Cám dỗ trong cái nghèo

 

DONGTEN.NET

Mối phúc nghèo

Từ kinh nghiệm vượt thắng cám dỗ về bánh, mà sau này, Đức Giêsu có những lời nói và cử chỉ tuyệt vời. Ở đây, chỉ xin kể đến mối phúc: Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó (Mt 5:3). Tâm hồn nghèo khó là tâm hồn tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa, và mưu cầu những nhu cầu chính đáng cho tha nhân. Nơi Tin Mừng Luca, chúng ta còn được nghe lời chúc phúc một cách thân thiết hơn: Phúc cho anh em là kẻ nghèo khó (Lc 6:20). Không phải là “ai” chung chung nữa, mà rất cụ thể “anh em”. Không chỉ là “tinh thần nghèo khó”, mà còn “anh em là người nghèo”. Ở đây ta nhớ lời của thánh Phaolô khi ngài nhìn vào Đức Kitô mà thấy: Đức Kitô vốn giàu sang phú quý, mà đã tự nguyện trở nên nghèo khó, để nhờ cái nghèo của Người mà làm cho anh em trở nên giàu có (2Cr 8:9). Thánh Phanxico thành Assisi say mê một Đức Kitô nghèo, để sống đời sống tuyệt vời trong đơn sơ và phục vụ. Trong Linh Thao và suốt cuộc đời, thánh Inhaxico Loyola đã không biết bao lần tha thiết xin ơn được nghèo như Đức Kitô nghèo.   

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ đồng hành với con như Mẹ đã đồng hành với Con của Mẹ, để con có thể có được ý thức sâu xa của căn tính làm con Thiên Chúa, để con biết sống phó thác, để con có bản lĩnh chiến thắng cám dỗ, để có thể thấy được vẻ đẹp cao quý của sự hy sinh quyên mình vì phục vụ. Amen.

Tứ Quyết SJ

Nghèo như Đức Kitô nghèo, nghịch lý tuyệt vời! Có ba cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu phải chịu trong hoang địa (Mt 4:1-11). Đó là cám dỗ về cơm bánh, về hư danh, về sự kiêu ngạo. Ở đây chúng ta tập trung vào cơn cám dỗ về cơm bánh. Bối cả…

SA MẠC – NƠI GIÚP KHÁM PHÁ SỰ THẬT

SA MẠC – NƠI GIÚP KHÁM PHÁ SỰ THẬT

Lm. Phêrô Trần Minh Đức

Trong cuộc đời làm người ai ai cũng phải trải qua những giây phút khủng hoảng.  Trong những lúc đó tất cả mọi chuyện to nhỏ đều trở thành một vấn nạn.  Kẻ đó tìm một câu trả lời trước khi lựa chọn, quyết định cho tương lai đời mình.  Giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi thành niên là một giai đoạn quan trọng trong đời người.  Tuổi dậy thì chứa đầy hỗn loạn.  Thân xác bỗng dưng biến đổi và phát triển khác thường.  Con người bị ép buộc tham dự vào một cuộc phiêu lưu để khám phá ra mình là ai.  Nhiều chuyện thần thoại đã mô tả về giai đoạn này.  Dĩ nhiên, nhân vật chính luôn là một chàng trai.  Anh phải từ giã mái ấm gia đình, chấp nhận mạo hiểm một mình tiến vào rừng sâu nước độc, nơi chứa đầy cạm bẫy của yêu tinh quỷ nữ!  Anh ta phải vượt qua mọi thử thách từ bên trong lẫn bên ngoài.  Anh ta được tôi luyện.  Khi trở về, anh giống như được đầu thai làm một con người hoàn toàn mới, đủ tài trí và khả năng gánh vác những trọng trách được giao phó.

Bài Phúc âm hôm nay cũng nói về thời gian thử thách tương tự của Đức Giêsu.  Ngài được Thánh Thần dẫn đưa vào hoang địa, giang sơn của quỷ dữ.  Ngài ăn chay hãm mình, sống trong cô tịch, hoàn toàn không có gì để đề phòng âm mưu của kẻ xấu luôn bám sát, chờ cơ hội thuận lợi để thu thập.  Thử thách làm nảy sinh một hoài nghi cơ bản: Những gì từ trước tới nay tôi cho là tốt đẹp bây giờ có vẻ vô nghĩa.  Những gì tôi cho là tội lỗi xấu xa giờ đây hình như chứa đầy hứa hẹn.  Khi đối diện đương đầu với dụ dỗ Đức Giêsu dần dần khám phá ra mình là ai, đâu là sứ mạng của mình.  Thời gian sống trong sa mạc là giai đoạn quan trọng trong đời của Đức Giêsu.  Trong thời gian này Ngài cảm nhận một cách sâu xa sự mỏng dòn trong thân phận con người.  Mặc khác, Ngài đã sống mật thiết thân tình với Chúa Cha, giúp Ngài ý thức về trọng trách được Chúa Cha giao phó.  Ngài trở nên chín chắn trưởng thành, có thể bước vào cuộc đời công khai, công bố Tin mừng cứu độ.  Bởi vậy, sa mạc không phải chỉ là nơi chết chóc, tăm tối mà còn là nơi gặp gỡ chính Thiên Chúa.

Trong sa mạc Đức Giêsu hiểu thấu những yếu đuối cơ bản của con người.  Cám dỗ đầu tiên nhắm vào sự đói khát.  Có đầy đủ của ăn là một nhu cầu căn bản của cuộc sống con người.  Thân xác đòi hỏi quyền lợi của nó, và sẽ trở nên kiệt quệ nếu như nhu cầu này bị cự tuyệt, không được đáp ứng.  Dĩ nhiên chúng ta ăn để sống, nhưng chúng ta sống không phải chỉ để ăn, để uống.  Do đó, con người giống như bị bà nhập khi nghĩ rằng, ý nghĩa của cuộc sống con người chỉ đặt trên cơ bản của vật chất và sự hưởng thụ.  Con người chia sẻ những nhu cầu thuộc thân xác với tất cả mọi sinh vật khác, nhưng khát vọng của con người còn trổi vượt hơn, đi ra ngoài giới hạn này.  Chính vì thế chúng ta có thể nói rằng, nhu cầu lớn nhất của con người thuộc về đời sống tâm linh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”  Đời sống con người không phải là một cuộc sống no say nhưng là một cuộc đời sung mãn về mọi mặt.

Thử thách thứ hai nhắm vào khát vọng quyền lực.  Bởi vì muốn chứng tỏ quyền lực của mình, bảo đảm chỗ đứng của mình, kẻ ấy ra sức tìm cách hạ bệ kẻ khác, ra sức chèn ép, trèo lên đầu lên cổ người khác và nếu cần sẵn sàng bước qua xác chết!  Tranh đấu quyền lực là chuyện xảy ra như cơm bữa từ trong gia đình đến ngoài xã hội, đặc biệt trong môi trường chính trị và kinh doanh…  Đức Giêsu không đầu hàng dụ dỗ.  Ngài sẵn sàng từ bỏ quyền thế và bạo lực.  Ngài chọn con đường yêu thương vô vị lợi.

Dụ dỗ thứ ba nhằm chối bỏ Thiên Chúa là Đấng sáng tạo càn khôn.  Đặc biệt con người ngày nay nghĩ rằng, mình có thể đạt được tất cả mà không cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa.  Tất cả đều dựa vào khả năng của bản thân.  Ngày Chúa nhật không đi lễ nhà thờ chẳng thấy mình mất mát gì!  Nhìn nhận giới hạn của mình, nhìn nhận thân phận thụ tạo của mình là một điều không dễ dàng.  Thiên Chúa đòi hỏi con người tin vào Ngài, mặc dầu không ai có thể chứng minh và nhìn thấy Thiên Chúa.

Mùa chay chính là một lời mời gọi sáng tạo một mảnh sa mạc trong cuộc đời mình, mời gọi xa rời cảnh huyên náo, bon chen, xô bồ để có thể gặp gỡ Thiên Chúa, lắng nghe tiếng Ngài trong cô tịch.  Bởi vì sa mạc, đối với Đức Giêsu cũng như mỗi người chúng ta, là nơi giúp khám phá sự thật, nơi chúng ta có thể đối diện với chính mình để nhận biết mình là ai và Thiên Chúa muốn gì nơi tôi. 

Lm. Phêrô Trần Minh Đức

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

 ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Một câu chuyện vui kể rằng, trong buổi hội thảo giao lưu với đề tài tha thứ tại một giáo xứ nọ, vị Linh mục hỏi những người có mặt, ai trong số họ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù.  Tất cả mọi người đều giơ tay, trừ một ông lão ngồi bên dưới.

– Chẳng lẽ cụ không thể tha thứ cho kẻ thù của mình ư?

– Tôi không có kẻ thù.

– Thật là đức độ.  Thế cụ bao nhiêu tuổi rồi?

– 90 tuổi.

– Cụ hãy cho mọi người biết bí quyết sống đến 90 tuổi, mà không có một kẻ thù nào.

– Ông lão cao giọng nói: “Chỉ có một cách là phải tiêu diệt hết lũ chúng nó mà thôi!”

 Sống trên đời, giữa chúng ta có nhiều khác biệt về tuổi tác, sở thích, quan điểm.  Cuộc sống trần gian cũng là một mớ hỗn độn những cạnh tranh, bon chen, tính toán.  Sự cạnh tranh bon chen trở nên nghiệt ngã, tới mức người ta loại trừ nhau.  Trong lãnh vực thương mại ngày nay, người ta hay nói: “Thương trường là chiến trường.”  Tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là một thứ lý luận nguy hiểm, cho thấy sự ích kỷ tới mức hoang dã.  Vì trong chiến trường, người lính phải đối diện với quân thù.  Họ buộc phải giết đối phương để sống, vì không còn chọn lựa nào khác.  Tuy vậy, trong thương trường, mưu mô gài bẫy để hủy diệt và loại trừ người khác là một thứ thương mại vô đạo đức.  Danh từ “kẻ thù” được dùng để chỉ những người đối nghịch với mình.  Người bị gọi là “kẻ thù”, tức người đó trở nên mối nguy hiểm cho người khác.  Trong quan niệm thông thường, người ta chủ trương “không đội trời chung” với kẻ thù.

Nhưng, không kể nơi chiến trường máu lửa, thì kẻ thù là ai?  Suy cho cùng, kẻ thù là người không đồng quan điểm với chúng ta.  Sự khác biệt nơi những cá nhân đáng lẽ tạo ra một cuộc sống phong phú đa dạng, thì trong nhiều trường hợp lại là nguyên cớ dẫn tới đối nghịch, hiềm thù.  Kết án một người là “kẻ thù” nhiều khi do chủ quan và do cái nhìn phiến diện.  Nhiều người coi mình là mẫu mực, là tiêu chuẩn cho cách đối nhân xử thế, nên người nào không giống mình thì họ kết án là “kẻ thù.”  Do quan niệm này, trong xã hội của chúng ta, biết bao mâu thuẫn và thậm chí có những án mạng đã xảy ra.  Có những người coi nhau như kẻ thù, khi đang cùng nhau ngồi trên bàn nhậu, hay khi cùng tham dự một tiệc cưới, và vì một câu nói hay một mâu thuẫn nhỏ đã trở thành sát nhân, lấy đi mạng sống của người đồng bàn.  Sự ích kỷ tham lam đã biến các thành viên trong cùng một gia đình thành kẻ thù không đội trời chung.  Những anh chị em cùng máu huyết, chỉ vì vài mét vuông đất, hoặc vì không hài lòng do việc chia tài sản thừa kế, đã coi nhau như kẻ thù.  Họ kiện nhau ra tòa án và không còn muốn nhìn mặt nhau.  Trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta dễ quên tình huynh đệ, bằng hữu, làng xóm thân cận, để biến thành kẻ thù.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta, không chỉ yêu mến những ai làm ơn cho mình, nhưng còn yêu thương và tha thứ cho kẻ thù.  Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy, Chúa Giêsu có những đối phương.  Đó là một số người biệt phái và luật sĩ.  Họ là những người luôn dò xét để chỉ trích cách sống của Chúa, nhất là tương quan của Người với các tội nhân.  Tuy vậy, mặc dù lên án họ với những lời nói gắt gao, không bao giờ Chúa coi họ là những kẻ thù.  Chúa muốn chỉ cho họ thấy quan niệm cực đoan của họ.  Người cũng mời gọi họ có cái nhìn thiện cảm với các tội nhân.  Bởi lẽ, là con người, không ai hoàn thiện.  Chúa cũng muốn cho họ hiểu sứ mạng của Người khi đến trần gian là để cứu vớt các tội nhân, như thày thuốc chăm sóc và giúp cho bệnh nhân được lành.  Người kêu gọi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.  Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.  Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,44-45).  “Yêu thương kẻ thù” là nét ưu việt của Kitô giáo.  Trong Cựu ước, người Do Thái áp dụng luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, tức là được phép làm cho người khác đúng như mức độ họ đã gây ra thiệt hại cho mình.  Khái niệm “đồng loại” trong luật Cựu ước có ý chỉ người Do Thái, còn những người khác thì không phải đồng loại.  Lời giáo huấn của Chúa Giêsu làm thay đổi quan niệm truyền thống này, đồng thời hướng tới sự tha thứ không giới hạn.  Chính Chúa đã thực hiện điều Người rao giảng, khi chịu treo trên thập giá.  Trong hơi thở yếu ớt lúc sắp lìa trần, Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hình mình, vì họ không biết việc họ làm (x. Lc 23,34).  Noi gương Chúa Giêsu, Thánh Têphanô Phó tế, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo, cũng đã cầu nguyện cho những kẻ ném đá mình (x. Cv 7,60).  Lời cầu nguyện ấy nói lên sự tha thứ mà vị tử đạo dành cho những người giết hại mình.  Sự tha thứ ấy đã đem lại cho vị tử đạo sự bình an và thanh thản tâm hồn.

Cầu nguyện và tha thứ cho những người làm hại mình, chúng ta cũng nỗ lực để đừng trở nên “kẻ thù” của những người xung quanh.  Có những người đã trở nên nỗi ám ảnh đối với môi trường sống, ví dụ hiện tượng ngày càng nhiều thanh niên “ngáo đá” do dùng ma túy.  Họ trở nên nỗi sợ cho gia đình và làng xóm, khu phố.  Nhiều người khác, do lối sống thực dụng, dùng mưu mô mánh lới lừa đảo, bất chấp danh dự và quyền lợi của người khác, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản, lỗi đức công bằng.  Họ đang biến mình thành “kẻ thù” của những người xung quanh.

Để sống một cuộc đời bình an, Ông Bà chúng ta dạy: hãy thêm bạn bớt thù.  Đáng tiếc, trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta đang có khuynh hướng làm ngược lại.  Thay vì hợp tác huynh đệ để cùng nhau giảm thiểu tội ác, chung sống hòa bình, thì người ta muốn hủy diệt và loại trừ nhau.  Ông cụ 90 tuổi trong câu chuyện ở đầu bài viết không có kẻ thù, không phải vì ông quảng đại tha thứ, nhưng nếu ai làm mất lòng ông thì ông sẵn sàng giết họ.

Lấy oán hận đáp lại oán hận, thì hận thù sẽ chồng chất.  Giáo lý Phật giáo cũng dạy: “Hận thù diệt hận thù.  Đời này không có được.  Không hận, diệt hận thù.  Là định luật ngàn thu” (Tức là đem hận thù diệt hận thù hay lấy oán trả oán thì oán càng thêm.  Còn không đem oán trả oán thì đó mới là định luật ngàn thu).  Quảng đại tha thứ, từ bỏ hận thù, chung sống huynh đệ, đó là điểm gặp gỡ chung giữa Kitô giáo và Phật giáo.

Thánh Phanxicô đã cầu nguyện với Chúa: “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa bình).  Ước chi mỗi Kitô hữu chúng ta trở nên những khí cụ bình an trong cuộc sống chao đảo và đầy bạo lực này.  Trước khi trở nên khí cụ bình an, mỗi chúng ta phải cảm nghiệm sự bình an tâm hồn qua việc sẵn lòng tha thứ cho anh chị em mình.

Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).  Đó là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên thập giá.  Ước chi đó cũng là lời cầu nguyện của chúng ta, mỗi khi chúng ta bị xúc phạm hoặc khinh chê.  Chúng ta chỉ có thể thốt lên lời cầu nguyện này, nếu cuộc sống chúng ta thấm đượm tinh thần của Tin Mừng, và Lời Chúa luôn cư ngụ dồi dào trong tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta có cái nhìn yêu thương như cái nhìn của Chúa và trái tim quảng đại như trái tim của Người.

ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

NGOẠI ĐẠO

NGOẠI ÐẠO

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo

Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao?  Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi.  Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.

Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo.  Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo.  Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông.  Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay.  Áo lụa cũng phơi bên sân hiền nhà ai.  Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về.  Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác.  Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.

Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa.  Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta.  Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon.  Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình.  Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm.  Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là “chợt mát”, là ơn cứu độ.

Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình.  Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi “trong địa đàng” nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng.  Như thế, “tôi ở trong địa đàng” vẫn là thống khổ, chỉ khi “địa đàng ở trong tôi”, lúc đó tôi mới “có địa đàng”, bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.

Nói về có đạo và vào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.

Một người ngoại đạo

Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ.  Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không?  Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi.  Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở.  Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ.  Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).

Một người ngoại giáo nữa

Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:

Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: “Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ lắm.”  Ngài nói: “Ta phải đến chữa nó?”  Viên bách quản thưa lại: “Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi.  Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: “Ði đi!” là nó đi; và bảo người khác: “Ðến!” là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: “Làm cái này” là nó làm”.  Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt. 8:5-10).

Lại một người ngoại giáo nữa

Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin.  Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.

Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài.  Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: “Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!”  Thấy vậy, Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với hàng tư tế.” Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch.  Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn.  Người ấy là một người Samari.  Ðức Yêsu cất tiếng nói: “Không phải là cả mười người được sạch cả sao?  Chín người kia đâu?  Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?” (Lc. 17:11-18).

Rồi lại một người nữa ngoại giáo

Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: “Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi.  Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi.  Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thầy người ấy song cũng tránh một bên mà đi.  Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).

Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo.  Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo.  Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.

Rồi những người ngoại giáo nữa

Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ.  Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

******************

Lạy Chúa,

– Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.

– Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.

– Nói về lòng biết ơn thì ít quá.  Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.

– Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.

Băn khoăn một chút thế nào là “người bên ngoài”, thế nào là “người bên trong”, thế nào là “ngoại đạo” và “có đạo”, con thấy một lần Chúa nói: “Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm” (Mt. 8:11-12).

Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài.  Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn.  Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì.  Con phải băn khoăn thế nào là “vào đạo” và thế nào là “có đạo”.  Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ.  ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được.  Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người “ngoại đạo”.

Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Nguyễn Tầm Thường
(Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)

From: Langthangchieutim

SATAN ẨN TRONG CHIẾC GƯƠNG

SATAN ẨN TRONG CHIẾC GƯƠNG

Calley Sivils – Trầm Thiên Thu

  Tôi lớn lên với “năng khiếu mua sắm” đối với phụ nữ.  Khi tôi tới siêu thị, bảo tàng viện, hoặc thậm chí là nhà thờ, tôi thường theo bản năng “mua sắm” bằng cách chú ý tới điểm nào đó ở các phụ nữ khác (dù quen hay lạ) thay vì chú ý tới mình.  Ôi, khuôn mặt, đôi tay, chiều cao và điều cuối cùng là…

Nhưng chúng ta biết rằng điều kế tiếp sẽ là điều cuối cùng, đó là chúng ta tìm kiếm vẻ đẹp ngoài Đức Kitô.  Tôi không bao giờ thỏa mãn vì lý tưởng của tôi không thật, đó là sự kết hợp của các khuyết điểm mà tôi muốn sửa.  Tưởng tượng luôn khác với thực tế.  Ước vọng của tôi không an toàn, các hình ảnh nối kết trong đầu không hề thực tế, và tôi không thể biến nó thành hiện thực.

  1. THIÊN CHÚA CÓ LÀM CHO NÓ SAI?

Khả năng phức tạp và kiến thức bản chất về việc liên kết con người là điều thuộc về Thiên Chúa mà thôi.  Nền tảng của tội về sự thiếu tự tin là KHÔNG tin rằng Thiên Chúa làm cho nó thành đúng.

Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cụ thể hóa chị em và bạn bè của chúng ta bằng cách làm họ giảm giá trị mà lại kết hợp các nét thể lý khiến chúng ta ghen tỵ và xoi mói từng chi tiết.  Kiểu này không là yêu thương những người trước mặt mình, chắc chắn như thế cũng không thể tuyên xưng Thiên Chúa cao cả và vinh quang.

Khi làm như vậy, chúng ta tuyên bố với Ngài và thế giới rằng Ngài tạo dựng sai nên chúng ta nghĩ rằng:

–       “Người ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147:4), ôi lạy Chúa, nhưng Ngài tạo nên họ kỳ cục lắm.

–       “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi” (Lc 12:7), nhưng Ngài cho họ màu da không đẹp.

–       Ngài “tạo ra núi non, dựng nên gió bão” (Am 4:13), nhưng Ngài lại không cho cơ thể con cân đối.

Thật là kiêu ngạo!  Chúng ta không nhớ rằng cơ thể của chúng ta được tạo dựng theo ý muốn của Thiên Chúa.  Ngài không làm sai hoặc lỡ tay.  Ước muốn của chúng ta sai lầm.  Chúng ta nên vâng theo ý Ngài và nhận biết rằng ngoại hình không bao giờ thỏa mãn tham vọng của chúng ta.

  1. ĐƯỢC TẠO DỰNG CHO VẺ ĐẸP CAO CẢ

Thực sự chúng ta không xinh đẹp nhất bởi vì chúng ta không được tạo dựng để làm đẹp, nhưng để phục vụ Thiên Chúa.  Chúng ta nhẹ gánh “vẻ đẹp” khi thế giới nhìn thấy, bởi vì chấp nhận ngoại hình là “tỏa sáng” mãi mãi.  Có sự bình an ngoài thế gian có thể tìm thấy không là vẻ đẹp theo tiêu chuẩn của xã hội trần gian – chiều cao, số đo ba vòng…  Cũng chẳng sao khi cơ thể chúng ta KHÔNG HOÀN HẢO.  Đặc tính của chúng ta là khiếm khuyết, bất toàn, thế nên chúng ta phải hướng tới sự hoàn hảo của Thiên Chúa – Đấng tạo dựng muôn loài.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không chăm sóc thân xác chúng ta như đền thờ của Thiên Chúa (1 Cr 6:19).  Nếu tinh thần của Đức Kitô sống trong chúng ta, thân xác chúng ta không thuộc về chúng ta để mà ích kỷ hoặc lạm dụng nó (1 Cr 6:20).

Chúng ta không cần có cơ thể hấp dẫn để “tỏa sáng” làm mãn nhãn người khác.  Con mắt của Chúa luôn nhìn chúng ta, Ngài vui mừng khi chúng ta không “nổi loạn” nhưng Ngài buồn khi chúng ta chăm chú vẻ quyến rũ của xác thịt – kể cả việc ước muốn như người khác (bất kỳ ai) mà không chấp nhận vóc dáng Ngài đã ban cho để yêu mến và tôn vinh Ngài.

  1. SỰ DỐI TRÁ TRONG CHIẾC GƯƠNG

Tôi mới 24 tuổi mà các vết nhăn mờ đã xuất hiện trên khuôn mặt.  Tôi chưa có con, vậy mà cơ thể tôi đã sa sút, thị lực tôi cũng kém.  Từ nhỏ, tôi đã cảm thấy không vui khi nhìn mình trong gương.  Tôi là một phụ nữ và xác định rằng tôi sống độc thân bởi vì chẳng một đàn ông nào muốn có một người như tôi.

Ngày xưa, Chúa Giêsu đã từng đặt vấn đề: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6:27).

Thiên Chúa không thuộc về thế gian và không lệ thuộc vẻ đẹp thế tục.  Ngài gọi chúng ta là “người yêu” vì Đức Kitô (Rm 9:25).  Thánh Phaolô nhắc lại lời Kinh Thánh: “Như đã chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9), và chẳng có gì hơn khiêm nhường.  Trong Đức Kitô, chúng ta có thể gạt đám mây đen thiếu tự tin sang một bên và hướng tới ánh sáng của đức khiêm nhường tập trung vào Đức Kitô.  Điều đó không dễ chút nào, thế nên chúng ta cần phải biết “đóng đinh” cơ thể hoàn hảo của mình.  Tác giả Isaac Ambrose viết: “Vẻ đẹp thể lý mà không có Đức Kitô thì chỉ là cỏ xanh mọc trên ngôi mộ thối rữa.”

  1. TÔI NHỎ LẠI ĐỂ NGÀI LỚN LÊN

Sự thiếu tự tin là con quái vật mà chúng ta phải can đảm chiến thắng.  Chúng ta không muốn gọi đó là tội vì đó là “vùng nhạy cảm” trong nhiều người, nhưng điều đó không gì hơn là tính kiêu ngạo tiềm ẩn.  Chúng ta càng tập trung vào tình trạng thiếu thốn của mình thì càng ít có thể đón nhận sự đầy đủ của Đức Kitô.  Chúng ta càng tập trung vào những gì mình muốn thì càng muốn trở thành con người theo ý mình.  Chúng ta càng tập trung vào việc ghen tỵ với người khác thì càng có xu hướng nô lệ cho họ.

Sự thiếu tự tin không nên coi nhẹ hoặc làm ngơ, bởi vì “ai cũng phải đấu tranh với nó.”  Cùng với Đức Kitô, chúng ta nên cầu nguyện và chiến đấu với Ngài và trong Ngài.

Xã hội thay đổi.  Danh tiếng tàn phai.  Thân xác hư nát.  Nhưng Thiên Chúa xác định: “Ta là Đức Chúa” (Ml 3:6), “những chuyện xảy ra sau, Ta báo trước từ đầu, những gì chưa thể hiện, Ta đã báo từ lâu.  Ta phán: Điều Ta dự tính sẽ thành tựu, Ta sẽ thi hành điều Ta ưa thích” (Is 46:10).  Và “ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên, địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời” (Tv 90:2).  Rồi lần tới, Satan sẽ lại nói dối với bạn ở trong tấm gương, hãy nhìn ra chỗ khác và mở sách Kinh Thánh ra để đọc Lời Chúa.  Hãy hướng tới vẻ đẹp cao cả hơn và thỏa mãn hơn: CHĂM CHÚ NHÌN VÀO ĐỨC KITÔ.

Mụ phù thủy xấu xa đã “hỏi ép” chiếc gương thế này: “Gương kia ngự ở trên tường – Nước này ai đẹp được dường như ta?”  Đó là bài học về thói kiêu ngạo và đề cao vẻ đẹp của mình, chỉ là ảo tưởng.  Tiền nhân đã rất thâm thúy khi xác định: “Cái nết đánh chết cái đẹp” hoặc “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.

Calley Sivils – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ DesiringGod.com)

 

GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thi sĩ Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa) viết bài thơ “Đừng thích làm mặt trời.”  Lời thơ thật nhẹ nhàng mà sâu lắng.  Nhiều hình ảnh so sánh rất gần gũi thân thương của đời thường.

Khoan mộng làm mặt trời.

Đừng mơ làm sao sáng.

Hãy cố gắng con ơi.

Làm những điều nhỏ mọn

Chỉ vì mến Chúa thôi.

Tặng người con không thích

Một nụ cười thế thôi.

Đôi mắt nhìn trìu mến

Để chia sẻ tâm tình

Với một người đau khổ.

Viếng thăm và giúp đỡ

Người bệnh tật già nua.

Đừng ngại nắng ngại mưa.

Thấy Chúa trong người họ

Không mắng la nạt nộ.

Đừng giận dữ một ai.

Chút mật bắt nhiều ruồi

Hơn giấm chua từng hũ.

Hiền lành và tha thứ

Biết rộng rãi khoan dưng.

Theo Chúa ở khiêm nhường

Và sẵn sàng phục vụ.

Việc làm tuy bé nhỏ

Giá trị thật vô cùng

Làm mặt trời đừng mong.

Cũng đừng mơ làm sao sáng…

Đọc thơ, tôi liên tưởng đến hình ảnh Muối và Ánh Sáng của Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.

Khoan mộng làm mặt trời.

Đừng mơ làm sao sáng.

Chỉ mong làm muối đất.

là ánh sáng Chúa thôi.

Hiến chương Nước trời được Chúa Giêsu công bố trong Tin mừng Chúa nhật vừa qua.  Tiếp theo bài giảng trên núi, Chúa Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ: “Anh em là muối cho đời… anh em là ánh sáng thế gian.”

  1. Anh em là muối cho đời, một định nghĩa tuyệt vời về Kitô hữu. 

Sử gia Pliny viết: “Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng.”  Không có ánh sáng, cỏ cây sẽ úa tàn.  Không có muối, sơn hào hải vị cũng sẽ ra nhạt phèo.  Chúa Giêsu ví các môn đệ của Ngài như muối đất và ánh sáng của trần gian.  Đây là một vinh dự cho các môn đệ vì họ được mời gọi tham dự vào sứ mệnh làm muối đất, ánh sáng của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng soi chiếu trần gian u mê (Mt 4,16; Pl 2,15; Ep 5,8).  Ngài đến để giảng dạy cho thế gian biết đâu là hạnh phúc chân thật: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).  Chúa Giêsu đã chữa lành những kẻ bị tật nguyền, xoa dịu những tâm hồn đau khổ.  Như muối đất, tình yêu của Ngài được biểu lộ qua những nghĩa cử bác ái và cái chết, đã làm cho trần gian tẻ nhạt và khổ đau thêm mặn mà, ý vị.

“Muối đất.”  Muối được dùng để khử trùng, gìn giữ thức ăn và để nêm vào các món ăn cho thêm hương vị mặn mà.  Nếm một món ăn thiếu muối sẽ thấy nhạt nhẽo.  Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món ăn trở nên đậm đà và dễ ăn.  Người bị bệnh cao huyết áp phải ăn lạt nên thường ăn mất ngon.  Người Việt thường dùng nước mắm để nêm các món ăn, nhưng vẫn phải thêm muối, món ăn mới hấp dẫn.

Vào thời Chúa Giêsu, muối tượng trưng cho tính hiếu khách.  Khách đến nhà thường được tặng bánh mì và muối, biểu hiệu sự tiếp đón nồng hậu.

Ngày xưa, khi chưa khám phá ra phân bón hóa học, người ta dùng muối để làm đất đai thêm phì nhiêu.  Khi chưa có tủ lạnh, muối còn được dùng để ướp cá, thịt và thức ăn, cất giữ được lâu ngày hơn.  Chúa Giêsu sai các môn đệ đến trong thế gian như người ta nêm muối vào thức ăn để thêm hương vị và giữ được lâu.  Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng.  Mặn thuộc về bản chất của muối.  Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng.  Vị mặn là tình yêu tha nhân mặn mà.  Yêu Chúa mặn nồng, yêu tha nhân mặn mà, đời sống Kitô hữu sẽ ướp hương vị tình yêu mặn mòi cho cuộc đời.

  1. Anh em là ánh sáng cho trần gian, một định nghĩa quá cao trọng về Kitô hữu.

 Chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga1,5), chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12).  “Anh em là ánh sáng” vì anh em gần Thầy “gần đèn thì sáng.”

“Ánh sáng thế gian.”  Một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt đó là đèn dầu.  Một căn nhà có đèn sáng báo hiệu đang có người ở, có sự sống.  Một người đi lạc trong đêm tối hẳn sẽ rất sung sướng khi thấy có ánh đèn.  Ánh đèn đem lại niềm vui và thu hút mọi người.  “Các con là ánh sáng thế gian,” đây là lời mời gọi truyền giáo, qua đời sống, qua lời nói và hành động, Kitô hữu được mời gọi làm ánh sáng hy vọng cho những ai đang lần bước trong bóng tối tuyệt vọng, dẫn dắt họ đến với Chúa.  Trong bóng đêm mịt mùng, một ánh lửa nhỏ cũng có thể được nhìn thấy từ xa.

Chúa Giêsu không nói: các con hãy cố gắng làm muối đất và trở nên ánh sáng cho thế gian nhưng lại nói: “Các con là muối đất và là ánh sáng thế gian”, bởi vì các con là môn đệ của Thầy, vì các con đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

“Các con là sự sáng thế gian”, sự sáng này không phải do chúng ta tạo nên, nhưng phát xuất từ Chúa Kitô: “Ta là sự sáng thế gian” (Ga 8,12).  Chúa Giêsu muốn chúng ta như tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài, cho mọi người và cho mọi nơi.  Do đó, ánh sáng được chiếu tỏa không phải cho chúng ta được vinh danh, nhưng cho vinh quang của Chúa: “Sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời.”

Muối đất, sự sáng thế gian: hai hình ảnh cùng diễn tả một lời mời gọi.  Tiên tri Isaia, trong Bài đọc 1 đưa ra những phương cách để giữ muối khỏi “lạt” và ngọn đèn luôn chiếu sáng.  Đó là sống bác ái, chia cơm sẻ bánh cho người nghèo đói, tiếp đón những kẻ bất hạnh vô gia cư, cho quần áo những người không đủ mặc…  Khi ấy, “ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày.”

Có lẽ nhiều người sẽ tự nhủ: làm sao mình có khả năng và xứng đáng làm muối đất và sự sáng cho mọi người?  Nắm muối gồm những hạt muối nhỏ dồn lại, đèn sáng được nhờ những giọt dầu góp lại.  Những hạt muối nhỏ đó, những giọt dầu đó là những việc bé nhỏ mà chúng ta thực hiện trong đời sống hằng ngày: những nụ cười, lời nói lịch thiệp, những cử chỉ bác ái khiêm nhường, thái độ biết lắng nghe, sống tha thứ biết nghĩ đến người khác…

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến chứng từ muối đất và ánh sáng trần gian của Kitô hữu.  Nếu chúng ta thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương thì chính đời sống, việc làm, việc bác ái sẽ mang lại hương vị cuộc đời, hương thơm cho mọi người, chiếu tỏa ánh sáng giúp nhiều người đến với Chúa là “nguồn ánh sáng và ơn cứu độ” (Tv 2,1).  Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu để rồi chiếu lên làn ánh sáng hy vọng, ánh sáng tin yêu, ánh sáng công bình bác ái.  Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là muối thêm hương vị đức ái cho đời, là những ánh sáng đức tin soi đường truyền giáo.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim