BA NỖI ĐAU KHỔ

BA NỖI ĐAU KHỔ

LM Mark Link, S.J.

“Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trong ba phương cách như chúng ta chịu về tinh thần, thể xác và tâm linh”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Father Titus Brandsma

Trong thời thế chiến II, linh mục Titus Brandsma làm viện trưởng một đại học tại Hòa Lan. Ngài bị Đức Quốc Xã đem về trại tập trung ở Dachau. Nơi đây, ngài bị biệt giam trong một chiếc cũi nhốt chó cũ kỹ. Bọn lính gác mua vui bằng cách bắt ngài phải sủa lên như chó mỗi lần chúng đi ngang qua. Cuối cùng ngài bị chết vì bị tra tấn. Bọn lính kia đâu có ngờ rằng ngay giữa cơn thử thách, vị linh mục ấy vẫn tiếp tục viết nhật ký giữa những dòng chữ in trong quyển sách kinh cũ của ngài.

Ngài kể lại rằng, sở dĩ ngài có thể chịu đựng được nỗi đau đớn là vì ngài biết rằng Chúa Giêsu cũng đã từng chịu đau khổ như thế.Trong một bài thơ ngỏ gởi Chúa Giêsu, ngài viết:

“Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa. Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan. Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ. Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi. Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con.” (Kilian Healy, Walking with God).

Sự thống khổ của Chúa Giêsu được chúng ta đặc biệt nhắc lại trong ngày hôm nay đã từng là nguồn sức mạnh cho rất nhiều người trong lịch sử. Giống như linh mục Brandsma, những người này sẽ không bao giờ chịu đựng nổi sự đau đớn nếu họ không biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau khổ như vậy, và Ngài hiện đang nâng đỡ họ trong giây phút thử thách.

Khi nhìn lại sự thống khổ của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người đã chịu đau khổ dưới cả ba hình thức khác nhau.

1)Trước hết là đau khổ tinh thần. Chúa Giêsu chịu đau khổ này trong vườn Cây Dầu, Người đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến thử thách trước mặt, đồng thời Người rất đau khổ khi các môn đệ phản bội và bỏ Người chạy trốn hết. Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm sự đau khổ tinh thần này, tỉ như một cậu bé 15 tuổi bỏ nhà ra đi đã mô tả sự đau khổ tinh thần của mình trong cuộc phỏng vấn của tạp chí Parade như sau:

“Tôi không bao giờ thực sự có được một mái nhà, tôi không bao giờ được thực sự nhìn thấy người cha của tôi. Tôi luôn cô độc… Tôi cảm thấy có gì sái

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Fr. Walter Ciszek

quấy nơi tôi. Chắc là tôi tệ lắm. Tôi cảm thấy mình không hiện hữu, vì chẳng có ai yêu mến tôi.”

Trong lúc đau khổ tinh thần như thế, chúng ta chỉ còn một nguồn an ủi duy nhất, đó là biết rằng chính Chúa Giêsu từng bị đau khổ như thế trước chúng ta, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong khi bị thử thách.

2) Chúa Giêsu từng bị đau khổ nơi thể xác. Người bị đánh đập tàn bạo, bị đội mão gai và bị đóng đinh vào thập giá. Và chúng ta, ít nhiều cũng đã từng chịu những đau đớn phần xác. Đây là loại đau đớn mà bác sĩ Sheila Cassidy đã phải gánh chịu khi ở Chile vào đầu thập niên 1970. Cô là một bác sĩ y khoa và đã phạm một lỗi lầm tai hại là đã chữa lành vết thương cho một phần tử chống đối chính phủ. Cảnh sát đã bắt cô và tra tấn buộc cô phải khai tên những người dính líu đến phong trào chống đối.

Giống như Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, cô cũng bị căng thây trong bốn ngày. Nhớ về sự thử thách ấy cô viết:

“Tôi cảm nghiệm được một cách mơ hồ về sự đau đớn mà Chúa Giêsu từng chịu. Trong suốt cơn thử thách, tôi luôn luôn cảm thấy Người ở đó, và tôi nài xin Người giúp tôi được kiên vững.”

Cũng thế, trong giờ phút chịu đau đớn thể xác, chúng ta thường chỉ còn nguồn an ủi là biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau đớn như thế, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong cơn thử thách này.

3)Và cuối cùng, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu cũng từng chịu đau đớn về tâm linh. Tỉ như, khi Người bị treo bơ vơ trên thập giá, dường như chính Chúa Cha cũng đã ruồng bỏ Người. Chúa Giêsu cầu xin:

“Lạy Chúa con, lạy Chúa con, sao Ngài lại bỏ rơi con” (TV 22:1).

Tất cả chúng ta cũng từng gặp đau khổ tâm linh giống như Người. Nhiều lần, chúng ta cảm thấy như bị Chúa bỏ rơi. Đây là sự đau đớn mà Walter Ciszel, vị linh mục người Hoa Kỳ đã từng chịu khi bị cầm tù ở Nga suốt 23 năm. Có lúc, tâm linh ngài bị suy sụp đến mức gần như tuyệt vọng. Nhưng thay vì đầu hàng, ngài lại biết noi gương Chúa Giêsu trên thập giá, hướng về Thiên Chúa Cha trong cơn thử thách. Cha Walter Ciszel viết:

“Tôi thưa với Chúa rằng, hiện giờ mọi khả năng của tôi đều cạn kiệt và chỉ còn Ngài là nguồn hy vọng duy nhất của tôi… Tôi chỉ có thể mô tả lại cảm nghiệm này giống như một sự ‘phó mặc'”

Vào lúc bấy giờ, lần đầu tiên, cha Ciszel hiểu được những lời cuối cùng trên thập giá của Chúa Giêsu:

“Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc. 23:46). Về sau, cha Ciszel nói rằng chính quyết định phó thác ấy đã giúp ngài kiên định và sống sót.

Như thế, Chúa Giêsu đã từng chịu cả ba sự đau đớn mà con người có thể gặp phải. Người đau đớn tinh thần vì bị các môn đệ phản bội. Người đau đớn thể xác vì bị tra tấn, và sau cùng Người đau đớn tâm linh khi cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi.

Đây chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu trao lại cho chúng ta, để khi gặp bất cứ đau khổ nào, chúng ta cũng biết hướng về Chúa Giêsu. Người hiểu được sự đau khổ của chúng ta và sẵn sàng nâng đỡ chúng ta. Từ đó, chúng ta hãy trở lại câu chuyện mở đầu nói về Cha Brandsma. Khi gặp đau đớn dưới bất cứ hình thức nào, không có gì tốt hơn là chúng ta hãy lập lại những lời mà Cha Brandsma đã cầu nguyện với Chúa Giêsu:

“Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa. Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan. Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ. Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi. Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con.”

LM Mark Link, S.J.

Anh chị Thụ & Mai gởi

TÌM AI HAY TÌM GÌ?

 TÌM AI HAY TÌM GÌ? 

     Chúa hỏi môn đệ: “Các anh tìm gì thế?”làm ta giật cả mình! Bởi vì trong đời sống, chúng ta thường đi tìm gì, chứ đâu có đi tìmngười.

 Suốt cả ngày chỉ mải miết tìm việc, tìm tiền, tìm quần áo, tìm đồ đạc, chứ ít khi tìm người.

    Ngay cả trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái ở ngay bên nhau đấy, mà đâu có tìm nhau.  Ai cũng cứ mải mê tìm Tivi, Iphone, Internet… toàn là tìm gì, chứ không tìm người.

 Cả nhà chỉ sống cạnh nhau chứ không sống với nhau, cho nhau và vì nhau!

    Rồi trong đạo, ít khi ta tìm Chúa để thưa với Ngài như Samuen: “Lạy Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Ngược lại, các lời cầu xin của ta thường diễn tả: Lạy Chúa, xin Ngài lắng nghe những điều con sắp phán đây này! Vẫn là tìm gì chứ không tìm Chúa và thánh ý Ngài.

    May thay, hai môn đệ trong Phúc Âm cuối cùng đã đến và ở lại với Chúa. Hai ông đã tìm Chúa thay vì tìmgì. Trong đời, Chúa gọi mỗi người hãy đến ở với Ngài để có thể sống xứng đáng phẩm giá cao cả là hình ảnh Thiên Chúa.

    Chúa vẫn đang cất tiếng gọi, và ta cầntấm lòng để lắng nghe và ý chí để dấn thân. Nhờ đó, thay vì tìm gì, thì ta biết tìm Chúa và tìm nhau cho cuộc đời tươi màu hạnh phúc. Amen.

​TRUONG NGUYEN

From: KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

Hai mục sư VN lão thành theo đạo Tin Lành xin về đạo Công Giáo

Hai mục sư VN lão thành theo đạo Tin Lành xin về đạo Công Giáo

Đây không phải tôi cải đạo mà là trở về cái nhà nguyên thủy của mình

Bài THANH PHONG

Nguồn: báo Viễn Đông

LITTLE SAIGON – Xuất thân trong một gia đình mà thân phụ là cố Mục Sư Nguyễn Văn Xuân, người sáng lập Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam, và mở Bệnh Viện Cơ Đốc Phục Lâm đầu tiên tại Saigon trước 1975, Mục Sư Nguyễn Quang Minh đã theo thân phụ hầu việc Chúa từ năm lên 8 tuổi, đến năm 18 tuổi trở thành nhà truyền đạo (sau này là Mục Sư), tính đến nay ông vừa tròn 80 tuổi. 

 

 

 

 

 

 

 

Mục Sư Nguyễn Quang Minh và linh mục Anh Giáo Minh Hạnh tại tòa soạn Viễn Đông ngày thứ Ba, 9 tháng 1, 2018. (Thanh Phong/ Viễn Đông)
(Tất cả chi tiết về cuộc đời giảng đạo cũng như các hoạt động xã hội của Mục Sư, xin độc giả coi Bài Cậy Đăng cũng trong số báo hôm nay). 

Tuy bị đau yếu nhưng tinh thần Mục Sư vẫn còn sáng suốt, ông cùng với Mục Sư Hà Cẩm Đường, cả hai xin trở về đạo Công Giáo.

Tin này được loan ra, chắc chắn sẽ gây chấn động trong các Hội Thánh Tin Lành và Công Giáo, vì Mục Sư Nguyễn Quang Minh là vị Mục Sư lão thành đã có 60 năm truyền giáo.
Nhật báo Viễn Đông đã mời Mục Sư Nguyễn Quang Minh đến tòa soạn vào trưa thứ Ba, ngày 9 tháng 1, 2018, để xin Mục Sư cho biết nguyên nhân nào khiến Mục Sư trở về đạo Công Giáo. Cùng đi với Mục Sư có hiền thê của ông là bà Minh Hạnh, linh mục Anh Giáo đang phục vụ cộng đồng Mỹ, Việt tại nhà thờ Saint Anlsem, Garden Grove. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn của chúng tôi với Mục Sư Nguyễn Quang Minh.

Viễn Đông: Xin Mục Sư cho biết ý định trở về đạo Công Giáo đã có từ bao giờ?
MS. Nguyễn Quang Minh: Tôi đã có ý định này từ lâu. Trước đây Đức Ông Nguyễn Đức Tiến với chúng tôi rất thân và Đức Ông thương mến chúng tôi, chúng tôi cũng rất qúy mến, kính trọng Đức Ông. Trong buổi mừng Đức Ông 80 tuổi, ngài có mời chúng tôi đến dự và đặt ngồi ở hàng ghế danh dự. Một vài lần Đức Ông và chúng tôi cũng nói chuyện với nhau về Kinh Thánh, Đức Ông Tiến cũng mong muốn tôi trở về đạo Công Giáo nhưng tôi nói với ngài, tôi cần thời gian suy nghĩ, và tôi đã cầu nguyện xin Chúa soi sáng, đồng thời nghiên cứu Kinh Thánh và có ý muốn trở về đạo Công Giáo là đạo do chính Chúa Giêsu thành lập từ trên 2000 năm nay.

VĐ: Với suy nghĩ như vậy, Mục Sư đưa ra quyết định trở về đạo Công Giáo vào lúc nào?
MS. Minh: Tôi đã ngỏ ý đó với Đức Ông Tiến và không may, bệnh tình Đức Ông ngày càng suy sụp. Khi biết tin ngài đang hôn mê, chúng tôi lại thăm ngài ngay nhưng không còn nói chuyện với nhau được nữa. Tôi có thầm hứa với Đức Ông bên giường bệnh là tôi sẽ trở về đạo Công Giáo. Tôi cho thân nhân của Đức Ông Tiến biết, và người nhà Đức Ông mời một linh mục đến gặp tôi, đó là cha Joseph Nguyễn Thái. Tôi và cha Thái đã cùng nhau cầu nguyện cho Đức Ông Tiến, và từ đó đến nay tôi và cha Thái vẫn liên lạc với nhau. 

VĐ: Phản ứng của cha Thái như thế nào, thưa Mục Sư?
MS. Minh: Cha Thái rất vui, cha xưng em với tôi và hứa sẽ trình với Đức Cha Mai Thanh Lương thu xếp cho tôi sớm được toại nguyện, nhưng chưa kịp thì Đức Cha Lương lại qua đời, bây giờ chỉ còn cha Thái lo cho tôi, và cha có hứa sẽ lo các nghi thức cho tôi trở về đạo Công Giáo theo giáo luật Công Giáo.

VĐ: Mục Sư có cho biết, ngoài Mục Sư còn có một Mục Sư lão thành khác cũng xin trở về đạo Công Giáo. Xin cho biết vị ấy là ai?
MS. Minh: Đó là Mục Sư Hà Cẩm Đường, vị này nguyên là một Đại Đức Phật Giáo, theo Tin Lành từ khi còn ở bên đảo, và khi sang Mỹ học đạo rồi được phong Mục Sư, cùng giảng đạo với tôi trên Youtube. Tôi có cho Mục Sư Hà Cẩm Đường biết ý định của tôi, lúc đầu Mục Sư Đường hơi giật mình, nhưng sau đó tôi với MS Đường tâm sự với nhau nhiều về thần học, và nhất là câu mà người Công Giáo khi nói đến Tin Lành thì thường gọi là “Anh em Tin Lành,” ngược lại, không bao giờ người Tin Lành gọi người Công Giáo là anh em. Chúng ta không phải có một Cha chung là Thiên Chúa hay Đức Chúa Trời hay sao? Họ quên rằng các đạo Tin Lành đều tách ly ra khỏi đạo Công Giáo mới 400 năm nay sao? Kinh Thánh Tin Lành từ Công Giáo mà ra, Giáo Lý cũng ra cùng một Kinh Thánh. Sau đó, Mục Sư Hà Cẩm Đường rất mừng, đồng ý sẽ theo tôi cùng trở về đạo Công Giáo, và chắc tôi sẽ phải nhờ cha Thái hay một cha nào trên San Jose lo việc này cho Mục Sư Hà Cẩm Đường vì ông đang phục vụ trên đó.

VĐ: Xin cho biết nguyên do nào thúc đẩy Mục Sư trở về đạo Công Giáo?
MS. Minh: Tôi có cái may mắn là đã phục vụ Chúa 60 năm, qua bảy Giáo Hội, gần đây là Giáo Hội Luther; sau giáo hội Luther lại qua Anh Giáo vì nhà tôi được bổ nhiệm linh mục Anh Giáo nên tôi cũng qua tìm hiểu và càng nghiên cứu, tìm hiểu tôi càng thấy Anh Giáo giống Công Giáo đến 90% chỉ có cái là không có Đức Giáo Hoàng mà thôi. Tôi đã đi qua nhiều Giáo Hội nên càng lúc càng thấy nó gần với Công Giáo, thực sự tôi cũng nói với các cha cũng như các bạn bè rằng, tôi không có “cải đạo.” Đây là mình đi về cái nhà nguyên thủy của mình. 

Rất nhiều người Tin Lành không biết điều này; họ chỉ giống như là sản phẩm của một cái hoa lan trên cây cổ thụ thôi, chỉ biết enjoy cái đẹp của hoa lan nhưng mà không biết cái móc nối với cây đại thụ, cái đó là cái nguồn gốc, mà Giáo Hội Công Giáo xuất phát ra từ thời Chúa Giêsu và mười hai Tông Đồ, mới có Hội Thánh đầu tiên với Thánh Phêrô làm đầu và sau này các Đức Giáo Hoàng kế nhiệm thánh Phêrô. 
Tôi thấy việc bầu chọn vị Giáo Hoàng một cách dân chủ, tôi rất thích. Bên Công Giáo rất hiệp nhất và có hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới. Còn bên Tin Lành rất khó hiệp nhất là đương nhiên rồi mà cũng không thống nhất về thần học nữa, thành ra mỗi một Hội Thánh Tin Lành có cách giải nghĩa Kinh Thánh khác nhau, nếu mà thả ra thì ai xét cái nào đúng cái nào sai? Thành ra mình thấy quý Công Giáo ở chỗ thống nhất về tổ chức, thống nhất về thần học và nếu có điều gì thì Đức Giáo Hoàng là người có ý kiến cuối cùng nhưng không phải mình ngài quyết định, mà còn có Hội Đồng Tòa Thánh, có hàng trăm Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục. 

Về Tin Lành, cái này nó liên quan đến thần học mà tôi học 9 năm thần học và thấy cũng không có cái gì mà trách cứ anh em, họ làm việc hết sức, làm việc với hết tấm lòng kể cả các Mục Sư nhưng nhiều khi vì công ăn việc làm, đa số Mục Sư bên này đều lãnh lương từ trước đến giờ, kể cả ở VN thành ra ăn cây nào phải rào cây đó. Còn tôi, từ 60 năm nay tôi không có chịu ảnh hưởng tiền bạc gì của bất cứ Giáo Hội nào, tôi hầu việc Chúa như thời thánh Phaolô, cái tinh thần nó là như vậy.

VĐ: Khi ngỏ ý trở về đạo Công Giáo, Mục Sư có nhận được ý kiến hay phản ứng gì của các Mục Sư khác?
MS. Minh: Quả thật, đây là một quyết định đòi hỏi sự can đảm và hy sinh vô cùng; chỉ vì Thiên Chúa chứ không phải vì một lý do ích kỷ gì của mình đâu. Nó là cả một diễn trình dài và suy nghĩ, và mình làm mình phải cân nhắc vì anh em, vì bạn bè, gia đình và tất cả. Nếu là một tay tơ lơ mơ hay một tân tòng thì không nói, nhưng mình là một người xuất thân từ gia đình một Mục Sư sáng lập Cơ Đốc Phục Lâm, lại có thời gian lâu dài truyền đạo Tin Lành, nay quyết định về đạo Công Giáo thì không phải chuyện dễ, khó lắm chứ, nên tôi chỉ loan báo cho những người thân biết mà thôi, và “Vì Chúa,” tôi chấp nhận tất cả những ý kiến hay lời phê bình, nếu có, dành cho tôi.

VĐ: Trong thư gửi cho linh mục Nguyễn Thái, mục sư có nói là đã làm xong bổn phận đạo Tin Lành với Phật Giáo, xin Mục Sư nói rõ về điều này. 
MS. Minh: Tôi có hứa đóng vai Liên Tôn cho hai khối Tin Lành và Phật Giáo nhỏ để lập một Hội Đồng Tôn Giáo VN cầu nguyện cho hòa bình thế giới và cho quốc thái dân an. Tôi đã làm xong lời hứa trên đúng vào ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh 25 tháng 12, 2018 vừa qua tại Phật Viện Minh Đăng Quang, Santa Ana. Phật Viện đã chơi nhạc Giáng Sinh cho toàn thể 100 chức sắc và Phật tử nghe cách vui mừng. Buổi lễ, tôi và linh mục Anh Giáo là Minh Hạnh, hiền thê của tôi cầu nguyện xin Chúa chúc lành cho sự hiệp nhất tôn giáo mà Giáo Hội Công Giáo luôn chủ trương.
VĐ: Trong lúc này Mục Sư có điều mong ước gì?
MS. Minh: Tôi mong sớm trở về đạo Công Giáo. Chỉ sợ điều mong ước của mình chưa thành thì mình đã ra đi.

VĐ: Thưa linh mục Minh Hạnh. Là một linh mục Anh Giáo, linh mục có đồng ý để phu quân từ cương vị một Mục Sư trở về làm một tín hữu đạo Công Giáo hay không?
LM. Minh Hạnh: Tôi tôn trọng ý kiến của nhà tôi, tôi tán đồng việc ông trở về đạo Công Giáo.

VĐ: Liệu sau này linh mục có theo phu quân trở về Công Giáo?
LM. Minh Hạnh: Có thể lắm chứ.
Chúng tôi cũng điện thoại hỏi Linh Mục Joseph Nguyễn Thái, nguyên Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo, hiện là Quản nhiệm Cộng Đoàn Thánh Giuse, giáo xứ Saint Barbara.
LM. Nguyễn Thái trả lời: Việc Mục Sư Nguyễn Quang Minh xin trở về đạo Công Giáo là chính xác, còn thủ tục tiến hành theo giáo luật thì đang xúc tiến.

TÌM… NHƯ THỂ TÌM CHIM

 

TÌM… NHƯ THỂ TÌM CHIM

Con đi tìm Chúa trong lụa là gấm vóc, trong trưng diện xa hoa mỹ lệ, trong mâm cao cỗ đầy kẻ hầu người hạ.  Người tìm con trong nghèo hèn đói rách tả tơi, trong bữa cơm rau chan mồ hôi nước mắt.

Con tìm Ngài trong nhà lầu xe hơi bóng láng.  Ngài tìm con trong nhà tranh vách đất nghiêng nghiêng.

Con đi tìm Ngài trong vinh quang chức bậc quyền uy thống trị cha chú.  Ngài tìm con trong khiêm tốn, đầy tớ khiêm nhu.

Con tìm Ngài nơi nhà thờ cao sang tráng lệ.  Ngài tìm con trong nhà nguyện túp lều rách nát phơi sương bốn mùa.

Con tìm Ngài trong sách vở kho tàng kiến thức, những tư tưởng uyên bác cao siêu.  Ngài tìm con trong dốt nát, đơn sơ khiêm hạ nhỏ bé.

Con tìm Ngài nơi người đạo đức trưởng giả quý phái.  Ngài tìm con trong người lầm lì chai đá với trái tim khô vì thèm khát tình yêu.

Con tìm Ngài trong sức mạnh phe đảng, đám đông hống hách.  Ngài tìm con trong yếu đuối cô thế cô thân, thấp cổ bé miệng.

Con tìm Ngài trong lễ nghi ồn ào náo động.  Ngài tìm con trong thinh lặng âm thầm lặng lẽ.

Con tìm Ngài nơi trưng bày ảnh tượng hoa nến lung linh nhang khói mịt mờ.  Ngài tìm con trong đáy sâu tâm hồn tình yêu sức sống

Con tìm Ngài trong biện pháp khai trừ, trục xuất, dẹp bỏ, xua đi.  Ngài tìm con ở nơi không nỡ dập tắt tim đèn còn leo lét, bẻ gẫy cây lau bị giập.

Con tìm Ngài nơi những khuôn mặt trái soan, mũi dọc dừa, mắt bồ câu, môi trái tim.  Ngài tìm con trong gương mặt trái mít, mắt ghèn, mồm méo, răng mái hiên.

Con tìm Ngài nơi cô độc lẻ loi khép kín đóng khung che đậy.  Ngài tìm con trong đám đông thợ thuyền công nhân nhà máy đơn sơ mộc mạc chất phác.

Con tìm Ngài trong cơ cấu cứng ngắcluật lệ nề nếp khắt khe.  Ngài tìm con trong tình yêu con cái thắm thiết nồng nàn tung bay thoáng mát.

Con tìm Ngài nơi người trẻ hào nhoáng cao hứng bốc đồng hồng hào quyến rũ.  Ngài tìm con nơi ông già bà cả nhăn nheo trải dài mưa sương nắng gió cô đơn lẻ loi.

Con tìm Ngài trên con đường dễ dãi thênh thang, tự do phóng túng bừa bãi.  Ngài tìm con trên con đường nhỏ hẹp dẫn đến tin yêu.

Và rồi, cứ thế…cứ thế… con hụt hơi, mòn mỏi đôi chân, rã rời thân xác, mắt mờ họng ráo khô, suy sụp tinh thần.  Lạy Chúa, suốt đời con không gặp được Chúa, Chúa không gặp được con.  Để Chúa và con cứ tìm nhau mãi, tìm nhau mãi….

Mong Manh

From:   Langthangchieutim 

Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không?

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật Thứ Hai Thường Niên năm B 14/01/2018

Tin Mừng (Ga 1: 35-42)

Hôm ấy, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa.” Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Họ đáp: “Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?” Người bảo họ: “Đến mà xem.” Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.

 Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giê-su. Trước hết, ông gặp em mình là ông Simôn và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (nghĩa là Đấng Kitô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giê-su nhìn ông Simôn và nói: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (tức là Phêrô).

 &    &    &

“Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không?”

“Mà đây lòng trắng một mùa đông.”

(dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương).

 Mai Tá lược dịch.

Tuyết rơi, có rơi xuống mười phương hay tám hướng đi nữa, vẫn cứ lạnh. Tuyết vẫn lạnh, còn hơn cơn bão của “lòng trắng một mùa đông” khi hội lễ Chúa Giáng Hạ vừa mới dứt. Và nay, người người về lại với mùa thường niên để rồi sẽ bước vào mùa Chay tịnh, có trình thuật rất sưởi ấm.

Trình thuật, nay thánh sử ghi về sứ vụ công khai của Đức Giêsu luôn sưởi ấm con người bằng tình thương yêu cứu độ. Trình thuật, thánh sử viết ngay ban đầu về nhận định của thánh Gioan Tẩy giả khi thấy Đức Giêsu đi ngang: “Này là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1: 36).  Qua nhận định này, thánh Gioan Tẩy Giả xác nhận vai trò của Chúa trong công trình cứu độ, do Cha gửi. Nhận định ấy, được diễn bày vào tuần tới, ở các bài Tin Mừng do thánh Mác-cô ghi. Thế nên, đây là dịp tốt để người người tìm hiểu ý-lực được thánh Máccô làm nền cho Tân Ước, để ta hiểu.

Với thánh Máccô, Tin Mừng là tin rất mừng gửi đến dân con Chúa sống ở Rôma, ít năm sau ngày Giêrusalem bị đập phá. Đó, là lúc dân Chúa bị thúc ép làm nô lệ đến cùng tột, để rồi cũng chết khổ nhục như Thầy mình. Đó, cũng là lúc dân-Chúa-chọn bị bách hại đủ điều dưới chế độ đầy bạo lực của đế quốc Rôma tàn ác. Nhưng, trình thuật thánh Mác-cô vẫn viết theo chiều hướng tư riêng, sâu sắc không bị ảnh hưởng của những hành xử từ người của đế quốc.

Thánh Máccô coi thế giới ta đang sống như một pháp trường đầy sức chiến đấu. Pháp trường này, có đủ sinh lực để chống lại mãnh lực của sự chết, hệt như bi kịch cuộc đời. Thế nên, ngay ở đầu sách Tin Mừng, thánh sử đã vẽ lên cảnh trí Chúa chìm ngập trong mãnh lực của sự chết, khi Ngài dầm mình nơi sông Giođan để nhận thanh tẩy, từ Gioan Tẩy Giả. Và từ đó, Ngài nhận sức sống đầy Thần Khí khi rời sông nước. Thánh nhân lại viết thêm cảnh Chúa bước vào sa mạc, chốn miền của những khô cằn đầy chết chóc không một ai sống sót; nhưng Ngài tồn tại sau 40 ngày, bởi nơi Ngài tràn đầy sự sống. Và, sứ vụ của Ngài thắng vượt sức mạnh của cái chết tạo cho Ngài cũng như hết thảy chúng ta.

Thánh sử Máccô nhận xét thấy ngay trong mãnh lực của sự chết vẫn có kẻ “xuất quỷ nhập thần” vẫn kềm chế được. Chính vì thế, phần đầu Tin Mừng, thánh sử kể cho mọi người nghe truyện Chúa tống khứ đám quỷ sứ khỏi người bị ma nhập, nơi đền thờ.

Rồi, Chúa lại chữa lành kẻ mắc bệnh phung cũng bị người đời coi như đã chết dần chết mòn. Sau đó, thánh nhân giải thích về sinh lực sự sống nơi Đức Chúa. Đó không là “mãnh lực của tà thần”, nhưng trái lại, chính Ngài đã tống xuất uy lực của sự chết bằng việc chứng tỏ Ngài mạnh hơn chúng. Ngài làm thế, qua việc chữa lành cho người bệnh, khỏi mãnh lực của tà thần mà họ từng bị uy hiếp. Ngài chữa lành bằng sờ chạm đầy xót thương.

Đức Giêsu chứng tỏ cho mọi người thấy tình thương yêu/đùm bọc tiếp cận được mọi người sẽ mạnh mẽ hơn mọi uy lực, dù là uy lực của sự sống hay nỗi chết. Đây, là điểm nhấn mà các Đức Giáo Hoàng từ Đức Phaolô VI đến các vị về sau, vẫn gọi sự kiện này là “văn hoá của thương yêu”.

Kịp đến khi thánh Gioan Tẩy Giả bị vua quan giết chết, thánh Mác-cô lại kể cho người đọc Tin Mừng biết những ám muội do sức mạnh của tà thần/sự chết tập hợp và trực chỉ vào chính Chúa. Ngài thân hành đi Giêrusalem để giáp mặt với chúng. Giáp mặt không theo kiểu của giác đấu có người thắng, kẻ thua. Ở tình huống này, Ngài tuyên bố Ngài đến không phải để toàn thắng mọi chuyện nhưng là để “phục vụ”, tức cho đi trọn vẹn con người của Ngài như một bảo đảm cho tất cả những ai bị sức mạnh của tà thần sự chết ám hại.

Ngài đã cho đi chính mình Ngài, cho mọi người, không để sử dụng theo cung cách khuynh loát, thống trị mà như món quà dịu hiền để giải thoát con người khỏi mọi loại hình quyền lực. Cách duy nhất giúp Ngài thực hiện điều ấy là bằng cách tự thăng hoá tình thương yêu đối với những người bị hãm hại. Bằng vào con đường sống đem đến cho Ngài vì mục đích cao cả ấy. Thánh Máccô cho thấy Đức Giêsu luôn chọn lập trường chống lại quyền hành và ưu đãi để có thể làm được thế. Thánh sử còn cho biết: ngay đến môn đồ Ngài cũng hiểu sai hoặc không nhìn thấy mục tiêu Ngài đi tới.

Thánh Máccô nhìn về Hội thánh như thánh hội hành xử khác với đồ đệ của Chúa. Nhưng, ngay sau khi Chúa sống lại, Hội thánh biết dấn bước theo bước đường Ngài đi ngõ hầu làm sống lên sức sống đã được Thần Khí Chúa hỗ trợ bằng mọi ân lộc của ngày lễ Ngũ Tuần.

Với thánh Máccô, điểm đặc trưng nơi Đức Giêsu là tính nhân hiền, hiện thực. Đức Giêsu ở Tin Mừng thánh Máccô là Đấng sống trong cảnh dậy sóng, rất phong ba. Ngài không như người Galilê nhàn nhã, với tướng tá một lãnh tụ. Ngài chẳng có nét vẻ anh hùng La Mã, Hy Lạp hay Do thái. Ngài chỉ trải rộng cho người sống chung quanh sự kinh ngạc, hoảng hốt đến độ khao khát sự cao cả. Với họ, lời Ngài rất phức tạp, khó hiểu. Toàn ý tưởng làm đồ đệ rối trí. Ai thích chuyện nổ dòn hoặc nệ cổ đều không ưa kiểu Ngài giảng dạy. Họ chỉ muốn Ngài toàn thắng quan chức đô hộ, lộng hành bằng tính quả cảm dám ăn dám nói trước mãnh lực của sự dữ. Ngài là Đấng duy thực cao cả chưa từng thấy. Dám trực diện sự chết. Cung cách của Ngài hiền từ, êm dịu hơn mọi người. Nơi Ngài, mọi người thấy phát tiết sự hiền dịu trỗi dậy từ sự chết.

Với Tin Mừng thánh Máccô, người đọc không thấy nói việc Chúa sinh ra. Nhưng, tác giả đi thẳng vào việc gặp gỡ Đức Kitô trưởng thành dính dự vào những vấn đề của đời Ngài. Ngài giữ kín lý lịch. Ngài chẳng muốn làm phép lạ để tỏ ra là mình cao cả. Nhưng Ngài liều lĩnh đưa mạng sống mình ra để giải thoát sự sống rất hiền dịu là Nước Trời, cho mọi người. Dù có bị hành hình đến nỗi chết, Ngài vẫn hiên ngang tiến tới. Ngài không có uy lực trên mọi người, nhưng lại có “quyền lực” trên mọi sức mạnh phi nhân bản chỉ muốn kềm chế con người.

Sống như thế, Đức Giêsu chừng như thách thức các nhóm người Do thái đã vững chãi vào thời Ngài. Họ đáp trả bằng việc ly cách Ngài khỏi dân và cuối cùng bằng cái chết rất khổ nhục. Tin Mừng của thánh Máccô viết về Chúa là viết về thân phận của Đức Giêsu đặt trong tay của những con người không niềm tin.

Cuối cùng, Ngài chết trong bóng tối. Và lúc ấy, không có dấu hiệu của sự trỗi dậy và các phụ nữ đành bỏ về trong lặng thinh. Nhưng, Đấng Dịu Hiền đã trổi dậy, về với Galilê để tiếp tục làm sạch nhân trần khỏi uy lực bạo tàn của sự chết. Với thánh Máccô, sống lại không phải là kết hậu cho truyện kể rất sầu buồn. Đó là khởi đầu của truyện kể mới. Một hiện hữu mới đem đến với Chúa, với đồ đệ và với người đọc Tin Mừng, thánh nhân viết. Vào cuối trang Tin Mừng, thánh Máccô nói các phụ nữ bỏ chạy vì hãi sợ. Cứ từ từ xem sao. Vâng. Có thể là, thánh Máccô trả lời: sao quý vị lại cứ nghĩ là chính tôi phải viết những đoạn kế tiếp? Chính quý vị mới là người lãnh trách nhiệm tiếp tục viết Tin Mừng.

Nơi thánh Máccô, quả có sự hiện thực khá bất thường. Bất thường là thánh nhân đề nghị chúng ta chỉ lĩnh hội khá nhiều thực tế, rất như thế. Thánh Mác-cô trình và thuật cho ta thấy Đức Giêsu có thể đảm nhận trọng trách ấy. Đồng thời, nơi thánh Mác-cô lại có sự hiền dịu rất bất thường. Trong khi đa số con dân Chúa chỉ có rất ít sự hiền dịu ấy. Phần đông chúng ta đều nhìn thấy được sự hiền dịu ở nơi nào sự hiện thực đang nhạt phai.Thánh Mác-cô còn cho thấy nơi Đức Giêsu, sự hiền dịu đã lên đến cực điểm ngay giữa hiện thực. Đó là nghịch thường của Tin Mừng do thánh nhân viết. Chính đó vừa là sự chết và sống lại hiện hữu cùng một lượt.

Phụng vụ năm nay còn trưng dẫn nhiều chương đoạn của Tin Mừng thánh Máccô viết. Và, người đọc cũng còn học được nhiều điều về cuộc sống. Về, sự sống có nỗi chết . Về sự sống ngay chính giữa nỗi chết. Có người quan niệm: Mùa Chay năm nay sẽ bắt đầu hơi sớm. Nhưng nếu đọc kỹ Tin Mừng thánh Máccô viết, ta sẽ còn thấy rõ, theo chừng mực nào đó, mùa chay tịnh đã bắt đầu từ lâu rồi. Bắt đầu từ cuộc sống mới chớm, ở nơi ta.

Trong tâm tình nhận ra mùa chay trong đời người, cũng nên ngâm lên lời thơ trên để vui sống:

“Tương tư nổi đuốc thâu canh đợi

Thoảng gió ..trà mi động mấy bông..”

(Vũ Hoàng Chương – Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai?)

Có nổi đuốc thâu canh đợi mấy đi nữa, cũng chẳng thấy rõ Mùa Chay đời người đã có đó nơi con người. Bởi, sự sống của mỗi người đều đính kèm mãnh lực của sự chết, rất dễ biết. Biết rõ khi nhận thức được sự hiền dịu của Đức Chúa, nơi hiện thực ở đời người.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –

Mai Tá lược dịch.

Người về như bụi

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 thường niên năm B 14-01-2018

 “Người về như bụi”
vàng trang sách xưa
người về như mưa
soi tìm dấu cũ.

(Du Tử Lê-Hoàng Quốc Bảo – Người Về Như Bụi)

(Gioan 21: 25; 20: 30).

Trần Ngọc Mười Hai

Về đâu thì về. Như gì thì như, nhưng sao cứ “như bụi”, để rồi lại cũng “buồn như cỏ”, có “gió ngang qua thềm nhà”? Ối chà, là thơ văn/nghệ thuật rất âm thanh. Ối giời, là âm thanh với âm nhạc của người Việt tuyệt vời một cõi thơ! Vâng. Thi-ca là thế đấy, cũng rất đúng. Âm nhạc, lại cũng là như vậy, rất thế vậy. Như thế và như vậy, còn có nghĩa như khúc nhạc sau đây:

“Tôi buồn như cỏ.
một đời héo khô.
tôi buồn như gió.
ngang qua thềm nhà.
thấy ai ngồi đợi.
bóng hình chia đôi.
sầu tôi lụ khụ.
người về như sông.
buồn tôi quanh năm.
người về như đêm.
tình tôi phập phều.
những tăm phụ bạc.
lòng tôi gian ác.
dấu trong miệng cười.
người về như sương.
ẩn sau hang động.
người về trong gương.
thấy mình mất tích.
người về như sông.
tràn tôi, lụt lội.
hồn tôi thả nổi.
như khóm lục bình.
sầu ai về cội.

(Du Tử Lê-Hoàng Quốc Bảo – bđd)

Vâng. Thi-ca/âm nhạc nay vẫn thế, cứ rối bời. Lại vẫn rối bời hơn cả chuyện Đạo trong đời; hoặc, chuyện đời người đi Đạo, hệt như lời thắc mắc/hỏi han sau đây:

“Kính thưa Cha,

Vừa rồi con có trò chuyện với các bạn bên phía Thệ Phản bàn về vấn-đề niềm tin, nhiều người trong họ lại cứ bảo: họ sẽ không chấp-nhận bất cứ tin-tưởng nào trừ phi kiếm được điều ấy, ở thánh kinh. Có nhiều điều như chuyện tin có Luyện ngục đại-để không ai biết rõ điều này có nằm trong Kinh thánh không. Vậy, làm sao trả lời các vị ấy, đây. Xin cha góp ý cho con với.” (Câu hỏi không ghi tên của ai hết).

Lại một câu hỏi không thấy ghi tên/tuổi người gửi, nên chẳng thể nào biết được người hỏi ra sao: già/trẻ, trai/gái Tây/ta như thế nào. Thôi thì, chỉ cần biết mỗi điều là người ấy chịu đưa ra câu hỏi, tức thì đấng bậc vị vọng sẽ lấy giấy bút trà lơi ngay thôi. Nghề của chàng mà. Vậy thì, mời bạn, mời tôi ta hãy nghe cho biết ất giáp thế nào đây. Và, câu trả lời bao giờ cũng trịnh trọng như thế này:

“Bạn bè của anh/chị lại cũng giống như hầu hết những người Thệ Phản đều bám chặt vào niềm tin tưởng bảo rằng: cội nguồn mọi sự thật về đạo lại chính là Thánh Kinh, và rằng: nếu nhiều sự việc không thấy ở Thánh Kinh, đơn-giản vì đó không thật và không được viết để mọi người tin.

 Tất cả những người này đều tin rằng Thiên-Chúa đã để lại trong Kinh thánh tất cả những gì Ngài muốn cho chúng ta tin. Điều này được hiểu như nguyên-tắc gọi là “Sola Scriptura”, tức: chỉ mỗi Thánh Kinh, chính là nguồn gốc của mọi sự thật. Người Thệ Phản tin rằng: ta không cần Truyền thống Giáo hội, hoặc huấn-quyền của Hội thánh mới biết rõ những gì là sự thật.

 Vậy, ta trả lời họ sao đây? Thật ra, có nhiều cách cho thấy nguyên-tắc này không bảo-vệ được, dù ta có bàn cãi điều ấy cách lịch-sự, bình-tâm và lý-sự hẳn hòi, chứ không theo cảm xúc.

 Cuối cùng thì, các bạn đạo Thệ Phản của ta đều là tín-đồ tốt lành/hạnh đạo và họ cũng công-nhận những gì được dạy dỗ giống như ta, mà thôi. Khởi từ chính Thánh Kinh, là tài-liệu mà mọi người Thệ Phản đều công-nhận, ta có thể nhắm vào hai đoạn văn khả dĩ đánh mạnh lên luận-điểm viện vào nguyên-tắc duy-nhất chỉ tin vào Kinh thánh, mà thôi. Thứ nhất, là: ở đoạn cuối Tin Mừng theo thánh Gioan, ta đọc được lập trường bảo rằng: “Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.”(Gioan 21: 25; 20: 30).

Rõ ràng là, rút từ câu cuối sách Tin Mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu cũng từng nói và làm rất nhiều điều mà Tân Ước không ghi chép hết. Thật ra thì, không phải bất cứ điều gì Ngài dạy cũng được ghi lại trong Kinh thánh hết cả đâu.

 Tỉ như, giáo-huấn Ngài truyền dạy về Luyện ngục, như anh/chị đề-cập, không thấy xuất hiện trong Kinh thánh, dù nhiều chương-đoạn đều ám-chỉ chuyện ấy. Dầu sao đi nữa, rất có thể là Đức Giêsu từng nói với các tông-đồ về tầm quan-trọng của việc cầu-nguyện và dâng lễ-vật trong Tiệc Thánh để cầu cho linh-hồn của các tín-hữu đã ra đi, bởi đây là thói quen của người Do-thái-giáo sống vào thời đó (Máccô 12: 42-45).

 Thành thử, thời xưa/cổ, việc cầu nguyện cho tín-hữu đã qua đời được phổ-biến rộng đến độ thánh Isiđôrô thành Seville (chết vào năm 636) cũng từng bảo: “Việc dâng của lễ hy-sinh (trong thánh-lễ) cầu cho các tín-hữu đã qua đời, là thói quen còn tồn-tại trên khắp thế giới. Chính vì lý do này, khiến chúng ta tin rằng: đây là tập tục được các thánh tông-đồ dạy-dỗ con dân mọi người nên làm thế. (Xem “On ecclesiarical offices”, đoạn 1). Bởi, nếu các thánh tông-đồ có làm thế, hẳn là các ngài cũng học được điều ấy từ nơi Đức Kitô.

 Đoạn trích thứ hai từ thánh Phaolô tông-đồ, cũng đã gây tổn-hại cho nguyên tắc “chỉ mỗi Thánh Kinh                   

Thôi”. Ngay ở đây, thánh Phaolô có nói rằng nền-tảng của sự thật chính là Giáo-Hội chứ không phải Thánh Kinh: “Tôi viết cho anh thư này, dù vẫn hy vọng sớm đến với anh. Nhưng nếu tôi chậm trễ, thì thư này sẽ cho anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức: Hội-Thánh của Thiên-Chúa hằng sống, là cột-trụ và điểm tựa của chân lý.” (1Timôtê 3: 14-15)

 Trường-hợp nào cũng thế, giả như người Thệ-Phản muốn bảo rằng: chỉ mỗi Thánh Kinh là nguồn-cội của mọi sự thật, thì họ cũng sẽ có khả-năng điềm-chỉ bản-văn Kinh thánh nào nói như thế, và dĩ nhiên là chẳng có văn-bản nào như thế hết.

 Cũng nên nhớ rằng: chính Giáo-hội được Chúa Thánh Thần hướng-dẫn, đã quyết-định rằng: nhiều bản-văn được lưu-chuyển hồi thế kỷ thứ nhất vẫn được coi là Lời Chúa có nguồn hứng được bao gộp trong “Kinh bộ” qui-điển của Thánh Kinh. Tiến-trình này tiếp-diễn nhiều thế-kỷ. Không có Giáo-hội, thì ngay đến Thánh Kinh ta cũng không có được.

 Lại nữa, lâu nay cũng chính Thánh Kinh, vốn dựa trên văn-bản của các thánh Tổ phụ, như thánh Âu-tinh, Giêrônimô, Gioan Kim Khẩu, vv… là những vị từng đem đến cho ta lời chú-giải chân-thực của Kinh thánh.

 Thánh kinh chỉ được hiểu và giải-thích cách an-toàn trong Truyền-thống của Giáo-hội mà thôi. Ví dụ như: Truyền-thống sống động này luôn hiểu/biết lời Đức Giêsu nói về một người từng rẫy vợ và đi cưới người khác làm ví-dụ để rồi Ngài cấm đoán chuyện ly-dị vợ rồi lại tái giá.

 

Phần đông các giáo-phái Thệ Phản đều cho phép ly-dị và tái-tạo hôn-nhân. Vậy thì, ở đây ai có lý? Giáo-hội do Đức Giêsu thiết-lập vốn cho phép thực-hiện giáo-huấn này suốt hai ngàn năm; hoặc, một loạt các cộng-đoàn được thiết-lập vào thế kỷ thứ 16 vốn dạy ta những điều ngược lại?    

 Ta cũng nói được như thế với niềm tin về sự hiện-diện đích-thực của Đức Kitô trong Tiệc Thánh Thể từng được Đức Giêsu nói rõ tại hội-đường Do-thái-giáo ở Caphanaum được thánh Phaolô lặp lại trong thư ngài viết (X. Gioan 6: 51-58; 1Corintho6 11: 27-29).

Rõ ràng là, “chỉ mỗi Thánh Kinh thôi” cũng không đủ. Ta cần cả Truyền-thống sống động của Giáo-hội từng ban tặng cho ta nhiều sách trong Kinh thánh và từng gìn giữ cũng như diễn-giải các sự việc ghi trong đó theo tâm-trí của Đức Kitô Giêsu.” (X. Lm John Flader, Catholics beliefs not in the Bible? It’s not so straightforward as that, The Catholic Weekley 29/3/2015, tr. 36)

Về nỗi buồn man-mác chốn “luyện tội”, tưởng cũng nên trở về với Lời Vàng Bậc Hiển Thánh ghi như sau:

“Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến.

Bấy giờ Người nói với các ông:

“Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.

Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.”

Người đi xa hơn một chút,

sấp mặt xuống,

cầu nguyện rằng:

“Lạy Cha, nếu có thể được,

xin cho con khỏi phải uống chén này.

Tuy vậy, xin đừng theo ý con,

mà xin theo ý Cha.”

(Mt 26: 37-40)

“Buồn bã đến chết được”, phải chăng là tâm-trạng của người Thày, trước khi chết? “Xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha”, cũng có thể là ý của Cha, Con và mọi người trước mọi quyết-địng quan-trọng của cuộc đời.

Cuối cùng thì, ai cũng vậy. Có là Thệ Phản, Công Giáo hay Tin Lành, ắt hẳn mọi người đều có niềm tin như nhau, giống nhau? Phải chăng có khác nhau thì cũng chỉ khác mỗi chuyện là: cường-độ niềm tin ấy ra như thế nào? Ảnh-hưởng lên cuộc sống của người ấy, sẽ ra sao?

Để trả lời, tưởng cũng nên ghi lại ở đây một minh hoạ về cường-độ của mọi việc trên đời. Minh-hoạ đây, là truyện kể tuy hư-cấu, tức có nghĩa: chả chắc gì mọi người đồng-thuận, nhưng chỉ để mua vui cũng được một vài “phút giây” trong đời đi Đạo làm kim chỉ nam hướng dẫn cuộc đời mình.

Vâng. Các câu truyện kể ở bên dưới đều có lời bàn như sau:

1- Có ông bạn nọ hay bị bạn bè chê cười vì sợ vợ, ông ta bèn tìm đến một người bạn và hỏi làm thế nào để hết sợ. Bạn ông ta khuyên:

-Ông thử uống rượu vào xem, có chút men sẽ làm ông tự tin hơn khi đứng trước bà ấy. Vài ngày sau, ông chồng gặp lại bạn và than:

-Thôi, thôi! Tôi chẳng dám làm theo cách ấy nữa đâu. Hôm trước, tôi thử uống rượu và nhìn bà ấy thành hai, nỗi sợ của tôi còn tăng gấp đôi.

 LỜI BÀN NGẮN: Người đàn ông này sợ vợ. Nghe lời bạn khuyên, uống rượu vào cho hết sợ. Nào ngờ, rượu vào nhìn vợ, ông ấy lại sợ nhiều hơn. Cách giải quyết này mới nghe người khác nghĩ là thất bại. Có lẽ không phải thế. Sợ vợ là một căn bệnh. Muốn hết bệnh đương sự phải dung thuốc. Khi uống thuốc đương sự cần uống đủ liều trong một thời gian nào đó. Bệnh đã lâu, thuốc mới uống có một lần, mà liều lượng lại chưa đủ, bệnh quen đi, sợ hãi dĩ nhiên vẫn còn, không những thế lại tăng

thêm. Trường hợp này giống như bệnh nhân uống trụ sinh vậy. Phải uống đủ “đô” mỗi ngày và phải uống 10 ngày rồi tái khám xem xét kết quả lại.

 Vậy đương sự cần thử lại. Hãy uống rượu vang mỗi tối – rượu vang California rẻ rề, vừa ngon vừa bổ -uống luôn một tháng, mỗi lần uống ít nhất một nửa chai. Cứ làm đều như thế. Khi rượu đã thấm thì người ta “hết biết”, hết thấy và do đó hết sợ. Cùng lắm là ngủ say thôi. Chỉ có điều đáng lo là người đàn ông này trong giấc ngủ lại nhìn thấy ác mộng. Đến nước này thì bệnh kể như hết thuốc chữa, đành phải chịu thua thôi, để cho nhà cửa yên ấm. Mà nếu sợ riết người ta thành quen. Khi đã quen người ta hết sợ. Cứ nghĩ rằng vợ mình mình sợ, không sợ vợ của anh hàng xóm thì có xấu hổ gì mà phải lo!

 2.Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khách, có người hỏi:

-Trong đám ta đây ai là người sợ vợ nhất?

Chưa ai dám đáp thì sư cụ đã nhận ngay:

-Kể sợ thì tôi đây sợ nhất!

Mọi người lấy làm lạ mới hỏi: – Sư cụ có vợ đâu mà sợ?

-Tôi sợ đến nỗi không dám lấy vợ.

 LỜI BÀN NGẮN: Nghe chuyện sư cụ tưởng chơi, hoá ra chuyện này y chang như tôi. Cứ thành thật, tự giác và khai báo trước, mọi người biết rõ ràng sự việc từ đầu chẳng còn lý do gì để đàm tiếu, chứ mà cứ dấu đầu lòi đuôi đến khi bị khám phá ra là sợ vợ thì kể như chút uy tín còn sót lại sẽ mất sạch.

 3.Chồng cãi nhau với vợ. Sau khi chuẩn bị hành trang để ra đi, anh ta liền nói lời từ biệt:

-Tôi tự nguyện đi làm nhà du hành vũ trụ đây. Thà va đập vào các thiên thể, hy sinh ở một hành tinh bí ẩn nào đó còn hơn cãi cọ suốt đời thế này với cô!

Nói rồi anh ta đi ra và đóng sập cửa lại. Nhưng chỉ một phút sau đã quay vào nói:

-Cô thế mà may! Ngoài phố trời mưa.

 LỜI BÀN NGẮN: Không phải chuyện gì con người ta muốn đều được toại nguyện đâu, kể cả chuyện nhỏ. Chẳng thế mà người Việt có câu “Mưu sự tại nhân mà thành sự tại thiên” là như thế.

 Nói tóm lại, được thua còn mất tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố ngoại lai hay tha lực. Khả năng con người không giải quyết hết được mọi chuyện họ muốn trên đời khi nhân duyên chưa hội đủ. Một anh chàng ra vẻ ta đây là người không sợ vợ, hung hổ tuyên bố với bạn bè rằng:

-Vợ tôi ý à, hư là tôi vả cho gãy hết cả răng ấy chứ.

-Chà, thế bây giờ xin được hỏi rằng, răng vợ cậu là thật hay giả?

-Thật 100% – Còn răng của cậu?

-Có cái nào còn là thật đâu!

 LỜI BÀN NGẮN: Nhiều người năng nổ, hay nhìn ra mà không chịu nhìn vào. Cái này gọi là tự ti mặc cảm, cái cách khỏa lấp nhược điểm của mình, vì cái ngã của họ. Cho nên người đời khuyên nhủ, trước khi nói phải uốn lưỡi hay soi gương cho kỹ, rất hợp lý. Không làm thế tự mình đưa mình vào thế kẹt.

 3.Có anh nọ xưa nay rất là sợ vợ. Vợ nó quát tháo thế nào, anh ta cũng ngậm miệng, không dám cãi một lời. Anh ta đi đánh bạc, mãi xẩm tối mới về. Thổi cơm ăn xong, chị vợ ngồi chờ chồng mỏi mắt. Chị ta tức lắm. Khi anh chồng vừa mới ló mặt vào ngõ, chị ta đã chạy ra túm ngực lôi vào nhà, gầm rít. Anh ta vừa gỡ tay vợ túm ngực, vừa kêu xin:

-Bỏ tôi ra! Tôi xin má nó! Chị vợ được thể càng làm già, túm luôn tóc ấn đầu anh ta xuống. Anh ta liền vung tay gạt ngã chị vợ, tát cho luôn chị vợ mấy cái, rồi trợn mắt, quát:

-Người ta đã sợ thì để cho người ta sợ chứ!

 LỜI BÀN NGẮN: Đây là bài học cho các bà. Nếu biết người phối ngẫu đã sợ mình, chớ dồn đối phương vào chân tường kẻo bang giao “tốt đẹp” xưa nay bị sứt mẻ.

 4.Chàng trai đi chơi về muộn, tâm sự với bạn:

-Ước gì lúc này tớ được là con chuột nhỉ!

-Sao ông có ý muốn lạ lùng vậy? Làm người chẳng sướng hơn sao?

-Đúng thế. Nhưng vì chuột là con vật duy nhất mà vợ tớ sợ.

 LỜI BÀN NGẮN: Cũng là một cách trả thù vợ. Nhưng thuộc loại không tưởng. Đang làm chồng ngon lành lại đi ước mơ làm chuột nhắt, rõ khổ!

 4.Dưới địa ngục, Diêm Vương tập hợp tất cả đàn ông lại và nói:

-Ai sợ vợ đứng sang 1 bên!!!. Tất cả lũ lượt kéo nhau sang bên “sợ vợ” chỉ còn đúng 1 người đàn ông đứng ở bên “không sợ vợ”. Diêm Vương lại gần vỗ vai anh ta và nói:

-Anh đúng là 1 người đàn ông dũng cảm và gan dạ. Vì sao anh lại không sợ vợ?

Anh ta trả lời:

-Dạ thưa vợ tôi dặn không được tụ tập ở chỗ đông người.

 LỜI BÀN NGẮN: Sợ vợ kiểu anh này thuộc loại thâm căn cố đế, nó nhiễm sâu vào máu rồi. Đã xuống tới tận cùng địa ngục rồi, đã xa rời bà vợ, đi sang một cảnh giới khác rồi, mà vẫn còn sợ vợ nhà, sợ còn hơn cả Diêm Vương với lò thiêu, chảo dầu sôi, anh này đúng là đã bị vợ tẩy não lúc còn ở trên dương thế. May mà anh này xuống địa ngục cho nên bà vợ không đi theo chứ anh ấy mà lên thiên đàng chắc bà vợ sẽ kè kè đi theo để giám sát thì không biết đời anh sẽ còn vất vả như thế nào. Câu nói “Trong cái rủi có cái may, trong cái xui có cái hên” có vẻ ứng vào anh này. Bị xuống địa ngục là xui, nhưng thoát khỏi tay bà vợ lại là hên, nhưng cái hên không trọn vẹn. Anh này vẫn còn nỗi sợ trong tâm tưởng. Dám anh này làm Diêm Vương tò mò về bà vợ của anh không chừng!

 5.Hai người cùng sợ vợ, lâu ngày thành bệnh, một người khạc ra đờm đỏ, một người khạc ra đờm xanh. Họ rủ nhau đi tìm thầy chạy chữa. Thầy bảo:

-Ðờm đỏ, may còn hi vọng, chứ đờm xanh thì chịu, không sao chữa được nữa. Nên về mà lo hậu sự đi thôi.

Cả hai cùng hỏi thầy:

-Sao đờm xanh, đờm đỏ lại khác nhau như thế?

Thầy nói:

-Ðờm đỏ tự phổi ra, họa còn có phương cứu chữa, chứ đờm xanh là mật vỡ mất rồi, còn chữa thế nào cho lành được. (Vỡ mật vì sợ vợ)

 LỜI BÀN NGẮN: Người thường thấy xanh đỏ giống nhau, cùng là màu sắc hết. Hoặc cho rằng báo động xanh nhẹ hơn báo động đỏ. Nào ngờ thầy thuốc lại nhìn trái ngược. Xanh mới là nguy. Xanh là vận số đã mãn. Sợ vợ xem ra cũng có nhiều mức độ phức tạp quá.

 6.Trời bên ngoài đang giông tố dữ dội, bà chủ tiệm bánh mì định đóng cửa đi về thì có một người đàn ông đội mưa gió chạy vào để mua một ổ bánh mì thịt. Bà chủ tiệm ái ngại hỏi:

–Ông có vợ rồi phải không?

–Thì đúng là có vợ rồi. Bộ bà nghĩ, mẹ tôi nỡ sai tôi đi mua một ổ bánh mì trong trời giông bão như thế này sao?

 7.Xét Mình Xưng Tội Cha xứ khuyên giáo dân là cần phải xét mình kỹ lưỡng trước khi xưng tội. Một ông chồng chia sẻ kinh nghiệm về cách thức xét mình như sau:

-Tôi chỉ cần chọc vợ tôi một câu, vợ tôi sẽ nổi xung lên và đọc cho tôi nghe một lô các thứ tội mà tôi đã làm. Tôi chỉ việc lắng nghe và nhớ lấy. Thế là xong công việc xét mình, vừa mau lại vừa đúng”.

 Sau buổi lễ, cha xứ hỏi các con chiên phái nam:

-Những ai trong số các con thường bị vợ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay thì đứng dậy. Tất cả đàn ông đều đứng dậy, chỉ một người vẫn ngồi yên tại chỗ. Cha xứ lại gần anh ta thân mật nói:

-Chúa dạy các con phải yêu thương nhau. Vợ chồng phải thuận hòa và nhường nhịn nhau. Con thật đáng khen. Tiếc là trên đời người như con rất ít. Con chính là người như thế đầu tiên ta gặp.

Người đàn ông nọ bùi ngùi:

-Thưa cha, con không dám nhận lời khen của cha.

-Tại sao vậy? Hỡi con của ta! cha xứ hỏi.

-Số là con bị vợ đánh què, không thể đứng dậy được”, người đàn ông trả lời!” (Trích truyện kể ở xứ đạo nọ)

Truyện kể có lời bàn ở trên, vẫn là những minh-hoạ tuy “hư-cấu” nhưng sẽ nhắc tôi và bạn, ta cũng nên suy và nghĩ về các trường-hợp hi-hữu có thể xảy đến với mình, và mọi người. Trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Đôi lúc cũng suy và nghĩ

Đến những “hư-cấu”

nơi chuyện tình đời

của mọi người. 

VÀO KHUNG CỬA HẸP

 VÀO KHUNG CỬA HẸP

Trong mùa thi vào đại học vừa qua, có nhiều bạn học sinh đã bị chứng suy dinh dưỡng, mất ngủ, thậm chí bị tâm thần.  Lý do là các bạn phải học rất nhiều, phải phấn đấu để được vào đại học.  Đại học hiện tại là một khung cửa hẹp.  Trường lớp có ít mà số lượng sinh viên mỗi năm mỗi tăng.  Thế nên các học sinh phải hết sức phấn đấumới được vào.

     Cảnh các thí sinh chen chúc trước các cổng trường đại học làm tôi nhớ đến bài Tin Mừng hôm nay.  Ai muốn vào Nước Trời cũng phải đi qua khung cửa hẹp.

    Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp.  Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người.  Nhưng không phải tất cả mọi người vào được, vì vào Nước Trời đòi có những điều kiện cần thiết.  Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời.  Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu.

   Trước hết phải phấn đấu hạ mình xuống.  Ở đời người ta thường phấn đấu để vươn lên.  Người ở địa vị thấp phấn đấu để được địa vị cao.  Người hèn kém phấn đấu để được trọng vọng.  Người phải phục vụ phấn đấu để được người khác phục vụ mình.  Nhưng trong Nước Trời thì ngược lại.  Phải phấn đấu để đi xuống.  Phải phấn đấu để tìm chỗ thấp hèn nhất.  Phải phấn đấu để phục vụ anh em.  Như lời Chúa dậy: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống.  Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14, 11).  “Khi anh được mời, hãy ngồi vào chỗ cuối” (Lc 14, 10).  “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 26).  “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10, 15).

 Sau đó phải phấn đấu để bé nhỏ lại.  Thông thường ở đời người ta phấn đấu để to ra.  Ai có nhà nhỏ phấn đấu để có nhà lớn hơn.  Ai có ruộng vườn nhỏ cũng phấn đấu để vườn ruộng lớn rộng thêm.  Ai cũng phấn đấu để có nhiều của cải hơn, có nhiều bằng cấp hơn, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn.  Trái lại, người muốn vào Nước Trời phải phấn đấu để trở nên bé nhỏ.  Phải phấn đấu để trở nên nghèo.  Phải phấn đấu để bỏ bớt của cải đi.  “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.  Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19, 21).  “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).

Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu.

 Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình thẳm sâu Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm.  Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp.  Là Thày, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ.  Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã để bị đối xử như một đại tội phạm.  Người đã bị vùi dập xuống tận bùn đen.

     Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ.  Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.

     Chúa Giêsu đã mở đường về Nước Trời . Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi.  Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã qua.  Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người phấn đấu hạ mình khiêm tốn, và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con

 biết “từ bỏ mình, vác thập giá

  mình” mà theo Chúa.  Amen!

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Nguyen Kim Bang

Ba Lan hoàn tất việc dựng tượng Chúa Giê-su lớn nhất thế giới

From: Kimtrong Lam‘s post.
 
Image may contain: one or more people, sky and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: sky, cloud and outdoor
Image may contain: one or more people, phone and outdoor
Image may contain: 1 person, sky and outdoor
+7

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

 

Ba Lan hoàn tất việc dựng tượng Chúa Giê-su lớn nhất thế giới

Báo Công Giáo

Một thị trấn nhỏ ở phía tây Ba Lan hôm qua đã hoàn tất việc dựng một bức tượng Chúa được cho là lớn nhất thế giới.

Bức tượng Chúa Giêsu sừng sững với 2 cánh tay dang rộng và mũ miện vàng đã được dựng lên tại thị trấn nhỏ Swiebodzin, kết thúc quá trình thi công kéo dài suốt 5 năm.

Các phần cuối cùng bao gồm phần thân, cánh tay và đầu cùng mũ miện đã được lắp đặt vào bức tượng Chúa hôm 6/11. Công việc này ban đầu dự kiến hoàn thành hôm 5/11 nhưng bị hoãn lại vì gió mạnh.

Trước đó 2 tuần, một nỗ lực tương tự đã thất bại vì chiếc cần trục nặng 400 tấn không nâng nổi phần đầu và cánh tay của bức tượng vào đúng vị trí. Thay vào đó, người ta đã phải điều tới công trình chiếc cần trục nặng 700 tấn.

Thị trấn Swiebodzin, nằm gần biên giới với Đức, hi vọng bức tượng khổng lồ sẽ thu hút khách du lịch và trở nên nổi tiếng giống tượng Chúa cứu thế khổng lồ vốn trở thành biểu tượng của thành phố Rio de Janeiro, Brazil

Tượng Chúa Giêsu tại Ba Lan cao 33m. Nhưng tính cả phần bệ cao 16m và vương miện cao 2m, chiều cao tổng thể của toàn bộ công trình là 51m. Tượng nặng khoảng 440 tấn.

Thị trưởng thị trấn Swiebodzin, ông Dariusz Bekisz, khẳng định đây là bức tượng Chúa lớn nhất thế giới.

Tượng Chúa Giêsu ở Swiebodzin được cho là không chỉ “vượt mặt” tượng Chúa cứu thế, cao tổng cộng 39,6m tính cả đế, mà còn đánh bại bức tượng Chúa Giêsu khổng lồ ở Cochabamba, Bolivia, cao 40,44m.

Ngày khánh thành chính thức của bức tượng hiện chưa được công bố nhưng các nguồn tin báo chí trước đó nói rằng buổi lễ sẽ diễn ra vào ngày 21/11.

Chi phí cho toàn bộ dự án được ước tính lên tới 1,5 triệu USD và số tiền này được quyên góp thông qua các khoản tài trợ cá nhân.

Bức tượng là ý tưởng của một linh mục địa phương, Sylwester Zawadzki, 78 tuổi. Kế hoạch dựng tượng đã gây chia rẽ tại Ba Lan. Những người phản đối dự án cáo buộc linh mục Zawadzki mắc chứng hoang tưởng tự đại.

Tuy nhiên, nhiều người dân tại Swiebodzin lại hoan nghênh dự án, cho rằng bức tượng sẽ thu hút người hành hương tới thị trấn. Họ cũng tin rằng bức tượng sẽ đưa thị trấn nhỏ với 22.000 dân có mặt trên bản đồ du lịch thế giới và giúp thúc đẩy du lịch, mang lại nguồn thu cho thị trấn nhằm tu bổ các tòa nhà cổ ở trung tâm thị trấn.

Bức tượng nằm cách biên giới Đức-Ba Lan 50km và có thể được nhìn thấy từ đường quốc lộ A2 nối 2 thủ đô Warsaw và Berlin.

Việc đặt các phần còn lại vào bức tượng đã diễn ra thành công

Đông đảo người dân địa phương tới xem quá trình đặt tượng.

Người dân vỗ tay khi việc dựng lượng hoàn tất.

NGƯỜI CON CHÚA

 NGƯỜI CON CHÚA

Hôm nay Giáo hội mừng kính việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của thánh Gioan Tiền hô tại sông Jordan kết thúc mùa Giáng Sinh và hướng chúng ta về đời sống công khai của Chúa Giêsu.  Đây cũng là một cuộc hiển linh của Thiên Chúa nói chung và của Chúa Giêsu nói riêng, vì trong biến cố này Thiên Chúa muốn loan báo và mạc khải cho mọi người biết về Thiên Chúa và một số chân lý khác.­­­

Trước hết, mạc khải mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.  Đây là một lần mạc khải công khai có cả Ba Ngôi cùng hiện diện: Ngôi Cha chỉ xuất hiện qua tiếng nói: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”  Ngôi Con là Chúa Giêsu, Đấng nhận phép rửa, đang hiện diện cụ thể ở sông Jordan.  Ngôi Ba Thánh Thần, xuất hiện qua hình ảnh chim bồ câu.

Thứ hai, mạc khải Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.  Chính Thiên Chúa Cha đã xác nhận và giới thiệu điều này và kêu gọi mọi người hãy lắng nghe lời Chúa Giêsu, hãy đến với Ngài để đón nhận nguồn hồng phúc vô biên của Thiên Chúa.

Thứ ba, mạc khải ý nghĩa và giá trị phép rửa của Chúa Giêsu.  Chính thánh Gioan đã khẳng định điều này: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.  Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.”

Xin chia sẻ một điều về ý nghĩa và giá trị cao quí của Bí tích Rửa tội.  Chúng ta biết phép rửa của Gioan Tiền hô chỉ là một nghi thức tượng trưng, có mục đích nhắc nhở và thúc giục người ta ăn năn sám hối và cải thiện đời sống.  Phép rửa này không có khả năng tẩy xóa tội lỗi, không có năng lực ban ơn thánh.  Bởi vì phép rửa này không phải là một bí tích, đúng như thánh Gioan đã quả quyết, đồng thời Ngài cũng giới thiệu một phép rửa khác, phép rửa của Chúa Giêsu, là phép rửa bằng Thánh Thần, nghĩa là phép rửa của Chúa Giêsu là một bí tích thông ban Chúa Thánh Thần, mặc dầu cũng dùng tới nước, nhưng nước chỉ là điều kiện, là nghi thức bên ngoài, còn thực sự là được rửa bằng Thánh Thần, biến đổi con người tội lụy nên con Thiên Chúa, và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu nước trời.

Khi chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ngài.  Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo của Thiên Chúa khi được rửa tội.  Trong nghi thức rửa tội chúng ta được dìm trong nước hoặc đổ nước trên đầu để chỉ việc tẩy rửa khỏi tội tổ tông và mọi tội riêng, được sinh lại làm con cái của Chúa và gia nhập vào Giáo Hội.  Vì thế, Giáo Hội coi bí tích tửa tội như một cuộc tái sinh, người được rửa tội trở thành một con người mới.  Họ thấy đâu là ơn gọi và định mệnh của con người, đâu là ý nghĩa của cuộc đời.

Có một cụ già, mãi tới khi 80 tuổi mới lãnh nhận phép rửa tội.  Bắt đầu từ đó cụ sống một đời rất gương mẫu.  Hai năm sau, cụ hấp hối.  Có người muốn biết cụ bao nhiêu tuổi.  Cụ dõng dạc trả lời: “Tôi mới có hai tuổi.  Tám mươi năm trước khi rửa tội là những năm chết.  Tôi mới bắt đầu sống thật khi tôi chịu phép rửa tội.”  Thật là chí lý.

Bí tích Rửa tội quí trọng vô cùng, là cửa đưa chúng ta vào đoàn chiên của Chúa là Giáo Hội, vào hàng ngũ con cái Chúa, đồng thời từ đây chúng ta được gọi là Kitô hữu.  Kitô hữu là người có Chúa Kitô.  Mỗi Kitô hữu là một Đức Kitô thứ hai.  Mỗi Kitô hữu là một nối dài của chính Đức Kitô.  Đó là tước hiệu cao quí của chúng ta.  Tước hiệu ấy không mua bằng tiền bạc.  Tước hiệu ấy không chỉ sáng ngời trong những dịp lễ lạc, hội hè, mà phải luôn chiếu tỏa trong từng giây phút của cuộc sống.

Nhưng phải chăng nhiều người trong chúng ta đã là Kitô hữu một cách miễn cưỡng?  Đức tin chưa phải là niềm vui sống mà chỉ là một mớ những ràng buộc khiến chúng ta cảm thấy nặng nề, khó khăn?  Ngoài những ràng buộc của luân lý Kitô giáo và gánh nặng của những sinh hoạt đạo giáo, biết đâu nhãn hiệu Kitô hữu lại không là đầu mối của biết bao kỳ thị, thiệt thòi trong cuộc sống của chúng ta?  Chúa Kitô đã mang lại cho chúng ta cuộc sống mới của những người con Thiên Chúa, cho dầu cuộc sống ấy có thể tạo ra nhiều ràng buộc, có thể đòi hỏi nhiều hy sinh và chiến đấu, có thể gây nên những phiền toái, thua thiệt… nhưng đó là giá để chúng ta đạt được niềm vui đích thực trong cuộc đời làm con Chúa.

Đàng khác, chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội và đã được trở thành con Thiên Chúa.  Nhưng chúng ta đã sống ơn cao quí này như thế nào?  Cha trên trời có hài lòng về chúng ta không?  Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Cha đã phán: “Con là Con yêu dấu của Cha.  Cha hài lòng về Con.”  Còn chúng ta thì sao?  Nếu như bây giờ, nhận định về chúng ta, Chúa Cha sẽ nói thế nào?  Chúa hài lòng hay Chúa phải buồn rầu, đau lòng và than phiền?

Chúng ta hãy nhớ: ơn cao trọng và cao quí nhất khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội là ơn được làm con Chúa.  Vậy chúng ta phải luôn cố gắng sống xứng đáng là những người con mà Chúa hài lòng về chúng ta.

Sưu tầm

From Langthangchieutim

TÌM CHÚA

TÌM CHÚA

Vào thời Trung Cổ người ta hay diễn tuồng ba vua ở trong nhà thờ hoặc nơi cửa ra vào. Để làm thoả mãn trí tưởng tượng của khán giả, người ta thường đem đến những vật kỳ lạ, và cho là lễ vật của ba vua tiến Chúa như: khỉ, vẹt, lạc đà… Lễ ba vua còn có một thủ tục khác nữa là chơi trò bắt thăm làm vua. Người ta cho một hạt đậu hay một tượng nhỏ vào trong chiếc bánh ngọt, và chia ra thành từng phần cho những người trong nhà, ai được miếng bánh có hạt đậu hay tượng nhỏ đó sẽ được làm vua, được đội triều thiên trong bữa ăn. Thủ tục này bắt chước thủ tục của dân ngoại ở Rôma, Đức… còn trong tu viện nếu được làm vua sẽ được làm chủ tọa cộng đoàn khi dự nghi lễ phụng vụ và chủ tiệc ngày hôm ấy. Từ thời Trung Cổ người dân ngoại và cả người Công Giáo đều ao ước được giống như ba vua, để được dâng lễ vật tiến Chúa, được chủ tọa nghi lễ phụng vụ… Đó chỉ là những hình thức bên ngoài của thời Trung Cổ, nhưng ít nhiều cũng cho thấy tâm tình bên trong; họ ao ước giống ba vua cả trong đức tin, hành động và cả lòng can đảm.

  1. Trong đức tin

Ba vua chính là những người dân ngoại đầu tiên nhận biết Chúa. Và chính nhờ đức tin qua ngôi sao lạ đã hướng dẫn đường đi, nước bước cho các ông. Thật vậy đức tin chính là ơn ban cao trọng nhất, vì không có đức tin chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa được. Hơn nữa không có đức tin thì sẽ như người mù lòa không biết đường biết hướng về đâu. Nhưng phải luôn nhớ rằng đức tin luôn là ơn ban cho tất cả mọi người, đặc biệt là dân ngoại. Đức tin đến với ba vua không như một phép lạ để họ nhận biết Người. Họ được ngôi sao lạ dẫn đường, ngôi sao này có thật hay không chúng ta không cần biết. Điều quan trọng là qua ngôi sao lạ ba vua nhận biết đó là điềm Thiên Chúa gởi đến soi sáng và đưa họ đến Bêlem để thờ lạy Chúa.

Ngày xưa ba vua nhờ đức tin soi sáng dẫn đường đã được thoả lòng hạnh phúc. Ngày nay Thiên Chúa cũng soi sáng chúng ta bằng nhiều cách qua các biến cố. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta đã biết lấy đức tin để đón nhận chưa?

  1. Hành động

Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết”. Nếu ba vua nhìn thấy ngôi sao mà không lên đường, thì việc trông thấy ngôi sao nào có ích gì? Đối với chúng ta cũng vậy, nếu có đức tin mà không sống theo đức tin thì có ích gì. Ba vua vừa nhìn thấy ngôi sao lạ thì nhận biết ngay đó chính là quyền phép Thiên Chúa thì các ông không cần tìm hiểu nguyên do, mà mau mắn bước theo. Thật là một niềm tin mãnh liệt là một tấm gương cho mỗi người chúng ta. Đứng trước chân lý đức tin đòi hỏi ta cũng phải có thái độ tùng phục như vậy. Do đó chúng ta hãy mau mắn làm theo ba vua, khi thấy “ngôi sao đức tin” phải vội vã lên đường, nếu ta còn lưỡng lự chậm chạp rất có thể ngôi sao đó sẽ tắt lịm và không còn ánh sáng nào soi đường cho ta đi về quê thật là nước thiên đàng nữa.

  1. Can đảm

Ba vua đã từ giã gia đình thân yêu, không ngại thân già sức yếu, đường sá nguy nan, chấp nhận tất cả những khó khăn chỉ mong làm tròn thánh ý Chúa đã tỏ ra với mình. Chúng ta những người đang lữ hành, con đường mình đi chắc chắn cũng có rất nhiều chông gai hiểm trở. Chúng ta phải chiến đấu không ngừng với bản thân mình, với những xu hướng xấu từ ngay trong chính bản thân… Như ba vua đã đạt được đích đến là Thiên Chúa, thì chúng ta tin rằng với con đường đức tin mình cũng sẽ đạt được hạnh phúc đời đời. Vì thế mà mỗi người hãy can đảm vượt mọi trở ngại đời này, để sống xứng đáng với đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho ta.

Không phải con đường đức tin lúc nào cũng trơn tru, lắm lúc cũng bị mây mù che khuất như ba vua hôm nay, nhưng với sự quyết tâm và lòng thành các ông đã vượt qua bằng cách hỏi thăm đường. Chúng ta cũng vậy lắm lúc con mắt đức tin mình cũng bị che mù làm ta không còn nhận ra đường đi nữa, không còn biết phải đi con đường nào và xử sự ra sao. Lúc đó cũng hãy biết chạy đến những người khôn ngoan, hướng dẫn đức tin như: cha sở, cha linh hướng hoặc những người khôn ngoan, chắc chắn chúng ta sẽ không bị lầm lạc và cũng tìm được Chúa như ba vua xưa đã thấy.

Trong ngày lễ hiển linh hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa Hài đồng tâm tình thờ lạy. Ta chẳng có vàng, nhũ hương và mộc dược, nhưng chúng ta có tấm lòng, có con tim. Vậy chúng ta hãy dâng lên Chúa với tất cả lòng chân thành và con tim yêu mến đó.

Lạy Chúa, chỉ tin không thì chưa đủ, mà còn đòi hỏi con phải mau mắn thi hành những điều đức tin dạy, như thế mới là sống theo ý Chúa . Amen

Sưu tầm

Langthangchieutim gởi

Thiên Thần Bản Mệnh

 Thiên Thần Bản Mệnh

Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, Ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột. Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, Ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường. Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Xức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.Trong ngày mừng lễ các Thiên Thần Bản Mệnh, xin chia sẻ với các bạn một câu chuyện:

20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, Ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố. Một lần nọ, Ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù. Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.

Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu. Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi câu chuyện: Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ. Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng thâm giả trang trốn đi nơi khác. Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau…

Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự. Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù nghe. Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui…

***

Câu chuyện trên giúp tôi hiểu một điều: Nhiều khi vì không thấy Chúa, tôi cứ nghĩ là Chúa không ở bên tôi, nhưng thật ra Chúa luôn gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến để bảo vệ tôi. Nhưng Chúa chỉ bảo người nào sống với Chúa như đứa con thơ. Ai càng tỏ ra yếu đuối, bé bỏng, tin tưởng Chúa càng nâng đỡ nhiều, như bài Phúc Âm của Thánh Mátthêu đã nói (18:10). Tôi lại nhớ đến một đoạn trong bài hát “Khúc hát một loài hoa” của nhạc sĩ Ân Đức: “Một niềm tin vô biên, một niềm tin phó thác triền miên, Ai mong muốn lên Nước Trời phải trở nên thơ bé mà thôi.”

Ai càng trở nên như trẻ nhỏ, thì Chúa càng yêu thương đỡ nâng dìu dắt. Ước gì lúc nào tôi cũng biết sống nhỏ bé trước mặt Chúa, và luôn phó thác mọi sự trong tay Chúa, để Chúa tiếp tục gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến nâng đỡ và che chở tôi mỗi ngày. Và giờ đây xin mời bạn cùng tôi dâng một lời kinh lên Thiên Thần Bản Mệnh của chúng ta:

Lạy Thiên Thần Chúa Trời là đấng đã nên quan thầy gìn giữ con,

Vì ơn lòng lành Đức Chúa Trời,

Xin người soi sáng con, phù hộ con ngày/đêm hôm nay.

Têrêsa Ngọc Nga

Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,

 Suy Tư Tin Mừng lễ Giáng Sinh năm B 25/12/2017

Tin Mừng (Ga 1: 1-18)

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng. Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: “Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”

Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

&    &    &

“Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,”

“và tình ta sáng láng như trăng thanh.”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Trời ý nhị. Tình sáng láng. Là, để đón chào Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ làm người. Đón và chào, để nói lên tình tự tươi vui “của trời đất”. Tình tự đây, là tình thể hiện nơi “máng cỏ” cho muôn loài. Niềm-Vui-Đức-Chúa giáng hạ, là truyền thống có từ thời thánh Phanxicô Át-xi-di, nhân chuyến thăm thế giới Hồi giáo trở về, thánh nhân đã thiết lập ở Ý, lễ hội sinh động cho mọi người, ở muôn nơi.

Hội lễ Niềm-Vui-Đức-Chúa nay giáng hạ làm người, là mừng sự kiện Chúa trở thành Người-Phàm sống sẻ san Niềm-Vui vẫn có ở Nước Trời. Có sứ điệp của máng cỏ nay nhắn nhủ người người hãy sống vui ở bên nhau, và với nhau. Sứ điệp, còn bảo cho mọi người biết yêu thương mà vui hưởng đời người có Chúa-làm-người. Có anh em quần tụ nơi máng-thế-giới. Sứ điệp, cũng tỏ bày cho người người biết Đức-Chúa-Niềm-Vui nay đến khoả-lấp mọi đớn đau/sầu buồn của mọi người.

Sứ điệp, cuối cùng còn cho thấy Đức-Chúa-Niềm-Vui muốn dân con mình đừng nên nhìn mọi người như nỗi khó để đối phó. Mà như Niềm-Vui-Đức-Chúa đã giáng-hạ sẽ giúp mọi người thắng vượt nỗi khổ ta trực diện.

Về với máng cỏ của Đức-Chúa-Niềm-Vui giáng-hạ, ta hãy cứ tưởng tượng và thay thế các chú bò/ lừa hôm đó, bằng khủng long to đùng dù loài này biến mất đã 65 triệu năm. Khủng long đây, có là loài thú “hoành tráng” mấy đi nữa, dù đã biến mất đi, chúng vẫn có thể xuất hiện trở lại, để ta biết rằng: chúng cũng đâu thấy được đảm bảo tương lai mai ngày, nói gì đến loài người. Tức, loài nào rồi cũng biến mất như khủng long to đùng, nay tuyệt chủng. Nay, Hài-Nhi-Đức-Chúa xuất hiện trở về lại, mang đến cho muôn người niềm yêu thương đằm thắm đến với dân gian.               

Cứ tưởng tượng nhiều, ta sẽ không còn thấy mục đồng hiện diện bên máng cỏ nữa, mà chỉ là kẻ bàng quan tượng trưng cho vua quan lãnh chúa có ở đó, để Hài Nhi Thánh Ái vui vẻ mà cười nhẹ. Tưởng tượng nhiều hơn nữa, ta sẽ liên tưởng đến kịch bản nọ trong đó có chàng Jimmy Chăn Bò rất lãng tử chẳng quan tâm/chăn dắt bất cứ ai.

Thêm vào đó, là Fred StarGazer, tay chiêm-tinh-gia chuyên ngắm nghía sao trời lãng đãng có biệt danh là Chàng Mag (chữ tắt của Đạo Sĩ rất “Ba Vua”). Còn lại là người thứ ba tên Fatso đồng nghĩa với Phát Phì ở tiếng Việt. Hài Nhi Thánh Ái hôm ấy đã trỗi dậy cười đùa với ba bốn vị trong bối cảnh đời thực. Ai cũng tự do thả hồn theo bước thăng trầm sầu/vui nơi đời sống. Và Hài-Nhi Thánh Ái đã hoà nhập với họ để cùng vui như thế.      

Suy về máng cỏ đời người, người đời sẽ thấy loài khủng long to đùng và kẻ bàng quan cùng nhau tung tăng múa nhảy. Nhảy múa với khủng long ư? Phải chăng đó là màn múa/nhảy ở xứ miền động đất có núi lửa nổ bùng? Liên tưởng nhiều thêm nữa, người người sẽ thấy kẻ bàng quan nay tham gia múa/nhảy với cuộc đời, không còn hãi sợ bất cứ thứ gì, nhưng đã biết cười đùa lớn tiếng, nói to lên. Liên tưởng thêm, người bàng quan tham gia cuộc nhảy/múa rồi cũng sẽ phục sức đầy sắc mầu của vui tươi, an hoà.

Chừng như họ là những vị chuyên tấu hài hay sao đó, chính vì thế tay chân họ vừa tung tăng múa và nhảy vừa tung lên cao rất nhiều thứ/đủ mọi thứ, như: banh quần vợt đầy sắc mầu hoan hỷ. Đôi lúc có vị hụt hẫng chẳng chụp được banh nỉ, nhưng cũng chẳng lấy đó làm điều, bởi hầu hết mọi tung ném đều đạt mục tiêu, rất đúng cách.

Trong số các nhân vật ấy, duy nhất chỉ thấy có một vị bắt chụp được hết mọi thứ dù banh nỉ có tung cao lên cao tít, ở cõi không. Bởi, Anh đứng đó trên máng cỏ, hầu có thể bắt chụp mọi thứ của mọi người. Anh ở trên đó, khi mọi sự đã chứng tỏ mọi sự nay theo đúng ý của Anh. Anh chẳng hề rời bước khi mọi sự cứ từ từ diễn tiến rồi xảy đến. Anh chính là thành phần của mọi sự và trong mọi sự. Giống bất cứ ai và những loài hiện có ở nơi đó. Anh chính là Hài Nhi Chí Ái luôn ưa thích mọi sự, cả những thăng trầm cuộc đời, nơi con người. Và, mãi mãi sẽ thế. Tên Anh là Giêsu, đích thị làng Nadarét, chốn nhân gian.

Về với máng cỏ, ắt hẳn có người sẽ liên tưởng đến cảnh trí thật hết ý về trò chơi nơi cuộc đời giống như thế, nên sẽ hỏi: sao Chúa lại giáng hạ làm người ở với người? Và, câu trả lời chắc chắn là: Ngài làm thế, để được vui nhiều hơn chốn vĩnh cửu miền nào đó!

Cử hành Tuần Thánh và hội lễ Phục Sinh, dân con người mình hẳn suy nghĩ nhiều về nỗi chết cũng như sự sống lại của Chúa. Khi ấy, người người hẳn sẽ nghiêm minh những suy và tưởng về chính mình.

Bởi, Chúa có chết đi và sống lại chốn miên trường, chính là để ban niềm an vui vĩnh cửu cho mỗi người và mọi người. Để, ơn cứu độ Ngài đến với con người. Và, nhiệm tích Vượt Qua –tức nhiệm tích thánh thiêng Ngài lướt vượt mọi thứ qua cái chết để rồi Ngài lại về với sự sống có trỗi dậy. Đó, là giải pháp cuối cho mọi dự tính của riêng ta.

Hội lễ Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ lại không như thế. Theo cung cách nào đó, có thể nói: đây là tưởng thưởng trội vượt nhu cầu thiết yếu để qua đó Chúa cứu độ trần gian là ta đây. Nhằm cứu rỗi chúng ta, hết mọi nhà, Ngài còn làm nhiều hơn thế. Nhiều, để ban cho ta Niềm-An-Vui lớn hơn cả nhận thức biết rằng mình được cứu thoát. Vui đây, là vui niềm trở nên một với Chúa ở đây. Bây giờ. Niềm vui có Đức-Chúa-là-Niềm-Vui luôn ở lại với ta, bây giờ và ngay đây. Đó chính là an vui niềm phúc hạnh gửi đến cho ta. Đó lại là Niềm-Vui-Có-Chúa đã lướt vượt được nhiều thứ, chí ít là khốn khó.

Lễ hội Chúa Giáng hạ, nay là mạc khải Chúa xác định thêm một lần nữa cho ta. Xác định, để ta vui với Niềm-Vui Chúa giáng hạ ở với cuộc đời, là thế giới. Sự thể này, còn to đùng/lớn hơn sự sống. Bởi, nó không bị ràng buộc hoặc kiểm soát bởi bất cứ quá trình nào từ cuộc sống hoặc do bởi nhu cầu sống ở nơi ta.

Và, cũng chẳng còn gì để nghi ngờ nữa về tương lai mai ngày của chính ta, và mọi người. Lễ hội Chúa-giáng-hạ-làm-người nay tiêu dùng cả và thế giới ta đang sống. Nhưng chính ta lại không bị thế giới tiêu dùng làm tan đi chính con người mình. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đang thưởng ngoạn sự kiện làm người ở với ta đến độ Ngài yêu cầu ta hãy đạt lấy niềm vui thần thánh có Đức Chúa. Vui như thế, để ta cần phải chờ đợi gì nữa, vì đã đạt chốn thiên đường, ở đây. Bây giờ. Thiên đường thực tế là đây. Ở lễ hội Giáng hạ này. Lễ hội, có máng cỏ. Có, thiên đường là đây. Chốn này. Một đời người.

Sự việc, xem ra có vẻ khác thường. Đúng thế. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng hạ, là việc rất khác lạ. Chúa hiện diện ở với ta, dù ta lại không trông chờ hoặc ngóng đợi, đó vẫn là sự thật rất chất thể, của Niềm-Vui đã nhập thể và nhập thế. Niềm-Vui-Chúa nhận lấy xác phàm làm người, là Ngài mạc khải tỏ lộ chính Niềm-Vui bằng xương bằng thịt như ta, nhưng ta không nghĩ Chúa là như thế.

Chắc cũng cần đến đấng bậc lành thánh như bậc hiển thánh Phanxicô thành Atxidi dạy cho ta biết điều ấy. Cần dạy để ta thấy được rằng người người ở trần thế, vẫn rất vui. Vui, với Niềm-Vui-của-Đức-Chúa để ta hoà lẫn với mùa lễ rất Giáng hạ. Chắc chắn bậc hiển thánh Phanxicô sẽ không về tay không khi ngài đặt chân viếng máng cỏ và để giờ nguyện cầu. Chắc chắn bậc hiển thánh sẽ ra đi vui hưởng cuộc đời lành thánh với chúng nhân cùng bạn bè người thân. Vẫn rất cần bậc lành thánh dạy ta thêm lần nữa, Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng hạ.

Lễ hội Niềm-Vui-Chúa giáng hạ, khiến tất cả được mời gọi vui hưởng thế giới của niềm vui, như trẻ bé. Hội lễ Chúa Giáng Hạ ta mừng kính hôm nay đều có nghĩa Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đến với thế giới gian trần, nơi máng cỏ cuộc đời hoặc ở nhà. Đức-Chúa-Niềm-Vui là thế đó, rất vui. Hôm nay.

Trong niềm an vui phấn khởi của mọi người, tưởng cũng nên về với lời thơ vui mà ngâm tiếp:

                        “Chúng ta tiến, em ơi, thành thanh khí.

                        Cho tan ra hoà hợp với tinh anh.

                        Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,

                        Và tình ta, sáng láng tự trăng thanh.”

                        (Hàn Mặc Tử – Sáng Láng)

Sáng láng ấy. Tinh anh này. Vẫn là Niềm-Vui-Chúa-giáng-hạ để ta tiến. Tiến cho tan, ngõ hầu hoà hợp với niềm vui chung của thế giới, của muôn ngàn ý nhị. Như trăng thanh. Tâm tình. Đầy ý tứ.           

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.