GIỜ HẤP HỐI LÀ GIÂY PHÚT ĐÁNG SỢ NHẤT

Image may contain: 6 people, indoor
Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

GIỜ HẤP HỐI LÀ GIÂY PHÚT ĐÁNG SỢ NHẤT

Tôi vừa nghe một người bạn kể về cái chết của một người quen như sau:

“Anh Joe trước đây là một người ngoan đạo rồi không hiểu vì một lý do nào mà anh trở nên khô khan và không còn giữ đạo nữa.

Rồi anh bị bịnh ung thư. Từ khi tìm ra cơn bịnh đến lúc chết chỉ khoảng 10 tháng mà thôi. Có một lần anh hấp hối và lúc đó có một nhóm cầu nguyện đang đọc kinh cầu nguyện cho anh. Bỗng dưng anh chồm dậy và hét lớn:

– “Thôi, đừng cầu nguyện nữa !”

Mọi người hoảng hốt im bặt và không ai dám cất tiếng cầu nguyện cho anh. Sau một hồi lâu, anh tỉnh lại và tỏ ra vui vẻ. Anh sống mạnh khoẻ thêm một tháng nữa, vừa đủ để anh có dịp ăn năn và thống hối về những tội lỗi của mình.

Sau đó, anh kể lại cảm nghiệm như sau:

– ‘Lúc mọi người đọc kinh cầu nguyện cho tôi thì có một bầy ma quỷ đến lôi kéo tôi. Chúng đã kéo được linh hồn tôi ra khỏi xác. Rồi một con quỷ nhẩy vào xác tôi và ra lệnh cho nhóm cầu nguyện không được cầu nguyện nữa. Trong lúc đó, linh hồn tôi quá hoảng sợ nên tôi run rẩy và liên lỷ cầu nguyện với Chúa Giêsu rằng:

“Lạy Chúa Giêsu KiTô, xin thương xót con !”

Một hồi sau thì tự nhiên ma quỷ rút lui hết và Chúa Giêsu hiện ra mỉm cười với tôi. Linh hồn tôi cảm thấy quá sức vui mừng và bình an. Cảnh tượng trở nên bình an và êm đềm. Và Chúa cho tôi được sống lại.’

Khi tỉnh dậy sau cái chết, anh Joe xin được xưng tội liên tục trong ba lần. Lúc ấy anh cứ nghĩ rằng mình quá tội lỗi nên không dám rước Chúa Giêsu Thánh Thể. Rồi anh hấp hối trở lại. Gia đình anh và nhất là người cha của anh vì quá thương con nên muốn níu kéo, cầu nguyện cho anh được chữa lành. Một hôm anh Joe năn nỉ cha anh rằng:

– “Ba ơi, xin ba cho phép con ra đi vì con quá đau đớn lúc này, mà khi con chết thì con được về với Chúa Giêsu và được hạnh phúc. Xin ba cho con được ra đi bình an !”

Ba anh thương con nên đành chấp nhận cho con được chết. Ngay sau đó, anh nhắm mắt lìa đời cách bình an. Sau khi chết, anh trở về với vợ và báo cho chị biết là anh đang ở một nơi hạnh phúc và sáng láng.”

Thế mới biết trong giờ lâm tử, người hấp hối rất cần những lời cầu nguyện chân thành của gia đình và bạn hữu. Nếu lúc đó, chính người bịnh mà bảo mọi người không được cầu nguyện thì đó là lời của ma quỷ nhập vào nói chứ không phải là lời của bịnh nhân. Vậy chúng ta cần cảnh giác để cứu giúp những người hấp hối.

ĐÂU LÀ NHÀ?

ĐÂU LÀ NHÀ?

Trong nhiều năm tôi là Bề trên Tỉnh dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở miền Tây Canada, tôi cố gắng giữ một chân trong thế giới giảng dạy, tôi dạy lớp tối môn dẫn nhập vào thần học Kitô giáo ở Đại học Saskatchewan mỗi tuần một lần và đã thu hút được nhiều sinh viên.

Một trong các bài đọc được chỉ định cho lớp này là quyển sách Chỉ có trái tim biết cách tìm ra: Ký ức quý giá cho giai đoạn yếu đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them: Precious Memories for a Faithless Time) của giáo sư văn sĩ Christopher de Vinck.  Quyển sách là một loạt các bài tự truyện tập trung phần lớn về gia đình và các quan hệ với vợ con của ông.  Các bài viết mô tả tương quan giữa ông với vợ không thiếu phần lãng mạn mà còn rất khích lệ, ông đặt tình dục vào bối cảnh hôn nhân, an toàn và chung thủy.

Vào cuối học kỳ, một cô khoảng 30 tuổi đến nạp bài tiểu luận cho tôi, cô nói: “Đây là quyển sách hay nhất tôi chưa từng đọc.  Trước đây tôi không có nhiều định hướng về đạo đức vì vậy tôi không chú tâm đến tâm hồn, tôi phóng khoáng về tình dục và sống theo hiện sinh.  Tóm tắt, cơ bản tôi đã ngủ ở hai đầu bang Canada; nhưng bây giờ tôi biết tôi thực sự muốn gì, điều mà con người của tác giả có được.  Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!”  Đôi mắt cô rưng rưng khi cô chia sẻ điều này.

Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!  Đó là hình ảnh rất đẹp cho cái mà quả tim gọi là nhà.

Xét cho cùng, nhà là gì? Có phải đó là bản sắc dân tộc, giới tính, quyền công dân, một ngôi nhà đâu đó, nơi chúng ta sinh ra hay đó là một chỗ trong quả tim?

Đó là một chỗ trong quả tim và chiếc giường hôn nhân mô tả đúng.  Nhà là nơi mà mình cảm thấy thoải mái về mặt thể chất, tâm lý và đạo đức.  Nhà là nơi chúng ta cảm thấy an toàn.  Nhà là nơi trái tim chúng ta không cảm thấy lạc lõng, bị xâm phạm, bị ức hiếp, bị chê bai, bị coi thường, bị ở bên lề (dù đôi khi điều này xem như một chuyện hiển nhiên).  Nhà là nơi mà mình không cần phải đi mới cảm thấy là mình. N hà là nơi mình trọn vẹn là mình mà không cần phải giải thích mình như thế nào.  Bạn cứ xem như bạn đang ở nhà bạn là câu nói chào mừng ‘xin bạn cứ tự nhiên’.

Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà, người phụ nữ trẻ này ý thức được nhiều bài học, cô làm cho chúng ta hiểu quan điểm của chúng ta về tình yêu, về tình dục quý như thế nào.  Một trong các vấn đề trong chuyện này là hình ảnh phổ biến của một hoài niệm đi tìm tâm hồn tri kỷ.  Vấn đề ở đây thường do chúng ta nghĩ tâm hồn tri kỷ theo nghĩa rất lãng mạn.  Nhưng, theo quyển sách của tác giả De Vinck, tìm tâm hồn tâm giao có liên quan đến việc đi tìm bình tâm về mặt đạo đức và an toàn tâm lý, hơn là đi tìm chiếc giường hôn nhân một vợ một chồng như trong các tiểu thuyết lãng mạn.  Còn về khả năng tình dục của chúng ta, điều ẩn sâu nhất bên trong khao khát tình ái là chúng ta mong muốn tìm được ai đó để đưa về nhà.  Mọi tình dục mà từ đó bạn mang về nhà luôn là cái gì đó không mang lại điều bạn mong muốn nhất và, càng tốt nếu nó là loại thuốc bổ tạm thời làm cho bạn vẫn đi tìm một cái gì đó càng lúc càng thực tế hơn.

Cụm từ “Tôi đi tìm chiếc giường hôn nhân” cũng hàm chứa một vài yếu tố giúp chúng ta hiểu hơn các thể loại khác nhau của tình yêu, mê đắm và các cuốn hút kéo chúng ta rơi vào.  Chung chung bản chất của phần lớn con người là lăng nhăng, có nghĩa là chúng ta có các trải nghiệm thu hút, mê đắm, yêu đương mãnh liệt đối với người khác, bất kể việc chúng ta bị thu hút ở người khác không cùng một chuyện như ở nhà.  Chúng ta có thể yêu nhiều loại người khác nhau, nhưng tình yêu nào mới là tình yêu cho hôn nhân, cho một mái nhà?  Hôn nhân và nhà được xây dựng trên một loại tình yêu đưa chúng ta về nhà, trên loại tình yêu mang lại cho chúng ta cảm nhận với người này, mình có thể mang về nhà và xây dựng một căn nhà.

Và, rõ ràng, khái niệm này không chỉ áp dụng cho một người chồng, một người vợ trong hôn nhân.  Nó là hình ảnh cho những gì xây dựng lên căn nhà – cho tất cả mọi người, lập gia đình hay độc thân đều như nhau.  Chiếc giường hôn nhân là ẩn dụ cho cái được đặt vào trọng tâm luân lý và tâm lý để có được thoải mái.

Thi sĩ T.S. Eliot đã viết: Nhà là nơi chúng ta bắt đầu.  Nó cũng là nơi chúng ta muốn kết thúc.  Khi sinh ra cha mẹ mang chúng ta về nhà.  Đó là nơi chúng ta bắt đầu và cũng là nơi chúng ta thoải mái cho đến tuổi dậy thì buộc chúng ta phải đi tìm một mái ấm khác.  Rất nhiều cạm bẫy có thể chờ đợi chúng ta trong cuộc tìm kiếm đó, nhưng nếu chúng ta lắng nghe lời khuyên sâu sắc tự bên trong tâm hồn mình, thì nỗi khao khát về nhà không kềm được này cũng giống như ‘ba vua’ theo ngôi sao đặc biệt tìm về máng cỏ và chúng ta sẽ tìm được chiếc giường hôn nhân, hay ít nhất chúng ta sẽ không tìm nó ở nơi không đúng chỗ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

CÂY THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TÙ

Tự hào là con Thiên Chúa

 Bạn có biết

Về cây Thánh Giá của ĐHY Thuận đeo trên mình. Đây là lời bộc bạch của chính ngài.

CÂY THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TÙ

Trong cuộc đời tôi, có những lúc chính hoàn cảnh thực tế đã giúp soi sáng tôi khi nghĩ tới nhiệm vụ lớn lao làm chứng tá cho Chúa Kitô.

Trong thời gian bị biệt giam, tôi được giao cho 5 người canh gác. Họ thay phiên nhau luôn luôn có hai người ở với tôi. Các cấp chỉ huy nói với họ: “Cứ mỗi hai tuần chúng tôi sẽ thay thế các anh bằng một nhóm khác, để các anh không bị : tiêm nhiễm bởi ông Giám mục nguy hiểm này.”

Sau một thời gian, chính họ lại đổi quyết định:“Chúng tôi sẽ không thay đổi các anh nữa, bởi nếu không thì ông giám mục đó sẽ tiêm nhiễm tất cả công an của chúng ta.”

Ban đầu công an canh gác không nói chuyện với tôi. Họ chỉ trả lời có hay là không.

Thật là buồn, tôi muốn tử tế và nhã nhặn với họ mà không được. Họ tránh nói chuyện với tôi.

Đêm nọ, một tư tưởng đến với tôi: “Phanxicô, con còn giầu lắm, con còn tình yêu Chúa Kitô trong tim, hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu thương con.”

Ngày hôm sau tôi bắt đầu yêu Chúa Giêsu nơi họ hơn nữa, bằng cách cười nói trao đổi với họ vài câu thân tình. Tôi bắt đầu kể cho họ nghe về những chuyến đi ngoại quốc của tôi, cho họ biết các dân tộc tại Mỹ, tại Nhật Bản, tại Phi luật Tân…sống như thế nào, và nói với họ về kinh tế, về sự tự do, về kỹ thuật.

Tôi đã kích thích tính tò mò của họ và đưa họ tới chỗ đặt rất nhiều câu hỏi. Dần dần chúng tôi trở thành bạn với nhau. Họ muốn học tiếng ngoại quốc: tiếng Pháp, tiếng Anh…và như thế những người canh tù trở thành học trò của tôi.

Một lần khác, trong trại tù Vinh Quang, trên núi Vĩnh Phú, vào một ngày mưa, tôi phải bổ củi. Tôi hỏi người canh tù:

– Tôi có thể xin anh một điều được không?

Anh cứ nói, tôi sẽ giúp anh.

– Tôi muốn đẽo một hình Thánh giá bằng gỗ.

Anh không biết rằng ở đây cấm ngặt không được phép có bất cứ vật gì mang dấu chỉ tôn giáo hay sao?

– Tôi biết chứ, nhưng chúng ta là bạn với nhau, và tôi hứa là sẽ giữ kín.

– Sẽ rất nguy hiểm cho cả hai chúng ta.

– Anh nhắm mắt làm ngơ đi, tôi sẽ làm ngay bây giờ và hết sức cẩn thận.

Anh ta lỉnh ra xa và để tôi một mình. Tôi đã đẽo miếng gỗ hình Thánh gía và đã giấu trong một mảnh xà phòng cho tới ngày được trả tự do, rồi với một lớp kim loại mỏng bọc bên ngoài. Thánh gía đó đã trở thành Thánh giá Giám mục của tôi.

Trong một trại tù khác, tôi đã xin với một người bạn canh tù khác một sợi dây điện. Anh ta hoảng hồn nói với tôi:

– Tôi đã học ở đại học an ninh rằng, nếu một mgười xin dây điện có nghĩa là họ muốn tự tử.

Tôi giải thích cho anh ta:

– Các linh mục Công giáo không được tự tử.

– Nhưng anh làm gì với sợi dây điện đó?

– Tôi muốn làm một dây xích nhỏ để đeo Thánh Gía.

– Làm sao mà có thể làm một dây đeo với sợi dây điện được? Không thể làm được.

– Nếu anh đem cho tôi hai cái kìm nhỏ, tôi sẽ chỉ cho anh thấy.

-Nguy hiểm lắm.

Nhưng mà mình là Bạn với nhau mà.

Ba ngày sau anh ta nói với tôi: “Thật khó mà từ chối anh điều gì. Tối mai khi tới phiên tôi gác, tôi sẽ đem đến cho anh một sợi dây điện. Phải làm xong trong vòng ba giờ đồng hồ.”

Chiều hôm sau từ 7.00 giờ cho tới 11.00 giờ, cẩn thận không để cho ai trông thấy, với hai cái kìm nhỏ chúng tôi đã cắt sợi dây điện thành từng đoạn ngắn khoảng một que diêm và chúng tôi uốn cong chúng để kết lại với nhau. Và ba giờ sau, trước khi đổi phiên canh, sợi dây đeo đã thành hình.

Sợi dây và cây Thánh Giá này tôi luôn đeo mỗi ngày, không phải bởi vì chúng là kỷ niệm của thời gian ở tù, nhưng vì chúng giúp tôi thấy xác tín sâu xa lời luôn nhắn nhủ tôi:

CHỈ CÓ TÌNH YÊU CHÚA KITÔ MỚI CÓ THỂ THAY ĐỔI CON TIM, CHỨ KHÔNG PHẢI KHÍ GIỚI, CÁC ĐE DỌA HAY CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG

Chính tình yêu chuẩn bị con đường cho việc loan báo Tin Mừng.

“Omnia vincit amor – TÌNH YÊU CHIẾN THẮNG MỌI SỰ.”

ANH CẢ

ANH CẢ

 Nguyễn Tầm Thường S.J

“Về gần đến nhà, khi nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì” (Lc 15:25).

Đó là phản ứng đầu tiên của người anh trong câu chuyện “đứa con hoang đàng” hay là “người cha nhân hậu” của Phúc Âm thánh Luca.

Tại sao không vội vã vào ngay?

Có thể anh ta đoán được chuyện gì đang xảy ra.  Chuyện người em đã về.

Anh ta không muốn vào nhà vì biết đâu người em đã về thật.  Anh gọi người đầy tớ ra hỏi cho chắc.  Không ngờ, người đầy tớ báo tin.  Trong lời báo tin này có ba sự kiện:

– Em cậu đã về!

– Cha cậu đã giết con bê béo!

– Vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ!  (Lc. 15:27).

Nghe xong, anh “nổi giận”, không chịu vào nhà.  Thế là hết!  Ba yếu tố vừa kể trên làm anh ta đau đớn. Anh không muốn đứa em về.  Không muốn người cha thịt con bê béo.  Không muốn người cha nhìn đứa em mạnh khoẻ.  Anh chối từ bữa tiệc.  Chối từ bữa tiệc cũng là không muốn gặp mọi người hiện diện ở đó.  Nếu vào nhà, gặp đứa em, anh ta làm sao chạy ra?  Nếu vào nhà, bà con láng giềng chúc mừng em anh ta đã về, anh biết phản ứng làm sao?  Anh không vội vã vào nhà.  Anh đã tính toán khá kỹ.

Tại sao không truyền lệnh mà năn nỉ?

Có thể người đầy tớ phải vào báo cho chủ biết nên người cha mới ra gặp anh ta.  Hoàn cảnh người cha rất khó xử.  Nếu anh ta không vào, ông trả lời thế nào với đứa con thứ khi nó hỏi:

– Anh con đâu?

Nếu người con trưởng không vào, ông biết nói thế nào với bà con láng giềng về sự vắng mặt rất ý nghĩa này.  Nếu những người giúp việc nói chuyện với nhau, họ phản ứng thế nào, vì họ không ngờ chuyện lại xảy ra như thế.  Ai cũng nghĩ là một ngày vui.  Rồi câu chuyện đến tai bà con lối xóm, những người dự tiệc.  Bây giờ, đề tài trong bữa tiệc này chuyển hướng về đâu?

Ngày hôm nay, có bố mẹ cũng không sao sắp xếp được cho các con ngồi chung với nhau một tiệc vui.  Có những anh em thề không nhìn mặt nhau.  Họ nói:

– Nếu có vợ chồng chúng nó, không có con!

Vì sao người cha trong câu chuyện này không truyền lệnh mà lại năn nỉ?  Ông rơi vào tình cảnh đó.  Ông ở một hoàn cảnh rất thương tâm.

Phản ứng của người con thứ

Cho đến lúc này ta không nắm chắc tâm tư người con thứ và cuộc trở về của nó.

Nếu người con thứ biết anh nó đang nổi giận ngoài kia.  Liệu bữa tiệc có tiếp tục vui?

Chi tiết cho hay là nó về vì đói.  Luca nói rõ: Nó ước ao lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng. Nhưng không ai cho.

Điều cần lưu ý ở đây là chữ “dân”.  Nó đi chăn heo cho một người “dân” trong vùng.  Không phải chăn heo cho một ông chủ.  Người dân này lại đang trong nạn đói “khủng khiếp”.  Heo của nhà giàu, chắc ăn thức ăn khác của nhà nghèo.  Đã nghèo mà lại trong nạn đói khủng khiếp.  Như vậy còn gì mà ăn?  Ấy thế mà nó vẫn chưa chịu về, vẫn xin đồ ăn của “heo-nhà-nghèo-trong-nạn-đói”.  Giả sử người ta cho nó thứ đồ ăn đó, nó đâu có về.  Bằng chứng là nó chỉ về khi người ta không cho nó.  Nếu không về lấy gì ăn?

Sau cái ôm hôn, sự gặp gỡ cha có làm nó mủi lòng thật tâm trở về hay không?  Phúc Âm không nói rõ.  Dù nó thật tâm hay không thì người cha vẫn có bữa tiệc.  Chúng ta không nắm chắc được tấm lòng người con thứ sau vòng tay của cha.  Có thể nó sám hối ngày tháng cũ khi cảm thấy cha thương mình.  Cũng có thể chưa.  Cũng có thể lên mặt với người anh khi thấy anh nó hành xử như vậy.  Luca viết đoạn văn này tuyệt với với những nét “thiền niệm” quá sâu.  Luca để băn khoăn đặt ra là, nếu biết người anh nổi giận vì cuộc trở về của mình, phản ứng nó sẽ ra sao?  Và điều gì xảy ra trong bữa tiệc?

Nguyên nhân của những nguyên nhân

Dựa vào bản tường thuật, sau khi chia gia tài, đứa con thứ “ít ngày sau, thu góp tất cả, rồi trẩy đi phương xa” (Lc. 15:13).  Nó ở lại ít ngày, và thu góp “tất cả” rồi mới trẩy đi phương xa.  Như thế, khi ra đi nó không thể bỏ cái áo “đẹp nhất” ở lại.  Ngày nó về, người cha bảo các đầy tớ mau mau đem áo “đẹp nhất” ra đây mặc cho cậu.

– Áo đó ở đâu?

Khi được sai đi lấy áo, người đầy tớ không hỏi áo nào.  Người đầy tớ biết rõ “cái áo”.  Có một liên hệ hiểu ngầm nào đó giữa người cha, chiếc áo và người đầy tớ.  Họ biết rõ về câu chuyện cái áo.

– Bắt con bê đã “vỗ” béo để làm thịt.

Không phải con bê béo, nhưng là con bê đã “vỗ” béo.  Như thế ta thấy rõ cái áo từ đâu ra.  Cái áo phải là chiếc ông may sẵn.  Vì con bê đã được “vỗ” béo.  Bắt con bê mà từ trước tới nay vẫn săn sóc đặc biệt cho nó béo.  Săn sóc đặc biệt con bê cho béo để làm gì?  Bản tường thuật cho thấy rõ.  Ông thịt con bê đó trong ngày người con thứ trở về.  Như vậy, trước khi nó về, người cha may áo mới chờ đợi, săn sóc con bê cho bữa tiệc.  Tất cả những chuyện này, đầy tớ là người lo chuẩn bị.  Cho nên khi công việc xảy ra, mọi chuyện đâu vào đó.  Khổ một điều, tất cả chuyện này, người con cả cũng biết.

Người con cả thấy đầy tớ săn sóc con bê cho béo.  Anh ta thấy may sẵn áo mới chờ ngày.  Từ ngày đó, lòng anh không yên tâm.  Những ngày sống của anh là giận kín trong lòng.  Hồn anh là tháng năm rất âm u.  Nhìn con bê, nghĩ đến bữa tiệc có ngày xảy ra.  Anh sợ ngày đó.  Anh lo một ngày nào đó đữa em sẽ về.  Không ngờ, hôm nay nó về thật.

Dang dở ngàn trước cho đến ngàn sau

Người anh cả.  Câu chuyện dang dở từ đây.

“Gọi người đầy tớ ra mà hỏi”.

Bình thường khi thấy gia đình như thế, người ta phải vội vã chạy về xem có chuyện gì mà vui vậy.  Nhưng anh dè dặt, vì… nếu là tiệc cho đứa em thì sao?  Nếu chạy vào mà đúng là đứa em về thì… trời ơi!  Anh ta gọi người giúp việc ra hỏi, sự thận trọng đó là đúng.

Đời anh là những tháng ngày dang dở.  Từ khi người con thứ bỏ nhà đi thì người cha cũng mất luôn người con trưởng, vì tấm lòng nó chật chội quá.  Nó ở trong nhà, mà tấm lòng chỉ là một quán trọ tính toán giữa chợ.  Căn nhà không có trái tim bao dung, buồn làm sao.  Anh sống những ngày ảm đạm của một tấm lòng khoắc khoải.  Nếu ngày nào đó có tiếng đàn ca thì sao, buồn quá.  Anh lo cho ngày đó, anh sợ tiếng đàn vui.

Cuộc đời như vậy lặng lẽ quá nhỉ.

– Chưa bao giờ cha cho con lấy được một con dê con.

Thì ra thế!  Thời gian những người đầy tớ “vỗ” con bê cho béo, cũng là những tháng ngày nó bị dằn vặt đau đớn.  Nó thầm mong một con dê con.  Ấy vậy mà bây giờ cha dám giết cả một con bê béo vì thằng em.  Lòng ghen tức làm nó khổ.

Trong lúc “nổi giận” không chịu vào nhà, nó nói gì?  Bản tường thuật cho thấy nỗi đau ray rứt linh hồn anh ta sâu lắm.

– Thằng con của cha đó, sau khi nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng! (Lc. 15:30).

Anh ta lại nhắc đến con bê.  Con bê béo này là hình ảnh xót xa liên hệ đến con dê, vì một con dê con anh cũng không có.  Rồi vì con bê ấy thúc đẩy anh dùng cụm từ này: “Thằng con của cha đó”. Anh ta nói với cha mình như vậy.  Thế thì, anh ta là con ai?  Đứa nào ngoại hôn?  Cụm từ “thằng con của cha đó” là nỗi đau vô vàn đối với một người cha có con như vậy.  Làm sao một người con có thể nói với cha mình như thế.

Đời người con cả trong câu chuyện này quá dang dở.  Anh ta sống, nhưng không còn là anh ta sống nữa.  Bên cạnh cha là bổn phận ngày tháng dài lê thê.  Anh chưa hề trái lệnh.  Chính vì chưa trái lệnh nên mới càng đau.  Chưa trái lệnh mà không được một con dê con, nên cái lê thê mới dài, dài của những ngày tìm mà không gặp cái mình tìm.  Lòng ghen tức, nỗi cay nghiệt, xót xa trăn trở sống trong anh ta.  Thấy cha may áo chờ, biết đâu có ngày người con thứ về.  Từ ngày nó bỏ đi, thì lòng người con cả rối bời, chỉ sợ ngày em nó về.  Nhìn gia nhân săn sóc con bê cho béo, anh đau đớn.  Nhìn con bê, nghĩ đến cái áo, anh không một ngày vui.  Cuộc sống anh ta khổ quá.

Tại sao người cha không cho?

Ông còn gì đâu mà cho!  “Tất cả những gì của cha đều là của con!”  Như thế, có nghĩa là nó có thể giết bất cứ con dê nào nó muốn, vì tất cả là của nó!  Trời ơi!  Vậy mà nó không biết.  Tại sao nó không hiểu điều này!  Đời anh ta sao dang dở quá vậy?  Anh ta sống bên gia nghiệp lớn như thế mà cứ nghèo, ao ước một con dê con cũng không được.  Giữa những cơn nghèo ấy, giữa những tháng ngày khao khát ấy, thì cừu cứ từng bầy, chiên cứ từng đàn ngày ngày đi về trước đời anh.  Tại sao sống bên vàng bạc lại túng thiếu, bên cánh đồng mà không đủ thóc.  Tại sao suối đầy nước mà ruộng mình cứ nắng hạn.  Đời anh dang dở quá. “Tất cả của cha là của con”.  Câu này mang ý nghĩa là nó muốn giết con dê nào thì giết.  “Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn thì anh em không còn lệ thuộc lề luật nữa” (Gal. 5:18).  “Nếu gia nghiệp dành cho những kẻ lệ thuộc lề luật thì đức tin thành vô nghĩa và Lời Thiên Chúa bị huỷ bỏ” (Rom. 4:11).

Mà đời người cũng bi thương khôn cùng.  Con sống bên mình mà không biết tâm tư của mình. Cha con cứ xa nhau.

Người con thứ chỉ xúc phạm cha một câu: “Xin chia phần tài sản con được hưởng”.  Người con trưởng xúc phạm đến cha nhiều quá.

Không thấy người con thứ xúc phạm đến anh nó.  Nhưng người con trưởng xúc phạm cả em nó.  Tại sao nó đương nhiên kết luận em nó nuốt hết của cải với “bọn điếm”.

Người con thứ ra đi, cha nó thương vì có nhớ.  Hoặc vì nhớ nên thương.

Người con trưởng ở nhà, nên không thể nhớ.  Không nhớ, nhưng cha có thương không?  Điều này chắc chắn có.  Vì: “Tất cả những gì của cha đều là của con”.

Cái bất hạnh của người con trưởng là không nhận ra tình thương của cha.  Trong tình yêu, khi không nhận ra thì cũng không nhận được.

            Nếu người con trưởng không nhận ra, không nhận được tình thương của mình, thì tình thương của người cha lại trở về với ông ta mà thôi.  Cho mà không có người nhận, đó là cô đơn.

Cuộc đời người cha trong câu chuyện này cũng quá dở dang.  Một nỗi cô đơn của kẻ cho mà không có người nhận.  Của kẻ gần mà quá xa.

Cha anh ta ra năn nỉ:

– Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy (Lc. 15:32).

Lời người cha nói: “Em con đây”, vừa êm ái vừa tha thiết.  Nhưng với người con trưởng có là “em con đây” hay vẫn là “thằng con của cha đó”.

Câu chuyện thật là dang dở ở đoạn kết.  Sau khi người cha nói với anh ta như vậy, Luca chấm dứt câu chuyện.  Đọc xong rồi, người đọc băn khoăn:

– Vậy sau cùng, người con trưởng có vào nhà không?

Luca không cho người đọc biết quyết định của anh ta.

Tôi giả sử:  Nếu anh vào thì mọi chuyện quá đẹp.

Nếu anh ta không vào.  Bao nhiêu vấn nạn được đặt ra.  Liệu bữa tiệc có tiếp tục?  Tiếp tục thế nào?  Chiều đến, từ xa vẫn nghe “tiếng đàn ca nhảy múa”.  Các người dự tiệc sẽ hỏi gia chủ:

– Thưa ông, thế cậu hai đâu?

Người cha biết trả lời khách làm sao.  Nếu chiều về, người con thứ vẫn không thấy mặt anh mình trong bữa tiệc.  Người cha sẽ nói gì với nó khi ông biết rõ anh nó đang “nổi giận”, và không chịu vào nhà.

Câu chuyện thật dang dở.  Liệu bữa tiệc có dở dang không?

Tại sao Luca, khi viết chuyện này không cho đoạn kết?  Tại sao lại bỏ lửng câu chuyện ngang chừng?  Đọc xong, người đọc không biết người con cả có vào nhà hay tiếp tục ở ngoài.

Đọc xong, ta thấy một trời bơ vơ.

Tâm trạng người cha thế nào?  Nó không vào, ông trả lời khách sao đây?  Ông tìm cách nào để cắt nghĩa cho người con thứ về sự kiện anh nó nổi giận không chịu vào nhà?  Tâm trạng người con thứ nữa, nó có điên tiết, anh em đánh nhau ngay bữa tiệc?  Lối xóm phản ứng ra sao?  Câu chuyện trong bữa tiệc chuyển đề về đâu?  Tất cả rối bời.

Giả sử Luca cho người con trưởng hối hận rồi nghe cha vào nhà, câu chuyện có toàn bích hơn không?  Vì sao Luca không viết rõ?

Đọc xong, băn khoăn không biết hỏi ai.

Một trời bơ vơ.

Phải chăng vì tác giả biết có ngày người ta sẽ băn khoăn đặt câu hỏi.  Phải chăng Luca muốn cho cái dang dở ấy hết dở dang khi người ta tự thắc mắc với chính lòng mình:

– Nếu tôi là người anh cả tôi sẽ vào hay không?  Nếu tôi là người con thứ, tôi phản ứng thế nào?

Đây cũng là đường đi một mình, vì chỉ tôi biết rõ lòng tôi.  Chỉ tiêng tôi có câu trả lời cho tôi.

Luca phải để cho câu chuyện dở dang, vì dở dang này chỉ chấm dứt trong tim người đọc chứ không thể hết dở dang bằng ngòi bút.

Nguyễn Tầm Thường S.J

From: Langthangchieutim

THỤ PHONG LINH MỤC Ở TUỔI 83

THỤ PHONG LINH MỤC Ở TUỔI 83

 Tác giả:  Trầm Thiên Thu

Hai anh em song sinh cùng được thụ phong linh mục, hai chị em gái song sinh cùng đi tu, những người cha góa bụa được thụ phong linh mục với những người con cũng là linh mục… Tôi nghĩ mình chỉ biết những điều như vậy thôi, nhưng tôi ngạc nhiên khi đọc bài viết trên trang Aleteia nói về một câu chuyện khác thường: một ông góa bụa trở thành linh mục do con trai mình, một giám mục, tấn phong.

 Đây hẳn là sự kiện hy hữu trong lịch sử đã xảy ra tại Brazil hơn 50 năm trước. Một di dân người Ý là ông Vicente Melillo, 83 tuổi, thụ phong linh mục do con trai ông là giám mục Aniger Francisco Maria Melillo tấn phong, trước sự chứng kiến của 7 người con khác (trong số 11 người con), cùng với 15 người cháu và 8 người chắt.

Câu chuyện này khiến tôi rất ngạc nhiên, nhưng khi biết thêm về cuộc đời của Lm Vicente, tôi thấy rất đặc biệt. Chúng ta biết chuyện đời ngài trên một tạp chí nói về việc phong chức tại giáo phận mà con trai ngài là giám mục.

DI DÂN THÀNH ĐẠT

Khi mới 3 tháng tuổi, Vicente Melillo cùng cha mẹ di cư từ Ý tới TP Campinas thuộc miền Nam Brazil năm 1883. Vicente là một ký giả viết cho các báo địa phương, và rồi kết hôn với Regina Morato tại Campinas; họ có 11 người con, ba người chết khi còn nhỏ.

Các con của họ làm nhiều nghề: Vicente de Paulo là bác sĩ và giáo sư, Santa là thi sĩ, Regina là văn sĩ, Auta là triết gia, Pérola là sử gia và giáo sư, Irene là nhà hoạt động xã hội, Zuleika là nữ tu Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng, Aniger là giám mục GP Piracicaba.

Không phải ngẫu nhiên mà các con làm những nghề giúp ích cho người khác như giáo dục, y khoa, xã hội, tu trì, mà họ học cách phục vụ từ cha mẹ.

ĐỜI SỐNG BÁC ÁI

Ông Vicente là sáng lập viên và chủ tịch Hội Thánh Vinh-sơn Phao-lô ở TP Campinas và TP São Paulo, nơi ông và gia đình chuyển đến từ năm 1920. Mặc dù ông bắt đầu hành nghề luật sư ở đó, ông vẫn nhớ công việc bác ái của mình. Ngoài việc điều hành Hội Thánh Vinh-sơn Phao-lô, năm 1931 ông lại thành lập một nhà cho người già, trẻ mồ côi và trẻ khuyết tật, nhà xây ngay trên khu đất ông hiến tặng.

Năm 1935, ông tiếp tục thành lập cộng đồng Buçocaba Neighborhood cho hằng trăm người già sống chung với nhau và làm công việc trồng trọt theo khả năng của họ. Sau đó, ông còn thành lập ký túc xá cho sinh viên nghèo có chỗ ở để đi học.

TIẾNG GỌI LINH MỤC

Quan tâm đời sống tâm linh và vật chất của cư dân ở Buçocaba, trong thập niên 1960, ông Vicente xin Hồng y TGM Agnelo Rossi, TGP São Paulo, bổ nhiệm một linh mục về giáo xứ để giúp họ. Đó là lúc hồng y chú ý tới ông Vicente (lúc đó đã góa vợ) và hỏi ông có muốn làm linh mục hay không. Ông trả lời: “Con đã ước như thế.”

Ông được liên kết và học hỏi về Giáo Hội, đời sống tôn giáo, đời sống tâm linh, chức linh mục, với tuổi tác thuận lợi và ĐHY Agnelo Rossi được phép của Đức Giáo Hoàng miễn cho ông việc học thần học theo luật buộc.

Năm 1966, lúc 83 tuổi, ông Vicente Melillo thấy mình quỳ trước mặt con trai và lãnh bí tích truyền chức để trở thành linh mục. He lived three more years, dâng lễ hằng ngày cho dân xứ Buçocaba cho tới khi qua đời ngày 3-10-1969, sau khi nhận lãnh bí tích cuối cùng từ người con là giám mục.

GIA ĐÌNH – VƯỜN ƯƠM THÁNH THIỆN

Thật là một câu chuyện thú vị về một cuộc đời phục vụ tha nhân. Các nguồn tài liệu không cho biết nhiều về người vợ quá cố, nhưng theo những gì chúng ta biết về Lm Vicente và các con, có thể bà là một phụ nữ đặc biệt lắm. Bà tên là Regina – nghĩa là “Nữ Vương” theo Thánh Danh Maria, Nữ Vương Thiên Đàng, bà vừa là người mẹ vừa là người vợ có chồng và con thi hành thánh chức: Con trai là ĐGM Aniger, theo tên của người mẹ, tên “Aniger” cũng có nghĩa là “Regina”.

Xin Thiên Chúa tiếp tục ban cho chúng ta có nhiều gia đình thánh thiện, nơi mà các bậc cha mẹ thông truyền đức tin cho con cái để chúng có thể trở nên những linh mục thánh thiện của Thiên Chúa.

MATTHEW GREEN

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, 8-9-2019

CON NGƯỜI CHỈ TRỞ NÊN VĨ ĐẠI, KHI QUỲ GỐI CẦU NGUYỆN.

Image may contain: 1 person, tree, plant, shoes, outdoor and nature

Tôi Là Người Công Giáo

CON NGƯỜI CHỈ TRỞ NÊN VĨ ĐẠI, KHI QUỲ GỐI CẦU NGUYỆN.

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”

Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?”

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi! Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”.

[Lm. Giuse Nguyễn Khánh Sơn]

HÌNH DUNG RA ÂN SỦNG

HÌNH DUNG RA ÂN SỦNG

Chúng ta hãy tưởng tượng điều này: một người hoàn toàn không lo gì về đời sống đạo đức và thiêng liêng trong suốt đời mình, sống tuyệt đối ích kỷ, lạc thú là điều duy nhất họ chạy theo suốt đời.  Họ sống bất chấp mọi khuôn khổ, không bao giờ cầu nguyện, không bao giờ đi nhà thờ, đời sống tình dục phóng túng và không quan tâm đến bất cứ ai ngoài mình.  Sống như thế suốt đời, cuối đời họ bị bệnh và trên giường chết, họ khóc lóc ăn năn, họ chân thành xưng tội, nhận bí tích Thánh Thể và qua đời trong ân phúc của nhà thờ và bạn bè.

Bây giờ nếu phản ứng của chúng ta là: “Tốt, người này may mắn!  Ông sống suốt đời ích kỷ và ông lên thiên đàng!”  Vậy thì theo nhà thần học Piet Fransen nổi tiếng về Ân sủng, chúng ta chưa hiểu như thế nào là ân sủng.  Trong chừng mực nào đó, chúng ta vẫn còn ghen tị với người vô đạo đức và muốn loại họ ra khỏi ân sủng của Chúa, chúng ta là “người con cả” trong câu chuyện Người con hoang đàng trở về, đứng trước căn nhà của Người cha trên trời mà lòng cay đắng ghen tương.

Tôi giảng dạy ở chủng viện, chuẩn bị cho các chủng sinh chịu chức linh mục.  Gần đây giáo sư thần học bí tích của chúng tôi chia sẻ điều này: Ông dạy môn bí tích hòa giải từ hơn bốn mươi năm nay, và chỉ vài năm gần đây các chủng sinh mới hỏi: “Khi nào chúng ta mới phải từ chối không ban phép giải tội?”

Điều gì nói lên trong câu chuyện này?  Chắc chắn các chủng sinh rất chân thành khi đặt câu hỏi; họ không tỏ ra cứng nhắc hay nghiêm khắc.  Lo lắng của họ là về ân sủng và lòng thương xót.  Họ chân thành lo để không ban lòng thương xót Chúa một cách quá dễ dãi, quá rẻ tiền, bừa bãi, thực chất là bất công.  Nỗi sợ của họ vừa không muốn để lòng thương xót Chúa bị giới hạn, vừa không muốn duy chỉ có lòng thương xót.  Không phải như vậy.  Quan tâm của họ nhiều hơn, nếu dễ dãi quá thì sẽ bất công với các tín hữu trung thành chịu đựng thử thách hàng ngày.  Lo sợ của họ là liêm khiết, công bằng và công trạng.

Cái gì là thách thức ở đây?  Ân sủng này không phải là cái gì do công sức chúng ta.  Sau khi người thanh niên trẻ từ chối lời mời gọi bỏ hết mà theo Chúa Giêsu, thì Thánh Phêrô, người có mặt trong buổi gặp này, ngược với chàng trai trẻ giàu có, ông bỏ hết theo Chúa và hỏi Chúa những người bỏ hết theo Ngài sẽ nhận được gì.  Để trả lời, Chúa Giêsu kể dụ ngôn người chủ hào phóng với các người xin vào làm vườn nho bất kể giờ nào.  Người làm nhiều giờ, người làm ít giờ đều nhận số lương bằng nhau, làm cho những người làm suốt ngày nóng nực cay đắng cảm thấy mình bị đối xử bất công.  Nhưng người chủ vườn nho (là Chúa) cho họ thấy không có bất công ở đây, mọi người đều đã được nhận phần mình quá hào phóng.

Đâu là bài học sâu sắc ở đây?  Mỗi lần chúng ta phản đối, thật bất công khi những người không trung thành cũng nhận được lòng thương xót và ân sủng của Chúa, thì chúng ta xa với sự hiểu biết về ân sủng và về đời sống nội tâm.

Cô nhân viên vệ sinh răng miệng biết tôi là linh mục công giáo, cô hay đặt nhiều câu hỏi về tôn giáo và giáo hội.  Một ngày nọ cô kể câu chuyện sau: cha mẹ cô không bao giờ đi nhà thờ.  Họ có cảm tình với tôn giáo nhưng không quan tâm đến.  Còn cô thì theo phái Giám lý, chủ yếu là do ảnh hưởng của bạn bè.  Rồi mẹ cô qua đời, và khi gia đình bàn về việc tổ chức tang lễ thì cha của cô cho biết bà đã được rửa tội theo đạo công giáo, và không giữ đạo từ khi hai tuổi.  Ông đề nghị tổ chức theo nghi lễ công giáo cho bà.  Vì không giữ đạo từ lâu, họ hơi lo lắng khi gặp linh mục ở giáo xứ bên cạnh để xin tang lễ được làm theo nghi thức công giáo.  Trước sự ngạc nhiên to lớn của họ, vị linh mục không ngần ngại, cha nồng nhiệt đón họ: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ cử hành tang lễ!  Đây là vinh dự cho chúng tôi! Và chúng tôi sẽ sắp xếp để có ca đoàn hát lễ và sẽ có buổi tiếp tân ở hội trường giáo xứ sau đó.”

Không đòi hỏi gì về sự vắng mặt cả đời của bà ở nhà thờ.  Bà được chôn cất theo nghi thức Giáo hội… và cha của cô, quá xúc động trước sự quảng đại của nhà thờ và nét đẹp của nghi thức phụng vụ đã quyết định trở thành người công giáo la mã.

Chúng ta sẽ tự hỏi kết quả sẽ như thế nào nếu linh mục từ chối làm tang lễ, và cũng tự hỏi điều gì biện minh cho tang lễ của một người cả đời chẳng quan tâm gì đến nhà thờ.  Chúng ta cũng sẽ tự hỏi có bao nhiêu người sẽ thấy câu chuyện này là khích lệ hay là bực mình, vì theo luân lý giáo hội ngày nay, nhiều người trong chúng ta còn nuôi nỗi sợ không nhận được ơn và lòng thương xót quá dễ dàng.

Nhưng ân sủng và lòng thương xót không bao giờ có giá, dù rẻ dù đắt vì tình yêu không bao giờ là chuyện xứng công mới được

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

“Giáo hội là bệnh viện chiến trường”, ưu tiên chăm sóc các bệnh nhân và người yếu đuối nhất

VATICANNEWS.VA
Giáo hội như nơi đón tiếp những người đau khổ nhất và người đau khổ luôn là ưu tiên của Giáo hội trong mọi thời đại. Giáo hội không sợ hãi những người …

BÀ MẸ CỦA 5 NGƯỜI CON: 1 NỮ TU, 4 LINH MỤC TRONG LỄ KIM KHÁNH KHẤN DÒNG CỦA CON

Image may contain: 5 people, people smiling, people standing
Image may contain: one or more people, people sleeping and people sitting
Image may contain: one or more people, people sleeping and indoor

Truyền Thông Thái Hà

BÀ MẸ CỦA 5 NGƯỜI CON: 1 NỮ TU, 4 LINH MỤC TRONG LỄ KIM KHÁNH KHẤN DÒNG CỦA CON

#GNsP– Ngày 27/8/2018 vừa qua nhân lễ Thánh Monica, Bổn Mạng các Bà Mẹ Công Giáo, tại Giáo xứ Thanh Bình thuộc Gp. Xuân Lộc đã diễn ra thánh lễ Tạ ơn Kim Khánh Khấn Dòng của nữ tu Agatha Trương Thị Minh Đức thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn.

Dịp kỷ niệm này của Nữ tu Agatha Minh Đức không chỉ là lời tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân cao quý mà Thiên Chúa đã ban cho Sơ, một người trung kiên dâng hiến trọn đời cho Chúa, mà còn là dịp tôn vinh sự hy sinh cao cả của Bà Mẹ – người đã sinh ra Sơ, người chị Cả và bốn em trai kế đã dâng hiến cho Chúa trong đời sống linh mục. Lần lượt các em trai Linh mục của Sơ: Phaolô Trương Đình Tu, Gp. Quy Nhơn; Giuse Trương Đình Hiền, Gp. Quy Nhơn; Tôma Trương Đình Sơn, DCCT và G.B Trương Đình Hà, Gp. Bà Rịa.

Thánh lễ tạ ơn Chúa hôm nay đã quy tụ đầy đủ 5 người con sống đời thánh hiến đã làm cho lời tạ ơn thêm thánh thiêng và sáng ngời mẫu gương cao cả hy sinh của Người Mẹ, người đã sinh thành dưỡng dục và dâng cho Chúa 5 người con trong tổng số 7 người con của mình. Bà Cố hiện nay đã gần đến tuổi 100 và trong những ngày cuối cùng đón đợi giây phút Chúa gọi về. Mặc dù không thể tham dự hiến tế Tạ ơn đặc biệt này cùng các con tại ngôi thánh đường thân thương mà bà Bà đã gắn bó gần 40 năm qua, nhưng nằm trên giường bệnh, Bà đang dâng hiến lễ hy sinh lên Chúa trong từng hơi thở khó khăn vào những ngày cuối đời của mình.

Sau biến cố chiến tranh ly loạn của 1975, Gia đình Ông Bà Cố đã trôi dạt về Giáo xứ Thanh Bình, thuộc Giáo phận Xuân Lộc và định cư ở đó cho đến ngày nay. Bỏ lại sau lưng quê nhà Trà Câu, Quảng Ngãi, vùng đất anh dũng và giàu truyền thống đạo đức vì máu của các chứng nhân đức tin đã đổ ra ở đây trong cuộc “Bình Tây – Sát Tả” mà quân Văn Thân đã gây ra vào năm 1885. Giáo xứ Trà Câu là mảnh đất gia đình Bà Cố đã gắn bó bao đời, nằm tại thôn Đông Quan, xã Phổ Văn, cùng với chứng tích “VỰC ĐẠO” (vực Ô rô) nằm ở khúc sông sâu thăm thẳm và cũng rộng mênh mông, nơi mà Văn Thân đã vùi thây các Kitô hữu xuống vực này, trong đó có các vị tiền bối của gia đình Bà Cố.

Do được sinh ra từ dòng máu của các vị tử đạo, chứng tá đời sống đức tin và anh dũng kiên trì vượt qua khó khăn mà Ông Bà Cố đã giáo dục các người con của mình trưởng thành và lần lượt dâng hiến cho Chúa trong đời sống tu trì.

Cô con gái và là chị Cả của các em đã tiên phong bước vào đời sống tu trì trong Hội Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn và khấn Dòng năm 1968 tại Quy Nhơn. Sau đó lần lượt các em trai vào Chủng viện Quy Nhơn và DCCT.

Sau biến cố 1975, đời sống tu trì vô cùng khó khăn và chặng đường phía trước hết sức u tối. Nhưng nhờ thừa hưởng gia sản đức tin và được trui rèn qua thử thách, các người con trai vẫn kiên trì trong đời tu và lần lượt tiến đến chức linh mục.

Với sự đóng góp vô cùng lớn lao cho Giáo hội Công Giáo – dâng hiến 5 người con: một nữ tu và bốn linh mục- Bà Cố Mátta Nguyễn Thị Liêm đã được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI trao tặng danh hiệu Hiệp Sĩ, một danh hiệu cao quý trong Giáo Hội. Nhưng có lẽ ân phúc lớn lao nhất là Bà sẽ được Thiên Chúa ân thưởng, ôm vào lòng như một ái nữ suốt đời trung kiên theo Chúa và nêu cao mẫu gương sáng cho các bà mẹ trong việc giáo dục con cái trong bối cải của những khủng hoảng của đời sống hôn nhân gia đình.

Pv. GNsP

Tấm lòng lương thiện

Tấm lòng lương thiện

Nhà văn Mỹ Elbert Hubbard từng nói: Bạn có thể là người làm nên kỳ tích. Là người thông minh ai cũng hiểu được chân lý này: Cách duy nhất để giúp đỡ mình, chính là giúp đỡ người khác.

Một công ty nọ có truyền thống tổ chức tiệc và rút thăm trúng thưởng vào Giáng sinh mỗi năm. Theo quy định rút thăm trúng thưởng, mỗi thành viên tham gia đều phải đóng góp 10 USD làm lệ phí.. Toàn công ty có 300 người, và phần thưởng chính là tổng số tiền của 300 người gộp lại: 3.000 USD. Ai may mắn sẽ được mang toàn bộ số tiền đó về nhà.

Vào ngày tổ chức lễ bốc thăm, không khí náo nhiệt tưng bừng hơn bao giờ hết, ai nấy cũng mong đợi tới giờ vàng để thử vận may của mình. Mỗi người đều được phát một mẩu giấy để ghi tên mình trước khi bỏ vào thùng bốc thăm trúng thưởng. Và trong lúc chuẩn bị ghi tên, một cậu nhân viên trẻ chợt phân vân suy nghĩ:

“Cô lao công Sarah là người có gia cảnh khó khăn nhất, con cái lại mắc nhiều bệnh tật, mà cô thì không có tiền để phẫu thuật cho con. Giá như cô có được số tiền này thì tốt biết mấy, nhưng cô lấy đâu ra 10 USD để tham gia cơ chứ?”.

Nghĩ rồi cậu không cần đắn đo mà quyết định sẽ ghi tên cô Sarah thay vì ghi tên mình lên đó. Mặc dù vẫn biết cơ hội quá mong manh, chỉ có 1/300 cơ hội, nhưng cậu vẫn cầu mong vận may mỉm cười với cô.

Tới lúc chuẩn bị rút thăm, không khí hồi hộp không kém phần căng thẳng. Mọi người cùng nhìn lên khán đài khi giám đốc công ty chọn ra tấm phiếu may mắn. Ở bên dưới, cậu thanh niên trẻ không ngừng cầu Chúa, cầu Chúa hãy giúp đỡ cô Sarah…

Vị giám đốc từ từ mở mẩu giấy ra… Tích tắc, tích tắc, mọi người đều nín thở chờ đợi đến mức tiếng kim đồng hồ cũng có thể nghe thấy. Khi nhìn vào cái tên trên tấm phiếu may mắn ấy, giám đốc bất giác mỉm cười… rồi ông đọc to lên. Và… kỳ tích thật sự đã xuất hiện! Khi cái tên Sarah được xướng lên, những tràng vỗ tay chúc mừng vang lên không ngớt tràn ngập cả hội trường. Cô Sarah vừa vui mừng vừa bất ngờ vì không biết mình được tham gia. Khi bước lên bục nhận phần thưởng, cô rối rít cảm ơn: “Tôi thật may mắn, có số tiền này con tôi được cứu rồi, cảm ơn mọi người, cảm ơn mọi người!”.

Buổi tiệc diễn ra trong những tiếng nói cười và tiếng nâng ly chúc tụng. Chàng nhân viên trẻ miên man suy nghĩ về cái kết có hậu của đêm Giáng sinh năm ấy, bởi mọi thứ xảy ra như một kỳ tích. Cậu vừa bước dạo xung quanh vừa chúc tụng mọi người một Giáng sinh vui vẻ. Vô tình đi qua thùng phiếu, thuận tay cậu rút lấy 1 tờ ra xem, và… lạ chưa kìa, trên mảnh giấy đó có tên cô Sarah. Cậu không dám tin vào mắt mình nên vội vàng rút ra thêm một mẩu giấy, và một mẩu giấy nữa, tất đều có tên cô Sarah trên đó.

Một nỗi xúc động dâng trào trong lòng cậu, giống như những cơn sóng thuỷ triều dâng lên mãnh liệt. Hai mắt cậu đỏ lên, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng tuôn rơi. Cậu nhận ra một điều, thế giới này thực sự tồn tại “kỳ tích đêm Giáng sinh”, chỉ có điều kỳ tích đó không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được tạo ra bởi những con người có tấm lòng lương thiện quanh ta.

Câu chuyện này gợi tôi nhớ đến trải nghiệm của chính bản thân mình.

Đó là một buổi chiều rảnh rỗi, tôi cùng cậu bạn thân đi dạo trong ngoại ô thành phố. Đột nhiên có một cụ già mặc bộ áo nâu cũ kỹ đi tới, gánh một gánh rau chào mời chúng tôi mua hàng. Nhìn những bịch rau đã héo rủ xuống, những chiếc lá dập nát như vừa trải qua một trận phong ba, không những vậy lại còn bị sâu ăn lỗ chỗ rất nhiều. Nhưng cậu bạn đi cùng tôi không hề tỏ ra khó chịu mà còn vui vẻ mua liền một nửa gánh rau cho cụ.

Cụ già ngại ngùng giải thích: “Số rau này do lão tự trồng, mấy hôm trước gặp trận mưa to, rau đều bị dập hết, nhìn thực sự rất xấu, thành thật xin lỗi”. Sau khi cụ già đi rồi, tôi hỏi bạn mình: “Cậu thực sự mang số rau này về sao?” Bạn tôi trả lời rằng: “Không, số rau này chắc không thể ăn được nữa rồi”.

Vậy cậu mua về làm gì?”

Vì mình biết sẽ chẳng có ai mua, nếu như mình cũng không mua thì e rằng cụ già sẽ không bán được hàng”.

Tấm lòng lương thiện của người bạn khiến tôi vô cùng xúc động và khâm phục. Tôi chạy theo cụ già mua giúp cụ nửa gánh rau còn lại. Cụ già thấy vậy rất vui mừng: “Lão đi bán cả ngày trời nhưng ngoài hai cậu ra thì không có ai mua cả, thực sự lão rất cảm ơn hai cậu”…

Tựa như bản nhạc có nốt bổng nốt trầm, cuộc sống luôn có những thăng trầm khiến ta thấy cần lắm một bờ vai, cần lắm một chỗ dựa. Và khi ta đang chới với giữa dòng đời, nếu như có một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ ta lên, cho ta một điểm tựa, giúp ta vượt qua gian khó, thì tấm lòng thiện lương ấy sẽ là nguồn sức mạnh giúp ta vượt qua mọi giông bão của cuộc đời.

Có một bài hát rất hay rằng: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Lòng tốt như ngọn cỏ, dẫu bạn chỉ bắt đầu nó bằng 10 đô la hay 1 mớ rau đã dập nát, nhưng nó sẽ lan toả và bạn sẽ bất ngờ khi thấy cả một thảm cỏ xanh ngát của tình yêu thương, sự đồng cảm, chia sẻ mà chúng ta có thể dành cho nhau.

Và thế giới này sẽ trở thành thiên đường mà không cần bạn phải là vĩ nhân. Đôi khi bạn sẽ thấy những gì mình cho đi quá nhỏ nhoi, đến độ bạn thấy dù có làm nó hay không thì cũng không có gì đáng kể. Đó là lý do nhà Phật căn dặn rằng: “Đừng thấy việc Thiện nhỏ mà không làm”.

Bởi vì ngay cả một cái cây cổ thụ cũng bắt đầu chỉ bằng một mầm xanh bé nhỏ.. Chỉ cần bạn gieo nó, như bắt đầu một câu chuyện nhỏ, nó có thể đi xa tới mức khi nhìn lại bạn sẽ không ngờ rằng nó chính là kiệt tác của cuộc sống.

Chỉ cần bạn bắt đầu bằng một ngọn cỏ, thế giới sẽ trở thành cánh đồng hoa rực rỡ.

 Rose-Marie Xuân sưu tầm

From: Tu-Phung