TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

GM Giuse Vũ Duy Thống

Ngày 1.11.1950, ĐGH Piô XII đã long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Lên Trời với nội dung: “Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau khi hoàn tất hành trình dương thế, đã được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác.”  Chọn công bố chân lý đức tin này trong ngày lễ các thánh nam nữ, Giáo Hội hữu ý cho thấy Đức Mẹ dù đứng trong hàng ngũ những người đã được thánh hoá, nhưng vinh quang Mẹ được hưởng đã đưa Mẹ lên vị trí hàng đầu: Mẹ là Đấng “đầy ơn phúc.” 

  1. Tín điều Đức Mẹ Lên Trời: ưu thắng của lòng đạo đức bình dân.

Đây là một tín điều mới mẻ, mới được định tín cách đây hơn 65 năm, quý vị từ 65 tuổi đổ lên đã có một thời gian sống không có tín điều này; nhưng không phải là tín điều mới lạ, vì được châm rễ sâu trong lòng sùng mộ của dân Chúa từ lâu đời rồi.  Thế kỷ thứ VI ở đông phương đã thấy có lễ mừng Đức Mẹ Ngủ, sang thế kỷ thứ VII lịch phụng vụ Rôma đã ấn định lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15/8 hằng năm, và đến thế kỷ IX cả châu Âu đã mừng lễ với tên gọi Mông Triệu như ngày nay.  Lex orandi, lex credendi, luật cầu nguyện đã dần dà chín mùi và khi đến thời đến lúc trở thành luật đức tin.

Nếu việc Đức Mẹ Lên Trời đã rõ rệt trong lòng sùng mộ của dân Chúa, thì việc đưa ra nền tảng thần học giải thích vẫn còn phải vất vả truy tìm.  Một mặt biến cố Đức Mẹ Lên Trời không được Phúc Âm nói đến, cũng dễ hiểu vì Phúc Âm là cuốn sách viết về đời và lời của Chúa Giêsu.  Còn Đức Mẹ xuất hiện trong đó chỉ như nhân vật phụ, lại nữa Mẹ rất kiệm lời, trong Phúc Âm chỉ thấy 7 lời của Mẹ thôi.  Mặt khác như Phúc Âm thứ tư cho biết, từ dưới chân thập giá Mẹ đã được trao cho sự chăm sóc của thánh Gioan, nên sau lễ Thánh Thần hiện xuống, Mẹ cũng dần dần rút lui vào hậu trường cầu nguyện để nhẹ nhàng ra đi không để lại dấu vết gì.

Tuy nhiên, điều không tìm thấy trong Thánh Kinh lại gặp được trong Thánh Truyền.  Giữa lòng Giáo Hội đông tây, từ rất sớm, các giáo phụ mỗi vị theo cách của mình đã nói đến việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời như biến cố ở đoạn cuối cuộc đời trần thế của Mẹ, và diễn giải bằng những hình bóng Thánh Kinh rất ý nhị và sâu sắc, vừa hỗ trợ cho lòng đạo nơi dân Chúa, vừa từng bước đưa ra những nền tảng hình thành tín điều đặc biệt này.  Trước 1.11.1950, người ta có quyền tin hay không, nhưng kể từ ngày định tín, tín hữu vui mừng tuyên xưng đức tin của mình: Đức Mẹ đã lên trời cả hồn lẫn xác.

  1. Tín điều Đức Mẹ Lên Trời: minh định rõ thêm những đặc ân của Đức Mẹ.

Có bao nhiêu đặc ân của Đức Mẹ?  Thưa có bốn: Hai đặc ân cổ thời được xác tín từ lâu dựa trên phẩm tính của Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh.  Hai đặc ân tân thời được định tín trong vòng trên dưới 150 năm nay đóng khung cuộc đời trần thế của Đức Mẹ, khởi đầu là Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội và kết thúc là Ơn Hồn Xác Lên Trời.  Cả bốn đặc ân này dẫu bản chất có khác nhau nhưng đều hoà quyện trong ơn tuyển chọn của Chúa Cha, ơn cứu độ của Chúa Kitô và ơn thánh hoá của Chúa Thánh Thần.

Chẳng phải nói đâu xa, ngay trong danh xưng ngày lễ hôm nay cũng nói lên trọn vẹn ý nghĩa của tín điều tuyên xưng.  Gọi là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Giáo Hội minh định đoạn kết vinh quang sau khi Đức Mẹ đã chu toàn trách vụ đường đời bên cạnh Đấng Cứu Thế.  Còn gọi là lễ Mông Triệu, Giáo Hội lại muốn nhấn mạnh khía cạnh mầu nhiệm, Đức Mẹ không tự mình mà nhấc lên trời, nhưng do Thiên Chúa triệu vời.  Nhưng dù gọi bằng danh xưng nào, đúng nghĩa Assumptio tiếng latinh, Đức Mẹ được kết hợp với Chúa Kitô phục sinh.  Còn muốn đi xa hơn một chút, ta có thể lý giải: dựa trên mầu nhiệm Nhập Thể, Mẹ đã cung cấp chất liệu xác thân cho Đấng Cứu Thế làm người, nên khi thân xác Đấng Cứu Thế phục sinh về trời, thân xác Mẹ cũng được chia sẻ hiệp thông.  Còn dựa trên mầu nhiệm cứu độ, Mẹ đã hiệp công cứu độ trọn vẹn với Chúa Kitô, Mẹ cũng được hiệp thông sự sống vinh quang trọn vẹn với Người trong trời mới đất mới.

  1. Tín điều Đức Mẹ Lên Trời: gieo thêm tin yêu hy vọng cho đời tín hữu

Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời như vậy đã sáng tỏ cho lòng tin của chúng ta.  Nếu có gì còn khó hiểu, có lẽ nằm ở chỗ mình chưa tách bạch được hai tình trạng của thân xác: tình trạng lữ hành và tình trạng phục sinh.  Trong tình trạng lữ hành, xác thân nặng nề; còn trong tình trạng phục sinh, thân xác được biến đổi thăng hoa.  Thân xác của Đức Maria lên trời chính là thân xác đã được ghi dấu bằng sự phục sinh của Đức Kitô.  Đức Kitô trưởng tử trong gia đình nhân loại, đã lên trời do tự mình, còn Đức Mẹ là hoa quả đầu mùa được triệu vời lên trời do ân sủng Chúa ban.  Trong ngắm thứ tư Mùa Mừng ta tuyên xưng từ thuở nào “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời,” có điều hôm nay khi mừng lễ, ta nâng cao tâm hồn để chung mừng với Giáo Hội trong lời tuyên xưng trọng thể và chung vui với Đức Mẹ nơi đặc ân lạ lùng này, “Chúa đã làm cho Đức Mẹ những điều cao trọng.”

 Nhưng tín điều hôm nay kỷ niệm còn hướng các tín hữu đến việc xem Đức Mẹ như mẫu gương tuyệt vời, quyết tâm yêu mến bước theo Mẹ, sống như Mẹ để một mai khi lìa đời ta cũng sẽ có kết cục giống như Mẹ, được hưởng ơn phục sinh của Chúa Kitô.  “Đức Maria, thầy dạy đức tin”, chúng ta hãy khiêm tốn tìm đến mái trường Đức Maria, học theo Mẹ những bài học từ cơ bản đến nâng cao, và sẵn sàng đi vào chuyên sâu để sống đời tận hiến cho Chúa theo gương sống của Mẹ.

Chính trên đỉnh cao của lòng tin mến ấy, chúng ta không ngại bộc bạch cho Mẹ nỗi niềm cậy trông.  Mẹ nào mà chả thương con, chỉ có con bỏ mẹ chứ mẹ chẳng bỏ con bao giờ.  Nếu tình mẹ nhân loại còn dạt dào như bể thì tình mẹ trên trời còn ví thể gấp trăm.  Sở dĩ con cái nhân gian có thể cậy trông Mẹ, là bởi vì trước đó Tấm lòng Mẹ đã mở rộng, đôi tay Mẹ đã sẵn sàng thi ân.  Mẹ lên trời không phải để cách xa cuộc sống nhân loại, nhưng trên đỉnh vinh quang thiên đàng, đó là lúc Mẹ có điều kiện phù hợp để gần gũi che chở đỡ nâng mọi người một cách rộng rãi và thuận lợi hơn.

Tóm lại, tín điều Đức Mẹ Lên Trời giúp ta tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn hơn, giục giã yêu mến Đức Mẹ cách đậm đà hơn, và cũng thúc đẩy cậy trông nơi Mẹ gắn bó hơn.  Bởi lẽ xét cho cùng, tuyên tín Mẹ lên trời không chỉ cho vinh quang của riêng Mẹ, mà còn cho hạnh phúc của con cái Mẹ trên dương thế là chính chúng ta.

Có người hỏi “Ở Tàpao có những phép lạ nào?”  Tôi trả lời: Phép lạ thì không biết, nhưng ơn lạ thì hầu như ngày nào cũng có, nhất là ơn biến cải đời sống.  Đang mê chuyện đỏ đen, đi Tàpao về bỏ được hết, đang xào xáo gia đình, đến Tà pao khấn về được bình yên, hay đang khô khan nguội lạnh theo bạn đến Tàpao về bỗng dưng thấy sống đức tin cách tích cực hơn, đó chẳng phải là ơn lạ ở Tàpao sao?

Xin được cùng với khách hành hương dâng lên Mẹ lời kinh tôn vinh và trông cậy:

Mẹ Vô Nhiễm, Mẹ Đồng Trinh,

Mẹ Thiên Chúa, Mẹ uy linh muôn đời.

Hôm nay mừng Mẹ lên trời,

Hành hương con đến chung lời ca khen.

Cúi xin Mẹ rất dịu hiền,

Thương con, dẫn dắt về miền trời cao,

Đời con có Mẹ Tàpao.

GM Giuse Vũ Duy Thống

Mẹ Về Trời & Tình con yêu Chúa

Kính mừng Đại lễ Đức Maria hồn xác lên trời 15.08.2018

Hòa chung niềm vui của mẹ Giáo Hội Công Giáo. 

httpv://www.youtube.com/watch?v=cuFgoZu0YXo&list=RD83ShcuFOqxw&index=27

Mẹ Về Trời Ns: Phanxicô. Cs: Mai Thiên Vân 

httpv://www.youtube.com/watch?v=fSlW3c2rt7U&index=9&list=RD83ShcuFOqxw

Tình con yêu Chúa – Cẩm Ly.mpg

Trung tâm nghiên cứu Pew: Lý do khiến một số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo

Trung tâm nghiên cứu Pew: Lý do khiến một số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo

vietcatholic.net 10.8.2018

Vũ Văn An

Theo Becka A. Alper của Trung Tâm Nghiên cứu Pew, số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo ngày càng gia tăng. Gần đây Trung Tâm này có thăm dò hơn 1,300 người trong số họ, mà ngôn ngữ hiện nay gọi là “nones”, để biết lý do tại sao họ đã không đồng hóa với bất cứ tôn giáo nào. Trong số các lý do có thể chọn trong cuộc thăm dò, lý do được chọn nhiều hơn cả là họ nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo.

 Sáu trong mười người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo, tức những người trưởng thành tự mô tả căn tính tôn giáo của mình là vô thần, bất khả tri hay “không gì đặc biệt cả”, cho rằng nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo là lý do rất quan trọng khiến họ không thống thuộc. Lý do được chọn nhiều thứ hai làchống đối các lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị, được 49% người trả lời trưng dẫn (cuộc thăm dò đưa ra các câu hỏi riêng biệt về mỗi một trong 6 chọn lựa). Số ít hơn, nhưng vẫn đáng kể, nói rằng họ không ưa các tổ chức tôn giáo (41%), không tin Thiên Chúa (37%), coi tôn giáo không liên quan đến họ (36%) hoặc không thích các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Những người tự nhận là vô thần, bất khả tri hoặc “không gì đặc biệt cả” có khuynh hướng đưa ra các lý do khác nhau cho việc không thống thuộc của họ, cho thấy người “nones” không phải là một nhóm thuần nhất (monolithic group). Thí dụ, khoảng chín trong mười người tự mô tả mình vô thần (89%) nói: việc họ không tin Thiên Chúa là lý do rất quan trọng đối với căn tính tôn giáo của họ, so với 37% người bất khả tri và 21% người “không gì đặc biệt cả”. Người vô thần cũng có nhiều xác xuất hơn những người “nones” khác trong việc nói rằng tôn giáo đơn giản không liên hệ gì tới họ (63% người vô thần so với 40% người bất khả tri và 26% người trưởng thành không có tôn giáo đặc thù nào).

Trung tâm cũng hỏi những người không thống thuộc tôn giáo câu nào trong sáu tuyên bố có thể có là lý do đơn nhất quan trọng hơn cả khiến họ không thống thuộc. Một lần nữa, nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo đứng đầu các câu trả lời, với một phần tư mọi người “nones” cho biết đây là lý do quan trọng nhất. Số tương tự (22%) trưng dẫn việc không tin Thiên Chúa, và 16% cho hay lý do quan trọng nhất là họ không thích lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị.

Cũng có nhiều dị biệt lớn giữa ba tiểu nhóm không thống thuộc về vấn đề này. Ba phần tư người vô thần nói lý do quan trọng nhất khiến họ vô thần là họ không tin Thiên Chúa. Ít người bất khả tri (17%) và người “không gì đặc biệt cả” (8%) nói lý do này. Trong số những người tự coi mình là bất khả tri, lý do quan trọng nhất được trưng dẫn khiến họ bất khả tri lànghi ngờ khá nhiều giáo huấn tôn giáo (38%).

Những người tự nhận “không gì đặc biệt cả” đưa ra một loạt các câu trả lời khác nhau khi được hỏi lý do quan trọng nhất khiến họ không thống thuộc tôn giáo, chứ không có câu trả lời đơn độc nào trổi vượt cả. Một phần tư cho hay lý do quan trọng nhất là nghi ngờ nhiều giáo huấn tôn giáo, 21% nói họ không thích lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị, và 28% nói không có lý do nào đề nghị là quan trọng cả…

Trong một cuộc thăm dò trước đây, Pew yêu cầu những người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo nhưng trước đây từng được dưỡng dục trong tôn giáo (chiếm đa số trong mọi nhóm không thống thuộc) giải thích bằng chính ngôn từ của họ tại sao họ không còn đồng hóa với bất cứ nhóm tôn giáo nào. Vấn đề này cũng nhận được hàng loạt các trả lời khác nhau từ nhóm “không gì đặc biệt cả”. Một số nói rằng họ không tin các giáo huấn tôn giáo hoặc không thích tôn giáo có tổ chức, trong khi những người khác cho hay họ là người tôn giáo (dù không thống thuộc) hoặc họ tin Thiên Chúa nhưng không thực hành bất cứ tôn giáo nào.

From:  KimBằngNguyễn

BÍ QUYẾT YÊU MẾN KINH THÁNH

BÍ QUYẾT YÊU MẾN KINH THÁNH

Cuối tháng Chín hàng năm, Giáo hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Giêrônimô, bổn mạng các dịch giả.  Ngài sinh ra không là thánh ngay, ngài có tính nóng này và gay gắt nên nhiều người không ưa, ngài còn bị cám dỗ dữ dội về đức khiết tịnh nên ngài chiến đấu bằng cách cầu nguyện và ăn chay nhiều.

Mặc dù khuyết điểm về tính khí và thường xuyên bị kẻ thù tấn công, ngài vẫn là người thông minh xuất chúng, đam mê nghiên cứu, nhất là say mê Lời Chúa.

Giáo Hội rất biết ơnThánh Giêrônimô, đặc biệt về lòng yêu mến Lời Chúa và tác phẩm nghiên cứu của ngài.  Có điều quan trọng là ngài đã hoàn tất bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin – chúng ta gọi là “Vulgate” (bản phổ thông), và từ bản phổ thông này, Kinh Thánh đã tiếp tục được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác – tiếng Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam,…  Kinh Thánh là sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất, khoảng 2.500 ngôn ngữ.  Tất cả đều nhờ công việc khó nhọc của Thánh Giêrônimô.

Công Đồng Vatican II đã xuất bản bốn Hiến chế về Tín lý, bốn cột trụ của Giáo Hội trong thế giới ngày nay: Sacrosanctum Concilium (Hiến chế về Phụng Vụ Thánh), Gaudiumet Spes (Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội), Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân) và Dei Verbum (Lời Thiên Chúa) – đề cập sự mặc khải và Lời Chúa. Thánh Giêrônimô nổi tiếng với câu nói này: “KHÔNG BIẾT Kinh Thánh là KHÔNG BIẾT Đức Kitô – IGNORANCE of Sacred Scripture is IGNORANCE of Christ.”

Đúng vậy!  Nếu chúng ta không đọc Kinh Thánh, đặc biệt là các Phúc Âm, chúng ta không thể biết Chúa Giêsu là ai, không biết Ngài thì không thể yêu mến Ngài, do đó mà khó có thể đi theo Ngài và làm môn đệ của Ngài được.  Vì thế, chúng ta phải dành cho Chúa tâm hồn mình, yêu mến và quý trọng Lời Chúa, bằng cách thực hiện ít nhất vài điều trong số các điều này:

  1. SỞ HỮU KINH THÁNH – Kinh Thánh có nhiều cuốn và đa dạng, nhưng bạn nên có được cuốn Kinh Thánh của Giáo Hội Công giáo.  Với điện thoại thông minh, bạn có thể sử dụng các Apps liên quan Kinh Thánh, nhưng phải cẩn trọng và chọn đúng Kinh Thánh Công giáo!
  2. TRAO TẶNG KINH THÁNH – Các dịp đám cưới, sinh nhật, kỷ niệm ngày rửa tội, thêm sức, ngân khánh, kim khánh,…  Thật là rất ý nghĩa nếu chúng ta tặng nhau một cuốn Kinh Thánh.
  3. YÊU MẾN KINH THÁNH – Hãy đặt cuốn Kinh Thánh ở nơi trang trọng, đừng bao giờ bất kính.  Điều đó có nghĩa là đừng bao giờ để sách Kinh Thánh ở nơi bất xứng – để trên nền nhà, ghế ngồi,… Kinh Thánh là Lời Chúa, chúng ta phải nâng niu, trân quý.
  4. ĐỌC VÀ SUY NIỆM – Kinh Thánh không là phần trang trí hoặc bộ sưu tập của lễ Giáng Sinh, cũng chẳng là vật kỷ niệm.  Kinh Thánh là để đọc và suy niệm không ngừng.  Hãy khắc dạ ghi tâm lời Thánh Vịnh: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày”(Tv 1:1-2).  Ước gì chúng ta cũng thích đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa suốt ngày đêm!
  5. GHI NHỚ NHỮNG CÂU QUAN TRỌNG– Chúa Giêsu là gương mẫu của chúng ta!  Ngài ăn chay 40 đêm ngày, ma quỷ cám dỗ Ngài.  Cơn cám dỗ thứ nhất nó xúi giục Chúa Giêsu biến đá thành bánh mà ăn.  Ngài nói thẳng với nó: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Mt 4:4).
  6. BẢO VỆ ĐỨC TIN BẰNG LỜI CHÚA – Thánh Phaolô nói rằng Lời Chúa như gươm hai lưỡi tách xương và tủy.  Ngài có ý nói rằng Lời Chúa mạnh mẽ, nên được dùng làm linh khí để chiến đấu với Satan và đồng bọn của nó – những kẻ dối trá.  Hãy đọc Thánh Thomas Aquinô với Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica) và cách ngài bảo vệ tín lý dựa vào Lời Chúa.
  7. THÁNH LỄ VÀ LỜI CHÚA – Hãy tham dự Thánh Lễ hằng ngày – cách cầu nguyện tuyệt vời nhất trên thế gian này!  Hiến chế Sacrosanctum Concilium giải thích về Thánh Lễ và Phụng Vụ, cho biết rằng có hai bàn tiệc nuôi dưỡng chúng ta trong Thánh Lễ: Bàn Tiệc Lời Chúa với Bàn Tiệc Thánh Thể.  Hãy tham dự Thánh Lễ – thực sự là Bàn Tiệc Nước Trời!
  8. LINH THAO VÀ LỜI CHÚA – Khi có cơ hội, cố gắng sống theo cách Linh Thao (Spiritual Exercises) của Thánh Inhaxiô Loyola.  Có thể đó là cuộc tĩnh tâm một tháng, tám ngày, hoặc một tuần, hoặc ngay hôm nay, tĩnh tâm giữa đời thường, có thể kéo dài sáu tháng hoặc một năm, cùng với một vị linh hướng.  Phương pháp Linh Thao của Thánh Inhaxiô Loyola là cách suy niệm hoặc chiêm niệm Lời Chúa.  Hãy thử và bạn sẽ không bao giờ hối tiếc!
  9. ĐỨC MẸ VÀ LỜI CHÚA – Khi cố gắng phát triển lòng yêu mến đối với Lời Chúa,đừng quên đến với Đức Trinh Nữ Maria, vì chính Đức Mẹ đã cưu mang Ngôi-Lời-hóa-thành-nhục-thể trong cung lòng 9 tháng.  Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Mẹ đã suy niệm Lời Chúa trong Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.  Sau khi các mục đồng đến kính viếng Hài Nhi, Đức Mẹ hoàn toàn im lặng: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”(Lc 2:19).  Cầu xin Đức Mẹ thêm sức cho chúng ta làm được như vậy – suy niệm Lời Chúa bằng cách đọc Kinh Thánh, cầu nguyện bằng Kinh Thánh, thấm nhuần Kinh Thánh và noi gương Đức Mẹ sống Lời Chúa!

Lm Ed Broom, OMV

– Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Catholic

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Linh mục Phêrô Phạm Văn Dương( bị MÙ): THIÊN CHÚA VIẾT THẲNG TRÊN NHỮNG ĐƯỜNG CONG

Image may contain: 3 people, people standing and indoor
Image may contain: one or more people, people standing, tree, shoes, child and outdoor
Image may contain: 1 person, closeup
Tôi Là Người Công Giáo

14 hrs

Linh mục Phêrô Phạm Văn Dương( bị MÙ):
THIÊN CHÚA VIẾT THẲNG TRÊN NHỮNG ĐƯỜNG CONG

Đôi tay người linh mục trẻ lướt nhanh thoăn thoắt trên cuốn sách lễ Rôma in bằng chữ nổi Braille.

Mọi con mắt đổ dồn về phía bàn thờ.

Không gian yên ắng đợi chờ.

Không ít người cảm động chỉ chực rưng rưng nước mắt.

Trong phút chốc, một thanh âm đĩnh đạc đầy bất ngờ được cất lên dẫn cộng đoàn bước vào thánh lễ long trọng.

Thứ thanh âm được kết tinh trong nước mắt, tăm tối, khổ đau nhưng vẫn sáng ngời niềm hy vọng…

Đúng là Thiên Chúa đã viết thẳng trên những đường cong với bất cứ ai có tấm lòng thành tâm thiện chí.

Cha Dương, tên đầy đủ là Phêrô Phạm Văn Dương, sinh ngày 6/6/1973, tại Rú Đất, hạt Bảo Nham, giáo phận Vinh, thuộc địa bàn xã Long Thành, Yên Thành, Nghệ An.

Ngài là con thứ 3 trong gia đình làm nông nghiệp và có tới 10 anh chị em.

Cuộc đời dâng hiến của Ngài bắt đầu từ mốc gia nhập dòng Anh em Đức Mẹ Về Trời (AA) kể từ năm 1998.

Sau một thời gian học tập tại Việt Nam, năm 2002, thầy Dương qua Pháp.

Thật không may mắn, đến năm 2004, khi đường tu còn dang dở, đau thương ập đến với người tu sỹ trẻ tuổi khi thầy bị một loại virus đặc biệt tấn công khiến đôi mắt trở nên mù hẳn.

Con đường ơn gọi tưởng chừng chấm dứt. Giữa lúc đau khổ cuộc sống, thầy Phêrô Dương vẫn một lòng tin tưởng vào thánh ý Chúa.

Con người lạc quan, có cách nói chuyện vui vẻ, hay đùa, hay tếu ấy không bao giờ đầu hàng số phận.

Và cuộc đời không phụ sự nỗ lực vươn lên và dấn thân miệt mài của vị tu sĩ mù.

Ngài được bề trên truyền chức vào ngày 14.10.2012 tại giáo xứ Hyppolyte, TGP Paris, Pháp quốc và chuẩn bị sứ mệnh phục vụ cộng đoàn tại Việt Nam.

Việc phong chức cho người khuyết tật hầu như “xưa nay hiếm”.

Nhiều năm trước, báo đài Công giáo loan tin một giáo phận Hàn Quốc quyết định truyền chức cho một chủng sinh khuyết tật để phục vụ anh em đồng cảnh ngộ. Dù sao, đó cũng là trường hợp hy hữu, rất đặc biệt.

Nhìn vào hành trình ơn gọi của tân chức Phêrô Phạm Văn Dương, con người nhận ra Thiên Chúa đưa là lời mời gọi và tuyển chọn không giống ai: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Cha Phêrô quả là nhân chứng cho tình yêu thương dạt dào không bờ bến của Chúa. Thiên Chúa nhân lành đã “viết thẳng trên những đường cong” qua cuộc đời tưởng chừng đi vào ngõ cụt của Cha.

Hàng ngày, Cha tự dâng Lễ và làm các việc mà không hề cần ai trợ giúp, ngoại trừ việc dắt lên dắt xuống.

Những ai chứng kiến thì hoàn toàn nể trọng, cảm động và thán phục Cha. Ngoài ra, Cha còn có năng khiếu giảng rất hay và ý nghĩa.

Cha đã là tấm gương ngời sáng về sự vượt khó cho những người khuyết tật.

Chúng ta cùng cúi đầu tạ ơn Chúa với Cha và cầu cho Cha luôn là vị mục tử tuy mù loà thể xác nhưng chói sáng tình yêu thương- yêu mến Chúa và xót thương con người nơi tâm hồn. Amen.

Nguồn: http://daichungvienvinhthanh.com/le-ta-on-tan-linh-muc-phe…/

“SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

            MỘT CUỐN PHIM CÔNG GIÁO ĐOẠT NHIỀU GIẢI THƯỞNG 2017 và 2018,

                                    “SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

Phan Sinh Trần       

               

Có thể nói đây là một phim tài liệu hay, mô tả về cuộc đời của sơ Êlidabet, một người sống trong thời đại của chúng ta. Với đức tin mạnh mẽ, Sơ đã trải qua, làm nên nhiều điều huyền diệu: nào là thoát chết trong vượt biên tỵ nạn, rồi đến việc mua nhà, tạo mãi mà trong túi không có tiền, tiếp theo xây dựng nên các cơ sở rất lớn lao từ hai bàn tay không nhằm phục vụ cho người già cả hưu dưỡng ở Canada và Hungary, cũng như các nơi khác trên thế giới. Đã có nhiều các sự kiện giống như trong mơ, các biến cố thoát hiểm cách nhiệm mầu như được một phép lạ. Cuộc đời thành công của Sơ làm chứng cho ta và cho thế giới rằng, “nếu có một đức tin mạnh mẽ thì không có gì là không thể”. Chúa sẽ làm cho công việc thánh hiến được hoàn thành và hoàn thành vượt mức giống như câu Kinh Thánh sau:

–          … Quả thật, Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì các ngươi có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó! Nó cũng sẽ chuyển qua, và các ngươi sẽ không bất lực trước một điều gì.(Mat thêu 17:20)

Sinh ra ở làng Pilisvörösvár thuộc nước Hungary vào mùa thu năm 1918, trong một gia đình không khá giả lắm. Ngay từ khi còn là một thanh nữ mới 17 tuổi, cô Êlidabet đã tỏ lộ thiên tài về điều hành và tổ chức, khi thấy Cha mình bị bệnh liệt gường, cô xin phép Cha cho mình được bắt đầu việc điều hành, vực dậy cơ sở nhỏ bé, sản xuất nước sô đa đang đà xuống dốc của cả nhà, bằng cách đạp xe đi khắp các tiệm ăn trong làng và vừa khéo léo vừa bạo dạn, yêu cầu chủ nhân các tiệm chỉ mua nước sô đa của cơ sở mình. Với sáng kiến để vượt qua các khó khăn về đồng vốn, về chai đựng, nguyên liệu… Cô đã thành công.

Sau khi kiếm đủ tiền cho Cha mua miếng đất chỗ đang dùng làm mái gia đình, đến một ngày nọ tình cờ cô tham dự tĩnh tâm ở dòng nữ Thánh Tâm vì nể lời mời gọi của Cha xứ, không ngờ trong cuộc tĩnh tâm này, cô biết rõ Chúa đang gọi mình và cương quyết đi theo tiếng gọi của Tình Yêu Chúa. Cô xin vào dòng nữ tu, cho dù bị Cha của mình cấm cản. Sự thể dần xấu đi, vì chuyện đi tu của Elidabet, ông Bố bất mãn không muốn mất con tháo vát việc nhà, việc hãng và sa sút đức tin, trong khi đó, bà Mẹ lại ủng hộ cho con gái được đi tu. Quá đỗi tuyệt vọng, ông quyết định ly dị vợ, đoạn tuyệt với cả nhà nhất là để xa lánh cô con gái không nghe lời.

Ở vào hoàn cảnh khó xử, thiên tài Elidabet sẽ ứng xử như thế nào đây? Sau khi cầu nguyện hỏi ý Chúa, cô quyết định rời nhà Dòng Thánh Tâm về nhà phụng dưỡng Cha Mẹ. Làm cho Bố nguôi giận, cô bày tỏ lòng kính trọng và hiếu thảo, lo chăm sóc, ân cần với Cha trên gường bệnh, ông cảm động và nhận ra sự khôn ngoan, tài giỏi của con gái, nó sẽ giúp ích cho Giáo Hội. Ông được Chúa thay lòng đổi dạ và tự ý đề nghị cho con tiếp tục đường tu trì. Thế là Elidabet lại được toại nguyện thành công một lần nữa.

Trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, Hungary tham chiến trong phe trục Đức Quốc Xã và bị tấn công dồn dập từ hai phía Liên xô và Đồng Minh, thành phố Pudapest tan hoang, đổ nát, đói khát. Trong khi xã hội vật vã vì thiếu lương thực để sống còn, với ơn Chúa, sơ Elidabet chậy vậy lo đủ thức ăn từ thị trường chợ đen, từ làng quê mang lên thành phố cho cả nhà Dòng với nhiều người. Chúa cho cô được hoàn thành nhiệm vụ lo ăn cho Dòng đông nữ tu trong thời chiến.

Sau đệ nhị thế chiến, Liên xô cai trị Hungary và thiết lập chính quyền chuyên chính Cộng Sản, các Dòng tu bị giải tán, tài sản bị tịch thu, bề trên Dòng chủ trương cho các sơ chạy trốn, cũng như các thuyền nhân Việt vượt biên lánh nạn Cộng Sản nhiều thập kỷ tiếp theo, Elidabet đã tổ chức vượt biên, cùng một sơ già khác, họ đi qua những bãi mìn, các trạm lính gác cộng sản Hungary, trốn lánh các xe tuần tra của bộ đội Sô Viết và sơ đã thành công. Sơ nói giống như một phép lạ kỳ diệu, sơ vượt thoát được khi sinh mạng như “sợi chỉ mành treo chuông” và chỉ còn nước hoàn toàn phó thác trong bàn tay quan phòng lo liệu của Chúa.

Đến được Áo rồi sau đó đi định cư ở xứ sở tự do, nước Canada, tỉnh bang Ontario, thành phố Hamilton năm 1951.  Sơ tu trong Dòng Thánh Tâm, Cảm thông với hoàn cành nghèo nàn của di dân Hungary, sơ Elidabet ước ao được thiết lập một nhà ở cho người già đau yếu, vô gia cư trong số di dân Hungary, thiết tha muốn cho họ có nơi cư ngụ cuối cùng trước khi qua đời. Cuộc đời tu trì vốn không có tiền, không tài sản, không sở hữu nhà làm sao tiến hành công trình. Sơ cầu nguyện ngày đêm xin Chúa hướng dẫn và can thiệp. Sau nhiều ngày cầu nguyện, Chúa làm cho một ông thợ nướng bánh mì của nhà Dòng động lòng trắc ẩn, ông đã hứa giúp.

 Có một căn nhà cũ nằm trên đường John đăng biển bán, đòi giá 30 ngàn đô, sơ trả 20 vì trong túi sơ chả có đồng nào, ai ngờ họ bán. Sơ báo cho ông thợ biết, không bao lâu sau đó, ông thợ bánh quyết định bán đi căn nhà bé nhỏ, khiêm tốn của mình đang ở, được vỏn vẹn 15 ngàn đô, cùng với một ngàn đồng tiền mặt tặng thêm; Thời gian cấp bách, đúng vào hạn chót, trong ngày cuối sơ phải giao nạp tiền mua căn nhà trên đường John, Sơ nhận được tin vui “đã có tiền rồi” từ ông thợ bánh, thế là Sơ lên xe đạp, hăng hái nhấn pê đan, chạy một mạch 80 cây số đường trường,  cả đi lẫn về,  đến Toronto, nơi cư ngụ của ông thợ làm bánh, nhận tiền mang về gộp lại các quyên góp khác thì đã được đúng 20 ngàn. Vào buổi chiều tối hôm đó, sơ giao ngay cho người bán. Thế là giống như mơ, với lòng nhiệt thành tín thác vào Chúa kính yêu, Sơ lại thành công một lần nữa, mua được nhà làm cơ sở đầu tiên cho người già neo đơn. Một điều thú vị là vị ân nhân của Sơ, về cuối đời đã đến ở nhà Hưu Dưỡng, được sự ưu ái đặc biệt của mọi người, ông sống trong một phòng chung cư đặc biệt dành riêng cho ông. Kể từ cơ sở đầu tiên đó, sơ tiếp tục phát triển công việc mục vụ Bác Ái cho người già một cách tài tình, sơ thành lập hội bác ái mang tên “Hội nhà Thánh Elizabeth” vào năm 1967. Trong ba mươi năm trường, sơ cùng với Hội tiếp tục xây dựng nên cả một làng hưu dưỡng dành cho người già cả đau yếu. Dân chúng và nông gia Canada tiếp tục hiến tặng thực phẩm và tài vật cho hội, thuở ban đầu, ở nhà hưu dưỡng đầu tiên, sơ còn trẻ, lái xe về nông thôn để nhận thịt bò do một nông dân cho, ai ngờ đến nơi, bò còn sống, bác nông dân đang chờ người xẻ thịt sẽ đến vào tuần sau, không thể để cho hưu dưỡng viên dùng bữa thiếu thịt bò, sơ mượn dao tự giết xẻ thịt con bò làm bác nông dân phải nể phục, sững sờ.

Làng hưu dưỡng St Elisabeth Mills, bao gồm 600 căn nhà đơn và dưỡng đường, thánh đường trải dài trên 200 mẫu Anh, làng có 16 hồ nước thiên nhiên rất nên thơ bao quanh.

 Công việc bác ái của hội bác ái “nhà thánh Elizabeth” phát triển qua nước Hungary, ở ngoại ô Budapest, tại thành phố Pilisvôrovar với nhà Szent Erzsébet Otthon

Nhà có 200 chỗ cho những người già tuổi nhất với các phương tiện tối tân nhất thời đó ở Hungary, ngoài ra sơ cũng tiếp tay xây dựng lại nhà Dòng Mẹ ở Hungary

Chưa dừng ở đó, sơ còn tiếp tục đi ra hải ngoại, xây nhà hợp tác với Mẹ Teresa ở Ấn Độ, xây nhà cho người già ở Pakistan. Mời Bạn đọc thăm trang nhà của Hội bác ái “Nhà Thánh Elizabeth” ở mạng https://www. stelizabethhomesociety.org/

Ai cũng biết rằng, cuộc đời dương thế càng nhiều thành công càng có lắm gian truân, sơ Êlidabet đã bị báo chí soi mói và bị nghiệp đoàn ganh ghét muốn dành quyền, tuy nhiên sơ đã thoát khỏi sự ganh ghét vu oan, sự tham lam muốn cưỡng đoạt các cơ sở nhà cửa to tát, sự trả thù và bôi nhọ của thế gian. Cho dù gặp đủ thứ gian truân vượt sức chịu đựng ở tuổi 75, thậm chí bị đe dọa phải quay về Hungary, mất hết danh dự, mất làng hưu dưỡng thân yêu, sơ vẫn dí dỏm khôi hài, vui tươi nhờ vào đức tin son sắt vào Chúa Giê Su kính yêu mà vượt qua và chiến thắng vang dội ở tòa án năm 2005, trong công luận và trong Giáo Hội. Sơ nhận được sự tưởng lệ cao quý từ Đức Thánh Cha, lời biết ơn sâu xa từ Đức Hồng Y Giáo Phận Toronto, Gerald Carter và phần thưởng, huy chương cao quý từ thủ tướng Trudeau Canada, từ tổng thống Hungary, Arpad Goncz, … về công việc bác ái nhà hưu dưỡng của mình. Cho đến hơi thở cuối cùng, yếu ốm, sơ vẫn khiêm nhường ngày ngày ân cần đến bên các cụ già trong nhà hưu dưỡng. Ngài về nhà Chúa vào ngày 4 tháng 10 năm 2010 ở tuổi 92.

Cuộc đời của Sơ được ứng nghiệm với câu kinh thánh,

–          Chúa phán: “Nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các ngươi có bảo cây dâu này: “Hãy bứng rễ mày đi mà xuống mọc dưới biển”, nó cũng sẽ vâng lời các ngươi” (Luca 17:6).

Xin Chúa cho Hội Thánh có nhiều hạt cải đức tin trong thời đại văn hóa sự chết của chúng con.

Sau hết, xin mời các bạn thưởng thức phim sơ Êlidabet qua Amazon Prime miễn phí, hoặc xem phim  ở kết nối sau đây:

http://www.truli.com/video/ sister-elisabeth-the-strength- of-faith

Phan Sinh Tran        

BÁNH TRƯỜNG SINH

BÁNH TRƯỜNG SINH

 Một ngôn sứ dũng cảm như Êlia trên núi Các-men cũng có lúc chán nản, thất vọng, chỉ muốn xin được chết.  Giữa sa mạc, Êlia nằm ngủ dưới gốc cây.  Ông không còn đủ sức tiếp tục cuộc hành trình.  Một thiên thần đã đem đến cho ông bánh và nước, nhờ đó ông có sức đi đến núi của Thiên Chúa. 

Người Kitô hữu cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời, với bao thách đố, ngờ vực, hiểm nguy…  Chúng ta cần được dưỡng nuôi, nâng đỡ, để có sức đi hết cuộc hành trình về quê thật.  Có thiên thần nào hiện ra đem bánh cho ta không?  Có thứ manna nào từ trời rơi xuống? 

Thiên Chúa Cha muốn ban cho ta tấm bánh từ trời, đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Ga 6,32-33). 

Đức Giêsu là Tấm Bánh Cha ban cho nhân loại, và chính Ngài cũng muốn tặng bản thân mình cho ta: “Tôi là Bánh trường sinh” (c.48).  “Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống” (c.51).  

Khi nói đến Bánh hằng sống, Bánh trường sinh, chúng ta thường nghĩ ngay đến bí tích Thánh Thể và ít khi nghĩ đến Tấm Bánh Lời Chúa. 

Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc.  Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể.  Cả hai đều là lương thực cần thiết cho tín hữu.

 Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội.” Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33).  Ngài vẫn trao cho ta Tấm Bánh là Lời của Ngài. 

Con người sống đâu chỉ nhờ cơm bánh vật chất, mà còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.  Đức Giêsu là Lời viết hoa của Thiên Chúa.  “Thầy có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68). 

Lời Chúa là thức ăn khó nuốt.  Cuốn Tân Ước tôi cầm trên tay là một bản văn cổ, thuộc nền văn hóa xứ Pa-lét-tin cách đây hơn 2000 năm.  Phải học hỏi, đào sâu mới hiểu đúng và hiểu đủ.  Lời Chúa cũng là thức ăn khó nuốt, vì là một lời mời gọi tôi ra khỏi mình, bỏ lại những tính toán khôn ngoan và hợp lý.  Tiếng Chúa đụng đến con người tôi, ở đây, bây giờ, và mời tôi dấn thân vào một cuộc mạo hiểm.  Nhưng Lời Chúa sẽ là tấm bánh thơm ngon nếu tôi biết lắng nghe và đem ra thực hành.  Càng sống Lời Chúa, tôi càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông với con người Đức Giêsu.

 Hãy hưởng dùng Tấm Bánh Chúa trao cho bạn, và hãy chia sẻ cho nhau kho tàng Lời Chúa.

 ****************************** ******* 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa dưới muôn ngàn dáng vẻ.

Chúa hiện diện lặng lẽ như tấm bánh nơi nhà Tạm, nhưng Chúa cũng ở nơi những ai nghèo khổ, những người sống không ra người.

Chúa hiện diện sống động nơi vị linh mục, nhưng Chúa cũng có mặt ở nơi hai, ba người gặp gỡ nhau để chia sẻ Lời Chúa.

Chúa hiện diện nơi Giáo Hội gồm những con người yếu đuối, bất toàn, và Chúa cũng ở rất sâu trong lòng từng Kitô hữu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con thấy Chúa đang tạo dựng cả vũ trụ và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa.  Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa.  Xin cho con khám phá ra Chúa đang hẹn gặp con nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường.  Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa.  Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa trên bước đường đời của con. Amen.

 Trích trong “Manna”

From Langthangchieutim

THIÊN CHÚA NÓI KHÔNG

THIÊN CHÚA NÓI KHÔNG

Có một bài thơ của một tác giả vô danh mà Hồng Y Jaime Sin, Tổng giám mục Manila, Phi Luật Tân, lấy làm ưng ý nhất và thường trích dẫn trong các bài giảng của Ngài.  Bài thơ ấy như sau:

 Tôi đã xin Chúa cất khỏi sự kiêu hãnh của tôi và Chúa trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng không phải Ngài là người cất khỏi mà chính tôi mới là người phấn đấu để vượt thắng nó.

 Tôi đã xin Chúa làm cho đứa con tàn tật của tôi được lành lặn và Chúa trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng tinh thần mới lành lặn, còn thể xác chỉ là tạm bợ.

 Tôi đã xin Chúa ban cho tôi sự kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách.  Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

 Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy tôi.

 Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng tôi phải tự lớn lên, nhưng Ngài sẽ cắt tỉa để tôi mang nhiều hoa trái.

 Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng đau khổ là cho tôi được xa cách với những vướng bận trần gian và mang tôi đến gần Ngài.

 Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời rằng: “Có!”  Ngài nói rằng Ngài đã ban cho tôi Người Con Một, Đấng đã chết vì tôi và một ngày nào đó, tôi sẽ được lên Thiên Đàng vì tôi đã tin.

 Tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều ta chờ đợi.”

 Nhìn lên thập giá Đức Kitô, chúng ta được mời gọi để tin nhận rằng Thiên Chúa đã yêu thương con người, Ngài đã yêu thương đến độ đã ban Người Con Một của Ngài cho thế gian.  Tình Yêu của Thiên Chúa nhiệm màu thẳm sâu đến độ sự thất bại, cái chết ô nhục đã trở thành Một Dấu Chứng.

Tình yêu ấy nhiệm màu thẳm sâu đến độ ngay cả khi Thiên Chúa xem ra nói không với chúng ta, Ngài vẫn yêu thương chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được khỏe mạnh, và bệnh hoạn vẫn bám lấy chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được thành công và thất bại lại đến với chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được cơm bánh hằng ngày và đói khổ lại cấu xé chúng ta…  Qua những cái không ấy, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta…

Xin cho chúng ta cảm nhận được tình yêu ấy mỗi khi chúng ta nhìn lên cái chết ô nhục của Người Con Một Thiên Chúa trên thập giá.  Và cũng giống như Người Con Một ấy, xin cho chúng ta vẫn tiếp tục dâng lời chúc tụng ngay giữa niềm đau tưởng chừng như không còn chịu đựng nổi.  Và giữa trăm nghìn đắng cay chua xót, xin cho chúng ta cũng được tiếp tục thốt lên lời xin tha thứ như Ngài… Mãi mãi, xin cho chúng ta luôn phó thác như Ngài.

****************************** ************

Lạy Chúa,
Con cầu xin ơn mạnh mẽ
để thành đạt trong cuộc đời,
Chúa lại làm cho con ra yếu ớt
để biết vâng lời khiêm hạ…

Con cầu xin có sức khỏe
để mong thực hiện những công trình lớn lao,
Chúa lại cho con chịu tàn tật
để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành…

Con cầu xin được giàu sang
để sống sung sướng thoải mái,
Chúa lại cho con nghèo nàn
để học biết thế nào là khôn ngoan…

Con cầu xin được có uy quyền
để mọi người phải kính nể ca ngợi,
Chúa lại cho con sự thấp hèn
để con biết con cần Chúa…

Con xin gì cũng chẳng được theo ý muốn
Nhưng những điều con đáng phải mơ ước,
Mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin,
thì Chúa lại đã ban cho con
thật dư đầy từ lâu…

Lạy Chúa,
Hóa ra, con lại là người hơn hết trên đời này,
Bởi con đã nhận được ơn Chúa vô vàn.  Amen!

Paradoxes Of Prayers

From: Langthangchieutim

LỬA MẾN THƯƠNG

LỬA MẾN THƯƠNG

  1. Mấy ngày nay, thỉnh thoảng lại hiện lên trong tôi Lời Chúa Giêsu phán xưa: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất. Và Thầy đã rất ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”(Lc 12, 49).

Tôi xin Chúa soi sáng cho tôi hiểu ý Chúa. Một lúc bất ngờ, tôi được nghe từ thẳm sâu tâm hồn tôi ý Chúa: “Lửa đó là lửa mến thương. Lửa mến Chúa, thương người, đó là lửa rất cần cho mọi môn đệ Chúa trong mọi thời mọi nơi, nhất là tại Việt Nam hôm nay”.

  1. Như thế, nghĩa là tôi cần có lửa trong tôi. Lửa đó là lửa thiêng. Bản chất lửa thiêng đó là mến yêu.

Theo Phúc Âm, thì tôi sẽ nhận ra mình có lửa đó hay không, căn cứ ở dấu chỉ này: Khi gặp người đau khổ, tôi xót thương họ, tôi cảm thương với họ, tôi dấn thân giúp đỡ họ, thì đó là dấu chỉ tôi có lửa mến thương đích thực (x. Mt 25, 35- 40).

  1. Khi hiểu ý Chúa là như vậy, tôi hồi tâm xét mình. Kết quả hiện lên trước lương tâm tôi là thế này: Rất nhiều khi tôi đã không xót thương, đã không cảm thương những người đau khổ mình gặp.

Như vậy chứng tỏ tôi không có lửa thiêng mến thương trong tôi.

  1. Nhận ra sự thực đó, tôi sám hối, và xin Chúa thương đốt lên trong tôi lửa thiêng từ trái tim Chúa.

Chúa đáp lại là Chúa luôn muốn đốt lửa đó trong tôi. Nhưng tôi có luôn đón nhận không?

  1. Thú thực là, vì không tỉnh thức và cầu nguyện, nên rất nhiều khi tôi đã không đón nhận lửa thiêng đó, hoặc đã đón nhận, rồi lại để nó nguội đi.
  2. Thiếu lửa thiêng nơi người môn đệ Chúa, đó là một thảm họa trên lĩnh vực mục vụ, truyền giáo và tu đức.

Thảm họa đó sẽ càng thê thảm, khi người môn đệ Chúa không những thiếu vắng trong mình lửa thiêng mến thương, mà còn nuôi trong mình những thứ lửa do Satan cống hiến với danh nghĩa giả tạo là mến Chúa yêu người, để rồi chống lại những người có lửa mến yêu đích thức.

  1. Chống nhau, khích bác nhau, loại trừ nhau, đó là thảm họa đang xảy ra tại nhiều nơi trong đạo ngoài đời hiện nay.
  2. Tình hình như thế không những báo hiệu sự thiếu vắng lửa thiêng mến thương, mà còn báo động một nguy cơ đau buồn có thể xảy ra, đó là những hình thức nội chiến, từ mức độ nhẹ đến mức độ lớn. Lịch sử quá khứ vốn là như vậy. Lịch sử tương lai cũng sẽ như vậy.
  3. Hình như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảm thấy nguy cơ đó, nên ngài hay nói đến sự không nên kết án nhau. Một câu ngài có lần nói, nay đã trở thành nổi tiếng: “Tôi là ai mà dám kết án ai”. Đúng là trong ngài có lửa mến thương đích thực.
  4. Theo gương ngài, tôi để ý chỉnh đốn lại lương tâm tôi.

Một là tôi không kết án ai. Cho dù họ sai lầm rõ ràng, thì tôi vẫn cảm thương họ, vẫn xót thương họ, vẫn cứu họ.

  1. Hai là tôi tin lòng thương xót Chúa vẫn mở rộng đến mọi người, vì thế, mà nhiều người dù là Công giáo hay ngoài Công giáo, đều có thể đã đang và sẽ nhận được lửa mến thương của Người. Thực tế hôm nay cho tôi thấy nhiều người ngoài Công giáo đã là gương sáng về sự xót thương, cảm thương đối với đồng bào nghèo khó và khổ đau tại Việt Nam hôm nay.
  2. 12. Riêng tôi, để đón nhận lửa mến thương của Chúa, tôi luôn cầu xin với tư cách mình là kẻ tội lỗi: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa trời, cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi”. Tôi là kẻ tội lỗi, tôi nói với Mẹ mỗi ngày nhiều lần như vậy. Mẹ nhận lời cầu xin đó, mà dâng lên Chúa. Và Chúa đã thương ban cho tôi lửa mến thương của Chúa.
  3. Tôi cũng hay nhìn gương thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Tức là tôi đón nhận lửa mến thương của Chúa từng giây phút nhỏ, từng việc làm nhỏ. Tôi cũng cho đi lửa mến thương Chúa ban qua những việc nhỏ, trong từng giây phút nhỏ.

Tôi còn đang giữ bên cạnh mình một sợi tóc nhỏ của Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux. Để nhắc nhở tôi là lửa mến yêu, dù nhỏ như sợi tóc, vẫn có sức cứu độ.

  1. Tới đây, tôi sực nhớ tới chuyện của Thánh Gioan Vianney, cha sở xứ Ars. Một người đến với cha, khóc lóc vì một người thân mới chết, người thân đó là một tội nhân rối rắm nổi tiếng. Người đó nhảy xuống sông tự tử.

Cha thánh đã cầu nguyện và trả lời an ủi: “Anh ta đã được Chúa cứu. Từ trên cầu nhảy xuống sông chỉ là tích tắc. Nhưng trong tích tắc đó, anh đã được ơn sám hối, nhờ bao người đã cầu nguyện cho anh trước đó”.

Chuyện đó khuyên tôi hãy vững tin vào Chúa trong việc cầu xin cho mình và cho người khác. Chắc chắn sự cứu rỗi cũng đang được xảy ra, dù chỉ trong tích tắc, tại nơi này nơi nọ. Nhờ lửa mến thương của bao người.

  1. Trong con,có lửa hay không có lửa? Có lửa, thì lửa đó là lửa nào? Lửa đó là từ đâu?

Mấy ngày nay, Đức Mẹ hay hỏi tôi như vậy. Tất nhiên, tôi thưa là “Mẹ biết rõ hơn con”. Tôi trở nên rất bé nhỏ bên lòng Mẹ. Lửa từ trái tim Mẹ được chia sẻ sang tôi. Nhờ vậy tôi đã cùng với Mẹ, chúc tụng Chúa. Linh hồn tôi tung hô Chúa, thần trí tôi mừng vui vời vợi trong Đấng cứu chuộc tôi (Lc 1, 46-47).

Long Xuyên, ngày 02.8.2018

+ Gm. Gioan B BÙI TUẦN

From Vongtaysongnguyen