ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU THỜI GIAN

ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU THỜI GIAN

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện.  Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không?”  Vị tu sĩ già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ.  Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha.  Nó không còn sức lực… Giờ cha vật lộn với Chúa.”  “Với Chúa!”  Kazantzakis kinh ngạc kêu lên. “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?” “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta.”

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời.  Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già.  Sự chín chắn luôn luôn tiến triển.  Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau.  Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.  Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồ cốt yếu.”  Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta.  Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình.  Trong thời gian này, chúng ta cố gắng gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình.  Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu.  Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai?  Tôi sẽ làm gì với đời mình?  Ai thương yêu tôi?  Ai sẽ kết hôn với tôi?  Tôi nên sống ở đâu?  Tôi nên làm gì?  Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối.  Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi.  Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta.  Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.  Đây là những năm tháng sinh sôi và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu.  Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn?  Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín?  Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình?  Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ.  Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn.  Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình.  Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm?  Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác?  Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim

“Hôm nay cây quế trong rừng,

Suy Tư Tin Mừng trong tuần thứ 22 thường niên năm A 03/9/2017

(Mt 16: 21-27)

Từ khi ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, thì Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?

“Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.”

“Hôm nay cây quế trong rừng,

“bỗng nhủ cùng làn suối bạc,”

“xuân này tôi khoác áo nhung”

“mà bác vang lừng tiếng nhạc.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch.

Có là cây quế trong rừng, cũng chỉ vang lừng tiếng nhạc với suối bạc, thôi. Nếu là cây quế trong Đạo, lại sẽ vang lừng cả tiếng thơm hay tiếng hát về vị thánh cả ở trình thuật hôm nay. Trình thuật, nay nêu rõ câu chuyện và công việc của thánh cả Phêrô để người người suy tư, bàn bạc.

Suy và bàn, tập trung vào đấng thánh có chỗ đứng quan yếu trong Giáo Hội là Phêrô thánh nhân, rất tông đồ. Thế đó, là vị thánh xuất thân từ ngành nghề có lưới có chài, và cá mắm. Đấng thánh sống ở Caphanaum xứ biển hồ, rất Galilê. Với ánh nhìn của thánh sử Luca, thì thánh Phêrô thuộc loại “chậm lụt” về văn chương, văn hoá với văn nghệ. Chậm và lụt, về khoa ăn nói, thưa gửi lẫn trần tình.

Thánh Mát-thêu nay cho thấy thánh cả Phêrô là lãnh tụ khá bình thường của nhóm hội đồ đệ theo Chúa giảng rao về Nước Trời. Nói khác đi, ngài là người giản dị, cứng cỏi và chậm hiểu.

Đức Giêsu từng nói với thánh nhân và đồ đệ đồng hành về kế hoạch do Cha đưa ra mà Chúa phải thực hiện cho bằng được ngang qua sầu buồn khổ đau và nỗi chết trên thập tự. Trong khi đó, thánh cả nhà Đạo vẫn nghĩ Thầy mình là Đấng Mêsia Thiên Sai tựa hồ Đavít xưa, tức: ứng viên siêu phàm cho chính trường Do thái. Để rồi, rất thất vọng khi Thầy Chí Ái bộc lộ kế hoạch Chúa Cha đề ra. Tức, Ngài sẽ bị thảm sát chết nhục, vốn vượt quá sức tưởng tượng của đồ đệ bình dân, chân chất.

Và rồi, thánh cả Phêrô lại cứ nghĩ rằng Thầy mình chỉ gặp ngày xui tháng hạn, nên mới sử dụng chức năng do Thầy tặng ban cho riêng mình. Đó là lúc thánh nhân tỏ ý phiền hà, và khuyến cáo Thầy. Sai lầm của thánh nhân là ở chỗ: không nhận chân được vị trí của mình. Tức, thay vì chỉ biết theo chân Thầy như các đồ đệ khác, nhưng lại “lanh chanh” “qua mặt” làm “kỳ đà cản mũi” Chúa.

Rất nhiều lần, Tin Mừng cho thấy chân tướng đích thật của thánh cả nhà mình là đấng thánh không ổn định về quan điểm/lập trường vốn chống đối những gì mình không hiểu hoặc không muốn xảy đến. Thánh nhân từng lẫn lộn nhiều thứ, như: việc đi trên nước việc xây 3 lều tạm để Chúa ở, khi thấy Thầy mình biến hình. Rồi, còn chối bỏ Thầy và anh em những ba lần. Sau này, còn để thánh Phaolô phải tái lập trật tự vì thánh cả nhà mình từ chối ngồi cùng bàn với dân ngoại.

Nay, thấy Thầy mình dùng ngôn từ gắt gao và dữ dằn mà quở mắng, thánh nhân không ngờ sao mình lại dám khuyến dụ Thầy bỏ ý định nghe lời Chúa Cha mà chấp nhận thất bại dẫn đến nỗi chết trên thập tự. Thật sự, thì thánh cả Phêrô chỉ muốn Thầy chọn con đường hoạn lộ, thênh thang mở, thay vì con đường nhỏ chỉ gồm mỗi con lộ tẻ hạn hẹp, là sự chết.

Nghĩ chuyện của thánh cả Phêrô trong vai trò lãnh đạo Hội thánh khiến ta suy về cung cách hành xử của thánh hội, trong quá khứ và hôm nay, không khác gì lối xử sự rất kẻ cả, kiểu “Đá Tảng” rất Phêrô. Hội thánh lâu nay quản cai dân con mình bằng cung cách phàm trần, như: quảng cáo rầm rộ, quyên góp tối đa, nặng phần trình diễn, theo sát bài bản ngành tâm lý chiến, đặt nặng công tác tiếp cận thị trường, thay vì chấp nhận thập giá đau thương, trầm lặng.

Trên thực tế, Hội thánh ngày nay chỉ muốn thiết dựng loại hình thừa tác rất bán buôn, thay cho công việc thừa tác đặt nặng lên cung cách phục vụ. Vẫn cứ chọn kiểu “mì ăn liền” nhanh gọn kiểu hưởng thụ. Trong khi đó, vẫn đặt gánh nặng trên lưng kẻ khác, thay vì chấp nhận thương đau cho chính mình. Hội thánh những muốn phô trương một giáo hội sùng mộ chuyện hình thức, không đích thực. Những muốn sống thoải mái, ăn trên ngồi chốc, được người người kính trọng, hầu hạ mà thôi.

Nhìn vào lịch sử, thì thánh cả Phêrô đã muốn thuyết phục Thầy hành xử theo kiểu người phàm, và tưởng rằng với vai trò Thầy trao ban, mình có thể khuyến dụ Thầy mình. Khuyên dụ Thầy bỏ rơi kế hoạch do Cha trao phó. Là, đừng làm nhiều chỉ cần làm “dân thường” nhà Đạo, mọi việc rồi cũng xong. Và, thánh cả vẫn muốn khuyên Thầy sống thực tế, để mọi việc rồi cũng qua đi và cũng đạt kết quả, thôi.

Nhưng, Đức Giêsu không đồng quan điểm với thánh cả Phêrô. Ngài tỏ bày cho thánh nhân bằng lời chân tình thời đại, rằng: “Nếu anh chọn quan điểm của các nhà chính trị chuyên lo cho người nghèo luôn bị áp bức, thì các người ở trên chỉ tạm thời theo anh, rồi họ sẽ dùng anh làm quân cờ để giảm hạ phẩm cách của anh và rồi sẽ vắt chanh bỏ vỏ, thôi. Nhưng, nếu anh thực tình lo cho người nghèo, anh không thể phản bội những người ấy, mà phải trung tín với họ. Giới cầm quyền ở trên có ghét bỏ hoặc xoá tên anh. Hãy để mặc Chúa lo, chỉ cần sống trung thực với chính mình và với họ, anh sẽ thành công.

Thánh Phêrô không nắm bắt được quan điểm của Chúa. Vậy, ai lĩnh hội được đây?

Đức Giêsu rất kiên trì. Ngài như đang nói với thánh Phêrô một điều tuy không lạ, nhưng vẫn quen: “Anh chưa là đá tảng, nhưng nếu trên đá đó có ai giống hệt như anh, thì cuối cùng ra Ta cũng sẽ và cũng có thể dựng xây thánh hội, do Ta muốn.”

Cuối cùng ra”, là ngôn từ mang trọn ý nghĩa này, là: khi ta học chấp nhận hậu quả do mình quyết tâm thi hành, thì như thế. Ta có thích làm thế hay không, chẳng vì thập giá là điều tốt hoặc đáng nể sợ. Nhưng, vì tình thương và sự quyết tâm luôn là những điều tốt đẹp nên làm cho kẻ mình thương yêu, muốn giúp. Thế nên, thánh cả phải xử sự theo đúng ý định của Chúa ngõ hầu mới trở thành đá tảng để mọi người dựa dẫm ngang qua con đường cam go của mình.

Có thể là, các “đá tảng” thánh hội lớn/nhỏ trong Hội thánh vẫn chưa đối xử với người hèn kém trong đời và với những người quyết tâm dấn bước theo mình, như thánh cả là vì chính mình chưa giáp mặt thực trạng thống khổ mà Chúa lĩnh chịu. Các thánh cả trong thánh hội lớn/nhỏ hôm nay đã và đang trở nên như cát vụn hơn là đá tảng cho mọi người dựa dẫm. Thứ cát vụn không thích hợp để làm nền cho bất cứ ai. Bất cứ thứ gì. Khi xưa, đấng-thánh-là-đá-tảng đã tham dự cuộc thống khổ đầy cứu độ của Chúa, đã khóc hết nước mắt cho nhân loại thế nào, thì các “đá tảng” của thánh hội lớn/nhỏ hôm nay, cũng phải làm như thế mới tiếp tay rải tràn ơn ấy đến với người ở dưới được.

Thánh cả Phêrô đã thực sự học được điều ấy, thấy rất rõ. Sách Công vụ kể rằng thánh nhân rời Giêrusalem vào niên biểu 43, tức 13 năm sau ngày Thầy mình chịu khổ hạnh trên đồi Calvary. Và, sau khi thoát khỏi ngục tù và rồi lưu lạc qua Antiôkia, thánh cả đã gặp nhiều khó khăn trong việc đảm trách các vụ việc mang tính chính trị của người theo Đạo vào thời đó. Cuối cùng ra, thánh nhân cũng về lại Rôma, mà sinh hoạt. Và, truyền thống Hội thánh công nhận rằng thánh Phêrô hiểu rõ ý định của Thầy nên đã chấp nhận tử đạo vào thập niên 60, ở La Mã. Chính ở nơi đây, các sử gia trong Hội thánh đã tìm ra địa điểm thánh cả chịu hành hình, và yên nghỉ. Khi ấy, là thời bạo chúa Nêrô hoành hành, bách hại.

Kịp đến thế kỷ thứ tư, hoàng đế Constantin mới ra lệnh xây một thánh đường trang trọng để tưởng nhớ thánh cả, ngay tại địa điểm ấy. Đó là Đền thánh Phêrô hiện tại, được xây ngay bên trên mộ phần của thánh nhân. Trong lịch sử, nhiều thánh tích của thánh cả Phêrô từng được cất giấu nơi mộ phần ngài cũng được bốc lên đặt bên trong bức tường của đền thờ. Ngay như bàn thờ kính thánh nhân cũng được đặt phía bên trên mộ phần của ngài. Và ở phía cao bên trên nóc, vẫn còn hàng chữ ghi rõ: “Này Phêrô, con là Đá tảng, trên Đá này Ta sẽ dựng xây thánh hội của Ta”.

Thánh Phêrô thực sự hiểu được ý nghĩa của lời Thầy phán bảo. Và, thánh hội vẫn đứng vững trên đá tảng của sự học hỏi, hiểu biết như thế. Thế nhưng, giống như thánh cả Phêrô, hội thánh còn phải làm nhiều việc hơn nữa mới đạt được điều mình học hỏi. Thánh hội, cần tìm ra những gì mà tình thương yêu người nghèo đòi mình phải làm. Nhất thứ, đừng bao giờ bỏ qua hoặc đặt nhẹ lập trường/quan điểm về những đòi hỏi dù gắt gao hơn thế nữa.

Trong tinh thần học hỏi này, cũng nên ngâm thêm lời thơ mang đầy tính những học và hỏi, như:

“Hôm nay gió bảo cùng mây:

Rời xa những miền tuyết trắng,

Tôi từ biển vắng về đây

Mừng hội Xuân này đẹp nắng.”

(Đinh Hùng – Âm Hưởng)

Âm hưởng, mà nhà thơ đời học được từ con người, sẽ là và vẫn là điều mà nhà Đạo cần ghi nhớ, để rồi sẽ không quên. Không quên lời dặn hãy rời xa “miền tuyết trắng” thoải mái, sướng vui, ngõ hầu sống thực ý định Cha mang đến. Bởi đó không chỉ là quyền tháo cởi, cột buộc mà là thực trạng “mừng hội Xuân này đẹp nắng”, rất Phêrô.

 Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

“Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi “

Đêm Nhớ Về Sài Gòn -Trầm Tử Thiêng -Elvis Phương -NNS

httpv://www.youtube.com/watch?v=G7Rt8agI6sg

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 22 thường niên năm A 03/9/2017

 “Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi “
Những con đường thèm đôi chân vui,

đã bao lâu chờ đợi.”

(Trầm Tử Thiêng – Đêm Nhớ Về Sài Gòn)

(Thư Êphêsô 4: 26-27)

 Nhớ về Sàigòn”, vào ban đêm ư? Nhớ thì nhớ, sao lại cứ hát “thấy phố phương buồn xưa chưa nguôi”? Đường nào mà lại “thèm đôi chân vui”? À thì ra, tất cả cũng chỉ là thi-ca với âm-nhạc! Vui hay buồn, thèm một đôi chân, cũng là thèm niềm vui lui tới, rất ngóng tin như sau:

  “Đường im nghe quá khứ trong sầu.
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau.
Tình lẻ loi canh thâu.
Đêm nhớ về Sài Gòn.
Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa.
Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa.
Ai sầu trong quán úa.
Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song.
Mắt người tình một trời mênh mông.
Gợi bao nhiêu cho cùng ..

Yêu em một khối tình quê
Yêu em từng bước tình si
Đêm đêm mộng thấy đường đi đường về
Ta như cậu bé mồ côi
Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi
Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn.”

(Anh Bằng – bđd)

Ôi thôi thì, “tình quê” hay “tình si”, cũng chỉ là tình mê-ly “vui cuộc sống nhỏ nhoi”, “lẻ loi” với những tháng ngày để lớn.

Ấy chết, tình gì thì tình, có “yêu em” hoặc “yêu anh” hay không, thì cũng xin người yêu ấy đừng quá mê-ly để rồi có lúc cũng vì tình si hay tình gì đó, đến nỗi nổi sùng, tức giận hoặc điên tiết, như người thường ở huyện, và cả bậc chân tu ở chùa cũng đã thú thật qua bài phỏng vấn, như sau:

“Hôm ấy, các phóng viên tạp chí Time đã phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma tại thành-phố New York vào tháng 5 năm 2010 với 10 câu hỏi. Các câu hỏi liên-quan đến chuyện tức giận, như sau:

 Câu hỏi 1: Ngài đã bao giờ cảm thấy tức giận, hoặc điên tiết chưa? Kantesh Guttal, Pune, Ấn độ

 Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: Ồ, có chứ, tất nhiên rồi. Tôi là người mà! Nói chung, nếu một người mà không bao giờ tức giận, thì tôi nghĩ có điều gì đó đã sai. Anh ta bị hâm hâm trong đầu rồi. (Người dịch Phạm Thu Hương trích đăng trên mạng)

 Thế mới biết, nổi sùng, tức giận hoặc điên tiết vẫn chỉ là bẩy thứ tình-tự “hỉ, nộ, ái, ố, ai, hoan, lạc” nơi con người. Một trong bẩy thứ tình gộp thành bản-chất con người mà thôi. Dù người đó đã, đang và sẽ tu ở chùa hoặc nhà thờ, chốn “Niết Bàn”/“Thiên Đường” nhà Đạo vẫn có bấy lâu nay.

“Niết Bàn”/”Thiên đường” nhà Đạo thì vẫn là như thế ở đời thường, như truyện cười ở bên dưới:

“Từ hồi lấy nhau tới giờ, tôi làm cái gì ông ấy cũng cản, nào là: “Đừng mua đồ…”, “Đừng ăn diện…”, Đừng ngồi lê đôi mách với mấy người hàng xóm…”, tôi chán mấy chứ “Đừng” ấy lắm rồi. Sao chẳng bao giờ ông ấy nói: “Ừ, mua đi em”, “Ừ, làm đi em…”, chắc tôi phải dọn về nhà ba mẹ tôi ở quá!

Chồng:

-Ừ, Đi đi em!”

 Thế nghĩa là, không chỉ khi giận thì bạn và tôi, ta mới ra người mất bình tĩnh, vô nghĩa lý. Trong đời đi Đạo, lại cũng có những tình-huống lạ kỳ, khi người chồng hoặc vợ cứ là hờn-giận rồi kéo theo những đổ vỡ, khó khăn, như câu hỏi/đáp gửi về đấng bậc phụ trách mục “Giải đáp thắc mắc” rất nghe quen, sau đây:

“Thưa Cha,

Chồng con lâu nay vẫn hay tỏ ra tức giận đối với vợ con mình, nhiều lúc rất vô lý. Điều này làm chúng con đau lòng hết sức. Bản thân con, lâu nay vẫn tìm cách thông-cảm với những trường-hợp như thế, nên cứ tự bảo mình rằng; nỗi tức giận đã khiến chồng con thấy mình bớt trách-nhiệm trước mặt Chúa hơn, có phải thế không, thưa Cha? Xin Cha giảng-giải cho đôi điều về sự hờn giận để chúng con biết mà sống cho phải phép. Cảm ơn Cha rất nhiều.”

 Vâng. Cha/cố có giảng giải đôi điều cho kỹ lưỡng, thì bổn đạo người người mới biết đường sống lành thánh theo đúng đường-lối của Giáo hội. Và, lời cha/cố giảng-giải vẫn trơn-tru, như thế này:

“Đây là câu hỏi rất hay. Nó khớp với thắc mắc ta thường tự hỏi, là: làm sao cảm-xúc ở con người lại ảnh-hưởng lên bản-chất đạo-đức nơi hành-động của chúng ta. Các động-thái giận-dữ hoặc xúc cảm tạo nỗi niềm giận-hờn lẫn tình thương yêu, là việc đáp trả cho một số sự-kiện, cho người nào hoặc sự việc nào đó.

 Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo định nghĩa nỗi niềm giận hờn như “cảm-xúc mạnh hoặc động-tác háu đói nhạy bén khiến ta nghiêng về hành-động hoặc không hành-động đối với thứ gì mình cảm thấy hoặc tưởng tưởng rằng đó là chuyện tốt hoặc xấu.” (X. Sách Giáo lý HTCG đoạn 1763).

Đó là phản-ứng của ta trước một số kích-thích-tố bên ngoài từng xảy đến với ta, hơn là những gì do ta làm. Tỉ như: để đối-ứng trước mối nguy-hiểm, ta thấy mình sợ hãi và đối đáp với điều tốt, ta thấy mình vui lên. Ta không thể tự giúp mình có được các cảm-xúc ấy. Bởi, chúng chỉ là cách-thức ta đáp trả trong hoàn-cảnh như thế, mà thôi.

 Khi sách Giáo lý Hội thánh nói đến cơn đói nhạy bén là muốn qui về các ý-nghĩa và tác-động lên con người. Cơn đói nhạy bén không là trí-năng và cũng không phải do ý-chí của ta tạo ra, tức sức mạnh cao hơn của bản vị con người. Ta có cùng một cơn háu bén nhạy với loài thú có mức độ thông minh cao là những thú vật cũng cảm nghiện sợ hãi, giận dữ, khát vọng, cùng sự mãn-nguyện, vv…

 Sách Giáo lý Hội thánh tóm tắt các cảm-xúc mạnh mẽ bằng những câu như:

“Cảm-xúc căn-bản nhất là tình thương, trổi lên do có thu hút từ sự tốt lành và hy vọng chiếm-đoạt nó; cảm-xúc này được thoả-mãn bằng lạc-thú và vui mừng về điều tốt lành mình có được. Sự việc hãi sợ sự dữ tạo thù ghét, ác-cảm và lo sợ sự dữ đang đe-doạ; cảm-xúc này chấm-dứt trong buồn phiền đối với một số sự dữ trong hiện tại hoặc nơi mối giận-dữ muốn chống lại nó.” (X. Sách GLHTCG đoạn 1765)

Vậy thì, làm thế nào mà các cảm xúc mạnh này ảnh hưởng trên hành-động của chúng ta được? Phải hiểu rằng chúng đơn-thuần chỉ là cảm-giác mà thôi, chứ không phải là hành-động do lòng muốn, tự thân, chúng không được coi là lỗi/tội và cũng chẳng là điều gì đáng khen thưởng hết.

 Cũng tựa hồ như khi ta cảm thấy đói hoặc lạnh-lẽo, điều đó không có gì là tội cả; và cũng chẳng có gì là tội hoặc lỗi cả khi ta cảm thấy tức-giận hoặc buồn phiền hết. Chỉ khi nào ta có tự do chọn làm điều gì đó hoặc không làm điều đó  thì khi ấy mới có thể là cảm-xúc tạo ảnh-hưởng lên tính-chất đạo-đức của hành-động ta làm, mà thôi.

 Trường hợp chồng của chị, anh cảm thấy tức-giận khi có gì đó làm anh nổi nóng và anh ta tỏ lộ cơn tức-giận của anh bằng lời nói, cái nhìn hoặc cử-chỉ, lại khác. Cần hiểu rằng có những bộc-lộ cơn tức-giận lại hợp-lý, chính-đáng như bậc cha mẹ hoặc thày/cô đôi lúc cũng cần tỏ ra như thế, nhưng dù sao cũng phải có mức-độ và tuỳ từng trường-hợp. 

Cung-cách tỏ bày sự tức-giận không là tội lỗi gì. Nhưng, khi cơn tức-giận vượt quá giới hạn trong nhiều hoàn-cảnh, thì đó mới là tội. Xem ra là trường hợp của chồng chị. Bởi, sự giận-dữ gây ảnh-hưởng lên ý-chí của ta bằng việc dẫn ta có hướng-chiều phản-ứng theo cung-cách mạnh mẽ hơn là vào lúc không tức-giận, do đó hạn-chế ta không xử-sự cho đúng và ở trong tình-trạng có tự do. 

Có nhiều tình-huống trong đó cảm-giác tức-giận mạnh mẽ đến độ trên thực tế, nó cất bỏ đi mọi lý-lẽ thích-hợp. Và lúc ấy, ta xử-sự một cách bốc-đồng rồi thoá-mạ và không tự kềm-chế được nữa. Rõ ràng là, khi sự thể như thế xảy đến thì ta không còn tự do để hành-động cho hợp lý khiến gây trở-ngại cho ta và từ đó trách-nhiệm phạm tội trước mặt Chúa được giảm bớt rất nhiều. 

Điều này không phải để gỡ tội cho sự giận-dữ đâu. Giả như người nào đó có vấn-đề liên-tục tỏ ra giận-dữ cách vô lối hoặc không kềm chế, thì người ấy phải tìm người giúp mình xử-trí các cơn giận. Cho dù bất kỳ ai bộc phát cơn giận cũng được giảm tội do có cảm-xúc giận-dữ, thì người ấy vẫn chịu trách-nhiệm trước mặt Chúa và gia đình để kiếm tìm sự giúp đỡ từ mọi người.

 Đằng khác, người nào biết rằng mình sẽ tỏ ra tức giận ngay lập tức, cũng nên rời khỏi nơi đó để hạ bớt và cầu nguyện cho mình được kiên-nhẫn và bình an, mới được. 

 Tóm lại, trường hợp chồng của chị lên cơn tức-giận như thế đã khiến anh ta ít  hoặc không có trách-nhiệm nhiều trước mặt Chúa.” (X. Lm John Flader, Question time: Passions: feelings we really need to control, The Catholic Weekly 20/8/2017, tr 33)                                               

Câu trả lời của đấng bậc nhà Đạo, bao giờ cũng thế, tức: rất nghe quen từ thuở ta từng chứng kiến từ thuở nhỏ, nay chớ nhiều. Nhớ gì thì nhớ, đừng nhớ các tình-tiết có giận hờn rồi khó ngủ. Chi bằng, ta cứ thơ thẩn/thẩn thờ mà hát tiết những ca-từ như sau:

“Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau

Tình chia trong đêm sầu ..”

(Trầm Tử Thiêng – bđd)

“Nhắc chuyện người, chuyện đời” không giận hờn/nổi đoá cũng là may. Về nỗi giận/hờn làm mất đoàn kết lẫn yêu thương, lời vàng hiển thánh cũng từng bảo:

“Anh em nổi giận ư?

Đừng phạm tội:

chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng.”

(Thư Êphêsô 4: 26-27)

À thì ra, “ma quỷ thừa cơ hội lợi dụng” để làm mất hoà khí giữa gia đình, chòm xóm hay cộng đoàn gồm các thánh, rất linh thiêng. Về giận hờn làm mất hoà khí, lại có thêm truyện cười nhẹ để lại minh-hoạ lần nữa, như sau:

“Truyện rằng:

Có một lần, đài truyền hình nọ nhân nói về “Bí quyết giữ hạnh phúc gia đình”, bèn đi một đường phỏng vấn một cặp vợ chồng nổi tiếng rất thuận hòa vì hàng xóm chả bao giờ thấy họ to tiếng với nhau.

Phóng viên hỏi:

– Xin anh chị cho biêt bí quyết gì đã giúp anh chị có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc như vậy?

Anh chồng trả lời:

– Hàng tuần tôi đều chở cô ấy đến công viên vài lần.

– Ồ, lấy nhau bao nhiêu năm mà anh chị vẫn lãng mạn như hồi còn yêu nhau vậy ư?

– Chúng tôi cãi nhau ở đó- anh chồng nói tiếp.

-!!!” (Truyện kể rút từ các bài viết ở trên mạng, rất vi-tính)

À thì ra, nhân câu chuyện hờn/giận giữa vợ chồng/chồng vợ, ta lại rút tỉa được các bài học về “Ba hạng người” ở trong đời như sau:

Có một thời, Đức Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại vườn Nai, đã dạy các Tỷ kheo bài học sau đây:

-Này các Tỷ kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời.

-Thế nào là ba?

 Hạng người như chữ viết trên đá, 

hạng người như chữ viết trên đất,

hạng người như chữ viết trên nước.

 Thế nào là hạng người như chữ viết trên đá? 

Này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục kéo dài.  Ví như chữ viết trên đá không bị gió hay nước tẩy xóa nhanh chóng, được tồn tại lâu dài.

 Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đất? 

Ở đây, này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không dài lâu. Ví như chữ được viết trên đất bị gió hay nước tẩy xoá mau chóng, không tồn tại lâu dài.

 Thế nào là hạng người như chữ viết trên nước? 

Này các Tỷ kheo, có người dẫu bị nói một cách kịch liệt, bị nói một cách ác độc, bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy, vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện và hoan hỷ. Ví như chữ viết trên nước được mau chóng biết, không tồn tại lâu dài.

Lại có ba hạng người chuyên làm việc Thiện

Người chưa hiểu đạo thì làm ít việc thiện.

Người đã hiểu đạo thì làm nhiều việc thiện.

Người thật sự thấm đạo thì làm gì cũng là thiện.

Và, cũng có ba hạng người chuyên-chăm tìm Đạo

Người không hiểu đạo thì sống trong đời.

Người muốn hiểu đạo thì vào sống trong chùa, thiền viện, hay nơi hẻo lánh.

Người đã hiểu đạo thì lại trở ra mà sống với đời. 

Hiểu các lý lẽ dẫn đến giận/hờn rồi dẫn đưa ta đi vào tìm hiểu nỗi niềm an-nhiên tự tại, tạo nếp sống thư-thái không giận/hờn, qua lời thơ rằng:

“Chiều hôm núi hỏi dòng sông

Sao trôi đi mãi mà không thấy về

Sông bèn róc rách, tỉ tê

Nghìn thu nước đã nguyện thề cùng mây.

 Rồi mai, mưa xuống đất này

Ấy thì ta lại sum vầy, thế thôi!

Chớ buồn cho cuộc chia phôi

Ngày sau trùng ngộ môi cười đẹp hơn.


Vô thường ấp ủ chân thường

Cõi Uyên, cõi tạm chưa từng vắng nhau.

Núi ơi! Nắng đã phai màu

Dòng thời gian chảy qua cầu vạn niên.

Trùng trùng trong cõi nhân duyên

Hẹn nhau dưới cội Chân Nguyên phút này.

Ơ kìa, nước đã thành mây!

Mưa rơi trên lá … chiều nay núi cười.


Đến, đi, sinh, diệt trò chơi!” 
(Trích thơ và truyện do An Trường kể)

Ngâm thơ của An Trường” và nghe kể rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta lại trích thêm câu trả lời khác về nhân-sinh-quan của Đức Đạt Lai Lạt Ma do tạp chí Time đăng-tải tiếp như sau:

Câu hỏi 2: Thưa, làm thế nào mà ngài luôn lạc-quan và trung-thực khi có quá nhiều thù ghét trên thế-giới vậy? (Joana Cotar, từ Frankfurt, Đức Quốc)

Đức Đạt Lai Lạt Ma Trả lời: Tôi luôn nhìn sự kiện nào đó từ góc cạnh rộng lớn. Luôn có vấn-đề nào đó, nỗi chết chóc nào đó, hành-động tàn-sát hoặc khủng-bố nào đó hoặc bê-tha bê-bết ở mọi nơi, mọi ngày. Nhưng nếu bạn nghĩ toàn-bộ thế giới là như vậy, thì bạn đã sai. Vì trong số 6 tỉ con người sống trên thế-giới, những người gây rối chỉ là số ít….

Câu hỏi 5: Thưa, làm thế chúng tôi có thể dạy dỗ con em chúng tôi không được nổi giận? (Robbyn Rice, Grand Junction, Colorado, Hoa Kỳ)

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: Trẻ em luôn nhìn vào cha mẹ. Cha mẹ nên bình tĩnh hơn. Bạn có thể dạy con bạn rằng: bạn đang đối-diện với rất nhiều vấn-đề; nhưng bạn phải phản-ứng trước các vấn-đề đó với tinh-thần bình-tĩnh và có lý-trí. Tôi luôn có cái nhìn này về hệ-thống giáo-dục hiện-đại: chúng ta dành sự quan-tâm cho phát-triển não bộ, nhưng về sự phát-triển lòng tốt thì chúng ta rất ỷ lại…

Câu hỏi 8: Ngài nói gì với những người sử-dụng tôn-giáo như cái cớ để tạo bạo-lực hoặc giết người? (Arnie Domingo, (Thành phố Quezon, Philippines)

Đức Đạt Lai Đạt Ma trả lời: Có những người sùng-đạo, vô-tội bị lôi kéo bởi một số ngườ có quan-tâm khác hẳn. Quan-tâm của họ không phải là tôn-giáo mà là quyền-lực hay đôi khi là tiền bạc. Họ lợi-dụng niềm tin tôn-giáo. Trong trường-hợp này, chúng ta phải phân-biệt được: các điều ác đó không sinh ra bởi tôn-giáo…       

Câu hỏi 10: Ngài có tin thời-gian của ngài tại đây trên trái đất này đã là một thành-công không? (Les Lucas, Kelowna, British Columbia, Canada)

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: Hmm. Điều đó cũng tương-đối thôi. Thật quá khó để nói. Mọi cuộc sống của con người đều gồm một phần thất-bại, và một phần thành-công”… (Phạm Thu Hương dịch 10 câu hỏi dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma do tạp-chí Time đặt và đăng-tải ngày 19/5/2017)

Cứ nghĩ rằng bạn và tôi, ta cũng cảm-thông với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những điều kể trên rồi, nay ta mời nhau hát lại đôi ba ca-từ của bài hát trích ở trên làm đoạn kết cho một bài “Phiếm” như sau:

“Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi

Những con đường thèm đôi chân vui,

đã bao lâu chờ đợi.

Đường im nghe quá khứ trong sầu.

Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau.

Tình lẻ loi canh thâu.”

(Trầm Tử Thiêng – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn lòng bào lòng rằng

chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng”

 Tựa hồ lời Vàng từng căn-dặn ta như thế. 

TÂM TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA THÁNH GIOAN TẨY GIẢ NÓI GÌ VỚI TÔI

TÂM TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA THÁNH GIOAN TẨY GIẢ NÓI GÌ VỚI TÔI

PT Giuse Nguyễn Xuân Văn

 Trong lúc ngồi xe lửa đi làm và đọc kinh sáng, tôi có một chút suy tư về tâm tình của “Thánh Gioan Tẩy Giả” nhân ngày lễ nhớ ngài bị chặt đầu ngày hôm nay.  Có lẽ điều lớn lao nhất của một Tiên Tri (prophet) là hoàn tất nhiệm vụ được Thiên Chúa giao phó.  Tôi tự hỏi thánh Gioan Tẩy Giả đã có những suy tư gì trong những giây phút cuối đời trong bóng tối của nhà tù.  Tôi tưởng tượng nếu mình là thánh nhân thì mình sẽ nói với Chúa những gì trong những ngày ngồi trong ngục thất tốităm.  Có lẽ thánh Gioan Tẩy Giả sẽ thủ thỉ tâm sự với Chúa những tâm tình dưới đây, xin được chia sẻ với mọi người. 

****************************** *********

 “Lạy Chúa, Chúa đã thăm dò con và Ngài đã biết con.” (Thánh Vịnh 139:1)

Cảm ơn Chúa, vì những ân sủng của Ngài.  Chúa đã không chỉ chọn con là sứ giả của Đấng Cứu Thế Mết-si-a, mà Ngài còn cho con được diễm phúc làm họ hàng bà con thân thiết với Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.  Ngay lúc này đây con đang lo lắng vì mối đe dọa của cái chết đang treo lơ lửng trên cổ con, nhưng Chúa ơi, con vẫn hoàn toàn tin tưởng rằng Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi con.

Chúa ơi, mẹ của con, bà Ê-li-dza-béth đã kể lại cho con nghe rằng con đã “nhẩy mừng” trong bụng bà khi cô Maria đến thăm hai mẹ con.  Mẹ con quả quyết là Chúa Thánh Thần đã làm cho bà và con vui mừng vì được diễm phúc đứng trước mặt Chúa Giêsu con của Ngài.  Tạ ơn Chúa đã cho hai mẹ con nhận ra Đấng Cứu Thế, mặc dù  con và mẹ không trực tiếp được thấy Người.  Xin Chúa hãy cho con luôn giữ mãi những ký ức tươi đẹp hạnh phúc ấy, đặc biệt là trong những giây phút thử thách khi con đang sống những ngày cuối cùng của đời con.

Chúa ơi, Ngài có biết là con đã rất ngạc nhiên và bàng hoàng thế nào không, khi thấy Chúa Giêsu đến bên dòng sông Gio-đan để chịu phép rửa tội do con cử hành.  Con đã không thể nào hiểu được tại sao một Đấng Cứu Thế vô tội lại cần đến một phép rửa để ăn năn và tẩy sạch tội?  Đây quả là một điều vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.  Nhưng rồi con thấy dấu chỉ chim bồ câu của Chúa Thánh Thần và nghe tiếng nói của Chúa Cha từ trời, và rồi con đã bắt đầu hiểu ra rằng Giêsu không chỉ là Đấng Cứu Thế Mết-si-a mà còn là Con Chiên Thiên Chúa, là lễ vật toàn thiêu của Thiên Chúa.  Là Đấng sẽ chịu chết làm lễ tế để cất đi mọi tội lỗi của nhân loại và nối lại mối tình “cha và con” mà ông A-đam và bà E-và đã đánh mất ngày nào.  Một lần nữa, con lại được tràn đầy niềm vui sướng khi Chúa Thánh Thần cho con thấy được kế hoạch kỳ diệu và tràn đầy yêu thương của Thiên Chúa trong việc cứu rỗi nhân loại.

Giờ phút này đây Chúa ơi, con ngồi trong tù chờ chết, và con tự hỏi lòng mình rằng “những việc gì sẽ xẩy đến với tôi?”  Chúa ơi, một lần nữa xin Ngài gởi Chúa Thánh Thần đến với con để giúp con thêm lòng can đảm và tin tưởng.  Can đảm để dám đối diện với tương lai của con và tin tưởng rằng Chúa luôn luôn đồng hành với con trong từng gây phút của đời con.

Lạy Chúa Thiên Chúa của con, xin Chúa giúp con trung thành với ơn gọi của con và với Ngài đến cùng.
****************************** *********

Đó là tâm tình mà thánh Gioan Tẩy Giả có thể đã tâm sự với Chúa trong giây phút cuối đời của ngài trong những ngày bị bắt ở tù.  Cũng như thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người chúng mình cũng được Thiên Chúa chọn lựa làm con của Ngài và làm anh em họ hàng với Chúa Giêsu qua bí tích rửa tội.  Thiết tưởng rằng là Kitô hữu, là môn đệ của Chúa Giêsu mỗi người chúng mình cũng có thể đã và sẽ có những tâm tình gần giống như Thánh Gioan Tẩy Giả.  Nhất là trong những lúc sóng gió của đời sống “Đạo và Đời” trên con đường lữ thứ trần gian chờ ngày về quê Trời.  Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân phải “giằng co”, phải “lựa chọn” để chu toàn bổn phận của một người Kitô hữu, của một người chồng, người vợ, người cha, mẹ, con cái, v.v…  Đôi khi “cái tôi”, cái “gia trưởng”, cái quyền làm “bố mẹ” phải nhỏ đi để gia đình được lớn lên, được bình an và hạnh phúc.  Có những lúc phải làm sao để một linh mục, một tu sĩ có thể chống trả lại với những cám dỗ ham muốn rất ư là bình thường của một con người.  Và chắc hẳn cũng có những lúc phải lựa chọn sao để thăng bằng bổn phận giữa “công việc làm, gia đình,và giáo xứ” của một người phó tế vĩnh viễn, một Kitô hữu bình thường như bao Kitô hữu khác nhưng lại được Chúa trao thêm một ơn gọi phụ nữa là “phục vụ”, ngoài ơn gọi chính là “gia đình”.   Đây có lẽ là một thách đố khá khó khăn mà chính bản thân tôi đang phải đương đầu mỗi ngày.   Những lúc như thế mỗi người chúng mình sẽ rất cần đến sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần để thêm đức tin, đức mến và lòng can đảm để chu toàn phổn phận, và là Kitô hữu trung thành đến cùng. 

Lạy Chúa Thánh Thần, trong những lúc bình yên lẫn sóng gió của cuộc sống, và trong lúc cố gắng chu toàn ơn gọi của mỗi người, xin Ngài ban ơn và truyển cảm hứng cho từng người chúng con như Ngài đã làm cho Thánh Gioan Tẩy Giả; ngõ hầu mỗi người chúng con có thể nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện trong đời sống, và giúp chúng con thêm tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa dành riêng cho từng người chúng con.  Amen!

PT Giuse Nguyễn Xuân Văn

August 29, 2017 –  Viết theo cảm hứng “The Passion of John the Baptist” từ “The Word Among Us.”

From Langthangchieutim gởi

Bức tượng Đức Maria trong cơn siêu bão Harvey, Mỹ: Những phép lạ trong cơn bi kịch

 Bức tượng Đức Maria trong cơn siêu bão Harvey, Mỹ: Những phép lạ trong cơn bi kịch

Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Trận hỏa hoạn đã thiêu rụi hoàn toàn ngôi nhà của Rojas, chỉ còn bức tượng Đức Trinh Nữ Marai. (Ảnh: KRIS TV)

Cơn bão Harvey đã gây ra lũ lụt thảm khốc, tàn phá gần như hoàn toàn nhà cửa, gây ra nỗi hoang mang cho người dân Texas của nước Mỹ.

Theo kênh thông tin KRIS TV, có hơn 30.000 người phải di dời do hậu quả của cơn bão, trong đó có gia đình ông Rojas ở Robstown.

Khi được cảnh báo về siêu bão Hurricane Harvey, gia đình Rojas đã đóng gói đồ đạc đưa lên tầng lầu và rời khỏi thị trấn.

Tuy vậy, khi cơn bão Harvey đổ bộ vào Texas, ngôi nhà của gia đình Rojas đã bị chập điện và gây ra hỏa hoạn. Các nhân viên cứu hỏa tới nhưng do ảnh hưởng của gió từ cơn bão nên ngôi nhà bị thiêu cháy toàn bộ.

Khi cơn bão yếu dần, gia đình Rojas trở về nhưng ngôi nhà ba lầu đẹp của gia đình đã bị thiêu cháy và phá hủy.

Ông Rojas nói rằng, “Tôi muốn nói lời cám ơn đội cứu hỏa Robstown vì đã xuất hiện ngay trong cơn bão khi ngôi nhà của tôi bốc cháy. Dù không còn gì nhưng họ đã cố gắng hết sức mình”.

Điều duy nhất còn lại trong khu vực ngôi nhà của gia đình Rojas là bức tượng nhỏ Đức Trinh Nữ Maria.

Rojas bày tỏ: “Một số người đổ lỗi thiên tai do Thiên Chúa, số khác đổ lỗi cho cơn bão, nhưng điều duy nhất tồn tại, đứng vững đó là sự thánh thiêng, như bạn thấy bức tượng Đức Mẹ là điều duy nhất tồn tại. Tôi đã tìm bới những gì còn lại và tôi tìm thấy bức tượng Đức Trinh Nữ Maria”

Bức tượng Đức Trinh Nữ Maria là dấu hiệu của hy vọng cho nhiều người. Mẹ là niềm hy vọng, sự bình an cho gia đình Rojas và tất cả những ai phải chịu đựng đau khổ do cơn bão Harvey.

Hậu quả do cơn bão Harvey gây ra thật nặng nề, tồi tệ, nhưng cũng như trong nhiều trường hợp, chúng ta đã thấy những phép lạ tỏ tường, mang lại điều tốt đẹp từ Thiên Chúa.

Tại Rockport, TX, Kayla và Justin Butts cũng đã sơ tán gia đình khỏi trang trại của gia đình trước khi cơn bão Harvey đến. Họ quay trở về vào thứ Hai vừa qua và không còn trông đợi gì sau cơn siêu bão. Tuy vậy 200 động vật gồm heo, gà, dê của gia đình vẫn còn sống sót.

200 động vật của gia đình Kayla và John Butts đã sống sót (Ảnh: Đóng góp cho Caller Times)

Tại Houston, TX, một nhóm đưa tin trược tiếp về cơn bão Harvey đã cứu sống một tài xế xe tải. Phóng viên Brandi Smith và đoàn đưa tin của mình đã phát hiện một tài xế xe tải mắc kẹt trong cơn bão. Họ khuyên anh ta ở trong xe tải cho đến khi được giúp đỡ.

Một lát sau, một chiếc xe của cảnh sát tới và anh ta được trợ giúp thoát khỏi tình trạng nguy hiểm.

Phóng viên Brandi Smith nói rằng: “Tôi không thể hình dung nổi sự khủng khiếp đến mức nào trong thời điểm đó”.

Cảnh sát Hoa Kỳ tiếp tục giải cứu hàng ngìn người mắc kẹt mỗi ngày trong cơn siêu bão Harvey.

Hàng ngàn người được giả cứu mỗi ngày trong cơn siêu bão Harvey. (Ảnh: ABC News)

Những người Samaritanô nhân hậu đã mở cửa nhà mình để trợ giúp những người lạ cần sự trợ giúp. Mọi người trên khắp thế giới đã hướng về các nạn nhân, trợ giúp và cầu nguyện cho các nạn nhân trong thời điểm họ cần sự trợ giúp nhất.

Ông Rojas  nói: “Hãy chú ý đến các thông tin và lời cảnh báo. Ôm con của bạn và tạ ơn Thiên Chúa vì hôm qua và hôm nay cũng như cầu nguyện cho ngày mai được tốt đẹp hơn.”

Truyền Thông Thái Hà

Lược dịch từ catholic.org

ĐỪNG NÉ TRÁNH TIẾNG CHÚA

ĐỪNG NÉ TRÁNH TIẾNG CHÚA

Chúa nói với ta là để dạy dỗ ta.  Tuy nhiên, ta dễ tìm ra nhiều chỗ núp để tránh né sự dạy dỗ ấy.  Ta có thể tránh né bằng cách mải lo việc của người khác, bằng cách hài lòng với quá khứ hoặc thêu dệt tương lai, bằng cách làm những việc bên ngoài.

  1. Con Chứ Không Phải Người Khác 

Cách dễ nhất và cũng đáng buồn nhất để tránh né điều Chúa dạy là quay sang lo việc người khác.  Một phụ nữ dễ “nói chuyện với Chúa” hằng giờ về những thiếu sót của chồng và không hề tự hỏi gì về bổn phận làm vợ, làm mẹ của mình.  Người cha gia đình có thể than thở với Chúa rất nhiều về những đứa con lớn của ông, nhưng lại không muốn hỏi Chúa xem trong việc giáo dục con cái, ông đã sai trái thế nào!  Một linh mục có thể rất bận tâm tới phần rỗi mọi người và quên mất rằng Chúa đang chờ đợi chính cha sửa đổi đời sống!  Con cái dễ trách móc cha mẹ, bề trên phàn nàn về bề dưới, giáo dân than phiền cha sở… để khỏi đối diện với những điều Thiên Chúa đang đòi hỏi bản thân họ.  

Ðôi khi ta còn nhanh nhẩu lo sửa giùm lầm lỗi của kẻ qua đường, của người hàng xóm.  Ta không có giờ suy nghĩ những vấn đề của ta vì ta đang bận phê bình các thế hệ người xưa và các tầng lớp xã hội ngày nay. 

Trước mắt Chúa, ta cần tự hỏi: “Chúa muốn dạy con điều gì?” chứ đừng hỏi: “Chúa muốn con dạy người kia điều gì?”

  1. Lúc Này Chứ Không Phải Lúc Khác 

Nếu không mắc cái tệ “việc mình thì lười, việc người thì siêng”, ta lại có thể tránh né tiếng Chúa bằng cách mải miết nghĩ đến những “thành quả” nào đó trong quá khứ.  Ta yên tâm vì mình không đến nỗi tệ…  Ta hãnh diện vì đã biết đáp lại tiếng Chúa.  Làm như là đã nắm vững ý Chúa, đã giải quyết xong đâu đó rồi, không còn vấn đề nữa.  

Như thế là quên rằng Chúa đang dìu ta từng bước một, mỗi lúc Ngài đều muốn ta tiến thêm.  Không ai khám phá tiếng Chúa một lần thay cho tất cả, và nếu không muốn lùi lại thì cũng không ai có thể cho rằng mình đã đáp lại tiếng Chúa xong rồi. 

Lắm lúc ta lại có rất nhiều lý do tốt đẹp để thêu dệt vẽ vời tương lai, mải lo giải quyết những chuyện chưa đến, mất thời giờ vì những chuyện nằm trong giả thuyết.  Không, nếu hiện tại ta không yêu thì lấy gì bảo đảm rằng tương lai ta sẽ yêu? 

Mỗi giây phút Chúa đều có điều muốn dạy ta, ta cần tỉnh táo luôn luôn để nghe được điều Chúa dạy dỗ.

  Chính Tâm Hồn Con Chứ Không Phải Chuyện Bên Ngoài 

Sự lẩn tránh đôi khi thật tinh vi.  Ta có thể cố gắng làm những việc thật lớn lao, nhưng chỉ là những việc bên ngoài, để dựa vào đó mà khỏi lo hoàn thiện chính mình.  Hãy nhớ lời Chúa nói: “Ta muốn tấm lòng chứ không muốn của lễ.”

Tĩnh tâm chính là dịp ta đến với Chúa, để Chúa hoán cải tâm hồn ta nên giống như Chúa, “có được những tâm tư như đã có nơi Ðức Kitô-Giêsu” (Phil 2:5), rung cảm, muốn và hành động như Ngài.

  1. Học Từ Bỏ 

 Tập linh thao là tập xa bỏ những xu hướng lệch lạc để gắn bó với thánh ý Thiên Chúa.  Công cuộc này bắt đầu từ những chọn lựa nhỏ nhặt và kết quả hay không phần lớn đều do thái độ của ta trước những cám dỗ “chẳng ra gì” này.

Ví dụ:

–   không kìm hãm một câu hỏi, một cái nhìn, một điếu thuốc …

–   ươn lười trong cách ngồi nguyện ngắm

–   rút ngắn giờ nguyện ngắm

–   mãi lo nghĩ về những điều sẽ làm hay có thể làm thay vì tập trung vào sự gặp gỡ Thiên Chúa. 

Ai trung tín trong việc nhỏ sẽ trong tín trong việc lớn.  Càng cương quyết trước những quyến luyến lặt vặt, ta càng có sức mạnh đáp lại những đòi hỏi lớn lao của Thiên Chúa.  Ngược lại, chỉ một nhượng bộ nhỏ cũng có thể mở đầu cho một chuỗi đầu hàng làm cho ta yếu hẳn đi, lùi lại rất xa và rồi coi thường cả những nguy cơ trầm trọng gây thiệt hại cho linh hồn mình và người khác. 

Cuộc linh thao có kết quả nhiều hay ít là tùy ta dám từ bỏ nhiều hay ít.  Việc từ bỏ nói đây trước hết là từ bỏ ý riêng, cả những cái có vẻ rất chính đáng.  Ngay từ những ngày chuẩn bị đi linh thao, hãy tập vui vẻ đón nhận mọi chuyện trái ý.  Nếu những ngày trước tĩnh tâm, ta đã cố gắng để tự thắng, vui vẻ từ bỏ ý riêng, thì trong thời gian tĩnh tâm sẽ dễ tỉnh táo trước những gợi ý có vẻ rất nhỏ mọn của Chúa. 

Ðừng quên rằng những cái nhỏ ấy đang chuẩn bị cho những cái lớn.  Nước trời bao giờ cũng bắt đầu như một hạt cải, nhỏ hơn mọi thứ hạt…  Có quảng đại với Chúa trong những việc dễ mới có thể nói không với mình trong những chuyện khó, khi phải buông bỏ những điều ta vẫn chủ quan cho là tốt nhất để chọn những điều có vẻ rất bấp bênh, ít hữu hiệu nhưng lại là điều Thiên Chúa đề nghị.  Lắm lúc Thiên Chúa chỉ đòi hỏi ta để yên cho Ngài làm.  Ðáng mừng biết bao nếu lúc ấy ta biết nhỏ lại để Ngài được lớn lên. 

Nguồn http://www.donghanh.org/

Langthangchieutim gởi

Luyện Ngục Ở Đâu

Luyện Ngục Ở Đâu

L.m. Mark, CMC

* Kinh Thánh không nói rõ Luyện ngục ở đâu, nhưng chắc chắn phải có một nơi nào đó để giam giữ các linh hồn cần thanh tẩy trước khi vào Thiên đàng.

* Giáo hội dạy: “Luyện ngục là một nơi và là một tình trạng thanh tẩy tạm thời mà nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đó” (FCD p.482).
– Luyện ngục ở trong lòng đất:

* Theo ý kiến chung các nhà thần học như Thánh Augustinô, thánh Bêđa, Bellarminô… thì Luyện ngục ở trong lòng trái đất.

* Theo thánh Tôma Aquinô thì “Ý kiến có thể nhận được, và thấy hợp với những lời các thánh được mạc khải tư là Luyện ngục có hai nơi: một nơi dành chung cho các linh hồn, nơi này gần hoả ngục hơn; một nơi dành riêng cho một số trường hợp không thông thường, từ nơi này nhiều linh hồn được phép hiện về” (Purgatory p. 9).

* Thánh nữ Têrêsa Avila thương các linh hồn Luyện ngục cách đặc biệt. Bà hay giúp các linh hồn bằng lời cầu nguyện, hi sinh và việc từ thiện. Ðể thưởng công, Thiên Chúa thường cho bà được thấy các linh hồn lúc ra khỏi Luyện ngục về Thiên đàng. Các linh hồn này từ lòng đất đi ra. Bà thánh viết: ” Tôi được tin một Bề trên Tỉnh dòng mà tôi quen biết đã qua đời. Khi còn sống ngài đã giúp tôi nhiều. Dù vị tu sĩ này được coi là có nhiều nhân đức, nhưng tôi thấy cần cầu nguyện cho linh hồn ngài, bởi ngài làm Bề trên trong thời gian 20 năm, nên tôi e ngại nhiều về việc săn sóc các linh hồn đã được trao phó cho ngài. Phiền muộn, tôi đi tới nhà Nguyện dâng lên Chúa chút việc lành đã làm, và van nài công nghiệp vô cùng của Chúa, xin giải thoát linh hồn vị Bề trên này khỏi Luyện ngục. Trong khi tôi đang sốt sắng khẩn nài như vậy, tôi thấy vị Bề trên này từ lòng đất đi lên phía bên phải tôi, rồi lên thẳng Thiên đàng cách vui vẻ. Vị Bề trên này đã cao tuổi, nhưng tôi thấy dáng người như ở tuổi ba mươi, vẻ mặt rạng ngời ánh sáng. Thị kiến này xảy ra rất ngắn, nhưng tôi không nghi ngờ chút nào về sự thật tôi đã được thấy. Dù ở xa chô ngài qua đời, đôi khi tôi cũng cảm thấy cái chết của ngài, nước mắt ngài chảy ra và khiêm tốn phó mình cho Thiên Chúa.

“Một nữ tu dòng tôi, qua đời chưa được hai ngày, khi chúng tôi đang đọc kinh nguyện cho chị, tôi thấy linh hồn chị đi từ lòng đất lên thẳng Thiên đàng.

“Cũng trong tu viện này, một nữ tu khác quãng 18 đến 20 tuổi mới qua đời. Chị thật là một mẫu gương sốt sắng, kỉ luật và nhân đức. Ðời chị đã chịu nhiều đau khổ, bệnh nạn cách rất kiên trì. Tôi không nghi ngờ gở khi thấy cuộc sống như vậy, nghĩ rằng chắc sẽ khỏi phải vào Luyện ngục. Tuy nhiên, sau khi chị qua đời mười lăm phút, lúc chúng tôi đang cầu cho chị trong nhà Nguyện, tôi thấy linh hồn chị từ lòng đất bay thẳng về trời” (Purgatory p. 11-13).

* Theo hạnh tích thánh Lui Bertrand dòng thánh Ðaminh do cha Antist cùng dòng và sống cùng thời với thánh nhân viết trong cuốn Acta Sanctorum kể rằng: ngày 10 tháng Mười năm 1557, khi thánh Bertrand trông coi tu viện tại Valenti, cả thành phố bị ôn dịch. Cơn dịch khủng khiếp lan nhanh như vũ bão đe dọa sinh mạng mọi người. Trong tu viện của ngài có cha Clement ước ao được chết cách thật thánh thiện, đã xưng tội chung với thánh nhân, cha còn nói: Thưa cha, nếu con chết bây giờ, con sẽ hiện về cho cha biết tình trạng của con ở đời sau”. Cha Clement đã chết thật. Ðêm hôm sau ngài hiện về với thánh nhân. Cha nói rằng cha đang ở trong Luyện ngục để đền một số tội nhẹ, và nhờ thánh nhân xin cộng đồng tu viện cầu cho mình. Thánh Bertrand lập tức đi xin anh em cầu nguyện và dâng thánh lễ cho cha Clement. Sáu ngày sau, một người dân trong thành, không hay biết gì về cha Clement đã qua đời, đã tới xưng tội với cha Betrand, cho biết là linh hồn cha Clement mới qua đời đã hiện về với mình. Ông thấy đất mở ra, và linh hồn cha Clement bay thẳng về trời giống như một ngôi sao rực sáng” (Purgatory p. 13-14).

* Trong hạnh tích bà thánh Madalena de Pazzi, cha linh hồn bà là Cepari dòng Tên có ghi lại rằng: Bà thánh đã được chứng kiến một nữ tu trong dòng chết ít lâu trước. Một hôm, khi thánh nữ đang qùi chầu Mình Thánh, ngài thấy linh hồn nữ tu đã qua đời từ Luyện ngục trong lòng đất đi lên. Nữ tu khoác chiếc áo choàng lửa, bên trong là chiếc áo choàng sáng láng che chở cho nữ tu khỏi nóng rát. Nữ tu qùi hàng giờ tại chân bàn thờ, thờ lạy Chúa ẩn mình trong hình bánh. Ðây là giờ đền tội cuối cùng trước khi nữ tu được bay thẳng về trời”.

– Ðền tội tại nơi phạm lỗi:

Ngoài nơi nhất định là trong lòng đất như trên, một vài Chân phước còn cho biết thêm: Không những bị phạt trong Luyện ngục, mà có khi còn bị phạt tại một nơi nào đó, có khi gần mồ mả, gần bàn thờ Mình Thánh Chúa, có khi trong căn phòng nơi có người cầu nguyện cho mình, có khi ngay tại nơi linh hồn đã phí phạm thời giờ khi còn sống.

* Chân phước Frances Thánh Thể đã thấy linh hồn các nữ tu chịu cực hình ngay tại phòng ngủ, tại nơi hát kinh của Tu viện, nơi các nữ tu đã phạm lỗi ngày trước.

* Chân phước Benađô Colagno dòng Tên thấy một linh hồn bị phạt 43 năm tại một đường phố thành Rôma.

Bàn tay linh hồn hiện về in vào tường trước khi trở lại Luyện ngục. Hình trên hiện còn giữ tại Nhà thờ Luyện ngục tại Rôma

L.m. Mark, CMC

Anh chị Thụ & Mai gởi

Sức mạnh của lòng tin

 
Sức mạnh của lòng tin

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu (15, 21-28) trích đọc vào Chúa Nhật 20 thường niên.)

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Norman Vincent Peale (1898-1993) là một mục sư danh tiếng trong Giáo hội Tin lành Methodist, đồng thời cũng là nhà tâm lý trị liệu danh tiếng ở Mỹ, đã xuất bản nhiều tác phẩm thuộc hạng ăn khách nhất, trong đó có cuốn “Sức mạnh của tư tưởng tích cực” (The Power of positive thinking) xuất bản năm 1952. Tác phẩm này được dịch ra đến 41 thứ tiếng, bán ra hơn 20 triệu cuốn và còn được thu vào băng dĩa để phát hành.

sở dĩ cuốn sách nầy lôi cuốn được nhiều độc giả đến thế nó vì giúp cho người ta tìm thấy bí quyết tránh thất bại và đạt tới thành công. Bằng cách nào? Tác giả cuốn sách viết: “Người ta thất bại vì người ta thiếu lòng tin, thiếu lòng tin nơi Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào khả năng của mình. Vậy muốn thành công, hãy gầy dựng cho mình một niềm tin mạnh mẽ.”

Tác giả trích câu lời Chúa trong Tin mừng Mat-thêu làm bí quyết để thành công trong cuộc đời. Đó là: “Nếu bạn có lòng tin thì chẳng có việc gì mà bạn không làm được” (Mt 17,20).

Bí quyết đó được sáng tỏ qua sự kiện sau đây:

Khi Chúa Giê-su vượt qua biên giới Do-thái qua miền Tia và Xi-đôn, có một người đàn bà xứ Ca-na-an, là người ngoại bang đến gặp Chúa Giê-su và thống thiết nài xin Ngài: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Thế mà Chúa Giê-su lặng thinh không đáp.

Nếu ở trong hoàn cảnh người đàn bà nầy, chắc chúng ta tức tối bỏ đi, thầm oán trách Chúa vô tâm. Đó là bức tường thứ nhất người đàn bà Ca-na-an đụng phải, nhưng bà không thối lui.

Bà cứ liên lỉ nài van, còn Chúa Giê-su thì cứ tiếp tục lặng thinh. Bà kêu xin bền bĩ đến độ các tông đồ đi theo chịu hết nổi, nên mới xin Chúa Giê-su đáp lại ước vọng của bà: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !”

Chúa Giê-su lại từ chối: “Thầy chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en.”

Sứ mạng của Chúa Giê-su vào thời điểm đó chỉ dành cho dân Ít-ra-en mà thôi, chưa đến thời đem ơn cứu độ cho mọi dân tộc.

Bị từ chối thẳng thừng, bị dụng vào bức tường thứ hai, nhưng bà không nhụt chí. Bà vẫn tiếp tục van xin. Bà bái lạy Ngài cách thành khẩn và xin tiếp: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi.”

Lần nầy, Chúa Giê-su trả lời cách cứng cỏi và quyết liệt: “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó con.” Thế là bà lại đụng phải bức tường thứ ba, tưởng như còn cao hơn, dày hơn hai bức tường trước. Vẫn không thoái chí, bà khiêm nhường chấp nhận thân phận thấp hèn của mình và khiêm tốn cầu xin: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”  

Đến đây thì Chúa Giê-su không thể chối từ được nữa. Lòng tin mạnh mẽ và sự bền bĩ cầu xin của người phụ nữ Ca-na-an đã làm thay đổi kế hoạch cứu độ từng bước của Thiên Chúa, khiến Chúa Giê-su phải đáp ứng yêu cầu của bà ngay lúc bấy giờ, là cho con bà được ơn chữa lành, cho dù chưa đến thời kỳ mang ơn cứu độ cho người ngoài Do-thái.

Chúa Giê-su xác nhận rằng chính nhờ lòng tin vững mạnh mà người phụ nữ này đạt được điều mình mong muốn. Ngài nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28).

Ngoài ra, Chúa Giê-su khẳng định rằng ai có lòng mạnh tin thì có thể làm được bất cứ việc gì: “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “Hãy rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17, 20).

Như thế,

Lòng tin là chìa khoá vạn năng có thể mở được những cánh cửa dẫn vào những kho tàng quý báu.  

Lòng tin cũng là bí quyết để thành công.

Đây là bài học quý báu mà Chúa Giê-su dạy chúng ta qua Tin mừng hôm nay. Tiếc thay chúng ta không biết tận dụng bài học này để thu hoạch những thành quả tốt đẹp trong cuộc đời.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa thường đề cao lòng tin, khen ngợi những người mạnh tin và chê trách các môn đệ yếu lòng tin. Xin ban thêm Đức tin cho chúng con để nhờ đó, chúng con có thể vượt qua mọi gian nan thử thách trong đời và giành lấy những thành tựu tốt đẹp trong cuộc đời cũng như trong đời sống tâm linh.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Mát-thêu 15, 21-28

21 Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn,22 thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm! “23 Nhưng Người không đáp lại một lời.

24 Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.”25 Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi! “26 Người đáp: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”27 Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”28 Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.

Cố Gắng Làm Điều Lành Sẽ Đạt Tới Thành Quả Rực Rỡ!

Cố Gắng Làm Điều Lành Sẽ Đạt Tới Thành Quả Rực Rỡ!

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

… Cha thánh Pio thành Pietrelcina (1887-1968) là Linh Mục dòng Anh Em Hèn Mọn Cappuccino mang Năm Dấu Thánh.

Lúc sinh thời, có một sự kiện như hằn sâu trong con tim của Cha thánh: đó là bảo vệ gia đình và bảo vệ sự sống. Các tội phạm chống lại sự sống thường làm Cha nổi giận và lớn tiếng la rầy. Gia Đình, Hôn Nhân, Luân Lý Tính Dục là ba môi trường mà Cha thánh Pio quyết liệt bảo vệ. Cha đòi buộc các tín hữu Công Giáo phải kính trọng và quan tâm chú ý đến 3 thực tại nòng cốt này bởi vì đó là các thực tại thể hiện chương trình của THIÊN CHÚA trên việc tăng trưởng của nòi giống loài người.

Gia Đình hiệp nhất, Hôn Nhân bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ là nền tảng đầu tiên của sự sống nhân loại. Đã có không biết bao nhiêu gia đình được Cha thánh Pio cứu gỡ khỏi tình trạng phân tán và ly dị! Cha thánh Pio thường gào to hét lớn:

– Ly Dị là hành vi phá hoại đến từ con người. Và như thế, Ly Dị là đại lộ thênh thang đưa con người xuống thẳng Hỏa Ngục!

Cha thánh Pio đặc biệt yêu thương, khuyến khích và hỗ trợ các gia đình đông con. Cha thường lập đi lập lại: “Hôn nhân là để sinh sản con cái” và như lời Thánh Vịnh 127(126) khẳng định:

– Này con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban. Bầy con sinh hạ thời son trẻ tựa nắm tên người dũng sĩ cầm tay. Hạnh phúc thay người nào đeo ống đầy loại tên như thế! Họ sẽ không nhục nhã khi phải đến cửa công tranh tụng với địch thù (3-5).

Với các đôi vợ chồng mới cưới, Cha thánh Pio luôn luôn cầu chúc:

– Một xâu hột trang sức thật đẹp với đàn con đông đúc!

Rồi Cha khuyên:

– Hãy gia tăng con số dân cư cho mặt đất và cho Thiên Đàng.

Vì thế, người ta ghi nhận có rất nhiều gia đình đông con – từ 10 người con trở lên – là của những cặp vợ chồng được Cha thánh Pio hướng dẫn đường tu đức. Chẳng hạn gia đình ông Settimio Manelli (1886-1978) và bà Licia Gualandris (1907-2004) người Ý. Ông Bà sinh hạ tất cả 21 người con, chết 8 còn 13. Trong số 13 người con này đặc biệt có Linh Mục Stefano Maria Pio Manelli sáng lập dòng Các Tu Sĩ Phan-sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm vào năm 1990 tại thủ đô Roma. Hiện nay Dòng có mặt tại nhiều nơi trên thế giới. Và ngày 20-12-2010 Tổng Giáo Phận Roma đã chính thức mở hồ sơ xin phong chân phước cho cặp vợ chồng Settimio và Licia Manelli.

Cha thánh Pio quyết liệt chống đối viên thuốc ngừa thai, vì nó là sản phẩm đến từ âm phủ! Như thế, Cha thánh Pio luôn luôn bài trừ các tệ nạn lạm dụng tính dục trong hôn nhân, biến hôn nhân thành thị trường buôn bán tính dục và tìm kiếm thỏa mãn xác thịt.

Không biết bao nhiêu lần người ta chứng kiến cảnh Cha thánh Pio từ chối ban ơn xá giải cho những tội nhân nằm lỳ trong tội lỗi và nhất là các tội ngừa thai, phá thai. Cha thánh Pio thường giảng dạy:

– Khi anh chị em có Đức Tin thì con cái không hề đặt nặng vấn đề cho sức khoẻ, cho tài chánh cũng không làm cho anh chị em phải bực bội khó chịu.

Ngoài ra Cha thánh Pio cũng khẳng khái chống lại các tội lỗi nhân đức trong sạch. Người ta cũng lưu ý thấy Cha thánh Pio chống lại việc các phụ nữ ăn mặc khêu gợi, hở hang mất nết. Cha khuyên các phụ nữ ăn mặc kín đáo như dấu chứng lòng kính sợ THIÊN CHÚA và kính trọng tha nhân.

Sau cùng cuộc chiến của Cha thánh Pio cũng nhằm bài trừ tội đồng tính luyến ái, trợ tử và phá thai. Đó là những tội ác chống lại nhân loại và phá vỡ tất cả các giá trị vừa nhân bản vừa Kitô giáo.

… Những Tràng Chuỗi Mân Côi của một bậc Cha Mẹ tha thiết dâng lên Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA để cầu cho đứa con bất hạnh. Câu chuyện xảy ra tại thủ đô Roma.

Bé Ugo Angelilli chào đời với đôi mắt bị mù. Tất cả các bác sĩ và các giáo sư mà Cha Mẹ bé đến tham khảo ý kiến đều quả quyết là không có phương thức chữa trị nào có thể mang lại ánh sáng cho đôi mắt mù lòa của bé Ugo.

Là những tín hữu Công Giáo tràn đầy Đức Tin, Cha Mẹ bé Ugo liền chạy đến cùng Đức MARIA Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Ông Bà xin cử hành tam nhật trọng thể nơi bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Cùng lúc ông bà cũng đọc rất nhiều Tràng Chuỗi Mân Côi dâng lên Đức Mẹ.

Và dĩ nhiên Đức Mẹ không thể làm ngơ trước các lời khấn xin tha thiết của bậc cha mẹ đáng thương. Chỉ vỏn vẹn 4 tháng sau khi sinh ra, vào tháng 10, tháng dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, Cha Mẹ của bé Ugo vui mừng nhận ra sự kiện bé Ugo bắt đầu phân biệt các người và các vật chung quanh. Sau đó thì bé Ugo được khỏi hẳn chứng mù lòa. Muôn vàn tạ ơn Đức Mẹ MARIA Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi.

… “Phúc thay người son sẻ mà tinh tuyền, không chung chạ bất chính. Đến thời THIÊN CHÚA viếng thăm, họ sẽ được sinh hoa kết quả. Phúc cho hoạn nhân không làm điều bất chính, không suy tưởng nghịch cùng THIÊN CHÚA. Vì trung tín, họ sẽ được một đặc ân là hưởng phần rất hậu nơi Đền Thờ THIÊN CHÚA. Quả vậy, cố gắng làm điều lành, sẽ đạt tới thành quả rực rỡ, vì lẽ trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại. Nhưng con cái bọn ngoại tình sẽ chẳng ra chi, giống nòi kẻ chung chạ bất chính rồi sẽ lụi tàn. Dầu chúng có sống lâu trăm tuổi, thì cũng kể bằng không không vậy; khi cuộc đời xế bóng, chúng cũng chẳng danh giá gì .. Chẳng thà không con cái mà sống đời đức hạnh! Người đức hạnh lưu danh muôn thưở, vì được cả THIÊN CHÚA lẫn người đời biết đến. Họ còn sống, người người noi gương, họ khuất đi, ai ai cũng thương tiếc. Trong cõi đời đời, đầu đội triều thiên, họ khải hoàn vinh hiển, vì đã chiến thắng trong cuộc tranh đua giành phần thưởng tuyệt vời .. Trong ngày xét xử, những đứa con hoang sẽ là bằng chứng buộc tội những người sinh ra chúng” (Khôn Ngoan 3,12-18/4,1-2,6)

(“La Mia Messa”, volume IV, 1 Ottobre – 31 Dicembre 2014, Anno VIII/A/B, Casa Mariana Editrice, trang 87-88/515)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 20/10/2014

TỈNH NGỘ

TỈNH NGỘ 

Khi suy tư về sự chóng qua cuộc đời, nhà thơ Bùi Giáng đã thốt lên: “Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thật. Thế cho nên tất bật đến bây giờ?”  Khi nói lên điều cảm nhận trên đây, nhà thơ như một người mộng du tỉnh ngộ, nhận ra cuộc sống này thật ngắn ngủi và vô nghĩa, mà trước đó, ông lại tin rằng nó hoàn hảo và tồn tại vĩnh viễn.

Trong cơn lốc của cuộc sống hiện đại và trào lưu hưởng thụ hôm nay, nhiều người trong chúng ta vẫn nghĩ rằng “trần gian là cõi thật”, nên tìm mọi cách để làm giàu hoặc thăng tiến trong con đường danh vọng.  Để đạt được tham vọng, họ dùng mọi thủ đoạn, kể cả loại trừ người khác.  Khi không đạt được điều họ muốn, họ cay cú, tiêu cực, hằn học không yên.  Nhưng nếu đạt được điều mơ ước, thì họ cũng chẳng thoả mãn, và tiếp tục tìm cách leo cao hơn trong bậc thang danh vọng bổng lộc.  Tiền bạc bao nhiêu cũng chẳng đủ.  Danh vọng cao mấy cũng chẳng vừa.  Tham vọng đã làm cho họ tối mắt.  Của cải làm họ quên hết bạn bè.  Đến một lúc nào đó, giật mình nhìn lại bản thân, họ thấy rằng, những thứ mà họ say sưa tìm kiếm cuối cùng chỉ như đám mây buổi sáng, như đoá hoa phù dung.  Thì ra bấy lâu nay, cữ ngỡ một khi mình đạt được những điều theo đuổi, thì sẽ hạnh phúc sung sướng.  Giờ mới ngộ ra một điều, hạnh phúc đích thực lại không dựa trên những điều chóng qua ấy.  Của cải không phải lúc nào cũng đem lại niềm vui.  Danh vọng chẳng phải bao giờ cũng giúp ta hạnh phúc.  Những tất bật đôn đáo ngược xuôi bấy lâu nay chỉ là cuộc đuổi hình bắt bóng vô nghĩa.  Nhiều khi giàu có về của cải, mà ta lại nghèo nàn về tình người.  Có khi đạt được đỉnh cao của danh vọng, nhưng nghiệt ngã trong trận chiến loại trừ nhau.

Trong Kinh Thánh Cựu ước, tác giả sách Giảng viên  đã thốt lên:  Mọi sự là phù vân (tức là mây bay), nay còn mai mất (x. Gv 1,2-8).  Đây cũng là những suy tư đúc kết kinh nghiệm sau một đời lận đận gian nan chạy theo những danh vọng của cải trần thế.  Tác giả kêu gọi, nếu nhận ra cuộc đời này là phù vân, thì hãy cậy dựa trên những gì là vĩnh cửu, để rồi cuối đời, chúng ta không ân hận, vì đã để thời gian trôi đi một cách uổng phí.

Trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh một người phú hộ để dạy chúng ta biết chọn lựa những giá trị sống lâu bền (x. Lc 12,16-21).  Người phú hộ chuyên cần làm lụng, tích trữ được nhiều hoa lợi.  Anh phá kho nhỏ, xây kho lớn.  Anh  là người có tầm nhìn xa, sau một thời gian vất vả làm lụng, tự cho phép mình được nghỉ ngơi và hưởng thụ.  Nhưng, chính lúc anh nghĩ mình được nghỉ ngơi và hưởng thụ, thì đó cũng là ngày tận số của anh.  Những gì anh vất vả làm lụng và tích trữ, giờ đây trở thành vô nghĩa trước một cái xác không hồn.  Chúa Giêsu đã đưa ra kết luận: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó”.  Đây cũng là thông điệp mà Chúa Giêsu muốn gửi đến mọi người.  Ai cũng hiểu “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” là tu thân tích đức, tạo một mối tương quan tốt lành với Chúa và với anh chị em, tức là mến Chúa và yêu người.  Người phú hộ không có thời gian để làm lại cuộc đời.  Anh ta giỏi về làm ăn, nhưng bị quở trách là đồ ngốc.  Anh khôn trong suy tính cho cuộc đời hiện tại, nhưng lại dại trong cái nhìn về tương lai.  Anh như người mộng du, đi mà không biết đi về đâu, tích trữ mà không biết để làm gì, để rồi anh phải đón nhận một kết cục cay đắng.  

Tin Mừng cũng nói đến một tỉnh ngộ khác, đó là nhân vật người con thứ trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (x. Lc 15).  Khi rơi vào cảnh khốn cùng, anh đã dốc quyết trỗi dạy, trở về với cha mình.  Anh chỉ tỉnh ngộ sau khi nếm trải bất hạnh và khổ đau, nhưng muộn còn hơn không.  Người cha vẫn đợi chờ anh với tình thương vô bờ bến, và dang rộng vòng tay đón anh trở về.  Anh chỉ muốn được như người ăn kẻ ở trong nhà, nhưng người cha vẫn dành cho anh vinh dự của người con, với tình thân thương trìu mến.  Người cha trong dụ ngôn là hình ảnh Thiên Chúa.  “Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta là những người luôn cảm thấy mệt mỏi xin tha thứ.  Những ai có can đảm để tiếp cận Chúa, sẽ tìm thấy niềm vui lễ hội nơi Thiên Chúa, vì Ngài luôn luôn chờ đợi và tha thứ” (Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô tại nhà nguyện Thánh Marta, ngày 28-3-2016).  Tỉnh ngộ đã giúp người con thứ tìm lại mái ấm gia đình và tình thương trời bể của người cha.  Cánh cửa tương lai đã mở ra cho anh với biết bao hứa hẹn tốt lành.

Sinh ra làm người, mỗi chúng ta chỉ có một cuộc đời.  Vì thế, mỗi người được đề nghị chọn cho mình một hướng đi.  Đó là chọn lựa một lần cho tất cả.  Chọn lựa này sẽ tác động ảnh hưởng trong suốt hành trình trần thế của chúng ta.  Có người chọn cho mình lý tưởng ưu tiên là nghề nghiệp chức vụ;  người khác lại chọn dấn thân phục vụ tha nhân.  Chọn lựa nào cũng đáng tôn trọng, nhưng không được quên, mọi định hướng phải được xây nền trên lương tâm đạo đức và tình người.  Sự thành đạt nhờ mưu mô mánh lới sẽ chẳng tồn tại lâu dài.  Không có chọn lựa rõ ràng và dứt khoát, ta như bước đi trong vòng luẩn quẩn, đến khi tỉnh ngộ thì đã thấy mình đầu bạc, gối mỏi, muốn làm lại cuộc đời nhưng bất lực vì đã quá muộn màng.

Người tín hữu sống giữa cuộc đời chao đảo, giằng co bởi biết bao nhiêu toan tính, dễ bị chìm đắm trong những đam mê.  Lời Chúa nhắc bảo chúng ta hãy tỉnh ngộ để nhận ra đâu là thánh ý Chúa để biết sống đẹp lòng Ngài.  Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để chúng ta tỉnh ngộ.  Nhờ ơn Chúa, chúng ta thay đổi cuộc đời, trở nên con người mới.  Cảm nhận tình Chúa yêu thương và cộng tác với Ngài làm cho lòng nhân ái lan rộng nơi trần thế.  Nhận ra nơi những người anh chị em xung quanh hình ảnh của Chúa để cùng nhau cổ võ tình huynh đệ, đỡ nâng những ai bất hạnh khốn khó trong cuộc đời, đó chính là sự tỉnh ngộ Chúa mong chờ nơi mỗi chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Langthangchieutim gởi

Các con đã bỏ quên mẹ trong luyện ngục!

Các con đã bỏ quên mẹ trong luyện ngục!

Ngày 3-2-1944, một cụ bà gần 80 tuổi qua đời. Cụ bà đó không ai khác là thân mẫu tôi.

Tôi lặng lẽ chiêm ngắm gương mặt Mẹ dịu hiền nơi nhà nguyện nghĩa trang, trước khi hạ huyệt. Trong tâm tình con thảo và nhất là, trong tư cách Linh Mục, tôi thì thầm với Mẹ: “Mẹ à, từ ngày có trí khôn đến giờ, con chưa bao giờ thấy Mẹ lỗi phạm nặng nề một luật nào của Chúa!”

Và tôi hồi tưởng những chặng đường qua của cuộc đời Mẹ.

Mẹ tôi có một đời sống thật gương mẫu. Sở dĩ tôi được làm Linh Mục phần lớn là nhờ công lao của Mẹ hiền.

Mỗi ngày, Mẹ tôi tham dự Thánh Lễ rước lễ, kể cả vào những năm cuối đời, tuổi đã cao. Khi đi cũng như lúc về, Mẹ tôi đều cầm tràng hạt trong tay. Mỗi khi rỗi rãnh, Mẹ thường lần hạt, đọc kinh Mân Côi.

Mẹ tôi rất có lòng bác ái, thương người đến độ mất một con mắt, chỉ vì liều mạng cứu sống một người đàn bà nghèo.

Chưa hết. Mẹ tôi luôn chấp nhận thánh ý THIÊN CHÚA. Ngày thân phụ tôi qua đời, Mẹ tôi hỏi: “Trong lúc này đây, Mẹ có thể than thở gì với Đức Chúa GIÊSU để làm đẹp lòng Ngài?” Tôi trả lời: “Mẹ cứ lập đi lập lại câu: Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa được thực hiện.”

Trên giường bệnh, Mẹ tôi lãnh các Bí Tích sau cùng với Đức Tin sâu xa.

Mấy giờ trước khi tắt thở, Mẹ tôi đau đớn vô cùng. Nhưng Mẹ không ngừng lập đi lập lại: “Lạy Đức Chúa GIÊSU, con muốn xin Chúa giảm cơn đau cho con. Tuy nhiên, con không dám áp đặt ý con trên thánh ý Chúa. Trái lại, xin cho thánh ý Chúa được thể hiện.”

Với lời sau cùng này, Mẹ tôi – người phụ nữ đã cưu mang, sinh hạ và dưỡng dục tôi nên người – trút hơi thở cuối cùng.

Sau khi Mẹ tôi qua đời, ai ai cũng nức lời khen ngợi Mẹ, người đàn bà đức hạnh. Tuy nhiên, tôi không để ý đến lời ca tụng của người đời cho bằng nghĩ đến sự phán xét công minh của THIÊN CHÚA. Do đó, tôi làm nhiều việc lành, sốt sắng dâng Thánh Lễ và không ngừng cầu nguyện cho Linh Hồn Mẹ sớm tận hưởng Thánh Nhan THIÊN CHÚA.

Ngoài ra, mỗi khi có dịp giảng, tôi đều nhắn nhủ các tín hữu Công Giáo hãy năng nhớ giúp đỡ các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Giúp đỡ bằng nhiều cách: tham dự Thánh Lễ, rước lễ và làm việc lành phước đức, bố thí giúp đỡ người nghèo.

THIÊN CHÚA Nhân Lành cho phép Mẹ hiện về với tôi.

Đúng hai năm rưỡi sau khi qua đời, Mẹ tôi bỗng xuất hiện trong phòng, dưới hình dạng con người. Mẹ trông thật buồn bã. Mẹ tôi nói: “Các con đã bỏ quên Mẹ trong Luyện Ngục!”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, cho tới bây giờ mà Mẹ còn ở trong Luyện Ngục hay sao?”

Mẹ tôi đáp: “Đúng thế! Mẹ vẫn còn ở trong Luyện Ngục. Bóng tối vây phủ Linh Hồn Mẹ, khiến Mẹ không thể trông thấy Ánh Sáng là THIÊN CHÚA .. Mẹ đang ở ngưỡng cửa Thiên Đàng, gần nơi an vui vĩnh cửu và Mẹ nồng nhiệt ước muốn được vào, nhưng Mẹ không thể nào vào được! Không biết bao nhiêu lần Mẹ tự nhủ: Nếu các con biết mình đang bị dằn vặt khốn khổ khôn lường, hẳn là chúng đã cấp tốc ra tay cứu giúp mình!”

Tôi hỏi tiếp: “Sao trước đây Mẹ không hiện về báo cho chúng con biết?”

Mẹ tôi buồn bã trả lời: “Mẹ đâu có được phép!”

Tôi lại hỏi: “Mẹ vẫn chưa được trông thấy THIÊN CHÚA sao?”

Mẹ tôi giải thích: “Khi vừa tắt thở, Mẹ đã được trông thấy Chúa nhưng chưa được trông thấy trọn Ánh Sáng Vinh Quang của Chúa.”

Tôi hỏi tiếp: “Chúng con có thể làm được gì để giúp Mẹ ra ngay khỏi Luyện Ngục?”

Mẹ tôi nói: “Mẹ chỉ cần duy nhất một Thánh Lễ. Chúa cho phép Mẹ hiện về để xin con điều đó.”

Tôi không quên dặn dò Mẹ: “Khi nào được vào Thiên Đàng, Mẹ nhớ hiện về ngay báo tin cho con biết.”

Mẹ tôi trả lời: “Nếu Chúa cho phép Mẹ hiện về .. Ôi Ánh Sáng thật tuyệt đẹp!”

Vừa nói Mẹ tôi vừa biến mất.

Chúng tôi dâng 2 Thánh Lễ cầu cho Linh Hồn Mẹ.

Một ngày sau, Mẹ tôi hiện về nói: “Mẹ đã được vào Thiên Đàng rồi!”

Chứng từ của Cha Giuseppe Tomaselli, người Ý, Dòng Don Bosco.

“Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?

Gọi Người Yêu Dấu (Vũ Đức Nghiêm – Ngọc Lan)

httpv://www.youtube.com/watch?v=eVix516ukRQ

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 20 thường niên năm A 20/8/2017

“Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?
Người yêu dấu ơi, thu về tim vẫn đơn côi.
Người yêu dấu ơi, khi ngàn sao đêm lấp lánh.
Tâm hồn bâng khuâng, nhớ ngày vui đã qua nhanh.”

(Vũ Đức Nghiêm – Gọi người yêu dấu)

(Mt 17: 5)

 Trần Ngọc Mười Hai

Dẫn nhập bài phiếm hôm nay, có bạn đề nghị bần đạo nên ghi lại một lần nữa bài “Gọi Người Yêu Dấu” của nhà soạn nhạc họ Vũ tên Nghiêm nhân ngày “N” đặc biệt ghi dấu sự kiện ông quá vãng. Ghi lại bài hát ấy ở đây, hôm nay, còn“Gọi người yêu dấu” của bạn và của tôi, nay đi vào vùng trời vĩnh-cửu, có thần hồn còn phảng phất đâu đây. Gọi “người yêu dấu”, là gọi thế này:

“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương.

Thương đôi mắt sao trời lung linh.
Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh.
Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh.
Thương yêu vòng tay ghi xiết ân tình.

 Thương yêu dáng em buồn bơ vơ.
Thương yêu nét môi cười ngây thơ.
Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng…
Thương em mong manh như một cành lan.”
(Vũ Đức Nghiêm – bđd)

Như thế có nghĩa: cứ ới và gọi người yêu dấu của tôi và của bạn, để rồi ta“thương em mong manh như một cành lan”“Thương đôi mắt sao trời”, “thương yêu ngón tay ngà”, “vòng tay ghi xiết ân tình”, “nét môi cười”, “tóc buông lơi”, và nhiều thứ.

Thương yêu và gọi như thế, còn là thương và yêu những người “yêu dấu muôn đời”, dù “nghẹn ngào không nói thành lời”, rồi cứ hát như sau:

“Gọi người yêu dấu xa vời.
Mà lòng lưu luyến bồi hồi.
Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi khi chiều nhẹ rơi…


Gọi người yêu dấu muôn đời.
Nghẹn ngào không nói thành lời.
Tình yêu xưa ngày tháng phai phôi biết bao giờ nguôi…”

(Vũ Đức Nghiêm – bđd)

Hãy cứ “yêu” và cứ “gọi” như thế mãi, ắt sẽ thấy những chuyện gọi nhau ơi ới nơi sự kiện “Biến Hình” trên chốn cao núi thánh vào hôm ấy, rất “Hiển Dung” như lời hỏi/đáp ghi lại ở bên dưới:

“Thưa Cha,

 Có thể nào xin cha kể cho chúng con đây biết về Lễ lạy Phụng vụ có câu hỏi là: tại sao khi đi lễ, chúng con thấy nhiều năm có lễ Chúa Biến Hình Trên Núi” còn gọi là lễ “Hiển Dung” vào hôm 6/8 vừa qua lại được cử-hành vào Chúa Nhật? Thêm vào đó, nói về lịch-sử, thì các Lễ này lại được mừng kính vào buổi xưa hay chỉ mới đây thôi? Rất biết ơn cha.” (Thắc mắc của một giáo dân vẫn thường đi lễ trọng-thể và Chúa Nhật)

Như ta thừa biết, bổn đạo nào một khi đã siêng năng dự các lễ trọng-thể hay còn gọi là “lễ buộc”, thì được nhiên là đấng bậc vị vọng nhà ta rất lấy làm vui mà lấy giấy bút ra mà giải đáp. Giải đáp thắc mắc hôm nay, tuy hơi nặng phần chuyên môn về Phụng vụ; nhưng cũng đề cập chuyện giáo-sử nhất là về chuyện phụng-tự.

Thế nên, cũng xin chuyển đến bạn đọc/người thân đôi lời giải đáp, rất như sau:

“Để đáp trả câu đầu anh/chị hỏi, xin nói ngay ở đây, là: có nhiều Lễ đặc-biệt nói về Chúa cũng quan-trọng không ít khiến Thánh Bộ Phụng Vụ phải sắp xếp thay thế cho lễ ngày Chúa Nhật, như: Lễ Chúa Biến Hình (hay còn gọi là Lễ Hiển Dung), là một ví-dụ cụ-thể.

 Khi tôi nói chữ “lễ trọng” là tôi đang sử-dụng ngôn-ngữ phụng-tự theo nghĩa chặt-chẽ để phân-biệt với các Lễ trọng-thể hoặc các lễ kính, lễ nhớ, vv.. Gọi là “Lễ trọng” vì được xếp vào hạng cao trọng nhất trong nghi-thức Phụng-vụ. Trong số các Lễ như thế, phải kể đến Lễ Đức Mẹ Về Trời, Lễ Truyền Tin, Lễ Thánh Cả Giuse, vv… Các lễ này, luôn được đặt tầm quan-trọng trước hoặc trên các lễ Chúa nhật.

 Điều ta cần ghi nhớ là: khi các thánh-lễ phụng-vụ được cử hành vào ngày thường trong tuần, thì vào lễ ấy chỉ có 2 bài đọc gồm một bài Thánh Thư và 1 bài Phúc Âm thôi. Nhưng, khi lễ ấy lại rơi vào ngày Chúa Nhật thì thường bao gồm 3 bài đọc, tức 2 bài thánh thư và 1 Phúc Âm.

 Ở Lễ Chúa Biến Hình mừng kính sự việc Chúa tỏ-hiện bản-chất thánh-thiêng của Ngài ở trên núi Tabor, trước mặt các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan, lại có sự xuất-hiện của ông Môsê và Êlya nữa.

 Khi ấy, diện-mạo Đức Kitô chói sáng như mặt trời, áo Ngài trở nên trắng toát, lòng lánh như tuyết. Khi ấy, lại có tiếng từ trời cao bảo rằng:

 “Này là Con Ta yêu dấu,

đẹp lòng Ta mọi đàng,

các người hãy nghe lời Ngài.”

(Mt 17: 5)

Sự-kiện này thật là quan-trọng, lâu nay được Hội thánh cho phép cử-hành từ thời rất sớm, cả ở Phương Đông lẫn Phương Tây. Riêng Giáo hội Đông Phương còn coi đây là Hội lễ trọng thể, nên được phép cử-hành một cách hoành-tráng, long trọng cả với Chính Thóng Giáo lẫn Công giáo theo nghi-thức Đông Phương.

 Không mấy ai biết chắc lễ này khởi sự mừng kính từ bao giờ. Bách Khoa Tự Điển của Đạo Công Giáo có ghi như sau: “Giám mục người Armenia là Đức Grêgôriô Archarumi có ghi chép rằng: vào năm 609 thánh Grêgôriô Đấng Soi Sáng được coi là vị thánh đầu tiên cử hành lễ này; và thánh-nhân qua đời trước đó vào niên-đại trước hoặc sau năm 337.

 Đức Giám mục thành Arsharuni là người từng thay thế lễ hội của dân ngoại tôn-sùng thần Aphrodite mang tên là “Ánh Lửa Hồng” Giáo hội vẫn duy-trì tên gọi ấy vì Đức Kitô cũng đã công-khai mở rộng vinh-quang của Ngài như đoá Hồng Thiêng trên núi Tabor vậy.

 Dù không mấy chắc chắn,Bách Khoa Tự Điển cũng có nói rằng: lễ này được mừng kính lần đầu vào thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm ở đâu đó thuộc châu Á, để thay cho lễ hội nào đó của dân ngoại.  Với Giáo hội nói tiếng La-tinh, thì lễ Chúa Biến Hình không được nhắc tới trước năm 850.

 Và vào thế kỷ thứ 10, lễ hội ấy được du nhập vào phụng-vụ tại nhiều địa-phận và cử hành phần lớn vào ngày 6 tháng 8 như ta đang làm, ngày hôm nay.

 Có điều chắc chắn là: vào năm 1456, Đức Giáo Hoàng Calixtô đệ Tam đã nới rộng ngày lễ này cho Giáo hội hoàn-vũ cốt để tưởng nhớ ngày quân Thổ Nhĩ Kỳ bao vây Belgrade vào mồng 6 tháng 8 năm ấy. Chính Đức Giáo Hoàng Calixtô là đấng cảm-tác sáng-chế ra Kinh Thần Vụ cho lễ này.

 Đến năm 2002, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã đưa lời kinh ở Lễ Biến Hình vào Chuỗi Mân Côi Năm Sự Sáng để tăng thêm tính-cách quan-trọng của sự-kiện này.

 Lễ Chúa Biến Hình được là một trong 12 Lễ Trọng-thể ở Giáo hội Chính thống, đến độ các đấng bậc bến đó còn thiết-lập một ngày vọng kính trước Lễ và sau đó còn kéo dài thêm tuần bát nhật nữa. Bởi lẽ, theo sự hiểu biết/tính toán của Giáo hội Chính thống, thì Lễ này được cử-hành 40 ngày trước khi Lễ Suy tôn Thánh giá được tổ-chức vào ngày 14 tháng 9 để cho mọi người thấy là Đấng đã hy-sinh cuộc đời Ngài trên thập-tự chính là Đức Chúa.

 Được coi là Lễ trọng, không chỉ vì những điều nói đến Đức Kitô mà thôi, nhưng cả đến Ba Ngôi Thiên Chúa nữa; bởi lẽ cả Ba Ngôi đều hiện-diện: vào hôm ấy có tiếng Chúa Cha vọng từ trời cao, có Ngôi Con đã biến hình và có Thánh Thần Chúa ngự trong đám mây vần vũ, nữa.

 Theo nghĩa này, thì Chính Thống Giáo coi Lễ Biến Hình như Lễ Ngũ Tuần thu gọn, hoặc như Lễ HIển Linh, Chúa tỏ mình cho dân ngoại và Lễ Chúa chịu Phép Rửa hôm ấy có đủ Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện. Với Giáo hội Chính thống cũng như Giáo hội nói tiếng La tinh, thì Phụng vụ ngày Lễ Biến Hình thay thế thánh lễ Chúa Nhật khi rơi vào ngày Chủ nhật.

 Thánh sử Mátthêu còn ghi lại là: Lế Chúa Biến Hình xảy ra vào 6 ngày sau khi Đức Ki tô cho các tông đồ Ngài biết rằng Ngài phải đi Giêrusalem chịu nạn, chịu chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ trổi dậy, Ngài muốn các môn đệ sửa-soạn cuộc thương khó và nỗi chết của Ngài bằng việc tỏ cho các vị ấy biết Ngài chính là Thiên Chúa thật.

 Ngài còn cho biết: những ai muốn thành môn đệ Ngài, thì phải biết vác thánh-giá của Ngài mà theo Ngài; còn ai để mất sự sống vì Ngài sẽ tìm lại được sự sống ấy (Mt 16: 21; 24-25).

 Vào lễ Chúa Biến Hình ta còn học được bài học quí giá nếu như ta bằng lòng vác thánh giá của mình và theo Đức Kitô, chắc chắn ta sẽ được diện-kiến Ngài vinh-hiển trên thiên-quốc.“ (X. CNS, A Portrait of the Universal Church, đăng trên The Catholic Weekly ngày 25/7/2017 tr.12)

Bàn về trình thuật Lễ Chúa Biến Hình (hoặc Hiển Dung), cũng là, theo cách nào đó, ta “Gọi Người Yêu Dấu” rất thân thương, gọi mọi người bằng tinh thần Biến Hình, Hiển Dung, trong mọi tình-huống. 

Bàn về lời mời Gọi Người Yêu Dấu rất “Hiển Dung”, tưởng cũng nên cùng bàn với đấng bậc nhà mình, kèm thêm đôi chút về lời lẽ ở trình-thuật rất hay, rất đẹp và sâu-sắc, như sau:

“Trình thuật Chúa hiển dung mà chúng ta suy niệm hôm nay đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình của người môn đệ. Đức Giêsu cho các môn đệ ‘nếm một chút’ ánh sáng vinh hiển của Người. Ánh sáng đích thật này chỉ được tỏ bầy trọn vẹn qua biến cố Phục sinh, đó chính là cao điểm hành trình làm Con Thiên Chúa của Người. Nhưng trong phút giây này, trước mắt Người vẫn là hành trình khổ nạn chứ chưa phải là vinh quang.

 Có như vậy, chúng ta mới nhận ra việc Chúa yêu thương, săn sóc và lo lắng cho các môn đệ và chúng ta đến độ nào. Người hiểu các nỗi yếu đuối của chúng ta, Người biết lòng trí không ngay thẳng của những ai đang theo Người, Người còn biết rõ ý định sai lạc muốn tìm kiếm địa vị của Gioan và Giacôbê, v.v…

 Nhưng Người lại không hề thất vọng về họ. Người chuẩn bị cho các môn đệ và chúng ta đủ sức để đối diện và CÙNG ĐỒNG HÀNH với cuộc khổ nạn của Người bằng cách cho họ và chúng ta ‘nếm một chút’ vinh quang của Con Thiên Chúa. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị này vô cùng quí giá, nó sẽ nâng đỡ chúng ta khi gặp nhưng hòan cảnh tuởng như là quá sức của mình.

 Thật vậy, kinh nghịệm ‘Hiển Dung’ sẽ nâng đỡ các môn đệ và chúng ta hiên ngang tiến vào vườn Giệt-si-ma-ni và sau cùng là đồi Can-vê để đồng hành với Đức Giêsu trên đường Thương Khó của Người. Và chúng ta tin rằng tất cả không dừng lại ở đó, nhưng còn mở ra một chân trời hạnh phúc và vinh hiển trong ngày Phục Sinh.

 Trong hành trình đức tin, những trải nghiệm ‘Chúa Hiển Dung’ rất quan trọng và cần thiết. Việc chiêm ngưỡng dung nhan rạng ngời sáng chói hơn ánh mặt trời của Đức Giêsu không làm chúng ta bị chóa mắt, hay quáng gà rồi không còn nhìn thấy những thực tại của trần gian nữa. Chúa không chỉ Thần Hiện như kinh nghiệm của Maisen và dân Israel xưa kia, Ngài đã trở thành người và cư ngụ giữa chúng ta. Đây cũng là chủ đề chính mà Đức Giêsu trong Matthew muốn trình bầy. Người chính là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi nơi mọi lúc.

 Vì thế, với những kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa – qua cầu nguyện, các biến cố xẩy đến trong đời – đều là hồng ân giúp chúng ta trở về với đời sống, đối diện với muôn ngàn thử thách, đắng cay bằng ánh sáng và con tim mới. 

Với sự hiện diên của Đức Giêsu, không chỉ ở trên núi (Thánh), nhưng ở mọi giây phút của cuộc đời; chúng ta sẽ chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, sẵn sàng chiến đấu mà không ngại gian khổ, chấp nhận những bất toàn của chính bản thân để có thể thông cảm các nỗi yếu đuối và không hoàn hảo của người khác; rồi cùng đồng hành với nhau trên con đường mà Chúa đã đi qua.

 Xin dung nhan của Chúa hiển dung hôm nay và nhất là Ánh Sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn lối chỉ đường cho chúng ta, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn vẹn những phút giây của cuộc sống và tiếp tục ‘bước theo’ và ‘cùng bước vào’ dấu chân của Đức Kitô đã bước qua.” (X. Lm Joe Mai Văn Thịnh CSsR, Bản Tin Giáo xứ Đức Mẹ Mân Côi, Chúa Nhật Hiển Dung 06/8/2017)

Xem thế thì, “Gọi người yêu dấu” một cách thực tế trong đời, đôi lúc cũng làm cho người được gọi lại cứ ngơ ngẩn/vẩn vơ, như cậu truyện kể để minh-hoạ ở bên dưới:

“Theo lệ ngày xưa, ai làm quan thì mua món gì cũng chỉ phải trả nửa giá tiền, trừ mua vàng phải trả đủ.

 Một ông quan nọ vừa đến nhậm chứa, bảo hiệu vàng đem hai lạng đến bán cho ngài.

Chủ hiệu vàng nghe tiếng quan dữ như cọp, mới bẩm:

– Vàng mỗi lạng thực giá sáu chục đồng, song quan lớn thì trả một nửa cũng được.  Quan cầm hai lạng vàng xem, rồi ung dung bỏ một lạng vào túi. Chủ hiệu tưởng quan chỉ mua có một lạng, còn lạng kia trả lại, nên khi quan vào nhà trong, anh ta vẫn đứng đấy đợi trả tiền.

 Hồi lâu quan ra, thấy vậy mới hỏi:

– Mua bán xong rồi, còn đứng đấy làm gì? 

Chủ hiệu vàng đáp:

– Con chờ quan lớn trả tiền cho. 

Quan bảo:

– Tiền trả rồi, còn đòi gì nữa? 

Chủ hiệu vàng đáp:

– Hai lạng, quan trả lại một lạng, lấy một lạng. 

Quan nổi giận:

– Nhà ngươi lạ thật! Nhà ngươi bảo ta trả một nửa cũng được. Ta mua hai lạng, nhưng chỉ lấy một, trả lại một chẳng phải là đã trả một nửa là gì!!! (Trích truyện cười dân gian đăng trên mạng vi tính)

“Trả một nửa cũng được”, thực tế có thể xảy ra ở tình-huống dân gian mua bán vàng bạc hoặc thứ gì cũng thế. Với chuyện “Gọi người yêu dấu” không thể gọi một nửa hoặc yêu một nửa được. Đã yêu và đã gọi, là phải thực hiện trọn vẹn, suốt một đời người. Của bạn, của tôi và của bất cứ ai còn sống trên cõi đời, rất con người.

Thật ra thì, “Trả một nửa cũng được”, có thể trả bằng tiền bạc hoặc bằng tình tiết rất yêu thương, ta vẫn biết. Trả gì thì trả, hãy cứ trả hết mọi chuyện, chứ đừng trả, đừng trao “thánh-giá” mình đang gánh/vác cho người khác. Chí ít, là người mình không ưa, không thích suốt chuỗi đường dài cuộc đời.   

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc cũng tơ tưởng

Về thánh-giá

Người khác đang gánh vác

Chứ chẳng chơi.