Thiên Thần Bản Mệnh

Thiên Thần Bản Mệnh:

Thánh Giêrônimô thành Nyssa nói : “Chúa biết ác tâm của các thần dữ đang tìm cách ngăn trở không cho ai vào chỗ của chúng đã mất trên trời, nên Người ban cho mọi người chúng ta một thiên thần bản mệnh, để chống lại các nỗ lực của kẻ thù phần rỗi chúng ta”

Lính mục Công Giáo tên Lamy kể lại rằng. Một phụ nữ Công Giáo đạo đức xin tôi đến ban bí tích Xức Dầu Thánh cho chồng bà. Ông đau nặng, nhưng chưa hẳn ở vào giai đoạn cuối đời. Dầu vậy, bà ước ao cho chồng được lãnh nhận Bí Tích Bệnh Nhân khi còn tỉnh táo. Bà tự nhủ:

“Đâu ai biết được giờ chết sẽ xảy đến thình lình như thế nào!”.

Tôi nhận lời đến ngay, nhưng không mang theo dầu thánh, sợ gây hoảng sợ cho người bệnh. Lúc đến thăm, tôi ngạc nhiên khi thấy chính ông chồng ngỏ lời xin tôi ban phép bí tích sau cùng cho ông. Tôi vội vàng ra về và hứa sẽ trở lại ngay, mang theo Dầu Thánh. Bà vợ nói với tôi:

– “Thưa cha, con khép hờ cánh cửa ra vào. Khi nào đến, xin cha cứ tự tiện đẩy cửa vào nhà”.

Nhà hai ông bà ở trong một chung cư nơi lầu 6. Vào thời kỳ đó, các chung cư chưa có thang máy.

Một giờ sau, tôi bước vội lên cầu thang nhưng vô ý không tính xem mình đang ở lầu mấy. Bất ngờ tôi thấy trước mặt một cánh cửa khép hờ. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Một người đàn ông đang nằm trên giường, không giống người đàn ông lúc nãy, nhưng tình trạng bệnh hoạn lộ vẽ trầm trọng rõ ràng. Tôi lúng túng xin lỗi và chào thăm ông. Không ngờ, người bệnh như tỏ dấu hài lòng trông thấy một linh mục Công Giáo. Ông nói ngay:

– “Cha có biết không? Từ một tuần nay, con nài nĩ nhà con mời một linh mục đến cho con gặp. Nhưng nhà con cương quyết từ chối. Bởi lẽ cả hai vợ chồng chúng con đều là kẻ vô thần. Riêng con, ý nghĩ biết mình sắp chết khiến con kinh hoàng. Con liền tìm cách trở về với đức tin con nhận lãnh trong thời thơ ấu. Nhà con không đồng ý với con”. Nhà con nói:

– “Hễ là kẻ vô thần thì phải vô thần cho đến chết! Không có chuyện ‘tôn giáo nhảm nhí’ vài giây phút cuối đời!”. Thấy nhà con một mực từ chối, con liền quay sang khẩn khoản nài van Thiên Thần Bản Mệnh con cứu giúp. Con nhớ lại bài học giáo lý ngày con còn nhỏ về sự trợ giúp của Thiên Thần Hộ Thủ”.

Và Thiên Thần Bản Mệnh đã ra tay cứu giúp. Bà vợ của ông vừa ra khỏi nhà, nhưng quên đóng cửa lại. Còn tôi, tôi lại đi lộn cửa, vào nhằm nhà của ông. Tôi vui mừng nghe câu chuyện ông vô thần vừa kể. Tôi giúp ông dọn mình nhận lãnh các bí tích sau cùng. Tôi trao cho ông Mình Thánh Chúa làm của ăn đàng.

Xong xuôi đâu đó, tôi cẩn thận khép kín cửa lại và tiếp tục leo cầu thang lên lầu 6, nơi người bệnh thứ nhất đang chờ đợi tôi. Vừa đi tôi vừa đọc kinh cầu cùng Thánh Thiên Thần Bản Mệnh: “Lạy Thiên-Thần Chúa là đấng gìn giữ con. Xin Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen”.

ST.

ĐTC Phanxicô: Lời cầu nguyện của anh chị em được Chúa lắng nghe, đừng bỏ cầu nguyện

httpv://www.youtube.com/watch?v=CqiqzmiOJFcĐTC

ĐTC Phanxicô: Lời cầu nguyện của anh chị em được Chúa lắng nghe, đừng bỏ cầu nguyện

Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 26/5,/2021, Đức Thánh Cha nói rằng bằng gương mẫu của Người, Chúa Giêsu cho thấy rằng Thiên Chúa thấu hiểu đau khổ của chúng ta, tuy Người không luôn luôn đáp ứng mong ước của chúng ta. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu đã cầu nguyện nhưng dường như không được Chúa Cha đáp lời. Sự tín thác hoàn toàn của Người vào ý định của Chúa Cha đã đưa đến ơn cứu độ cho chúng ta và vinh quang phục sinh. Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu rằng nếu có những khi chúng ta bước đi trong bóng tối, chỉ được ánh sáng đức tin hướng dẫn, chúng ta đừng bao giờ hết tín thác vào thánh ý Chúa Cha.

Hồng Thủy – Vatican News

Sáng thứ Tư 26/5/2021, như hai tuần trước đây, Đức Thánh Cha tiếp tục gặp gỡ trực tiếp các tín hữu trong buổi tiếp kiến chung được tổ chức tại sân Damaso ở nội thành Vatican. Trong bài giáo lý, Đức Thánh Cha đã chia sẻ về vấn nạn: những lần mà lời cầu nguyện của chúng ta dường như không được Thiên Chúa đáp lời.

Đức Thánh Cha chia sẻ rằng có những khi chúng ta tha thiết cầu nguyện, khấn xin Chúa những điều cao đẹp, ví dụ như cầu nguyện cho con cái đang đau bệnh, hay cho người bạn đang rất đau khổ, nhưng chúng ta thất vọng khi cảm thấy Chúa không nghe lời cầu xin của chúng ta, và thậm chí chúng ta còn bỏ cầu nguyện. Nhưng Chúa Giêsu, bậc thầy về cầu nguyện, đã dạy cho chúng ta kinh Lạy Cha, để cầu xin nhiều điều, nhưng trên hết là xin cho ý Chúa được thực hiện. Một đức tin trưởng thành thì tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, vào kế hoạch của Người dành cho cuộc đời và thế giới của chúng ta, tuy chúng ta vẫn cảm thấy vô cùng thất vọng khi dường như lời cầu nguyện của mình không được lắng nghe.

Bằng gương mẫu của Người, Chúa Giêsu đã cho thấy rằng Thiên Chúa hiểu đau khổ của chúng ta, tuy Người không luôn luôn đáp ứng mong ước của chúng ta. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu đã cầu nguyện nhưng dường như không được Chúa Cha đáp lời. Sự tín thác hoàn toàn của Người vào ý định của Chúa Cha đã đưa đến ơn cứu độ cho chúng ta và vinh quang phục sinh.   

Giáo lý của Đức Thánh Cha

 Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Có một sự phản đối quyết liệt việc cầu nguyện; nó xuất phát từ điều mà tất cả chúng ta đều quan sát thấy: chúng ta cầu nguyện, chúng ta cầu xin, nhưng đôi khi lời cầu nguyện của chúng ta dường như vẫn không được lắng nghe: những gì chúng ta đã cầu xin – cho chính mình hay cho người khác – không được đáp lời. Nếu lý do cầu nguyện của chúng ta cao thượng (ví dụ như khẩn cầu cho sức khỏe của một bệnh nhân, hay cho chiến tranh kết thúc), thì lời cầu nguyện không được ứng nghiệm có vẻ như khiến chúng ta bị khủng hoảng. Sách Giáo lý nói: “Có người thôi không cầu nguyện nữa, vì nghĩ rằng Thiên Chúa không nhận lời mình cầu xin” (GLCG 2734). Nếu Thiên Chúa là Cha, tại sao Người không lắng nghe chúng ta? Người đã bảo đảm với chúng ta rằng Người sẽ ban những điều tốt lành cho con cái của Người khi họ cầu xin Người (xem Mt 7,10), tại sao không đáp lại những lời cầu xin của chúng ta?

Nguy cơ biến tương quan với Chúa thành một điều có tính ma thuật

Đức Thánh Cha lưu ý rằng sách Giáo lý Công giáo trình bày với chúng ta một tóm tắt hay về vấn đề này. Ngài giải thích: Nó cảnh báo chúng ta trước nguy cơ không sống kinh nghiệm đức tin đích thực, nhưng lại biến tương quan với Thiên Chúa thành một điều gì đó có tính chất ma thuật. Thật vậy, khi cầu nguyện, chúng ta có thể rơi vào nguy hiểm là không phải chúng ta phụng sự Thiên Chúa, nhưng mong đợi rằng Chúa là người phục vụ chúng ta (xem số 2735). Đây là một lời cầu nguyện luôn đòi hỏi, muốn hướng các sự kiện theo kế hoạch của chúng ta, không chấp nhận các dự án khác ngoài mong muốn của chúng ta. Ngược lại, Chúa Giê-su rất khôn ngoan khi dạy chúng ta “Kinh Lạy Cha”. Như chúng ta biết, đó là lời kinh chỉ gồm những lời cầu xin, nhưng những lời cầu xin đầu tiên mà chúng ta thốt ra đều thuộc về phía Thiên Chúa. Chúng là những lời cầu xin, không phải xin cho kế hoạch của chúng ta được hoàn thành, nhưng xin cho ý Thiên Chúa dành cho thế giới được thực hiện. Tốt hơn là phó thác nó cho Thiên Chúa: “Xin cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện” (Mt 6, 9-10).

Phải khiêm tốn khi cầu nguyện

Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng thánh Phao-lô tông đồ nhắc nhở chúng ta rằng thậm chí chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (xem Rm 8,26). Tuy thế, điều chúng ta biết là khi cầu nguyện, chúng ta phải khiêm tốn, để lời nói của chúng ta thực sự là lời cầu nguyện chứ không phải là những lời nói suông mà Thiên Chúa sẽ từ chối. Chúng ta cũng có thể cầu nguyện vì những lý do sai lầm như: đánh bại kẻ thù trong một cuộc chiến, mà không tự hỏi xem Thiên Chúa nghĩ gì về cuộc chiến đó. Thật dễ dàng khi viết dòng chữ “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” trên một biểu ngữ; nhiều người cương quyết đảm bảo rằng Thiên Chúa ở cùng họ, nhưng lại có ít người quan tâm đến việc xác minh rằng họ có thực sự ở với Chúa không. Trong lời cầu nguyện, chính Chúa phải hoán cải chúng ta, chứ không phải là chúng ta là người phải hoán cải Thiên Chúa.

Chúa không luôn trả lời ngay lập tức

Tuy nhiên, khủng hoảng vẫn còn đó: khi con người cầu nguyện với tấm lòng chân thành, khi họ cầu xin điều tốt phù hợp với Nước Thiên Chúa, khi một người mẹ cầu nguyện cho đứa con bị bệnh của mình, tại sao đôi khi Thiên Chúa không lắng nghe? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải bình tâm suy niệm các sách Tin Mừng. Các  tường thuật về cuộc đời của Chúa Giêsu đầy những lời cầu nguyện: nhiều người bị thương về thể lý và tinh thần cầu xin Người chữa lành; có người cầu nguyện cho một người bạn không còn đi được nữa; có những người cha, người mẹ cầu nguyện  những đứa con bệnh tật … Tất cả đều là những lời cầu nguyện ngập trong đau khổ. Đó là một dàn đồng ca vĩ đại đang khẩn cầu: “Xin thương xót chúng con!”.

Đức Thánh Cha nhận định: Chúng ta thấy rằng đôi khi Chúa Giê-su phản ứng ngay lập tức, trong khi trong một số trường hợp khác, Chúa lại trì hoãn đáp lời. Chúng ta hãy nghĩ đến người phụ nữ Canaan van xin Chúa Giê-su cho con gái mình: người phụ nữ này phải nài nỉ rất lâu mới được Chúa nhận lời (x. Mt 15, 21-28). Hoặc chúng ta nghĩ đến người bại liệt được bốn người bạn của ông mang đến: ban đầu Chúa Giêsu tha tội và chỉ sau đó Người mới chữa lành phần xác cho ông (x. Mc 2, 1-12). Vì vậy, trong một số trường hợp, vấn đề không được giải quyết ngay lập tức.

Hãy tiếp tục tin tưởng

Từ quan điểm này, sự kiện Chúa chữa lành cho con gái của ông Giai-ia (xem Mc 5, 21-33) đáng được quan tâm đặc biệt. Người cha vội vã chạy đến với Chúa: con gái ông đang bị bệnh và vì lý do này ông cầu cứu Chúa Giê-su. Người nhận lời ngay, nhưng trên đường họ đi về nhà thì Chúa lại thực hiện một việc chữa lành khác, và sau đó nhận tin rằng đứa trẻ đã chết. Sự việc dường như chấm hết, nhưng Chúa Giê-su nói với người cha: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi!” (Mc 5,36). “Hãy tiếp tục tin”: đó là đức tin duy trì sự cầu nguyện. Và quả thật, Chúa Giê-su sẽ đánh thức bé gái đó khỏi giấc ngủ của thần chết. Nhưng đã có lúc, ông Giai-ia đã phải bước đi trong bóng tối, với ngọn lửa của niềm tin.

Lời cầu nguyện mà Chúa Giê-su thưa với Chúa Cha ở vườn Ghết-sê-ma-nê dường như cũng không được lắng nghe. Chúa Con sẽ phải uống cạn chén của cuộc thương khó. Nhưng thứ Bảy Tuần Thánh không phải là chương cuối cùng, vì vào ngày thứ ba có sự Phục sinh: Thần ác là chúa tể của ngày áp chót, nhưng không phải của ngày cuối cùng. Bởi vì ngày đó chỉ thuộc về Thiên Chúa, và đó là ngày mà mọi khao khát cứu rỗi của con người sẽ được hoàn thành.

CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA BA NGÔI

CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA BA NGÔI

“Chúc tụng Chúa Cha,

Chúa Con và Chúa Thánh Thần,

Vì Chúa đã tỏ lòng từ bi đối với chúng ta.”

Đó là mở đầu thánh lễ mừng kính Chúa Ba Ngôi.  Các bản văn phụng vụ không nhằm giải thích tại sao một Thiên Chúa duy nhất mà lại có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần.  Mạc khải trọn vẹn về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đã được hoàn tất nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng cả khi mạc khải cho các môn đệ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu cũng đã không giải thích tại sao Thiên Chúa duy nhất mà lại có Ba Ngôi.

Chúa Giêsu đã mạc khải cho các tông đồ, nhất là trong bài diễn văn từ biệt dài trong bữa Tiệc Ly về sự hiện diện và tác động của từng ngôi: Cha, Con và Thánh Thần, và về mối tương quan hiệp nhất giữa Ba Ngôi mà không giải thích lý do tại sao.  Các tông đồ lúc đó cũng đã không thắc mắc tại sao như vậy, nhưng các ngài đã yêu mến, chấp nhận và sống mầu nhiệm với hết lòng chân thành.

“Ta và Cha Ta, Chúng ta chỉ là một.  Ai tuân giữ giới răn Ta truyền thì Chúng ta sẽ đến ngự trong người đó.”  Trong Phúc âm thánh Gioan được dùng trong thánh lễ kính Chúa Trời Ba Ngôi là những lời của Chúa Giêsu mạc khải về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha, Con và Thánh Thần.  Chúa Giêsu đã mạc khải cho các môn đệ như sau: “Thầy còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ chúng con không thể lĩnh hội được.  Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dạy chúng con biết tất cả sự thật, vì Người không tự mình mà nói, nhưng Người nghe gì thì sẽ nói như vậy và Người sẽ dạy bảo các con biết những việc tương lai.  Người sẽ làm vinh danh Thầy, vì Người đã lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con.  Tất cả những gì Cha có đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói là Người sẽ lãnh nhận nơi Thầy mà loan truyền cho các con.”

Đó là những lời trích từ bài diễn văn dài được ghi lại nơi ba chương của Phúc âm thánh Gioan, từ chương XIV-XVI, trong đó mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được Chúa Giêsu nhắc đến mà không giải thích cho các tông đồ.  Vấn đề quan trọng nhất không phải là biết hết tất cả mọi sự về Thiên Chúa mà là sống mầu nhiệm Thiên Chúa.  Sự hiểu biết của con người tuy có thể đạt được phần nào về Thiên Chúa nhưng không thể nào biết trọn được cả.

Sự việc đã xảy ra cho thánh Augustinô khi thánh nhân suy nghĩ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là một lời dạy cho chúng ta ngày nay.  Trí khôn con người hữu hạn làm sao có thể hiểu hoàn toàn về Thiên Chúa vô cùng, nếu muốn hiểu thì chẳng khác nào muốn đem nước của đại dương mênh mông mà đổ vào trong một lỗ nhỏ như trò đùa của em bé mà thánh Augustinô gặp nơi bờ biển.

“Thầy con nhiều điều phải nói với chúng con, nhưng bây giờ chúng con không thể lĩnh hội được.  Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dạy chúng con biết tất cả sự thật, Ngài sẽ đưa các con vào trong trọn cả sự thật.”  Mỗi ngày chúng ta cần lớn lên trong tương quan với Thiên Chúa, cần được Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn chúng ta tiến sâu vào trong mầu nhiệm bao la của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đây là một sự khám phá vô cùng và mãi không bao giờ ngừng, cả cho đến khi chúng ta được đối diện với Thiên Chúa trong cõi đời đời.

Mỗi ngày chúng ta càng được hướng dẫn hay để cho mình được hướng dẫn tiến sâu vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi thì chúng ta càng trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, càng được thần thiêng hóa trở nên giống Thiên Chúa hơn và đối xử với anh chị em xung quanh như chính Thiên Chúa muốn.

Càng được thấm nhuần trong mầu nhiệm Thiên Chúa bằng đời sống cầu nguyện, kết hiệp thân tình với Thiên Chúa thì chúng ta càng có tâm hồn quảng đại, mở rộng đón nhận anh chị em xung quanh và phục vụ họ trong mọi hoàn cảnh cụ thể.  Đây là kinh nghiệm sống đức tin của những vị thánh mà không chứng minh hay giải thích nào của lý trí có thể đủ sức trình bày.

Nguyện xin Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần, mà dấu thánh giá chúng ta mang lấy hy sinh mình hàng ngày trước mỗi công việc quan trọng ban cho chúng ta được mỗi ngày một tiến sâu vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, được ẩn mình trong Thiên Chúa, được biến đổi trong Thiên Chúa để sống trọn cuộc sống con người của mình trên trần gian này và mãi mãi trong cõi vĩnh phúc mai sau.

R.Veritas

Trích trong “Mỗi Ngày Một Tin Vui”

From: Langthangchieutim

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ.  Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng.  Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta.  Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim.  Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được.  Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống?  Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó.  Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta.  Dường như công lý cũng thế.  Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy.  Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy.  Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này.  Dường như thường thường là như vậy.  Vậy thì Chúa ở đâu?  Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi!  Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi!  Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô.  Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết?  Chúa Giêsu để Ladarô chết!  Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi.  Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp.  Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương.  Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra.  Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ!  Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa!  Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa.  Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới?  Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy?  Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta?  Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không?  Không.  Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần.  Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta.  Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương.  Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng.  Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa.

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vỉnh cữu.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

(Lm Pio Ngô Phúc Hậu)

Anh Hai Cay vừa hớt tóc cho cha xứ, vừa kể chuyện về đời mình.

– Tôi có một người bạn theo đạo công giáo. Hai đứa chúng tôi thương nhau lắm. Vì hoàn cảnh khó khăn, nó phải lên Bình Dương kiếm sống. Nó viết thư cho tôi và dặn tôi mỗi ngày phải nhớ và đọc cho nó một Kinh Lạy Cha. Vì thương nó, nên tôi đi dự các khóa Giáo Lý Dự Tòng của cha. Thế là tôi hiểu đạo của cha và thuộc Kinh Lạy Cha. Cứ mỗi buổi sáng, khi gà vừa gáy, tôi ra sân đứng trước bàn thờ Ông Thiên, chắp tay đọc Kinh Lạy Cha. Tôi vái trời chúc lành cho thằng bạn của tôi. Làm riết rồi tôi mê đạo này luôn. Tôi hướng dẫn vợ con tôi theo đạo Chúa. Còn tôi thì kẹt, không theo đạo này được.

– Tại sao lại kẹt?

– Cha tôi theo đạo Hòa Hảo. Tôi cũng theo đạo của cha tôi. Nếu bỏ đạo Hòa Hảo, thì là bất hiếu với cha, là phản bội đạo của cha. Chắc là tôi phải theo cả hai đạo, thì mới yên tâm được.

– Theo đạo là một chuyện lớn. Bỏ đạo này theo đạo kia cũng là một chuyện lớn. Trước khi quyết định, anh nên suy nghĩ nhiều và cầu nguyện thật nhiều. cụ thể là mỗi buổi sáng anh đứng trước bàn thờ Ông Thiên đọc Kinh Lạy Cha, xin Chúa chúc lành cho bạn của anh, thì bây giờ anh thêm một ý nguyện nữa là: xin cho ý Chúa thể hiện nơi chính cuộc đời của anh. Trong khi chờ anh cầu nguyện và suy nghĩ, tôi kể chuyện dòng dài cho anh nghe chơi.

1.Suốt đời cha anh chỉ có một cái xuồng be mười và chỉ có một cặp chèo. Chèo xuồng đi thăm ông nội. Chèo xuồng đi đám cúng cơm. Chèo xuồng đi hỏi vợ cho con. Chèo xuồng đi chà gạo…Thôi thì trăm thứ chuyện, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, tất cả đều làm với cái xuồng ấy và với cặp chèo ấy. Bây giờ cha anh chết rồi anh thừa kế cái xuồng be mười ấy. Anh lại tiếp tục chèo. Chèo lõm chõm, chèo luồn lách từ rạch này qua rạch kia.Thương quá là thương!

Bỗng thằng con của anh góp ý: “Xuồng chèo bây giờ lạc hậu lắm rồi ba ơi. Mình mua xuồng composite gắn máy đuôi tôm, chạy bảnh hơn nhiều”.

Bây giờ tôi hỏi anh Hai nhá.

– Nếu anh bán xuồng chèo, để mua xuồng máy, thì cha anh ở chín suối có buồn giận anh không?

– Thấy con cái mình làm ăn khấm khá, thì ổng mừng chứ buồn giận gì?

– Thấy anh bán xuồng chèo của ông già, thì xóm giềng có lên án anh là thằng con bất hiếu không?

– Hổng dám đâu. “Con hơn Cha là nhà có phước”. Ai cũng nói vậy đó.

– Người ta thường bảo rằng: Đạo nào cũng tốt, nên theo đạo nào cũng được. Cần chi mà phải đứng núi này trông núi nọ. Để anh yên tâm, tôi kể thêm một chuyện nữa.

2.Anh xách vali đi Sàigòn. Tới ngã ba, lẽ ra anh phải lên xe buýt đi về hướng Bắc, thì anh lại lên xe lam đi về hướng Nam. Đi được một tiếng đồng hồ, anh mới giật mình: “Chúa ơi! Tôi đi lộn đường rồi”. Ông bạn ngồi kế bên góp ý với anh: “Không sao. Đường nào cũng tốt. Cứ tiếp tục đi với tôi. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu nào đó”. Anh nghĩ gì về ý kiến của người bạn đó?…

Ở trên đời này có rất nhiều tôn giáo vừa cao siêu vừa tốt đẹp. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ vô bừa đạo nào cũng được. Đạo là đường. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu. Nhưng ta phải chọn. Nếu ta muốn đi Sàigòn thì phải quẹo tay phải để đi về hướng Bắc. Nếu ta muốn đi Cà Mau thì phải quẹo tay trái đi về hướng Nam. Các tôn giáo cũng vậy. Đạo Phật giúp ta diệt khổ để đi vào cõi phúc. Đạo Khổng giúp ta xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự. Đạo Kitô đưa ta về với nguồn cội là Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Ái… Đạo nào cũng tốt. Nhưng vẫn phải chọn lựa. Đường nào cũng đưa ta tới một mục tiêu. Nhưng vẫn phải tự hỏi mình sẽ đi về đâu, để chọn một trong các con đường ấy.

3.Có một người theo đạo Phật. Đạo Phật cao quá, đẹp quá. Tìm hiểu và sống đến chết vẫn chưa hưởng hết được cái đẹp của Đạo. Bỗng một ngày nọ, người ấy gia nhập đạo CôngGiáo. Mừng quá! Bạn cũ bạn mới đua nhau chất vấn.

– Chị bỏ đạo Phật, theo đạo Công Giáo, chị có thấy lương tâm bứt rứt gì không?

– Thưởng thức rừng hoa này, rồi sang rừng hoa khác để thưởng thức nữa, thì tại sao lại phải bứt rứt. Chỉ có niềm vui này cộng với niềm vui kia mà thôi.

– Khi chị trở lại đạo Công Giáo, thì mặc nhiên là chị đã bỏ đời sống cũ, để mặc lấy đời sống mới.

– Tôi không hề trở lại đạo Công Giáo, có đi sai thì mới trở lại. Tôi theo đạo Phật, đạo Phật quá tốt. Như vậy tôi đi đúng đường. Nay tôi thấy đạo của Chúa hợp với ý nguyện của tôi hơn, thì tôi đi tới. Tôi đi tới, chứ tôi không trở lại. Tôi cám ơn Đức Phật đã dìu dắt tôi tới ngưỡng cửa nhà Chúa. Tôi cám ơn Chúa vì Ngài đã đưa tay ra dắt tôi vào nhà của Ngài.

Anh Hai ơi! Tôi tặng anh ba câu chuyện trên để anh suy nghĩ và cầu nguyện. Tôi cũng cầu nguyện với anh để “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Trong quyển sách mới Thức Tỉnh Hôm Nay (Waking Up to This Day), bà Paula D’Arcy đã chia sẻ câu chuyện sau: Bà quen một người đàn bà, bà này mất người con trai trong một tai nạn.  Vài năm sau, có người nói chuyện với bà, chia sẻ nỗi buồn khi bà không được nhìn đứa con khôn lớn, lập gia đình, không có cháu để ẵm.  Bà trả lời: “Tôi không nghĩ giới hạn ngang đó.  Câu trả lời là tôi không biết.  Tôi không biết cuộc sống con tôi sẽ như thế nào.  Giờ đây, tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng, và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Tôi chẳng làm được gì trong việc này.  Nhưng tôi đã dự phần trong một thời điểm của hành trình tâm hồn nó.  Vì vậy, tôi biết ơn đến không nói nên lời.”

Câu chuyện này nhắc tôi nhớ một câu chuyện khác của một bà đã chia sẻ gần đây trong một cuộc tĩnh tâm.  Mẹ của bà là một phụ nữ thăng bằng vững vàng và có lòng tin ngoại hạng.  Câu tâm niệm bà sống cho chính bà trước, rồi sau này bà lặp đi lặp lại mãi cho các con là: chúng ta chỉ hạnh phúc khi chúng ta biết ơn về những gì chúng ta có, vì, và duy nhất chỉ vì vậy, đó là những gì đủ cho chúng ta.  Lời dạy mãi mãi của bà là: Như vậy là đủ!

Và bà sống điều này trọn vẹn cho đến giờ cuối đời: Bà nhập viện vì một căn bệnh chưa có thuốc trị, nhiễm trùng máu và rất ít hy vọng cứu chữa.  Khi sức khỏe bà ngày càng sa sút, gia đình túc trực bên giường bệnh của bà trong vòng mấy tuần.  Cuối cùng, bà đưa ra quyết định: Bà gọi cả nhà lại và bảo rằng, tất cả đã ở đây với bà và bỏ bê gia đình lâu quá rồi, bà cho biết đã liên hệ với khoa chăm sóc chờ chết trong bệnh viện và yêu cầu được chuyển đến đó, bà sẽ có thể chết trong ngày hôm đó.

Bà được chuyển đến khoa chăm sóc này, y tá báo cho cả nhà biết sẽ tiêm cho bà một liều thuốc mạnh để bà chìm sâu vào giấc ngủ và có thể bà sẽ không bao giờ tỉnh lại.  Lúc chuẩn bị chích, con gái bà, người kể câu chuyện này, ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, ôm chặt bà như đứa trẻ và nói: “Mẹ ơi, một lúc nữa thôi!  Chỉ một lúc nữa thôi!  Đừng ngay bây giờ!  Ở lại với chúng con một chút nữa thôi!”  Nhưng bà, với nghị lực lâu nay của bà, bà nói: “Đủ rồi, vậy là đủ rồi.”  Đó là những lời cuối cùng của bà với cô con gái và với cả gia đình.

Đó là các câu chuyện kiên quyết về những người đàn bà nghị lực, với đủ khôn ngoan và lòng tin để loại bớt các tình cảm ủy mị sai lầm dễ làm cho chúng ta tê liệt khi đứng trước mất mát.  Cả hai đều biết sẽ có lúc ra đi và cách thức ra đi đã không làm giảm đi, nhưng lại tăng thêm tình yêu.  Cả hai đều biết sự thật sâu xa của phục sinh: rằng đức tin không đòi hỏi chúng ta ướp xác chết, nhưng phó thác nó cho trần gian và cho Thiên Chúa, đấng ban sự sống và sự sống lại.  Cả hai đều biết bí mật sâu xa nhất của cuộc sống không bị tê liệt vì cái chết, nhưng để nó ra đi, chuyển tiến và thấm sâu hơn.  Và cả hai đều tôn trọng thích đáng các nhịp điệu sâu lắng của cuộc sống.

Tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Điều này không thuộc về tôi…  Tôi biết ơn đến không nói nên lời vì được dự phần vào bí nhiệm đó.  Như những phụ nữ này, chúng ta sẽ tôn trọng người khác vô cùng nếu chúng ta biết chấp nhận hiện thực đó.  Tình cảm sai lầm thường kéo chúng ta theo các hướng khác.  Chúng ta khóc rất nhiều, vì chúng ta muốn cuộc đời người khác hướng về chúng ta.  Tôi có thể là cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, anh chị em, thầy dạy, bảo hộ hay người bảo vệ của ai đó, nhưng xét đến cùng, linh hồn người đó có sự riêng tư, tự do, ác tính và số mệnh cho riêng họ mà thôi.  Những người khác không vì tôi mà sống.  Hầu hết các giọt nước mắt chúng ta khóc là khóc cho mình, không phải cho người khác.

Đủ rồi!  Đây là những từ quan trọng mình phải có cho hành trang của mình.  Với Thomas Merton, nhận thức (“Đủ rồi!”) tạo nên phần bí mật khó lường của hạnh phúc.  Sau đây là những gì ông mô tả về cách thức tìm kiếm bình an trong cuộc đời của ông.  Trong nhật ký hàng ngày, có một hôm ông chia sẻ ngày hôm đó, ông đã tìm thấy bình an.  Tại sao?  Vì hôm nay đã đủ, sống như một người bình thường, với đói khát và ngủ nghỉ, lạnh lẽo và ấm áp, thức dậy và đi ngủ.  Đắp chăn rồi tung chăn, pha cà-phê rồi uống.  Xả đá tủ lạnh, đọc sách, suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện.  Tôi sống như những tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất này cho đến giờ cuối của tôi.  Amen.  Không cần phải làm một khẳng định về cuộc sống của tôi, đặc biệt về những cái gì của tôi, dù chắc chắn nó không phải của ai khác.  Tôi phải tập quên dần dần các lập trình và tính toán.  Vào một ngày đó trong cuộc đời, ông có thể nói: “Đủ rồi!” Và nó là vậy.

Và chỉ duy nhất sự thừa nhận này mới có thể cắt bớt khối u bất mãn của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

MUỐN ĐI XA HƠN

MUỐN ĐI XA HƠN

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi con già, người khác sẽ thắt lưng cho con, dẫn con đến nơi con không muốn”.

“Ben-Hur”, một tác phẩm sử thi kinh điển, một cuốn phim giành 11 giải Oscar.  Đó là một câu chuyện cao ngất tình Chúa, cao thượng tình người và là sự miêu tả tinh tế về quyền năng, ân sủng và tình yêu.  Thế nhưng, “phần còn lại” nào mấy ai biết!  Đó là khi tác giả Lew Wallace, một người vô thần, bắt đầu nghiên cứu cuộc đời Chúa Giêsu, nhằm viết một điều gì đó để phủ nhận Ngài; thì lạ thay, càng đi sâu vào nghiên cứu, tác giả càng choáng ngợp trước các bằng chứng.  Sau đó, thay vì viết một cuốn sách chứng minh Ngài không phải là Thiên Chúa, ông viết “Ben-Hur”, chứng tỏ Ngài là Chúa Trời, Đấng ‘muốn đi xa hơn’, biến ông thành môn đệ, rao giảng Ngài suốt quãng đời còn lại.

Kính thưa Anh Chị em,

Một điều gì đó tương tự xảy ra nơi Phêrô, khi Chúa Giêsu cũng ‘muốn đi xa hơn’ trong tình yêu ông dành cho Ngài.  Bên bếp lửa hồng, đêm Ngài bị nộp, Phêrô chối Thầy ba bận; bên một bếp lửa hồng khác, ngày Ngài hiện ra sau phục sinh, Phêrô bày tỏ yêu mến Thầy ba lần.  Thật thú vị!  Ngọn lửa thứ nhất chứng kiến sự vỡ vụn của tình yêu Phêrô đối với Thầy; ngọn lửa thứ hai chứng kiến sự tròn đầy của tình yêu Thầy dành cho Phêrô, cũng như sự thanh khiết của tình yêu Phêrô dành cho Thầy mình.  Vậy mà không dừng lại ở đó, tình yêu Chúa Giêsu dành cho Phêrô còn ‘muốn đi xa hơn’, “Khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn.”

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay xảy ra trên bờ hồ Tibêria; ở đó, Gioan ghi lại ba lần Chúa Giêsu hỏi Phêrô, “Con có yêu mến Thầy không?”; và ông đã trả lời ba lần, “Thầy biết, con yêu mến Thầy!”  Câu hỏi của Chúa Giêsu không phải là, “Tại sao con chối Thầy?”, nhưng là “Con có yêu mến Thầy không?”  Ngài không tập trung vào quá khứ nhưng tập chú vào hiện tại.  Quá khứ là quá khứ; hiện tại mới là vấn đề!  Hiện tại là lòng yêu mến; là chiên con, chiên mẹ và cả đoàn chiên Ngài trao.  Thế nhưng, chưa đủ, Chúa Giêsu ‘muốn đi xa hơn’ khi nói đến những gì sẽ xảy ra lúc Phêrô về chiều, “Con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn.”  Thánh Gioan thật nhạy bén khi viết, “Chúa nói thế, có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào.”  Truyền thống cho biết, cuối cùng, Phêrô đã bị đóng đinh; và theo yêu cầu, Phêrô xin được đóng đinh lộn ngược, để mắt dễ hướng lên trời; hơn nữa, vì cảm thấy mình không xứng đáng được chết như Thầy.  Hẳn chính Phêrô cũng ‘muốn đi xa hơn’, xa tận trời, vì Phêrô biết, “Chúa đặt ngai báu trên trời cao thẳm” như Thánh Vịnh đáp ca hôm nay tuyên bố; vì thế, không lạ, chân Phêrô dốc ngược, hướng thẳng lên trời!

Một sự trùng hợp thú vị ở đây, bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay cho thấy Phaolô cũng ‘muốn đi xa hơn’ khi nại đến hoàng đế Rôma, vì chính Chúa Giêsu, Đấng sai ông, cũng đã tiết lộ ý muốn ấy, “Con đã làm chứng về Ta tại Giêrusalem thế nào, thì cũng phải làm chứng về Ta tại Rôma như vậy!”

Ở đây, chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng, cách hiểu của Chúa Giêsu về tình yêu rất khác với cách hiểu của con người.  Với Chúa Giêsu, đau khổ không đối nghịch với tình yêu khi nó được ôm lấy một cách tự do vì một mục đích cao cả hơn.  Chịu đau khổ và đau khổ tự nó không có giá trị gì, nhưng một khi đau khổ được đón nhận trong hy sinh vì tình yêu dành cho người khác, thì nó có khả năng mang một sức mạnh lớn lao đến kỳ diệu!  Và khi Chúa Giêsu nói đến sự nâng đỡ của Ngài dành cho Phêrô, “Simon, Simon, Thầy đã cầu nguyện cho con, để con khỏi mất đức tin!” thì Ngài vẫn ‘muốn đi xa hơn’, khi nhắm đến phần thưởng đời đời mà Phêrô sẽ giành được nhờ chính thập giá của mình.  Việc Chúa Giêsu không né tránh sự đau khổ trong tương lai cho Phêrô là một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất, cho thấy tình yêu hoàn hảo hơn Ngài dành cho ông.

Anh Chị em,

Ai trong chúng ta cũng ‘muốn đi xa hơn’, xa hơn trong bổn phận, xa hơn trong sự thánh thiện…  Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đang hỏi mỗi người đến ba lần, “Con có yêu mến Thầy không?”  Ngài ước muốn tình yêu chúng ta dành cho Ngài thật tinh tuyền, trọn vẹn; Ngài không chấp nhận một trái tim bị phân chia vì bất cứ lý do nào.  Bởi chỉ với tình yêu hoàn hảo, chúng ta mới có thể tận tình chăn dắt và dám hy sinh cho đoàn chiên, chiên mà Chúa đã mua bằng chính máu Ngài.  Như thế, nhờ tình yêu thuần khiết, mỗi người chúng ta mới có thể đi xa hơn trong ơn gọi của mình như Chúa mong muốn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con ‘muốn đi xa hơn’ trong việc nên thánh, trong bổn phận; xin Thánh Thần Chúa thanh luyện cho trí lòng con tinh tuyền, sạch trong; đồng thời, đốt cháy trong tim con lửa yêu mến”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NGỌN LỬA THẦN LINH

NGỌN LỬA THẦN LINH

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Lửa là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.  Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại: vào ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống như hình lưỡi lửa trên mỗi tông đồ trong lúc các ông đang cầu nguyện xung quanh Đức Maria.  Kể từ giây phút Chúa Thánh Thần ngự đến, các ông trở thành những chứng nhân can đảm của Đấng Phục sinh.  Họ mở tung cánh cửa trước đó còn đóng kín.  Họ mạnh mẽ rao giảng về Đức Giêsu.  Lời giảng ấy có sức thuyết phục đến nỗi trong ngày hôm ấy có ba ngàn người xin theo Đạo.  Ngọn lửa là Thánh Thần có sức mạnh thật kỳ diệu.  Đó là ngọn lửa thần linh.

Công dụng của lửa trước hết là để sưởi ấm.  Vào thời cuộc sống còn hoang sơ cũng như hiện nay tại miền thôn quê hẻo lánh, người ta cần có lửa để sưởi ấm vào mùa đông.  Chúa Thánh Thần là Đấng sưởi ấm tâm hồn chúng ta.  Do tội lỗi, tâm hồn chúng ta trở nên băng giá, sức sống bị bóp nghẹt.  Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta được ơn tha tội và được hồi sinh, trở nên ấm áp bình an.  Chúa Thánh Thần vừa ban cho chúng ta sự ấm áp của tình Chúa, vừa giúp chúng ta tìm thấy sự ấm áp của tình người, nhờ đó mối tương quan với tha nhân sẽ được cải thiện, chan hòa và bừng cháy yêu thương.  Bài Tin Mừng hôm nay kể lại, vào chính ngày Phục sinh, Chúa Giêsu hiện đến với các môn đệ.  Lúc đó các ông đang buồn sầu hoang mang sợ hãi.  Chúa đã sưởi ấm tâm hồn các ông bằng Thánh Thần.  Nhờ vậy, nỗi buồn nơi các ông biến mất, các ông vui mừng vì được thấy Chúa và tin vào những gì Người đã dạy trước đó.

Công dụng của lửa cũng để soi sáng.  Trong đêm tối, ngọn lửa sẽ giúp người ta không lạc đường và tránh được những nguy hiểm.  Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng tâm hồn các tín hữu, nhờ đó họ biết đường ngay nẻo chính và không bị lạc đường.  Con đường lý tưởng là chính Chúa Giêsu.  Điểm tới của con đường ấy là hạnh phúc đích thực, vì con đường này dẫn chúng ta đến với Chúa Cha.  Cuộc sống trần gian như dòng sông trôi về muôn hướng, nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn, chúng ta biết chọn hướng đi đem lại hạnh phúc cho tương lai cuộc đời mình.  Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mỗi người Kitô hữu cũng trở nên ánh sáng để soi cho những ai lầm đường lạc lối, chỉ cho họ thấy con đường chân lý, cảnh báo những nguy hiểm giúp họ an vui.

Chức năng của lửa cũng là để tôi luyện.  Những thanh sắt thô sơ, nhờ tác động của lửa, sẽ trở thành dụng cụ công hiệu sắc bén trong đời sống hằng ngày.  Nhờ Chúa Thánh Thần giúp sức, người tín hữu sẽ trở nên chiến sĩ của Chúa Kitô, góp phần chinh phục thế gian và làm cho vương quốc tình yêu lan rộng.  Cuộc tôi luyện nào cũng cần phải hy sinh gian khổ.  Để trở nên dụng cụ của Chúa, chúng ta phải để Chúa Thánh Thần thanh luyện, như lửa luyện sắt.  Được trang bị sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ can đảm và trung thành với Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.  Các Thánh tử đạo là những người được Chúa Thánh Thần tôi luyện, nên các ngài không khuất phục trước cường quyền và bạo chúa, kiên quyết một niềm theo Chúa Kitô và trung tín đến cùng.

Chúa Thánh Thần tác động nơi cuộc đời người tín hữu, uốn nắn điều chỉnh, để nhờ đó, bớt đi những nết xấu, tăng thêm nhân đức.  Ngài tưới gội ân sủng của Ngài nơi chúng ta, làm cho sự sống vui tươi lạc quan hơn.  Thánh Phaolô so sánh Giáo Hội như một thân thể, gồm nhiều chi thể khác nhau.  Chi thể nào cũng quý, cũng đáng trọng.  Chính Chúa Thánh Thần nối kết các chi thể trong thân thể Giáo Hội để tạo nên sự hài hòa đồng bộ.  Nhờ Chúa Thánh Thần mà các chi thể hiệp thông với nhau, chia sẻ vui buồn và nâng đỡ nhau trong cuộc sống, đồng thời góp phần làm cho thân thể được lớn mạnh.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến!  Đó là lời cầu nguyện của cả Giáo Hội hoàn vũ trong những ngày này.  Thực ra, Chúa Thánh Thần đã đến từ ngày Lễ Ngũ Tuần và chưa bao giờ Ngài lìa xa chúng ta.  Ngài hiện hữu trong vũ trụ như hơi thở đối với một thân xác.  Ngài hiện diện trong Giáo Hội như linh hồn làm cho Giáo Hội sống và hoạt động.  Khi cầu xin Ngài ngự đến, là chúng ta tái khám phá sự hiện diện và hoạt động của Ngài, đồng thời mở rộng tấm lòng để Ngài thực sự đi vào mọi lãnh vực đời sống của chúng ta.  Như thế, chúng ta sẽ được Ngài soi sáng, sưởi ấm, thanh luyện và thánh hóa.  Cuộc sống sẽ chan hòa niềm vui khi có Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

HỘI THÁNH TẠI GIA

HỘI THÁNH TẠI GIA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi Priscilla và Aquila nghe Apollô, liền đón anh về nhà; trình bày cặn kẽ hơn cho anh biết đạo Chúa.”

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ khá bất ngờ khi chúng ta dừng lại nhiều hơn với bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay, để mục kích những công việc của Chúa Thánh Linh trong thời phôi thai của Hội Thánh; qua đó, chúng ta chiêm ngắm một hình ảnh tuyệt vời đầy dấu ấn Thánh Thần của cái được gọi là ‘Hội Thánh tại gia’, vốn cũng là các tế bào đầu tiên làm nên Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô, Hội Thánh của Ngài.

Và sẽ bất ngờ hơn, khi hai nhân vật chính lại là ‘cặp đôi Priscilla và Aquila’ mà không ít người sẽ cảm thấy rất thú vị, khi biết đôi bạn này là hai vị thánh đầu tiên sống đời đôi bạn với nhau của Giáo Hội; chỉ sau gia đình Thánh Gia và trước cả song thân Louis & Zélie của chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Công Vụ Tông Đồ hôm nay lại nêu gương sáng của đôi bạn này; qua đó, một lần nữa, kỳ diệu thay công việc của Chúa Thánh Thần!  Priscilla và Aquila quan tâm đặc biệt đến một tín đồ tên là Apollô, một tín hữu “nhiệt tâm rao giảng và siêng năng dạy những điều về Chúa Kitô, mặc dầu anh chỉ biết phép rửa của Gioan.”  Vừa nghe tin Apollô đến Êphêsô, Priscilla và Aquila đã đón anh về nhà, như đã từng đón Phaolô một năm rưỡi.  Priscilla và Aquila đã hướng dẫn thêm cho Apollô về đức tin, “trình bày cặn kẽ hơn cho anh biết đạo Chúa;” hai người đã trở thành ‘giảng viên giáo lý’ của anh ấy.  Kết quả là, Apollô có thể rời Êphêsô để đến với giáo đoàn Côrintô; ở đó, anh đã trở thành một nhà giảng thuyết hùng hồn, bênh vực đạo Chúa, vì anh rất lợi khẩu; “Anh đã giúp các tín hữu rất nhiều.”

Do hậu quả của đại dịch và việc chúng ta không thể tụ họp trong nhà thờ, thì ‘nhà thờ tại gia’ hay ‘Hội Thánh tại gia’ đã trở nên ‘nóng sốt’ khi Chúa Thánh Thần luôn sáng tạo để đốt lửa yêu mến trong tâm hồn các tín hữu.  Khi chúng ta quy tụ tại nhà thờ giáo xứ, thì đó là sự quy tụ của tất cả các ‘Hội Thánh tại gia;’ cả những người sống một mình cũng là ‘Hội Thánh tại gia’ vì mầu nhiệm Hội Thánh thông công.  Khi các gia đình, các cộng đoàn tụ họp để thờ phượng, chia sẻ Lời Chúa, dạy giáo lý… thì chính họ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, đang đào tạo và hỗ trợ đức tin cho nhau.  Sẽ rất bất ngờ ở đây, khi sự thật là, Giáo Hội của Chúa Kitô không có một ngôi nhà thờ nào mãi cho đến thế kỷ thứ tư; nghĩa là, hơn 300 năm, Giáo Hội không có bóng dáng một ngôi nhà thờ nào!  Vì thế, theo một nghĩa nào đó, Hội Thánh Chúa đã bắt đầu hình thành từ các gia đình, cộng đoàn, cái được gọi là ‘Hội Thánh tại gia.’  Các thành viên phục vụ lẫn nhau tại nhà riêng, ở gia đình, và cả bên ngoài ngôi nhà của họ.  Đó là những gì được thấy nơi những con người như Priscilla và Aquila mà các thư Phaolô nhắc đến rất nhiều lần.  Chính sự hoạt động của Thánh Thần trên những gia đình này, mà muôn dân nhận biết “Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian” như Thánh Vịnh đáp ca hôm nay thổ lộ.

Trong một bài huấn dụ, Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha, Đấng đã làm cho các đôi vợ chồng trở thành “những tác phẩm điêu khắc sống động thực sự” của Ngài; xin Ngài tuôn đổ Thánh Linh trên tất cả các đôi vợ chồng Kitô giáo theo gương Aquila và Priscilla, để họ biết mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô và cho anh chị em mình, biến căn nhà của họ thành các ‘Hội Thánh tại gia,’ nơi họ sống hiệp thông và trao tặng ‘một nền phụng tự sự sống,’ vốn ‘được sống bằng đức tin, đức cậy và đức mến.’  Hãy cầu khẩn với hai vị thánh dệt lều Aquila và Priscilla này, xin các ngài dạy cho các gia đình cách thức để nên giống họ, nơi có “đất tốt”, để đức tin được phát triển.”

Tôi biết rất rõ một gia đình không bao giờ bỏ đọc kinh sáng, tối.  Kinh sáng, họ dâng ngày vắn tắt; nhưng kinh tối, họ lần chuỗi, đọc trọn Lời Chúa của ngày hôm sau và thi thoảng hát một bài.  Ngày kia, chủ nhà, ông cụ 95 tuổi trở bệnh, phải đi điều trị; đang khi đợi xe, ông hỏi, “Đọc kinh sáng chưa?”  Con cái thưa, “Dạ chưa!”  Vậy là ông bảo thắp đèn bàn thờ, đọc kinh, mặc cho xe đứng đợi.  Đứa cháu nội nhỏ của ông bảo, “Ông nhớ nội bà, nên ngày nào cũng đọc kinh cầu cho linh hồn nội bà.”  Và đó cũng là buổi kinh gia đình cuối cùng của ông.  Đi bệnh viện, ông đã đi theo bà về chầu Chúa!  

Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói, “Hãy xin thì sẽ được, để các con được niềm vui trọn vẹn.”  Thì có lẽ hơn bao giờ hết, trong những ngày hôm nay, tất cả chúng ta đều có thể cầu xin Chúa ban ơn khôn ngoan để nhận ra cách thức Ngài kêu gọi chúng ta phục vụ lẫn nhau trong Hội Thánh Ngài; xin Ngài ban ơn can đảm và lòng quảng đại để chúng ta bắt đầu lại từ trong gia đình mình, cũng là một ‘Hội Thánh tại gia’; nhờ đó, chúng ta được hưởng niềm vui trọn vẹn Chúa hứa.  Tại sao không?

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho gia đình con trở nên một cộng đoàn ‘muối men,’ ‘cầu nguyện, yêu thương, hiệp nhất và có Chúa ở cùng;’ hầu trở nên một ‘Hội Thánh đẹp xinh’ giữa lòng thế giới hôm nay.”  Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Kính mời Anh Chị em nghe bài hát “Là Muối Là Men”, một sáng tác của người viết, ở đây: https://www.youtube.com/watch?v=u7Y-4sU-qy0

QUÊ TRỜI

QUÊ TRỜI

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, như chính Người đã khẳng định trong lời thân thưa với Chúa Cha: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã trao cho con” (Ga 17,4).  Và, như người lính sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về với ngành nguyệt quế chiến thắng, Đức Giêsu được cất lên trời trong vinh quang và giữa tiếng muôn thiên thần tung hô chúc tụng.  “Được cất lên”, đó là kiểu nói của Kinh Thánh.  Độc giả Do Thái dễ dàng liên tưởng đến trường hợp của ngôn sứ Elia và ông Enốc trong Cựu ước.  Hai vị này đã được Chúa “cất lên” không trung, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ngôn sứ.  Được “cất lên” cũng là lối diễn tả sự thưởng công của Chúa cho một người đã trung tín với sứ mạng được trao.

Việc Chúa về trời trước hết diễn tả vinh quang chiến thắng.  Qua sự phục sinh, Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần.  Người cũng chiến thắng những cám dỗ của thế gian nhằm lôi kéo Người từ bỏ thực thi ý định của Chúa Cha.  Chúa Giêsu về trời, mang theo những dấu tích của cuộc khổ nạn (dấu đinh), như bằng chứng của sự hy sinh tự hiến để thánh ý Chúa Cha được nên trọn.

Việc Chúa Giêsu về trời đánh dấu sự hoàn tất của công trình cứu độ được thực hiện qua biến cố thập giá.  Tuy vậy, sự hoàn tất này lại mở ra một giai đoạn mới trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Lịch sử cứu độ đã sang một trang mới kể từ biến cố phục sinh.  Nhận được lệnh truyền của Chúa, các môn đệ đã hân hoan ra đi thi hành sứ vụ.  Đây là một cuộc lên đường mới, đầy hứng khởi nhiệt tình. Việc Chúa được cất lên trời không làm cho các môn đệ u sầu buồn bã, trái lại các ông lại hân hoan vui vẻ, vì tin chắc có Chúa ở với mình.  Từ nay, các ông được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, cùng với khả năng làm phép lạ mà chính Chúa đã ban cho các ông, như lời căn dặn trước khi Người về trời.  Với lời “sai đi” của Chúa, sứ mạng truyền giáo không còn giới hạn trong xứ Palestina, nhưng đã mở ra những chân trời mới.  Nước của Chúa không còn giới hạn ở những cột mốc lãnh thổ và những đường biên ngăn cách, nhưng lan rộng đến mọi nền văn hóa, đến mọi dân tộc.  Chúa đã về trời.  Cũng như trời rộng bao la mênh mông thế nào, thì vương quốc bình an mà Người đã khởi sự thiết lập cũng sẽ rộng lớn như vậy.

Chúa Giêsu đã nhập thể và mang lấy thân phận con người như chúng ta.  Sau khi kết thúc cuộc đời trần gian, Người đã khải hoàn về thiên quốc.  Việc Chúa Giêsu về trời cũng khẳng định với chúng ta, đất và trời từ nay không còn cách biệt nữa.  Dưới đất này đã có trời, và trên trời cao đã có đất.  Quả vậy, nếu định nghĩa trời là nơi Thiên Chúa ngự trị, thì trong “cõi người ta” này, Thiên Chúa đang hiện hữu để chúc lành và dẫn dắt chúng ta bằng cánh tay yêu thương của Ngài.  Nếu định nghĩa đất là nơi con người sinh sống, thì trên trời, hiện đã có một “Con Người” là Đức Giêsu, mẫu mực chung cho tất cả mọi người về cách sống cũng như về sự hy sinh vì tha nhân.  Vì thế, liền sau khi Chúa Giêsu được cất lên, trong khi các môn đệ còn bỡ ngỡ lưu luyến, thì hai sứ thần đã nói với họ: “Hỡi người xứ Galilê, sao còn đứng nhìn trời?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.  Qua những lời này, các sứ thần muốn khẳng định với các ông rằng, các ông hãy quay về với bổn phận, vì tuy Chúa đã về trời, Người vẫn luôn hiện diện trên mặt đất này với các ông.  Từ nay, mọi bước đường truyền giáo của các ông sẽ có Chúa đi cùng.  Người hiện diện thiêng liêng, vô hình nơi trần gian, và Người sẽ trở lại trong vinh quang vào thời tận cùng của lịch sử.  Chính vì vậy, “Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước” (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).

“Quê Trời” là niềm mơ ước của con người thuộc mọi nền văn hóa, dù khái niệm về trời rất mông lung bàng bạc và phong phú đa dạng.  Trong quan niệm dân gian của người Việt, “Trời” không chỉ là cái vòm màu xanh ở tít trên cao, nhưng là một “Đấng”, một “Ông”, một “Vị”, một nhân vật.  Nhân vật này vừa quyền năng mạnh mẽ vừa lắng nghe cảm thông với con người và giúp đỡ họ.  Nơi “Ông Trời” người ta tin tưởng cầu xin ơn phù trợ để mọi sự tốt lành: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm” (Ca dao).  Trời cũng là nơi ở dành cho các anh hùng dân tộc, những người có công với nước, như trường hợp Thánh Gióng, sau khi đánh giặc Ân, cưỡi ngựa về trời.

Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: Quê trời là phần thưởng Chúa Cha dành cho người công chính.  Hạnh phúc Nước trời là được chìm mình trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi, cùng với anh chị em mình.  Đó là tình yêu vĩnh cửu, viên mãn, tồn tại muôn đời.  Hạnh phúc Chúa Giêsu hứa ban không phải một thứ “bánh vẽ” xa vời, một thứ “thuốc phiện mê dân” ảo tưởng.  Nước Trời đã hiện diện giữa trần gian, ngay ngày hôm nay, nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta, nếu chúng ta biết đón nhận bằng con tim rộng mở và tấm lòng yêu mến chân thành.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim