YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

 ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Một câu chuyện vui kể rằng, trong buổi hội thảo giao lưu với đề tài tha thứ tại một giáo xứ nọ, vị Linh mục hỏi những người có mặt, ai trong số họ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù.  Tất cả mọi người đều giơ tay, trừ một ông lão ngồi bên dưới.

– Chẳng lẽ cụ không thể tha thứ cho kẻ thù của mình ư?

– Tôi không có kẻ thù.

– Thật là đức độ.  Thế cụ bao nhiêu tuổi rồi?

– 90 tuổi.

– Cụ hãy cho mọi người biết bí quyết sống đến 90 tuổi, mà không có một kẻ thù nào.

– Ông lão cao giọng nói: “Chỉ có một cách là phải tiêu diệt hết lũ chúng nó mà thôi!”

 Sống trên đời, giữa chúng ta có nhiều khác biệt về tuổi tác, sở thích, quan điểm.  Cuộc sống trần gian cũng là một mớ hỗn độn những cạnh tranh, bon chen, tính toán.  Sự cạnh tranh bon chen trở nên nghiệt ngã, tới mức người ta loại trừ nhau.  Trong lãnh vực thương mại ngày nay, người ta hay nói: “Thương trường là chiến trường.”  Tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là một thứ lý luận nguy hiểm, cho thấy sự ích kỷ tới mức hoang dã.  Vì trong chiến trường, người lính phải đối diện với quân thù.  Họ buộc phải giết đối phương để sống, vì không còn chọn lựa nào khác.  Tuy vậy, trong thương trường, mưu mô gài bẫy để hủy diệt và loại trừ người khác là một thứ thương mại vô đạo đức.  Danh từ “kẻ thù” được dùng để chỉ những người đối nghịch với mình.  Người bị gọi là “kẻ thù”, tức người đó trở nên mối nguy hiểm cho người khác.  Trong quan niệm thông thường, người ta chủ trương “không đội trời chung” với kẻ thù.

Nhưng, không kể nơi chiến trường máu lửa, thì kẻ thù là ai?  Suy cho cùng, kẻ thù là người không đồng quan điểm với chúng ta.  Sự khác biệt nơi những cá nhân đáng lẽ tạo ra một cuộc sống phong phú đa dạng, thì trong nhiều trường hợp lại là nguyên cớ dẫn tới đối nghịch, hiềm thù.  Kết án một người là “kẻ thù” nhiều khi do chủ quan và do cái nhìn phiến diện.  Nhiều người coi mình là mẫu mực, là tiêu chuẩn cho cách đối nhân xử thế, nên người nào không giống mình thì họ kết án là “kẻ thù.”  Do quan niệm này, trong xã hội của chúng ta, biết bao mâu thuẫn và thậm chí có những án mạng đã xảy ra.  Có những người coi nhau như kẻ thù, khi đang cùng nhau ngồi trên bàn nhậu, hay khi cùng tham dự một tiệc cưới, và vì một câu nói hay một mâu thuẫn nhỏ đã trở thành sát nhân, lấy đi mạng sống của người đồng bàn.  Sự ích kỷ tham lam đã biến các thành viên trong cùng một gia đình thành kẻ thù không đội trời chung.  Những anh chị em cùng máu huyết, chỉ vì vài mét vuông đất, hoặc vì không hài lòng do việc chia tài sản thừa kế, đã coi nhau như kẻ thù.  Họ kiện nhau ra tòa án và không còn muốn nhìn mặt nhau.  Trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta dễ quên tình huynh đệ, bằng hữu, làng xóm thân cận, để biến thành kẻ thù.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta, không chỉ yêu mến những ai làm ơn cho mình, nhưng còn yêu thương và tha thứ cho kẻ thù.  Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy, Chúa Giêsu có những đối phương.  Đó là một số người biệt phái và luật sĩ.  Họ là những người luôn dò xét để chỉ trích cách sống của Chúa, nhất là tương quan của Người với các tội nhân.  Tuy vậy, mặc dù lên án họ với những lời nói gắt gao, không bao giờ Chúa coi họ là những kẻ thù.  Chúa muốn chỉ cho họ thấy quan niệm cực đoan của họ.  Người cũng mời gọi họ có cái nhìn thiện cảm với các tội nhân.  Bởi lẽ, là con người, không ai hoàn thiện.  Chúa cũng muốn cho họ hiểu sứ mạng của Người khi đến trần gian là để cứu vớt các tội nhân, như thày thuốc chăm sóc và giúp cho bệnh nhân được lành.  Người kêu gọi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.  Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.  Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,44-45).  “Yêu thương kẻ thù” là nét ưu việt của Kitô giáo.  Trong Cựu ước, người Do Thái áp dụng luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, tức là được phép làm cho người khác đúng như mức độ họ đã gây ra thiệt hại cho mình.  Khái niệm “đồng loại” trong luật Cựu ước có ý chỉ người Do Thái, còn những người khác thì không phải đồng loại.  Lời giáo huấn của Chúa Giêsu làm thay đổi quan niệm truyền thống này, đồng thời hướng tới sự tha thứ không giới hạn.  Chính Chúa đã thực hiện điều Người rao giảng, khi chịu treo trên thập giá.  Trong hơi thở yếu ớt lúc sắp lìa trần, Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hình mình, vì họ không biết việc họ làm (x. Lc 23,34).  Noi gương Chúa Giêsu, Thánh Têphanô Phó tế, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo, cũng đã cầu nguyện cho những kẻ ném đá mình (x. Cv 7,60).  Lời cầu nguyện ấy nói lên sự tha thứ mà vị tử đạo dành cho những người giết hại mình.  Sự tha thứ ấy đã đem lại cho vị tử đạo sự bình an và thanh thản tâm hồn.

Cầu nguyện và tha thứ cho những người làm hại mình, chúng ta cũng nỗ lực để đừng trở nên “kẻ thù” của những người xung quanh.  Có những người đã trở nên nỗi ám ảnh đối với môi trường sống, ví dụ hiện tượng ngày càng nhiều thanh niên “ngáo đá” do dùng ma túy.  Họ trở nên nỗi sợ cho gia đình và làng xóm, khu phố.  Nhiều người khác, do lối sống thực dụng, dùng mưu mô mánh lới lừa đảo, bất chấp danh dự và quyền lợi của người khác, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản, lỗi đức công bằng.  Họ đang biến mình thành “kẻ thù” của những người xung quanh.

Để sống một cuộc đời bình an, Ông Bà chúng ta dạy: hãy thêm bạn bớt thù.  Đáng tiếc, trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta đang có khuynh hướng làm ngược lại.  Thay vì hợp tác huynh đệ để cùng nhau giảm thiểu tội ác, chung sống hòa bình, thì người ta muốn hủy diệt và loại trừ nhau.  Ông cụ 90 tuổi trong câu chuyện ở đầu bài viết không có kẻ thù, không phải vì ông quảng đại tha thứ, nhưng nếu ai làm mất lòng ông thì ông sẵn sàng giết họ.

Lấy oán hận đáp lại oán hận, thì hận thù sẽ chồng chất.  Giáo lý Phật giáo cũng dạy: “Hận thù diệt hận thù.  Đời này không có được.  Không hận, diệt hận thù.  Là định luật ngàn thu” (Tức là đem hận thù diệt hận thù hay lấy oán trả oán thì oán càng thêm.  Còn không đem oán trả oán thì đó mới là định luật ngàn thu).  Quảng đại tha thứ, từ bỏ hận thù, chung sống huynh đệ, đó là điểm gặp gỡ chung giữa Kitô giáo và Phật giáo.

Thánh Phanxicô đã cầu nguyện với Chúa: “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa bình).  Ước chi mỗi Kitô hữu chúng ta trở nên những khí cụ bình an trong cuộc sống chao đảo và đầy bạo lực này.  Trước khi trở nên khí cụ bình an, mỗi chúng ta phải cảm nghiệm sự bình an tâm hồn qua việc sẵn lòng tha thứ cho anh chị em mình.

Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).  Đó là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên thập giá.  Ước chi đó cũng là lời cầu nguyện của chúng ta, mỗi khi chúng ta bị xúc phạm hoặc khinh chê.  Chúng ta chỉ có thể thốt lên lời cầu nguyện này, nếu cuộc sống chúng ta thấm đượm tinh thần của Tin Mừng, và Lời Chúa luôn cư ngụ dồi dào trong tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta có cái nhìn yêu thương như cái nhìn của Chúa và trái tim quảng đại như trái tim của Người.

ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

NGOẠI ĐẠO

NGOẠI ÐẠO

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo

Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao?  Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi.  Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.

Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo.  Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo.  Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông.  Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay.  Áo lụa cũng phơi bên sân hiền nhà ai.  Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về.  Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác.  Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.

Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa.  Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta.  Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon.  Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình.  Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm.  Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là “chợt mát”, là ơn cứu độ.

Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình.  Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi “trong địa đàng” nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng.  Như thế, “tôi ở trong địa đàng” vẫn là thống khổ, chỉ khi “địa đàng ở trong tôi”, lúc đó tôi mới “có địa đàng”, bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.

Nói về có đạo và vào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.

Một người ngoại đạo

Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ.  Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không?  Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi.  Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở.  Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ.  Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).

Một người ngoại giáo nữa

Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:

Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: “Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ lắm.”  Ngài nói: “Ta phải đến chữa nó?”  Viên bách quản thưa lại: “Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi.  Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: “Ði đi!” là nó đi; và bảo người khác: “Ðến!” là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: “Làm cái này” là nó làm”.  Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt. 8:5-10).

Lại một người ngoại giáo nữa

Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin.  Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.

Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài.  Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: “Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!”  Thấy vậy, Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với hàng tư tế.” Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch.  Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn.  Người ấy là một người Samari.  Ðức Yêsu cất tiếng nói: “Không phải là cả mười người được sạch cả sao?  Chín người kia đâu?  Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?” (Lc. 17:11-18).

Rồi lại một người nữa ngoại giáo

Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: “Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi.  Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi.  Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thầy người ấy song cũng tránh một bên mà đi.  Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).

Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo.  Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo.  Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.

Rồi những người ngoại giáo nữa

Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ.  Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

******************

Lạy Chúa,

– Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.

– Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.

– Nói về lòng biết ơn thì ít quá.  Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.

– Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.

Băn khoăn một chút thế nào là “người bên ngoài”, thế nào là “người bên trong”, thế nào là “ngoại đạo” và “có đạo”, con thấy một lần Chúa nói: “Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm” (Mt. 8:11-12).

Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài.  Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn.  Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì.  Con phải băn khoăn thế nào là “vào đạo” và thế nào là “có đạo”.  Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ.  ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được.  Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người “ngoại đạo”.

Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Nguyễn Tầm Thường
(Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)

From: Langthangchieutim

SATAN ẨN TRONG CHIẾC GƯƠNG

SATAN ẨN TRONG CHIẾC GƯƠNG

Calley Sivils – Trầm Thiên Thu

  Tôi lớn lên với “năng khiếu mua sắm” đối với phụ nữ.  Khi tôi tới siêu thị, bảo tàng viện, hoặc thậm chí là nhà thờ, tôi thường theo bản năng “mua sắm” bằng cách chú ý tới điểm nào đó ở các phụ nữ khác (dù quen hay lạ) thay vì chú ý tới mình.  Ôi, khuôn mặt, đôi tay, chiều cao và điều cuối cùng là…

Nhưng chúng ta biết rằng điều kế tiếp sẽ là điều cuối cùng, đó là chúng ta tìm kiếm vẻ đẹp ngoài Đức Kitô.  Tôi không bao giờ thỏa mãn vì lý tưởng của tôi không thật, đó là sự kết hợp của các khuyết điểm mà tôi muốn sửa.  Tưởng tượng luôn khác với thực tế.  Ước vọng của tôi không an toàn, các hình ảnh nối kết trong đầu không hề thực tế, và tôi không thể biến nó thành hiện thực.

  1. THIÊN CHÚA CÓ LÀM CHO NÓ SAI?

Khả năng phức tạp và kiến thức bản chất về việc liên kết con người là điều thuộc về Thiên Chúa mà thôi.  Nền tảng của tội về sự thiếu tự tin là KHÔNG tin rằng Thiên Chúa làm cho nó thành đúng.

Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cụ thể hóa chị em và bạn bè của chúng ta bằng cách làm họ giảm giá trị mà lại kết hợp các nét thể lý khiến chúng ta ghen tỵ và xoi mói từng chi tiết.  Kiểu này không là yêu thương những người trước mặt mình, chắc chắn như thế cũng không thể tuyên xưng Thiên Chúa cao cả và vinh quang.

Khi làm như vậy, chúng ta tuyên bố với Ngài và thế giới rằng Ngài tạo dựng sai nên chúng ta nghĩ rằng:

–       “Người ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147:4), ôi lạy Chúa, nhưng Ngài tạo nên họ kỳ cục lắm.

–       “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi” (Lc 12:7), nhưng Ngài cho họ màu da không đẹp.

–       Ngài “tạo ra núi non, dựng nên gió bão” (Am 4:13), nhưng Ngài lại không cho cơ thể con cân đối.

Thật là kiêu ngạo!  Chúng ta không nhớ rằng cơ thể của chúng ta được tạo dựng theo ý muốn của Thiên Chúa.  Ngài không làm sai hoặc lỡ tay.  Ước muốn của chúng ta sai lầm.  Chúng ta nên vâng theo ý Ngài và nhận biết rằng ngoại hình không bao giờ thỏa mãn tham vọng của chúng ta.

  1. ĐƯỢC TẠO DỰNG CHO VẺ ĐẸP CAO CẢ

Thực sự chúng ta không xinh đẹp nhất bởi vì chúng ta không được tạo dựng để làm đẹp, nhưng để phục vụ Thiên Chúa.  Chúng ta nhẹ gánh “vẻ đẹp” khi thế giới nhìn thấy, bởi vì chấp nhận ngoại hình là “tỏa sáng” mãi mãi.  Có sự bình an ngoài thế gian có thể tìm thấy không là vẻ đẹp theo tiêu chuẩn của xã hội trần gian – chiều cao, số đo ba vòng…  Cũng chẳng sao khi cơ thể chúng ta KHÔNG HOÀN HẢO.  Đặc tính của chúng ta là khiếm khuyết, bất toàn, thế nên chúng ta phải hướng tới sự hoàn hảo của Thiên Chúa – Đấng tạo dựng muôn loài.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không chăm sóc thân xác chúng ta như đền thờ của Thiên Chúa (1 Cr 6:19).  Nếu tinh thần của Đức Kitô sống trong chúng ta, thân xác chúng ta không thuộc về chúng ta để mà ích kỷ hoặc lạm dụng nó (1 Cr 6:20).

Chúng ta không cần có cơ thể hấp dẫn để “tỏa sáng” làm mãn nhãn người khác.  Con mắt của Chúa luôn nhìn chúng ta, Ngài vui mừng khi chúng ta không “nổi loạn” nhưng Ngài buồn khi chúng ta chăm chú vẻ quyến rũ của xác thịt – kể cả việc ước muốn như người khác (bất kỳ ai) mà không chấp nhận vóc dáng Ngài đã ban cho để yêu mến và tôn vinh Ngài.

  1. SỰ DỐI TRÁ TRONG CHIẾC GƯƠNG

Tôi mới 24 tuổi mà các vết nhăn mờ đã xuất hiện trên khuôn mặt.  Tôi chưa có con, vậy mà cơ thể tôi đã sa sút, thị lực tôi cũng kém.  Từ nhỏ, tôi đã cảm thấy không vui khi nhìn mình trong gương.  Tôi là một phụ nữ và xác định rằng tôi sống độc thân bởi vì chẳng một đàn ông nào muốn có một người như tôi.

Ngày xưa, Chúa Giêsu đã từng đặt vấn đề: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6:27).

Thiên Chúa không thuộc về thế gian và không lệ thuộc vẻ đẹp thế tục.  Ngài gọi chúng ta là “người yêu” vì Đức Kitô (Rm 9:25).  Thánh Phaolô nhắc lại lời Kinh Thánh: “Như đã chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9), và chẳng có gì hơn khiêm nhường.  Trong Đức Kitô, chúng ta có thể gạt đám mây đen thiếu tự tin sang một bên và hướng tới ánh sáng của đức khiêm nhường tập trung vào Đức Kitô.  Điều đó không dễ chút nào, thế nên chúng ta cần phải biết “đóng đinh” cơ thể hoàn hảo của mình.  Tác giả Isaac Ambrose viết: “Vẻ đẹp thể lý mà không có Đức Kitô thì chỉ là cỏ xanh mọc trên ngôi mộ thối rữa.”

  1. TÔI NHỎ LẠI ĐỂ NGÀI LỚN LÊN

Sự thiếu tự tin là con quái vật mà chúng ta phải can đảm chiến thắng.  Chúng ta không muốn gọi đó là tội vì đó là “vùng nhạy cảm” trong nhiều người, nhưng điều đó không gì hơn là tính kiêu ngạo tiềm ẩn.  Chúng ta càng tập trung vào tình trạng thiếu thốn của mình thì càng ít có thể đón nhận sự đầy đủ của Đức Kitô.  Chúng ta càng tập trung vào những gì mình muốn thì càng muốn trở thành con người theo ý mình.  Chúng ta càng tập trung vào việc ghen tỵ với người khác thì càng có xu hướng nô lệ cho họ.

Sự thiếu tự tin không nên coi nhẹ hoặc làm ngơ, bởi vì “ai cũng phải đấu tranh với nó.”  Cùng với Đức Kitô, chúng ta nên cầu nguyện và chiến đấu với Ngài và trong Ngài.

Xã hội thay đổi.  Danh tiếng tàn phai.  Thân xác hư nát.  Nhưng Thiên Chúa xác định: “Ta là Đức Chúa” (Ml 3:6), “những chuyện xảy ra sau, Ta báo trước từ đầu, những gì chưa thể hiện, Ta đã báo từ lâu.  Ta phán: Điều Ta dự tính sẽ thành tựu, Ta sẽ thi hành điều Ta ưa thích” (Is 46:10).  Và “ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên, địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời” (Tv 90:2).  Rồi lần tới, Satan sẽ lại nói dối với bạn ở trong tấm gương, hãy nhìn ra chỗ khác và mở sách Kinh Thánh ra để đọc Lời Chúa.  Hãy hướng tới vẻ đẹp cao cả hơn và thỏa mãn hơn: CHĂM CHÚ NHÌN VÀO ĐỨC KITÔ.

Mụ phù thủy xấu xa đã “hỏi ép” chiếc gương thế này: “Gương kia ngự ở trên tường – Nước này ai đẹp được dường như ta?”  Đó là bài học về thói kiêu ngạo và đề cao vẻ đẹp của mình, chỉ là ảo tưởng.  Tiền nhân đã rất thâm thúy khi xác định: “Cái nết đánh chết cái đẹp” hoặc “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.

Calley Sivils – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ DesiringGod.com)

 

GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thi sĩ Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa) viết bài thơ “Đừng thích làm mặt trời.”  Lời thơ thật nhẹ nhàng mà sâu lắng.  Nhiều hình ảnh so sánh rất gần gũi thân thương của đời thường.

Khoan mộng làm mặt trời.

Đừng mơ làm sao sáng.

Hãy cố gắng con ơi.

Làm những điều nhỏ mọn

Chỉ vì mến Chúa thôi.

Tặng người con không thích

Một nụ cười thế thôi.

Đôi mắt nhìn trìu mến

Để chia sẻ tâm tình

Với một người đau khổ.

Viếng thăm và giúp đỡ

Người bệnh tật già nua.

Đừng ngại nắng ngại mưa.

Thấy Chúa trong người họ

Không mắng la nạt nộ.

Đừng giận dữ một ai.

Chút mật bắt nhiều ruồi

Hơn giấm chua từng hũ.

Hiền lành và tha thứ

Biết rộng rãi khoan dưng.

Theo Chúa ở khiêm nhường

Và sẵn sàng phục vụ.

Việc làm tuy bé nhỏ

Giá trị thật vô cùng

Làm mặt trời đừng mong.

Cũng đừng mơ làm sao sáng…

Đọc thơ, tôi liên tưởng đến hình ảnh Muối và Ánh Sáng của Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.

Khoan mộng làm mặt trời.

Đừng mơ làm sao sáng.

Chỉ mong làm muối đất.

là ánh sáng Chúa thôi.

Hiến chương Nước trời được Chúa Giêsu công bố trong Tin mừng Chúa nhật vừa qua.  Tiếp theo bài giảng trên núi, Chúa Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ: “Anh em là muối cho đời… anh em là ánh sáng thế gian.”

  1. Anh em là muối cho đời, một định nghĩa tuyệt vời về Kitô hữu. 

Sử gia Pliny viết: “Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng.”  Không có ánh sáng, cỏ cây sẽ úa tàn.  Không có muối, sơn hào hải vị cũng sẽ ra nhạt phèo.  Chúa Giêsu ví các môn đệ của Ngài như muối đất và ánh sáng của trần gian.  Đây là một vinh dự cho các môn đệ vì họ được mời gọi tham dự vào sứ mệnh làm muối đất, ánh sáng của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng soi chiếu trần gian u mê (Mt 4,16; Pl 2,15; Ep 5,8).  Ngài đến để giảng dạy cho thế gian biết đâu là hạnh phúc chân thật: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).  Chúa Giêsu đã chữa lành những kẻ bị tật nguyền, xoa dịu những tâm hồn đau khổ.  Như muối đất, tình yêu của Ngài được biểu lộ qua những nghĩa cử bác ái và cái chết, đã làm cho trần gian tẻ nhạt và khổ đau thêm mặn mà, ý vị.

“Muối đất.”  Muối được dùng để khử trùng, gìn giữ thức ăn và để nêm vào các món ăn cho thêm hương vị mặn mà.  Nếm một món ăn thiếu muối sẽ thấy nhạt nhẽo.  Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món ăn trở nên đậm đà và dễ ăn.  Người bị bệnh cao huyết áp phải ăn lạt nên thường ăn mất ngon.  Người Việt thường dùng nước mắm để nêm các món ăn, nhưng vẫn phải thêm muối, món ăn mới hấp dẫn.

Vào thời Chúa Giêsu, muối tượng trưng cho tính hiếu khách.  Khách đến nhà thường được tặng bánh mì và muối, biểu hiệu sự tiếp đón nồng hậu.

Ngày xưa, khi chưa khám phá ra phân bón hóa học, người ta dùng muối để làm đất đai thêm phì nhiêu.  Khi chưa có tủ lạnh, muối còn được dùng để ướp cá, thịt và thức ăn, cất giữ được lâu ngày hơn.  Chúa Giêsu sai các môn đệ đến trong thế gian như người ta nêm muối vào thức ăn để thêm hương vị và giữ được lâu.  Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng.  Mặn thuộc về bản chất của muối.  Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng.  Vị mặn là tình yêu tha nhân mặn mà.  Yêu Chúa mặn nồng, yêu tha nhân mặn mà, đời sống Kitô hữu sẽ ướp hương vị tình yêu mặn mòi cho cuộc đời.

  1. Anh em là ánh sáng cho trần gian, một định nghĩa quá cao trọng về Kitô hữu.

 Chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga1,5), chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12).  “Anh em là ánh sáng” vì anh em gần Thầy “gần đèn thì sáng.”

“Ánh sáng thế gian.”  Một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt đó là đèn dầu.  Một căn nhà có đèn sáng báo hiệu đang có người ở, có sự sống.  Một người đi lạc trong đêm tối hẳn sẽ rất sung sướng khi thấy có ánh đèn.  Ánh đèn đem lại niềm vui và thu hút mọi người.  “Các con là ánh sáng thế gian,” đây là lời mời gọi truyền giáo, qua đời sống, qua lời nói và hành động, Kitô hữu được mời gọi làm ánh sáng hy vọng cho những ai đang lần bước trong bóng tối tuyệt vọng, dẫn dắt họ đến với Chúa.  Trong bóng đêm mịt mùng, một ánh lửa nhỏ cũng có thể được nhìn thấy từ xa.

Chúa Giêsu không nói: các con hãy cố gắng làm muối đất và trở nên ánh sáng cho thế gian nhưng lại nói: “Các con là muối đất và là ánh sáng thế gian”, bởi vì các con là môn đệ của Thầy, vì các con đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

“Các con là sự sáng thế gian”, sự sáng này không phải do chúng ta tạo nên, nhưng phát xuất từ Chúa Kitô: “Ta là sự sáng thế gian” (Ga 8,12).  Chúa Giêsu muốn chúng ta như tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài, cho mọi người và cho mọi nơi.  Do đó, ánh sáng được chiếu tỏa không phải cho chúng ta được vinh danh, nhưng cho vinh quang của Chúa: “Sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời.”

Muối đất, sự sáng thế gian: hai hình ảnh cùng diễn tả một lời mời gọi.  Tiên tri Isaia, trong Bài đọc 1 đưa ra những phương cách để giữ muối khỏi “lạt” và ngọn đèn luôn chiếu sáng.  Đó là sống bác ái, chia cơm sẻ bánh cho người nghèo đói, tiếp đón những kẻ bất hạnh vô gia cư, cho quần áo những người không đủ mặc…  Khi ấy, “ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày.”

Có lẽ nhiều người sẽ tự nhủ: làm sao mình có khả năng và xứng đáng làm muối đất và sự sáng cho mọi người?  Nắm muối gồm những hạt muối nhỏ dồn lại, đèn sáng được nhờ những giọt dầu góp lại.  Những hạt muối nhỏ đó, những giọt dầu đó là những việc bé nhỏ mà chúng ta thực hiện trong đời sống hằng ngày: những nụ cười, lời nói lịch thiệp, những cử chỉ bác ái khiêm nhường, thái độ biết lắng nghe, sống tha thứ biết nghĩ đến người khác…

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến chứng từ muối đất và ánh sáng trần gian của Kitô hữu.  Nếu chúng ta thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương thì chính đời sống, việc làm, việc bác ái sẽ mang lại hương vị cuộc đời, hương thơm cho mọi người, chiếu tỏa ánh sáng giúp nhiều người đến với Chúa là “nguồn ánh sáng và ơn cứu độ” (Tv 2,1).  Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu để rồi chiếu lên làn ánh sáng hy vọng, ánh sáng tin yêu, ánh sáng công bình bác ái.  Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là muối thêm hương vị đức ái cho đời, là những ánh sáng đức tin soi đường truyền giáo.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

 Chúa Giê-su, một tên vô thần

 

Chúa Giê-su, một tên vô thần – Nụ cười trong cung lòng Thiên Chúa

Chúa Giêsu than phiền rằng Ngài chưa hề được xem đá bóng lần nào. Chúng tôi liền đưa Ngài đi xem một trận đấu rất gay go giữa một đội Tin Lành và một đội Công Giáo. Ðội Công Giáo làm bàn trước: “Một Không!” Chúa Giêsu vỗ tay hoan hô và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, đội Tin Lành gỡ hòa một một. Chúa Giêsu lại vỗ tay reo hò và tung mũ lên trời.

Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu. Ông ta đập mạnh vai Ngài và hỏi:

– Ê, ông bạn! Ông bạn ủng hộ bên nào thế?

Xem chừng như còn bị kích động bởi trận đấu, Chúa Giêsu trả lời:

– Tôi hả? Tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây là chỉ để thưởng thức trận đấu thôi.

Người khán giả khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu, nay lại càng bực bội hơn. Ông ta quay sang người bên cạnh và nói nhỏ:

– Hắn là một tên vô thần!

Trên đường về nhà chúng tôi chất vấn Chúa Giêsu về tình hình tôn giáo trên thế giới. Chúng tôi nói với Ngài:

– Thưa Chúa, những con người có tôn giáo thật là buồn cười. Họ tưởng rằng Thiên Chúa chỉ đứng riêng về phía họ và nghịch lại với những người theo tôn giáo khác”.

Chúa Giêsu gật đầu tỏ vẻ ưng ý. Ngài bảo:

– Ðó là lý do tại sao Ta không ủng hộ tôn giáo nào mà chỉ ủng hộ con người. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người quan trọng hơn ngày Sa-bát. Chúng con nên biết rằng chính những người có tôn giáo đã đóng đinh Ta trên thập tự.

* * *

Câu chuyện trên đây cho chúng ta thấy rằng một trong những vết thương lớn nhất của nhân loại đó là những cuộc chiến tranh tôn giáo xảy ra vì thái độ bất khoan dung của các tín đồ.

Người ta quá bị cám dỗ nhân danh Thượng Ðế, thần minh hay ý thức hệ của mình để triệt hạ, loại trừ, bách hại người khác. Trong khi đó thì tôn giáo nào mà lại không dạy sự khoan dung, lòng nhân ái đối với con người.

Chúa Giêsu đến mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa là Cha của mọi người. Ngài là Ðấng làm cho mặt trời mọc lên cho người lành cũng như kẻ dữ. Ngài yêu thương những ai nhận biết và yêu mến Ngài cũng như những ai chối bỏ và thù ghét Ngài. Ngài muốn các con cái Ngài yêu thương nhau như anh em cùng một gia đình.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Ðấng mà người ta sẽ chối bỏ nếu người ta khước từ anh em đồng loại của mình. Thiên Chúa ấy là Ðấng mà người ta cũng sẽ xúc phạm, khủng bố, nếu người ta xúc phạm và khủng bố con người.

“Saolô, Saolô! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Lời hạch hỏi ấy, mãi cho tới ngày nay dường như vẫn còn vang vọng khắp nơi giữa những người tin vào Ðức Kitô và tin vào Thiên Chúa, giữa những người hãnh diện về niềm tin của mình.

(nguồn: Nụ cười trong cung lòng Thiên Chúa)

NỖI LO SỢ KHÔNG TÊN

NỖI LO SỢ KHÔNG TÊN

Chuyện kể rằng, một người nọ sau khi từ giã cõi đời và được về bên Thượng Đế, anh ta mạo muội xin phép Thượng Đế cho anh ta được sống lại một vài giai đoạn trong đời anh ta.  Sau khi suy nghĩ và thấy anh này cũng có một đề nghị hơi lạ, Thượng Đế đã đồng ý.  Anh ta xin tiếp, “Thưa Ngài, sau mỗi quãng đời, xin cho con được dừng lại và về gặp Ngài để hỏi một vài thắc mắc có được không?” Thượng Đế cũng tỏ vẻ vui lòng ưng thuận.  Vậy là người này trở lại kiếp người.

Anh ta làm lại một cậu học trò với bao bận rộn với việc học hành, nhưng cũng không ít vui chơi hồn nhiên giải trí.  Nhưng khi phải vượt qua những kỳ thi, thì cậu học trò lại tỏ ra lo sợ.  Cậu ta lo sợ bị thi rớt, sợ bị điểm thấp, sợ bị chúng bạn chê cười…  Cậu ta xin dừng cuộc đời lại đó và đi hỏi Thượng Đế.  “Thưa Ngài, tại sao con phải lo sợ những chuyện thi cử?”  “Con lo sợ chúng vì con đã nhìn cuộc đời của con như thể chỉ có chuyện thi cử mà quên đi những chuyện khác xung quanh con.”  Thượng Đế trả lời.

Anh ta trở lại dương thế và tiếp tục làm người.  Giai đoạn này, anh ta có người yêu, lập gia đình, có con, và tưởng chừng như anh ta đã vượt qua những nỗi lo sợ của thời trẻ con.  Thế nhưng, anh ta vẫn lo sợ.  Anh sợ vợ anh phản bội, con anh không đủ sức khỏe, công việc làm ăn không ổn định.  Anh dừng cuộc đời lại và đi hỏi thượng đế.  “Thưa Ngài, dù biết rằng con đã không nhìn cuộc đời như trước đây nữa, nhưng sao con vẫn lo sợ?”  Thượng Đế đáp, “Con lo sợ vì con muốn sở hữu chúng vĩnh viễn; con không muốn bị mất chúng.  Con nên nhớ, điều gì con càng muốn nắm giữ, thì con càng lo sợ chúng bị mất đi.”

Trở lại cuộc sống dương thế lần thứ ba, giờ đây ở tuổi cao niên, sau bao tháng ngày sợ hãi, lo lắng, ông già trông bình an và chấp nhận hơn.  Ông không lo sợ bị mất vợ và lo lắng cho con cái như trước đây.  Nhưng trong tâm thức ông, một nỗi lo âu, sợ hãi vẫn ám ảnh ông.  Nỗi lo sợ của ông không còn là nỗi lo liên quan đến “cơm áo, gạo tiền” như trước đây, nhưng ông lại sợ bị lãng quên những công trạng của thời trai trẻ; ông lo những thành quả ông góp cho đời sẽ bị mất dấu tích.  Kỳ lạ thay, ông lại lo không còn được cảm nếm những nỗi lo sợ của thời học trò, của thời thiếu niên, của người thanh niên mà ông đã trải qua.  Ông quá tò mò nên quay về hỏi Thượng Đế, “Thưa Ngài, tại sao những điều lúc trước làm con lo sợ, thì bây giờ con lại sợ không còn được cảm nếm những nỗi sợ ấy nữa?”  Thượng Đế đáp, “Con yêu! Chừng nào con còn sống trong quá khứ, muốn quay trở lại quá khứ; và chừng nào con còn lo nghĩ về tương lai, muốn làm chủ lấy tương lai, thì con còn sống trong sợ hãi.  Cha không có quá khứ, Cha không có tương lai.  Cha chỉ có hiện tại.  Nơi nào không có hiện tại, nơi đó không có bình an.”

*******************************

Quí bạn thân mến, mẩu chuyện tưởng tượng trên cho ta thấy rằng, đời con người xem chừng như cứ bị bao trùm hết nỗi lo sợ này đến nỗi lo sợ khác: Nỗi lo sợ của đứa trẻ mới bước vào đời, nỗi lo sợ của người thanh niên về tương lai, và nỗi lo sợ của vị cao niên về quá khứ của mình bị đánh mất.  Vậy nỗi lo sợ ấy đến từ đâu, và lý do gì mà ta lo sợ?

Suy gẫm thấu đáo ta có thể nhận thức rằng, hoàn cảnh “đáng sợ” không thực sự đáng sợ như ta tưởng, nhưng điều làm ta lo sợ chính là ta lo sợ điều chưa xảy ra.  Chúng ta thường sợ điều chưa xảy đến hơn là điều đã xảy đến.  Nếu quí bạn có dịp trò chuyện với các bệnh nhân mang những căn bệnh nan y, thì có rất nhiều người cho rằng, điều đáng sợ của họ bây giờ không phải là căn bệnh họ đang mang, mà là những điều khác.  Nỗi sợ của họ bây giờ không còn là căn bệnh nữa, nhưng là sợ bị bỏ rơi, bị cô đơn, bị quên lãng, và biết bao nhiêu nỗi sợ không tên khác.  Kỳ thực thay, dù ai trong chúng ta cũng đã không ít một lần bị bỏ rơi, cũng đã không ít có một lần kinh nghiệm cô đơn, và bị người đời quên lãng; biết là như thế và đã trải qua kinh nghiệm nhiều lần như thế trong đời rồi, nhưng con người vẫn lo sợ chúng; con người vẫn rối lên khi đối diện chúng.

Thưa bạn, bạn cũng như tôi đã trải nghiệm những lo sợ mà có lúc đã làm chúng ta mất ăn mất ngủ ở lứa tuổi học trò, ở tuổi xuân, ở những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất (người thân ra đi, bị tù đày tra tấn….)  Xét cho cùng, cuối cùng nỗi lo sợ này cũng chỉ có thế thôi, có phải không?  Thế thì những nỗi sợ hôm nay – giây phút này – ngay lúc này, cũng chỉ là một phần của kiếp làm người của chúng ta mà thôi.  Hãy nhìn chúng như là một phần đời của chúng ta để giúp chúng ta nâng cao giá trị đời mình, chứ đừng để chúng trở thành nỗi ám ảnh bao trùm những vẻ đẹp của giây phút hiện tại.

Thưa bạn, hôm nay tôi mời gọi bạn hiểu sâu hơn ý nghĩa thực của giây phút hiện tại.  Vì thực ra cuộc đời của bạn chỉ có hôm nay, giây phút này chứ không phải hôm qua hay ngày mai.  Và dù bạn có lo sợ điều gì lớn lao đến mấy đi chăng nữa, mỗi ngày bạn cũng phải đi qua 1440 phút.  Vậy bạn muốn sở hữu 1440 khoảnh khắc bình an, tự tại hay là 1440 nỗi âu lo, sợ hãi???

Br. Huynhquảng

*******************************

 Lạy Chúa, 
hôm nay con bỗng sợ nhiều thứ
sợ thời gian, sợ chặng đường phía trước…
Con sống trong tâm trạng hoang mang
thấy bóng tối cứ bao phủ lấy con.
Con vùng vẫy và muốn tìm lối thoát
thực sự là con rất sợ!

Chúa biết con đã cố gắng nhiều và đã yêu mến nhiều
đã vui nhiều và cũng đã buồn nhiều
thất bại nhiều và khờ dại cũng nhiều…
Nhưng Chúa biết, trong mọi sự con đều cố gắng với tình yêu
Khoác trên mình chiếc áo dòng, con muốn làm Vinh Danh Chúa
Muốn làm một tu sĩ đích thực của Chúa.

 Lạy Chúa, 
nhưng hình như con đã quy chiếu quá nhiều về mình
hình như trong con vẫn còn quá nhiều ngạo nghễ.
Con muốn học thật tốt và sống thật tốt,
con muốn mình làm gì thì kết quả cũng phải thật tốt.
Con muốn làm vinh danh Chúa,
nhưng hình như con cũng muốn làm vinh danh con…
Thế nên những thất bại làm con đau đớn ê chề
và những long đong vô định làm con sợ hãi.

Xin dạy con sống Thánh, bằng việc sống tốt giây phút hiện tại
và vượt qua sợ hãi, bằng việc không quá bận lòng về tương lai.
Xin cho con có sức mạnh của Chúa
để không khó khăn nào có thể khuất phục được con
Xin cho con luôn vững tin vào Chúa
rằng trong Chúa mọi sự đều có thể.
Và xin cho mỗi bước con đi, mỗi việc con làm
đều in đậm Tình Yêu nhưng không của Chúa.

 Quỳnh Trâm