tù, cho cả người Do Thái lẫn người ngoại, cho người đời bình thường cũng như cho những người có địa vị và thế lực.  Ngài vui ngay cả trong những khổ đau, và Ngài muốn “hoàn tất” những gì còn thiếu trong thân thể Giáo Hội.  Với Phaolô, Ngài “học no học đói,” Ngài làm tất cả để Chúa được tôn vinh hơn.

Với Phaolô, Đức Giêsu là Tin Mừng.  Đức Giêsu là mầu nhiệm được giữ kín từ muôn thuở, nay được mặc khải cho con người.  Đức Giêsu Kitô là tất cả đối với Phaolô, Ngài sẵn sàng bỏ tất cả để được Đức Giêsu Kitô.

Phaolô trở thành con người tuyệt vời, nhờ thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng.  Ước gì mỗi người không mắc cỡ nhưng can đảm tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng.  Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà mỗi người Kitô hữu trở thành người tuyệt vời.

LM Phạm Thanh Liêm

Anh chị Thụ & Mai gởi

RIÊNG MỘT KHOẢNG CHIỀU

RIÊNG MỘT KHOẢNG CHIỀU

Kha Đông Anh

Khi đã trưởng thành tâm lý, chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần suy tư về thân phận con người để khả dĩ nhận ra nó nhỏ nhoi và bọt bèo.  Theo quy luật, ai cũng có một ngày hóa thành cát bụi, trở về nơi mình xuất xứ.

Buổi chiều, sau cơn mưa, tôi lặng đứng nhìn dòng người qua lại trên phố, chợt nghe lòng mình thánh thót những giọt ưu tư rỉ ra từ vết trầm bâng khuâng không tên.  Rất lạ.  Thứ cảm giác khó tả như những sợi nhỏ, dài, đan quyện nhau, chằng chịt như mạng nhện trong căn nhà bỏ hoang.

KHOANG CHIEU

Con tim mặc vẻ bí ẩn.  Con người đôi khi trở nên mâu thuẫn, một loại mâu-thuẫn-hợp-lý.  Thật vậy, đôi khi ta không hiểu hết chính mình.  Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản mà thành như vấn nạn.  Miệt mài đi tìm mình mà vẫn không gặp, chênh vênh một cõi về.  Đam mê và hoài bão cứ giằng co đêm ngày.

Những năm gần đây, việc hiến xác cho khoa học trở nên phổ biến hơn, nhiều người đã tình nguyện làm việc này.  Từ tháng 10-1997, tôi là người mang số thẻ 119.  Tôi là một trong những người đầu tiên được trường Đại Học Y Dược TP HCM “cúng sống” ba lần.  Sau đó không còn tổ chức lễ Macabê để tri ân những người hiến xác vì số người tăng lên nhanh quá đông.  Từ khi thực hiện ý định này, tôi thấy mình có chút gì đó hữu ích hơn, giảm bớt ích kỷ đáng kể, cái TÔI trong tôi bớt “hung hãn” hơn xưa.

Đời người một khoảng trăm năm
Tưởng dài mà ngắn – Nhiều buồn, ít vui!

Khi đã trưởng thành tâm lý, chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần suy tư về thân phận con người để khả dĩ nhận ra nó nhỏ nhoi và bọt bèo.  Theo quy luật, ai cũng có một ngày hóa thành cát bụi, trở về nơi mình xuất xứ.

Nói vậy không có ý bi quan yếm thế, nhưng để nhận diện mà cố vươn lên và sống hữu ích hơn, không chỉ cho chính mình mà còn cho mọi người.  Sống trong thời đại bùng nổ thông tin, không ai lại không biết ít nhiều về thế giới.  Một trong những điều khiến chúng ta quan tâm chắc phải là sự bất công giữa con người với nhau, sự bạc đãi và lạm dụng trẻ em, chiến tranh, coi thường nhân phẩm…  Tất nhiên, đó chỉ vì thiếu tình yêu thương đích thực.

Các nhà lãnh đạo đã và đang tìm mọi biện pháp hữu ích khả thi nhất để vãn hồi hòa bình, tìm hạnh phúc cho con người, xoa dịu vết thương cuộc đời vốn dĩ không ít đau khổ.  Vì đời người ngắn ngủi nên cần phải làm “cái gì đó” cho đáng sống.  Cần chau chuốt và nuôi dưỡng những tư tưởng vĩ đại, và chỉ cần một bề ngoài giản dị mà không quê mùa.

Những đám mây làm buổi chiều xuống thấp.  Thấp dần. Đang chạm vào đêm.  Khoảng chiều thật kỳ lạ.  Ngôn từ chiều cao siêu như thầm nhắc tôi lời của Pithagore: “Đừng thấy bóng mình to mà tưởng mình vĩ đại.”

Khi tư tưởng chín muồi thì thân xác bắt đầu rã rời, chuẩn bị tan rữa để hóa thành cát bụi!  Một nghịch-lý-thuận.  Thế nhưng con người rất dễ “lên mặt”, nhất là khi có chút gì đó hơn người khác về một phương diện nào đó.  Thánh Phalô nói: “Ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6:2-3).  Con người luôn bị giằng co, đôi khi mâu thuẫn: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19).

Cuộc sống luôn phức tạp và có nhiều điều khiến người ta hoang mang, lo lắng, thậm chí là sợ hãi – nhất là trong thế giới ngày nay.  Tuy nhiên, Chúa biết rõ mười mươi, biết rõ chúng ta hơn chính chúng ta biết mình, thế nên rất nhiều lần Ngài đã trấn an: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10).  Thật vậy, “dù cha mẹ có bỏ con thì vẫn còn Thiên Chúa đón nhận” (Tv 26:10), và “Đấng đã gọi tôi, Ngài đang ở với tôi, Ngài không để tôi cô đơn một mình” (Ga 8:29).

Tình yêu Thiên Chúa quá tuyệt vời, quá kỳ diệu, Lòng Chúa Thương Xót quá bao la, con người chúng ta không thể hiểu nổi. Chưa thể dò được khoảng cách giữa trời và đất thì chúng ta không bao giờ đủ trình độ hiểu hết Ý Chúa!

Con đã từng cảm thấy bất xứng và cầu xin như Giáo Hoàng tiên khởi Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8).  Nhưng con vẫn tin cậy Ngài: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ có tội” (Lc 18:9-14).  Và con đầu hàng vô điều kiện để Ngài điều khiển: “Lạy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10:7 & 9).  Xin Chúa thương thánh hóa và nâng đỡ hạt-bụi-con luôn mãi.  Amen!

Kha Đông Anh

From Langthangchieutim

THẦY ƠI, CỨU CON!

THẦY ƠI, CỨU CON!

LM Giuse Trần Việt Hùng

Câu truyện xưa kể rằng có một người đi du hành bị lạc trong bãi cát cuốn.  Thầy Khổng Tử đi ngang qua thấy sự nguy hiểm của người khách lạ, Thầy nói: Rõ thật người ta nên tránh xa những chỗ như thế này.  Kế đó, Đức Phật đi qua thấy trạng thái nguy hiểm này và nói: Hãy để cho tình trạng con người như thế mà nêu gương bài học cho cả thế giới.  Rồi Đức Mohammed cũng đi ngang qua đó và nói với người đang bị chìm sâu vào lòng cát: Alas, đây là ý của Chúa.  Cuối cùng, Chúa Giêsu xuất hiện trong hoàn cảnh nguy cơ này và nói: Này anh, hãy cầm lấy tay của Thầy, Thầy sẽ cứu con.

Có nhiều tôn giáo trên thế giới.  Các tôn giáo có rất nhiều giáo điều rất đáng khâm phục và ngưỡng mộ.  Nhưng chỉ có một Đấng có thể ban ơn cứu độ cho con người khỏi vòng nô lệ tội lỗi.  Chúa Giêsu phán: Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.  Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy (Ga 14, 6).  Không có một vị sáng lập tôn giáo nào đã dám công bố như Chúa Giêsu, bởi vì họ không thể làm được.  Chỉ có Chúa Giêsu có uy lực và quyền năng để tha thứ tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Ga 3, 16).

Ông Phêrô chìm trong nước, hoảng sợ chỉ kịp la lên: Lạy Thầy, xin cứu con!  Nghe lời kêu cứu thân thương, chắc chắn Chúa sẽ cứu.  Ông Phêrô là dân chài, sợ gì nước chứ.  Vậy mà khi bị ngụp xuống nước ông vẫn hoảng.  Ông hoảng vì thấy Chúa đi và đứng trên nước.  Ông sợ vì ông đang ở cạnh Đấng có quyền năng trên hết mọi sự.  Câu truyện ông Phêrô được đi trên nước và chìm xuống giúp chúng ta nhiều bài học suy tư trong cuộc đời.  Bài học của niềm tin.  Phêrô thưa lại rằng: “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy” (Mt 14, 28).  Phêrô đã tin vào Thầy có quyền đi trên mặt nước.  Ông đã xin một điều quá sức mình.  Vì một vật nặng xuống nước ắt sẽ chìm.  Ông tin và ông bước xuống nước.  Ông đi trên mặt nước nhưng nhìn sóng biển và gió mạnh, ông sợ hãi và quên nhìn vào Chúa.  Ông bị chìm.

Lần đầu tiên tôi có kinh nghiệm đi vượt biên trên biển bằng ghe đánh cá.  Thật tình mà nói trước khi ra đi, tôi chẳng biết gì về biển cả và không lo sợ chi.  Tôi cũng không tưởng tượng sự bao la và sức mạnh của biển khơi và những cơn giông bão, sóng ngầm, sóng bạc đầu.  Quyết định ra đi là đi thôi.  Chúng tôi khởi hành trong đêm tối, từng tốp vài ba người cập bến và lên ghe.  Ra đi giữa đêm tối phải đối diện với nhiều khó khăn.  Làm sao qua mặt được những chòi gác canh.  Tôi chỉ có một niềm tin phó thác trong Chúa.  Niềm hy vọng sự tự do và sự sống còn chỉ lờ mờ.  Hành trình vượt biển đó chính là bài học của hành trình trên sóng nước mỗi ngày.  Cho dù lo sợ và hồi hộp, chúng ta hãy cầu nguyện, cậy trông và phó thác.  Lạy Thầy, xin cứu con!  Đó là tất cả những tâm tình mang theo trên biển.

Có những khúc quanh cuộc đời làm cho chúng ta phải chùn bước, phải lo sợ và chán nản.  Chúng ta làm việc lành phúc đức, ăn ở hiền lành và sống đạo đức tốt lành.  Chúng ta nghĩ sống tốt sẽ được an hưởng sự bình an hạnh phúc.  Thế rồi một ngày đi khám bác sĩ, phát giác ra rằng mình đang bị ung thư, bị tiểu đường, bị xơ gan, sạn mật… hoặc là nghe tin buồn một người thân bị tai nạn, một thành viên trong gia đình mới qua đời, một đứa con bỏ nhà ra đi, một đứa chửa hoang, một đứa rơi vào nghiện ngập hút sách, đứa thì vào băng đảng, đứa bị đi tù, và gia đình ly dị phá tán, con cái truỵ lạc…  Hỡi ôi, đời là bể khổ!  Tất cả những tai ương, thảm cảnh và khổ đau có thể xảy ra cho mỗi người trong cuộc lữ hành.  Người ở trong cuộc cảm thấy choáng váng mặt mày và giống như bị chìm xuống nước chới với. Bao nhiêu mộng ước bỏ dở.  Lo lắng trách nhiệm gia đình còn nặng nề.  Bao nhiêu công việc dở dang đang đợi chờ.  Biết cậy dựa vào ai?  Tâm trạng rơi vào sự hoảng sợ và lo lắng.  Biết rằng sự lo lắng không làm thay đổi được hiện trạng đang xảy ra.  Những ai có niềm tin thì chạy đến cầu trời khấn phật, chạy thầy chạy thuốc và cầu vái tứ phương mong sao thoát nạn.  Môn đệ của Chúa thì kêu lên: Lạy Thầy, xin cứu con!

Có những lúc chúng ta bị tuột dốc trong chán nản, đơn côi, thất bại, đau buồn và có khi tuyệt vọng.  Tin theo Thầy Giêsu, dù trong trạng huống nào chúng ta vẫn phải có niềm hy vọng và cậy trông. Chúng ta hãy kêu lên: Lạy Thầy, xin cứu con!  Chúa sẽ giơ tay cứu chúng ta theo cách của Chúa.  Các thứ bệnh tật cả phần hồn lẫn phần xác đều có thể được chữa lành.  Niềm tin tưởng và lòng cậy trông kiên vững vào quyền năng của Chúa sẽ giúp chúng ta tìm được sự bình an.  Biết đâu sự rủi ro và bệnh tật sẽ sinh hoa kết trái trong đời sống đạo.  Sức mạnh đời sống tâm linh rất cần thiết để nâng đỡ khi yếu đuối bất hạnh.  Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng(Mt 11, 28).

Trong bất cứ bậc sống nào, độc thân, tu trì hay gia đình, mỗi người đều có những đêm tối sóng cuộn gió cuồng.  Khi còn non trẻ cũng như khi đã luống tuổi, chúng ta luôn phải đối diện với những cạm bẫy ở đời.  Người ta thường nói: Khôn ba năm dại một giờ.  Sa ngã cũng là chuyện thường tình trong cuộc đời, nhưng hậu quả có thể tai hại ghê gớm.  Có nhiều người đã mất cả chức vị, danh dự và lý tưởng. Đối với xã hội, có khi người ta trở thành trắng tay và bị tù đày.  Nhưng trong tâm tình của một Kitô hữu, chúng ta phải nhìn vào khía cạnh tâm linh để vượt thắng.  Rơi xuống, chìm xuống hay sa ngã, mỗi người đều có cơ hội trỗi dậy.  Ông Saolô khi bị luồng sáng đánh ngã ngựa, ông đã trỗi dậy và đổi đời trở thành môn đệ trung thành của Chúa.  Maria, người phụ nữ bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình và bị thiên hạ tố cáo để ném đá cho chết, Chúa Giêsu đã lên tiếng cứu vớt nàng và nói rằng: Con về và đừng phạm tội nữa.

Ông Phêrô tuy nóng nảy và vội vàng nhưng ông đã chứng thực niềm tin vào Thầy của mình.  Ông dám đi trên mặt nước.  Khi ông nhìn xuống và chú ý đến sóng gió, ông đã bị chìm.  Hãy ngước nhìn lên Chúa và cậy trông nguồn ân sủng từ trên ban cho.  Chúng ta ra khơi vào đời là phải đối diện với muôn thử thách chông gai.  Chúng ta không thể lượng định được cái gì sẽ xảy đến.  Hành trình đức tin là một cuộc mạo hiểm trong đêm tối.  Có những vị tu sĩ đầu tư cả cuộc đời để phục vụ tha nhân nơi vùng sâu nước độc.  Có những vị đã lăn xả phục vụ cho những người tàn tật, mồ côi và phong cùi.  Họ đã phải phấn đấu và vươn lên không ngừng.  Nhưng trong Giáo Hội, trải qua các thời đại, đã có những gương mù, gương xấu làm cho con thuyền Giáo Hội vì sóng gió và nghiêng ngả.  Những lạm dụng tính dục, những tham lam danh lợi, quyền lực và những sa ngã tục luỵ của các thành viên đã làm cho Giáo Hội tự lặng chìm.  Chúng ta luôn tỉnh thức cầu nguyện cho Giáo Hội.

Chúa Giêsu có uy quyền biến đổi, cứu vớt và chữa lành.  Chúng ta hãy chạy đến bên Chúa xin ơn tha thứ để chúng ta có thể khởi lại từ đầu.  Chúng ta biết rằng không có khi nào trễ, nếu chúng ta biết làm lại từ đầu.  Thánh Phêrô đã sa phạm nhiều lần nhưng Phêrô không ngại an năn khóc lóc trở về cùng Chúa.  Chúa đã cứu Phêrô và trao cho ông quyền cai quản Hội Thánh của Ngài.  Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi (Mt 16,18).  Lạy Chúa, xin giơ tay cứu giúp chúng con trong mọi cơn gian nan, sầu khổ.  Chúng con hoàn toàn đặt niềm tin tưởng nơi Chúa. Lord Jesus, I trust in you and Lord Jesus, save me. 

LM Giuse Trần Việt Hùng

BÓNG GIÁO ĐƯỜNG NƠI TRẠI PHONG

BÓNG GIÁO ĐƯỜNG NƠI TRẠI PHONG

Nguyễn Thảo Nam

Ngày tôi dâng Thánh lễ tạ ơn Linh mục ở quê nhà là một ngày có những kỷ niệm in sâu.  Giữa bao nhiêu khách mời, có một nữ tu đến muộn.  Muộn vì chị ở một nơi xa.  Xa cả khoảng cách không gian, và xa cả khoảng cách tình người.  Chị sống với những người cùi ở Tây Nguyên, nơi con người ngại lui tới.  Chị không gọi họ là “cùi,” chị gọi họ là những người “phong,” để làm dịu đi thực tế của căn bịnh, và làm dịu đi cái ấn tượng về những con người kém may mắn này.

Hơn 30 năm trước, chị dạy tôi giáo lý và cách sống đạo, rồi chị sống những điều chị dạy.  Tha nhân, niềm đau khổ, tình thương, và lòng cảm thông không còn là bài giáo lý trên những trang sách.  Chị biến những trang sách bằng giấy, thành trang sách của tâm hồn.  Rời giáo xứ ấm áp tình người, để đến nơi xa xôi thiếu bước chân con người.  Những hình ảnh tưởng chừng như chỉ có trong tiểu thuyết.

Hôm nay chị ghé qua nơi giáo xứ mà chị đã phục vụ khi tuổi còn thanh xuân, để xem người học trò năm xưa dâng lễ tạ ơn.  Chị không lái xe.  Người tài xế đưa chị bằng xe Honda là một người cùi.  Chị không ngại ngồi bên anh, tình thuơng phục vụ lớn lao hơn sự sợ hãi.  Chị đã lặng lẽ ngồi bên cạnh những người cùi cả một quãng đời dài.

Chị gần họ, hiểu nỗi đau và niềm cô đơn.  Cô đơn trong tình người, và cô đơn giữa những người cùng đạo.  Chị hiểu hơn điều này khi thấy người bạn cùi cùng với chị đến gần với giáo đường hôm nay, nhưng anh thấy mình thật xa lạ.  Anh ngại đứng bên những người lành lặn, nên chọn một góc xa cho riêng mình ở phía cuối cổng giáo đường.  Anh không ngại đứng xa, vì cả cuộc đời, anh đã sống ở một góc xa ở phía cuối cổng cuộc đời.

Anh nhìn những bước chân vội vã của trẻ thơ đi về giáo đường, những chiếc áo dài thướt tha của xóm đạo, những bộ vét sang trọng của người đi tham dự lễ tạ ơn, và cả những chiếc áo dòng bóng bẩy của nhiều tu sĩ trẻ.  “Giáo hội sang trọng quá,” anh thốt lên với người nữ tu khi tan lễ.  Chị cũng tỏ ý đồng tình,  “Ừ, vui hơn ở trong trại cùi.”

Trại cùi có gần một trăm em, không kể người lớn.  Nó ở một nơi hẻo lánh của miền tây nguyên.  Mảnh đất núi đồi, thiếu thốn phương tiện.  Thiếu thốn nhất là nguồn nước, điều kiện cần thiết cho những người bịnh phong tắm rửa mỗi ngày.  Các em sinh ra không có sự chọn lựa cho số phận của mình, vậy thì làm sao có được những bước chân rộn rã như trẻ thơ xóm đạo.  Người nữ tu biết những thánh lễ nơi xóm đạo là vui, nhưng lại chọn đến ở một nơi buồn.

Chị mang hình ảnh giáo đường đến với những con người vì số phận không dám đến với giáo đường.  Trong ý nghĩa sâu xa nhất, chị là hình ảnh của giáo đường.  Thầm lặng, không rộn vang tiếng hát, không có những tà áo dài thiết tha, nhưng có nhịp thở và trái tim rung cảm của cảm thông.

Ở nhiều nơi, giáo đường không có Thánh lễ nên giáo đường trở nên trống trải.  Nhưng có Thánh lễ mà không tiếp tục lễ hy sinh trong cuộc sống thì vẫn chỉ là những nghi lễ hững hờ.  Khi Chúa Giêsu truyền dạy, “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy,” Chúa không chỉ có ý truyền cho giáo hội cử hành Thánh lễ mỗi ngày nơi bàn thờ, mà là truyền dạy sống Bí Tích Thánh Thể qua hành động như Ngài hành động: trở nên bánh và rượu để nuôi dưỡng sự sống cho thế giới.  Mỗi một nghĩa cử yêu thương là bánh, mỗi một chọn lựa hy sinh, dâng hiến là rượu.  Tình yêu trao ban và lòng hy sinh làm nên thánh lễ cuộc đời.  Người mẹ thức khuya lo lắng cho con, người cha lam lũ cho cuộc sống tươi xinh của gia đình, hay như người nữ tu hiến dâng một đời cho những con người bất hạnh, tất cả đang sống mầu nhiệm Thánh Thể. Trở nên bánh và rượu cho anh chị em mình là đang tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô.  Thánh lễ trở nên thiết thực quá, không riêng gì cho Linh mục, nhưng cho tất cả mỗi Kitô hữu, biết sống cho tha nhân.

Khi Thánh lễ Tạ Ơn Linh Mục kết thúc, người nữ tu đến chào.  Ánh mắt chị vui, long lanh, xen nỗi xúc động.  Chị nói, “Chị đến xem em dâng lễ ra sao!  Vui quá”.  Thánh lễ vui thật vì có hoa, có nến, có ca đoàn rộn vang tiếng hát, có tấp nập bước chân, có cả quay phim và tiệc mừng nữa.  Nhưng Thánh lễ vui chỉ là khởi điểm bắt đầu của hy lễ hiến tế.  Để mời gọi sống những Thánh lễ trong cuộc đời có niềm vui xen lẫn nước mắt, có hạnh phúc và đau khổ, có nhận lãnh và mất mát, được yêu thương và có cả phản bội nữa.

Tôi nói với chị, “Thánh lễ em dâng hôm nay có hoa, có nến, có rộn vang tiếng hát, và có ngàn nụ cười trên môi.  Còn thánh lễ chị dâng trong cuộc đời bên những con người đau khổ, thiếu vắng nụ cười, để nuôi dưỡng sức sống và niềm hy vọng cho một phần thân thể đau khổ của Đức Kitô, thật sự là sống trọn vẹn bí tích Thánh thể: trở nên bánh rượu cho thế giới.”

Khi nắng chiều xuống dần, chị theo xe cùng người bạn cùi trở về nơi xa xăm.  Tôi đứng nhìn bóng dáng họ khuất dần theo nắng nhạt.  Ở phía xa, lác đác ánh điện đường bắt đầu sáng.  Xe chị không dừng lại giữa phố phường sáng rực, nhưng lăn lóc qua những làng quê tĩnh lặng, mộc mạc, khuất lấp giữa núi đồi.  Chị mang Thánh Lễ và mang cả bóng Giáo đường đến với nhiều cuộc đời ngổn ngang đang sống ở nơi xa xăm nhất của tình người.  Tôi nhìn bóng dáng chị, rồi nghĩ đến Thánh Lễ đời mình.

Những năm Linh mục qua đi với nhiều Thánh lễ nơi bàn thờ, nhưng lòng vẫn mãi băn khoăn, bao giờ mình mới sống trọn vẹn mầu nhiệm Thánh thể như người nữ tu ấy.  Bao giờ mình mới trở nên bánh rượu đích thực như chính Đức Kitô để nuôi dưỡng sự sống cho thế giới?  Hiến lễ nào cũng có giây phút bắt đầu, nhưng kết thúc lời kinh lại chỉ diễn ra qua những hành động trao ban.  Cuối Thánh Lễ sáng nay, tôi nguyện thầm với Chúa:

Lạy Chúa, xin cho thánh lễ con dâng mỗi ngày giúp biến đổi nghi lễ thành hành động yêu thương.  Xin cho lời truyền của Thầy Chí Thánh “Hãy làm việc này mà nhớ đến thầy” thôi thúc chúng con hành động vì tha nhân, như hình ảnh người nữ tu hao gầy trở nên bánh rượu cho một phần nhân loại khao khát tình người.  Có khi phần nhân loại khao khát ấy lại chính là những con người cụ thể luôn hiện diện trên từng lối đi của đời con.

Nếu lễ dâng được cử hành mỗi ngày nơi giáo đường, thì hành động trao ban của chúng con cũng cần được diễn ra nơi bàn thờ của cuộc sống như một hy lễ nối dài.  Nếu được như thế, Thánh thể sẽ trở thành nguồn sức sống cho gia đình con, cho cộng đoàn, và cho cái thế giới quanh con đang cần được nuôi dưỡng bằng niềm hy vọng.  Những Thánh Lễ ấy, tuy không có tiếng hát, không có hoa, có nến, không có những bài giảng hùng hồn, nhưng lại là những Thánh Lễ mang đến sức sống cho nhiều tâm hồn.  Con không thể mang Giáo đường vào cuộc sống, nhưng xin cho con trở nên bóng giáo đường giữa lòng đời, như người nữ tu hao gầy bé nhỏ, nhưng có một trái tim có khi lớn lao hơn cả những Giáo đường lộng lẫy nhưng thiếu vắng tình thương.

Nguyễn Thảo Nam