VÀO KHUNG CỬA HẸP

 VÀO KHUNG CỬA HẸP

Trong mùa thi vào đại học vừa qua, có nhiều bạn học sinh đã bị chứng suy dinh dưỡng, mất ngủ, thậm chí bị tâm thần.  Lý do là các bạn phải học rất nhiều, phải phấn đấu để được vào đại học.  Đại học hiện tại là một khung cửa hẹp.  Trường lớp có ít mà số lượng sinh viên mỗi năm mỗi tăng.  Thế nên các học sinh phải hết sức phấn đấumới được vào.

     Cảnh các thí sinh chen chúc trước các cổng trường đại học làm tôi nhớ đến bài Tin Mừng hôm nay.  Ai muốn vào Nước Trời cũng phải đi qua khung cửa hẹp.

    Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp.  Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người.  Nhưng không phải tất cả mọi người vào được, vì vào Nước Trời đòi có những điều kiện cần thiết.  Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời.  Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu.

   Trước hết phải phấn đấu hạ mình xuống.  Ở đời người ta thường phấn đấu để vươn lên.  Người ở địa vị thấp phấn đấu để được địa vị cao.  Người hèn kém phấn đấu để được trọng vọng.  Người phải phục vụ phấn đấu để được người khác phục vụ mình.  Nhưng trong Nước Trời thì ngược lại.  Phải phấn đấu để đi xuống.  Phải phấn đấu để tìm chỗ thấp hèn nhất.  Phải phấn đấu để phục vụ anh em.  Như lời Chúa dậy: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống.  Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14, 11).  “Khi anh được mời, hãy ngồi vào chỗ cuối” (Lc 14, 10).  “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 26).  “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10, 15).

 Sau đó phải phấn đấu để bé nhỏ lại.  Thông thường ở đời người ta phấn đấu để to ra.  Ai có nhà nhỏ phấn đấu để có nhà lớn hơn.  Ai có ruộng vườn nhỏ cũng phấn đấu để vườn ruộng lớn rộng thêm.  Ai cũng phấn đấu để có nhiều của cải hơn, có nhiều bằng cấp hơn, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn.  Trái lại, người muốn vào Nước Trời phải phấn đấu để trở nên bé nhỏ.  Phải phấn đấu để trở nên nghèo.  Phải phấn đấu để bỏ bớt của cải đi.  “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.  Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19, 21).  “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).

Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu.

 Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình thẳm sâu Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm.  Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp.  Là Thày, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ.  Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã để bị đối xử như một đại tội phạm.  Người đã bị vùi dập xuống tận bùn đen.

     Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ.  Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.

     Chúa Giêsu đã mở đường về Nước Trời . Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi.  Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã qua.  Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người phấn đấu hạ mình khiêm tốn, và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con

 biết “từ bỏ mình, vác thập giá

  mình” mà theo Chúa.  Amen!

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Nguyen Kim Bang

Ba Lan hoàn tất việc dựng tượng Chúa Giê-su lớn nhất thế giới

From: Kimtrong Lam‘s post.
 
Image may contain: one or more people, sky and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: sky, cloud and outdoor
Image may contain: one or more people, phone and outdoor
Image may contain: 1 person, sky and outdoor
+7

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

 

Ba Lan hoàn tất việc dựng tượng Chúa Giê-su lớn nhất thế giới

Báo Công Giáo

Một thị trấn nhỏ ở phía tây Ba Lan hôm qua đã hoàn tất việc dựng một bức tượng Chúa được cho là lớn nhất thế giới.

Bức tượng Chúa Giêsu sừng sững với 2 cánh tay dang rộng và mũ miện vàng đã được dựng lên tại thị trấn nhỏ Swiebodzin, kết thúc quá trình thi công kéo dài suốt 5 năm.

Các phần cuối cùng bao gồm phần thân, cánh tay và đầu cùng mũ miện đã được lắp đặt vào bức tượng Chúa hôm 6/11. Công việc này ban đầu dự kiến hoàn thành hôm 5/11 nhưng bị hoãn lại vì gió mạnh.

Trước đó 2 tuần, một nỗ lực tương tự đã thất bại vì chiếc cần trục nặng 400 tấn không nâng nổi phần đầu và cánh tay của bức tượng vào đúng vị trí. Thay vào đó, người ta đã phải điều tới công trình chiếc cần trục nặng 700 tấn.

Thị trấn Swiebodzin, nằm gần biên giới với Đức, hi vọng bức tượng khổng lồ sẽ thu hút khách du lịch và trở nên nổi tiếng giống tượng Chúa cứu thế khổng lồ vốn trở thành biểu tượng của thành phố Rio de Janeiro, Brazil

Tượng Chúa Giêsu tại Ba Lan cao 33m. Nhưng tính cả phần bệ cao 16m và vương miện cao 2m, chiều cao tổng thể của toàn bộ công trình là 51m. Tượng nặng khoảng 440 tấn.

Thị trưởng thị trấn Swiebodzin, ông Dariusz Bekisz, khẳng định đây là bức tượng Chúa lớn nhất thế giới.

Tượng Chúa Giêsu ở Swiebodzin được cho là không chỉ “vượt mặt” tượng Chúa cứu thế, cao tổng cộng 39,6m tính cả đế, mà còn đánh bại bức tượng Chúa Giêsu khổng lồ ở Cochabamba, Bolivia, cao 40,44m.

Ngày khánh thành chính thức của bức tượng hiện chưa được công bố nhưng các nguồn tin báo chí trước đó nói rằng buổi lễ sẽ diễn ra vào ngày 21/11.

Chi phí cho toàn bộ dự án được ước tính lên tới 1,5 triệu USD và số tiền này được quyên góp thông qua các khoản tài trợ cá nhân.

Bức tượng là ý tưởng của một linh mục địa phương, Sylwester Zawadzki, 78 tuổi. Kế hoạch dựng tượng đã gây chia rẽ tại Ba Lan. Những người phản đối dự án cáo buộc linh mục Zawadzki mắc chứng hoang tưởng tự đại.

Tuy nhiên, nhiều người dân tại Swiebodzin lại hoan nghênh dự án, cho rằng bức tượng sẽ thu hút người hành hương tới thị trấn. Họ cũng tin rằng bức tượng sẽ đưa thị trấn nhỏ với 22.000 dân có mặt trên bản đồ du lịch thế giới và giúp thúc đẩy du lịch, mang lại nguồn thu cho thị trấn nhằm tu bổ các tòa nhà cổ ở trung tâm thị trấn.

Bức tượng nằm cách biên giới Đức-Ba Lan 50km và có thể được nhìn thấy từ đường quốc lộ A2 nối 2 thủ đô Warsaw và Berlin.

Việc đặt các phần còn lại vào bức tượng đã diễn ra thành công

Đông đảo người dân địa phương tới xem quá trình đặt tượng.

Người dân vỗ tay khi việc dựng lượng hoàn tất.

NGƯỜI CON CHÚA

 NGƯỜI CON CHÚA

Hôm nay Giáo hội mừng kính việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của thánh Gioan Tiền hô tại sông Jordan kết thúc mùa Giáng Sinh và hướng chúng ta về đời sống công khai của Chúa Giêsu.  Đây cũng là một cuộc hiển linh của Thiên Chúa nói chung và của Chúa Giêsu nói riêng, vì trong biến cố này Thiên Chúa muốn loan báo và mạc khải cho mọi người biết về Thiên Chúa và một số chân lý khác.­­­

Trước hết, mạc khải mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.  Đây là một lần mạc khải công khai có cả Ba Ngôi cùng hiện diện: Ngôi Cha chỉ xuất hiện qua tiếng nói: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”  Ngôi Con là Chúa Giêsu, Đấng nhận phép rửa, đang hiện diện cụ thể ở sông Jordan.  Ngôi Ba Thánh Thần, xuất hiện qua hình ảnh chim bồ câu.

Thứ hai, mạc khải Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.  Chính Thiên Chúa Cha đã xác nhận và giới thiệu điều này và kêu gọi mọi người hãy lắng nghe lời Chúa Giêsu, hãy đến với Ngài để đón nhận nguồn hồng phúc vô biên của Thiên Chúa.

Thứ ba, mạc khải ý nghĩa và giá trị phép rửa của Chúa Giêsu.  Chính thánh Gioan đã khẳng định điều này: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.  Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.”

Xin chia sẻ một điều về ý nghĩa và giá trị cao quí của Bí tích Rửa tội.  Chúng ta biết phép rửa của Gioan Tiền hô chỉ là một nghi thức tượng trưng, có mục đích nhắc nhở và thúc giục người ta ăn năn sám hối và cải thiện đời sống.  Phép rửa này không có khả năng tẩy xóa tội lỗi, không có năng lực ban ơn thánh.  Bởi vì phép rửa này không phải là một bí tích, đúng như thánh Gioan đã quả quyết, đồng thời Ngài cũng giới thiệu một phép rửa khác, phép rửa của Chúa Giêsu, là phép rửa bằng Thánh Thần, nghĩa là phép rửa của Chúa Giêsu là một bí tích thông ban Chúa Thánh Thần, mặc dầu cũng dùng tới nước, nhưng nước chỉ là điều kiện, là nghi thức bên ngoài, còn thực sự là được rửa bằng Thánh Thần, biến đổi con người tội lụy nên con Thiên Chúa, và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu nước trời.

Khi chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ngài.  Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo của Thiên Chúa khi được rửa tội.  Trong nghi thức rửa tội chúng ta được dìm trong nước hoặc đổ nước trên đầu để chỉ việc tẩy rửa khỏi tội tổ tông và mọi tội riêng, được sinh lại làm con cái của Chúa và gia nhập vào Giáo Hội.  Vì thế, Giáo Hội coi bí tích tửa tội như một cuộc tái sinh, người được rửa tội trở thành một con người mới.  Họ thấy đâu là ơn gọi và định mệnh của con người, đâu là ý nghĩa của cuộc đời.

Có một cụ già, mãi tới khi 80 tuổi mới lãnh nhận phép rửa tội.  Bắt đầu từ đó cụ sống một đời rất gương mẫu.  Hai năm sau, cụ hấp hối.  Có người muốn biết cụ bao nhiêu tuổi.  Cụ dõng dạc trả lời: “Tôi mới có hai tuổi.  Tám mươi năm trước khi rửa tội là những năm chết.  Tôi mới bắt đầu sống thật khi tôi chịu phép rửa tội.”  Thật là chí lý.

Bí tích Rửa tội quí trọng vô cùng, là cửa đưa chúng ta vào đoàn chiên của Chúa là Giáo Hội, vào hàng ngũ con cái Chúa, đồng thời từ đây chúng ta được gọi là Kitô hữu.  Kitô hữu là người có Chúa Kitô.  Mỗi Kitô hữu là một Đức Kitô thứ hai.  Mỗi Kitô hữu là một nối dài của chính Đức Kitô.  Đó là tước hiệu cao quí của chúng ta.  Tước hiệu ấy không mua bằng tiền bạc.  Tước hiệu ấy không chỉ sáng ngời trong những dịp lễ lạc, hội hè, mà phải luôn chiếu tỏa trong từng giây phút của cuộc sống.

Nhưng phải chăng nhiều người trong chúng ta đã là Kitô hữu một cách miễn cưỡng?  Đức tin chưa phải là niềm vui sống mà chỉ là một mớ những ràng buộc khiến chúng ta cảm thấy nặng nề, khó khăn?  Ngoài những ràng buộc của luân lý Kitô giáo và gánh nặng của những sinh hoạt đạo giáo, biết đâu nhãn hiệu Kitô hữu lại không là đầu mối của biết bao kỳ thị, thiệt thòi trong cuộc sống của chúng ta?  Chúa Kitô đã mang lại cho chúng ta cuộc sống mới của những người con Thiên Chúa, cho dầu cuộc sống ấy có thể tạo ra nhiều ràng buộc, có thể đòi hỏi nhiều hy sinh và chiến đấu, có thể gây nên những phiền toái, thua thiệt… nhưng đó là giá để chúng ta đạt được niềm vui đích thực trong cuộc đời làm con Chúa.

Đàng khác, chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội và đã được trở thành con Thiên Chúa.  Nhưng chúng ta đã sống ơn cao quí này như thế nào?  Cha trên trời có hài lòng về chúng ta không?  Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Cha đã phán: “Con là Con yêu dấu của Cha.  Cha hài lòng về Con.”  Còn chúng ta thì sao?  Nếu như bây giờ, nhận định về chúng ta, Chúa Cha sẽ nói thế nào?  Chúa hài lòng hay Chúa phải buồn rầu, đau lòng và than phiền?

Chúng ta hãy nhớ: ơn cao trọng và cao quí nhất khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội là ơn được làm con Chúa.  Vậy chúng ta phải luôn cố gắng sống xứng đáng là những người con mà Chúa hài lòng về chúng ta.

Sưu tầm

From Langthangchieutim

TÌM CHÚA

TÌM CHÚA

Vào thời Trung Cổ người ta hay diễn tuồng ba vua ở trong nhà thờ hoặc nơi cửa ra vào. Để làm thoả mãn trí tưởng tượng của khán giả, người ta thường đem đến những vật kỳ lạ, và cho là lễ vật của ba vua tiến Chúa như: khỉ, vẹt, lạc đà… Lễ ba vua còn có một thủ tục khác nữa là chơi trò bắt thăm làm vua. Người ta cho một hạt đậu hay một tượng nhỏ vào trong chiếc bánh ngọt, và chia ra thành từng phần cho những người trong nhà, ai được miếng bánh có hạt đậu hay tượng nhỏ đó sẽ được làm vua, được đội triều thiên trong bữa ăn. Thủ tục này bắt chước thủ tục của dân ngoại ở Rôma, Đức… còn trong tu viện nếu được làm vua sẽ được làm chủ tọa cộng đoàn khi dự nghi lễ phụng vụ và chủ tiệc ngày hôm ấy. Từ thời Trung Cổ người dân ngoại và cả người Công Giáo đều ao ước được giống như ba vua, để được dâng lễ vật tiến Chúa, được chủ tọa nghi lễ phụng vụ… Đó chỉ là những hình thức bên ngoài của thời Trung Cổ, nhưng ít nhiều cũng cho thấy tâm tình bên trong; họ ao ước giống ba vua cả trong đức tin, hành động và cả lòng can đảm.

  1. Trong đức tin

Ba vua chính là những người dân ngoại đầu tiên nhận biết Chúa. Và chính nhờ đức tin qua ngôi sao lạ đã hướng dẫn đường đi, nước bước cho các ông. Thật vậy đức tin chính là ơn ban cao trọng nhất, vì không có đức tin chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa được. Hơn nữa không có đức tin thì sẽ như người mù lòa không biết đường biết hướng về đâu. Nhưng phải luôn nhớ rằng đức tin luôn là ơn ban cho tất cả mọi người, đặc biệt là dân ngoại. Đức tin đến với ba vua không như một phép lạ để họ nhận biết Người. Họ được ngôi sao lạ dẫn đường, ngôi sao này có thật hay không chúng ta không cần biết. Điều quan trọng là qua ngôi sao lạ ba vua nhận biết đó là điềm Thiên Chúa gởi đến soi sáng và đưa họ đến Bêlem để thờ lạy Chúa.

Ngày xưa ba vua nhờ đức tin soi sáng dẫn đường đã được thoả lòng hạnh phúc. Ngày nay Thiên Chúa cũng soi sáng chúng ta bằng nhiều cách qua các biến cố. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta đã biết lấy đức tin để đón nhận chưa?

  1. Hành động

Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết”. Nếu ba vua nhìn thấy ngôi sao mà không lên đường, thì việc trông thấy ngôi sao nào có ích gì? Đối với chúng ta cũng vậy, nếu có đức tin mà không sống theo đức tin thì có ích gì. Ba vua vừa nhìn thấy ngôi sao lạ thì nhận biết ngay đó chính là quyền phép Thiên Chúa thì các ông không cần tìm hiểu nguyên do, mà mau mắn bước theo. Thật là một niềm tin mãnh liệt là một tấm gương cho mỗi người chúng ta. Đứng trước chân lý đức tin đòi hỏi ta cũng phải có thái độ tùng phục như vậy. Do đó chúng ta hãy mau mắn làm theo ba vua, khi thấy “ngôi sao đức tin” phải vội vã lên đường, nếu ta còn lưỡng lự chậm chạp rất có thể ngôi sao đó sẽ tắt lịm và không còn ánh sáng nào soi đường cho ta đi về quê thật là nước thiên đàng nữa.

  1. Can đảm

Ba vua đã từ giã gia đình thân yêu, không ngại thân già sức yếu, đường sá nguy nan, chấp nhận tất cả những khó khăn chỉ mong làm tròn thánh ý Chúa đã tỏ ra với mình. Chúng ta những người đang lữ hành, con đường mình đi chắc chắn cũng có rất nhiều chông gai hiểm trở. Chúng ta phải chiến đấu không ngừng với bản thân mình, với những xu hướng xấu từ ngay trong chính bản thân… Như ba vua đã đạt được đích đến là Thiên Chúa, thì chúng ta tin rằng với con đường đức tin mình cũng sẽ đạt được hạnh phúc đời đời. Vì thế mà mỗi người hãy can đảm vượt mọi trở ngại đời này, để sống xứng đáng với đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho ta.

Không phải con đường đức tin lúc nào cũng trơn tru, lắm lúc cũng bị mây mù che khuất như ba vua hôm nay, nhưng với sự quyết tâm và lòng thành các ông đã vượt qua bằng cách hỏi thăm đường. Chúng ta cũng vậy lắm lúc con mắt đức tin mình cũng bị che mù làm ta không còn nhận ra đường đi nữa, không còn biết phải đi con đường nào và xử sự ra sao. Lúc đó cũng hãy biết chạy đến những người khôn ngoan, hướng dẫn đức tin như: cha sở, cha linh hướng hoặc những người khôn ngoan, chắc chắn chúng ta sẽ không bị lầm lạc và cũng tìm được Chúa như ba vua xưa đã thấy.

Trong ngày lễ hiển linh hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa Hài đồng tâm tình thờ lạy. Ta chẳng có vàng, nhũ hương và mộc dược, nhưng chúng ta có tấm lòng, có con tim. Vậy chúng ta hãy dâng lên Chúa với tất cả lòng chân thành và con tim yêu mến đó.

Lạy Chúa, chỉ tin không thì chưa đủ, mà còn đòi hỏi con phải mau mắn thi hành những điều đức tin dạy, như thế mới là sống theo ý Chúa . Amen

Sưu tầm

Langthangchieutim gởi

Thiên Thần Bản Mệnh

 Thiên Thần Bản Mệnh

Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, Ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột. Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, Ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường. Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Xức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.Trong ngày mừng lễ các Thiên Thần Bản Mệnh, xin chia sẻ với các bạn một câu chuyện:

20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, Ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố. Một lần nọ, Ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù. Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.

Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu. Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi câu chuyện: Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ. Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng thâm giả trang trốn đi nơi khác. Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau…

Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự. Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù nghe. Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui…

***

Câu chuyện trên giúp tôi hiểu một điều: Nhiều khi vì không thấy Chúa, tôi cứ nghĩ là Chúa không ở bên tôi, nhưng thật ra Chúa luôn gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến để bảo vệ tôi. Nhưng Chúa chỉ bảo người nào sống với Chúa như đứa con thơ. Ai càng tỏ ra yếu đuối, bé bỏng, tin tưởng Chúa càng nâng đỡ nhiều, như bài Phúc Âm của Thánh Mátthêu đã nói (18:10). Tôi lại nhớ đến một đoạn trong bài hát “Khúc hát một loài hoa” của nhạc sĩ Ân Đức: “Một niềm tin vô biên, một niềm tin phó thác triền miên, Ai mong muốn lên Nước Trời phải trở nên thơ bé mà thôi.”

Ai càng trở nên như trẻ nhỏ, thì Chúa càng yêu thương đỡ nâng dìu dắt. Ước gì lúc nào tôi cũng biết sống nhỏ bé trước mặt Chúa, và luôn phó thác mọi sự trong tay Chúa, để Chúa tiếp tục gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến nâng đỡ và che chở tôi mỗi ngày. Và giờ đây xin mời bạn cùng tôi dâng một lời kinh lên Thiên Thần Bản Mệnh của chúng ta:

Lạy Thiên Thần Chúa Trời là đấng đã nên quan thầy gìn giữ con,

Vì ơn lòng lành Đức Chúa Trời,

Xin người soi sáng con, phù hộ con ngày/đêm hôm nay.

Têrêsa Ngọc Nga

Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,

 Suy Tư Tin Mừng lễ Giáng Sinh năm B 25/12/2017

Tin Mừng (Ga 1: 1-18)

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng. Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: “Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”

Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

&    &    &

“Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,”

“và tình ta sáng láng như trăng thanh.”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Trời ý nhị. Tình sáng láng. Là, để đón chào Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ làm người. Đón và chào, để nói lên tình tự tươi vui “của trời đất”. Tình tự đây, là tình thể hiện nơi “máng cỏ” cho muôn loài. Niềm-Vui-Đức-Chúa giáng hạ, là truyền thống có từ thời thánh Phanxicô Át-xi-di, nhân chuyến thăm thế giới Hồi giáo trở về, thánh nhân đã thiết lập ở Ý, lễ hội sinh động cho mọi người, ở muôn nơi.

Hội lễ Niềm-Vui-Đức-Chúa nay giáng hạ làm người, là mừng sự kiện Chúa trở thành Người-Phàm sống sẻ san Niềm-Vui vẫn có ở Nước Trời. Có sứ điệp của máng cỏ nay nhắn nhủ người người hãy sống vui ở bên nhau, và với nhau. Sứ điệp, còn bảo cho mọi người biết yêu thương mà vui hưởng đời người có Chúa-làm-người. Có anh em quần tụ nơi máng-thế-giới. Sứ điệp, cũng tỏ bày cho người người biết Đức-Chúa-Niềm-Vui nay đến khoả-lấp mọi đớn đau/sầu buồn của mọi người.

Sứ điệp, cuối cùng còn cho thấy Đức-Chúa-Niềm-Vui muốn dân con mình đừng nên nhìn mọi người như nỗi khó để đối phó. Mà như Niềm-Vui-Đức-Chúa đã giáng-hạ sẽ giúp mọi người thắng vượt nỗi khổ ta trực diện.

Về với máng cỏ của Đức-Chúa-Niềm-Vui giáng-hạ, ta hãy cứ tưởng tượng và thay thế các chú bò/ lừa hôm đó, bằng khủng long to đùng dù loài này biến mất đã 65 triệu năm. Khủng long đây, có là loài thú “hoành tráng” mấy đi nữa, dù đã biến mất đi, chúng vẫn có thể xuất hiện trở lại, để ta biết rằng: chúng cũng đâu thấy được đảm bảo tương lai mai ngày, nói gì đến loài người. Tức, loài nào rồi cũng biến mất như khủng long to đùng, nay tuyệt chủng. Nay, Hài-Nhi-Đức-Chúa xuất hiện trở về lại, mang đến cho muôn người niềm yêu thương đằm thắm đến với dân gian.               

Cứ tưởng tượng nhiều, ta sẽ không còn thấy mục đồng hiện diện bên máng cỏ nữa, mà chỉ là kẻ bàng quan tượng trưng cho vua quan lãnh chúa có ở đó, để Hài Nhi Thánh Ái vui vẻ mà cười nhẹ. Tưởng tượng nhiều hơn nữa, ta sẽ liên tưởng đến kịch bản nọ trong đó có chàng Jimmy Chăn Bò rất lãng tử chẳng quan tâm/chăn dắt bất cứ ai.

Thêm vào đó, là Fred StarGazer, tay chiêm-tinh-gia chuyên ngắm nghía sao trời lãng đãng có biệt danh là Chàng Mag (chữ tắt của Đạo Sĩ rất “Ba Vua”). Còn lại là người thứ ba tên Fatso đồng nghĩa với Phát Phì ở tiếng Việt. Hài Nhi Thánh Ái hôm ấy đã trỗi dậy cười đùa với ba bốn vị trong bối cảnh đời thực. Ai cũng tự do thả hồn theo bước thăng trầm sầu/vui nơi đời sống. Và Hài-Nhi Thánh Ái đã hoà nhập với họ để cùng vui như thế.      

Suy về máng cỏ đời người, người đời sẽ thấy loài khủng long to đùng và kẻ bàng quan cùng nhau tung tăng múa nhảy. Nhảy múa với khủng long ư? Phải chăng đó là màn múa/nhảy ở xứ miền động đất có núi lửa nổ bùng? Liên tưởng nhiều thêm nữa, người người sẽ thấy kẻ bàng quan nay tham gia múa/nhảy với cuộc đời, không còn hãi sợ bất cứ thứ gì, nhưng đã biết cười đùa lớn tiếng, nói to lên. Liên tưởng thêm, người bàng quan tham gia cuộc nhảy/múa rồi cũng sẽ phục sức đầy sắc mầu của vui tươi, an hoà.

Chừng như họ là những vị chuyên tấu hài hay sao đó, chính vì thế tay chân họ vừa tung tăng múa và nhảy vừa tung lên cao rất nhiều thứ/đủ mọi thứ, như: banh quần vợt đầy sắc mầu hoan hỷ. Đôi lúc có vị hụt hẫng chẳng chụp được banh nỉ, nhưng cũng chẳng lấy đó làm điều, bởi hầu hết mọi tung ném đều đạt mục tiêu, rất đúng cách.

Trong số các nhân vật ấy, duy nhất chỉ thấy có một vị bắt chụp được hết mọi thứ dù banh nỉ có tung cao lên cao tít, ở cõi không. Bởi, Anh đứng đó trên máng cỏ, hầu có thể bắt chụp mọi thứ của mọi người. Anh ở trên đó, khi mọi sự đã chứng tỏ mọi sự nay theo đúng ý của Anh. Anh chẳng hề rời bước khi mọi sự cứ từ từ diễn tiến rồi xảy đến. Anh chính là thành phần của mọi sự và trong mọi sự. Giống bất cứ ai và những loài hiện có ở nơi đó. Anh chính là Hài Nhi Chí Ái luôn ưa thích mọi sự, cả những thăng trầm cuộc đời, nơi con người. Và, mãi mãi sẽ thế. Tên Anh là Giêsu, đích thị làng Nadarét, chốn nhân gian.

Về với máng cỏ, ắt hẳn có người sẽ liên tưởng đến cảnh trí thật hết ý về trò chơi nơi cuộc đời giống như thế, nên sẽ hỏi: sao Chúa lại giáng hạ làm người ở với người? Và, câu trả lời chắc chắn là: Ngài làm thế, để được vui nhiều hơn chốn vĩnh cửu miền nào đó!

Cử hành Tuần Thánh và hội lễ Phục Sinh, dân con người mình hẳn suy nghĩ nhiều về nỗi chết cũng như sự sống lại của Chúa. Khi ấy, người người hẳn sẽ nghiêm minh những suy và tưởng về chính mình.

Bởi, Chúa có chết đi và sống lại chốn miên trường, chính là để ban niềm an vui vĩnh cửu cho mỗi người và mọi người. Để, ơn cứu độ Ngài đến với con người. Và, nhiệm tích Vượt Qua –tức nhiệm tích thánh thiêng Ngài lướt vượt mọi thứ qua cái chết để rồi Ngài lại về với sự sống có trỗi dậy. Đó, là giải pháp cuối cho mọi dự tính của riêng ta.

Hội lễ Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ lại không như thế. Theo cung cách nào đó, có thể nói: đây là tưởng thưởng trội vượt nhu cầu thiết yếu để qua đó Chúa cứu độ trần gian là ta đây. Nhằm cứu rỗi chúng ta, hết mọi nhà, Ngài còn làm nhiều hơn thế. Nhiều, để ban cho ta Niềm-An-Vui lớn hơn cả nhận thức biết rằng mình được cứu thoát. Vui đây, là vui niềm trở nên một với Chúa ở đây. Bây giờ. Niềm vui có Đức-Chúa-là-Niềm-Vui luôn ở lại với ta, bây giờ và ngay đây. Đó chính là an vui niềm phúc hạnh gửi đến cho ta. Đó lại là Niềm-Vui-Có-Chúa đã lướt vượt được nhiều thứ, chí ít là khốn khó.

Lễ hội Chúa Giáng hạ, nay là mạc khải Chúa xác định thêm một lần nữa cho ta. Xác định, để ta vui với Niềm-Vui Chúa giáng hạ ở với cuộc đời, là thế giới. Sự thể này, còn to đùng/lớn hơn sự sống. Bởi, nó không bị ràng buộc hoặc kiểm soát bởi bất cứ quá trình nào từ cuộc sống hoặc do bởi nhu cầu sống ở nơi ta.

Và, cũng chẳng còn gì để nghi ngờ nữa về tương lai mai ngày của chính ta, và mọi người. Lễ hội Chúa-giáng-hạ-làm-người nay tiêu dùng cả và thế giới ta đang sống. Nhưng chính ta lại không bị thế giới tiêu dùng làm tan đi chính con người mình. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đang thưởng ngoạn sự kiện làm người ở với ta đến độ Ngài yêu cầu ta hãy đạt lấy niềm vui thần thánh có Đức Chúa. Vui như thế, để ta cần phải chờ đợi gì nữa, vì đã đạt chốn thiên đường, ở đây. Bây giờ. Thiên đường thực tế là đây. Ở lễ hội Giáng hạ này. Lễ hội, có máng cỏ. Có, thiên đường là đây. Chốn này. Một đời người.

Sự việc, xem ra có vẻ khác thường. Đúng thế. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng hạ, là việc rất khác lạ. Chúa hiện diện ở với ta, dù ta lại không trông chờ hoặc ngóng đợi, đó vẫn là sự thật rất chất thể, của Niềm-Vui đã nhập thể và nhập thế. Niềm-Vui-Chúa nhận lấy xác phàm làm người, là Ngài mạc khải tỏ lộ chính Niềm-Vui bằng xương bằng thịt như ta, nhưng ta không nghĩ Chúa là như thế.

Chắc cũng cần đến đấng bậc lành thánh như bậc hiển thánh Phanxicô thành Atxidi dạy cho ta biết điều ấy. Cần dạy để ta thấy được rằng người người ở trần thế, vẫn rất vui. Vui, với Niềm-Vui-của-Đức-Chúa để ta hoà lẫn với mùa lễ rất Giáng hạ. Chắc chắn bậc hiển thánh Phanxicô sẽ không về tay không khi ngài đặt chân viếng máng cỏ và để giờ nguyện cầu. Chắc chắn bậc hiển thánh sẽ ra đi vui hưởng cuộc đời lành thánh với chúng nhân cùng bạn bè người thân. Vẫn rất cần bậc lành thánh dạy ta thêm lần nữa, Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng hạ.

Lễ hội Niềm-Vui-Chúa giáng hạ, khiến tất cả được mời gọi vui hưởng thế giới của niềm vui, như trẻ bé. Hội lễ Chúa Giáng Hạ ta mừng kính hôm nay đều có nghĩa Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đến với thế giới gian trần, nơi máng cỏ cuộc đời hoặc ở nhà. Đức-Chúa-Niềm-Vui là thế đó, rất vui. Hôm nay.

Trong niềm an vui phấn khởi của mọi người, tưởng cũng nên về với lời thơ vui mà ngâm tiếp:

                        “Chúng ta tiến, em ơi, thành thanh khí.

                        Cho tan ra hoà hợp với tinh anh.

                        Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,

                        Và tình ta, sáng láng tự trăng thanh.”

                        (Hàn Mặc Tử – Sáng Láng)

Sáng láng ấy. Tinh anh này. Vẫn là Niềm-Vui-Chúa-giáng-hạ để ta tiến. Tiến cho tan, ngõ hầu hoà hợp với niềm vui chung của thế giới, của muôn ngàn ý nhị. Như trăng thanh. Tâm tình. Đầy ý tứ.           

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch. 

Ngày xưa ngày xửa ngày xưa

Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Giáng Sinh năm B 25/12/2017-31/12/2017

“Ngày xưa ngày xửa ngày xưa”
Chiều mơ chiều nắng đẹp khoe mầu tơ
Hai đứa mình còn trẻ thơ
Rủ nhau ngồi ngưỡng cửa chơi thẩn thơ.”

(Phạm Duy – Quán Bên Đường)

(Gioan 6: 45-46)

Quán xá bên đường, đâu kể gì ngày xửa ngày xưa. Quán xá hôm nay, ở nhiều nơi/nhiều chốn, rất bên đường. Chỉ câu hát “mái tóc bánh bèo” hoặc “da mét vì nghèo” được cất thành tiếng vào buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 18/11/2017 ở Sydney, mới thành chuyện. Chuyện hôm nay, hay ngày xưa cũng đều có những tình-tự như sau:

“À a a nhớ nhớ em còn mái tóc bánh bèo
À a a nhớ má chưa hồng da mét vì em nghèo
Đầu anh còn húi trọc, còn húi trọc
Khét nắng hôi trâu thèm đi học, thèm đi học
Thèm đi học…
Em cầm một củ khoai
Ghé răng cạp vỏ rơi
Xong rồi mình chia đôi
Khoai sùng này lượm mót
Sao ngọt lại ngọt ghê
Giờ đây kỷ niệm ngày xưa
Giờ đây cảnh cũ chìm xa mù khơi
Gặp nhau một chiều lạnh mưa
Nhìn nhau quần áo bảnh bao mừng sao.
Nhìn em còn xinh còn tươi
Đời em tưởng đâu là vui
Nhà em phải chăng là đây
Dè đâu chẳng may là quán
Em bẹo hình hài đem bán
Rồi em hỏi anh: làm chi
Cầm bút để viết ngày đêm, viết gì
Đời thối phải nói là thơm
Ngòi bút là chiếc cần câu miếng cơm.”

(Phạm Duy – bđd)

Ngày xưa hay hôm nay, vẫn còn những câu những kéo rất mê hồn, như con người vào mọi thời. Và, con người hôm nay lại sẽ hỏi những câu hơi ngớ ngẩn để rồi câu trả lời cũng không ngẩn ngơ/ngơ ngẩn, rằng: 

“Em hỏi nghệ thuật là chi.
Là đui, là điếc, là câm mà đi.
Nhìn nhau lặng lẽ nhìn nhau.
Nào có ai đánh mà sao lòng đau.

Bánh ngọt cùng mời ăn.
Nhớ chăng củ khoai ngon.
Bánh tươm vàng như nắng.
Bánh này mình chưa cắn.
Sao mà miệng cay đắng.
Rồi xin một nụ cười thôi.
Cười ư?

Anh đã vùi quên nụ cười.
Thì xin vài giọt lệ rơi.
Lệ em cạn đã từ lâu, người ơi.
Trước khi từ giã hỏi nhau

buồn hay là vui.
Thì cứ hỏi ngay cuộc đời…

(Phạm Duy – bđd)

Đó là chuyện xảy ra ở ngoài đời. Một đời rất thơ, văn, nghệ thuật, rất đẹp. Còn, chuyện xảy đến với nhà Đạo, lại cũng có những điều khá lơ mơ, vẩn vờ như câu hỏi/đáp với đấng bậc ở Sydney, rằng:

Thưa Cha,

Nhìn vào giáo-huấn của Đạo mình, con thấy rằng bất cứ ai thuộc bất kỳ tôn-giáo nào cũng đều được cứu vớt hết. Vậy thì, làm người Công giáo có gì lợi lộc hơn những người thuộc các Đạo khác, không? Phải chăng làm Phật tử, tín-đồ Ấn-giáo hoặc người Thệ Phản có dễ hơn không là bởi vì niềm tin trong Đạo của chúng ta đòi hỏi nhiều thứ hơn các Đạo khác chứ, phải không thưa Cha?” (Lại vẫn là câu hỏi nghe khá quen của một người)

Bảo rằng đây là “câu hỏi nghe khá quen của một người” hay nhiều người, thiết tưởng đó vẫn là những câu nhiều người hỏi, cần có giải đáp trung thực, và sâu sắc. Đấng bậc trả lời câu hỏi này, hôm nay, dù có sâu sắc/chắc nịch  hay không, vẫn là đấng bậc ở Sydney vị vọng không ngại ngùng một vương-vấn hoặc khúc-mắc nào hết. Và, đấng bậc hôm nay, lại đã đáp trả như thế này:

“Vấn-đề không phải là làm sao tìm cho ra một đạo-giáo nào khả dĩ có ít đòi hỏi gửi đến thành-viên đạo-hữu của mình, mà thôi đâu. Các đạo-giáo tương-tự vẫn ở đây đó, rất không xa.

 Vấn-đề ở đây, là bảo rằng: ta cũng nên tìm cho ra một đạo-giáo đến từ chính Thiên-Chúa và đạo-giáo này phải răn dạy qua tư-cách và thẩm-quyền thánh-thiêng con đường dẫn đến thiên-quốc. Thật ra, ta chỉ có duy nhất một đạo như thế mà thôi; và đây là thứ Đạo được chính Đức Giêsu tặng ba cho ta, là Hội thánh rất Công giáo.

 Vâng. Chính thế. Hội thánh ta cũng từng đưa ra các đòi hỏi tương-tự gửi đến với chúng ta, nhưng đồng thời các đấng cũng tặng ban cho ta mọi giùm giúp/hỗ trợ ta cần đến ngõ hầu sống thực các đòi hỏi ấy. Hội thánh kỳ-vọng là ta tham-dự thánh lễ ngày Chúa Nhật và lễ các đấng thánh này khác hầu tuân-giữ ngày/mùa sám-hối mà thương-yêu người đồng-loại như chính mình; tôn-kính sự sống của hài nhi chưa sinh không bằng hành-xử phá thai, nhưng trung-thành trong hành-xử cho phải lẽ với người phối-ngẫu của mình, đến hơi thở cuối cùng.

 Đành rằng, điều này càng làm cho cuộc sống của ta thêm bận-rộn. Thế nhưng, đó chính là con đường, là sự thật và là sự sống dẫn dắt ta đến hạnh-phúc ở nơi đây, trong hiện tại và mai ngày.

Hơn nữa, giáo-huấn của Hội-thánh ta còn dạy về các vấn-đề, như: phá thai, an-tử và tính keo sơn, trường-tồn của hôn-nhân không là những gì được các Giáo hoàng hoặc Công đồng thời Trung-cổ kỳ vọng, và rồi áp-đặt lên ta, từ đó đến thiên-thu. Đó là giáo-huấn đặt nền-tảng trên luật tự-nhiên, trên bản-chất rất nguyên-thuỷ của con người. Và, bằng vào tư-cách rất như thế, nên toàn thể nhân loại bất luận ta có là người Công-giáo hay không cũng đều áp-dụng cho mọi người.

 Vốn dĩ mang bản-chất nền-tảng cho việc triển nở của con người, chúng giúp ta sống thực như người đoan-trang hợp khuôn phép biết tôn-trọng lẫn nhau, và khiến cho xã hội trong đó người người cùng sống lại sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

 

Chính vì lý-do này, mà ta tỏ lòng biết ơn Đức Giêsu đã mang đến cho ta một Giáo-hội tốt đẹp có được sự trợ-giúp của Thánh Thần Chúa dạy ta biết sống trung-thành qua nhiều thời-kỳ con đường dẫn đến hạnh-phúc ở đây và mai ngày, vào đời sau.

 Quả thật là, các đạo-giáo khác không rõ ràng đưa ra giáo huấn nào đòi người đi theo phải có hành-xử này khác, nhưng đòi hỏi này càng làm cho đạo-hữu của thấy khó lòng giúp họ thực-hiện cuộc sống theo cách tốt đẹp như bao giờ. 

Thêm vào đó, Hội thánh không chỉ răn dạy ta đường-lối đúng đắn hầu đạt phúc hạnh mà thôi, nhưng còn tặng ban cho ta các Bí tích tràn đầy nhiều ý-nghĩa mà ta cần để có thể sống thực các giáo huấn này. Bí tích Thanh-tẩy tặng ban cho ta sự san sẻ đi vào cuộc sống của chính Thiên-Chúa bằng việc trú ngụ trong Ba Ngôi Thiên Chúa nơi linh hồn và bằng ơn thánh-hoá để rồi khiến ta nên thánh mà làm đẹp lòng Chúa.

 Bí tích Thêm sức, lại cũng xác-nhận với ta huệ lộc Thanh Tẩy và ban cho ta thêm sức mạnh hầu sống xứng đáng như người Công-giáo thực-thụ. Thân Mình Chúa ta có thể nhận được mỗi ngày nếu muốn, vẫn kết-hợp ta một cách trọn vẹn với Đức Kitô và khiến ta dễ dàng trở nên giống Đức Kitô hơn, qua hành-xử. Thêm nữa, Bí tích Xá giải lại thứ tha các lầm lỡ, tội phạm của ta rồi sẽ gửi ta đi vào con đường sạch sẽ có bổ dưỡng hầu khởi sự cuộc chiến đấu linh-thiêng nhiều hơn nữa.

 Bí tích xức dầu Kẻ liệt, làm cho ta mạnh hơn lên mỗi khi ta gặp nguy hiểm có thể chết. Đời sống vợ chồng trong hôn-nhân chính đáng tặng ta ân-huệ thỷ chung với quyết-tâm của mình trong hôn-nhân. Và, Bí tích truyền chức thánh tặng ban cho ta các thừa-tác-viên lành thánh có khả-năng thực-hành bí tích, cử-hành thánh-lễ và hướng-dẫn ta trong công-cuộc thánh-hoá bản thân, của mỗi người.                

 Không có được sự trợ-giúp như thế, tín-hữu chúng ta sẽ đi về đâu? Cũng nên nhớ, rằng: tất cả mọi người trên thế-giới, dù có là người Công-giáo hay không, đều phải chiến-đấu tránh phạm tội. Không một ai là miễn-nhiễm trước các cơn cám dỗ hoặc phạm lỗi trước mặt Chúa.

 Thế nhưng, còn gì dễ hơn là chiến thắng khi ta có được giáo-huấn rõ ràng của Hội thánh về những chuyện tốt/xấu và ta có được các Bí tích giúp ta mạnh mẽ thêm và tẩy sạch khi ta ngã quỵ. Tất cả mọi sự sẽ phán xét cung-cách ta sống các lời răn căn-bản về luân-lý/đạo-đức và khi ta có được sự trợ giúp của Hội thánh rồi, mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn với ta.

 Lại nữa, tham-dự thánh lễ các ngày Chúa nhật không phải là gánh nặng ta phải chịu mà là trợ giúp rất lớn để ta sống cuộc sống tốt đẹp. Trong Tiệc Thánh, ta có cả cộng-đoàn xung quanh luôn cầu nguyện với ta và cho ta trong chiến đấu. Ta được nghe Lời của Chúa vốn nhắc nhớ ta các sự thật căn bản về Thiên-Chúa, về sự sống và nỗi chết, và về cuộc sống ở đây, dưới thế-trần này.

 Tham-dự thánh lễ, ta còn được nghe các bài giảng khuyến-khích ta cung cách tích-cực mà thực-thi những gì ta đã nghe được trong các bài đọc hầu giúp ta chiến đấu sống xứng-đáng bậc thánh-hiền.

 Ta cùng nhau nguyện cầu với vị linh-mục và cộng-đoàn giáo-dân đưa nhau đến gần Chúa là Đấng ta phụng thờ hầu cảm tạ mọi ơn lành Ngài tặng ban, lâu nay. Trên hết mọi sự, ta còn được rước Mình Máu Chúa để trở nên một trong Đức Kitô.    

 Nói tóm lại, làm người Công-giáo tức là ta có đủ mọi lợi lộc trong đời mình. Mỗi năm có cả trăm ngàn người gia-nhập Hội-thánh vào lễ Phục Sinh không phải để chơi giỡn, và nhiều người trong họ đến từ các đạo-giáo đòi hỏi nơi thành-viên ít thứ, ít chuyện hơn Đạo ta. 

Nay, ta hãy cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho ta Hội thánh của Ngài rất lành thánh, rất tốt đẹp. (X. Lm John Flader, Is there any advantage in being Catholic, given the demands on us, the Catholic Weekly 19/4/2015, tr. 18)

Người đi Đạo nào cũng thế, kể cả Công giáo, Phật Giáo lẫn Đạo Hồi đều có một tâm-điểm rất giống nhau, là cứ men theo cuộc đời người. Điểm going giống ở đây, còn là mẫu sỗ chung giống hệt câu truyện kể ở bên dưới:

Đàn ông luôn tỏ ra bất mãn với “Tật nói nhiều” của Phụ nữ, thậm chí coi đó là một giấc mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời! Trong khi đó, hầu hết Phụ nữ lại cho rằng: Họ buộc phải nói nhiều để “chiến đấu” với tật xấu của bạn đời.

 Theo các Chuyên gia về gia đình, thì không có gì hoang tưởng hơn, là chỉ dùng lời nói mà có thể cải tạo được một người Đàn ông. Trái lại, không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên ….

 Người ta kể rằng:

Có một người Đàn ông bị đi tù 2 năm vì tội đánh vợ. Sau khi mãn hạn được tha về đoàn tụ với gia đình mới có một tuần lễ, anh ta lại khăn gói đến xin Ban quản lý nhà tù cho được tiếp tục cải tạo đến hết đời. Hỏi vì sao anh không thích ở nhà mà lại muốn vào tù? Anh ta thú thật rằng: Tuy ở trong tù mất tự do thật, nhưng còn sướng hơn ở nhà, vì không bị vợ nói ra rả suốt ngày đêm!

 Một cuộc điều tra 3.000 người đàn ông ở Thượng Hải với câu hỏi: 

– “Tính xấu của vợ mà anh ngán nhất?” thì 86% người trả lời: 

-Nói nhiều! 

 Các nhà Tâm lý học cho rằng: Hầu hết đàn ông đều sợ cái tính nói dai của các bà vợ. Nỗi sợ này có nguồn gốc sâu xa từ hồi nhỏ khi anh ta bị mẹ mắng mỏ. Đàn ông lẩn tránh các lời khuyên của vợ cũng giống như khi còn bé họ lẫn tránh lời dạy bảo của mẹ.   

 Hóa ra, Đàn ông rất hay bị Đàn bà rầy la: 

Lúc bé thì mẹ mắng.

Lớn lên một tí bị chị mắng. 

Lớn tí nữa, bị người yêu chê trách. 

Lấy vợ bị vợ đay nghiến. 

Về già lại bị con gái kêu ca ….

 Có phải Đàn ông bị vợ nói nhiều là đáng đời vì họ lắm tội? Tiếc rằng thực tế cho thấy: Khó mà có ông chồng nào thoát khỏi những “tội lỗi” ấy: 

-Người làm việc trí óc bị rầy la về đóng cái đinh không nên hồn! 

-Người khéo léo chân tay lại bị chê là viết cái đơn không xong! 

-Người giỏi cả chân tay lẫn trí óc lại bị tra tấn, vì không bao giờ biết mua vé đưa vợ đi xem một bộ phim …

 Giải thích tại sao Phụ nữ nói nhiều, có nhà Khoa học cho rằng: Vì khả năng sử dụng ngôn ngữ của họ mạnh hơn Nam giới. Lại có người cho rằng là từ thời tiền sử, Phụ nữ trồng trọt hái lượm nên tha hồ nói chuyện, trong khi đàn ông đi săn bắt phải ẩn nấp không nói được. Thật ra, Đàn bà cũng chẳng thích lắm điều, nhưng vì đa số việc nhà vẫn rơi vào tay Phụ nữ mà những việc đó thì không mấy khi được vừa lòng, do chồng con gây ra, vì vậy Phụ nữ không nói cũng không được.

 Tuy nhiên, các nhà Tâm lý cho rằng: Người vợ khôn ngoan nói cái gì chỉ nói một lần thôi. Nếu điều đó không theo ý mình, thì cũng không nói đi nói lại, mà hãy làm thay anh ta. Bởi vì, cũng theo các Chuyên gia về gia đình, thì không có gì hoang tưởng hơn chỉ là dùng lời nói mà có thể “cải tạo” được một người Đàn ông đâu! 

 Bây giờ ta hãy đi ngược thời gian xem khi mới quen hơi bén tiếng nhau, Phụ nữ có thói quen ấy không. Nếu có, có lẽ số cuộc kết hôn phải giảm đi 90%. Vậy khi mới yêu nhau, phụ nữ cư xử với đàn ông thế nào? Thường lúc đó họ khen không ngớt. Nào là: “Anh giỏi quá!”; Anh tài quá!”; “Anh thông minh quá!”… 

 Thì ra, mọi chuyện chỉ bắt đầu từ khi kết hôn. Hãy thử nghe một đoạn băng ghi âm xem một cuộc xung đột vợ chồng thường diễn ra như thế nào? Ăn xong, người vợ nhẹ nhàng bảo:

-Bữa nay, anh rửa bát nhá!

 Chồng vừa dán mắt vào tivi vừa trả lời:

-Được rồi, cứ để đấy!

Mươi phút sau vợ hỏi;

-Anh có rửa bát không nào?

Anh ta vẫn không dời mắt khỏi ti-vi, miệng trả lời:

-Có!

 Nhưng đa số Phụ nữ không chấp nhận như thế! Họ muốn chồng phải làm ngay, nếu không thì hoặc họ sẽ tự làm, hoặc họ sẽ “trình diễn” một bộ mặt hình sự, mà những người đàn ông yếu bóng vía có thể bị chấn thương tâm lý, đến mức thấy mình đúng là một tên tội phạm. Bộ mặt ấy sẽ tiêu diệt hết cả mọi thú vui của anh ta trong ngày hôm đó.

 

Suy cho cùng, ai chả muốn nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, nhưng nếu vì thế mà đánh đổi cả bầu không khí gia đình êm ấm có nên không? Không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên này. Để kết thúc bài viết, xin kể một câu chuyện có thật về một đôi vợ chồng người Nga.

 Sergei Ivanovich kết hôn với Lena Xeramova và chỉ còn mấy hôm nữa là đến ngày kỷ niệm đám cưới vàng. Bỗng nhiên bữa nọ đang ăn thì bà vợ phát hiện chồng đánh rơi miếng thịt ra sân nhà, bà ta nghiến răng gầm lên:

-Ông ăn uống cái kiểu gì thế?

 Sergei sửng sốt rồi ánh mắt từ từ lạnh lùng nhìn vợ, không nói một lời đứng dậy thu xếp khăn gói ra đi.

 Về sau có người bạn thân của ông kể lại lần gặp cuối cùng, ông ta nói:

-Lúc nào bà ấy cũng đay nghiến tôi! Bà ấy nói tôi suốt đời không làm được một việc gì ra hồn! Lần này, ít nhất tôi cũng làm được một việc ra hồn, là … ra đi vĩnh viễn! (Truyện kể trích từ trên mạng)

Trích đâu thì trích, chỉ cần bạn trích câu chuyện đời người đúng thực-tế để người nghe còn nể phục và cho rằng mình nói đúng và kể cũng không sai. Còn, cung-cách kể lể có nể-phục hay không, đều tuỳ mỗi người và mọi người.

Thế đấy, câu chuyện phiếm Đạo/đời cần kể nhiều, kể mãi không thôi. Nhưng, hôm nay đây, kể như thế cũng đã nhiều. Nay, xin bạn và tôi, ta kết thúc câu chuyện những kể lể, để tạm ngơi nghỉ, hầu kéo dài cuộc sống cần nghe chứ không cần kể nhiều như các cụ vẫn khuyên mọi người, trong đời.

Cần nghe nhiều, và chỉ nên nghe lời vàng của bậc thánh hiền lâu nay, vẫn dạy rằng:

“Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ:

Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ.

Vậy phàm ai nghe

và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha,

thì sẽ đến với tôi.

Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu,

nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến,

chính Đấng ấy

đã thấy Chúa Cha.”

(Gioan 6: 45-46)

Trần Ngọc Mười Hai

Xưa nay vẫn thích nói nhiều hơn nghe kể

Nên mới gọi đó là Chuyện Phiếm Đạo Đời

Rất buồn cười.

ĐỨC TIN SANH KIÊN CƯỜNG

From:    Thang Chu‘s post.

Thang Chu

ĐỨC TIN SANH KIÊN CƯỜNG

By Rick Warren – Dec 28, 2017

“Chúng tôi bị ép đủ bề bởi hoạn nạn, nhưng chúng tôi không bị đè bẹp. Chúng tôi bị bối rối, nhưng không bị đẩy vào tuyệt vọng. Chúng tôi bị săn đuổi, nhưng chưa từng bị God bỏ rơi. Chúng tôi bị đo ván, nhưng chúng tôi không bị hủy diệt” (2 Cô-rinh-tô 4:8-9 NLT).

Đức tin mở khóa những lời hứa của God, nó tỏ cho chúng ta quyền năng God, nó biến ước mơ thành hiện thực, và nó cho chúng ta quyền năng bám trụ những lúc khó khăn.

God không luôn đưa bạn ra khỏi vấn nạn. Ngài giương ra đức tin bạn bằng cách đưa bạn xuyên qua vấn nạn đó. Ngài không luôn cất đi đau đớn. Ngài ban cho bạn khả năng được đổ đầy đức tin để đối phó nỗi đau. Và God không luôn đưa bạn ra khỏi bão tố vì Ngài muốn bạn tin cậy Ngài giữa phong ba.

Tôi nhớ có đọc những chuyện về Corrie ten Boom, một Cơ-đốc-nhân trẻ người Hòa Lan đã giúp nhiều người Do Thái thoát diệt chủng Holocaust trước khi bị tống vào những trại tập trung Nazi. Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, bà nói rằng người sống qua những trại tập trung là những người có đức tin sâu sắc nhất. Tại sao? Vì đức tin cho bạn quyền năng để bám trụ lúc khó khăn. Nó sanh ra kiên cường.

Nghiên cứu này sau nghiên cứu kia cho thấy rằng có lẽ đức tính quan trọng nhất bạn có thể dạy con (và bạn cần nó trong chính đời bạn) là sức bật. Nó là khả năng bật dậy. Nó là khả năng đế tiếp tục đi. Không ai trải qua cuộc đời với một chuỗi thành công không bị gãy đổ. Mọi người đều gặp thất bại và lầm lỗi. Tất cả chúng ta tự làm khó mình. Tất cả chúng ta gặp đau đớn. Tất cả chúng ta gặp vấn nạn. Tất cả chúng ta gặp áp lực. Người vượt qua chúng trong đời phải có sức bật.

Bạn có biết bao nhiêu lần tôi muốn từ chức làm mục sư tại Hội Thánh Saddleback không? Cứ mỗi sáng thứ Hai! Tôi nói, “God ôi, thật lớn quá. Thật nhiều người quá, thật nhiều trách nhiệm quá. Con không thông minh đủ. Điều gì con phải nói với số nhiều người như vậy? Xin đưa ai đó khác có thể làm việc tốt hơn con.”

Tuy nhiên God nói, “Cứ tiếp tục.”

Nơi đâu bạn có được sức bật đó để tiếp tục đi? Đức tin. Đó là tin God có thể làm việc gì đó vào lúc nào đó mà có thể thay đổi hướng đi đời bạn, và bạn không muốn bỏ lỡ nó, vậy cứ tiếp tục tiến tới. Đó là tin rằng God sẽ ban cho bạn chính xác điều bạn cần khi bạn cần nó để bạn học nương cậy vào Ngài để hoàn thành mục đích Ngài nơi bạn.

Đây là lời chứng của Phao-lô, một người vĩ đại của đức tin: “Chúng tôi bị ép đủ bề bởi hoạn nạn, nhưng chúng tôi không bị đè bẹp. Chúng tôi bị bối rối, nhưng không bị đẩy vào tuyệt vọng. Chúng tôi bị săn đuổi, nhưng chưa từng bị God bỏ rơi. Chúng tôi bị đo ván, nhưng chúng tôi không bị hủy diệt” (2 Cô-rinh-tô 4:8-9 NLT).

THẢO LUẬN
• Điều gì là mục đích tai ương của God trong đời bạn?
• Thế nào đức tin giúp bạn kiên cường qua suốt lúc khó khăn trong đời bạn?
• “Đức tin không luôn đem bạn ra khỏi vấn nạn. Đức tin thường đem bạn xuyên qua vấn nạn.” Thể nào chân lý này uốn nắn cách bạn đáp ứng lại những vấn nạn mà bạn đối diện ngay phút này?

“We are pressed on every side by troubles, but we are not crushed. We are perplexed, but not driven to despair. We are hunted down, but never abandoned by God. We get knocked down, but we are not destroyed” (2 Corinthians 4:8-9 NLT).
PASTORRICK.COM   

QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA

QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA

“Đức Giêsu là Quà Tặng quý giá nhất
Thiên Chúa trao gởi cho con người”(x. Ga 3, 16).
 

Vào dịp lễ Giáng Sinh, người ta thường tặng cho nhau những món quà, vì đây là dịp để thể hiện tình yêu thương và quan tâm đến nhau. Quà Giáng Sinh không chỉ mang giá trị tinh thần của người Kitô giáo mà cả những người không cùng tôn giáo. Vào những ngày này, chúng ta thấy quà Giáng sinh được bán khắp nơi, trông rất đẹp, phong phú và đa dạng. Mỗi người đều có những món quà từ những người thân tặng, nó có thể là một cánh thiệp với những lời chúc mừng, hay một món quà nào đó của người yêu tặng.v.v..Tất cả đều được gói ghém trong tình thương và chia sẻ với nhau trong niềm vui ngày lễ Giáng Sinh. Người tặng quà thì luôn tìm kiếm và lựa chọn những món quà yêu thích để làm vui và làm hài lòng người nhận, dù nó chỉ là món quà nhỏ bé, đơn sơ hay món quà giá trị đắc tiền. Tuy nhiên, không phải ai cũng thích và đón nhận quà tặng từ người khác khi lòng không muốn, thì họ có thể khước từ và trả lại. Nhận và cho luôn là cách giao tiếp của con người trong xã hội thời nay.

Từ ý nghĩa của việc tặng quà trong dịp Giáng Sinh, chúng ta có thể hình dung ra một món quà vô giá mà Thiên Chúa ban tặng cho con người, đó chính là Con Thiên Chúa xuống thế làm Người. Ngài đang ở với và ở cùng chúng ta. Món quà từ Trời Cao ban cho nhân loại. Trong Tin mừng hôm nay thuật lại qua lời loan báo của sứ thần cho những cậu bé chăn chiên ngoài đồng.Họ vội vã lên đường đến gặp thánh Giuse và Mẹ Maria và Hài Nhi Giêsu tại làng Bêlem. Ngài sinh ra trong đêm đông lạnh giá, nơi cái chuồng bò hôi tanh, nghèo hèn. Các mục đồng trở về trong vui mừng, ca tụng và tôn vinh Thiên Chúa về những gì họ đã được mắt thấy tai nghe và đi loan báo tin vui về Thiên Chúa Giáng sinh. Tin vui đó không chỉ cho các mục đồng năm xưa, nhưng là tin vui cho toàn thế giới hôm nay đang đón nhận và tận hưởng. Tiếng khóc chào đời của Hài Nhi Giêsu đã mang lại niềm vui, bình an và hạnh phúc cho con người. Như lời các thiên thần ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Nếu Giáng sinh là dịp để tặng quà, để gặp gỡ vui chơi và tìm niềm vui qua những bữa tiệc, qua những giây phút ngọt ngào bên người thân gia đình, thì đó chỉ là niềm vui và hạnh phúc tạm thời trong mùa Giáng Sinh này. Là người Kitô hữu, chúng ta cần thoát ra khỏi thế giới chật hẹp, để nhận ra những điều kỳ diệu về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa Nhập Thế. Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta có ngày vui trọng đại này. Ngài đã chấp nhận mang lấy kiếp con người, và là “Emmanuel”. Nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Ngài yêu thương và gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu san sẻ, cho đi và tự hủy. Niềm vui và hạnh phúc thật sự trong lễ Giáng Sinh là biết cho đi.Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại qua Người Con yêu quý của Ngài, là Chúa Giêsu.Thế nhưng, có nhiều người nghĩ rằng,Giáng Sinh là dịp để tận hưởng vui chơi qua các sự kiện bên ngoài mà quên đi ý nghĩa đích thức bên trong về mầu nhiệm tình yêu Giáng Sinh. Người ta vẫn vô tình hay chối bỏ Quà Tặng của Thiên Chúa, là chính Chúa Giêsu.
 Nếu chúng ta biết xấu hỗ và cảm thấy đau buồn khi một người thân trả lại quà tặng trong dịp Giáng Sinh này, thì chắc hẳn Thiên Chúa cũng rất đau buồn khi chúng ta đón mừng lễ Giáng Sinh mà không có Chúa Giêsu tham dự, trong lòng cảm thấy cô đơn trống vắng, sau những cuộc vui. Mùa Giáng Sinh không chỉ là dịp cho chúng ta tận hưởng ơn lành, bình an và hạnh phúc trong đêm thánh, mà còn là dịp cho ta chiêm ngắm mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa ban tặng cho con người. Sứ thần loan báo: “Hôm nay Đấng Cứu Thế được sinh ra cho chúng ta, Ngài là Con Thiên Chúa”.

 Để đáp lại tình yêu Thiên Chúa, xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận Quà Tặng của Thiên Chúa là chính nơi Đức Giêsu. Nhờ Ngài chúng con biết chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ, an ủi với người đói ăn, người cô đơn, người bệnh tật, già nua, tù đày…Xin Chúa cho chúng con biết mang lại hòa bình, hiệp nhất và yêu thương nhau.

Lm. John Nguyễn.

From: thanhhong54& Thu Mai

Chứng cứ về thiên đường’: BS phẫu thuật não kể lại trải nghiệm 7 ngày não ngưng hoạt động

 

Chứng cứ về thiên đường’: BS phẫu thuật não kể lại trải nghiệm 7 ngày não ngưng hoạt động

Hàng ngàn người trên thế giới đã kể lại trải nghiệm cận tử khi họ ở trong trạng thái hôn mê sâu, nhưng trường hợp của Eben Alexander trong quyển sách “Chứng cứ về thiên đường” lại đáng chú ý bởi lẽ: ông là bác sĩ phẫu thuật não có uy tín, người có chuyên môn và am hiểu y học cao-hơn-trung-bình để phân biệt đâu là ảo giác, đâu là trải nghiệm phi thường nơi địa giới tinh thần.

Bác sĩ Eben Alexander và tựa sách “Chứng cứ về thiên đường” phiên bản tiếng Việt

Cuốn sách “Chứng cứ về thiên đường” mô tả trải nghiệm cận tử của Eben trong suốt 7 ngày hôn mê – điều đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm và suy nghĩ của ông về thế giới bên kia.

Một bác sĩ với hồ sơ ‘hoàn hảo’

Eben Alexander (11/12/1953) là con nuôi của một chuyên gia phẫu thuật thần kinh đáng kính. Eben là thành viên của Hiệp hội Y khoa Mỹ; ông từng theo học tại Viện Phillips Exeter (1972), Đại học North Carolina tại Chapel Hill (1975), đại học Y khoa Duke rồi tham gia giảng dạy ở Bệnh viện Đại học Duke, Đại học Y Harvard, Đại học Y Massachusetts và Đại học Y Virginia.

Hơn 25 năm làm bác sĩ phẫu thuật thần kinh, Eben thường xuyên tiếp xúc với các bệnh nhân trong trạng thái hôn mê sâu và tỉnh lại sau đó, rất nhiều người đã kể cho ông nghe về trải nghiệm cận tử, nhưng ông vẫn luôn nghĩ đó hoàn toàn chỉ là ảo giác khi não của họ gặp vấn đề.

Cho tới khi…

Một chứng bệnh cực kỳ hy hữu

Ngày 10/10/2008, Eben – người mà cả đời gần như chẳng bao giờ bệnh tật gì – bỗng bị đau lưng dữ dội, và được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Lychburg, Virginia (chính nơi ông đang làm việc) trong tình trạng hôn mê, co giật.

Ông bị viêm màng não do khuẩn E. coli cực kỳ hiếm gặp với chưa đến 1 phần 10 triệu người mắc phải ngẫu nhiên mỗi năm.

Ông ở vào tình trạng hôn mê trong 7 ngày với tỷ lệ tử vong được xác định là trên 97%.

“Một tuần bất tỉnh với căn bệnh viêm màng não nghiêm trọng do vi khuẩn gây ra đã là vượt quá giới hạn của bất kỳ khả năng hồi phục khả dĩ nào,” bác sĩ Scott Wade nhận định vào ngày thứ 7 Eben hôn mê.

Trong 7 ngày đó, “Eben” lại trải qua một hành trình khác…

Một trải nghiệm cận tử mỹ diệu

Ba vùng đất kỳ lạ

Cuộc phiêu lưu trong trải nghiệm cận tử của ông diễn ra tại 3 nơi trong một không gian khác, được ông gọi trong cuốn sách là “Vùng Quang cảnh của Giun đất”, “Cổng vào” và “Cốt lõi”.

Bác sĩ Eben Alexander và tựa sách “Chứng cứ về thiên đường” phiên bản tiếng Anh (ảnh: thespirituniversity.com)

“Cổng vào” được Eben mô tả là một “thứ gì đó vừa xoay vòng một cách chậm rãi, vừa tỏa ra những sợi ánh sáng như tơ mỏng màu vàng… mang theo một âm thanh sống, tựa như một bản nhạc đẹp đẽ nhất, phức tạp nhất, phong phú nhất”. Nó dẫn ông đến “một thế giới kỳ lạ nhất, đẹp đẽ nhất” mà ông “chưa từng thấy”. Thế giới đó theo Eben mô tả là “rực sỡ, sống động, ngây ngất, choáng ngợp…” và “có dùng một đống tính từ của ngôn ngữ con người thì nó vẫn chưa đủ để mô tả sự đẹp đẽ của thế giới đó.”

Eben mô tả: “ Nó là trái đất… nhưng đồng thời không lại không là trái đất. Giống như khi bố mẹ bạn đưa bản trở lại nơi bạn đã sống từ khi còn rất nhỏ. Nơi đó hoàn toàn xa lạ với bạn. Hay ít ra là bạn nghĩ thế. Nhưng rồi khi bạn nhìn xung quanh, có thứ gì đó níu lấy bạn, rồi bạn nhận ra đó là một phần bên trong mình – một phần ở rất, rất sâu – vẫn còn nhớ được nơi này, và hân hoan khi được quay trở lại nơi đây”.

Tại “Cổng vào”, Eben cũng nhìn thấy con người, động vật. “Người ta hát và nhảy thành những vòng tròn… tất cả đều ngập tràn niềm vui. Họ mặc những bộ quần áo đơn giản nhưng vô cùng đẹp đẽ.”

Kể về cái gọi là “Cốt lõi”, Eben mô tả rằng mình đang đi tới “một vùng khoảng trống bao la, tối mịt, vô hạn về kích thước, nhưng cũng lại êm dịu vô ngần. Dù đen kịt đến thế, nhưng lại ngập tràn ánh sáng: một thứ ánh sáng như thể phát ra từ một quả cầu rực rỡ”.

Tại “Cối lõi”, Ebeb cảm thấy mình đang ở trong một bào thai, bồng bềnh trong một nhau thai, giúp nuôi dưỡng nó và làm trung gian với “người mẹ” của ông. Người mẹ của ông ở đây “chính là Chúa, là Đấng Sáng Tạo, là Nguồn Sống chịu trách nhiệm kiến tạo ra vũ trụ và tất thảy những gì ở bên trong nó”. Ông cảm nhận được “sự bao la vô tận”, cảm nhận được “sự gần gũi, sự yêu thương vô điều kiện, toàn năng, toàn trí và không thể tả bằng lời” của Đấng Sáng Tạo.

Tình yêu vô điều kiện nơi thiên đường

Eben mô tả, ở thế giới tinh thần đó, ông đã gặp “một cô gái xinh đẹp, với đôi gò mà cao và cặp mắt xanh lam sâu thẳm”. Trang phục của cô gái “mang trong chúng thứ sức sinh động đến choáng ngợp mà tất cả mọi thứ khác ở xung quanh đều sở hữu”.

Cô gái nói chuyện với Eben bằng “những thông điệp xuyên qua người” ông “như một cơn gió”. Thông điệp đó mang đến tình yêu “vượt lên trên tất cả những tình yêu khác nhau mà chúng ta biết đến trên trái đất này. Nó là thứ gì đó cao cả hơn, vừa chứa đựng tất thảy mọi thứ tình yêu còn lại, vừa chân thành, vừa thuần khiết hơn chúng”.

Cô gái xinh đẹp mà Eben gặp trên thiên đường, chính là người em ruột đã mất mà ông chưa từng gặp

Eben thấy rằng “trong dạng thuần khiết và mãnh liệt nhất, thứ tình yêu này không ghen tuông hay ích kỷ, mà vô điều kiện, là thực tế của mọi thực tế, là chân lý của mọi chân lý, chói sáng và vượt trên cả mọi kiến thức, vẫn luôn sống và thở trong cố lõi của vạn vật, nó chính là cảm xúc quan trọng nhất trong vũ trụ, và còn là chân lý khoa học quan trọng nhất”.

Eben cho biết: Tình yêu và sự chấp nhận vô điều kiện mà tôi nếm trải trong hành trình của mình là khám phá quan trọng độc nhất mà tôi đã hay sẽ thực hiện”. Ông “cũng biết được rằng bằng trái tim mình, chia sẻ thông điệp rất cơ bản này – một thông điệp cơ bản đến nỗi hầu hết trẻ con đều chấp nhận ngay – là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình”.

Trải nghiệm các thời gian – không gian khác biệt và khả năng học hỏi tức thì

Khi ở trong “Cổng vào”, Eben cho biết: “tôi không biết mình đã bay như vậy chính xác là bao lâu. Thời gian ở nơi này khác biệt với thời gian tuyến tính đơn giản mà chúng ta cảm nhận ở trái đất, và miêu tả về nó cũng vô vọng y hệt như miêu tả về những khía cạnh khác của nơi này.”

Tại “Cốt lõi”, nhiều lần Eben giao tiếp với Chúa mà ông gọi là Đấng Sáng Tạo thông qua một Quả Cầu Ánh Sáng. Đấng Sáng Tạo cũng cho Eben biết được rằng không chỉ có một mà có nhiều vũ trụ – nhiều hơn so với điều mà con người có thể hình dung – nhưng ở trung tâm của tất cả các thứ ấy là tình yêu.

Eben trông thấy sự phong phú của sự sống qua “hằng hà sa số vũ trụ, bao gồm cả những vũ trụ nơi trí tuệ đã vượt xa loài người”. Eben cũng trông thấy “vô số chiều không gian cao hơn… Thế giới của của thời gian và không gian mà chúng ta di chuyển ở trên trái đất này được đan cài một cách chặt chẽ và phức tạp bên trong những thế giới cao hơn ấy.”

Tỉnh lại sau trải nghiệm cận tử, Eben cho rằng “bản thân bộ não không tạo ra ý thức”, nó giống như một cái van giảm áp hay máy lọc, có tác dụng điều chỉnh ý thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại ý thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé này.

Chính vì vậy, khi ý thức của Eben vượt ra ngoài thân thể, ông đã thu được những kiến thức về thiên nhiên và cấu tạo của vũ trụ, vượt trên rất nhiều khả năng hiểu biết trong thế giới này của ông, một cách tức thì và vô cùng dễ dàng.

Một hành trình thay đổi thế giới quan

(ảnh: Shutterstock)

“Dù cho khi lớn lên, tôi đã rất muốn tin vào Chúa và thiên đường cũng như kiếp sau, nhưng nhiều thập kỷ sống trong thế giới khoa học giải phẫu thần kinh nghiệm ngặt đã khiến tôi hoài nghi sâu sắc sự tồn tại của những điều này. Khoa học thần kinh hiện đại tuyên bố rằng bộ não là khởi nguồn của ý thức – của tâm trí, linh hồn, tâm linh, của cái phần vô hình, phi vật thể mà bạn muốn gọi là gì cũng được – là phần thật sự tạo nên chúng ta – và tôi đã không mấy nghi ngờ gì về lời tuyên bố này,” Eben cho biết.

Trải nghiệm cận tử của chính bản thân đã khiến Eben rốt cuộc đã thay đổi những niềm tin bấy lâu nay của mình về khái niệm bộ não, về ý thức, thậm chí là về việc bản thân cuộc sống này mang trong nó ý nghĩa gì.

Khi Eben hăng hái chia sẻ những trải nghiệm của mình với mọi người, đặc biệt là các bác sĩ đồng nghiệp, nhưng đã có rất nhiều người thờ ơ trước câu chuyện của ông. Eben nhận ra rằng chính bản thân mình trước kia cũng có thái độ như vậy khi tiếp xúc với các trải nghiệm cận tử.

Tuy nhiên, với vai trò là một bác sĩ, Eben nhận thấy mình có nghĩa vụ phải kể lại câu chuyện của bản thân với hy vọng có thể giúp đỡ những người khác. Và có lẽ, không ai ở vị trí tốt hơn ông để làm điều đó.

Một quyển sách sống động như bộ phim

Quãng thời gian 7 ngày Eben khám phá những cảnh giới cao hơn, thì ở thực tại, người thân và bạn bè của ông phải đối mặt với một Eben “gần như đã chết”, và cả 2 câu chuyện đều diễn ra đồng thời.

“Chứng cứ về thiên đường” không chỉ thú vị ở những trải nghiệm phi thường của Eben, mà còn là cách kể chuyện đan xen hiện tại, quá khứ, thế giới thực, thế giới tinh thần trong 7 ngày.

Người đọc được theo dõi một câu chuyện giàu kịch tính, pha chút hài hước nhưng đầy lý trí, được chia thành từng đoạn nhỏ chỉ dài khoảng vài trang hệt như những cảnh phim sống động. Đó không chỉ là trải nghiệm của một mình Eben, mà là tình thương, sự lo lắng và hành động của cả người thân và các bác sĩ, đồng nghiệp ở chính nơi ông làm việc.

Cuốn sách “Chứng cứ về thiên đường” đã được dịch sang tiếng Việt và phát hành ở Việt Nam bởi nhà sách Nhã Nam.

Thiện Tâm, Phong Trần tổng hợp

ĐÊM ÁNH SÁNG

ĐÊM ÁNH SÁNG

Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm.  Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang.  Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ.  Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh.  Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm.  Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.  Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được.  Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa.  Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người.  Thiên Chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người.  Thiên Chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó.  Thật lạ lùng, Thiên Chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại.  Thiên Chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại.  Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên Chúa.  Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương.  Ánh sáng Thiên Chúa soi sáng kiếp người tăm tối.  Ánh sáng Thiên Chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí.  Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm, nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức.  Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn.  Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối.  Đó là những người nghèo của Thiên Chúa.  Đó là thánh Giuse, Đức Maria.  Đó là Ba Vua.  Đó là các mục đồng.  Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa.  Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên Chúa gửi đến.  Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu.  Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng.  Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt.  Trái lại “vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng.”  Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua.  Ánh sáng đã bao phủ các ngài.  Ánh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ.  Ánh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới.  Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu.  Những người nghèo của Thiên Chúa âm thầm kiên trì chờ đợi.  Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm.  Niềm khao khát đã được đáp ứng.  Đã đến mùa Thiên Chúa gieo hạt.  Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại.  Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ.  Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian.  Ánh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng.  Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng.  Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên Chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh.  “Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.”  Tin Mừng được loan đi.  Niềm vui lan tới mọi tâm hồn.  Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú.  Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê.  Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối.  Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim