Này em, có nghe gì trong lời buồn của gió,

Suy Tư Chúa nhật thứ 28 thường niên năm B 14/10/2018

 (Mc 10: 17-30)

            Một hôm, Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Đức Giêsu đáp:“Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” Anh ta nói:“Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ.” Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta:“Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau:“Thế thì ai có thể được cứu?” Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói:”Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.”

Ông Phêrô lên tiếng thưa Ngài:”Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” Đức Giêsu đáp:”Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.”

+   +   +  +  +

“Này em, có nghe gì trong lời buồn của gió,”

“Có cảm gì tiếng xào xạc của cây?”

(dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)

Buồn của gió, nay lại cứ len lỏi ngập hồn anh. Bởi, anh đã lạnh lùng gạt bỏ lời mời của Chúa, như chàng trai buồn ở Phúc Âm. Lời mời da diết Chúa gửi đến hết mọi người. Cả người giàu, lẫn kẻ nghèo, lâu rày nhiều tình tiết.

Lời Chúa, nay bàn tiếp về lối sống “như con trẻ” để trở thành đồ đệ Chúa. Lời Chúa, trước nhất gửi người thanh niên giàu có đại diện cộng cho đoàn dân con Do thái chuyên giữ luật Torah, tức: những người vẫn giúp cô nhi, quả phụ hoặc kẻ nghèo bằng của dư của để, mình vẫn có. Nhưng, vấn đề Chúa đặt ra với chàng trai giàu, không có nghĩa cho đi hay tiếp nhận của cải, mà là: có nên chấp nhận lời mời “theo chân Chúa”. Và, có sống “như con trẻ” vẫn vui vẻ mà cho đi hay không?

Trước nhất, “theo chân Chúa”, là tin vào Đức Giêsu và mọi giá trị cũng như nếp sống Ngài trù định. “Theo chân Chúa”, là trao cho Ngài mọi sáng kiến về hướng đi của mình, từ bây giờ. Là, chấp nhận mọi cảnh tình xấu/tốt xảy đến khi dấn bước theo Ngài. Và, cứ để Ngài đi trước mà định vị, rồi đưa ra đòi hỏi để tự làm. Và ở đây, chàng trai giàu biết luật đã thực thi mọi sự như luật buộc, lại vẫn muốn tự mình định đoạt đường lối cho đời mình, nên thấy khó nếu bỏ hết tất cả để bước đi theo.

Với ngôn ngữ đời thường, thì “bước đi theo Ngài” sẽ mang nhiều ý nghĩa, rất điển tích. Như ngôn sứ Êlya có lần nói: ông cũng từng “bước theo Ngài.” Và, cái khó của việc này, không là: tìm hiểu xem Ngài là thần thánh hay Đức Chúa rất thực/hư, mà tự hỏi xem mình có đủ thực lực khi quyết định “bước đi theo Ngài” cho đến mút cùng cuộc đời? Đó chính là vấn đề.

Vấn đề, như nội dung truyện “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, trong đó có vấn nạn của tay tội đồ đưa ra với Chúa: “Phúc Âm của Ngài, ôi lạy Chúa, sao đưa ra quá nhiều đòi hỏi đến thế? Đòi hỏi ấy, chỉ nên đem đến với giới tuyển lựa hoặc nhóm/hội ở cấp cao chỉ muốn điều tuyệt đối, không khuyết điểm. Đòi hỏi này, không dành để cho người thường. Và, đó là lý do khiến bọn tôi sắp đổ ụp xô nước lên đầu họ. Bọn tôi sẽ loại bỏ chủ thuyết quyết liệt từng khiến nhiều người hãi sợ. Bọn tôi còn tính dìm sâu thứ ấy xuống mức độ chỉ những người hững hờ, lờ vờ mới chấp nhận, thôi. Bọn tôi cũng quyết tâm khiến thế giới chối bỏ đòi hỏi này, nhân danh tình thương của mọi người. Và sẽ không để sự thế này quấy rầy làm mất đi sự êm ắng vẫn có.”

Trình thuật, nay cho thấy đòi hỏi của Chúa thật cũng cao so với người giàu và cả những người Do thái sủng mộ rất đức độ từng bỏ hết mọi sự, để “bước đi theo Ngài”.

Có truyện kể về người trẻ nọ cũng khá giàu, từng nghe đấng bậc vị vọng trong Đạo vẫn khuyên mọi người đừng sống đời cao sang, ngạo mạn nhưng cứ khiêm nhu, dễ bảo như con trẻ. Anh nghĩ đó là động thái dễ coi rẻ, chẳng bận tâm. Nghe mãi cũng nhàm tai, cuối cùng anh rời Đạo Chúa trước nay mình từng đi theo. Ít năm sau đó, anh như một số người ở trong nước, cũng đầu quân tham gia cuộc chiến khốc liệt ở Việt Nam, để thi hành nghĩa vụ người dân như dân quân trong nước.

Buổi tối trời nọ, anh được giao trọng trách phải thức suốt, hầu canh gác cho đồng đội ngủ/nghỉ. Quá buồn chán với lối sống không lộ hé tương lai ngời sáng, anh bị bệnh trầm thống và căng thẳng đến độ đã ra tay giết người, cách vô cớ. Tối hôm đó, anh rơi vào cảnh tình tối tăm, mọn hèn bèn tự hỏi: “Chúa đâu rồi, sao không đến cứu con khỏi tình huống kiệt quệ và rất quẫn này? Cứ thế, rồi anh lang thang, lan man chốn vô định rồi nghĩ quẩn: sẽ có ngày anh cũng bị đồng đội giết chết. Nghĩ thế rồi, anh bèn theo đường khác để sống sót. Con đường anh tìm gặp, là cảnh huống biết tuân phục, xót thương người đồng loại và rất mực công chính, khác với kiểu cách mà xã hội lâu nay dẫn dụ anh đi theo.

Từ đó về sau, anh sống tốt lành như thời trẻ, rất hồn nhiên/vui vẻ với mọi người. Thế rồi, nhờ ơn lành đến từ đâu đó, anh trở về sống giống mọi người được dạy hãy “bước đi theo Ngài” như đấng bậc hiền từ, biết hy sinh mọi sướng vui vật chất hầu thuyết phục thế giới trở thành chốn an vui, lành mạnh.

Trình thuật hôm nay, cũng mô tả việc Chúa kêu mời những người “bước theo Ngài” biết nhận đón đám trẻ bé, rất vui tươi. Có lẽ, thánh Máccô khi viết trình thuật hôm nay, là muốn bảo với người đọc rằng: hãy đáp ứng lời mời của Chúa mà từ bỏ lối sống nhiều đắng cay, sai sót của người lớn. Hãy đáp ứng, trở về với cách sống đầy tin tưởng như trẻ nhỏ. Tin tưởng như trẻ nhỏ, là có tâm tình vẫn cứ tin vào người khác, chẳng bận tâm chuyện thực/hư, hơn/thiệt. Tin như trẻ nhỏ, là cứ để người lớn dẫn dắt mình rồi dấn bước, chẳng nghĩ suy.

Về với thực tế, có hai yếu tố quan trọng cần chú ý: một là, cứ nghĩ suy như thể mình không là nhân vật quan trọng, ở trần thế. Nghĩ như thế, cũng là điều tốt vì sẽ giúp ta biết hoà mình với người khác qua thực hành. Và, cũng là điều tốt, vì biết rằng mọi người quan trọng hơn ta. Thứ hai nữa, hãy để người khác kể cho ta biết con đường tốt/xấu, mà quyết định thực hiện; thay vì cứ bị những chiều hướng và cảnh tình không quan yếu khiến ta sống cứng ngắc. Hai yếu tố này, giúp ta hiểu rõ và chấp nhận rằng: dù mình có là đấng nào đi nữa, chẳng ai là người trọn lành, toàn thiện vào mọi lúc.

Trẻ bé nhỏ, vẫn hồn nhiên thực hiện những gì chúng thấy vui tươi thích thú. Chỉ người lớn mới là người lúc nào cũng thấy mọi sư ra khó khăn, dễ tự kỷ ám thị để rồi mãi mãi bị ám ảnh mình đã tốt lành rồi, chẳng cần đổi thay, biến cải để nên trẻ bé hồn nhiên, vui tươi.

Ví dụ điển hình kể ra ở đây, là trường hợp của một người khá giàu, nhưng đã cho đi tất cả để rồi nghe theo tiếng mời gọi của Đức Chúa mà làm việc thiện, là Lm Helder Camera, ở Brazil. Ông nay cũng đã trăm tuổi, nếu kể về ngày sinh. Ông được hấp thụ một nền giáo dục bảo thủ, chuyên chăm đạo đức khá chính thống, vẫn được khuyến khích trở thành linh mục Dòng, và sau đó làm Giám mục khá trổi trang. Ông khám phá ra nước Brazil mình khá nghèo khổ, khốn khó. Kể từ đó, ông đã nghe theo tiếng Chúa mời gọi ông “bước đi theo Ngài” mà sống giữa người nghèo, để phục vụ họ.                        

Cũng vì sống chung đụng với người nghèo khó, nên ông đã trở thành tiếng nói của họ, cho họ; tức: đã đại diện cho những người không có tiếng nói. Không dám nói. Ông đã ngả về phía người nghèo bằng và qua tư cách của ngôn sứ. Ông đòi hỏi mọi người đem đến cho người nghèo không chỉ mỗi tấm lòng bác ái thôi, nhưng cả sự công bằng nữa. Ông tập trung nhấn mạnh vào sự công chính như điều kiện để được bình an. Ông sống rất năng động nhưng không bạo loạn. Ông hoạt động năng nổ nhưng không nổ dòn, để lấy tiếng.

Cứ từ từ, ông gầy dựng tình huynh đệ nơi những người có tính nhân bản, để họ gia nhập nhóm/hội người nghèo, như kẻ nghèo. Ông gần gũi những người bị coi như đồ bỏ; giúp họ trỗi dậy tìm giải pháp cho các khó khăn họ vẫn gặp. Ông thiết lập một thứ “ngân hàng thiên định” chuyên chăm lo cho những người có nhu cầu bức thiết qua “tín dụng vĩ mô” để họ sở hữu những gì tối thiểu hầu sống theo cung cách có tình người, mà chung sống. Ông từng nói và chứng tỏ cho người nghèo thấy một số chức sắc trong Đạo vẫn muốn mọi người quên đi cuộc sống và tiếng nói của ông. Đức Gioan Phaolô đệ Nhị vẫn coi ông như người anh em của kẻ nghèo và như huynh đệ đích thực của ngài.

Thật rất dễ, để nghĩ rằng mình đang “bước đi theo Ngài” nếu cứ tưởng tượng Chúa đã nói với mình trong giấc mơ. Nhưng, như thế không là “bước đi theo Ngài” cách đích thực. Quả thật, Đức Giêsu đã đi theo và đi đến với người nghèo. Ngài quay về phía ta để yêu cầu ta cũng bước đi theo Ngài mà gia nhập nhóm/hội người nghèo. Chỉ khi đó, ta mới nhận ra được sự thật nơi Lời Ngài từng nói: Thật khó cho anh nhà giàu làm được chuyện ấy. Khó cho anh, dám bỏ mọi sự mà dấn bước theo Ngài. Thế nhưng, với ta, tất cả chẳng có gì khó vì Chúa vẫn giúp ta, hỗ trợ ta nếu ta biết sống như trẻ bé, vui tươi, và sẵn sàng. Đó là khả năng tiềm ẩn nơi con trẻ dám dấn bước dõi theo sự thật, dù rất nghèo.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên ngâm thêm lời thơ vừa vang vọng ở trên, để hát rằng:

            “Em biết chăng, giấc thuỷ tinh vỡ tan từ buổi đó.

            Lúc cúi đầu lặng lẽ bước chân đi.

            Chút loạn cuồng xa lạ nẻo đường về.

            Trong lồng ngực anh nghe tim rạn nứt, ô hay nhỉ…” 

             (Nguyễn Tâm Hàn – Này em)

Giấc thủy tinh có vỡ tan, anh vẫn lặng lẽ “bước đi theo Ngài”. Theo Ngài, là theo người nghèo có Chúa trong họ. Nơi lồng ngực vỡ tan, rạn nứt. Bởi, tim của người nghèo là con tim tuy bé bỏng nhưng rất cao sang. Yên hàn. Rộng mở.    

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch.

Chiều thơm, ru hồn người bồng bềnh

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 28 Thường niên năm B 14-10-2018

 “Chiều thơm, ru hồn người bồng bềnh”
“Chiều không, im gọi người đợi mong
Chiều trông cho mềm mây ươm nắng
Nắng đợi chiều nắng say
Nắng nhuộm chiều hây hây.”

(Vũ Thành An – Bài Không Tên Số 8)

(2 Thessalônikê 3: 3)

 Mùi thơm của buổi chiều vàng, cũng “ru hồn người bồng bềnh” được thế sao? Thế còn, các hiện-tượng ở đời lâu nay vẫn ru hồn người vào chốn phù du, khó thấy thì thế nào?

Thế đó, là hiện-tượng của cái gọi là “fake news”, tức: tin dỏm, tin giả, hoặc tin ngụy-tạo toàn những chuyện nhảm-nhí trong đời người, rất chán ngán. Vừa qua, có một nhận định cũng “cháng ngán” được diễn-tả bằng các ngôn-từ như sau:

“Fake news” = tin giả, tin dỏm, tin đồn, tin nhảm, tin ngụy tạo… – đang bùng nổ trong kỷ nguyên thông tin không biên giới. Fake news đang như một đại dịch toàn cầu. Khi có thể ảnh hưởng cả cuộc bầu cử tổng thống thì vấn đề fake news không phải là chuyện nhỏ vô hại như bề ngoài nhảm nhí của nó… 

Vượt phạm vi gây nhiễu xã hội với những tin đồn mua vui vô thưởng vô phạt, “fake news” còn đang được sử dụng cho mục đích chính trị. Có thể nói đây là biến tướng mang tính xu hướng của thời đại thông tin nằm dưới những ngón tay lướt chạm màn hình.”

Thế đấy, là những sự-kiện trải dài trong đời người, hệt như lời nghệ sĩ từng phát-biểu ở nhạc-bản được hát tiếp, sau đây:

“Ngày đi qua vài lần buồn phiền.
Người quen với cuộc tình đảo điên.
Người quên một vòng tay ôm nhớ.
Có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay.
Vắng nhau một đêm, càng xa thêm nghìn trùng.
Tiếc nhau một đêm, rồi mai thêm ngại ngùng.
Mai sau rồi tiếc, những ngày còn ấu thơ.
Lần tìm trong nụ hôn lời nguyện xưa mặn đắng.
Về đâu, tâm hồn này bềnh bồng.
Về đâu, thân này mòn mỏi không.
Về sau và nhiều năm sau nữa.
Có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay”.

(Vũ Thành An – bđd)

Hôm nay, ngồi buồn theo dõi những lời ca, tiếng hát của người nghệ sĩ đã “ru hồn” tôi, hồn người vào chốn miền rất nhung nhớ. Nhớ, cả khung trời kỷ niệm từng hằn in nơi ký-ức nhiều người, mãi đến hôm nay.

Hôm nay và mai rày, vẫn còn đó niềm vui/nỗi buồn làm lung-lạc cả người nghe lẫn người hát, rất khủng khiếp. Mai ngày hoặc hôm nay, còn thấy mãi khung trời kỷ niệm miên man ấy. Cũng một “lũ kỷ niệm” từ đâu đó, giờ đây về “ru hồn người” chốn phù du xuyên suốt. Bềnh bồng, nhưng không nhiêu khê, khó tả. Hôm nay và mai ngày, người người sẽ còn ru như thế đến muôn đời, rất khôn nguôi.

Hôm nay đây, lại đã thấy một thứ “ru hồn người” cũng khá “chuẩn” qua một số câu chuyện hoặc sự việc khiến lòng người tỉnh-táo với những lời từng được trích-dẫn như sau: 

“Ngày xưa, có nhóm 138 học giả đạo Hồi từ 43 nước trên thế giới có thư ngỏ gửi cộng đồng tín hữu Đức Kitô vốn đề cập và đề nghị đưa tình thương yêu vào vị trí ưu tiên cao nhất cho hai Đạo. 

Và, các vị đã đồng thuận ký thư trên để tỏ bày rằng tình thương yêu vẫn là và phải là mẫu-số-chung cho sinh hoạt của hai Đạo. Mẫu-số-chung ấy, là nền tảng và mục tiêu để hai đạo đặt ra cho mình thực hiện. Mẫu-số-chung, là mẫu số rất chung về lòng mến Chúa và yêu người đồng loại, cả hai gộp lại làm một. Một mục tiêu, một điểm nhấn ngõ hầu ta phụng thờ chỉ một Chúa, thôi. 

Bởi, Ngài là Tình Yêu đích thật để ta biến nó thành hiện thực, với mọi người. Chính đó, là lòng mến mà tỏ ra với Chúa và với nhau để tôn vinh, kiến tạo cùng một chí hướng. Đức Chúa của Tình Yêu luôn đi bước trước trong sáng tạo và trao ban Tình Yêu cho ta theo cung cách cả hai Đạo đưa ra cho mọi người. Các học giả đạo Hồi ở trên lâu nay nới rộng vòng tay thân thương/hợp tác để cùng với cộng đoàn tín-hữu Chúa Kitô, coi đó như sáng kiến quả cảm, đặc biệt.

    Để phúc đáp, nhóm đối-tác bên Đạo là các học-giả từng đặt cơ-sở ở đại học Yale, Hoa Kỳ cũng nới rộng vòng tay yêu thương của Đạo, với người anh em bên đó. Nhưng, trước khi hồi đáp bằng động-thái thương yêu, các vị trong nhóm nói đây đã yêu cầu anh em đạo Hồi “hãy thứ tha các động-thái mà tiền-nhân mình xử sự trong quá-khứ. Các đấng bậc trên cũng xin cộng-đồng người Hồi và các vị trong tổ chức “Xót-Xa-Tình-Nên-Một” hãy thứ tha cho các lầm lỡ mà anh em bên Đạo Chúa mắc phạm. 

Điều mà tiền-nhân xưa từng sơ-xuất, người thời đó gọi là “Thánh chiến”, nay đổi lại bằng tên gọi rất mới và cũng rất thời thượng, đó là: “Chiến tranh chống khủng bố”, nhưng thực sự chỉ nhắm vào anh em Hồi giáo, mà thôi. Bằng việc này, các học-giả Đạo Chúa đã xưng thú lỗi lầm mình sai phạm với người anh em đạo Hồi và mong là những việc như thế sẽ không tái-diễn.

           Học-giả Đạo Chúa công-nhận rằng: ngay từ đầu, sự xung-đột giữa hai đạo, dù được gán cho cái tên nào thánh thiêng đi nữa, vẫn không mang tính đạo-giáo và hàm-ẩn tầm-kích chỉ biết chống/phá thương yêu, mà thôi. Và, các vị lại cũng công-nhận, rằng: vấn-đề gây ưu-tư, trăn trở ở nhiều thời, đã tạo ảnh hưởng xấu lên phân nửa số dân trên thế giới. Và, các ngài lại khẳng định: việc này ảnh-hưởng không ít lên viễn-tượng hoà-bình và công-chính, cho thế-giới. 

Từ đó, các học giả nói trên đã dùng mẫu-số-chung “yêu thương” với lời lẽ làm nền cho mọi hành-xử để các vị không còn đặt nặng tính cá-biệt giữa hai đạo, mà chỉ tập-trung lên mấu-số chung căn-bản của Đạo. Bởi, cuối cùng thì: trọng-tâm của mọi nhóm/hội đoàn-thể vẫn nhắm vào tình thương yêu trải dài với mọi người. Thương yêu, là lòng kính-sợ Chúa, mến mộ Đạo và cảm thông với hết mọi người bằng mẫu-số-chung của hai đạo. 

Thương yêu, là lòng sủng-mộ ta có với Chúa và với người đồng-loại, bất kể người đó là ai? Theo tôn giáo nào? Về điểm này, hai nhóm trên đều cố lướt thắng hết mọi sự, ngõ hầu đạt cùng đích là cảm-thông/yêu thương, xoá bỏ mọi khác biệt dễ gây hận thù. 

Nhóm anh em đạo Hồi cũng nói đến tình thương yêu từ Đấng Thánh Vô Giới Hạn luôn xót thương mọi người. Trong khi Đạo Chúa, dưới tầm nhìn của người Do thái giáo, cũng nói nhiều về Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Đấng làm cho mặt trời toả sáng trên mọi thứ tốt/xấu. Ngài là Đấng khiến cho mưa rơi trên đầu người công-chính cũng như những kẻ bất-lương, chia rẽ. Mưa vẫn rơi, cho thế giới đạo Hồi và Đạo Chúa, suốt mọi thời. 

Hai bên đã tôn trọng nhau qua kinh-nghiệm về Thiên-Chúa-Đầy-Lòng-Yêu-Thương đã đi bước trước trong việc thương yêu loài người, dù người đó là nam hay nữ, già hay trẻ, Công giáo hay đạo Hồi. Không thể nói: mình tin Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu cho đến khi nào mình nhận ra rằng: mọi người đều đã xích gần nhau bằng tình thương-yêu Ngài ban tặng ta, cùng một kiểu. Điều này sẽ cải biến ý-tưởng về “người đồng loại”. Ta thương yêu người đồng-loại như Chúa dạy rằng: tất cả phải nên một, gom gộp lại. Không thể nói là mình thật sự tin vào Chúa mà lại không ưa thích những gì mà đồng-loại mình mong ước hoặc không thực-thi hành-động những gì mình muốn cho đồng-loại của mình có được.    

Ngày 4/11/2008, một nhóm các lãnh-đạo và thần-học-gia từ các nước theo đạo Hồi đã đến Rôma để đối-thoại với thủ-lãnh và các thần-học-gia Công giáo về “Giới Lệnh” Chúa ban. Mỗi nhóm gồm 24 vị đã đích-thân hội-kiến Đức đương-kim Giáo-Hoàng nhằm tái-lập mẫu-số-chung thương-yêu từng để lạc mất.

 Ngay ngày đầu, các vị trao đổi về nền-tảng Giới Lệnh thương-yêu theo truyền-thống của cả hai bên. Những ngày sau đó, các vị cũng bàn về phẩm-giá con người, về việc tôn trọng phẩm-giá đã nẩy mầm từ nền-tảng yêu thương Chúa tạo cơ-sở cho hiệp-nhất.    

Ngày cuối cùng mở ra cho mọi người, cả chúng dân ngoài nhóm nữa. Tất cả như một, đều nguyện-cầu để mọi người trở nên một trong Yêu-thương do Chúa đề xuất. Đây là bước ngoặc lịch-sử sẽ dẫn dắt cả hai đạo tiến xa/tiến mạnh đem hoà-bình đến cho thế-giới. Điều thú-vị, là các thần-học-gia Công giáo cũng nhấn-mạnh sự quan-ngại về hành-xử của tín-đồ Đạo Chúa đối với đồng loại, nói chung. Trong khi đó, các thần-học-gia đạo Hồi tập-trung nhiều vào Tình thương yêu Chúa.    

Cách đây 150 năm, chức sắc nọ trong chính quyền Hoa-Kỳ đến gặp Joseph, một lãnh tụ Da Đỏ có tên là “Lỗ Mũi Xỏ” của Hoa Kỳ. Chức sắc này, nói nhiều về lợi-ích ban tặng người sắc-tộc nếu họ chấp-nhận mở trường học tại khu-vực họ sinh-sống. Ngay lúc ấy, tộc trưởng Joseph nói: “Chúng tôi thật chẳng muốn có trường học nào ở đây hết”. Khi được hỏi lý-do sao lại thế, thì trưởng tộc Joseph cho biết đơn-giản chỉ vì: “Làm thế, người Mỹ sẽ chỉ lo mỗi chuyện dạy con em chúng tôi cách xây nhà thờ mà thôi.” 

Chức sắc kia lại hỏi: “Vậy thì, các ông không muốn có nơi phụng thờ sao?” Câu trả lời thật dễ hiểu: “Không! Chúng tôi không muốn nhà thờ! Tại sao ư? Thì, có nhà thờ rồi, bọn tôi chỉ mải mê tranh-cãi về Thượng Đế, đến độ không bao giờ chấm-dứt. Và chúng tôi chẳng muốn cãi nhau về Thượng Đế, bởi con người chúng ta chỉ rành rẽ cãi tranh những gì thuộc con người, thôi. Chúng tôi chẳng muốn học và biết những chuyện như thế!”

 Ai giỏi vi-tính, hãy vào “Google” mà đánh chữ “linh thiêng” sẽ thấy hơn một chục trang diễn-giải từ-ngữ này. Có trang, còn nói cả tuồng vọng cổ do nghệ-sĩ Hương Lan thủ vai nữa. Có trang, lại bàn về tính thánh-thiêng cao cả, nơi con người. Có trang, cũng đề-cập đến cách sống mật-thiết với Tình Yêu “lành thánh” vẫn rất thực. 

Sống mật thiết với Chúa bao gồm ba lãnh-vực. Thứ nhất, về bản-chất của kinh-nghiệm, tức: bản-chất niềm-tin đích-thực, của con người. Thứ hai, gợi kinh-nghiệm của con người về tôn-giáo vốn diễn-giải sự thể lâu nay gọi là triết/thần. Một khi con người tìm ra ngôn-ngữ chung cho lãnh-vực thứ nhất, sẽ không cần gì hơn cho hai lãnh vực kia. 

Tóm lại, chỉ một lĩnh-vực duy-nhất cần-thiết cho mọi người, là “yêu thương người đồng-loại”, mà thôi.” (X. Lm Kevin O’Shea DCCT, Suy niệm Lời Ngài Chúa Nhật 22 Thường Niên năm B 2/9/2018)

Thật ra, nếu bảo rằng các linh mục Đạo Chúa lại cứ giảng rao Tin Mừng bằng lời lẽ hoặc tư-tưởng hệt như kiểu “ru hồn người bồng bềnh” với sóng dồn, thì chắc chắn người nghe cũng đi vào Nước Trời im ắng, chẳng cần thưa thốt.

Thật ra thì, giảng rao Tin Mừng ở đâu đi nữa, cũng chẳng là chuyện “ru hồn người” theo cách sao đó, mà chỉ là chuyển-tải cho nhau, đến với nhau bằng một tình huống êm-ru bà rù, rất nghe quen.

Quả thật, có nhiều cách “ru hồn người” vào chốn miền nào đó, nhưng vẫn không làm người được ru cứ thế đắm chìm trong chốn tối tăm mịt mù “đợi nắng nhuộm chiều hây hây” đâu. Quả thật, đời người cũng có nhiều tình-huống rất “ru hồn người” bằng câu truyện kể cũng đáng nể nhưng khá buồn như câu truyện ở bên dưới còn giữ lại:

“Truyện rằng,

Tại trước khu chợ Phúc Lộc Thọ, CA, Phuc Jean cũng đã gặp một bà già Việt Nam lụ khụ ngả nón ăn mày. Không biết bà sang Mỹ đã lâu hay bây giờ mới qua? Tại sao bà lại phải ăn mày ở cái xứ người già có tiền trợ cấp xã hội đàng hoàng? Ôi, vì sao? tại sao? làm sao? 

Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T.  đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa bác sĩ, đứa kỹ sư, dược sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. 

Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình. 

Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.

Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?

 Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì. 

Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển. 

Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”

 Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” 

Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm.. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

 Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho… con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”

 Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi.. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con. 

 Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại.. 

Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.

 Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ? 

Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại. 

Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy…” (Chu Tất Tiến – trích gia đình NAZARETH) 

Cuối cùng thì, có “ru hồn người” cách êm ả thế nào đi nữa, thì hồn người/lòng người vẫn “tỉnh như sáo sậu”, đến khôn nguôi.

Cuối cùng thì, “ru hồn người” theo cách nào đi nữa, cũng chỉ ru bằng những câu ca rất ư êm ả qua các hát ở trên, vẫn thêm thắt một đoạn kết, những hát rằng:

“Chiều thơm, ru hồn người bồng bềnh”
“Chiều không, im gọi người đợi mong
Chiều trông cho mềm mây ươm nắng
Nắng đợi chiều nắng say
Nắng nhuộm chiều hây hây.

Ngày đi qua vài lần buồn phiền.
Người quen với cuộc tình đảo điên.
Người quên một vòng tay ôm nhớ.
Có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay.
Vắng nhau một đêm, càng xa thêm nghìn trùng.
Tiếc nhau một đêm, rồi mai thêm ngại ngùng.
Mai sau rồi tiếc, những ngày còn ấu thơ.
Lần tìm trong nụ hôn lời nguyện xưa mặn đắng.
Về đâu, tâm hồn này bềnh bồng.
Về đâu, thân này mòn mỏi không.
Về sau và nhiều năm sau nữa.
Có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay”.

(Vũ Thành An – bđd)

Và, dù tôi/dù bạn có hát những lời ru miên-man như thể bảo: “Về sau và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay”, câu hát này vẫn không thể nào sánh kịp lời đấng thánh hiền từng bảo ban, như sau:

“Nhưng Chúa là Đấng trung tín:

Ngài sẽ làm cho anh chị em được vững mạnh,

và bảo vệ anh chị em khỏi ác thần.

Trong Chúa, chúng tôi tin tưởng vào anh chị em:

anh chị em đang làm

và sẽ làm những gì chúng tôi truyền.

Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh chị em,

để anh chị em biết yêu mến Thiên Chúa

và biết chịu đựng như Đức Kitô.”

(2Thess 3: 3)

Xem thế thì, niềm tin của tôi và của bạn cũng sẽ chắc-nịch hơn “lời buồn thánh” những hát lên câu “Chiều thơm, ru hồn người bềnh bồng”… mỏi mòn, mãi về sau. 

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những điệu ru hơi buồn

về cuộc đời người.

Rất hôm nay.

Tình Yêu

Tình Yêu

Lần kia, có một thanh niên nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Vì thế, anh ta đến thăm viếng một tu sĩ nổi tiếng là thánh thiện. Anh hỏi vị tu sĩ:

“Thầy có tin tưởng vào Thiên Chúa không?”.

Vị tu sĩ đáp:

“có chứ”.

Người thanh niên hỏi:

“Dựa vào chứng cứ nào mà thầy tin được?

Vị tu sĩ đáp:

“Ta tin tưởng vào Thiên Chúa, bởi vì ta biết Người. Mỗi ngày, ta đều cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta”.

Người thanh niên hỏi:

“nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy ra được?

Vị tu sĩ trả lời:

“Khi biết sống yêu thương, thì chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, và nỗi nghi ngờ tan biến, giống như làn sương buổi sáng bị tan biến trước ánh nắng mặt trời vậy”.

Người thanh niên suy nghĩ về câu nói này trong giây lát, rồi thắc mắc:

“Làm thế nào để con có thể đạt được niềm tin chắc chắn này?”.

Vị tu sĩ đáp

“Bằng cách hành động theo tình yêu. Con hãy cố gắng yêu thương những người đồng loại; yêu thương họ một cách tích cực và không ngừng. Trong khi con học hỏi được cách càng ngày càng yêu thương hơn, thì con sẽ càng ngày càng trở nên tin tưởng vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, và sự bất tử của linh hồn. Ðiều này đã được thử nghiệm. Ðây là đường lối đúng đắn”.

***

Vị tu sĩ chỉ phản ánh lại những lời nói của thánh Gioan “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”. (1Ga 4:7-8)

Tình yêu là điều kiện đầu tiên, để thực sự hiểu biết về cuộc sống, và đặc biệt là hiểu biết về Thiên Chúa. Như cha Zosima nói trong cuốn sách Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky “Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mỗi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”. Van Gogh đã nói một câu tương tự :Cách thức tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương nhiều thứ. Hãy yêu thương bạn bè, vợ con., và bạn sẽ được đi trên đường lối đúng đắn trong việc nhận biết Thiên Chúa”.

Tình yêu là người giáo viên tốt nhất mà chúng ta có. Nhưng tình yêu không đạt được sự hòa hợp riêng của nó. Người ta phải trả giá đắt cho tình yêu. Tình yêu thường đòi hỏi nhiều năm tháng kiên trì, qua những công việc lặt vặt, trước khi người ta có thể đạt được khả năng biết yêu thương.

Có một khoảng cách lớn, giữa việc nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Người. Không biết yêu mến, có nghĩa là không biết Thiên Chúa. Nhưng khi chúng ta biết yêu mến, thì khoảng cách này được lắp đầy. Biết yêu mến, có nghĩa là biết Thiên Chúa. Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa; ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có tình yêu. Sự nhận biết không phải là chứng tỏ hoặc giải nghĩa.

Ghen ghét là một điều tồi tệ. Ghét bất cứ thứ gì cũng đều là xấu xa cả. Thật là điều tốt đẹp, khi yêu mến tất cả mọi sự, ngay cả một bụi hoa hồng. “Ðối với tôi, tôi hài lòng được trở thành một người làm vườn, một người biết yêu quí những cây cỏ của mình” (Van gogh).

Bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương. Tuy nhiên, để được như vậy, trái tim phải ngay thẳng. Nếu chỉ có được một trái tim ngay thẳng, thì chúng ta có thể hiến tặng nhiều hơn nữa. Nhưng than ôi ! Nhiều khi trái tim con người lại thờ ơ lạnh lẻo, đôi khi còn trống rỗng, tan vỡ nữa. Chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này. Tất cả điều đó nói lên rằng chúng ta có một trái tim bằng máu thịt, chứ không phải là bằng đá. Nhưng chúng ta phải chữa lành những vết thương của trái tim, để có khả năng tạo ra được những hoa quả của tình yêu.

Khi chúng ta biết yêu thương, thì hình ảnh của Thiên Chúa đạt mức độ tươi đẹp nhất và rạng ngời nhất nơi chúng ta.

***

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, con biết tình yêu Ngài đòi hỏi không chỉ dừng lại nơi gia đình, bạn bè, những người thân quen hiền lành dễ thương mà trải rộng ra thế giới bên ngoài đến những người xa lạ, nghèo khó, những người cau có khó ưa, những kẻ thương không dễ, và hơn nữa là yêu chính kẻ thù mình.. Thật không dễ để thực hiện điều này trong cuộc sống. “Yêu thì khổ, không yêu thì không biết Thiên Chúa.” Xin cho con sự khôn ngoan để biết chọn lựa, thà khổ, thà lỗ còn hơn sự thiệt thòi không biết Thiên Chúa. Con sẽ không làm được điều đó nếu không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, xin hãy ở bên con để dạy con học một chữ YÊU!

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

KHÔN NGOAN

KHÔN NGOAN

Câu chuyện chàng thanh niên giàu có tốt lành có một khởi đầu tốt đẹp.  Đẹp cho đến nỗi Chúa nhìn và đem lòng yêu thương anh.  Nhưng lại có một kết thúc đáng buồn.  Anh thanh niên bỏ đi buồn bã vì không thể theo Chúa.  Chúa Giêsu cũng buồn vì anh gắn bó với tiền bạc hơn yêu mến Chúa.

Câu chuyện người thanh niên có thể là câu chuyện của mỗi người.  Cũng như chàng thanh niên, bình thường ta giữ đạo rất dễ dàng.  Sáng đi lễ, chiều đọc kinh, không làm điều gì gian ác, không bất công tham lam của người khác.  Nhưng khi gặp mâu thuẫn giữa cuộc sống với việc đạo, phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và những giá trị trần gian, nhiều khi ta nao núng và rất nhiều người đã vì những giá trị trần gian mà bỏ Chúa.  Có những người khi còn nghèo túng thì giữ đạo rất tốt.  Nhưng khi đứng trước những cám dỗ của cải thì vì ham mê tiền bạc mà sống gian dối, đánh mất lương tâm Công giáo.  Có những người khi còn nhỏ thì rất ngoan ngoãn đạo đức, nhưng khi đến tuổi trưởng thành thì vì thú vui mà bỏ quên việc đạo.  Nhưng nhất là có những người vốn con nhà đạo gốc rất sốt sắng, nhưng khi gặp cám dỗ về chức quyền thì vì một chút danh vọng, đành bỏ Chúa, bỏ đạo.

Theo suy nghĩ của người đời, những ai tìm được tiền của, đạt được danh vọng, nay lên chức mai lên quyền, là những người tài khéo khôn ngoan.  Nhưng đó chỉ là khôn ngoan nhất thời kiểu trần gian.  Vì cuộc sống trần gian có hạn.  Con người ai cũng phải chết.  Chết rồi có ai mang theo được của cải, danh vọng, chức quyền vào thế giới bên kia đâu.  Thế mà cuộc sống sau cái chết mới là quan trọng, vì là cuộc sống vĩnh cửu không bao giờ phai tàn.

Chúa muốn ta đừng gắn bó với của cải nhưng phải gắn bó với Chúa, không phải vì Chúa muốn con cái phải khổ sở, hèn hạ.  Nhưng vì Chúa muốn cho ta chọn con đường khôn ngoan, để đạt tới hạnh phúc đích thực, vĩnh cửu.

Ta đi đạo để chọn Chúa.  Vì chọn Chúa ta phải từ bỏ tất cả những gì ngăn cản ta đến với Chúa.  Những cản trở có thể là tiền bạc, danh vọng, chức quyền.  Những cản trở cũng có thể là một người mà ta gắn bó, một nơi mà ta không thể dứt bỏ.  Những cản trở đó cũng có thể là một lòng tự ái, một sự ghen ghét, bất mãn.

Nếu ta biết bỏ tất cả những gì cản trở để đến với Chúa ta sẽ đạt được chính Chúa.  Được Chúa là được tất cả.  Vì Chúa là hạnh phúc viên mãn.  Được Chúa rồi ta sẽ không còn khao khát gì khác nữa.

Vì thế khi thánh Phêrô hỏi Chúa: Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, chúng con sẽ được gì.  Chúa đã trả lời: ai bỏ mọi sự mà theo Chúa, sẽ được gấp trăm và được sự sống vĩnh cửu.

Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa trông rộng.  Biết bỏ những mối lợi trước mắt để tìm những giá trị vĩnh cửu.

Như thế yêu mến Chúa là chìa khóa của sự khôn ngoan.  Chọn Chúa là chọn giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu không gì có thể so sánh được.

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự.  Vì Chúa chính là hạnh phúc của con. Amen.

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim

SUY NGẪM

Các môn đệ thật may mắn vì được Chúa vừa dạy vừa chia sẻ cảm nghĩ cũng như LẼ SỐNG trong thâm tâm đối với Cha của mình là Chúa Cha. Thương lắm mới chia sẻ.
Thương lắm mới text “ sáng nay tiễn con đi chưa bao giờ buồn thế…”

Chúa chia sẻ nội tâm cho các môn đệ, nội tâm sao mà ai thấy ai mà hiểu được.

Trong thân phận con người, Chúa cho thấy Ngài luôn lệ thuộc và thi hành Ý CHA. Cuộc sống cứa con cũng xin nói gương và được như Chúa, nhất là THA THỨ.

Con nghĩ THA THỨ là không chỉ mang bình an cho nhau mà chính là làm SÁNG DANH Cha và để Cha được VINH HIỂN trong con, vì tự Cha đã vinh hiển rồi, đâu cần con Cha mới vinh hiển.

Mẹ Teresa nói rằng:”Cầu nguyện sẽ mở rộng hơn tấm lòng của bạn, tới mức lòng bạn lớn đủ để chứa cả món quà tặng là chính Thiên Chúa. Cầu nguyện dẫn tới đức tin. Đức tin dẫn tới tình yêu, tình yêu đưa tới phục vụ vì lợi ích người nghèo”

Cha Charles De Foucault mạnh mẽ cho con hay:” CẦU NGUYỆN LÀ LẼ SỐNG.

Lạy Chúa, con tin.

Thầy Bạch gởi

29 TÍN HỮU BỊ GIẾT VÌ KHÔNG CHỊU CHỐI BỎ CHÚA.

Hoa Do shared a post.

CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG

NHỮNG NGƯỜI DŨNG CẢM DÁM CHẾT CHO ĐỨC TIN

Image may contain: 2 people, crowd
Image may contain: 5 people
Image may contain: 2 people, people sitting
Image may contain: 3 people, people smiling, closeup

Phong SươngFollow

29 TÍN HỮU BỊ GIẾT VÌ KHÔNG CHỊU CHỐI BỎ CHÚA.

Oneway.vn – Vụ thảm sát xảy ra hôm thứ sáu tại Ai Cập, khi 29 tín hữu đang trên đường đến nhà thờ thì những người Hồi giáo cực đoan đã chặn bắt họ xuống xe và yêu cầu họ chối bỏ Chúa…

Ông Rashed, một Giáo sĩ trả lời tờ Breitbart News hôm Chúa Nhật, ông cho biết 10 tay súng Hồi giáo đeo mặt nạ dùng hỏa lực tấn công xe buýt trên đường tới nhà thờ Saint Samuel Confessor đã chặn đường yêu cầu các nạn nhân, từng người một ra khỏi xe và tra vấn từng người, bao gồm cả trẻ em. “Họ được yêu cầu từ bỏ đức tin, cải giáo sang đạo Hồi, nhưng tất cả – kể cả trẻ em – đều từ chối, và rồi mỗi người bị giết chết bằng một viên đạn vào đầu hoặc cổ họng” – Giáo sĩ Rashed kể lại.

Gerges Morkous, cháu của nạn nhân Mohsen Morkou, 60 tuổi, chia sẻ: “Họ tiếp tục hỏi những người trên xe có chịu từ bỏ đức tin không, nhưng mọi người đều nói ‘Không’, và rồi họ bắn tất cả… Tổng cộng 29 người. Giờ này họ đang ở trên Thiên Đàng. Tôi tin như vậy”.

Được biết, cuộc tấn công hôm thứ sáu nhằm vào thời điểm đầu tháng thánh Ramadan của người Hồi giáo. Trong năm vừa qua, người Ai Cập đã phải chịu đựng không ít cuộc thảm sát từ các nhóm Hồi giáo cực đoan, trong đó có vụ đánh bom nhà thờ Palm Sunday làm 46 người thiệt mạng.

Tổng thống Ai Cập Abdel-Fattah el-Sissi đã rất cố gắng đảm bảo với người dân rằng những kẻ tấn công rồi sẽ bị trừng phạt.

Mặc dù với các nỗ lực cảnh báo của chính phủ, nhưng các phần tử Hồi giáo cực đoan vẫn tiếp tục gây tội ác. “Họ vừa nhận trách nhiệm cho cuộc tấn công hôm thứ bảy vừa qua; họ thực sự làm thiệt hại hình ảnh đất nước Ai Cập, gây rất nhiều đau đớn cho người dân Ai cập” – vị Tổng thống thừa nhận.

Trong một diễn biến khác, Đức Cha Francis của Vatican cũng đã nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình tại quảng trường Saint Pedro hôm Chúa Nhật vừa qua, rằng các tín hữu bị giết chỉ vì giữ vững niềm tin vào Chúa. Một nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo La Mã cũng chia sẻ: “Các nạn nhân, kể cả trẻ em, bị giết vì không chối bỏ đức tin”. Được biết, Cha Francis vừa mới viếng thăm Ai Cập hồi tháng trước để cầu nguyện kêu gọi hòa bình và mong Chúa ‘lay động’ trái tim của những kẻ khủng bố.

Tổng thống Mỹ, ông Donald Trump, người thề “sẽ tiêu diệt IS” trong chiến dịch tranh cử của ông cũng đã lên án cuộc tàn sát tàn nhẫn nhằm vào các tín hữu ở Ai Cập hôm thứ sáu, ông nói “sự việc xảy ra làm tan nát tâm hồn của tất cả chúng ta”.

“Bất cứ khi nào máu người vô tội còn đổ ra, thì những thương tích sẽ còn lại mãi trên nhân loại” – ông Trump tuyên bố. “Cuộc tấn công này càng củng cố quyết tâm của chúng ta, nhằm đưa các quốc gia xích lại gần nhau vì một mục đích chung: triệt hạ các tổ chức khủng bố, phơi bày sự suy đồi và những tư tưởng đáng sợ của họ” – ông Trump thêm.

IS đã giết các tín hữu khắp đất nước Ai Cập, Iraq, Syria… chỉ vì đức tin của họ vào Chúa Jesus. Mục sư Edward từ Syria nói với The Christian Post đầu năm nay: “đất nước Syria đang bị xâu xé, cùng với cái ác đang rình rập xung quanh”. “Một tín hữu tên George đã không chịu lẩn trốn khi bị những kẻ cực đoan săn lùng. Anh ta nói với mẹ mình: “Chúa Jesus phán: Nếu các ngươi chối bỏ ta, ta cũng sẽ chối bỏ các ngươi”. Anh ta bị giết ngay sau đó. Và mẹ anh thậm chí còn không được phép chôn xác anh” – Mục sư Edward kể.

Tác giả Stoyan Zaimov – Diệu Trang dịch

SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH TÊRÊSA CHO THỜI NAY

SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH TÊRÊSA CHO THỜI NAY

Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng đã khám phá và sống trọn con đường tình yêu, con đường thơ ấu trong Phúc Âm.  Chính con đường đó đã dẫn đưa Têrêxa tới đỉnh cao thánh thiện và trở thành “Tiến Sĩ Hội Thánh”, tức là bậc thầy về đàng thiêng liêng.  Têrêxa đã ý thức về sự bất toàn và nhỏ bé của mình, nên biết rằng mình không thể nên hoàn thiện với sức riêng.  Têrêxa đã tìm thấy trong Phúc Âm chân lý về sự “nhỏ bé”, hoàn toàn tín thác nơi tình yêu Chúa, không cần phải trở nên “cao trọng”, nhưng trở nên bé nhỏ trong vòng tay của Chúa.

Trong bài thuyết trình tại Lisieux hồi cuối tháng 9-1996, ĐHY Paul Poupard, người Pháp, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn hóa, đã nêu những nét nổi bật trong sứ điệp của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng cho nhân loại ngày nay như sau:

“Thiên Chúa là tình yêu.  Ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Jn 4,16).  Têrêxa không ngừng suy niệm về những lời trên đây của thánh Gioan và của Tin Mừng, để từ tâm hồn thánh nữ nảy sinh những trang nồng cháy tình yêu đối với Chúa Giêsu, những trang sách này như một tiếng vọng Con Tim của Chúa: “Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi.  Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian.  Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ Tôi, tôi sẽ là tình yêu” (…).

“Vậy ai trở nên bé nhỏ như trẻ em ấy, sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời” (…).  Tại sao trở nên bé nhỏ?  Thưa để chọn con đường thơ ấu được thánh nữ Têrêxa tái khám phá, và thánh nữ đã vẽ lại khi khám phá tình yêu của Thiên Chúa.  Quan niệm của thánh nữ về Giáo Hội thật là độc đáo và táo bạo: trong con tim của Giáo Hội là Mẹ tôi, tôi sẽ là Tình Yêu.  Khi Têrêxa mô tả viễn tượng lớn lao trên đây cho chị ruột là Maria Thánh Tâm ngày 8 tháng 9 năm 1896, thánh nữ đã 23 tuổi và chỉ còn sống được một năm nữa.  Chắc hẳn thánh nữ phải có một nhận thức sâu xa về Thiên Chúa cũng như về Giáo Hội nên mới có thể quả quyết rằng Giáo Hội có một con tim, và trái tim ấy nồng nhiệt tình yêu.  Chúng ta hãy đọc lại những lời tuyệt diệu đó, vừa đơn sơ và sâu xa, được sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (n. 826) lấy lại:

“Tôi hiểu rằng nếu Giáo Hội có một thân mình, gồm những chi thể khác nhau, thì chi thể cần thiết nhất, cao thượng nhất trong tất cả các chi thể mà Giáo Hội không thể thiếu được, tôi hiểu rằng Giáo Hội có một Trái Tim, và Trái Tim ấy nồng cháy Tình Yêu.  Tôi hiểu rằng Chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hành động, và nếu Tình Yêu ấy tắt lịm đi, thì các Tông Đồ sẽ không còn rao giảng Phúc Âm nữa, các vị Tử Đạo sẽ từ chối không đổ máu đào…  Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi.  Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian…  Nói tắt một lời, Tình Yêu là vĩnh cửu!  Lúc ấy tôi kêu lên: Lạy Chúa Giêsu, tình yêu của con, ơn gọi của con, nay con đã tìm được rồi, ơn gọi của con chính là Tình Yêu. Thực vậy, con đã tìm được chỗ của con trong Giáo Hội, và chỗ đó, lạy Chúa, chính Chúa đã cho con.  Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ con, con sẽ là tình yêu” (…).

“Là Tiến sĩ Tình Yêu, thánh nữ Têrêxa từng biết rõ thử thách của đức tin trong một thế giới bị nghi ngờ và vô tín ngưỡng vây bủa.  Về phương diện đó, thánh nữ Têrêxa có tính chất hết sức thời sự, trong một nền văn hóa quá chú trọng đến các phương tiện nhưng ít quan tâm tới mục đích, tạo nên sự bất mãn sâu xa, gây nên sự trống rỗng sâu rộng, gợi lên tiếng kêu lo âu.  Nhiều người ngày nay cảm thấy mang máng tiếng gọi của Thiên Chúa Tình Yêu.  Chỉ một mình Chúa mới có thể đáp ứng thực sự những mong đợi của con tim và trí tuệ loài người, trong cuộc tìm kiếm tình thương và chân lý, ánh sáng và sự tươi đẹp.  Như Đức Gioan Phaolô II đã nói ở Lisieux: “Chúng ta cảm tạ Chúa vì thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu.  Cảm tạ vì vẻ đẹp sâu xa, đơn sơ và trong trắng, được biểu lộ nơi thánh nữ cho Giáo Hội và thế giới.  Vẻ đẹp này có sức quyến rũ.  Và Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux có một ơn đặc biệt thu hút bằng vẻ đẹp của tâm hồn ngài” (Lisieux 2-6-1980, trong cuốn Jean-Paul II, que fais-tu de ton baptême?, Le Centurion, Paris, 1980, p. 234).

“Thánh Nữ Têrêxa yêu mến Thiên Chúa với cùng tình yêu mà Chúa Cha yêu mến Chúa Con trong Chúa Thánh Linh.  Thánh nữ nhìn tha nhân với cùng cái nhìn như thế, cái nhìn được tình yêu biến đổi hoàn toàn, nhưng nhiều khi bị những tâm hồn nô lệ tội lỗi coi rẻ: “Tôi cảm thấy ước muốn nồng nhiệt hoạt động cho sự hoán cải người tội lỗi.” (…).

“Tình yêu Chúa lớn lên nơi thánh nữ Têrêxa, được nuôi dưỡng bằng cái nhìn hướng về Chúa Giêsu: khi còn nhỏ dù khi đi câu với cha, dù khi ngồi trên lòng đầu gối của mẹ đỡ đầu, hoặc ẩn núp sau chiếc màn che giường, Têrêxa đều nghĩ tới Chúa Giêsu, tới trời cao…  Về sau, Têrêxa hiểu rằng mình đã suy gẫm.  Thánh nữ nói: “Chúa Nhân Lành đã bí mật dạy tôi.”  Têrêxa sống và lớn lên trước nhan Chúa.  Ngày thánh nữ rước lễ lần đầu, biết Đấng mà mình tiếp rước: Từ lâu Chúa Giêsu và cô bé Têrêxa hèn mọn này đã nhìn nhau và hiểu nhau…  Hôm đó, không còn là cái nhìn bên ngoài nữa, nhưng là một sự kết hiệp thực sự, một sự chìm đắm sâu xa, như giọt nước bé nhỏ giữa lòng đại dương.  Được Tình yêu Chúa chiếm hữu, Têrêxa được Tình Yêu Chúa luôn dẫn đưa theo chiều hướng Bonum diffusivum sui (Điều tốt lành tự lan tỏa), như người xưa vẫn nói.  Tình yêu chỉ mong ước được trao hiến: Tôi cảm thấy tình bác ái đi vào trong tâm hồn tôi, nhu cầu phải quên mình để làm đẹp lòng, và từ đó tôi cảm thấy hạnh phúc.  Đó không phải chỉ là hạnh phúc mà thôi, nhưng còn là niềm vui mừng sâu xa nữa.  Têrêxa yêu Chúa bằng chính Tình yêu của Chúa.  Nơi Ngài, thánh nữ khám phá cái nhìn của Thiên Chúa về người khác, cái nhìn của Đấng Tạo Hóa say mê tạo vật của mình.  Têrêxa sống sâu xa mầu nhiệm Giáo Hội, mầu nhiệm các thánh thông công, trong đó tình yêu còn lớn lao hơn tình yêu gia đình, dù là gia đình lý tưởng nhất trên mặt đất này, như gia đình được triển nở ở Buissonnets.

“Một Chúa nhật kia, khi nhìn ảnh tượng Chúa Giêsu trên Thánh Giá, Têrêxa xúc động như thể máu đang chảy từ vết thương của mình.  Têrêxa cảm thấy vang dội trong con tim tiếng kêu của chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Ta khát.”  Têrêxa kể lại: “Những lời ấy khơi lên trong con một sự nồng nhiệt mãnh liệt chưa từng thấy…  Con muốn cho Đấng con yêu mến được giải khát và con cảm thấy chính mình đang bị dằn vặt vì niềm khao khát các linh hồn.  Bấy giờ con chưa bị thu hút vì linh hồn của các linh mục, nhưng là linh hồn của những người đại tội lỗi.”  Và Têrêxa quyết định vào dòng kín Camêlô, nơi Chúa Giêsu lôi kéo chị.  Chính trong nhà dòng kín đó mà chiều kích tông đồ của chị được phát triển đặc biệt.  Chị giúp việc đào tạo các tập sinh trong nhà dòng và đồng thời đảm trách việc hỗ trợ tinh thần cho hai thừa sai.  Sự cởi mở đó thật phù hợp với sự quan phòng của Chúa: đó là dịp để Têrêxa khám phá và biểu lộ sứ mạng tông đồ của chị trong Giáo Hội.  Ngày 18 tháng 8 năm 1890, chị Pauline của Têrêxa hỏi: “Vậy em có muốn lập công không?”  Têrêxa mau lẹ đáp: “Có chứ, nhưng không phải cho em, mà là cho những người tội lỗi đáng thương, cho các nhu cầu của Giáo Hội.”  Thái độ dâng hiến cho Tình Yêu Từ Bi thật là rõ ràng: “Con không muốn tích trữ công đức cho mình để được lên trời, con muốn làm việc cho Chúa là Tình Yêu duy nhất…  Con muốn nhận được từ Tình Yêu Chúa phần thưởng đời đời là chính Chúa” (Sách Giáo Lý Công Giáo, n. 2011).”

Cũng vì đạo lý của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng rất hợp thời với con người ngày nay như thế, nên 50 HĐGM trên thế giới, trong đó có cả HĐGM Hoa Kỳ, đã ủng hộ đơn xin ĐTC tôn phong thánh nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, như chính ĐTC Gioan Phaolô II đã nhắc đến trong công thức phong Tiến Sĩ:

“Đáp ứng mong ước của đông đảo anh em trong hàng Giám Mục và rất nhiều tín hữu trên thế giới, sau khi nghe ý kiến của Bộ Phong Thánh và được ý kiến của Bộ Giáo Lý Đức Tin liên quan tới đạo lý nổi bật, sau khi đã suy nghĩ chín chắn và xác tín đầy đủ và chắc chắn, với trọn quyền Tông Đồ, Tôi tuyên bố thánh nữ đồng trinh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan là Tiến Sĩ của Giáo Hội hoàn vũ.  Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

Trong bài giảng ngày lễ phong Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, ĐTC ghi nhận rằng vị tân Tiến Sĩ là một phụ nữ, một nữ tu chiêm niệm, một người trẻ tuổi, nhưng đã trưởng thành trên con đường thiêng liêng, đáng được liệt kê vào số các bậc thầy tu đức.  Trong số những điểm nổi bật trong các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa, chúng ta phải nói tới khoa học tình yêu.  Thánh nữ đã viết: “Đức ái đã mang lại cho con chìa khóa ơn gọi của con.  Con hiểu rằng nếu Giáo Hội là một thân thể, gồm nhiều chi thể, thì không thể nào thiếu được cơ phận quan trọng nhất.  Giáo Hội có một trái tim và trái tim ấy được nồng cháy Tình Yêu.  Chỉ có Tình yêu mới có thể huy động các chi thể của Hội Thánh.  Nếu Tình yêu tắt lịm thì các tông đồ không còn rao giảng Tin Mừng nữa, các vị tử đạo sẽ không còn dám đổ máu đào nữa…  Con hiểu rằng Tình Yêu bao gồm tất cả mọi ơn gọi…  Lúc đó, trong niềm vui tột đỉnh con thốt lên: Lạy Chúa Giêsu Tình Yêu của con… con đã tìm được ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là Tình Yêu!” (Thủ bản B, 3v).

Đề cập đến ý nghĩa việc tôn phong Tiến Sĩ Hội Thánh cho thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đối với con người thời nay, ĐTC nói rằng: “Đứng trước sự trống rỗng của bao nhiêu lời nói, Thánh nữ Têrêxa trình bày một giải pháp khác, Lời duy nhất cứu độ, khi được hiểu và sống trong thinh lặng, sẽ trở thành một nguồn mạch cuộc sống được đổi mới.  Đứng trước một thứ văn hóa duy lý và quá nhiều khi bị chủ thuyết duy vật thực hành tràn ngập, thánh nữ đơn sơ trình bày “con đường nhỏ”, nói lên cốt yếu của cuộc sống, dẫn tới bí quyết của cuộc đời: Tình yêu Chúa bao trùm và thấm nhập toàn thể cuộc phiêu lưu của con người.  Trong thời đại như thời chúng ta, thường bị ảnh hưởng một thứ văn hóa phù du và duy khoái lạc, vị Tiến Sĩ mới tỏ ra đặc biệt hữu hiệu trong việc soi sáng tâm trí những người khao khát sự thật và tình thương.”

Sau cùng, ĐTC khẳng định rằng “Thánh nữ Têrêxa đã đề ra một con đường nên thánh dành cho tất cả mọi người.  Đường nên thánh không phải hệ tại thi hành những công trình vĩ đại, nhưng là con đường tín thác và hoàn toàn phó thác cho ơn thánh Chúa.  Con đường đơn sơ đó không thiếu những đòi hỏi, vì Phúc âm đề ra nhiều yêu sách; nhưng lòng tin tưởng phó thác nơi lòng từ bi của Chúa khiến cho những cam go trở thành êm ái dịu dàng.”

Quả thực, trong một thế giới bị trào lưu vô thần, lý thuyết và thực hành, tấn công, các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng là một thành trì bảo vệ vững chắc, vì chứng tỏ một niềm tin được sống một cách chân thành, trẻ trung và nồng nhiệt.  Cũng thì thế, và dòng tu, nhưng cả trong các nhóm, phong trào và hội đoàn giáo dân, cũng như trong các gia đình.  Tác phẩm của thánh nữ thuộc vào loại được đọc nhiều nhất thời nay, và trở thành một vị hướng đạo cho hàng triệu người.  Ấn bản đầu tiên của cuốn Truyện một tâm hồn, xuất bản năm 1898 đã được dịch ra, ấn hành và tái bản trong hơn 50 ngôn ngữ với hàng triệu bản.

ĐHY Dionigi Tettamanzi, TGM giáo phận Milano, đã từng nói với các nữ đan sĩ dòng kín Cát Minh ở Genova: “Nơi thánh nữ Têrêxa tôi thấy được sự dịu hiền từ ái vô biên của Thiên Chúa.  Lời Chúa phán qua Sứ ngôn Isaia đã trở thành kinh nghiệm hằng ngày của Thánh Nữ: “… Những người con nhỏ của Chúa sẽ được bồng ẵm trên tay, chúng được vuốt ve trên đầu gối của Người.  Như một người mẹ an ủi con mình, Ta cũng sẽ an ủi các con như vậy” (Is 66,12-13).  Sứ điệp này quả thực có tính chất thời sự dường nào!  Con người ngày nay đang cần tình thương, cần được quan tâm, cần có những quan hệ tình người đầy ý nghĩa, cần phải làm sao để họ gặp được những chứng nhân đích thực về sự dịu hiền từ ái của Chúa. Có lẽ cũng vì thế, con đường của thánh Têrêxa cũng là con đường trở về được chuẩn bị cho những người đã rời xa Thiên Chúa.” (Báo Avvenire, 14-10-1997).

Lm Trần Đức Anh, OP

From Langthangchieutim

CẢM TẠ CHÚA ĐI VÌ NGƯỜI THIỆN HẢO

CẢM TẠ CHÚA ĐI VÌ NGƯỜI THIỆN HẢO

Tuyết Mai

 Lạy Thiên Chúa Đấng muôn đời quyền năng và luôn yêu thương con cái của Người! Hết thảy chúng ta hãy luôn mở miệng cao rao dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh và kêu lên danh thánh Người. Để tỏ lòng biết ơn và cảm tạ Người luôn ban cho bao nhiêu điều thiện hảo mà Người không ngừng ban phát và không ngừng yêu thương chúng ta.

Nếu kể ra những điều thiện hảo mà Thiên Chúa ban cho từng người chúng ta suốt một năm dài thì xin thưa nó còn nhiều hơn số tóc trên đầu của chúng ta nữa, thật là thế. Nếu không phải thì là vì chúng ta quá ư là bận rộn với công ăn việc làm hay học hành mà không để ý tới thôi nên không cho là đáng kể hay tệ hơn nữa là nghĩ rằng mọi thứ ta có trên đời là do chính khả năng của mình tạo ra mới có!?.

Ở đây chúng tôi chỉ muốn đưa ra những điều rất nhỏ nhưng lại là nỗi lo sợ đến mất ăn, mất ngủ như mất chìa khóa xe, mất chìa khóa hộp thư, mất giấy tờ quan trọng và mất số tiền khá lớn hay gia đình đang có sự xung khắc và hiểu lầm nhau mà chưa giải quyết được, v.v… Nhưng sau khi chúng ta thành khẩn cầu nguyện trong lo lắng với Thiên Chúa (với thánh Anton giúp) thì Người đều cho tìm lại được hay được người tốt lượm và trả lại cho.

Chuyện là từ suốt nguyên ngày hôm qua vợ chồng chúng tôi cũng lo không đến nỗi ăn mất ăn, mất ngủ nhưng trong đầu cả hai không ngừng lo lắng là vì ông nhà tôi đi lấy thư mà bỏ quên luôn 2 chìa khóa quan trọng ngoài thùng thư nhất là trong thời buổi có nhiều người xấu. Họ thường chờ đêm đến thì đi cạy cửa thùng thư để ăn cắp thư về bán hay làm giấy tờ giả mà mãi sau này mình mới khám phá ra thì đã quá trễ … Cũng đủ làm tổn hại lớn cho mình, cho gia đình mà không thể lường trước được.

Điều mà chúng ta cần thiết để luôn dâng lời cảm tạ một Thiên Chúa đầy quyền năng thế mà lại luôn yêu thương con cái của Người cách chịu thua và CHỜ ĐỢI khi chúng ta thì luôn sống trong vô ơn, bội bạc và không ngừng than trách Thiên Chúa đã để cho chúng bị thế nọ hay bị thế kia … Ai làm cha làm mẹ mà có con cái lớn khôn còn độc thân hay đã có gia đình thì đều cảm nhận biết điều này mà thông hiểu cho nỗi lòng rất buồn phiền của Thiên Chúa là Cha của chúng ta ở trên Trời như thế nào?.

Là khi chúng con cái có vấn đề gì không ổn cho bản thân thì chúng không nghĩ đến cha mẹ ở tuổi cũng cần tâm trí được thảnh thơi, nghỉ ngơi mà chúng cứ làm phiền suốt ngày đêm để than thở, khóc lóc ỉ ôi cho những sự việc đáng trách, thiếu suy nghĩ mà chúng đã tự gây ra. NHƯNG khi chúng nó hằng ngày vui vẻ, ăn uống sang trọng, đi chơi đây kia thật tốn kém, mua sắm cho mình đủ thứ phủ phê mà chẳng hề quan tâm hay nghĩ đến cha mẹ GIÀ đang cần những gì dù rất căn bản hoặc dành thời giờ mà đến thăm cha mẹ xem còn khỏe hay đã yếu đi nhiều; nói chi đến sự trả hiếu đúng cho nghĩa.

Thật phải, khi cha mẹ tuổi càng già yếu thì mới hiểu được lòng Thiên Chúa yêu thương con cái của Người như thế nào. Đúng thật là một tình yêu vô bờ bến, một tình yêu luôn trải rộng, không ngừng trao ban và luôn chờ đợi như chuyện của Người con hoang đàng và vòng tay mở rộng của người Cha mừng chạy ra đón thằng con trai hư đốn của mình TRỞ VỀ vì tưởng rằng nó đã chết từ lâu lắm rồi …

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

2 tháng 10, 2018

——————————————————–

https://www.youtube.com/watch?v=rjQF0sa0yHM

Tâm Tình Với Chúa

Tuyết Mai (1) 10-08-2002

KÍNH MỪNG MARIA ĐẦY ƠN PHÚC ĐỨC CHÚA Ở CÙNG BÀ 

KÍNH MỪNG MARIA ĐẦY ƠN PHÚC ĐỨC CHÚA Ở CÙNG BÀ 

Julbell có một bài hát nổi tiếng khắp thế giới từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, và chắc có lẽ mãi mãi còn đọng lại trong lòng người nghe.  Bài hát rất quen thuộc.  Đó là bài Ave Maria.  Điều gì đã khiến cho nhạc sĩ có được cảm xúc một cách dạt dào để viết lên một bản nhạc tuyệt vời như vậy?

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc Đức Chúa Trời ở cùng Bà.  Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.”  Chính lời kinh tuyệt vời đó đã làm nên cảm xúc không phải chỉ một Julbell mà cho biết bao nhạc sĩ trong lịch sử âm nhạc của thế giới viết nên những bản nhạc tuyệt vời và chính lời kinh đó làm nên ngày lễ Mân Côi hôm nay.  Tại sao vậy? 

Trong lịch sử Giáo Hội vào khoảng thế kỷ 16.  Anh em Hồi giáo làm một cuộc chinh phục thế giới.  Họ đi từ vùng Trung Đông sang Á châu đến Ấn Độ.  Họ đổ bộ lên Âu châu.  Đi đến đâu thắng đến đó.  Khi đổ bộ đến Âu châu, đi vào một vịnh của nước Ý.  Một đoàn quân thiện chiến như thế thì quân Ý làm sao mà đối đầu được.  Nếu để thua thì Ý sẽ thất thủ, thủ đô của Hội Thánh Công giáo là Rôma cũng biến mất, và cả Âu châu cũng bị đe dọa.

Đức Giáo Hoàng Piô V bấy giờ lên tiếng kêu gọi cầu nguyện, và cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng.

Ngày 7/10 năm ấy quân của Công giáo chiến thắng.  Chiến thắng không phải nhờ khả năng quân sự mà là nhờ sự phù trợ của Mẹ Maria.  Vì thế Đức Giáo Hoàng đã lấy ngày đó làm ngày lễ Đức Bà chiến thắng.  Sau này thành lễ Mân Côi.

Nói đến chiến thắng, có lẽ chúng ta nghĩ đến chiến thắng về quân sự, kinh tế, chính trị.  Không, Chúa Giêsu không ban cho mình chiến thắng đó.  Khi đối diện với Philatô Ngài đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.  Nếu nước tôi thuộc về thế gian này thì binh lính tôi đã đến giải thoát tôi khỏi tay người Do Thái.”

Ta cần nhìn vào chiến thắng ở một góc độ khác.  Đó là chiến thắng chính mình.  Một danh tước trong lịch sử thế giới đã thường nói: “Không có cuộc chiến đấu nào khó khăn hơn chiến đấu với chính bản thân mình.”

Mỗi chúng ta có thể cảm nghiệm điều đó trong cuộc sống.  Đức Cha Pul-ton-Shin nói: “Nếu bạn chấp nhận một cuộc chiến đấu trong tâm hồn bạn, thì sự bình an sẽ giải tỏa trong cuộc sống xã hội.  Ngược lại, nếu bạn không chấp nhận cuộc chiến đấu đó, mà bạn đi tìm thỏa hiệp với cái xấu, và tội lỗi trong tâm hồn bạn, thì chiến tranh sẽ lan tỏa trong cuộc sống xã hội.” 

Nói như thế có nghĩa là chuyện chiến thắng chính mình là một cuộc chiến rất khó, nhưng nó lại là căn bản để dẫn đến cuộc sống bình an cho mọi người.  Chuỗi Mân Côi, những lời kinh Kính Mừng đan kết lại với nhau thành xâu chuỗi.  Chuỗi Mân Côi đó có khả năng giúp cho ta tập chiến thắng chính mình.  Tại sao vậy? 

Ở phương Đông khi nói về con người, người ta hay nói đến thân, trí, tâm.  Triết học phương Tây ngày xưa, khi học tâm lý học nói đến con người, người ta nói đến tình cảm và ý chí.  Cũng tựa như nhau.  Khi các bạn lần chuỗi Mân Côi thì cả thân, cả trí, cả tâm, có nghĩa là tất cả con người toàn diện chúng ta được chi phối.  Chúng ta hãy nhớ lại, khi ta lần chuỗi có nghĩa là trong tay của mình cầm chuỗi đó là cái thân.  Việc cầm một xâu chuỗi ảnh hưởng đến trí và tâm mình.

Có một linh mục kể chuyện: Trong một lần ngài đi máy bay, ngồi cạnh nhà sư, thấy trên tay nhà sư cầm xâu chuỗi, miệng lâm râm nam-mô-a-di-đà-phật.  Linh mục hỏi nhà sư: Tại sao lần chuỗi vậy?  Nhà sư bảo: Chúng tôi lần chuỗi như thế này tâm trí đỡ căng thẳng.  Thế thì bên các ngài không có cái gì giống vậy à?

Linh mục trả lời: Có chứ, nhưng mà chúng tôi lần chuỗi không phải để cho tâm trí bớt căng thẳng, mà chúng tôi nhắm cái khác cơ.  Nhà sư nói với vị linh mục thế này: Cha ạ, nếu cha muốn tập trung vào một điều gì, thì trong tay của cha phải có một cái gì, nhờ đó cha sẽ dễ tập trung hơn.

 Vị linh mục học được một bài học, hóa ra chuỗi Mân côi mình cầm trong tay giúp cho cái trí của mình tập trung.  Khi các bạn lần chuỗi là trong tay cầm xâu chuỗi, nó giúp cho trí của mình tập trung vào lời kinh, và còn tập trung vào cuộc đời của Chúa Giêsu mà kinh Mân Côi mô tả từ khi Ngài sinh ra cho đến cuộc sống công khai, đến khi bị chết trên thánh giá chịu táng trong mồ, sống lại, lên trời, ban Thánh Thần xuống cho Giáo Hội.

Tất cả cuộc sống của Chúa Giêsu.  Một thứ Tin Mừng thu gọn được tóm lại ở trong chuỗi Mân Côi, đồng thời khi chúng ta lần chuỗi như vậy tâm của mình tịnh lại.  Đối với người trẻ hôm nay đang sống trong một thời đại tốc độ, mà người đọc như thế thật mất thì giờ.  Tôi đã từng nghĩ như vậy.  Nhưng sau này khi tìm hiểu lại lịch sử linh đạo, tôi mới thấy đó là một phương pháp rất hay cho cuộc sống tâm linh.  Những lời con người vắn tắt được lặp đi lặp lại như thế nó làm cho tâm của mình tĩnh lại. 

Có một người học trò người Việt Nam, sau này sang Mỹ viết thư về kể cho tôi nghe kinh nghiệm về việc sống đạo của anh ta: Cuộc sống quá nhiều khó khăn đến mức độ chịu không được, nên đêm đến về nhà muốn phá toang, la toáng lên: Tại sao lại đổ trên đầu tôi những sự khổ sở thế này.  Bất chợt nhìn lên đầu giường thấy một tràng chuỗi treo ở đấy.  Nó liền chạy đến cầm lấy ngồi đọc kinh.  Chỉ mới có 10 kinh thôi là thấy tâm hồn của mình lắng xuống….

Khi lần chuỗi Mân côi thì toàn diện con người của mình: thân, trí và tâm đều được chi phối.  Cùng sự chi phối đó thì chuỗi Mân côi làm cho nơi chúng ta hình thành một con người mới chống lại những gì xấu trong tâm hồn mình.

Con người ta sống ở đời này bao giờ cũng sống trong ba mối tương quan chính: tương quan với Thiên Chúa, tương quan với tha nhân, tương quan với thế giới vật chất.  Tội lỗi chúng ta nó cùng nằm trong ba mối tương quan đó.  Khi lần chuỗi Mân Côi, Mẹ Maria sẽ giúp chúng ta sống những tương quan đó tốt đẹp.

Chẳng hạn khi chúng ta lần chuỗi chúng ta đọc: Chúa Giêsu lên trời, xin cho lòng con được hưởng những sự lên trời.  Chúng ta sẽ sống mối tương quan với Thiên Chúa; chúng ta sẽ sống một tâm hồn siêu thoát hơn; khi chúng ta đọc: Mẹ Maria đi viếng thăm bà Isave, xin cho được lòng yêu người.  Đó là lời cầu xin tương quan với tha nhân, bằng tình yêu thương chứ không phải là hận thù ghen ghét; khi chúng ta đọc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cho đóng đinh tính xác thịt mình vào thánh giá Chúa; đó là tương quan với thế giới vật chất, với chính xác thịt của mình. 

Chuỗi Mân Côi giúp cho chúng ta chiến thắng cái xấu ở nơi bản thân mình, hoàn thành một con người mới, con người mới đó sẽ tác động trong cuộc sống, làm cho cuộc sống được đẹp hơn.

Đức Cha Pul-ton-Shin là một diễn giả nổi tiếng ở Mỹ.  Ngài chỉ giảng trên đài truyền hình chứ không giảng ở nhà thờ.  Nhiều bạn trẻ xin Ngài chứng hôn cho lễ cưới của mình.  Ngài đồng ý chứng nhận với hai điều kiện, hai bạn đó phải hứa với Ngài mỗi ngày vợ chồng phải đọc chung với nhau 50 kinh Kính Mừng.  Lời kinh nối kết vợ chồng giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn.

Hình như bây giờ các bạn trẻ ít lần chuỗi lắm.  Hôm nay tôi muốn nói về giá trị của kinh Mân côi.  Chúng ta đừng xem thường, lại càng không nên xem đó là chuyện đạo đức rẻ tiền.  Chúng ta hãy cầu nguyện để khám phá ra giá trị tuyệt vời của kinh Mân Côi.  Nếu chúng ta không đọc được nhiều, tôi xin đề nghị mỗi ngày chỉ đọc 1 kinh Lạy Cha, 3 kinh Kính Mừng, 1 kinh Sáng Danh.  Chúng ta hãy nuôi dưỡng trong tâm trí mình ý nghĩ: khi tôi đọc kinh Mân Côi, đó là phương cách để tôi đào luyện bản thân, để tôi chiến thắng chính mình, để tôi sống đời đức tin tốt hơn.  Amen!

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

From NguyenNThu

LỜI CHỨNG VỀ CHÚA CỦA MỘT PHI CÔNG!

LỜI CHỨNG VỀ CHÚA CỦA MỘT PHI CÔNG!

Cơ trưởng Mafella cho biết cả ngày thứ Sáu hôm ấy ông cứ cảm thấy bồn chồn, bất ổn mà không hiểu lý do tại sao.

Để loại bỏ cảm giác giác bồn chồn, lo âu này, ông ấy đã lớn tiếng hát vang những bài hát thờ phượng, tôn vinh Chúa suốt đường đi từ thành phố Ujung Pandang đến Palu, (“Thường thì tôi chỉ hát lí nhí, ấp úng trong miệng mình nhưng ngày hôm đó thật sự tôi muốn ca ngợi Chúa hết lòng và tốt nhất có thể”, ông nói). Thậm chí một phi công khác, đồng nghiệp người Hồi giáo của ông ngỏ ý vui rằng tại sao ông không đi thu âm và làm một đĩa CD các bài hát thờ phượng.

Sau đó, khi họ chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Palu, mặc dù lúc ấy bầu trời rất trong xanh nhưng gió thì lại rất mạnh và ông “nghe thấy một tiếng nói trong lòng mình”, rằng ông ấy hãy lượn một vòng trên bầu trời trước khi đáp máy bay xuống. Sân bay Palu nằm giữa hai dãy núi và điều này nhắc cơ trưởng Mafella về câu Kinh thánh được chép trong Thi thiên/Psalms 23:4

“Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi.”

Theo cơ trưởng, các phi công gọi các sân bay nằm giữa hai dãy núi là “thung lũng tử thần”, bởi vì khi đó họ phải hết sức cẩn thận khi hạ cánh, vì thế mà các phi công người Cơ đốc nắm lấy Thi thiên/Psalms 23:4 như một lời hứa vững chắc.

Một lát sau khi đã hạ cánh thành công, ông cảm thấy trong lòng rằng ông cần phải nhanh chóng rời khỏi đây. Do đó, ông chỉ thị cho phi hành đoàn của mình chỉ cần nghỉ 20 phút trước khi máy bay trở về thành phố Jakarta qua Ujung Pandang. Ông ấy thậm chí đã không rời khỏi buồng lái và xin phép Tháp kiểm soát không lưu cho phép mình khởi hành trước 3 phút. Ngay sau khi nhận được sự cho phép cất cánh từ nhân viên Cơ quan Kiểm soát Không lưu Indonesia, kiểm soát viên trẻ tuổi Agung [Anthonius Gunawan Agung] họ đã chuẩn bị cất cánh rời khỏi thành phố Palu. Cơ trưởng Mafella thừa nhận rằng vào thời điểm đó ông đã phá vỡ các thủ tục bay vì ông đã tiếp quản luôn cả công việc của đồng nghiệp mình bằng cách tăng tốc máy bay trong quá trình cất cánh. Ông không hiểu vì sao mình làm như vậy, chỉ biết là ông đã cứ giữ vững tay lái để tăng tốc máy bay trong quá trình cất cánh hôm ấy. Ngay cả khi, ông ấy thậm chí không biết rằng đã có một trận động đất tấn công vào thành phố Palu lúc đó, ông chỉ cảm thấy chiếc máy bay cứ lắc lư một chút sang trái và phải.

Theo cơ trưởng Mafella, nếu ông ấy cất cánh chỉ ba phút sau đó thôi thì ông ấy cũng đã không thể cứu được 140 hành khách trên máy bay, bởi vì lúc đó nhựa đường trên đường băng đã bị nứt ra, cứ dịch chuyển lên xuống như tấm màn bị thổi trong gió. Vài phút sau khi cất cánh, cơ trưởng đã cố gắng liên lạc với Tháp kiểm soát không lưu nhưng không nhận được bất cứ phản ứng nào từ kiểm soát viên Agung. Sau đó, cơ trưởng Mafella đã nhìn xuống dưới và chứng kiến một hiện tượng kỳ lạ. Khi ấy, nước biển tại bờ đã tạo thành một lỗ thủng rất lớn “lớn đến mức có thể để lộ ra mặt đáy biển.”

Khi máy bay bay đến thành phố Ujung Pandang, cơ trưởng Mafella được cho biết đã có một trận động đất và sóng thần ở Palu, và kiểm soát viên không lưu, người hướng dẫn chuyến bay này của ông ở trong tháp kiểm soát, anh đã không rời khỏi vị trí cho đến khi đảm bảo chuyến bay cất cánh an toàn, đã thiệt mạng ngay sau đó. Chiều cùng ngày, trước khi cơ trưởng Mafella rời đi để bay đến thành phố Kuala Lumpur, ông đã nhấn mạnh rằng việc chúng ta nghe được tiếng nói của Đức Chúa Trời thật là quan trọng dường bao. Và dẫu cho điều gì xảy ra, chúng ta cũng cần phải hết sức bình tĩnh, đừng bối rối hay sợ hãi để có thể nghe được điều Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua Đức Chúa Thánh Linh – ông cho biết thêm, vì khi ông đảm nhận luôn vai trò của đồng nghiệp mình để tăng tốc khi cất cánh, lúc đó viên phi công cùng lái trông rất sợ hãi vì thân máy bay cứ lắc lư, chao đảo qua trái rồi phải.

Nguyện lời chứng của cơ trưởng Mefella hôm nay khích lệ mỗi chúng ta và giúp chúng ta nhận lấy những bài học cho riêng mình và nhìn thấy được những ơn lành và phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho.

Tố Quyên dịch

(Nguồn: theelijahchallenge.orghttps://news.oneway.vn/loi-chung-tu-co-truong-mafella-truo…/

Image may contain: 1 person, smiling, airplane and text