ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ

ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ hình, hoàn thành việc cứu độ.  Chính lúc đi ngang qua Samaria, nhất là qua việc cứu chữa mười bệnh nhân phong, Chúa cho thấy một vài đặc điểm của ơn cứu độ.

Ơn cứu độ là phổ quát

 Chúa muốn cứu độ hết mọi người không loại trừ ai.  Nên Chúa đi qua Samaria.  Samaria là vùng đất cấm kỵ đối với người Do Thái.  Đó là vùng đất ngoại đạo.  Đó là vùng đất ô uế.  Người Do Thái và người Samaria không giao thiệp với nhau.  Nhưng Chúa đã vượt qua ranh giới cấm kỵ đó.  Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho mọi người.  Tại Samaria Chúa còn gặp gỡ mười người phong cùi.  Lại một cấm kỵ nữa.  Người phong cùi vốn bị coi là hạng người tội lỗi, ô uế.  Ai gặp họ đều trở nên ô uế.  Họ bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội.  Tại Samaria, những người phong cùi là những người ở tầng lớp cuối cùng của xã hội.  Chúa đem ơn cứu độ cho mọi người, kể cả những người bị khinh miệt nhất, bị quên lãng nhất, bị hất hủi nhất.  Ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người.  Trước mặt Chúa mọi người đều bình đẳng.

Ơn cứu độ là nhưng không

 Không ai dám nghĩ đến việc mời Chúa xuống trần gian.  Không ai có công trạng gì khiến Chúa phải xuống trần gian để tưởng thưởng hay để đền đáp.  Chúa xuống trần gian hoàn toàn do lòng nhân từ yêu thương của Chúa.  Cũng thế, người Samaria hoàn toàn bất ngờ khi Chúa đến miền đất của họ.  Những người phong cùi lại càng không bao giờ dám mơ tưởng tới.  Bản thân họ đã bị lên án, bị loại trừ rồi.  Ngay việc gặp một người bình thường đã không được phép, huống chi là gặp gỡ Chúa.  Nhưng Chúa đã đến gặp gỡ họ, ban ơn cứu chữa họ.  Hoàn toàn nhưng không.  Họ chẳng có công gì.  Họ chẳng có quyền đòi hỏi gì.  Họ chỉ có nỗi đau khổ tột cùng.  Chính nỗi đau khổ đó đã khơi dậy lòng yêu thương của Chúa.  Vì Chúa là tình yêu thương.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm tin 

Tuy ơn cứu độ được ban rộng rãi và nhưng không, nhưng để đón nhận đòi phải có niềm tin.  Những người phong cùi hôm nay đã bày tỏ niềm tin qua hai thái độ.  Thái độ thứ nhất là đồng thanh lớn tiếng kêu cầu danh Chúa Giêsu: “Lạy Thày Giêsu, xin cứu chúng tôi.”  Danh Thánh Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu.  Từ cùng tận nỗi đau khổ, những người phong cùi đã kêu van bằng tất cả tấm lòng tha thiết và với niềm tin vững chắc.  Chỉ có Chúa mới thương xót họ.  Chỉ có Chúa mới đủ quyền năng cứu chữa họ.  Thái độ thứ hai là đi trình diện với thày tư tế.  Chúa không chữa họ ngay nhưng bảo họ đi trình diện với thày tư tế.  Dù chưa được khỏi, nhưng họ vẫn tin tưởng lên đường.  Đang khi đi đường thì họ được khỏi.  Đức tin đã chữa họ.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm vui 

Đây là niềm vui trong mối tương giao giữa Thiên Chúa với con người.  Cốt lõi của ơn cứu độ là thiết lập mối tương giao, cho con người được trở nên con cái Thiên Chúa, đồng hưởng hạnh phúc với Chúa.  Đó là cội rễ của niềm vui, niềm hạnh phúc.  Chín người bệnh không trở lại chỉ có niềm vui được khỏi bệnh, nhưng không có niềm vui trong mối tương giao với Thiên Chúa.  Họ có đức tin cầu xin nhưng thiếu đức tin gặp gỡ với Thiên Chúa.  Niềm vui được khỏi bệnh rồi cũng sẽ nhạt phai.  Chỉ có một người trở lại tạ ơn.  Anh trở lại vì mối tương giao.  Anh nhận biết nguồn gốc niềm vui của mình.  Anh sụp lạy Chúa vì biết nguồn gốc hiện hữu của mình.  Anh đã tìm thấy nguồn cội ý nghĩa đời mình.  Niềm vui của anh sẽ còn mãi mãi.  Đời anh sẽ là một đời tạ ơn không ngừng.

Lạy Chúa, xin cho con biết tìm đến gặp gỡ Chúa để tạ ơn Chúa.  Chính niềm vui tạ ơn này đem đến cho con hạnh phúc suốt đời.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

Nhận ra ân huệ Chúa ban

Nhận ra ân huệ Chúa ban

 Tác giả:  Lm Trần Ngà

(Suy  niệm Tin mừng Luca (17, 11-19) trích đọc vào Chúa nhật 28 thường niên năm C)

Vào thời Chúa Giê-su rao giảng Tin mừng tại Do-thái, bệnh phong hủi là căn bệnh khủng khiếp vô phương chữa trị. Người bệnh bị cách ly khỏi gia đình, làng mạc nên phải sống trong những nơi vắng vẻ, cô tịch. Cuộc sống còn tệ hơn cái chết.

May thay, có mười người phong tốt số được gặp Chúa Giê-su và được Ngài cứu chữa lành bệnh. Họ chỉ cần đến gặp các tư tế để kiểm tra trước khi được phép về đoàn tụ với gia đình, họ hàng, làng xóm.

Khi được chữa lành khỏi chứng bệnh khủng khiếp như thế và được phép về đoàn tụ với những người thân yêu… họ vui mừng hân hoan như kẻ chết sống lại. Ấy vậy mà trong mười người được chữa lành, chỉ có một người ngoại bang biết quay lại cám ơn Chúa Giê-su đã cứu chữa mình, còn chín người kia thì không!

Nhận được hồng ân lớn lao như thế mà không biết tạ ơn thì thật là những người vô ơn, bạc nghĩa rất đáng trách.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn lại mình, xem chúng ta thuộc thành phần nào trong hai thành phần trên đây? Là người biết tạ ơn vì những hồng ân mình lãnh nhận hay là vô ơn như chín người phong được chữa lành.

Tôi thuộc hạng người nào?

Một chén cơm ta ăn hằng ngày là thành quả của bao nhiêu lao công vất vả của rất nhiều người: Người nông dân phải bỏ công để chọn giống lúa tốt, phải thận trọng ủ giống mất một hai ngày, phải cày, bừa, trục, trạc… cho mặt ruộng sẵn sàng đón nhận những hạt giống gieo… Một khi đã gieo hạt xuống rồi, phải ngăn ngừa chim trời hay chuột đồng phá hại những hạt lúa mới nhú mầm, tiếp theo là cung cấp đầy đủ phân và nước cho lúa lớn lên, lo diệt côn trùng bảo vệ lúa… đến mùa thì lo thu hoạch, phơi phóng rồi nhập lúa vào kho.

Khi muốn chế biến lúa thành gạo thì phải lo xay xát, sàng sảy, rồi mới có thể đưa sản phẩm ra thị trường.

Để cho những hạt gạo đó biến thành cơm ngon thì người nội trợ lại phải tốn công nấu dọn cho người nhà ăn.

Như thế, mỗi chén cơm là một ân huệ Chúa ban, được kết tinh bởi vô vàn mồ hôi, lao nhọc, công sức của bao người. Vậy mà khi hưởng dùng chén cơm đó, có bao giờ chúng ta biết tạ ơn Chúa, tạ ơn những người đã chịu cực nhọc vất vả để cung ứng cho ta chén cơm đó chưa? Nếu ai chưa tạ ơn thì thuộc về nhóm chín người vô ơn trên đây rồi.

Người mẹ cưu mang con 9 tháng 10 ngày với bao ưu tư, khắc khoải. Khi đủ ngày đầy tháng, mẹ sinh con trong đau đớn và âu lo. Khi con chào đời, mẹ ấp ủ con với tất cả tấm lòng thương mến, canh chừng con khi con ngủ cũng như con chơi, bồn chồn lo âu khi con gặp hoạn nạn, thức trắng đêm bên giường khi con đau ốm, lo cho con từng miếng ăn, từng tấm áo, lao động gian lao vất vả đêm ngày để liệu cho con học thành tài… Đến khi con trưởng thành thì lo gầy dựng gia đình cho con…

Kể sao xiết công ơn của cha mẹ đối với con cái mình. Nhưng thử hỏi được bao nhiêu người nhận biết công ơn cha mẹ để đền ơn đáp nghĩa cho cân? Nếu ai quên thì thuộc về thành phần chín người phong hủi vong ân.

Bước sang lĩnh vực tâm linh, Chúa Giê-su tuy là Ngôi hai Thiên Chúa cao cả vô song, đã chấp nhận hạ mình xuống thế làm người phàm, gánh lấy tội lỗi muôn dân và hy sinh chịu khổ nạn, chịu chết đau thương để đền tội thay cho muôn người, chết thay cho nhân loại và nhờ đó, Ngài cứu muôn dân khỏi chết và mở cửa cho họ vào cõi trời vinh hiển. Vậy mà có được bao nhiêu người nhận biết hồng ân vô cùng cao quý đó đó để cảm tạ, tri ân? Nếu ai chưa cảm tạ hồng ân thì thuộc vào hàng ngũ chín người phong vô ân bạc nghĩa.

Khi chúng ta trợ giúp ai đó vài ba lần liên tiếp mà lần nào người nhận cũng quay đi không một tiếng cám ơn, thì chắc chắn lần sau, chúng ta không tiếp tục trợ giúp hạng người đó nữa, vì người vô ơn như thế thì không đáng được trợ giúp. 

Vậy thì khi chúng ta nhận được vô vàn ơn phúc Thiên Chúa ban trong từng phút, từng giây mỗi ngày, mà không biết tạ ơn Thiên Chúa thì chúng ta cũng chẳng xứng đáng để được Ngài ban ơn thêm.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa ban cho chúng con vô vàn hồng ân không thể nào kể xiết. Xin giúp mỗi người chúng con nhận ra hồng ân vô giá Chúa ban và không ngớt dâng lời tạ ơn Chúa với tất cả tấm lòng yêu mến.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Luca 17, 11-19

11 Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi qua biên giới giữa hai miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê.12 Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa13 và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi! “14 Thấy vậy, Đức Giê-su bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch.15 Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.16 Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri.17 Đức Giê-su mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?18 Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này? “.19 Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.”

Tác giả:  Lm Trần Ngà

MẸ ĐẦY ƠN PHÚC

MẸ ĐẦY ƠN PHÚC

 ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Nhờ nhạc phẩm “Ave Maria”, tên tuổi của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert được cả thế giới biết đến.  Tuyệt tác của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.  Nhiều danh ca nhờ bài thánh ca này mà được nổi danh ở tầm mức quốc tế.  Thật tuyệt vời khi thấy Đức Trinh nữ Maria được ca tụng tôn vinh qua bài ca này.  Từ những đại nhạc hội hàng ngàn hàng vạn thính giả, đến những nghệ sĩ violon hát rong ngoài đường phố, tất cả đều ca lên lời chào Đức Trinh nữ Maria: Mẹ đầy ơn phúc.  Từ những tín hữu đạo đức đến những người vô tín ngưỡng, tất cả đều chăm chú cảm nhận những lời ca và âm điệu ngọt ngào của bài thánh ca để tôn vinh Mẹ Chúa Trời.

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin.  Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ.  Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà.”  Qua lời chào kính trọng ấy, thiên sứ tỏ bày sự cung kính trước người phụ nữ được Chúa chọn làm thân mẫu của Ngôi Lời nhập thể.  Khi muốn cứu chuộc con người, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của một người phụ nữ.  Ngài đã chọn Đức Trinh nữ Maria như một “điểm đỗ” để Con của Ngài giáng trần.  Thánh Luca đã diễn tả cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy, là một cuộc gặp gỡ giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa cao cả và con người phàm trần.  Trinh nữ Maria đã thưa lời “Xin vâng” để mở lòng đón nhận Ngôi Lời nhập thể.  Với lời thưa “Xin vâng” của Mẹ, Con Thiên Chúa đã đến thế gian, khởi đầu công cuộc cứu độ loài người.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, trước hết là lời kinh ca ngợi.  Chúng ta hợp lời với sứ thần chào kính và ca tụng thiên chức cao cả của Đức Mẹ.  Mẹ là người được Thiên Chúa chọn lựa trong muôn người, để làm ngai tòa cho Đấng Cứu thế ngự khi đến trần gian, mặc lấy thân phận con người.  Lời Mẹ nói tiên tri về chính mình nay đã được thực hiện: “Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 2,48).  Qua cuộc đời của Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng vô biên của Thiên Chúa, đã thực hiện những việc lạ lùng.  Mẹ được tôn vinh làm Nữ Vương trời đất, cùng với Đức Giêsu là Vua Vũ trụ để chúc phúc cho muôn loài.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của niềm phó thác cậy trông.  Khi lần hạt Mân Côi, chúng ta xin Đức Mẹ cầu bầu cho chúng ta được những ơn lành phần hồn phần xác, nhất là được ơn trung thành như Đức Mẹ.  Lời kinh thấm nhập mỗi con tim, diễn tả tâm tư trìu mến của chúng ta dành cho Mẹ.  Lời kinh đem lại sự ngọt ngào mỗi khi chúng ta âu sầu đau khổ; đem lại hy vọng mỗi khi chúng ta gặp khó khăn thất bại; đem lại niềm vui mỗi khi chúng ta buồn bã; đem lại sức mạnh mỗi khi chúng ta yếu đuối; đem lại sự đỡ nâng mỗi khi chúng ta có nguy cơ gục ngã trên đường đời.  “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, đó là lời cầu nguyện của Giáo Hội, cũng là lời cầu nguyện của mỗi con tim, xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng ta đang còn bước đi trong cuộc sống dương gian đầy gian nan thử thách.  “Kinh Mân côi không những kéo ơn trên trời xuống cho tội nhân, khiến họ mau mắn về với Mẹ, nhưng còn làm cho họ đứng vững trên con đường sùng kính mến yêu Mẹ.  Nơi nào đông người chuyên chăm lần hạt, nơi ấy giáo hữu tiến nhanh trên đường thánh thiện, trái lại nơi nào thờ ơ, giáo hữu sẽ lâm vào tình trạng hư hỏng” (Thánh Grignion de Monfort).

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của tâm tình hiếu thảo chúng ta dâng lên Mẹ Thiên Chúa.  Có người thắc mắc tại sao phải lặp đi lặp lại nhiều lần kinh Kính mừng khi lần hạt Mân Côi.  Điều đó thật dễ hiểu!  Người con hiếu thảo nào cũng muốn nói ngàn lần lời yêu thương với cha mẹ mình mà vẫn chưa đủ.  Ngôn ngữ diễn tả tình yêu giống như dòng sông tuôn chảy mãi không dừng, cũng thế, những lời chào kính Đức Mẹ dù có lặp đi lặp lại là bằng chứng của tình mến chúng ta dành cho Đức Mẹ.  Kinh Mân Côi sẽ giúp khơi nguồn dòng chảy yêu thương từ nơi Đức Mẹ đến với chúng ta.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, mỗi lời kinh là một bước đường đời dẫn ta đến gần Chúa hơn, và giúp chúng ta nên giống Chúa.  Bởi lẽ kinh Kính mừng được đọc trong tâm tình suy niệm, chiêm ngắm những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu thế, từ ngày Truyền tin cho đến khi Người sống lại và lên trời vinh quang.  Mỗi bước đường của chúng ta đều có Đức Mẹ đồng hành.  Mỗi lối đi dương thế đều có Chúa dẫn đưa.  Đó là giá trị của Kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện được chính Đức Mẹ khuyến khích.  Quả vậy, khi hiện ra ở Lộ Đức cũng như ở Fatima, Đức Mẹ đã cùng lần hạt với các thị nhân, trong tình thân thương trìu mến.  Vì thế, tượng Đức Mẹ được trình bày tại hai nơi thánh địa này đều có cỗ tràng hạt nơi tay của Đức Mẹ.  “Hãy siêng năng lần hạt”, đó còn là lệnh truyền của Đức Mẹ khi hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima năm 1917.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, ước chi lời kinh này luôn vang lên nơi môi miệng chúng ta, từ khi sinh ra cho đến lúc lìa đời, nhờ đó, chúng ta luôn được Đức Mẹ phù hộ độ trì.  Nhờ Mẹ và qua Mẹ, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và đạt được sự sống đời đời.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

PHỤNG SỰ CHÚA CHO PHẢI ĐẠO LÀM TÔI

PHỤNG SỰ CHÚA CHO PHẢI ĐẠO LÀM TÔI

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Với trí tưởng tượng phong phú kết hợp với tài nghệ văn chương tuyệt vời, nhà văn Đan-mạch Hans Christian Andersen đã dựng nên một nhân vật rất độc đáo là “Chiếc bóng.”

Ai cũng có chiếc bóng đi theo mình.  Chiếc bóng hoàn toàn lệ thuộc chủ: khi chủ đi, bóng đi theo, khi chủ chạy, bóng chạy; khi chủ dừng, bóng dừng; chủ đi đâu, bóng theo đến đó.

Vậy mà nhân vật “Chiếc Bóng” trong chuyện của Andersen lại tách ra khỏi người chủ của mình vốn là một nhà khoa học, để trở thành một nhân vật độc lập, đòi sống riêng không lệ thuộc chủ, rồi dần dà y dám gọi mày xưng tao với chủ… Một thời gian sau, y lên mặt sai khiến cả chủ của mình, và thật trớ trêu, y tự tôn mình lên làm chủ và bắt chủ phải làm “chiếc bóng” của y và cuối cùng, y lập kế tống giam chủ mình vào ngục và sát hại người chủ ngay trong tù.

Tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng như bóng với hình.  Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người và mọi người hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa, nhờ Chúa con người mới tồn tại được.  Chúa là Chủ, con người là tôi tớ.  Chúa là Hình, con người là bóng.  Vậy mà nực cười thay, một số người lại làm như nhân vật “Chiếc Bóng” trong tác phẩm của Andersen.  Họ đòi quyền làm chủ và bắt Thiên Chúa lệ thuộc họ.  Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những đòi hỏi của họ mà không nghĩ rằng họ phải đáp ứng những đòi hỏi của Thiên Chúa trước đã.

Chẳng hạn khi yếu đau, người ta yêu cầu Chúa chữa họ cho lành.  Khi túng thiếu, người ta đòi hỏi Chúa cho no đủ.  Khi gặp thất bại trong cuộc đời, người ta yêu cầu Chúa đem lại sự thành công…  Nếu Chúa không mau mắn làm theo yêu cầu, người ta sẽ trách móc Chúa, oán ghét Chúa, loại trừ Chúa ra khỏi đời mình!

Vì yêu thương loài người, Thiên Chúa sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu chính đáng của họ, nhưng không phải vì thế mà con người có quyền đòi Thiên Chúa phải luôn luôn phục vụ mình mà quên rằng mình là người tôi tớ của Thiên Chúa nên phải lo phụng sự và thực hiện ý Chúa trước đã.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta trở về lại đúng vị trí của mình, vị trí của người tôi tớ, và nhiệm vụ của người tôi tớ là lo phục dịch hầu hạ chủ mình mà không được kể lể công lao.

Chúa nói: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau?  Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?

Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”

Hai vị tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa 

Một trong những nét đẹp của Mẹ Maria là Mẹ biết nhìn nhận mình là tôi tớ Thiên Chúa nên sẵn sàng vâng lệnh Chúa truyền.  Khi được sứ thần Gáp-ri-en cho biết Thiên Chúa muốn trao cho Mẹ một sứ mạng thật cao cả nhưng cũng đầy khó khăn, Mẹ sẵn sàng vâng phục vì ý thức mình chỉ là tớ nữ hèn mọn của Thiên Chúa.  Mẹ thưa với sứ thần: “Nầy tôi là tớ nữ của Chúa.  Tôi xin vâng như lời Chúa truyền.” Vì thế, Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa và được Thiên Chúa nâng lên địa vị tối cao.

Ngay cả Chúa Giêsu, “vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa Cha, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ… Người lại còn hạ mình vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự…” (Philip 2, 6-8).

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa là Thiên Chúa quyền năng mà còn hạ mình làm tôi tớ, vâng phục Chúa Cha trong mọi sự cho dù phải chết trên thập giá và Đức Maria là hiền mẫu của Chúa, dù được diễm phúc làm Mẹ của Chúa, mà vẫn sẵn sàng phụng sự Thiên Chúa Cha như nữ tỳ khiêm tốn, thì xin cho chúng con là người phàm hèn mọn, luôn biết nhìn nhận mình chỉ là tôi tớ thấp hèn của Thiên Chúa và hết lòng phụng sự Chúa cho phải đạo làm tôi.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

From: Langthangchieutim

CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICHAEL, GABRIEL, RAPHAEL 

CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICHAEL, GABRIEL, RAPHAEL 

 Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng dựng nên muôn vật hữu hình cùng vô hình.  Các thụ tạo vô hình ở đây chính là chư vị thiên thần.  Chư vị này sống gần bên Thiên Chúa để phục vụ Ngài và nhân loại.  Hơn nữa, các thiên thần là những người đã phục vụ Đức Giêsu Kitô, từ khi Ngài chào đời đến khi Ngài quang lâm.

Sứ thần Gabrien được Thiên Chúa sai đến với trinh nữ Maria để loan báo về sự hạ sinh của Đấng Cứu Độ (Lc 1, 26).  Ta nghe tiếng ngợi khen của muôn vàn thiên binh cùng với sứ thần trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh trên trái đất (Lc 2, 13).  Ta cũng thấy các thiên thần hiện ra để phục vụ Đức Giêsu (Mt 4, 11), sau khi Ngài chiến thắng những cám dỗ của quỷ dữ nơi hoang địa.  Khi Đức Giêsu bị xao xuyến trước cái chết sắp đến, một thiên thần từ trời đã đến tăng sức cho Ngài (Lc 22, 43).  Ngài đã không tránh né cái chết bằng cách xin Cha cấp cho mình mười hai đạo binh thiên thần (Mt 26, 53).

Tin Vui Phục sinh được loan báo bởi các thiên thần từ mộ trống (Lc 24, 6).  Vào ngày tận thế, các thiên thần của Đức Giêsu sẽ đi theo Ngài khi Ngài trở lại trong vinh quang để phán xét cả thế giới (Mt 16, 27).  Đức Giêsu nay ngự bên hữu Thiên Chúa trên trời, trổi vượt trên các thiên thần và được các thiên thần thờ lạy (Dt 1, 4. 6).

Câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay cũng nói đến tương quan giữa Đức Giêsu và các thiên thần.  Trong lần gặp gỡ với Nathanaen và các bạn của ông Đức Giêsu đã long trọng hứa là họ sẽ thấy trời rộng mở, và “các thiên thần lên lên xuống xuống trên Con Người” (c. 51).

Trong một giấc mộng, Giacóp đã chiêm bao thấy “một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, trên đó có các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống” (St 28, 12).

Đức Giêsu nhận mình chính là chiếc thang đó, là Đấng Trung Gian nối đất với trời, nối Thiên Chúa với nhân loại.  Các thiên thần cũng phải qua Ngài mà đến phục vụ con người.  Các thiên thần cũng là những đấng trung gian được sai đi, nhưng họ phải qua Đấng Trung Gian duy nhất và đích thực, vì Đấng đó vừa trọn vẹn là người, vừa trọn vẹn là Thiên Chúa.

Lên lên xuống xuống trên thang Giêsu là việc của các thiên thần.  Lên với Thiên Chúa để dâng cho Ngài nỗi thống khổ của nhân loại.  Xuống với nhân loại để mang cho họ ân lộc và sứ điệp từ trời.  Thiên thần vừa gần với con người, vừa gần với Thiên Chúa, vừa tựa trên đất, vừa đụng tới trời, nên kéo trời xuống đất và đưa đất lên trời.

Xin được quyền năng của Sứ thần Micae: Ai bằng Thiên Chúa.
Xin được sức mạnh của Sứ thần Gabrien: Thiên Chúa hùng dũng.
Xin được ơn lành mạnh của Sứ thần Raphaen: Thiên Chúa chữa lành.
Kitô hữu là người hạnh phúc vì biết mình được nâng đỡ chở che.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

**************************************

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng con tôn thờ, xin giúp con quên mình hoàn toàn để ở lại trong Chúa, lặng lẽ và an bình như thể hồn con đã sống trong vĩnh cửu.  Lạy Đấng thường hằng bất biến, mong sao không gì có thể khuấy động sự bình an của con, hay làm cho con ra khỏi Chúa; nhưng ước chi mỗi phút lại đưa con tiến xa hơn vào chiều sâu của mầu nhiệm Chúa!  Xin làm cho hồn con bình an thanh thản, xin biến hồn con thành chốn trời cao, thành nơi cư ngụ dấu yêu của Chúa, nơi Chúa nghỉ ngơi. 
Ước chi con không bao giờ để Chúa ở đó một mình nhưng con luôn có mặt, với trọn cả con người, với thái độ nhạy bén trong đức tin, cung kính tôn thờ và phó mình cho Chúa sáng tạo. 

Lời nguyện của chân phước Elisabeth de Trinité

From: Langthangchieutim

HỐ NGĂN CÁCH GIẦU NGHÈO 

HỐ NGĂN CÁCH GIẦU NGHÈO 

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Chương 16 câu 26 của Tin Mừng Lu-ca khảng định: có một cái hố ngăn cách “Giữa chúng ta đây và các anh có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các anh cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được.”  Một trong các mục tiêu của dụ ngôn “ông phú hộ sang giầu và tên La-da-rô nghèo khổ” là: cho thấy cái hố này sâu tới mức nào.  Cái hố ngăn cách giầu nghèo được đề cập tới trong câu truyện dụ ngôn này không thể được hiểu theo định hướng kinh tế xã hội, cách mạng chính trị, ý thức hệ, thậm chí theo nội dung luân lý đạo đức.  Ở đây liên tục với nội dung trước đó của chương 16, Lu-ca muốn diễn đạt ý nghĩa Tin Mừng là điều duy nhất Đức Giêsu muốn rao giảng.

Khác hẳn với luật lệ của Cựu Ước nặng tính luân lý và đạo đức, trong đó quan trọng nhất là việc trung thành giữ luật, thì theo Tin Mừng Tân Ước, mạc khải tình yêu nhân hậu tha thứ của Thiên Chúa mới là điều quan trọng nhất cần phải là được đón nhận.  Theo Cựu Ước, thiên đàng – hỏa ngục là phần thưởng – hình phạt dành cho người tốt / kẻ xấu, người trung thành giữ luật / kẻ bất trung phá luật, người đạo đức / kẻ khô khan, người thánh thiện / phường tội lỗi.  Còn theo Tân Ước, được vào Nước Trời là được hưởng trọn tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa từ nhân (“La-da-rô trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham” là một điển hình), sẽ dành cho những ai đã từng biết đón nhận khi còn sống; còn bị loại ra khỏi Vương Quốc tình yêu đó (bị cực hình, bị lửa thiêu đốt) là số phận của những ai khi sống đã từ chối đón nhận tình yêu tha thứ này.  Khi Đức Giêsu tuyên bố: “phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của anh em… khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6:20.25) chắc hẳn Người đang công bố nội dung Tin Mừng này.

Như vậy, cái vực thẳm lớn vĩnh viễn ngăn cách việc tiếp nhận hay khước từ Tin Mừng cứu độ chỉ có thể xuất hiện sau khi chết; “người nghèo này chết…  ông nhà giầu cũng chết”; thế nhưng, ngay từ cuộc sống trần thế, nó đã khởi sự được hình thành; “người nghèo khó… nằm trước cổng ông nhà giầu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no.”  Cái hố ngăn cách của tiếp nhận hay chối từ Tin Mừng cứu độ được hình thành và phát triển dựa vào định hướng trái chiều giữa giầu và nghèo trong nội dung Tin Mừng.  Đó là lý do khiến Đức Giêsu nhiều lần lên tiếng cảnh giác sự giầu sang đồng thời tôn vinh nghèo khó, Người hoàn toàn trung thành với viễn cảnh đón nhận Vương Quốc tình yêu cứu độ.

Trong dụ ngôn, nếu ông nhà giầu chỉ “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”, thì đâu ông có làm gì nên tội để đáng bị cực hình thiêu đốt; cũng vậy, nếu La-da-rô chỉ “nghèo khó… mụn nhọt đầy mình…” thì đâu có làm nên công trạng gì để đáng được “thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham.”   Chi tiết mô tả ông nhà giầu gợi ta nhớ đến cái cảnh “được no nê” thỏa mãn đâu cần được ai thương xót; còn người nghèo khó “thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống… chó đến liếm ghẻ chốc” chính là thái độ mong đợi, cầu xin được xót thương.  Đối với Tin Mừng, giá trị đích thực của giầu nghèo là ở chỗ đó: sống giầu dễ đưa tới tự mãn để không cần tới lòng xót thương (khốn cho), còn sống nghèo tạo điều kiện tự nhiên để mở ra đón nhận lòng thương xót (phúc thay).  Nếu cứ tiếp tục “sống giầu” như thế (trường hợp ông nhà giầu), và nếu cứ tiếp tục “sống nghèo” như thế (trường hợp La-da-rô) thì việc bị loại khỏi hay được đón nhận vĩnh viễn vào Nước Trời sau khi chết sẽ chỉ là chuyện đương nhiên.  Lúc đó cái hố ngăn cách giầu nghèo sẽ không còn gì có thể lấp đầy được (vẫn theo nghĩa Tin Mừng); “vực thẳm lớn đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.”

Giầu – nghèo, trong học thuyết Tin Mừng của Đức Giêsu, chỉ là hoàn cảnh / điều kiện nghịch hay thuận để đón lấy Nước Trời cứu độ; do đó “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”  Đức Giêsu sống thân phận nghèo khó như “con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có lấy hòn đá gối đầu” là để Người rộng mở hoàn toàn cho Vương quốc của Cha.  Và Người kêu gọi bất cứ ai muốn theo Người cũng hãy “bán đi hết những gì mình có và bố thí cho kẻ khó…” để có điều kiện thuận lợi mở tâm hồn đón nhận lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa.  Ki-tô hữu, vì là người của Tin Mừng, phải luôn cảnh giác với cuộc sống giầu sang vì mối nguy cơ nó tiềm ẩn, nhưng phải vui mừng ôm ấp sự nghèo hèn đói khát chính vì thuận lợi Tin Mừng nó cống hiến.  Nếu họ có giầu, thì chí ít họ cũng biết nhận ra “con đã nhận được phần phước của con”, tức là hồng ân của lòng từ bi Chúa, để biết khiêm tốn tạ ơn; còn nếu nghèo khổ “suốt một đời chịu toàn những bất hạnh… thì được an ủi nơi đây”, để vui mừng và hy vọng.

Đó chính là Tin Mừng đích thực đang được rao giảng cho những người nghèo khó!

Lạy Thiên Chúa là Cha!  Đức Giêsu đã dạy chúng con cầu nguyện cùng Cha.  Những điều con cầu xin Cha có thể là vô vàn và rất khác nhau vì con có quá nhiều nhu cầu cả về phần xác lẫn phần hồn, tuy nhiên con biết rất rõ: điều chính yếu trong cầu nguyện chính là tư thế khó nghèo của con.  Xin Cha nhận lời cầu nguyện của con, không phải để thỏa mãn những điều con xin, nhưng là chấp nhận thân phận đớn hèn con mong hướng về Cha.  Và xin Cha gìn giữ con luôn mãi trong sự nghèo hèn của mình để không ngừng hướng lòng con về tình nhân ái Cha.  Amen.

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

From: Langthangchieutim

NỤ HÔN NỒNG NÀN TÌNH THƯƠNG XÓT

NỤ HÔN NỒNG NÀN TÌNH THƯƠNG XÓT

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Hôm qua có dịp ra phố ghé ngang một sạp báo, tôi tình cờ nghe từ quán cà phê đối diện vẳng ra một giọng hát trong trẻo: “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau.”  Bài hát đã nghe dăm lần bảy lượt qua các phương tiện truyền thông, có chăng chỉ là một cảm nhận về mùa xuân hạnh phúc, thế mà chiều nay bỗng thấy nôn nao khác lạ.  Đó không phải là thứ nôn nao của kẻ độc thân bất chợt thấy mùa xuân bên cửa sổ, rồi tự nhiên tủi về phận mình như Michel Quoist đã ghi trong cuốn sách của ông; cũng chẳng phải thứ nôn nao của những kẻ trên đường phố đang hối hả về nhà dịp nghỉ cuối tuần.  Thứ nôn nao rất lạ mà cũng rất đỗi thân quen.

Đang còn vẩn vơ với cái nôn nao ấy thì cô chủ sạp đã trao cho tôi tờ báo và vui miệng cô hát theo: “Thành phố ơi hãy im lặng cho hai người hôn nhau.”

Tới lúc này, tôi mới vỡ lẽ.  Thì ra mình nôn nao là vì cái nụ hôn.  Không phải của “anh lính về thăm phố với cô gái vào ca ba” như bài hát kể, mà là cái nụ hôn của một người cha dành cho đứa con hoang đàng trở về của bài Phúc Âm.  Giai điệu ấy, nụ hôn ấy quyện lấy nhau và tự nhiêm ngấm vào người tôi trở thành một thứ nôn nao, để hôm nay, xin được trang trải với cộng đoàn như suy nghĩ về trang Tin Mừng.  Đó là nụ hôn của lòng thương xót.

  1. Nụ hôn ấy vượt trên lý lẽ của sự công bình.

Nếu để ý, người ta thấy nếp nghĩ của những người con trong dụ ngôn Tin Mừng là nếp nghĩ vượt trên lẽ công bình.  Làm sao người con thứ dám xin cha mình chia gia tài mà anh gọi là “thuộc về anh” trong khi cha mình sờ sờ còn sống?  Làm sao người con cả lại vùng vằng làm mày làm mặt với cha khi cả đời hầu hạ mà chẳng có lương?  Sẽ là hỗn nếu dựa trên cái tình, nhưng cũng có thể quan niệm được nếu dựa vào cái lý.  Chính nhân danh sự công bình đương nhiên nào đó mà tư cách của hai người con trong dụ ngôn đã được hình thành.

Nhất là việc người con thứ trở về.  Sau những ngày phung phá đến bước đường cùng, đến độ khánh kiệt gia tài, cạn kiệt sức khỏe, anh vẫn còn đủ tỉnh táo để hạch toán nẻo lối tìm về.  Bởi vì dựa trên công bình, anh đã đốt cháy quyền làm con nên không thể được gọi là con nữa.  Bởi vì dựa trên công bình, anh đã tự ý bỏ nhà ra đi ôm theo sản nghiệp nên muốn tìm về phải được cha chấp nhận.  Bởi vì dựa trên công bình, anh chỉ dám coi mình như “người cần việc” tìm đến “việc cần người.”  Nếu anh có gặp cảnh then cài khóa ổ xua đuổi chối từ có lẽ anh cũng phải công bình mà chấp nhận.

Lẽ công bình khó khăn là như thế nhưng nụ hôn của người cha đã hóa giải tất cả.  Nó vượt qua giới hạn của lẽ công bình để rạng rỡ là một nụ hôn của lòng thương xót.  Người cha tha thứ hết.  Không khóa trái đời sống người con thứ vào quá khứ tội lỗi, không niêm phong nhịp đời của anh vào bước đường phóng đãng, nhưng phục hồi quyền làm con như thuở ban đầu.  Người ta không biết ở đâu lẽ công bình dừng lại và ở đâu lòng thương xót khởi đầu, nhưng chỉ biết rằng, bằng nụ hôn ấy sự tha thứ đã vượt lên chiếm lĩnh tiếng nói của lẽ công bình để trở nên nụ hôn của lòng thương xót.

  1. Nụ hôn ấy vượt trên khuôn khổ của nền giáo dục.

Vẫn biết rằng khuôn khổ của tình yêu là một tình yêu không theo một khuôn khổ nào, nhất là tình ấy lại là tình cha, lại là lòng mẹ, cùng lắm chỉ dám ví von như núi cao biển rộng, tựa lai láng của dòng sông và mênh mông của đồng lúa.  Nhưng trong trọng trách giáo dục, người ta cũng phải mặc nhiên chấp nhận một thứ khuôn khổ nào đó.  Chả thế mà ca dao Việt Nam bảo: “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”  Yêu con không phải là nuông chiều theo ý của con, nhưng là biết cách cho con roi vọt giáo hóa, và ghét con đâu phải chỉ là hằn học mắng la mà nhiều khi lại là những ngọt ngào ghẻ lạnh của một tình thương vắng bóng.

Một trong những châm ngôn nổi tiếng trong bổn phận giáo dục con cái là câu: “Nếu hôm nay không muốn con khóc vì được dạy dỗ, thì coi chừng sẽ phải khóc vì con hư đốn mai ngày.”  Như trường hợp nóng hổi thời sự tại phiên tòa, khi người cha nghe con mình, một thành viên trong băng cướp “quý tử”, bị kết án chung thân đã nhỏ lệ thốt lên: “Tôi đã thiếu trách nhiệm làm cha.”  Cũng là tình phụ tử, nhưng quá muộn màng.

Tình phụ tử cũng cần theo một khuôn khổ nào đó.  Nhưng tình phụ tử trong dụ ngôn đã vượt lên tất cả.  Không có một lời trách móc, không có một lời răn đe, cũng chẳng có hình phạt để mà nhớ đời.  Chỉ có nụ hôn như một minh chứng: Với bản lĩnh của lòng thương xót, người ta vẫn có thể đi xa hơn để yêu con đích thực bằng cách cho ngọt cho ngào.

  1. Nụ hôn ấy không dừng lại nơi cá nhân mà còn lây lan đến cả cộng đoàn.

Đây chính là đỉnh cao của trang Tin Mừng.  Nó mở ra một nhãn giới mới lạ.  Nơi nụ hôn ấy là rạng rỡ lên hình ảnh của một Người Cha: chung cho người con cả và người con thứ, chung cho dân Do Thái và Dân Ngoại, chung cho cả người đã biết Chúa hay chưa biết Chúa.  Nếu “cha chung không ai khóc” theo lẽ thường tình, thì ở đây lại khác, Cha chung này không cần đến tiếng khóc của ai, nhưng lại sẵn sàng cúi xuống với bất cứ tiếng khóc sám hối nào để ban tặng nụ hôn ntha thứ nồng nàn xót thương.  Người Cha chung ấy yêu thương hết mọi người và chẳng bao giờ bỏ quên những trường hợp tội lỗi đáng thưong và bởi đáng thương nên Ngài cũng thương cho đáng với tấm lòng không vơi cạn của mình.

Qua nụ hôn đầu ngõ, Người Cha ấy biến nỗi buồn sám hối trở thành niềm vui tha thứ.  Ngài ban ơn rộng rãi cho những kẻ tìm về với Ngài, rồi nhanh chóng gửi họ về lại gia đình cộng đoàn xã hội trong một nhịp sống mới nồng nàn tình xót thương, để những kẻ được ơn tha thứ hiểu rằng, từ nụ hôn ấy, họ phải minh chứng bằng cả cuộc đời biết phát triển ơn tha thứ, và cũng biết dìu đưa những kẻ còn sa chìm về với lẽ xót thương.  Đó là niềm vui của lòng thương xót, không dừng lại nhưng triển nở sinh sôi, không khép kín cá nhân nhưng mở ra cho hết mọi người.

Tóm lại, ba lý do: vượt trên lẽ công bình, vượt trên nền giáo dục và vượt trên đời sống cá nhân khiến nụ hôn cha – con là nụ hôn của lòng thương xót.  Dẫu có kinh nghiệm về nụ hôn như phần lớn cộng đoàn hay chưa có kinh nghiệm ấy như một số bạn nhỏ, thiết tưởng nụ hôn xót thương của Tin Mừng cũng đọng lại trong ta một thứ nôn nao lạ lạ quen quen.

Khi thấy quen quen, là khi ta đồng hóa mình với người con phung phá tìm về và được tha thứ, trong lời kinh, trong Thánh Lễ, nơi tòa Giải Tội.  Tất cả đều là những nụ hôn thương xót.  Khi thấy là lạ, là khi ta chợt nhận ra vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong ta một anh con cả vùng vằng: Chúa đã đối xử với ta bằng tình thương xót còn ta chỉ đối xử với Chúa theo sự công bình, ta không đi hoang lang thang xa đạo, nhưng cách sống của ta biết đâu còn tệ hơn cả chối Chúa công khai.

Và khi thấy chen lẫn quen quen lạ lạ ấy chính là khởi đầu cho một quyết định: bởi tôi đã nhận được ơn tha thứ của Chúa, tới phiên tôi phải sống ơn tha thứ bằng cách bỏ qua lỗi lầm cho anh em; tôi đã nhận lòng xót thương của Chúa, tôi phải phát triển lòng thương xót ấy qua cách sống tốt lành của mình.  Hãy quên đi những phần đời không đáng nhớ khi anh em có lỗi với mình, và hãy nhớ lấy những phần đời không thể quên khi mình đã được Thiên Chúa tha thứ xót thương.

Làm được như thế cũng là lúc ta có thể hát lên: “Thành phố ơi, hãy im lặng cho mọi người hôn nhau.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

 From: Langthangchieutim

GIỜ HẤP HỐI LÀ GIÂY PHÚT ĐÁNG SỢ NHẤT

Image may contain: 6 people, indoor
Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

GIỜ HẤP HỐI LÀ GIÂY PHÚT ĐÁNG SỢ NHẤT

Tôi vừa nghe một người bạn kể về cái chết của một người quen như sau:

“Anh Joe trước đây là một người ngoan đạo rồi không hiểu vì một lý do nào mà anh trở nên khô khan và không còn giữ đạo nữa.

Rồi anh bị bịnh ung thư. Từ khi tìm ra cơn bịnh đến lúc chết chỉ khoảng 10 tháng mà thôi. Có một lần anh hấp hối và lúc đó có một nhóm cầu nguyện đang đọc kinh cầu nguyện cho anh. Bỗng dưng anh chồm dậy và hét lớn:

– “Thôi, đừng cầu nguyện nữa !”

Mọi người hoảng hốt im bặt và không ai dám cất tiếng cầu nguyện cho anh. Sau một hồi lâu, anh tỉnh lại và tỏ ra vui vẻ. Anh sống mạnh khoẻ thêm một tháng nữa, vừa đủ để anh có dịp ăn năn và thống hối về những tội lỗi của mình.

Sau đó, anh kể lại cảm nghiệm như sau:

– ‘Lúc mọi người đọc kinh cầu nguyện cho tôi thì có một bầy ma quỷ đến lôi kéo tôi. Chúng đã kéo được linh hồn tôi ra khỏi xác. Rồi một con quỷ nhẩy vào xác tôi và ra lệnh cho nhóm cầu nguyện không được cầu nguyện nữa. Trong lúc đó, linh hồn tôi quá hoảng sợ nên tôi run rẩy và liên lỷ cầu nguyện với Chúa Giêsu rằng:

“Lạy Chúa Giêsu KiTô, xin thương xót con !”

Một hồi sau thì tự nhiên ma quỷ rút lui hết và Chúa Giêsu hiện ra mỉm cười với tôi. Linh hồn tôi cảm thấy quá sức vui mừng và bình an. Cảnh tượng trở nên bình an và êm đềm. Và Chúa cho tôi được sống lại.’

Khi tỉnh dậy sau cái chết, anh Joe xin được xưng tội liên tục trong ba lần. Lúc ấy anh cứ nghĩ rằng mình quá tội lỗi nên không dám rước Chúa Giêsu Thánh Thể. Rồi anh hấp hối trở lại. Gia đình anh và nhất là người cha của anh vì quá thương con nên muốn níu kéo, cầu nguyện cho anh được chữa lành. Một hôm anh Joe năn nỉ cha anh rằng:

– “Ba ơi, xin ba cho phép con ra đi vì con quá đau đớn lúc này, mà khi con chết thì con được về với Chúa Giêsu và được hạnh phúc. Xin ba cho con được ra đi bình an !”

Ba anh thương con nên đành chấp nhận cho con được chết. Ngay sau đó, anh nhắm mắt lìa đời cách bình an. Sau khi chết, anh trở về với vợ và báo cho chị biết là anh đang ở một nơi hạnh phúc và sáng láng.”

Thế mới biết trong giờ lâm tử, người hấp hối rất cần những lời cầu nguyện chân thành của gia đình và bạn hữu. Nếu lúc đó, chính người bịnh mà bảo mọi người không được cầu nguyện thì đó là lời của ma quỷ nhập vào nói chứ không phải là lời của bịnh nhân. Vậy chúng ta cần cảnh giác để cứu giúp những người hấp hối.

ĐÂU LÀ NHÀ?

ĐÂU LÀ NHÀ?

Trong nhiều năm tôi là Bề trên Tỉnh dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở miền Tây Canada, tôi cố gắng giữ một chân trong thế giới giảng dạy, tôi dạy lớp tối môn dẫn nhập vào thần học Kitô giáo ở Đại học Saskatchewan mỗi tuần một lần và đã thu hút được nhiều sinh viên.

Một trong các bài đọc được chỉ định cho lớp này là quyển sách Chỉ có trái tim biết cách tìm ra: Ký ức quý giá cho giai đoạn yếu đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them: Precious Memories for a Faithless Time) của giáo sư văn sĩ Christopher de Vinck.  Quyển sách là một loạt các bài tự truyện tập trung phần lớn về gia đình và các quan hệ với vợ con của ông.  Các bài viết mô tả tương quan giữa ông với vợ không thiếu phần lãng mạn mà còn rất khích lệ, ông đặt tình dục vào bối cảnh hôn nhân, an toàn và chung thủy.

Vào cuối học kỳ, một cô khoảng 30 tuổi đến nạp bài tiểu luận cho tôi, cô nói: “Đây là quyển sách hay nhất tôi chưa từng đọc.  Trước đây tôi không có nhiều định hướng về đạo đức vì vậy tôi không chú tâm đến tâm hồn, tôi phóng khoáng về tình dục và sống theo hiện sinh.  Tóm tắt, cơ bản tôi đã ngủ ở hai đầu bang Canada; nhưng bây giờ tôi biết tôi thực sự muốn gì, điều mà con người của tác giả có được.  Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!”  Đôi mắt cô rưng rưng khi cô chia sẻ điều này.

Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!  Đó là hình ảnh rất đẹp cho cái mà quả tim gọi là nhà.

Xét cho cùng, nhà là gì? Có phải đó là bản sắc dân tộc, giới tính, quyền công dân, một ngôi nhà đâu đó, nơi chúng ta sinh ra hay đó là một chỗ trong quả tim?

Đó là một chỗ trong quả tim và chiếc giường hôn nhân mô tả đúng.  Nhà là nơi mà mình cảm thấy thoải mái về mặt thể chất, tâm lý và đạo đức.  Nhà là nơi chúng ta cảm thấy an toàn.  Nhà là nơi trái tim chúng ta không cảm thấy lạc lõng, bị xâm phạm, bị ức hiếp, bị chê bai, bị coi thường, bị ở bên lề (dù đôi khi điều này xem như một chuyện hiển nhiên).  Nhà là nơi mà mình không cần phải đi mới cảm thấy là mình. N hà là nơi mình trọn vẹn là mình mà không cần phải giải thích mình như thế nào.  Bạn cứ xem như bạn đang ở nhà bạn là câu nói chào mừng ‘xin bạn cứ tự nhiên’.

Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà, người phụ nữ trẻ này ý thức được nhiều bài học, cô làm cho chúng ta hiểu quan điểm của chúng ta về tình yêu, về tình dục quý như thế nào.  Một trong các vấn đề trong chuyện này là hình ảnh phổ biến của một hoài niệm đi tìm tâm hồn tri kỷ.  Vấn đề ở đây thường do chúng ta nghĩ tâm hồn tri kỷ theo nghĩa rất lãng mạn.  Nhưng, theo quyển sách của tác giả De Vinck, tìm tâm hồn tâm giao có liên quan đến việc đi tìm bình tâm về mặt đạo đức và an toàn tâm lý, hơn là đi tìm chiếc giường hôn nhân một vợ một chồng như trong các tiểu thuyết lãng mạn.  Còn về khả năng tình dục của chúng ta, điều ẩn sâu nhất bên trong khao khát tình ái là chúng ta mong muốn tìm được ai đó để đưa về nhà.  Mọi tình dục mà từ đó bạn mang về nhà luôn là cái gì đó không mang lại điều bạn mong muốn nhất và, càng tốt nếu nó là loại thuốc bổ tạm thời làm cho bạn vẫn đi tìm một cái gì đó càng lúc càng thực tế hơn.

Cụm từ “Tôi đi tìm chiếc giường hôn nhân” cũng hàm chứa một vài yếu tố giúp chúng ta hiểu hơn các thể loại khác nhau của tình yêu, mê đắm và các cuốn hút kéo chúng ta rơi vào.  Chung chung bản chất của phần lớn con người là lăng nhăng, có nghĩa là chúng ta có các trải nghiệm thu hút, mê đắm, yêu đương mãnh liệt đối với người khác, bất kể việc chúng ta bị thu hút ở người khác không cùng một chuyện như ở nhà.  Chúng ta có thể yêu nhiều loại người khác nhau, nhưng tình yêu nào mới là tình yêu cho hôn nhân, cho một mái nhà?  Hôn nhân và nhà được xây dựng trên một loại tình yêu đưa chúng ta về nhà, trên loại tình yêu mang lại cho chúng ta cảm nhận với người này, mình có thể mang về nhà và xây dựng một căn nhà.

Và, rõ ràng, khái niệm này không chỉ áp dụng cho một người chồng, một người vợ trong hôn nhân.  Nó là hình ảnh cho những gì xây dựng lên căn nhà – cho tất cả mọi người, lập gia đình hay độc thân đều như nhau.  Chiếc giường hôn nhân là ẩn dụ cho cái được đặt vào trọng tâm luân lý và tâm lý để có được thoải mái.

Thi sĩ T.S. Eliot đã viết: Nhà là nơi chúng ta bắt đầu.  Nó cũng là nơi chúng ta muốn kết thúc.  Khi sinh ra cha mẹ mang chúng ta về nhà.  Đó là nơi chúng ta bắt đầu và cũng là nơi chúng ta thoải mái cho đến tuổi dậy thì buộc chúng ta phải đi tìm một mái ấm khác.  Rất nhiều cạm bẫy có thể chờ đợi chúng ta trong cuộc tìm kiếm đó, nhưng nếu chúng ta lắng nghe lời khuyên sâu sắc tự bên trong tâm hồn mình, thì nỗi khao khát về nhà không kềm được này cũng giống như ‘ba vua’ theo ngôi sao đặc biệt tìm về máng cỏ và chúng ta sẽ tìm được chiếc giường hôn nhân, hay ít nhất chúng ta sẽ không tìm nó ở nơi không đúng chỗ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

CÂY THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TÙ

Tự hào là con Thiên Chúa

 Bạn có biết

Về cây Thánh Giá của ĐHY Thuận đeo trên mình. Đây là lời bộc bạch của chính ngài.

CÂY THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TÙ

Trong cuộc đời tôi, có những lúc chính hoàn cảnh thực tế đã giúp soi sáng tôi khi nghĩ tới nhiệm vụ lớn lao làm chứng tá cho Chúa Kitô.

Trong thời gian bị biệt giam, tôi được giao cho 5 người canh gác. Họ thay phiên nhau luôn luôn có hai người ở với tôi. Các cấp chỉ huy nói với họ: “Cứ mỗi hai tuần chúng tôi sẽ thay thế các anh bằng một nhóm khác, để các anh không bị : tiêm nhiễm bởi ông Giám mục nguy hiểm này.”

Sau một thời gian, chính họ lại đổi quyết định:“Chúng tôi sẽ không thay đổi các anh nữa, bởi nếu không thì ông giám mục đó sẽ tiêm nhiễm tất cả công an của chúng ta.”

Ban đầu công an canh gác không nói chuyện với tôi. Họ chỉ trả lời có hay là không.

Thật là buồn, tôi muốn tử tế và nhã nhặn với họ mà không được. Họ tránh nói chuyện với tôi.

Đêm nọ, một tư tưởng đến với tôi: “Phanxicô, con còn giầu lắm, con còn tình yêu Chúa Kitô trong tim, hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu thương con.”

Ngày hôm sau tôi bắt đầu yêu Chúa Giêsu nơi họ hơn nữa, bằng cách cười nói trao đổi với họ vài câu thân tình. Tôi bắt đầu kể cho họ nghe về những chuyến đi ngoại quốc của tôi, cho họ biết các dân tộc tại Mỹ, tại Nhật Bản, tại Phi luật Tân…sống như thế nào, và nói với họ về kinh tế, về sự tự do, về kỹ thuật.

Tôi đã kích thích tính tò mò của họ và đưa họ tới chỗ đặt rất nhiều câu hỏi. Dần dần chúng tôi trở thành bạn với nhau. Họ muốn học tiếng ngoại quốc: tiếng Pháp, tiếng Anh…và như thế những người canh tù trở thành học trò của tôi.

Một lần khác, trong trại tù Vinh Quang, trên núi Vĩnh Phú, vào một ngày mưa, tôi phải bổ củi. Tôi hỏi người canh tù:

– Tôi có thể xin anh một điều được không?

Anh cứ nói, tôi sẽ giúp anh.

– Tôi muốn đẽo một hình Thánh giá bằng gỗ.

Anh không biết rằng ở đây cấm ngặt không được phép có bất cứ vật gì mang dấu chỉ tôn giáo hay sao?

– Tôi biết chứ, nhưng chúng ta là bạn với nhau, và tôi hứa là sẽ giữ kín.

– Sẽ rất nguy hiểm cho cả hai chúng ta.

– Anh nhắm mắt làm ngơ đi, tôi sẽ làm ngay bây giờ và hết sức cẩn thận.

Anh ta lỉnh ra xa và để tôi một mình. Tôi đã đẽo miếng gỗ hình Thánh gía và đã giấu trong một mảnh xà phòng cho tới ngày được trả tự do, rồi với một lớp kim loại mỏng bọc bên ngoài. Thánh gía đó đã trở thành Thánh giá Giám mục của tôi.

Trong một trại tù khác, tôi đã xin với một người bạn canh tù khác một sợi dây điện. Anh ta hoảng hồn nói với tôi:

– Tôi đã học ở đại học an ninh rằng, nếu một mgười xin dây điện có nghĩa là họ muốn tự tử.

Tôi giải thích cho anh ta:

– Các linh mục Công giáo không được tự tử.

– Nhưng anh làm gì với sợi dây điện đó?

– Tôi muốn làm một dây xích nhỏ để đeo Thánh Gía.

– Làm sao mà có thể làm một dây đeo với sợi dây điện được? Không thể làm được.

– Nếu anh đem cho tôi hai cái kìm nhỏ, tôi sẽ chỉ cho anh thấy.

-Nguy hiểm lắm.

Nhưng mà mình là Bạn với nhau mà.

Ba ngày sau anh ta nói với tôi: “Thật khó mà từ chối anh điều gì. Tối mai khi tới phiên tôi gác, tôi sẽ đem đến cho anh một sợi dây điện. Phải làm xong trong vòng ba giờ đồng hồ.”

Chiều hôm sau từ 7.00 giờ cho tới 11.00 giờ, cẩn thận không để cho ai trông thấy, với hai cái kìm nhỏ chúng tôi đã cắt sợi dây điện thành từng đoạn ngắn khoảng một que diêm và chúng tôi uốn cong chúng để kết lại với nhau. Và ba giờ sau, trước khi đổi phiên canh, sợi dây đeo đã thành hình.

Sợi dây và cây Thánh Giá này tôi luôn đeo mỗi ngày, không phải bởi vì chúng là kỷ niệm của thời gian ở tù, nhưng vì chúng giúp tôi thấy xác tín sâu xa lời luôn nhắn nhủ tôi:

CHỈ CÓ TÌNH YÊU CHÚA KITÔ MỚI CÓ THỂ THAY ĐỔI CON TIM, CHỨ KHÔNG PHẢI KHÍ GIỚI, CÁC ĐE DỌA HAY CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG

Chính tình yêu chuẩn bị con đường cho việc loan báo Tin Mừng.

“Omnia vincit amor – TÌNH YÊU CHIẾN THẮNG MỌI SỰ.”