LỜI HỨA 9 NGÀY THỨ SÁU ĐẦU THÁNG

LỜI HỨA 9 NGÀY THỨ SÁU ĐẦU THÁNG

Thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque (1647-1690)

Là vị tông đồ nhiệt thành truyền bá lòng sùng kính Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Nói đúng hơn, Đức Chúa GIÊSU chọn thánh nữ để tỏ bày Trái Tim Chí Thánh Từ Bi của Ngài cho toàn thể loài người. Đức Chúa GIÊSU chọn thánh nữ làm sứ giả loan báo đặc ân Ngài dành cho những ai yêu mến và đền tạ Thánh Tâm Ngài. Trong lần hiện ra vào một ngày thứ 6 năm 1688, Đức Chúa GIÊSU long trọng nói với thánh nữ:
   – Trong mức độ tột cùng lòng từ bi Trái Tim Cha, Cha hứa với con rằng: Tình Yêu toàn năng Cha sẽ ban ơn hoán cải sau cùng cho những ai rước lễ 9 ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp. Những người này sẽ không chết khi còn mắc tội trọng nhưng sẽ được lãnh nhận các Bí Tích và trong giờ sau hết, Trái Tim Cha sẽ là nơi nương náu vững vàng nhất.
   Lời Đức Chúa GIÊSU hứa đã thực hiện trải qua bao thế hệ và còn tiếp tục cho đến tận thế. Sau đây là trường hợp điển hình.
   Khi sống trong nội trú, Matteo – thiếu niên Ý – sốt sắng thi hành thói quen đạo đức là tham dự Thánh Lễ và rước lễ trong 9 ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp. Nhưng khi rời ghế nhà trường, lăn lộn với đời, Matteo sống cuộc đời ăn chơi buông thả.
   Chàng xin một chỗ làm trong ngân hàng, nhưng không bao lâu sau thì bị đuổi khỏi sở vì tính tình phóng túng. Chán nản, chàng rời Ý và sang sống bên Anh quốc. Nơi đây, chàng làm nghề hầu bàn, quét dọn phòng cho khách trọ. Không đầy một năm sau, thân tàn ma dại khi mới 23 tuổi, Matteo thất thểu trở về quê sinh.
   Sức khoẻ hao mòn và thần chết thập thò trước cửa, nhưng tâm hồn Matteo chai cứng. Chàng giả điếc làm ngơ trước mọi lời nhắn nhủ của người thân và bạn bè quen thuộc, khuyên lơn chàng trở về với Chúa, dọn mình xưng tội rước lễ lần cuối cùng.
   Nhưng Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU hằng dõi bước chăm sóc người con tội lỗi, từng yêu mến Trái Tim Ngài. Chúa soi sáng cho vị Linh Mục đạo đức, bạn học của Matteo khi hai người còn là học sinh nội trú, đến thăm người bệnh nặng. Matteo vui mừng tiếp chuyện vị Linh Mục trong tư cách ngài là bạn, thế thôi. Vì thế, vừa khi vị Linh Mục trẻ tìm lời khuyên bạn dọn mình xưng tội, Matteo nói ngay:
   – Nếu anh không còn gì để nói thì hãy đi đi! Tôi tiếp anh vì anh là bạn chứ không phải vì anh là Linh Mục. Vậy xin anh hãy ra khỏi nhà .. tôi không muốn nói chuyện với Linh Mục!
   Vị Linh Mục vẫn nhẫn nhục kiên trì, không thối lui. Ngài tìm lời khuyên bạn. Nhưng Matteo nổi giận, nói lớn tiếng:
   – Anh hãy im đi. Tôi đã nói là tôi không muốn tiếp chuyện Linh Mục mà! Anh có chịu ra khỏi nhà này hay không?

Vị Linh Mục đành nói:
   – Nếu quả thật bạn đuổi tôi, tôi xin chào vĩnh biệt bạn.
   Nói xong, Cha đứng lên bước ra khỏi phòng. Nơi ngưỡng cửa, Cha còn quay lại nhìn người bạn thân yêu lần cuối và buột miệng thốt lên:
   – Đây quả là lần đầu tiên không thực hiện lời Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU KITÔ đã hứa!
   Người bệnh ngạc nhiên hỏi:
   – Anh lẩm bẩm thế?
   Vị Linh Mục tức khắc trở vào phòng, bước lại gần giường người bệnh và lập lại:
   – Tôi nói rằng, đây có lẽ là lần đầu tiên không thực hiện lời Trái Tim Đức Chúa GIÊSU hứa ban ơn chết lành cho những ai rước lễ 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp.
   Người bệnh còn đủ sức hỏi vặn lại:
– Điều đó có liên quan gì tới tôi mà anh phải nói thế?
  Vị Linh Mục nói nhanh:
   – Có, chứ sao lại không! Bạn không nhớ hồi chúng mình ở nội trú, chúng ta từng rước lễ 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp, hay sao? Bạn thi hành thói quen đạo đức với trọn lòng kính mến Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU, như lời Chúa mời gọi. Vậy mà giờ đây, bạn chống cưỡng lại ơn thánh, không muốn trở về với lượng từ bi bao la của Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU!
   Người bệnh lặng lẽ nghe và hai hàng nước mắt chảy dài trên má. Rồi vừa nức nở khóc, Matteo vừa nói với người bạn Linh Mục:
  – Bạn hãy mau mau giúp tôi, đừng bỏ rơi người bạn khốn cùng này, tội nghiệp! Xin bạn mời vị Linh Mục dòng Cappuccino ở giáo xứ gần đây, đến ngay giúp tôi dọn mình chết lành.
   Chàng thanh niên Matteo lãnh nhận đủ các Bí Tích sau cùng và êm ái trút hơi thở trong ơn nghĩa Chúa, đúng như lời Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU KITÔ hứa cho những ai sốt sắng rước lễ 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp.
… ”Hỡi anh em thân mến, hãy xây dựng đời mình trên nền tảng Đức Tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần, hãy cố gắng sống mãi trong Tình Yêu THIÊN CHÚA, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức GIÊSU KITÔ, Chúa chúng ta, để được sống đời đời .. Xin kính dâng Đấng có quyền phép gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững, tinh tuyền, trước vinh quang của Người, trong niềm hoan lạc, xin kính dâng THIÊN CHÚA duy nhất, Đấng Cứu Độ chúng ta, nhờ Đức GIÊSU KITÔ, Chúa chúng ta, kính dâng Người vinh quang, oai phong, sức mạnh và quyền năng, trước mọi thời, bây giờ và cho đến muôn đời! Amen” (Thư thánh Giuđa 20-25).
(”Sembra impossibile .. Eppure è così”, Editrice Comunità, 1992, trang 51-53)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Đức Tin- Đức Cậy-Đức Mến

httpv://www.youtube.com/watch?v=ByHk_Po0wvo

ĐỨC TIN – LM. GIUSE NGUYỄN VĂN THẬT, DCCT NÀ PHẶC – TĨNH TÂM MV NGÀY 1 DCCT THÁI HÀ

httpv://www.youtube.com/watch?v=M0JDeFukkuw

ĐỨC CẬY – LM. GIUSE NGUYỄN VĂN THẬT, DCCT NÀ PHẶC – Tĩnh tâm ngày 2 tại Thái Hà

httpv://www.youtube.com/watch?v=gSEYl0tXoeQ

ĐỨC MẾN – LM. GIUSE NGUYỄN VĂN THẬT, DCCT NÀ PHẶC- Tĩnh tâm ngày 3 – DCCT Thái Hà

SẴN SÀNG CHO GIÁNG SINH

SẴN SÀNG CHO GIÁNG SINH

Nhiều người bước vào lễ Giáng Sinh một cách mệt mỏi, bận rộn, xao lãng, và bị vắt kiệt với đủ mọi ánh đèn, ca nhạc, và ăn mừng Giáng sinh.  Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị cho Giáng Sinh, nhưng với nhiều người trong chúng ta, đây không phải là thời gian chuẩn bị để Chúa Kitô có thể sinh ra lần nữa một cách sâu đậm trong đời sống mình.  Thay vào đó, việc chuẩn bị cho Giáng Sinh, hầu như là để chuẩn bị cho các buổi ăn mừng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.  Những ngày hướng đến Giáng Sinh hiếm khi được yên bình.  Thay vào đó, chúng ta cứ hối hả vội vã lo trang trí, mua quà, gởi thiệp, chuẩn bị đồ ăn, và dự các liên hoan Giáng Sinh.  Hơn nữa, khi Giáng Sinh về, chúng ta đã chán ngấy các bài hát Giáng Sinh, đã nghe chúng cả trong các điệu nhạc giật gân trong các trung tâm mua sắm, trong nhà hàng, quảng trường, và trên đài phát thanh.

Và rồi Giáng Sinh đến với chúng ta trong một không gian chật chội và mệt mỏi, chứ không thư thái và yên bình.  Thật vậy, đôi khi mùa Giáng Sinh như bài kiểm tra sức chịu đựng hơn là thời gian vui vẻ thực sự.  Hơn nữa, và còn nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta thành thật với bản thân, chúng ta phải công nhận, trong khi chuẩn bị chúng ta ít chừa chỗ cho việc thiêng liêng, cho Chúa Kitô sinh ra một cách sâu đậm trong lòng mình.  Thời gian chuẩn bị thường dành để chuẩn bị nhà cửa hơn là chuẩn bị tâm hồn, mua sắm hơn là cầu nguyện, tiệc tùng hơn là chay tịnh chuẩn bị cho đại lễ.  Mùa Vọng thời nay có lẽ là để ăn mừng trước hơn là chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh.

Và kết quả là, như các chủ trọ đã không còn phòng cho Đức Mẹ và thánh Giuse trong mùa Giáng Sinh, chúng ta cũng thường “không còn phòng” không còn chỗ trong đời mình cho sự tái giáng sinh thiêng liêng.  Lòng chúng ta thì tốt, chúng ta muốn Giáng Sinh tái sinh chúng ta về đường thiêng liêng, nhưng cuộc sống của chúng ta quá nhiều áp lực, quá nhiều hoạt động và quá mệt mỏi, đến nỗi chúng ta không còn sinh lực thực sự để làm cho Giáng Sinh trở nên thời gian đặc biệt để canh tân tâm hồn mình.  Tinh thần Giáng Sinh vẫn ở trong chúng ta, vẫn thật, nhưng như đứa trẻ trong nôi bị bỏ bê đang chờ được bồng ẵm.  Và chúng ta muốn bồng đứa trẻ lên, nhưng lại không bao giờ đến gần cái nôi cả.

Vậy thì chúng ta thật tệ biết bao?

Điều này thách thức chúng ta hãy nhìn vào chính mình, nhưng không đến nỗi xấu như nhiều chỉ trích lòng đạo thường hay nói đâu.  Dự lễ Giáng Sinh với một cuộc sống quá bận rộn và quá lơ là việc dành chỗ cho Chúa Kitô, không biến chúng ta thành người xấu.  Như thế không có nghĩa chúng ta là những kẻ ngoại đạo vô tâm.  Và cũng không có nghĩa là Chúa Kitô đã chết trong lòng chúng ta.  Chúng ta không xấu xa, mất đức tin và ngoại đạo chỉ vì chúng ta hướng đến Giáng Sinh theo thói quen một cách quá lơ là, quá bận rộn, quá áp lực và quá mệt mỏi đến nỗi không thể có một nỗ lực ý thức để làm cho đại lễ này trở thành dịp để canh tân linh hồn thực sự trong đời mình.  Tình trạng thờ ơ đường thiêng liêng của chúng ta định rõ chúng ta là con người hơn là thiên thần, trần tục hơn là thuần khiết, và duy cảm hơn là duy thiêng.  Tôi cho rằng Chúa hoàn toàn hiểu tình trạng này của chúng ta.

Thực sự, tất cả mọi nguời đều đấu tranh với điều này theo nhiều cách.  Không ai hoàn hảo, không ai dành trọn không gian của đời mình cho Chúa Kitô, ngay cả trong thời gian Giáng Sinh.  Điều này sẽ cho chúng ta đôi chút an ủi.  Nhưng cũng cho chúng ta một thách thức cấp thiết.  Trong cuộc sống bận rộn và lơ đãng của chúng ta, có quá ít chỗ cho Chúa Kitô!  Chúng ta phải hành động dọn đôi chỗ cho Chúa Kitô, khi làm cho Giáng Sinh thành một thời gian phục hồi linh hồn và canh tân đời sống.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này?

Trong những ngày cận kề Giáng Sinh, chúng ta cố gắng làm đủ mọi chuyện cần thiết để sẵn sàng cho tất cả những gì cần có trong nhà, trong nhà thờ, và nơi làm việc.  Chúng ta đi mua quà, gởi thiệp, treo đèn và trang trí, soạn thực đơn, mua đồ ăn, dự đủ tiệc liên hoan Giáng Sinh ở nơi làm việc, nhà thờ và nhà bạn bè. Điều này, cộng thêm vào áp lực sẵn có trong cuộc sống, thường làm cho chúng ta nghĩ: Tôi sẽ không làm được! Tôi sẽ không sẵn sàng! Tôi sẽ không sẵn sàng cho Giáng Sinh! Đây là cảm giác chung của mọi người.

Nhưng, sẵn sàng cho Giáng Sinh, làm mọi việc cần làm, không phải là hoàn tất các việc chúng ta đã lên danh sách như mua quà, gởi thiệp, thức ăn, các bổn phận xã hội. Ngay cả khi danh sách những việc cần làm chỉ mới xong được một nửa, nhưng nếu bạn đi lễ nhà thờ ngày Giáng Sinh, nếu bạn ngồi được trong bàn ăn với gia đình vào ngày Giáng Sinh, và nếu bạn thăm hỏi hàng xóm và đồng bạn với đôi chút nồng hậu hơn, thì điều này không có nghĩa là bạn lơ là, mệt mỏi, quá tải, và không suy nghĩ rõ về Chúa Giêsu, và có nghĩa là bạn đã làm trọn những việc để đón Giáng Sinh rồi đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

CÁCH SỐNG THÁNH MÙA VỌNG

CÁCH SỐNG THÁNH MÙA VỌNG

Mùa Vọng đã về.  Đó là thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh – Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai và Đấng Cứu Độ.  Niềm vui Lễ Giáng Sinh tùy vào cường độ mà chúng ta sống Mùa Vọng.  Chúng ta hãy làm theo các gợi ý cụ thể và sống Mùa Vọng với niềm vui mừng, cầu nguyện, yêu thương và cương quyết.  Hãy sống Mùa Vọng này như thể là Mùa Vọng cuối cùng trong cuộc đời mình.  Hãy mạnh mẽ lên!  Chúa Giêsu luôn nhắc chúng ta tỉnh thức, sẵn sàng và chuẩn bị cho cuộc tái lâm của Đức Kitô, bởi vì chúng ta chẳng biết lúc nào.

Đây là 5 gợi ý hữu ích để chúng ta làm cho Mùa Vọng này là Mùa Thánh Đức:

1/ Duy Trì Thinh Lặng

Hãy nhớ cuộc gặp gỡ của ngôn sứ Êlia với Thiên Chúa trên núi và trong thinh lặng: “Người nói với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa.  Kìa Đức Chúa đang đi qua.’  Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão.  Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất.  Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa.  Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.  Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang.  Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?’  Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài.  Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:11-13).

Hãy cố gắng loại bỏ những thứ không cần thiết và dành những phút thinh lặng cho Thiên Chúa.  Hãy “lên núi” và thinh lặng để lắng nghe Ngài, đừng chia trí vì những loại ô nhiễm nào khác.

2/ Cầu Nguyện Liên Lỉ

Hãy dành nhiều thời gian cầu nguyện trong Mùa Vọng Thánh này.  Giáo hội khuyến khích chúng ta gia tăng cầu nguyện hàng ngày.  Có nhiều cách cầu nguyện, đây là vài cách khả thi hữu ích:

–       Kinh Phụng Vụ.

–       Thánh Vịnh – cách cầu nguyện bằng Kinh Thánh.

–       Giờ Thánh, đọc và suy niệm Lời Chúa.

–       Thánh Lễ – cách cầu nguyện đặc biệt.

–       Khẩu nguyện – đọc thật chậm, chú ý tới lời kinh với lòng yêu mến.

–       Xét mình nghiêm túc.

–       Kinh Mai Côi – cuốn Kinh Thánh rút gọn.

Chiêm ngưỡng Hang Đá, theo bước các mục đồng,… Những điều này có thể hữu ích thêm vào việc cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng (sách đạo đức).  Có nhiều cách, nhưng hãy chọn cách tốt nhất cho chính mình!

 3/ Giúp Đỡ Người Nghèo

Trong Mùa Vọng này, có thể bạn tìm được cách phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy nhớ rằng chính Chúa Giêsu hiện thân nơi người nghèo.  Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói rằng chúng ta nên tìm kiếm Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy đọc trình thuật Mt 25:31-46 – cuộc phán xét chung.  Chúa Giêsu cho thấy rằng cuộc phán xét cuối cùng được dựa trên đức ái – cách chúng ta đối xử với người nghèo.  Đừng bao giờ quên điều này: Bác Ái Bắt Đầu Từ Gia Đình.

4/ Tham Dự Thánh Lễ

Trong Mùa Vọng này, hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ hàng ngày.  Nếu bạn làm được như vậy, bạn có thể tiến tới một hoặc hai bước khác, hơn cả những gì bạn đang làm.  Cố gắng đi lễ sớm để chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào “Hang Belem” của bạn – gọi là Nhà Bánh, tức là cõi lòng của bạn.  Hãy cố gắng khuyến khích các thành viên trong gia đình và bạn bè cùng gặp gỡ Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.  Thánh Anrê tông đồ đã đưa người khác đến gặp Chúa Giêsu, bạn cũng được mời gọi đưa người khác đến với Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa và Đấng cứu độ nhân loại.  Thật vậy, Chúa Giêsu là ngọc quý và là kho tàng vô giá. Hãy chia sẻ Ngài với người khác!

5/ Noi Gương Đức Mẹ

Trong cuốn sách “True Devotion to Mary” (Tôn Sùng Đức Maria, số 108), Thánh Louis de Montfort chỉ ra 10 nhân đức của Đức Mẹ: khiêm nhường, tín thác, tuân phục tuyệt đối, cầu nguyện không ngừng, luôn từ bỏ mình, khiết tịnh, yêu mến, kiên trì, tử tế, và khôn ngoan.

Hãy chọn một hoặc hai trong số các nhân đức của Đức Mẹ, cầu xin Mẹ cầu giúp nguyện thay để chúng ta noi gương Đức Mẹ. Trong Mùa Vọng này, hãy nỗ lực cụ thể là sống các nhân đức.  Đức Mẹ là con đường ngắn nhất, mau nhất và dễ dàng nhất để đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu: Ad Jesum Per Mariam – Nhờ Mẹ Đến Với Chúa Giêsu.

Lm Ed Broom (OMV – Oblates of the Virgin Mary – Dòng Tận Hiến Trinh Nữ Maria)

Trầm Thiên Thu

(chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

From Langthangchieutim

Nữ tu Ba Lan dòng Đa Minh 110 tuổi, người Công Chính Giữa Các Dân Nước, vừa từ giã cõi đời

Nữ tu Ba Lan dòng Đa Minh 110 tuổi, người Công Chính Giữa Các Dân Nước, vừa từ giã cõi đời

 Đặng Tự Do

 22/Nov/2018

 

Sơ Cecylia Maria Roszak, nữ tu dòng Đa Minh, người Ba Lan, được ghi vào Guiness là “nữ tu cao niên nhất trên thế giới” đã qua đời ở tuổi 110. Tổng giáo phận Krakow đã công bố như trên hôm 17 tháng 11.

Sơ Cecylia nhũ danh Maria Roszak, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1908 tại thị trấn Kielczewo ở tây-trung Ba Lan. Sau khi tốt nghiệp trường thương mại ở tuổi 21, sơ xin vào tu viện On Gródek của dòng Đa Minh ở Krakow.

Năm 1938, cô đi cùng một nhóm nữ tu cùng dòng đến Vilnius (hiện nay thuộc Lithuania, nhưng vào thời điểm đó là một phần của Ba Lan). Các nữ tu hy vọng thành lập thêm một tu viện tại đây. Tuy nhiên, Thế chiến thứ hai bùng nổ đã ngăn cản ước muốn của các sơ.

Theo mật ước Molotov–Ribbentrop, ba nước vùng Baltic, trong đó có Lithuania, rơi vào tay Liên Xô. Tháng 10 năm 1939, 20,000 quân Liên Xô tràn vào Lithuania. Nhiều người Do Thái bị lùng bắt. Sơ Roszak và các nữ tu, dẫn đầu bởi Mẹ bề trên Bertranda, đã can đảm mạo hiểm mạng sống che giấu 17 thành viên kháng chiến Do Thái trong tu viện của họ.

Theo viện Yad Vashem, tức là Trung tâm Tưởng nhớ Cuộc Diệt chủng người Do Thái, những người Do Thái được cho ẩn náu trong tu viện là những thành viên của một phong trào Do Thái phi chính thống, tức là những người Do Thái nhưng không theo Do Thái Giáo.

“Mặc dù có sự khác biệt rất lớn giữa hai nhóm, mối quan hệ rất gần gũi đã được hình thành giữa các nữ tu Công Giáo và những người Do thái thế tục cánh tả. Những kháng chiến quân này tìm được một nơi trú ẩn an toàn phía sau các bức tường của tu viện. Họ giúp các nữ tu trong công việc canh tác và tiếp tục các hoạt động chính trị của họ. Họ gọi Mẹ bề trên của tu viện là Ima, tức là Mẹ theo tiếng Do Thái”, viện Yad Vashem đã cho biết như trên.

Tháng 6, 1941, Lithuania lại rơi vào tay Quốc Xã Đức. Những kháng chiến quân Do Thái đã quyết định rời tu viện và trở về khu Do Thái để giúp thiết lập một ổ kháng cự ở đó. 

Vào tháng 9 năm 1943, mẹ Bertranda bị bắt, tu viện Vilnius bị đóng cửa và các nữ tu bị phân tán. Sơ Roszak trở về Krakow, do chiến tranh, các chị em của sơ cũng đã bị trục xuất khỏi nhà mẹ “On Grodek”. Sơ Roszak phải tá túc cùng với một số chị em khác vào thời điểm đó.

Vào năm 1947, Sơ Roszak và những sơ dòng Đa Minh khác trở về nhà mẹ, nơi sơ phục vụ như một người quản lý, người tổ chức và ca trưởng trong nhiều năm, và nhiều lần được bầu là Mẹ Bề Trên.

Năm 1984, Sơ Bertranda và các nữ tu tại tu viện Vilnius trong đó có Sơ Roszak đã được viện Yad Vashem trao tặng danh hiệu “Người Công Chính Giữa Các Dân Nước”. Đây là danh hiệu cao quý người Do Thái trao tặng cho những người không phải là người Do Thái đã liều mất mạng sống, tự do hoặc vị thế xã hội của họ để giúp đỡ người Do Thái trong thời kỳ Holocaust.

Năm 101 tuổi, Sơ Roszak đã trải qua phẫu thuật hông và đầu gối nhưng vẫn có thể tham gia vào nhiều hoạt động bình thường của tu viện, bao gồm cả việc tham gia cùng các chị em cầu nguyện và thăm các chị em bị bệnh.

Vào ngày 25 tháng 3 năm 2018, Sơ Roszak tổ chức sinh nhật lần thứ 110 tại tu viện của mình, nơi sơ được Tổng giám mục Marek Jedraszewski của Krakow đến viếng thăm.

Sơ Roszak qua đời vào ngày 16 tháng 11 năm 2018.

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

Tin Mừng hôm nay giống như một bức tranh với hai cảnh trí đối nghịch nhau.  Trên một cái phông lờ mờ, chúng ta như thấy được cảnh đô thị giàu sang nơi ngự trị của hoàng đế Lamã, người đại diện của ông là tổng trấn Phongxiô Philatô, và các thứ vua bù nhìn là Hêrôđê và Philipphê.  Cũng trong cái phông lờ mờ ấy, người ta còn thấy được như hai cái bóng ẩn tàng là Anna và Caipha, hai vị thượng tế lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, trên cái phông lờ mờ ấy, thánh Luca như muốn tô đậm một cảnh trí khác đó là cảnh sa mạc vắng vẻ, nơi cư ngụ của một kẻ nghèo nàn ấy là Gioan, con của Giacaria.  Thánh Luca có lẽ đã muốn làm nổi bật cái cảnh sa mạc nghèo nàn vắng vẻ ấy, để nói với chúng ta rằng chỉ có trong sa mạc vắng vẻ nghèo nàn, con người mới lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa.

Sa mạc vốn là một phạm trù ưu việt của Kinh Thánh.  Những cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người thường diễn ra trong sa mạc.  Môisen đã phải lẩn trốn vào sa mạc để được nhận biết Chúa và nhận lãnh sứ mạng giải phóng dân tộc.  Bốn mươi năm lang thang trong sa mạc là thời kỳ thanh luyện cần thiết để dân riêng được vào đất Hứa.  Truyền thống đi vào sa mạc đã không ngừng được các tiên tri về sau sống lại như một kinh nghiệm cần thiết trước khi thi hành sứ vụ.  Nhưng điển hình và mang nhiều ý nghĩa hơn cả vẫn là 40 đêm ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong sa mạc và những đêm cầu nguyện lâu giờ của Ngài trong nơi vắng vẻ.

Sa mạc là đồng nghĩa với nắng cháy trơ trụi, nghèo nàn.  Phải chăng có trở nên trống rỗng và nghèo nàn, có trút bớt đi những cái không cần thiết thì con người mới lắng nghe được tiếng nói của Chúa và thanh luyện được niềm tin của mình.  Lịch sử Giáo Hội luôn chứng minh rằng những cuộc bách hại luôn là yếu tố thanh luyện và canh tân Giáo Hội.  Trong thử thách và khổ đau, trong nghèo nàn và trơ trụi Giáo Hội lại càng vững mạnh hơn.  Có trút bỏ được những cái không cần thiết và làm cho vướng mắc thì Giáo Hội mới trở nên sáng suốt và giàu có.  Giàu có không do những phương tiện vật chất và các thứ đặc quyền đặc lợi, mà giàu có bởi một niềm tin được tinh luyện và can trường hơn.

Tư trong sa mạc của thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta cũng có thể rút ra được một bài học khác cho niềm tin.  Không những từ trong sa mạc Gioan đã nắm được tiếng Chúa, mà còn can đảm để hô lớn tiếng Chúa cho mọi người được nghe thấy: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa đường cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”  Lời kêu gọi ấy, Gioan chẳng những đã ngỏ với đám dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng, mà còn nhắn gởi với cả giai cấp thống trị trong cả nước nữa.  Ngồi tù và cuối cùng bị chém đầu vì dám lên tiếng tố giác hành vi tội ác của một Hêrôđê, số phận của Gioan cho chúng ta thấy rằng ngài đã đi đến tận cùng sứ mạng tiên tri của ngài.  Thánh nhân đã dám nói thẳng và sống thực là bởi vì ngài không có gì để tiếc nuối, không có gì để bám víu, không có gì để giữ lấy ngoài chiếc áo da thú của ngài.

Chiếc áo vẫn là tượng trưng của sứ mạng tiên tri.  Đó là lý do tại sao trong dịp tấn phong Hồng Y cho một số chức sắc trong Giáo Hội, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến ý nghĩa của phẩm phục màu đỏ mà chúng ta quen gọi là Hồng Y.  “Màu đỏ là màu của hy sinh, là màu của máu, các Hồng Y phải là những người hy sinh đến độ có thể đổ máu đào.”  Lời nhắc nhở này chắc phải có một giá trị đặc biệt đối với các vị Hồng Y đến từ những nơi Giáo Hội đang bị bách hại và thử thách, những nơi mà các vị cần phải lên tiếng, cho dẫu phải hy sinh mạng sống của mình.  Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo và kêu gọi san bằng bất công.  Ngài đã can đảm lên tiếng là bởi vì ngài không có gì để mất.  Ngài không sợ phải mất một ít đặc quyền đặc lợi hay bất cứ một thứ ân huệ nào.

Nồi cơm manh áo hay một ít bả vinh hoa có thể là động lực thúc đẩy con người thỏa hiệp và sống dối trá.  Đó cũng có thể là cơn cám dỗ của các tín hữu chúng ta trong giai đoạn hiện nay.  Một ít đặc lợi vật chất, một vài ưu đãi, một số đặc quyền đặc lợi, một lời dễ dãi, đó là miếng mồi ngon khiến cho nhiều người nếu không bán đứng lương tâm của mình, nếu không uốn cong miệng lưỡi thì cũng chấp nhận thỏa hiệp im tiếng.  Mùa Vọng là mùa của sa mạc, có đi vào sa mạc của nghèo khó và siêu thoát chúng ta mới dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa.  Và có từ sa mạc của nghèo khó và siêu thoát, chúng ta mới có đủ can đảm để gióng lên tiếng của Chúa: “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu, hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”

Khi cuộc sống của các tín hữu trở thành một lời mời gọi, khi miệng lưỡi của họ nói lên những lời can đảm chân thực, thì lúc đó như Tin Mừng nói với chúng ta, mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ của Chúa.

Radio Veritas Asia

Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

From Langthangchieutim

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ.  Nhưng tại sao là Đức Maria mà không là người khác?  Tại sao chúng ta phải chịu hệ lụy của Tội Nguyên Tổ?  Tại sao Áp-ra-ham, Mô-sê hoặc Đa-vít được tuyển chọn mà không là người khác?

Theo Kinh Thánh, người được tuyển chọn luôn được chọn vì người không được chọn.  Như vậy, Áp-ra-ham được chọn để các quốc gia không được chọn trên trái đất sẽ được chúc lành qua ông.  Cũng vậy, Mô-sê và dân Ít-ra-en được chọn để họ có thể là dân tư tế vì các dân-tộc-không-được-chọn trên thế giới.  Đa-vít được chọn để con trai của ông có thể dẫn đưa các dân-tộc-không-được-chọn đến với Vương Quốc của Thiên Chúa.

Với Đức Maria cũng vậy.  Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa hoàn tất qua Mẹ.  Ơn Cứu Độ hoàn toàn mang tính ngăn ngừa chứ không mang tính chữa trị, không là dấu chỉ loại trừ.  Đó là dấu chỉ về quyền năng cứu độ nơi Chúa Giêsu, dành cho chúng ta theo sự quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chúng ta chiến đấu với Tội Nguyên Tổ.  Vì Đức Mẹ là biểu tượng của Giáo hội và là thụ tạo đặc biệt trong các thụ tạo của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ có thể đưa ra một ước lệ đối với sự kiêu ngạo và lời hứa giải thoát qua cuộc nổi loạn bằng cách cho chúng ta thấy rằng:

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Con người phát xuất từ Thiên Chúa và được tạo nên để kết hiệp với Ngài.

Quyền tha tội của Chúa Giêsu được biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Mẹ, chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài cũng có quyền tha tội của chúng ta, dù tội nặng tới mức nào.

Con người là sản phẩm tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tội lỗi không là sự thật nền tảng, cũng không là nền tảng cuối cùng của con người.  Chính Chúa Giêsu mới là nền tảng.

Con người được xác định bởi tình yêu, chứ không bởi sự hận thù.

Con người được mời gọi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Con người phản ánh lý lẽ, trật tự và tình yêu của Thiên Chúa.

Con người tìm thấy sự sống khi mất sự sống và tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Con người chỉ trở nên “người” hơn qua tình yêu, lòng khiêm nhường và lòng thương xót.

Con người lớn lên trong tình yêu bằng cách quan tâm “những người bé mọn” vì họ quý giá đối với Đức Kitô, Đấng đã tự hạ tới mức sinh nơi hang đá.

Con người nên tìm kiếm tình yêu tự dâng hiến ngay trên thế gian và phần thưởng trên trời, vì cuộc đời này không tồn tại mãi.

Chúng ta nên khiêm nhường vì chúng ta “được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa”, và sự thật là thế. Khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình cần có ơn Chúa.

Bản chất Thiên Chúa là tình yêu.  Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta không tìm thấy mình bằng cách tôn thờ bản chất đó mà bằng cách tôn thờ chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên chúng ta và cứu độ chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

Tóm lại, khi nhân loại tạo nên văn hóa sự chết, Chúa Thánh Thần đã đưa Giáo hội đến với Đức Mẹ, Đấng trung gian cầu xin Thiên Chúa cứu độ chúng ta.  Đức Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nhân chứng duy nhất về ơn cứu độ của Đức Kitô.  Là người che chở nhân loại, Đức Mẹ như hàng rào bao quanh sự thật về Ơn Cứu Độ của Đức Kitô.  Là Tông Đồ mẫu mực, Đức Mẹ cho chúng ta biết Ơn Cứu Độ vô biên của Đức Kitô có thể tẩy sạch tội lỗi của chúng ta và cho chúng ta biết sự xứng đáng về nguồn gốc của chúng ta từ Thiên Chúa.  Đức Mẹ là “máng chuyển” ơn Chúa, như Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống viên mãn.”

Mark Shea

Trầm Thiên Thu, chuyển ngữ từ http://www.ncregister.com/

TỈNH THỨC ĐI VÀO THẾ GIỚI MỚI

TỈNH THỨC ĐI VÀO THẾ GIỚI MỚI

Thật ngạc nhiên.  Ta cứ tưởng trong mùa Vọng, phải có những bài sách Thánh báo tin Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra.  Nhưng không ngờ những bài sách thánh và đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay lại báo tin Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Tại sao thế?  Thưa vì Giáo Hội muốn cho ta hiểu ý nghĩa thần học của việc chờ mong Chúa đến.  Hàng năm vào mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi ta chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến.  Thực ra Chúa đã đến rồi khi sinh ra tại hang đá Bêlem cách nay hơn hai ngàn năm.  Tuy nhiên ta vẫn luôn chờ mong vì Chúa đến hằng ngày với ta.  Và nhất là Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Việc Chúa đến lần thứ hai đưa ra những hướng dẫn quan trọng cho cuộc đời chúng ta.

Hướng dẫn thứ nhất: Có hai thế giới.  Thế giới hiện tại và thế giới tương lai.  Thế giới hiện tại sẽ qua đi.  Vạn vật có khởi đầu và có kết thúc.  Con người có sinh có tử.  Đó là định luật tự nhiên.  Không chỉ những gì yếu đuối, bé nhỏ mới qua đi.  Cả những gì lớn lao, mạnh mẽ, có vẻ bền vững nhất như mặt trời, mặt trăng cũng qua đi.  Điều quan trọng nhất là chính ta cũng sẽ qua đi.  Khi thế giới này qua đi, một thế giới mới sẽ bắt đầu: thế giới vĩnh cửu.

Hướng dẫn thứ hai: Chúa làm chủ lịch sử.  Sở dĩ thế giới cũ tan biến đi vì Chúa đã định cho nó một thời hạn.  Khi thế giới đến ngày cùng tháng tận, Chúa sẽ đến.  Quyền uy của Chúa thể hiện qua việc Chúa xét xử thế giới cũ và khai sinh thế giới mới.  Sau cảnh tan vỡ kinh hoàng của thế giới cũ sẽ là một khởi đầu mới đem đến niềm hy vọng mới cho con người.  Có thể nói thế giới không chấm dứt nhưng biến đổi.  Từ một thế giới mong manh mau tàn đến một thế giới vững bền vĩnh cửu.  Từ một thế giới tương đối đến một thế giới tuyệt đối.

Hướng dẫn thứ ba: Ta tự quyết định vận mệnh đời mình.  Thế giới này sẽ qua đi.  Thế giới mới sẽ xuất hiện.  Ta sẽ bị hủy diệt cùng với thế giới cũ.  Hay sẽ được hạnh phúc trong thế giới mới?  Điều đó tùy thuộc bản thân ta.  Chúa đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng.  Thế giới cũ sẽ suy tàn.  Nên ai quá gắn bó với nó sẽ khổ sở.  Thế giới mới sẽ tới.  Ai biết chuẩn bị chờ đón sẽ được hạnh phúc.  Phải làm gì?  Thưa phải tỉnh thức và cầu nguyện.

Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, tức là không quá mê mẩn những đam mê hưởng thụ đời này.  Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, nghĩa là không quá mê say danh, lợi, thú, là những giá trị đời này.  Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng.  Tỉnh thức tuy còn sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau.

Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề.  Cầu nguyện để biết tỉnh thức.  Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh.  Nhất là cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp.  Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo.  Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát ra khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.

Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến.  Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.  Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay.  Tỉnh thức cầu nguyện ta sẽ gặp được Chúa trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh.  Tỉnh thức cầu nguyện chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới.  Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến cứu con. Amen.

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim

Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 Suy tư Tin Mừng đọc vào Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Vọng năm C 

“Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 “Của hương hoa, trong trăng lờn lợt bảy?”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Lc 21: 25-28, 34-36

 Trời thơ ở đời, nhà thơ nay đã hiểu. Thơ Trời của Đạo, người người rày cũng thấu. Hiểu và thấu Tin Mừng đầy những thơ, nay người đọc đà thấy rõ thánh Luca có nói về chất chính trị của mùa Vọng, ở trình thuật. Về, cả hứa hẹn đầy ngóng đợi Đấng Mêsia nay kịp đến.                                             

Hội thánh, nay chọn các bài Phụng vụ nói về thế giới phàm trần đang chết dần. Thế giới này, không của riêng ai. Và, cũng không riêng gì nhà Đạo. Bởi, Đạo Chúa đã và đang sản sinh nhiều điều rất mới. Sản sinh nguồn thơ sự sống, rất mới. Sinh sản cả ý nghĩa lời thơ nơi phụng vụ, hôm nay.

Ghi chép Lời Chúa, thánh Gioan là nhà thần bí, rất tuyệt vời. Trong khi các thánh Máccô và Mátthêu lại là thánh-sử chuyên kể chuyện. Chuyện dân gian Do thái. Chuyện Chúa mặc khải cho dân con Ngài, một sứ vụ. Riêng thánh Phaolô lại chẳng gồm tóm ý nghĩa của truyện kể lẫn nguồn thơ. Chỉ mỗi thánh Luca là đấng thánh có nguồn thơ lai láng, tràn ngập hai chương đầu trình thuật.

Ở hai chương đầu, thánh Luca đưa ra dấu chỉ về thời ấu thơ của Chúa. Cả chuyện kiểm kê là dấu chỉ về những o ép/bách hại từ vua quan, ở đời. Kiểm kê, còn là dấu hiệu của một lăng nhục. Và, câu nói: “Không có chỗ cho Ngài tá túc ở nhà trọ”, lại là dấu chỉ những kẻ lang thang khắp đây đó. Máng cỏ Chúa nằm, là dấu hiệu của việc đói ăn/thiếu mặc ở cõi đời đầy ô trọc. Và, tã quấn Hài Nhi, là dấu chỉ về vải liệm và nỗi chết Chúa sẽ chịu. Nhưng, dấu chỉ đây còn tỏ cho thấy niềm vui, nơi mọi người. Vui, vì Hài Nhi sinh ra là sinh cho ta. Còn sự chết, cũng sẽ bị sự sống rất mới khuất phục để trỗi dậy, không sợ sệt.  

Thế giới, nay gồm đầy những chuyên gia binh bị, kinh tế và triết học. Về binh bị, có người lại biết cả cách thức áp đặt nền dân chủ/hoà bình lên người khác, dù người khác không cần. Về kinh tế, có vị còn nói mình sẽ chỉnh đốn mọi khủng hoảng tiền bạc do họ tạo. Với triết học, có vị nghĩ mình thông thái biết hết mọi sự và làm được mọi việc. Còn ở nơi ta, có nhà thơ chỉ muốn nguồn thơ mình thai nghén sẽ giáng hạ sinh biến đổi con người từ bên trong, để thấy trẻ thơ sinh hạ, đến với ta. Và mỗi lần ta nhận ra được Nguồn Thơ Trẻ, sẽ tin vào tương lai/mai ngày mà thế giới không thể trao tặng. Làm được thế, ta sẽ sống trong Nguồn Thơ rất Vọng.

Mùa Vọng, là trông ngóng Hồn Thơ ra đời như thế. Hồn Thơ, có các thánh ngóng chờ như bài đọc kể Abraham và Sarah mừng vui sau bao ngày đợi chờ, đã sinh con. Có, Ysaya và ngôn sứ đợi chờ đoàn-tụ sau bao ngày lưu lạc chốn quê người. Chờ, như Gioan Tẩy Giả chờ nơi hoang dã để lời tiên tri thành hiện thực. Chờ, như Mẹ chờ Chúa Giáng hạ nơi cung lòng trinh trong của Mẹ. Và Mẹ tiếp tục chờ Chúa quang lâm ở đồi cao thánh giá. Tất cả, đều chờ Nguồn Thơ như chờ Giáng hạ.

Đọc sách Ysaya, ta thấy giòng thơ dào dạt đầy chờ trông. Đặc biệt, là giòng thơ trấn an dân con mọi người hãy cố chờ cả vào sau thời lưu đày, nữa. Chờ đây, là chờ Giêrusalem được dựng lại từ đổ nát. Chờ, như ngôn sứ lâu nay vẫn chờ Nguồn Thơ là tâm điểm thế giới, có Chúa vực đỡ quần thần/dân nước tề tựu nơi đó, để có được thị kiến giống nhà thơ Đạo.

Thánh Phaolô còn đi xa hơn, khi nhắn nhủ: ơn rỗi Chúa mang đến, không chỉ cho một dân tộc, mà là muôn dân nước. Thơ Nguồn cứu-độ không lệ thuộc dân con nước nào, hết. Chỉ cần ta có quan hệ mật thiết với Chúa, là sẽ thành công. Và, Nguồn Thơ Cứu Độ đến với mọi người dù họ có thuộc nhóm hội hoặc sắc tộc nào cũng sẽ được Nguồn Thơ Giáng Hạ rất đồng đều, ở vạn vật.

Tại các nước như Úc Châu, Hoa Kỳ hoặc đâu đó, chúng nhân từ muôn nơi đổ về đây sinh sống. Họ thuộc đủ mọi thành phần giòng giống/sắc tộc, tôn giáo hoặc truyền thống văn hoá rất khác biệt, vẫn đến đây để mừng ngày Đức Chúa là Nguồn Giáng Hạ đến với họ. Với họ, Chúa Giáng hạ Ngài không chỉ đến với đất nước hoặc sắc tộc nào tư riêng, mà cho hết mọi giống nòi, giòng tộc. Chúa Giáng Hạ, Ngài không chỉ đến với ai riêng rẽ mà là tất cả mọi người, như Nguồn Thơ lênh láng. Và Nguồn Thơ ấy, nay đã mặc lấy xác phàm làm Trẻ rất Thơ.

Nguồn Thơ Giáng hạ, có xác thể/hình hài giống như ta, nhưng không giống Ông Già Tuyết. Cũng chẳng là truyện thần thoại đầy xảo thuật làm loé mắt dân con mọi người. Và, Vương quốc Nước Trời là Trời Thơ của Chúa nay mặc xác phàm ở với thế trần, sống với ta. Trời Thơ đến với ta, đã biến cải thế giới của ta thành thế giới của Nguồn Thơ có nguồn sống, giống như ta. Trời Thơ của Chúa, lại cũng chấp nhận cuộc sống như ta. Chấp nhận cho cả lịch sử và giao ước, cùng nhu-cầu chậm bước vẫn nhẫn nhục, giống hệt ta. Trời Thơ, cũng giàn giụa nước mắt than khóc nhiều như ta từng khóc than những lúc quyết kiếm tìm cho đúng ngôn từ, nên đôi lúc cũng lạc loài, biến dạng, bị từ khước.

Mặc lấy xác phàm loài người, Đức Chúa cảm nghiệm nhiều điều giống Nguồn Thơ, từ: sự lạnh nhạt, yếu kém cho chí nỗi khước từ. Ngài cũng đã trải nghiệm vật vã, lưu lạc đến nỗi chết. Ngài cũng gặp cảnh huống ghen tuông, chối bỏ và trầm luân, lưu lạc sống khoảnh khắc thân xác lớn rất chậm.                       

Mặc lấy xác phàm để sống như con người bằng xương thịt, còn là đi vào với thế giới ngôn ngữ, diễn tả bằng ngôn từ của con người. Vào với thế giới của ngôn ngữ, Chúa cũng trải qua các giai đoạn tiến triển trong tạo dựng. Có trao đổi, hỏi han, có tham gia trở  thành tâm điểm để người khác theo đó mà tin. Có điểm đối chọi, để ta nhận ra động lực thúc đẩy mà sống vững chãi hầu đi vào quan hệ đặc biệt với người khác, biết mình và biết người.

Chúa mặc xác phàm làm người, Ngài tạo dựng chính mình Ngài để trở thành Con Người như ta, ở trong ta. Và, giữa ta. Ngài viết lên Bài Thơ nơi da thịt, xác phàm làm người của chính ta. Không Tin Mừng nào lại trình bày sự việc Chúa Nhập Thể cách đột ngột cả. Chúa Nhập Thể đến với con người là Ngài có chuẩn bị, từng chi tiết, rất như Thơ.

Có chuyển tiếp dẫn đưa con người đến giai-đoạn tháp-nhập vào với Người để hiện diện với đời, chứ không chỉ mang tính thiêng liêng/linh đạo rất tri thức. Chẳng linh-đạo nào lại có thể hiện diện ở thế giới của con người bằng xương thịt, trừ Chúa ra. Nguồn Thơ Chúa Nhập thể, là Ngài mặc lấy xác phàm nhưng Ngài vẫn 100% là Thiên Chúa và 100% là con người, cùng một lúc.

Đồ đệ Chúa thời ban đầu, lại cũng là đồ đệ của thánh Gioan Tẩy Giả, đấng thánh biết tự rút lui vào chốn hư không/trống vắng để Chúa toả sáng với những ai dõi bước theo Ngài. Thánh Gioan không tự nhận mình là tụ-điểm thu hút hết mọi người. Và, thánh nhân tuyên bố mình chỉ là cây đèn chứ không là ánh sáng chiếu dọi mọi người. Thánh nhân là tiếng nói chứ không là Lời của Trời Thơ.

Đồ đệ đến với Chúa như việc tự nguyện; tức: không o ép, bức bách hoặc bị dẫn dụ. Các thánh thấy Chúa nên đã đi theo như đã từng đi theo thánh Gioan Tẩy Giả vào nơi hoang dã. Và, Chúa nhìn đoàn môn đệ rồi cảm kích; và cứ thế, Thày trò nhìn nhau lại đã khám phá ra điều tuyệt vời ở nơi Cha, Đấng gửi Thày đến với mình. Và, với mọi người như Ngài từng gửi Nguồn Thơ Lời Ngài đến với trần thế. Cảm kích hơn, là khi đồ đệ thấy Thày mình là Nhà Thơ Tuyệt Cú. Để rồi, cả Thày lẫn trò là bầu bạn của Nguồn Thơ, vẫn tìm Nguồn Hứng nơi Cha, là Tất Cả. Và, Thày trò cứ thế ra đi tìm về Nguồn Hứng của Thi Ca, cũng là Nguồn Mạch mọi sự ở thế trần.

Thánh Âu Tinh từng kêu lên: “Lạy Cha, chính Cha đã làm nên chúng con để Cha vừa lòng, và tâm can chúng con sẽ không ngơi nghỉ cho đến khi nào chúng con được nghỉ ngơi, nơi Cha”. Chính vì thế, chúng ta vẫn kiếm tìm Chúa nhưng không biết mình đang làm gì, và chẳng biết Ngài là ai. Rất thiếu hụt, nếu không có Ngài thì tất cả chẳng là gì cả. Và, mọi sự sẽ đi từ thất bại đến tuyệt vọng hoặc từ rối rắm này đến ngõ bí khác. Chúng ta đến, vì lý do chính đáng. Ta ở lại, cũng vì lý do nào khác…

Phải chăng, đó là lý do để ta hiên ngang trông mong Chúa lại đến? Phải chăng Hội thánh Chúa sẽ dỗ dạy con dân mình Lời Thơ sự sống, dù Thơ Trời nay đã đến và ở với ta? Và đó, có lẽ là ý nghĩa đích đáng của mùa Vọng, rất chờ mong. Mong ai? Mong gì? Mỗi người và mọi người sẽ tự tìm ra câu giải đáp, rất thoả đáng.

Trong mong đợi Nguồn Thơ sâu sắc đến, cũng nên ngâm thêm lời thơ đời đầy ý nghĩa, rằng:

            “Hiểu gì không, ý nghĩa của Trời Thơ?

            Của hương hoa trong trăng lờn lợt bảy?

Của lời câm, muôn vì sao áy náy?

            Hiểu gì không? Em hỡi! Hiểu gì không?”

            (Hàn Mặc Tử – Trường Tương Tư)

Nhà thơ xưa cứ tương tư, dù đã hiểu. Hiểu “Lời Câm” hương hoa, vẫn kiếm tìm. Hiểu, “muôn vì sao áy náy”, “trăng lờn lợt bảy”. Hiểu cả Trời Thơ, nay đến ở với ta và với người, suốt cõi đời nhiều kiếp, rất ý nghĩa.   

Lm Kevin O’Shea CSsR biên soạn

Mai Tá lược dịch