Hỏa ngục đời đời

Hỏa ngục đời đời

Có một số người không tin có hỏa ngục đời đời, họ lý luận: có cha mẹ nào nỡ trừng phạt con cái mãi mãi, hốn chi là Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành? Để có câu trả lời, chúng ta cùng tìm hiểu những điều sau đây:

  1. Thiên Chúa đã ban sự tự do cho loài người: chọn Thiên Chúa hay chối bỏ Thiên Chúa. Vì con người có tự do, nên có tránh nhiệm về sự chọn lựa. Kẻ chối bỏ Thiên Chúa là kẻ không muốn đến gần Thiên Chúa, không muốn vào thiên đàng, là vương quốc đời đời hạnh phúc.  

  1. Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành, nhưng Ngài cũng vô cùng chí công.  Là Đấng chí công, Ngài không thể để cho kẻ gian ác cũng được hưởng hạnh phúc như người tốt lành trên thiên đàng. Dođó hỏa ngục đành phải có để dành riêng cho quỷ dữ và kẻ gian ác.
  1. Trong đời sống có lẽ bạn đã gặp người luôn mang trong tâm trí sự hận thù. Có kẻ còn nói ra ngoài miệng, dù có phải vào hỏa ngục, họ cũng không tha thứ.  Có ai lấy Lời Chúa dạy: “Tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ; không tha thứ thì không được Thiên Chúa thứ tha”  khuyên bảo, họ cũng chẳng nge. Những kẻ đã chọn sống với hận thù và mang hận thù theo họ qua bên kia thế giới.
  1. Trong đời sống không thiếu những kẻnhắm mắt, bịt tai, chối bỏ không muốn nge ai nói đến sự hiện hữu của Thiên Chúa, mặc dù có đến 92% cac nhà bác học tin có Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ vạn vật. Vídụ: người Cộng sản chủ trương vô thần và thù get những ai theo Thiên Chúa; và những người theo Phật giáo, là tôn giáo chối bỏ Đấng Tạo Hóa, mặc dù có nhiều học giả, nhiều tâm hồn yêu chân lý, đã vĩnh viễn xa lià tôn giáo này:  Tiến sĩ Paul Williams, Học giả Ấnđộ Mashaba, Học giả Đại hàn Choi Nam Sơn, Bác sĩ Chang Shu Wen, Tu sĩ Phật giáo Avada, Bác sĩ Lert Srichandra, các Đại đức Phật giáo: Huệ Nhật, Từ Vân, Trí Dũng, Trì Liên, Ngộ Thiện, ni cô Diệu Thiện ….
  1. Giả dụ bạn đi ra ngoài đường và vì không bằng lòng người nào đó, bạn đã đấm vào mặt của hắn. Cái đấm đó, bạn có phần lỗi. Giả dụ cũng quả đấm đó, bạn đấm vào mặt cha hoặc mẹ của bạn, thì cái đấm đó không thể xem ngang hàng với cái đấm bạn đã dành cho kẻ ở ngoài đường, mà phần lỗi của bạn nặng hơn, mọi người sẽ khinh thường bạn, kết án bạn nặng nề hơn rất nhiều, coi bạn là đứa con đáng bị Trời đánh.
  1. Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, Đấng vô cùng; loài người là loài thụ tạo, có giới hạn. Không phàm nhân nào có thể ngang tầm với Thiên Chúa, để hiểu sự tôt lành vô cùng; sự thánh khiết vô cùng; sự cao cả vô cùng của Thiên Chúa. Dođó, loài người mãi mãi không thể hiểu tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa nặng nề như thế nào.
  1. Nói về hỏa ngục, Thánh Kinh ghi: “nơi mà lửa không hề tắt, giòi bọ không hề chết…” 
  1. Có một linh mục trừ quỷ, hỏi quỷ: “Mày đã ở hỏa ngục bao lâu rồi?” Quỷ trong thân xác người bị quỷ nhập, đập mạnh tay xuống chiếc bàn bên cạnh, hét lớn với giọng giận dữ: “Lúc nào cũng chỉ là mới bắt đầu”
  1. Thánh Nữ Teresa Avila được Thiên Chúa cho đến hỏa ngụcđể hiểu một chút khổ hình đời đời như thế nào; bà đã viết:“Thị kiến này cũng làm cho tôi có một ý định dứt khoát rằng trong vấn đề tối quan trọng là việc cứu rỗi các linh hồn, chúng ta chỉ được phép thỏa mãn với điều kiện làm hết mọi việc phải làm, làm hết mọi việc chúng ta có thể làm.”
  2.  Theo sử liệu của thánh Francesco De Geronimo (1642-1716). Thánh Girolamo là một linh mục dòng Tên, sinh tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời tại Napoli, miền Nam nước Ý. Mục vụ nổi bật nhất của ngài là giảng các tuần đại phúc. Vào thời kỳ ấy, các buổi giảng thuyết thường diễn ra nơi các đường phố, tại các công viên, giữa các quảng trường, hay trong các khu vực có những nhà điếm. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng Thiên Chúa và sống ngay chính. 
    Một hôm, thánh Geronimo giảng trước đám đông, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Geronimo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy. 

Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà kia đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho ngài biết, bà ta đã bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói: “Chúng ta hãy đi xem bà”. Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất .. Như được linh hứng, thánh nhân cất tiếng hỏi:

– “Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt đây biết, bà đang ở đâu”. Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:
– “Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp!”.
Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy!. Lúc xuống cầu thang, thánh Geronimo lẩm nhẩm lập lại:

– “Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi Thiên Chúa công minh, đáng sợ biết là chừng nào!”.
Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó, không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh nhận bí tích Giải Tội.
Linh mục Francesco De Geronimo được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) tôn phong chân phước ngày 2-5-1806 và được Đức Giáo Hoàng Gregorio 16 (1831-1846) nâng lên hàng hiển thánh ngày 26-5-1839. Trong hồ sơ xin phong thánh cho ngài, ghi lại chứng từ của một người như sau:

-“Con có mặt trong biến cố kinh hoàng ấy. Nhưng con không biết trình bày ra sao, diễn tả như thế nào cho đúng tâm tình của con cũng như của mấy người khác. Con chỉ biết nói rằng, cứ mỗi lần có dịp đi ngang quảng trường và trông thấy cánh cửa sổ ấy, con như còn nghe rõ ràng tiếng nói khàn khàn khủng khiếp:

– “Trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân đời đời trong Hỏa Ngục!”.
 

(Một đoạn văn nói về Hỏa ngục của Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt)

From Lucie 1937

Lòng người không muốn thì trời cũng thua 

Lòng người không muốn thì trời cũng thua 

Lc 14,15-24 ; Pl 2,5-11

“Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người”

Nước Trời vẫn được ví như một bữa tiệc.

“Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,6)

“Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc, môi miệng con rộn rã khúc hoan ca” (Tv 63,6)

Chắc hẳn người nào có nhóm bạn bè thân hữu quý mến nhau, thỉnh thoảng ngồi lại ăn uống với nhau thì cũng sẽ có một kinh nghiệm trong bữa ăn lành mạnh này : no, say, vui và huynh đệ.

Trong đời sống tâm linh cũng thế, chính Chúa cũng là bữa tiệc cho những ai đã cảm nếm được Chúa tức là cảm nhận gặp gỡ được Ngài…

NO : Chúa lấp đầy cõi lòng sâu thẳm trống rỗng“Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13-15)

SAY : Thánh Thần đốt lửa yêu mến ngất ngây“Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2,4)

VUI : niềm vui hạnh phúcsung mãn chứ không phải thỏa mãn. Hạnh phúc là chính Chúa “Con thưa cùng Chúa : “Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc ?”(Tv 16,2)

HUYNH ĐỆ : Tình yêu thương anh em bắt nguồn từ Thiên Chúa “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

“Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng : ‘Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.’

“Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu” 

Ôh ! dịp may hiếm có thế mà ai cũng có lý do chính đáng để từ chối.Chính đáng theo cái họ nghĩ là chuyện của họ thì quan trọng hơn ; hay họ không muốn không thích dự tiệc thì dù chuyện của mình thật cỏn con cũng trưng lý do ra để xin kiếu… khéo !

Lòng người không muốn thì trời cũng thua !

Tiệc Nước Trời sao mà ế ẩm thế nhỉ ?

Tình cho không biếu không mà cũng không thèm… nhưng dứt khoát chủ nhà không sợ tốn của, phí công, uổng sức… vì biết xoay xở đấy : “Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14,13-14).

“Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta”.

‘Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây’.

Hay thật ! Tiệc Nước Trời phải “ép” người ta vào (cưỡng chế bằng tình yêu nhỉ !).

Vậy chỉ những người không còn lý do gì, không còn có tự hào tự mãn nơi chính mình nữa và được hấp dẫn sức hút của tình yêu thì tất cả đều tung tăng nhảy nhót tưng bừng như bê như nghé như nai vào dự tiệc thôi !

“Tôi nói cho các anh biết : Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi”.

Những vị kinh sư nghĩ gì với câu chuyện này nhỉ ?

Hay cả các ông thông luật cũng lên tiếng : “Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói : “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa !” (Lc 11,45)

Vâng, nếu mỗi ngày chúng tôi không có sự thinh lặng lắng đọng tâm hồn mình xuống để lắng nghe lời mời gọi tha thiết rộn rã bên trong thì đúng là nhục mạ cả chúng tôi nữa !”.

Ngược lại thì đúng là “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa !”

“nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.

OTC

 Nguồn  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/11/long-nguoi-khong-muon-thi-troi-cung-thua.html

SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT

SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT

Elisabeth Nguyễn

“Hãy nhớ rằng, cái chết không trì hoãn đâu và ngày hẹn của âm phủ, con nào có biết” Hc 14,12)

Không ai trong chúng ta biết được ngày chết và cái chết của mình như thế nào. Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày đi dần đến cái chết, nhưng phần đông không ai nghĩ đến chúng cả.

“Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau” (Hc 41 3).

Sự chết dạy chúng ta sống như thế nào?

Trong đời sống, chúng ta nên thỉnh thoảng suy niệm về cái chết.

Một nhà tu đức khi suy niệm về cái chết đã thốt lên „cái chết của người già ở trước mặt, cái chết của người trẻ ở sau lưng“

Niềm tin Kitô giáo giúp chúng ta tránh đam mê những hạnh phúc giả tạo ở đời này và thúc đẩy chúng ta hãy can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp đau khổ với Đấng Kitô, và biết đến ích lợi của cuộc đời, phải đi qua đau khổ để vào vinh quang với Ngài.

“Nếu có lúc con đau khổ xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu, Chúa đã buồn muốn chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây con, xin nhắc con nhớ rằng: Trên Thập Giá, Chúa đã thốt lên: “sao Cha bỏ con” (Lời nguyện. Rabouni)

Suy nghĩ về cái chết không có nghĩa chúng ta phải buồn rầu, sợ hãi, hoặc ngã lòng.

Trái lại, khi suy niệm về cái chết chúng ta sẽ sống một cách hiểu biết hơn về cuộc đời và từ bi nhân ái hơn, vì đó chính là luật của Tạo Hóa.

“Như cành lá trên cây rậm rạp; lá rụng xuống lá lại mọc ra, thì các thế hệ người phàm cũng vậy: lớp kết thúc, lớp lại sinh ra” (Huấn ca 14,18)

Mỗi khi gặp chuyện bực mình khó chịu mà gây gỗ, cãi nhau hay nóng giận với người khác thì được ích lợi gì?

Đau khổ, bịnh nạn thì nghĩ rằng đời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết. “Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm. Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?

Dù người ta sống được mười năm, trăm năm, hay cả ngàn năm đi nữa, thì trong âm phủ, chẳng ai trách móc đâu” (Hc 41, 4).

Vậy lo lắng, buồn rầu hoàn toàn không được gì mà sinh ra bất an trong tâm hồn.

Là Kitô hữu, hằng ngày cầu nguyện với Lời Chúa, giúp ta biết suy nghĩ sâu xa về sự sống, sự chết theo lời dạy của Chúa và Giáo Hội.

Hãy phó thác và tin tưởng trong tay Ngài. Tất cả đều là hồng ân Ngài ban.

Hãy thinh lặng lắng nghe tiếng nội tâm, để Chúa Thánh Thần hướng dẫn ta ý thức và tự kiểm soát lấy mình, không để những suy nghĩ lệch lạc lôi cuốn, ta sẽ cư xử với mọi người hòa ái hơn.

Điều này luôn luôn không phải dễ làm, nhưng khi ta cầu nguyện, suy niệm về cái chết, Chúa sẽ nhắc nhở mình về sự mong manh và ngắn ngủi của cuộc đời, ta sẽ tự chế và ăn nói với sự dịu dàng hơn, sẽ biết sống đẹp lòng Chúa hơn.

Chúng ta biết khi chết là lúc chúng ta về với Chúa và sẽ được sống lại với Ngài trong vinh quang thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhân cái chết hơn.

Cái chết luôn bình đẳng cho tất cả mọi người, cho nên ta hãy chọn cách tốt nhất là sống theo Lời Chúa dạy, sống tỉnh thức, sống ý thức, sống yêu thương từng giây phút với hết sức lực, hết trí khôn của mình.

Hơn nữa, dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và  chết. Ta sẽ nhẫn nại hơn, sẽ bao dung hơn , tử tế hơn , dịu dàng hơn, dẽ dàng tha thứ hơn đối với bản thân ta và đối với người khác.

Cuộc đời thật sự hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Lòng thương yêu từ con tim nhân ái sẽ đâm chồi nở hoa, và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận.

Lạy Chúa, xin Chúa cho con được chết một cách an bình, đừng đau đớn lâu ngày, nhưng Chúa cho con chết như thế nào tùy ý Chúa. Amen.

Elisabeth Nguyễn

THIẾU SÓT

THIẾU SÓT

Thiếu sót tình yêu thương là thiếu sót lớn của Kitô hữu.  Khổ nỗi, ít khi nó được xem như một tội.  Người ta thừa nhận là có tội khi nó gây thiệt hại cho người lân cận nhưng không coi là tội khi thiếu sót hoặc từ khước yêu thương.

Người ta kể lại một câu chuyện về người bán chiếc xe “dỏm” cho một người nước ngoài, rồi đi xưng tội.  Sau đó, người ấy gặp một người bạn cũ trong quán rượu.  Khi người bạn này nghe nói ông ta đã đi xưng tội, liền nói “Tôi hy vọng anh đã kể lại cho linh mục nghe anh lừa gạt người mua xe như thế nào”.

 “Đời nào tôi làm thế”, ông ta trả lời. “Tôi xưng ra các tội của tôi cho linh mục.  Nhưng linh mục không có quyền biết công việc kinh doanh của tôi”.

 Nguy hiểm lớn đe dọa người-đi-nhà-thờ là họ không biết mối liên quan giữa việc họ làm trong nhà thờ ngày Chúa nhật với việc làm trong quan hệ với người lân cận vào những ngày khác trong tuần.

Người ta có thể xem xét lương tâm mình nhưng không đụng gì đến toàn cảnh: Người có lương tâm làm tròn bổn phận của mình, lương thiện trong công việc làm ăn, công bằng, tôn trọng và hợp tác với những người sống cùng một mái nhà v.v…  Với những người như thế, tôn giáo tách rời khỏi đời sống và trở thành một vấn đề riêng tư giữa họ và Thiên Chúa.  Theo Kinh Thánh, một tôn giáo như thế là sự bóp méo, xuyên tạc.  Tệ hơn nữa là một điều đáng ghét.

Phân ly hai giới răn lớn ấy là việc rất dễ dàng.  Trong một ý nghĩa nào đó, chỉ có một giới răn duy nhất – giới răn của tình yêu.  Nó giống như một đồng tiền, một thực thể có hai mặt.  Không thể có mặt này mà không có mặt kia, không phải chúng ta ghét những người lân cận của chúng ta.  Không, chúng ta không ghét những người lân cận.  Nhưng chỉ vì chúng ta khước từ đưa họ vào trái tim chúng ta.  Nếu sự thật được nói ra, chúng ta lãnh đạm và thờ ơ với họ.

Mọi người trong chúng ta có khả năng yêu thương to lớn, nhưng khổ nỗi, hiếm khi chúng ta sử dụng hết.  Diễn viên Christopher Reeve, nổi tiếng về hình tượng siêu nhân mà ông thể hiện trong phim ảnh.  Tuy nhiên, trong một tai nạn té ngựa, ông bị liệt từ cổ trở xuống và phải ngồi xe lăn.  Ông nói ông đã nhận được 100.000 lá thư bày tỏ thiện cảm và sự ủng hộ của quần chúng.  Điều này dẫn ông đến chỗ hỏi rằng: “Tại sao cần phải có một bi kịch trước khi chúng ta bày tỏ sự cảm kích của chúng ta đối với một người khác?”

Chúng ta bày tỏ điều đó quá chậm và đầy sự hối tiếc.  Chúng ta chờ cho đến khi quá muộn để nói và tỏ cho người khác thấy rằng chúng ta yêu họ.  Chúng ta bày tỏ quá muộn ý muốn sửa chữa một mối bất hòa, quá chậm nỗi vui mừng về sức khỏe và quà tặng của con cái hoặc cha mẹ chúng ta.

Đức Giêsu nói với người Kinh sư: “Ông không còn xa nước Thiên Chúa đâu!”  Biết rõ về hai giới răn quan trọng nhất là bước đầu tiên.  Đem chúng ta thực hành là bước thứ hai.  Chúng ta không còn xa nước Thiên Chúa là bao – Chỉ cần thêm một bước nữa.  Để thực hiện được bước này, chúng ta cần Thiên Chúa chạm tay Người vào tâm hồn chúng ta.

Sưu tầm

**************************************

Lạy Chúa,

Ước gì con có thể yêu Chúa

Bằng một trái tim sốt mến,

Dứt khoát hiến dâng!

Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa

Và ở lại trong tình yêu Chúa

Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…

 Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em

Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,

Vì Chúa, vì anh em,

Mà vẫn đơn sơ, chân thành,

Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,

Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,

Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.

 Chớ gì con biết yêu anh em

Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….

Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy

Đối với trái tim phàm hèn con,

Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,

Có lúc lạnh lùng như sắt đá,

Có lúc quá trớn bồng bột…..

 Jean Dozolme

From Langthangchieutim

SỐNG THÁNH TRONG ĐỜI THƯỜNG

SỐNG THÁNH TRONG ĐỜI THƯỜNG

Khi mừng lễ các thánh Nam Nữ như vậy, trước tiên, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở cho con cái biết rằng có một sự hiệp thông rất mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội: Giáo Hội Lữ Hành, Giáo Hội Thanh Luyện và Giáo Hội Chiến Thắng.  Nói cách khác, có một mối liên hệ thiêng liêng hỗ tương giữa những người còn đang sống ở trên dương thế này với những linh hồn đang chịu thanh luyện trong Luyện Tội, và với các thánh đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng (x. GLTYGHCG, số 195 & Lumen Gentium, số 49).

Thứ đến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì ân sủng của Chúa tràn ngập trên cuộc đời các thánh, để từ ân sủng của Chúa, các ngài đón nhận và tỏa hương nhân đức trong cuộc sống, đồng thời lưu truyền lại cho con cháu hôm nay.  Thật vậy, khi nói về sự ảnh hưởng của các thánh Tử Đạo, Tertuliano nhận xét: “Máu các vị Tử Ðạo là hạt giống trổ sinh nhiều tín hữu.”  Chúng ta có được đời sống đức tin như ngày hôm nay là do ơn Chúa ban và biết bao hy sinh của các bậc tiền nhân.

Tiếp theo là: noi gương các ngài để ngày càng tiến tới sự trọn lành.  Thánh Augustino đã nói một câu thời danh: “Ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi, tại sao không?”  Sống thánh và làm thánh là bổn phận, trách nhiệm của chúng ta.  Thánh Giêrađô đã nhất quyết phải làm thánh khi từ giã người mẹ của mình để lên đường theo các cha dòng Chúa Cứu Thế đi tu, ngài đã viết một mảnh giấy để lại rằng: “Mẹ ở lại, con đi làm thánh!”  Như vậy, việc nên thánh là trách nhiệm của chúng ta, và cũng là đòi hỏi của Thiên Chúa: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta  là Đấng Thánh” ( Lêvi  19,2; 1 Tx 4,3 ; 1 Pr 1, 16…).

Cuối cùng, trong một xã hội đang chạy đua với kinh tế thị trường, coi thường đạo lý; một xã hội bất công lan tràn; thượng tôn hưởng thụ và khoái lạc dẫn đến tình trạng vô cảm, vô tâm, vô tình…  Nên thánh trong thời đại của chúng ta ngày hôm nay chính là khẳng khái triệt để không sống theo lối sống sa hoa hưởng thụ, lối sống dẫm đạp lên nhau, lối sống nín thở qua cầu, nói chung lối sống chỉ biết lo cho cái bụng mà quên đi trái tim.  Các thánh khi xưa là những người hoàn toàn khước từ những gì là mau qua chóng hết để tìm cho mình một kho tàng vĩnh cửu trên Trời là niềm vui, bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.

Mừng lễ các thánh hôm nay, chúng ta hãy xin với các thánh là những bậc tổ tiên của chúng ta, xin các ngài nâng đỡ, bầu cử cho chúng ta để chúng ta cũng được hạnh phúc như các ngài trên Thiên Quốc.  Và có lẽ không gì làm cho các ngài vui và Chúa được tôn vinh cho bằng chúng ta noi gương các ngài để nên thánh.  Vì thế, trong việc giáo dục con em của mình, mong thay trong mỗi giáo xứ hay gia đình nên có những sách truyện, cuốn phim, tranh ảnh của các thánh, đây là những phương tiện bổ trợ rất hữu ích cho việc giáo dục Kitô giáo và cho đời sống đức tin nơi thế hệ mai sau.

Mong thay lời dốc quyết của thánh Giêrađô khi xưa: “Mẹ ở lại, con đi làm thánh!” cũng là sự quyết tâm của chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta không ngừng xin Chúa ban ơn trợ lực để chúng ta vượt qua được những cám dỗ hầu tiến tới sự trọn lành như các thánh trên Trời.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì quyền năng và tình thương của Chúa trên các thánh.  Vì lời chuyển cầu của Mẹ Maria và các thánh, chúng con xin Chúa ban cho chúng con cũng được dồi dào ân sủng như các thánh mà hôm nay chúng con mừng kính, hầu mai ngày, chúng con được cùng các ngài xum họp để tôn vinh, thờ lạy và chúc tụng Chúa không ngừng.  Amen!

Jos. Vinc. Ngọc Biển

ĐTC Phanxicô: không yêu thương là bước đầu của việc giết người

 

ĐTC Phanxicô: không yêu thương là bước đầu của việc giết người

***

Không phải chỉ khi tước đoạt sự sống của mình hay của ai đó mới là giết người. Nhưng chính việc thờ ơ với sự sống, sỉ nhục khinh khi, không tin tưởng, gây tổn thương, không yêu thương, nói hành nói xấu v.v…, cũng là những hành động giết người. Ngược lại, không giết người là chăm sóc, nhìn nhận giá trị, bao gồm nhìn nhận, tha thứ cho tha nhân. Giới răn “chớ giết người” là lời mời gọi yêu thương.

Trước khoảng 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô trong buổi tiếp kiến chung vào sáng thứ tư ngày 17.10, ĐTC Phanxicô tiếp tục giải thích về điều răn thứ 5 “Chớ giết người”. Trước hết, ĐTC nhắc lại điều ngài đã giải thích trong bài huấn dụ tuần trước: đối với Thiên Chúa, sự sống con người thật quý giá, thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Không ai có thể khinh khi sự sống của người khác hay của chính mình; thực tế là con người mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa và là đối tượng của tình yêu vô cùng của Thiên Chúa, dù cho họ sinh ra trong hoàn cảnh nào. Tiếp đến, ĐTC trình bày  ý nghĩa sâu xa mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta trong đoạn Tin mừng theo thánh Mátthêu 5, 21-24.

 

Các hình thức giết người

ĐTC nói: Chúa Giêsu khẳng định rằng, trước tòa án của Thiên Chúa, cả sự giận dữ đối với anh em mình cũng là một hình thức giết người. Do điều này, thánh Gioan tông đồ viết: “Ai ghét anh em mình là giết người(Ga 3,15). Nhưng Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở điều này, và trong cùng cách lý luận này, Người nói thêm rằng cả việc sỉ nhục và khinh khi có thể giết chết người. Và chúng ta đã quen thuộc với việc sỉ nhục. Một lời sỉ nhục giống như một hơi thở đối với chúng ta vậy. Và Chúa Giêsu nói: “Hãy dừng lại, bởi vì sỉ nhục là điều xấu, nó giết người.” Người sỉ nhục nói: “Nhưng tôi thì… với loại người này, tôi coi thường họ.” Đây là một hình thức giết đi phẩm giá của một người. Thật là tốt nếu giáo huấn này của Chúa Giêsu đi vào tâm trí và mỗi người chúng ta sẽ nói: “Tôi không bao giờ sỉ nhục ai.” Sẽ là một đề nghị hay, bởi vì Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Xem kìa, nếu bạn sỉ nhục, nếu bạn khinh khi, nếu bạn oán ghét, điều này là việc giết người.

Cần hòa giải khi tham dự Thánh lễ

ĐTC nói tiếp: Không có bộ luật nào của con người đánh đồng các hành vi khác nhau như thế khi gán cho chúng cùng một mức độ phán xét. Và một cách cương quyết, Chúa Giêsu còn mời chúng ta, ngay lập tức, dừng lại việc dâng lễ vật trong đền thờ nếu nó nhắc chúng ta rằng chúng ta có bất hòa với một người anh em, để đi tìm anh ta và làm hòa với anh ta. Ngay cả chúng ta, khi chúng ta đi tham dự Thánh lễ, chúng ta phải có thái độ hòa giải này với những người mà chúng ta có vấn đề với họ. Ngay cả chúng ta nghĩ xầu về họ thì chúng ta đã sỉ nhục họ rồi. Nhưng nhiều lần, trong khi chúng ta chờ đợi Linh mục đến cử hành Thánh lễ, chúng ta nhiều chuyện một tí và chúng ta nói xấu người khác. Nhưng chúng ta không thể làm điều này. Chúng ta hãy suy nghĩ: sự quan trọng của việc sỉ nhục, sự quan trọng của việc khinh rẻ, sự quan trọng của việc thù ghét. Chúa Giêsu đặt những điều này ngang hàng với việc giết người.

Thờ ơ là giết người

Chúa Giêsu muốn nói điều gì khi Người mở rộng điều răn thứ 5 này đến tận điểm này? ĐTC giải thích: Con người có một sự sống cao quý, rất ý nghĩa, và có một “bản ngã” tâm lý không kém quan trọng so với sự hiện diện thể lý. Trong thực tế, một câu nói không phù hợp là đủ xúc phạm đến sự vô tội của một đứa trẻ. Một cử chỉ lạnh lùng là đủ để làm tổn thương một người phụ nữ. Không tin tưởng người trẻ là đã đủ làm tan vỡ trái tim của họ. Chỉ cần phớt lờ một người là đủ tiêu diệt anh ta. Sự thờ ơ là giết người. Nó giống như là nói với người khác: “Đối với tôi, anh coi như đã chết rồi”, bởi vì như thế là bạn đã giết người đó trong trái tim bạn. Không yêu là bước đầu tiên giết người; và không giết người là bước đầu tiên để yêu.

Nhưng chúng ta là người bảo vệ anh chị em mình

Từ đầu sách Thánh kinh, chúng ta đọc câu nói kinh khủng được tên giết người đầu tiên, Cain, nói ra, sau khi Thiên Chúa hỏi anh ta em của anh ta đâu. Cain trả lời: “Tôi không biết. Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu?(St 4,9). Những kẻ giết người cũng nói như thế: “nó không liên quan đến tôi, đó là việc của bạn”, và những điều tương tự. ĐTC đặt câu hỏi: Chúng ta có phải là người canh giữ anh em chúng ta? Và ngài trả lời: Đúng! Chúng ta là người bảo vệ anh em! Chúng ta là người bảo vệ nhau! Và đây là con đường của sự sống, là con đường không giết người

Tình yêu tha thứ và thương xót

Sự sống con người cần tình yêu. Và đâu là tình yêu đích thực? ĐTC giải thích: Đó là tình yêu mà Chúa Kitô đã tỏ cho chúng ta, đó là lòng thương xót. Tình yêu mà chúng ta không thể thiếu đó chính là tình yêu tha thứ, tình yêu đón nhận người đã làm điều không tốt cho chúng ta. Không có ai trong chúng ta có thể sống sót tồn tại mà không có lòng thương xót, tất cả chúng ta đều cần được tha thứ. Do đó, nếu giết người nghĩa là hủy diệt, đàn áp, loại bỏ ai đó, thì không giết người có nghĩa là chăm sóc, xem họ có giá trị, bao gồm chứ không loại bỏ, và cả tha thứ.

“Không làm điều xấu là một việc tốt, nhưng không làm điều tốt thì không phải là điều tốt”

ĐTC khẳng định rằng mỗi người được mời gọi làm điều tốt, điều thiện, hơn là chỉ bằng lòng với việc không làm điều xấu là đủ. Ngài nói: Không ai có thể tự lừa dối mình bằng cách nghĩ rằng: “Tôi ok bởi vì tôi không làm điều gì xấu cả”. Một khoáng chất hay một cái cây – những viên đá cuội ở đó, không làm điều gì xấu, chúng hiện hữu theo kiểu như thế, nhưng một con người thì không. Con người được đòi hỏi hơn thế nữa. Có những điều tốt để làm, được chuẩn bị cho mỗi người chúng ta, mỗi người có việc tốt của mình, nó làm cho chúng ta hoàn toàn là chính mình. “Không giết người” là một lời kêu gọi yêu thương và thương xót, là một lời kêu gọi sống theo Chúa Giêsu, Đấng đã ban sự sống cho chúng ta và đã sống lại vì chúng ta. Một khi chúng ta cùng nhau, trong quảng trường này, lập lại lời của một vị thánh về điều này: “Không làm điều xấu là một việc tốt, nhưng không làm điều tốt thì không phải là điều tốt. Chúng ta luôn phải làm điều tốt.”

Giới răn “Chớ giết người” là lời mời gọi yêu thương

ĐTC kết luận rằng giới răn thứ 5 chính là lời mời gọi yêu thương. Ngài nói: Chính Chúa Giêsu, khi nhập thể, Người đã thánh hóa sự sống của chúng ta; chính Người, bằng chính máu của mình, đã làm cho sự sống trở nên vô giá; chính Người, “Đấng khơi nguồn sự sống(Cv 3,15), nhờ đó mỗi người chúng ta là một món quà của Chúa Cha. Trong Người, trong tình yêu mạnh hơn sự chết của Người và bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần do Thiên Chúa ban cho chúng ta, chúng ta có thể đón nhận Lời “chớ giết người” như lời mời gọi quan trọng và thiết yếu nhất: lời mời gọi yêu thương.

(Hồng Thủy – Vatican)

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường.  Cảnh tượng này cho ta thấy đời anh bị bao phủ bởi nhiều thứ bóng tối.

Trước hết là bóng tối thể lý.  Không có đôi mắt, đời anh chìm trong tăm tối.  Không biết thế nào là ánh sáng.  Không biết thế nào là cảnh thiên nhiên.  Không nhìn được khuôn mặt của những người thân.  Không tự mình làm gì được.  Không tự mình sinh sống được.  Chẳng biết có ánh sáng ban ngày.  Đời anh chìm ngập một bóng đêm.  Bóng đêm dày đặc không một chút ánh sáng.  Bóng đêm triền miên không bao giờ chấm dứt.  Tất cả là một màu đen.  Thế giới màu đen.  Quần áo anh mặc màu đen.  Khuôn mặt mọi người đều màu đen.  Cơm anh ăn hằng ngày cũng màu đen.  Một màu đen muôn thưở.

Kế đến là bóng tối xã hội.  Vì tàn tật anh trở thành người dư thừa trong xã hội.  Anh bị loại trừ khỏi xã hội.  Chỉ còn ngồi bên vệ đường mà ăn xin.  Như cây cỏ mọc bên đường thôi.  Thậm chí khi Chúa đến, mọi người nô nức đón Chúa.  Còn anh chỉ kêu lên thôi cũng đã bị người ta cấm đoán, đe nẹt rồi.  Anh không có quyền gì hết.  Vì anh chỉ là thân phận sống nhờ ở đậu.

Sau cùng là bóng tối tâm lý.  Cuộc đời anh không có lối thoát.  Anh bị kết án suốt đời chịu giam cầm trong bóng tối.  Làm sao thoát ra được khi anh không thể tự mình làm gì.  Khi mọi người kể cả những người thân ruồng bỏ anh.  Khi xã hội gạt anh ra bên lề cuộc sống.

Nhưng Đức Kitô đem đến cho anh ánh sáng ngập tràn.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng hy vọng.  Tuy chưa được gặp Chúa, nhưng chỉ nghe những lời Chúa giảng, những việc Chúa làm anh đã tràn trề hy vọng.  Chúa có thể giải thoát anh khỏi định mệnh tăm tối vây bọc cuộc đời anh.  Người có thể đưa anh tới miền ánh sáng.  Tương lai anh sẽ thay đổi.  Cuộc đời anh sẽ tươi sáng.  Anh tràn ngập niềm hy vọng.  Niềm hy vọng trở thành ánh sáng chiếu soi cuộc đời anh.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng đức tin.  Tuy chưa gặp Chúa nhưng anh đã hoàn toàn tin tưởng vào Chúa.  Không tin sao được vì chỉ có Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu anh khỏi bóng tối.  Vì thế thoạt nghe tiếng Chúa anh đã kêu van lớn tiếng xưng tụng Người là Con Vua Đavít nghĩa là Đấng Cứu Thế.  Có lẽ những người đi đón Chúa hôm ấy đều có đôi mắt sáng.  Nhưng không ai có ánh sáng đức tin.  Vì không ai tin Chúa là Đấng Cứu Thế.  Trừ anh mù.  Mắt anh mù nhưng đức tin của anh sáng.  Nên anh là người duy nhất lớn tiếng tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế.  Niềm tin của anh thật mãnh liệt.  Dù bị mọi người chung quanh ngăn cản, niềm tin ấy không những không bị suy yếu mà còn càng trở nên mạnh mẽ hơn.  Bị mọi người đe dọa, cấm cản, niềm tin của anh càng vững vàng không gì có thể lay chuyển được, nên anh càng kêu to hơn.

Người đã chiếu vào đời anh ánh sáng tình yêu.  Chúa là tình yêu.  Chúa không nghe bằng tai nhưng nghe bằng trái tim.  Vì thế giữa đám đông hỗn độn của thành Giêricô phồn hoa, Chúa vẫn nghe được tiếng kêu van của một người con bé nhỏ ngồi bên vệ đường.  Không những Chúa nghe thấy tiếng lòng khốn khổ của anh mà Chúa còn ưu ái gọi anh đến.  Thật là một cử chỉ ưu ái quá sức tưởng tượng.  Giữa đám đông trong một thành phố phồn hoa, Chúa chẳng gọi ai trừ ra người mù ngồi bên vệ đường.  Chúa chẳng chờ đợi ai trừ ra chờ đợi người con nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi nhất thành phố đến với Chúa.  Đời anh chưa được ai yêu thương như thế.  Đời anh chưa được ai quan tâm như thế.  Đời anh chưa được ai mời gọi như thế.  Đời anh chưa được ai chờ đợi như thế.  Và Chúa còn hỏi anh muốn gì.  Đời anh chưa được ai âu yếm như thế.  Tình yêu Chúa làm cho đời anh bừng sáng.  Anh tìm thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời khi gặp được Chúa.

Chúa đem ánh sáng đến cho anh.  Chúa là tất cả đời anh.  Anh không cần gì khác nữa.  Anh vất bỏ cả áo choàng là tài sản duy nhất.  Vì anh đã khám phá ra kho tàng quý giá nhất đời.  Anh đứng phắt dậy mà đến với Chúa vì tuy mắt chưa nhìn thấy mà lòng anh sáng như sao băng.  Và nhất là anh đi theo Chúa cho đến cùng vì Chúa chính là ánh sáng cho đời anh.  Chúa sẽ dẫn đường anh đi.  Đi đến sự thật và đến sự sống.

Đời sống tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin vào Chúa.  Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa.  Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa.  Hãy tin tưởng vào Chúa.  Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi.  Hãy hy vọng vào Chúa.  Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời.  Hãy yêu mến Chúa.  Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô bỏ tất cả mà theo Chúa.  Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Lc 12,35-38

Nhớ lại những ngày trước đây, vào ban đêm thỉnh thoảng cũng có tiếng gõ cửa và mỗi lần nghe tiếng gõ cửa là tim thót vào, nổi hết cả da gà. Cái gọi là kiểm tra đột xuất ban đêm, tiếng đập cửa dồn dập, biết mình không có tội gì mà sao vẫn cứ sợ.

Đang tự do quen rồi muốn ăn đâu ở đâu chẳng ai bảo gì.

Nay “thời đại mới” tu chui, ngủ lậu hay vì đi học, đi công việc không về được phải ngủ lại nhà anh em, thế là xảy ra những chuyện nửa khóc nửa cười.

Có anh nghe gõ cửa đang ở trên giường lăn một phát xuống gầm giường, khi “nhân viên” kiểm soát thấy có giường chăn chiếu mùng mền đầy đủ mà lại không có người, họ rờ xuống chiếu vào chăn mùng vẫn còn hơi nóng… thế là cũng lại lôi một phát từ gầm giường lên xe về huyện.

Có anh nghe gõ cửa phóng một phát lên tới trần nhà, “nhân viên” vào rọi đèn pin lên trần nhà không thấy… mà sao lại có đôi dép ở dưới… cuối cùng cũng phải từ trần nhà tụt xuống lên xe về huyện.

Lại có anh khi nghe gõ cửa bèn mở cửa sau phóng một phát vào bụi rậm, nín thở… ngồi chờ thật lâu rôi khi nghe tiếng loẹt quyẹt bên ngoài bèn nói vọng ra: Ê tụi mày. Chúng nó đi hết chưa? Thế là chúng nó lôi cổ ra khỏi bụi rậm lên xe về huyện.

Rồi lại có anh khi nghe gõ cửa thì lao thẳng lên sân thượng nhảy vào bể nước… khi “nhân viên” đi rồi, người nhà một phen hú vía nên quên phéng chuyện báo cho người đang ngâm mình trong bể, đến gần sáng chui ra khỏi bể nước tím tái hết cả mình mẩy.

Có anh… có anh…Thôi nhiều anh quá rồi !

Chúa ơi ! cả đời sống chúng con mà Chúa cứ đến theo kiểu “kiểm tra đột xuất” thì chúng con làm sao sống được ?

Chúa đi đâu… mà về cơ chứ ?

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Chúa hằng ngày ở với con thì hà cớ gì con lo sợ gõ cửa ?

Chuyện tỉnh thức là chuyện phía con người chúng con.

Tỉnh thức tức là sống với Chúa đang sống ngay bên, ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Tỉnh thức là luôn nhớ đến… mau nhớ đến… sống tương quan thân mật chỉ vì quá hạnh phúc. “Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ”.

Vì quá hạnh phúc nên canh mấy cũng vẫn tỉnh thức chứ lị !

Đầy tớ được ngồi vào bàn ăn và được ông chủ phục vụ từng người, quá đã !

Nhưng cũng đừng vội ham ăn uống nhá ! Niềm vui và hạnh phúc sống tương quan ở trong ở với ở cùng ở bên, nhất là đồng hình đồng dạng… thì “bàn tiệc” đây không cần đến thức ăn và rượu uống thì đã ngây ngất quá chừng rồi và sẽ khám phá ra muôn điều kỳ diệu Ngài đã và đang thực hiện cho con cái loài người chúng ta.

“Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần”.

Càng đọc càng thấm thía càng thấy mình đúng nhé !

“Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú,

nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh,

và là người nhà của Thiên Chúa,

bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ,

 còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su”.

Người gắn bó với Chúa hằng ngày

thì không cần phải chờ gõ cửa…

mà nhìn thấy từ xa là đã mở cửa rồi (mỗi lần về trụ sở là gọi điện thoại cho bác gác cổng trước 5 phút, xe đến nơi là chui tọt ngay vào vì cổng đã mở sẵn).

Mỗi ngày vẫn thấy Chúa đang ở với mình

thì là tỉnh thức đấy thôi nhá.

OTC

 

Nguồn   https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/10/chua-o-au-ma-go-cua-co-chu.html

Vẫn còn là một anh mù

Vẫn còn là một anh mù

Một tác giả Ấn Độ có kể câu truyện ngụ ngôn được Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi lại trong tác Phẩm “Cái cười của thánh nhân” như sau :

Có một người kia sinh ra đã bị mù. Sống trong một căn phòng nhưng bởi không thấy gì cả, nên anh phủ nhận tất cả những cái gì mà mọi người chung quanh quả quyết là có. Anh nói: – “Tôi không tin vì tôi không thấy’

Một vị lương y đem lòng thương hại đi tìm một thứ linh dược trên dẫy Hy-mã-lạp-sơn về chữa anh và anh được lành bệnh. Anh ta sung sướng tự phụ bảo:

– Giờ đây tôi thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.
Nhưng mọi người nói với nói với anh:

– Bạn ơi, bạn chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này. Như thế thì có là bao. Ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, còn biết bao vẻ đẹp lộng lẫy và màu sắc mà bạn chưa thấy

Nhưng anh ta không tin: – Làm gì có những cái đó, tôi chưa thấy những cái đó, những gì có thể thấy được tôi đã thấy tất cả rồi, còn gì!

Một y sĩ khác liền leo lên tận núi cao, được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác đem về giúp cho anh ta có được cặp mắt nhìn xa hơn những vật chung quanh căn phòng.

Bấy giờ thì anh ta thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Mừng quá! Rồi lòng tự phụ dâng lên, anh thốt lên: – Trước đây tôi không thấy, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin. Như thế bây giờ chẳng còn cái gì mà tôi không thấy không biết, đâu còn ai hơn tôi được

Nhưng có một hiền giả có cặp mắt thần nói với anh ta:

– Này cậu ơi! Cậu vừa hết mù nhưng cậu vẫn còn chưa biết gì cả. Tại sao lại quá tự phụ như thế. Cũng như khi cậu ở trong căn phòng. Tầm mắt của cậu không vượt khỏi bốn bức tường, cậu không tin có vật gì ngoài căn phòng của cậu. Giờ đây tầm mắt cậu vượt khỏi bốn bức tường và thấy được nhiều vật xa hơn. Nhưng với chừng mực của tầm mắt và lỗ tai của cậu như thế này, cậu làm gì biết được những vật ngoài ngàn dặm mà tai mắt cậu không thấy không nghe được.

Cậu có thấy được những nguyên nhân cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu không?

Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không thể kể như cát sông Hằng.

Tại sao cậu dám tự phụ rằng tôi đã thấy cả, tôi biết cả?

Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng và lấy sáng làm tối.

 From: Ngoc Bich & KimBằngNguyễn 

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

 Suy Tư Chúa nhật thứ 30 thường niên năm B 28/10/2018

(Mc 10: 46-52)

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Đức Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

“Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,”

“Không u ám như cõi lòng ma quỷ.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Sáng láng, mù loà, hoặc u uẩn, vẫn là trạng huống tâm linh con người lâu nay còn gặp. Gặp, cả vào lúc Chúa đến thăm, như trình thuật hôm nay còn nói rõ.

Trình thuật thánh Mác-cô, nay nói về tình trạng mù loà và sáng láng, ở con dân. Tình trạng ấy, vẫn cứ thấy trong lịch sử, ở văn minh/văn hoá, ở nền chính trị và kinh tế của chúng ta, vào mọi thời.

Rất nhiều lần, ta vẫn có ý niệm về ý nghĩa và tính chất mà qua đó mọi người mới hiểu được chính mình. Hiểu, là hiểu về tình huống lịch sử và ảnh hưởng của nó lên cách sống của ta. Nhiều truyện kể lịch sử và văn minh con người từng chứng tỏ điều đó. Có một số sự kiện, do truyền thống trong Đạo, chí ít là thánh truyền ở Đạo mình lại đã làm nên.

Một số khác, đến từ các học thuyết triết lý của cuộc sống. Và, một số lại cũng do ánh sáng tư tưởng ở thời Trung Cổ và cả thời hôm nay từng khuynh loát/lũng đoạn khiến trở thành triết thuyết hiện đại. Sau trận chiến thế giới và thời kỳ khắc phục tiếp theo sau, con người đã lấy lại được sinh lực, từ nhiều phía. Phía của người trong Đạo. Của, Công Đồng Vatican II chợt đến rồi đi. Và, cả phía có thắc mắc/ han hỏi về cuộc đời ta đang sống.

Trong quá khứ, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu chỉ trích/vấn nạn tính hiện đại của cuộc sống. Nhiều người còn đã cho nhiều thứ, hoặc cứ lẳng lặng tìm giải đáp cho câu hỏi thật chính xác, thiết thực. Có người lại không thấy câu giải đáp cho mọi luận thuyết đưa ra từ thời Trung Cổ. Một số khác gặp đổ vỡ lại chấp nhận tính hiện đại mà chẳng thắc mắc. Đổ vỡ, từ “1968”, một thời khắc có những sự việc thể hiện trong Hiến Chế “Humanae Vitae”. Có cả vụ ám sát nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy và nhà hoạt động cho nhân quyền là mục sư Martin Luther King. Rồi, xảy đến trong chiến tranh Việt Nam cùng lúc xuất hiện xã hội công nghiệp. Và cuối cùng, hiện ra thế giới thứ ba nghèo đói, thiếu thốn, chậm lụt.     

Tiếp đó, lại thấy xảy ra cuộc nội loạn bắt đầu từ người Pháp ở Paris, lan sang tận Bắc Mỹ đòi chống đối thuyết lý-tưởng-hoá hết mọi sự. Từ thuyết hiện-đại tại các nơi, cho tới chủ thuyết này khác nhằm thay thế thuyết Mác xít, thuyết căn bản hoặc học thuyết nào khác nung nấu tâm can của nhiều người. Nổi dậy và nội loạn, tiếp diễn trên đường phố/chốn đông người, rất bạo động. Có khi chỉ mơ hồ. Đôi lúc, lại ảo tưởng về mọi sự. Thời hậu-hiện-đại lại chủ trương huỷ hoại mọi chuyện. Chối bỏ mọi sự. Chối, cả niềm tin vào bất cứ thứ gì. Và rồi, tính hiện-đại lại vẫn tồn tại với khoa học kỹ thuật. Với mạng truyền thông, vi tính. Với cả trường lớp, chốn doanh thương ở phố chợ. Thế nên, con người nay có thói quen ra như thế.

Thật khó nói và khó nhận định. Khó, là bởi nền kinh tế thế giới, đã vỡ đổ. Dân gian mọi người trên thế giới, rày bối rối. Thị trường thế giới lại lủng củng/rối bời, khiến người người ra sức tìm cách chỉnh sửa, để cứu chữa. Tuy là thế, nhiều vị vẫn không có được một triết thuyết căn bản để cho đời hầu giúp mình chỉnh đốn cuộc sống thực tế, để tiến bước.

Thách thức ở đời người, không chỉ mỗi chuyện chỉnh sửa hệ thống chủ trương đặt nặng lên lợi nhuận nhờ khai thác bóc lột người khác. Thách thức ở đây/hôm nay, là tạo dựng hệ thống trong đó tài sản của tất cả mọi người phải được sẻ san/phân phát cho người khác. Vì lợi ích của mọi người. Thách thức của thế giới hôm nay, là đảm bảo rằng người khốn khó/nghèo hèn phải được quan tâm, chăm sóc. Thị kiến này từng làm rúng động thế giới từ năm 1968 cho đến nay chưa phục hồi.

Đó là vấn đề. Vấn đề, là mọi thứ nay dường như đã vụt mất. Vụt mất đi, khả năng tin tưởng vào các ngân hàng trữ kim to lớn và tin vào các vị tài phiệt nắm giữ đầu tư của ta, cho đúng phép. Người người hôm nay, lại để mất tính chất đạo đức/chức năng cần có cho người nghèo. Nhưng làm thế nào để cảm thông với những người chuyên khai thác bóc lột tài sản của mình rồi sẽ mang cùng một ý tưởng tìm cách để thế giới từng phát triển giùm giúp thế giới thứ ba, là thế giới không được ai đoái hoài, giùm giúp?

Đã có lần, ta cứ tưởng rằng mình đã có câu giải đáp cho mọi sự. Cả sự cố, lẫn gẫy đổ. Cả những quyết tâm tạo mô hình để người khác bắt chước mà sống sót.

Nhưng, từ đó đến nay, lại đã có khủng hoảng về niềm cậy trông/tin tưởng vào mọi thứ. Lẽ sống hôm nay, chừng như rơi xuống vực sâu, ở dưới đất. Các vị cao niên đã ra đi, không còn minh chứng được gì. Còn ta, nay đang vào thời kỳ chuyển tiếp mà chẳng thấy được gì ở lại nơi ta, ra mới mẻ. Đã có thời, ta được mời đề xuất những mới lạ hầu giúp mình sống sót. Có thể, đó cũng là khoa sinh thái rất mới mẻ giúp ta sinh hoạt phát triển. Sinh thái đây, không như những gì hiện rõ quanh ta. Mà, là thái độ sống liên đới với nhau, nhờ cậy nhau trong mọi việc.

Liên đới và cậy nhờ, không theo cách cá nhân tìm lợi nhuận, cho bằng tìm về với vũ trụ vạn vật có ta ở trong đó. Trong “hệ thống” của sự sống, như vẫn thấy yêu cầu tạo sự sống mới. Sự sống có quan hệ hỗ tương, trợ lực nhiều hơn. Và, bớt dần bản ngã riêng tư bé nhỏ, để mở rộng với mỗi người và mọi người.

Thế giới với vạn vật, như thế sẽ giúp ta trở nên nhẹ nhàng, êm đềm nhiều nhân bản. Việc này chỉ xảy đến khi ta tìm được những gì mình để mất, cũng rất lâu. Mất, con tim chân chính những biết yêu thương, giùm giúp mọi người. Phải công nhận, là: ta từng phung phí thời gian kiếm tìm thêm “thu nhập/lợi nhuận” cho riêng mình. Trái lại, cần khám phá ra mức độ sự sống khả dĩ tạo cho ta thêm thời gian và nghị lực và tài nguyên cho “người khác”. Tức, những người kiếmn tìm mãi vẫn không có. Mỗi người và mọi người phải nói được: “Tôi hiện hữu là vì mọi người đã hiện hữu cùng với tôi.” Nói thế có nghĩa: hãy bớt tập trung vào mình. Mà, hiệp thông sâu sắc nhiều hơn nữa.

Đó là, sắc thái đặc trưng tư riêng của người cùng chung ý nghĩa. Đó là, tin tưởng và cởi mở với mọi người. Bởi, triết lý xưa cũng như quan niệm ngày nay đều nhấn mạnh chuyện này. Tất cả chúng ta đều sống chung trong vũ trụ vạn vật khiến ta có thể tin tưởng lẫn nhau, vì ta cùng xuất thân từ Chúa, có Chúa ở chung cùng trong đó. Là người, ta cũng thuộc cùng một vũ trụ của những người có thể tin cậy nhau. Tin, vào nhân loại rất “của chung”. Và, người-dưng-khác-họ lại không là mối đe doạ gửi đến với ta. Nhưng, họ chính là cơ hội để ta có thể minh chứng rằng: hiện thời, vẫn có nhiều bản thể, hơn là chỉ có “chúng ta” đang sống trong vũ trụ khá riêng rẽ.

Mọi truyền thống đều phải thực hiện chuyện như thế, kể cả truyền thống tôn giáo và triết lý sống. Tin Mừng lâu nay được coi là Truyền thống trong Đạo nói lên giá trị kinh điển của Đức Chúa. Điều này thật rất đúng, kể từ khi thánh Máccô viết Tin Mừng đầu cho Tân Ước. Nhưng, tự thân, Tin Mừng Chúa nói vẫn cần một diễn tả mới về ý nghĩa chủ lực để chuyên chở.

Tin Mừng ta đọc, nay kể về người mù ngồi đó xin ăn, bên vệ đường. Xin ăn hay mù loà ở trong truyện, có thể mang ý nghĩa của một diễn giải chính trị, vào thời đó. Người ăn xin/mù loà lại những muốn người nào đó, có thể là Chúa đang đi ngang, sẽ xót thương phận hèn “xin ăn” của anh ta. Nhưng, Chúa lại đã gọi anh đến gần. Và, anh lại đã nhảy mừng vì sung sướng, đã đến cùng Chúa.

Và, lời Chúa hỏi: ”Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Và, người “xin ăn” lại đã diễn giải sự việc nay thấy đúng. Sự việc rất đúng, đó là: “Lạy Chúa, xin cho tôi thấy được!” Anh không “thấy” được điều đó, nhưng qua yêu cầu Chúa tặng ban cho mình, anh đã “thấy”. Hành động “thấy” và tin đã cứu anh. Việc “thấy” lại đã về với anh. Và, anh bước theo con đường Chúa đi, mà chẳng cần đến con mắt dẫn đường của ai hết.

Phải chăng điều tuyệt vời, nếu hôm nay ta lại cũng “thấy” được như thế? Phải chăng, điều ấy rất tuyệt, nếu lãnh đạo mọi tổ chức cũng “thấy” được như thế? Cả ta nữa, ta cũng cần “thấy” được sự việc Chúa muốn mọi người cũng “thấy” và cũng làm, như Ngài?

Tìm hiểu điều Chúa muốn ta “thấy”, cũng nên ngâm nga lời ca còn đó trong đời, vẫn cứ bảo:

            “Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

            Không u ám, như cõi lòng ma quỷ.

            Vì có Đấng Hằng Sống, hằng ngự trị.

            Nhạc thiêng liêng dồn trổi, khắp hư linh.” (Hàn Mặc Tử – Ngoài Vũ Trụ)

Trong hay ngoài vũ trụ, ai cũng đều “thấy” cõi lòng ma quỷ được Chúa ngó ngàng, hỏi han rất ân cần. Hỏi và nói những điều tương tự, ở trên: “Anh chị, muốn Tôi làm gì cho anh chị đây? Và hôm nay, câu trả lời còn đó vẫn dành cho mọi người. Ở mọi thời.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn

 Mai Tá lược dịch.