PHÊ-RÔ TRẢI NGHIỆM LÒNG THƯƠNG XÓT

Những giọt nước mắt hổ thẹn và hối hận lăn dài trên khuôn mặt của Phê-rô, khi ông vội vã thoát khỏi sân dinh vị thượng tế, là nơi Chúa Giê-su đang bị giam giữ.  Một tiếng nói bên trong nội tâm tra khảo ông: “Làm sao ông lại chối bỏ thầy Giê-su cách công khai như vậy?”  Cách đây ít lâu, ông không bao giờ có thể tưởng tượng là mình có thể quay lưng với Chúa Giê-su một cách nhẫn tâm như vậy.  Những lời khẳng định đầy hiên ngang mà ông vừa nói với Chúa Giê-su, nay lại quay về ám ảnh ông: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng” (Lc 22,33).  Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi Chúa Giê-su tiên báo, thì đêm hôm ấy, ông đã chối Chúa đến ba lần.  Phê-rô thầm nghĩ, mọi sự xảy ra quá nhanh.  Trước hết, ông cẩn thận tìm mọi cách để đi theo Chúa vào trong sân.  Rồi khi ông thấy mình đã bị nhận diện là môn đệ của Chúa Giê-su, ông chợt nhận ra là mình đang gặp nguy hiểm.  Đó là khi người ta bắt đầu lớn tiếng cáo buộc ông: “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với cái ông người Na-da-rét, ông Giê-su đó chứ gì?” (Mc 14,67).  Ông cảm thấy hồi hộp.  Người ta càng thúc ép ông trả lời cho câu hỏi đó, thì ông càng cương quyết phủ nhận.  Trong chốc lát, thái độ nhún vai phủ nhận đã biến thành một lời thề công khai, khi ông bắt đầu thốt lên những lời độc địa mà quả quyết rằng: “Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26,74).

Ngay khi ông nhớ lại một chuỗi những sự kiện xảy ra quá nhanh, thì lòng ông quặn đau như thắt vì thất bại và ông cảm thấy hết sức chán nản.  Sau này, Phê-rô nhận thức rằng khi Chúa Giê-su quay lại nhìn ông, thì chính cái nhìn ấy – một cái nhìn đầy lòng thương xót – đã lay động tâm hồn ông, để ông nhận ra điều khủng khiếp mình vừa làm, đồng thời ông cũng nhận biết là Chúa đã thông cảm và tha thứ cho ông.

Khi ông nhận ra điều đó, ông đã khóc lóc thảm thiết.  Sertillanges đã chia sẻ như sau: “Đức Giê-su hướng về Phê-rô, mặc dầu ông ở rất xa, nhưng vẫn cảm được cái nhìn của Thầy, cái nhìn làm tan biến sự yếu đuối của trái tim con người, thâm nhập sâu vào tình yêu của nó và ban sức mạnh cho sự yếu đuối ấy.  Tảng đá đã chao đảo.  Nhưng chính trên tảng đá này mà nền móng của công trình đời đời được thiết lập.  Nơi đâu mà xác thịt loài người tỏ ra yếu đuối, nơi đó quyền năng của Thượng Đế được biểu lộ rõ ràng.  Phê-rô vấp ngã, nhưng ông là người thứ nhất tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, rằng Ngài là Đấng Thiên Sai Thượng Đế hứa”.[1]

Câu chuyện Phê-rô chối Thầy được trình thuật cả trong bốn Tin Mừng, chỉ cho thấy Giáo Hội tiên khởi đã công bố khuyết điểm của vị thủ lãnh đầu tiên của mình, chứ không che đậy.  Dù vậy, họ được thêm vững mạnh, chứ không bị vấp phạm.  Kinh nghiệm của thánh Phê-rô xác nhận với họ rằng, thất bại là điều có thể chấp nhận được, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng ban ơn tha thứ.

Rất có thể là chính thánh Phê-rô đã phổ biến câu chuyện thất bại của mình, khi người không ngừng cố gắng khích lệ anh chị em mình phấn đấu – như Chúa Giê-su đã yêu cầu Phê-rô: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Sa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.  Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,31-32).

Như Giáo Hội tiên khởi đã xem sự sa ngã của Adam là một “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà xuất hiện Đấng Cứu Thế, Giáo Hội cũng xem sự trượt ngã của Phê-rô là “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà Giáo Hội có được một vị thủ lãnh vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ.  Phê-rô bị bó buộc phải đối diện với bóng tối của mình, và điều đó đã làm cho ông trở nên con người khiêm nhường đầy lòng thương xót.[2]

Qua hình ảnh của thánh Phê-rô, Giáo Hội được mời gọi luôn là Giáo Hội của lòng thương xót, và cần phải là Giáo Hội của lòng thương xót hơn bao giờ hết, vì Giáo Hội chính là thân thể mầu nhiệm và sống động của chính Chúa Giê-su, Đấng là mục tử nhân lành, Đấng là nguồn mạch của lòng thương xót.  Chính Ngài luôn yêu thương con cái của Ngài, và mời gọi tất cả những ai sống trong khổ đau và bất hạnh hãy đến với Ngài: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29).  Không chỉ dừng ở nơi đó, mà trong chiều sâu của tình yêu thương, Chúa Giê-su còn trao mọi người con của Chúa cho Mẹ Maria, người Mẹ của lòng thương xót.

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế, SJ

******

Lạy Chúa, Đấng đầy lòng thương xót.
Xin thương đoái nhìn đến những góc khuất tăm tối, những yếu đuối mỏng dòn, và những xáo động ồn ào trong con,
Xin thương đoái nhìn đến những phút giây bội thề, những yếu hèn nhát đảm, cùng những lơ đễnh thoái thác trong con.
Con không đòi Chúa ban cho con bất cứ điều gì, ngoại trừ lòng thương xót của Người.
Trong cuộc sống thế trần, mọi sự chỉ như hoa cỏ sớm nở tối tàn.
Những gì con cho là cao quý cũng chỉ là phù vân hư ảo và những gì con bận tâm lo lắng rốt cuộc cũng chẳng ý nghĩa đáng giá gì. 
Lạy Chúa, xin thương xót và dắt dìu con,
Xin biến đổi con một lần nữa để con lại khao khát sống cuộc đời thánh thiện, và trở nên người của Chúa cho dẫu trong con còn nhiều hoang mang cùng bối rối.
Con không cầu xin để biết rõ ràng và chắc chắn phải làm gì,
ngoại trừ mong mỏi một điều là được Ngài dẫn dắt theo nẻo đường tình yêu của Ngài, để có thể dõi bước và tín thác vào lòng thương xót của Ngài.
Vì được như thế, con mới tìm thấy điều con hằng khắc khoải chờ mong.

Nguyễn Thế Anh, SJ, chuyển ý

Nguồn: Thomas Merton, A Year with Thomas Merton: Daily Meditations from His Journals, (Selected and edited by Jonathan Montaldo), (New York: HarperCollins e-books, 2007), 247.

“Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Ga 13:21)

Nguyện xin phép lành và ân sủng của Chúa ở lại trong tâm hồn bạn và gia quyến hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 3 Tuần Thánh: 04/04/2023

TIN MỪNG: Khi ấy, đang dùng bữa với các môn đệ, Đức Giê-su cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Ga 13:21)

SUY NIỆM: Nhìn vào thân phận của ông Giu-đa, không phải Chúa muốn ông phạm tội, cũng không phải Chúa thờ ơ bỏ mặc hắn chìm sâu trong tội. Ngài đã nhiều lần nhiều cách đánh thức lương tâm hắn. Ngài chỉ làm được đến thế thôi vì Ngài phải tôn trọng tự do của hắn. Cách Chúa đối xử với bạn cũng thế, Ngài tôn trọng tự do của bạn đó. Bạn có sử dụng món quà tự do để đến gần với Chúa không? Bạn đang chọn Chúa hay thế gian vậy? Đừng nhìn vào tội lỗi của người khác mà kết án nhưng hãy coi đó là một tiếng còi đánh thức lương tâm của bạn: “Hãy tránh xa dịp tội và đừng phạm tội nữa!”

LẮNG NGHE: THIÊN CHÚA chẳng tha chính Con Một của Người, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. (Rm 8:32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi con. Con xin phó thác hồn xác yếu hèn của con trong tay Chúa.

THỰC HÀNH: Đọc qua 12 hoa trái của Thánh Thần: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết”, mời bạn chọn một hoa và cố gắng nảy sinh ra trái tốt nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đừng Bỏ Con Chúa Ơi – Sáng tác: Lm Nguyễn Văn Tuyên -Trình bày: Linh Nhí

BÀI HỌC PHỤC VỤ – Lm. Kiều công Tùng

Lm. Kiều công Tùng

Phục Vụ Trong Tự Hạ

Trình thuật về việc rửa chân chỉ được ghi lại duy nhất trong Tin Mừng Gio-an.  Hình ảnh Đức Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước hết là một mặc khải rõ ràng về Thiên Chúa tình yêu.  Nghiêng mình xuống là cách Cựu Ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa.  Giờ đây, Thiên Chúa không những nghiêng mình mà còn quỳ gối, cúi xuống tận chân con người, để rồi phải ngẩng đầu lên trả lời khi Phê-rô phản đối.  Thử hỏi còn có sự hạ mình nào hơn thế?  Đấng toàn năng sáng tạo lại quỳ gối để ngước mắt nhìn lên thụ tạo của mình.

Thiên Chúa đã xóa mình đi để bước xuống, đến gần và bày tỏ lòng thương xót cho con người như thế đấy.  Cử chỉ đó mãi là một tấm gương để cho tất cả các môn đệ của Đức Giê-su không ngừng học hỏi mà đối xử với nhau: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).  Một tiêu chuẩn để người môn đệ Chúa Giê-su đến với người khác và phục vụ họ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12).

Phục Vụ Bằng Tự Hiến

Câu chuyện rửa chân không đơn thuần là một tấm gương về bài học khiêm tốn phục vụ nhưng còn mang ý nghĩa biểu tượng, nói lên tất cả sứ mạng của Đức Giê-su đồng thời loan báo về sự chết và phục sinh của Người nữa.

Hình ảnh Đức Giê-su “cởi áo ngoài ra” rồi sau đó lại “mặc áo vào” khiến ta liên tưởng đến lời Người nói trước kia: “Chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.  Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10, 18).  Như thế, câu chuyện rửa chân là cách diễn tả tượng trưng cho cái chết tự nguyện của Đức Giê-su và cuộc phục sinh của Người.

Ở giữa hai hành động “cởi ra” và “mặc vào” trong trình thuật rửa chân là một cử chỉ tự hạ thẳm sâu.  Còn ở giữa hai hành động “hy sinh” và “lấy lại” lại là sự tự hiến tuyệt vời: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13).  Cái chết của Đức Giê-su ở trên thập giá chính là tuyệt đỉnh của một tình yêu phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45).

Phục Vụ Cho Đến Cùng

Tin mừng Gio-an không nói đến việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể, nhưng khung cảnh của bữa tiệc ly được bổ túc bằng đoạn thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô giúp chúng ta hiểu rằng tiếp theo hành động có tính biểu tượng nối kết sự tự hạ với tự hiến là việc Chúa ban chính thịt máu của Người làm lương thực dưỡng nuôi nhân loại cùng với lệnh truyền: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11, 25)

Việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể và chức Linh mục trong bữa Tiệc Ly chứng tỏ tình yêu của Người dành cho nhân loại.  Yêu đến hiến mạng sống, yêu đến ban thân mình.  Qua hai Bí Tích đó, Người muốn thực hiện lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).  Người yêu thương và yêu cho đến cùng.  Dù không còn hiện diện cách hữu hình trên dương gian này, nhưng Người luôn có đó để trợ lực, để đồng hành với nhân loại qua phép Thánh Thể, qua con người linh mục với sứ mạng mục tử.

Như thế, qua Đức Giê-su Ki-tô, mỗi người chúng ta đã dược Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt.  Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu đó triển nở và được nhân rộng trong môi trường của mình bằng việc xóa mình đi: xóa đi những thành kiến, ích kỷ, toan tính vụ lợi…  Đồng thời, mỗi người cũng phải biết mở ra với những người chung quanh.  Có như thế, tình yêu và sự sống mà chúng ta đón nhận được từ nơi Chúa Cha qua Đức Giê-su mới thực sự sinh hoa kết quả dồi dào.

Trong ngày kỷ niệm Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền chức hôm nay, ta bắt gặp một hình ảnh Chúa Ki-tô Linh Mục hoàn toàn trái ngược với hội chứng quyền bính đã được người ta nói đến: một Thiên Chúa hạ mình để phục vụ, một mục tử tự hiến cho đến cùng.  Quyền bính được trao cho Giáo Hội, chức vụ tư tế thừa tác được trao cho các linh mục ngày nay không ngoài mục đích để cho tình yêu cứu độ của Đức Ki-tô còn tiếp tục hiện diện giữa thế giới này.  Chúng ta cùng cầu xin cho các linh mục của Chúa ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô, vị Linh Mục đời đời.

Lm. Kiều công Tùng

From: Langthangchieutim

CHẲNG LẼ CON SAO – Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Các thượng tế muốn giết Đức Giêsu, nhưng không tìm được cơ hội.  Nay cơ hội đã đến với sự tiếp tay của chính người môn đệ Đức Giêsu.  Anh Giuđa đã đến gặp các thượng tế và đề nghị nộp Ngài cho họ.

Chúng ta mãi mãi không biết hết và biết rõ những động cơ nào đã thúc đẩy Giuđa làm chuyện kinh khủng ấy.  Giuđa, người được gọi, được chọn, được tuyển lựa, sau một đêm thức trắng cầu nguyện của Thầy Giêsu (Lc 6, 12).  Và anh đã đáp lại, đã bỏ gia đình, nghề nghiệp, để đi theo.

Giuđa đã rong ruổi theo Thầy ngay từ đầu, chia sẻ đói no, thành công thất bại…  Không yêu thì làm sao đi theo được lâu như thế.  Giuđa, người được tin cậy và giao giữ quỹ cho cả nhóm (Ga 12, 6).  Vì là người trong nhóm Mười Hai, thuộc nhóm môn đệ thân cận, Giuđa đã được nghe hầu hết các bài giảng hay nhất, được chứng kiến các phép lạ lớn lao nhất của Thầy Giêsu.  Giữa anh và Thầy Giêsu hẳn đã có một sự thân thiết nào đó.

Điều gì đã diễn ra nơi trái tim của Giuđa?  Điều gì đã khiến tất cả phút chốc bị đổ vỡ không sao hàn gắn?  Chắc không phải chỉ vì ba mươi đồng bạc, một số tiền.  Phải chăng vì Giuđa thất vọng và nóng ruột khi thấy Thầy Giêsu quá hiền từ, cả trong lối sống lẫn lời giảng, chẳng có vẻ gì là một Đấng Mêsia sắp giải phóng dân tộc khỏi quân Rôma?

Phải chăng khi Giuđa nộp Thầy cho các thượng tế, anh định cài Thầy vào thế phải hành động quyết liệt hơn, phải tự giải thoát mình?

Dù gì đi nữa thì chuyện Giuđa làm là không thể biện minh được.  Anh đã can dự vào cái chết của Thầy Giêsu.  Không thể phong tặng anh hùng cho Giuđa vì bảo rằng nhờ anh mà chúng ta có được ơn cứu độ.  Giuđa đã phạm tội nghiêm trọng đến nỗi Thầy Giêsu phải đau đớn nói: “Khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (c.24).

Dầu vậy tội của Giuđa đã được Thiên Chúa dùng cho chương trình cứu độ.  Thiên Chúa là Đấng có thể biến điều dữ thành điều lành.  “Kẻ đã chấm chung một đĩa với Thầy là kẻ sẽ nộp Thầy” (c. 23).  Kẻ đồng bàn thân thiết với Thầy lại là người phản bội.

Ngay cả những môn đệ khác cũng hỏi Thầy Giêsu: “Có phải con không?”  Có phải con là người đang phản bội Thầy không?  Lúc nào chúng ta cũng có thể hỏi Chúa Giêsu cùng câu hỏi đó.  Dù mỗi ngày chúng ta cùng chia sẻ một bàn tiệc với Chúa trong Thánh Lễ, chúng ta vẫn có thể rơi vào tội của Giuđa.

*****

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.  Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, Chúa ngàn lần quảng đại hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.  Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

From: Langthangchieutim

Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3)

Ngày Thứ 2 Tuần Thánh gần gũi với Chúa và tha nhân nhé. Xin bạn một lời cầu nguyện cho các ACE dự tòng.

Cha Vương

Thứ 2: 03/04/2023

TIN MỪNG: Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống hằng ngày bạn không còn gì lạ với cảnh “xa thương gần thường”. Có những người rất vui vẻ dễ dãi với người lạ nhưng lại khó khăn hùng hổ với người thương của họ. Thực chất, nguyên nhân là vì bên cạnh việc trân trọng các đức tính tốt, họ còn phải chịu đựng những điểm họ vốn luôn không thích của đối phương, mà khả năng chịu đựng của ai cũng có giới hạn. Chẳng hạn khi chung sống với nhau trong một thời gian dài, ai cũng sẽ khó chịu về những điểm không tốt của đối phương. Là con người, ai cũng có những điểm không hoàn hảo. Tuy nhiên với người xa lạ, do ít gặp và ít chung sống bên nhau, chính vì vậy mà họ dễ dàng bỏ qua những điểm vụn vặt. Một mối quan hệ gần gũi thì ngược lại, những thứ vụn vặt, những thói quen xấu, những điểm không hài lòng tích tụ lâu dài sẽ dần dần trở thành một sự khó chịu khi mỗi người vượt qua ngưỡng chịu đựng. Khi ấy là thời điểm “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”, họ không còn chấp nhận được những điều đó và dẫn đến sự khó chịu trong cảm xúc rồi kéo theo những hành vi đối xử tệ bạc với nhau, chẳng hạn giận dỗi, cãi vã, mắng chửi,… Đối với những người xa lạ, vì phép lịch sự, họ phải giữ kẽ và kiềm chế hành vi không dễ dàng đối xử tệ bạc hoặc tỏ thái độ. Ngược lại, đối với người gần gũi quen thuộc họ không ngại nói thẳng, xả thẳng cảm xúc,… Chính vì thế những nỗi đau dần dần chạm vào nhau, khắc sâu vào ký ức và làm tổn thương nhiều hơn so với những niềm vui mang lại cho nhau. Đã gẫy rồi thì chặt luôn! Đó là cách xử lý của con người. Đối với Thiên Chúa thì khác, cây lau bị giập Ngài không nỡ bẻ gãy, tim đèn còn khói Ngài không nỡ dập tắt. Chúa thương bạn cả khi bạn đang lỗi lầm. Khả năng chịu đựng của Ngài không có giới hạn, lòng thương xót của Ngài bao la như biển hồ không có cảnh “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”. Vậy bạn hãy đối xử với nhau như Chúa đối xử với bạn vậy nhé. Đừng để bản tính yếu đuối của  con người làm bạn xa tránh hoặc khinh thường những anh chị em đang lỡ lầm. Trái lại, xin Chúa cho mình biết luôn cầu nguyện, biết thông cảm và giúp đỡ anh em đứng dậy.

LẮNG NGHE: CHÚA là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? CHÚA là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? / Khi ác nhân xông vào, định nuốt sống thân tôi, ai ngờ chính đối phương, chính những thù địch ấy, lại lảo đảo té nhào. / Dù cả một đạo quân vây đánh, lòng tôi chẳng sợ gì. Dù có phải lâm vào chiến trận, tôi vẫn cứ cậy tin. (Tv 27-1-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con cải thiện và tăng thêm sức chịu đựng cho con trước những bất toàn của anh chị em. Đừng để con rơi vào cảnh hối tiếc vì cách đối xử không tốt với những người vốn xứng đáng được trân quý nhất.

THỰC HÀNH: Trong Tuần Thánh này mời bạn hãy thay đổi cách đối xử của mình với những người thân yêu của mình nhé.

From: Đỗ Dũng

Chúa Giàu Lòng Xót Thương- Trình bày: Thùy Loan 

Sinh viên đại học Harvard tìm thấy câu trả lời của mình trong Giáo Hội Công giáo

Theo TTX Công Giáo – CNA

Joe Bukuras

Boston, Mass.

Ngày 2 tháng 4 năm 2023

Giáo huấn của Giáo hội về Mẹ Maria và Bí tích Thánh Thể là hai trở ngại lớn nhất đối với LyLena Estabine, 21 tuổi, một người từng theo đạo Tin lành, trong việc chấp nhận đức tin Công giáo.

Trước Tuần Thánh và trong lúc chuẩn bị tháp nhập vào đời sống Giáo hội Công giáo, Estabine, người cũng được thánh hiến cho Đức Maria, biết là cô sẽ cảm động, thổn thức khi được lên rước lễ lần đầu. “Cuối cùng tôi cũng có thể và sẽ được đi tham dự tiệc thánh thể, điều đó rất tốt,” Estabine, sinh viên năm cuối chuyên ngành xã hội học tại Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 28 tháng 3 với thông tấn xã CNA.

Là người gốc ở Olathe, Kansas, Estabine là một trong 32 ứng cử viên và dự tòng trong chương trình OCIA (trước đây là RCIA) tại Nhà thờ Công giáo St. Paul ở Cambridge, nơi có Trung tâm Công giáo Harvard, một trung tâm giàu truyền thống trí thức Công giáo dành cho sinh viên đại học và các chuyên gia trẻ của một trong những thành phố tự do nhất của đất nước (Hoa Kỳ).

Lớp học giáo lý tân tòng bao gồm 9 sinh viên đại học Harvard, 5 sinh viên Harvard đã tốt nghiệp và 17 chuyên gia địa phương từ cộng đồng có độ tuổi trung bình là 29. Nhóm lớn này làm gợi nhớ đến lớp giáo lý năm ngoái tại trung tâm, nơi có 31 ứng viên và dự tòng.

Trung Tâm Công Giáo ở đại học Harvard.

Cha Patrick Fiorillo, tuyên úy đại học tại Trung tâm Công giáo Harvard , nói với CNA vào ngày 28 tháng 3 rằng “có một sự hoán cải sâu sắc trong nội tâm” xảy ra với nhóm sinh viên và thanh niên hiện đang chuẩn bị gia nhập Giáo hội tại Trung tâm Công giáo Harvard. Ngài nói, “Chỉ cần nhìn thấy những chuyển đổi xảy ra trong thời gian thực tại đối với rất nhiều học viên làm chúng tôi rất phấn khởi”

Cha Fiorillo nói rằng chị sinh viên Estabine không ngại đặt ra “những câu hỏi bao quát” trong khi có sự khiêm tốn lớn lao trong việc theo đuổi, tìm hiểu chân lý đức tin.

Vác thập giá của mình

Lớn lên trong đạo Tin lành ở vùng ngoại ô ngay bên ngoài Thành phố Kansas, Estabine luôn có mối quan hệ với Chúa Giê-su Christ. Hồi nhỏ, khi mẹ của Estabine thắt dây an toàn cho cô ở ghế sau ô tô, Estabine thường nhờ mẹ cô, xin bà cũng nhớ thắt dây an toàn cho cả Chúa Giê-su ở bên cạnh cô. “Nếu mẹ không làm vậy, tôi sẽ rất buồn; rồi tôi nói chuyện với Ngài đang khi chúng tôi ở trên xe” cô nói. Tuy nhiên, càng khôn lớn đức tin của Estabine càng nguội lạnh dần.

Sau khi được nhận vào Đại học Harvard, một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới, Estabine bắt đầu đối mặt với chứng trầm cảm, lo lắng và ý định tự tử vào năm thứ nhất trong đại dịch COVID-19. Cô ấy đã thử mọi cách, từ ăn kiêng đến tâm lý trị liệu, nhưng không có gì giúp cô ấy thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực, một tình trạng mà cô ấy đã phải đối mặt từ khi còn trẻ và trở nên trầm trọng hơn khi cô vào đại học.

Đau khổ tột cùng, cô tìm đến niềm tin mà cô đã biết trước đây hồi còn nhỏ, hy vọng được chữa lành. Cô quyết định rằng hy vọng cuối cùng của mình là đào sâu vào đức tin Ki tô và trước khi đọc hết trang đầu của cuốn Kinh thánh cô mặc cả với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện, “Con sẽ đọc điều này, và nếu đến lúc đọc xong mà con không tìm được lý do để ở lại đây (trong đức tin), thì con không thể làm như thế nữa.”

“Khi tôi bắt đầu đọc Lời Chúa, khi tôi bắt đầu dốc hết lòng mình cho Chúa và đặt cuộc đời mình dưới chân Ngài, Ngài đã chữa lành hoàn toàn chứng trầm c ảm v à lo lắng cho tôi . Và vì vậy tôi mang ơn Ngài đã ban ơn mầu nhiệm cho tôi,” cô nói.

Tuy nhiên, một tình thế tiến thoái lưỡng nan của cô là nỗi sợ hãi: tự hỏi liệu tất cả những kinh nghiệm trước đây của cô với Đấng Christ có xác thực không khi cô đem so sánh với niềm tin Công Giáo mà cô đang tìm hiểu…

Mãi cho đến khi cô đi du lịch đến Paris vào mùa hè năm đó, vật lộn với cùng mối quan tâm đó, thì cô mới tìm được câu trả lời trong Kinh Thánh. Cô ấy mở Kinh thánh khi cô ấy ở một mình vào một đêm và đọc Phúc âm John chương 10, câu 16:

“Tôi có những con chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải dẫn dắt những người này, và chúng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ có một bầy, một mục tử.”

Estabine nói rằng điều đó xác nhận với cô ấy rằng mặc dù cô ấy “ở ngoài bầy,” nhưng cô ấy vẫn là một trong các chiên của Đức Chúa Trời, và cô ấy thực sự đã nghe thấy tiếng nói của Ngài.

“Ngài đang gọi tôi tiến vào một cái gì đó sâu sắc hơn,” cô nói.
Vì vậy, Estabine đã nhắn tin cho người bạn Công giáo của mình vào một đêm và nói: “Này, tôi thực sự không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng tôi thực sự nghĩ rằng mình cần xem xét vấn đề Đạo sâu hơn và tôi không nghĩ mình có thể tự tìm hiểu một mình được.” Bạn của cô đã giới thiệu cô với Cha Fiorillo, và vị linh mục đã trả lời nhiều câu hỏi của cô và giúp cô gia nhập các lớp giáo lý. Bạn của cô đã tặng cô một chuỗi Mân Côi và đưa cô đến chầu Thánh Thể. Cô bắt đầu đặt những câu hỏi sâu hơn và tìm ra câu trả lời mà cô đang thao thức. Estabine đã có lúc cảm thấy mình cần phải có tất cả các câu trả lời thỏa đáng để có thể trở thành người Công giáo.

Nhưng một hôm trong giờ chầu, cô nghe Chúa Giê-su nói với mình: “Từ bao giờ mà chìa khóa mở cửa lòng con lại ở trong trí khôn con?”

Giờ đây, cô ấy cố gắng đọc kinh Mân Côi hầu như mỗi ngày, hoàn thành việc tận hiến cho Đức Mẹ vào ngày 25 tháng 3, và rất vui mừng được rước lễ lần đầu và thêm sức trong Đêm Vọng Phục Sinh tại Nhà thờ St. Paul vào ngày 8 tháng Tư.

Và Estabine đã sẵn sàng khi Tuần Thánh đến gần. Cô nói, “Về việc lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, tôi rất phấn khởi,” cô nói. “Chắc tôi sắp khóc mất.”

Cha Fiorillo nói, “Cô ấy thực sự cố gắng nắm bắt lấy toàn bộ giáo lý đức tin Công giáo và định hướng toàn bộ cuộc sống của cô xung quanh đức tin đó và thực sự kết hợp mọi thứ mà Giáo hội cống hiến đem thực hành trong cuộc đời mình.

Phan Sinh Trần

BƯỚC VÀO MỘT KINH NGHIỆM SỐNG MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa bỏ rơi con?”.

Richard L. Evans nói, “Bi kịch của cuộc đời không phải là nó kết thúc quá sớm, mà là chúng ta chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó!”. Một nhà giáo dục khác lại nói, “Cuộc sống là một quá trình liên tục làm quen với những điều chúng ta không ngờ tới. Mỗi ngày sống là một ngày bạn ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cử hành phụng vụ Tuần Thánh, chúng ta không chỉ tưởng niệm một biến cố, dâng lời tạ ơn; nhưng cùng Chúa Giêsu, chúng ta ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới!’. Đâ
y là một câu chuyện có thật, không đơn thuần là những tình cảm tôn giáo đạo đức, ngoan nguỳ và sùng mộ.

Phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá cho thấy những gì Chúa Giêsu đã trải qua biểu hiện rõ nhất tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho mỗi người. Vì thế, bằng cách đồng hoá mình với mầu nhiệm khổ đau, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta cảm nghiệm một sự giải thoát vĩ đại, một ‘cuộc vượt qua’ khỏi tội lỗi và sự nô lệ để ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới’, một cuộc sống vui tươi, tự do. Phụng vụ hôm nay kết hợp cả cảm giác chiến thắng và bi kịch. Sẽ rất khó để nhận ra Vua Giêsu trong tàn dư của một con người bị hành hạ, đánh đòn, đội mão gai, đóng đinh. Tại sao Ngài chịu như thế? Trước hết, vì vấn đề chính trị, Ngài trở nên đối tượng bị ghét bỏ bởi những ai coi Ngài là mối đe doạ đối với quyền lực tôn giáo và vị thế của họ. Ngài phải bị loại bất cứ giá nào! Thứ đến, những gì đã xảy ra cho Ngài đều phù hợp với ý muốn của Chúa Cha.

Đúng thế, Chúa Cha muốn! Ngài chuốc lấy khổ đau của Người Tôi Tớ, vốn được tiên báo hàng trăm năm trước; bài đọc Isaia hôm nay cho biết, “Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu”; như bị Chúa Cha bỏ rơi, Thánh Vịnh đáp ca thổn thức, “Ôi Thiên Chúa! Sao Chúa đã bỏ con?”. Và Phaolô, qua thư Philipphê hôm nay, kết luận, “Ngài đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá!”. Thế nhưng, từ góc độ thần thánh, những gì Chúa Giêsu gánh chịu là khởi đầu của một hành động vinh quang nhất chưa từng được biết đến! Bởi lẽ, thập giá là ‘ngai ân sủng mới’ của Ngài, và vinh quang Ngài nhận được hôm nay khi vào thành thánh sẽ được thực hiện trọn vẹn lúc Ngài chịu treo lên trên nó, để chiếm lấy Vương Quyền vĩnh cửu.

Khi làm thế, Chúa Giêsu đã đồng cảm với ý muốn của Cha, để mọi người nhận biết tình yêu vô điều kiện Chúa Cha dành cho họ. Như vậy, cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, cuối cùng, không phải là dấu của thất bại; đó là khoảnh khắc khải hoàn của Ngài. Điều tương tự cũng có thể nói về hàng dài các vị tử
đạo và nhân chứng của Ngài thuộc mọi thời hơn 2.000 năm qua.

Anh Chị em,

“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa bỏ rơi con?”. Tham dự phụng vụ Tuần Thánh, chúng ta đừng chỉ tập trung vào sự bị bỏ rơi, hoặc những đau khổ Chúa Giêsu chịu như thể đau khổ có điều gì đó tốt đẹp; đau khổ của Chúa Giêsu chỉ có ý nghĩa vì chúng dẫn đến sự sống lại, sức sống mới và niềm vui mới. Cũng thế, đau đớn và thống khổ trong cuộc đời chúng ta không phải là sự trừng phạt của Chúa, càng không phải là sự trừng phạt của chính mình. Đau khổ, bệnh tật tự nó không được mong muốn; tuy nhiên, chúng vẫn có thể trở thành nguồn thiện ích khi nhờ đó, chúng ta trưởng thành hơn, yêu thương hơn, quan tâm hơn, cảm thông hơn. Nói cách khác, khi chúng dẫn chúng ta trở nên giống Chúa Giêsu hơn; dẫn chúng ta ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới’ với Ngài. Từ đó, chúng dẫn chúng ta đến sự giải thoát chính mình và giải thoát người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa đã trải qua giây phút bị bỏ rơi hoàn toàn để ‘nên một với con’ trong mọi sự. Cho con nhớ rằng, con không đơn độc mỗi khi thấy mình đi vào ngõ cụt, không ánh sáng và không lối thoát, khi mà dường như chính Thiên Chúa cũng lãng quên con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ tế Thánh Lễ Lá ngày Chúa Nhật 4-2-2023 sau ba ngày nằm viện

Tổng hợp báo chí Hoa Kỳ

Trong chiếc áo choàng dài màu trắng với giọng nói còn bị “khàn khàn”, Đức Giáo hoàng Francis đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Peter trước hàng chục nghìn tín hữu vào Chủ nhật Lễ Lá, một ngày sau khi Ngài rời bệnh viện Gemelli ở Rome, nơi ngài được điều trị bệnh viêm phế quản .

Thời báo LA cho biết, giọng của ĐGH nghe có vẻ mạnh mẽ khi mở đầu Thánh lễ, nhưng nhanh chóng trở nên yếu và khàn. Bất chấp bị khàn tiếng, Đức Phanxicô đã đọc một bài giảng dài 15 phút trước 30.000 người dự lễ, thỉnh thoảng thêm vào những nhận xét ngẫu hứng để nhấn mạnh đồng thời diễn đạt ý tưởng đó bằng tay.

Bài giảng tập trung vào những khoảnh khắc khi mọi người cảm thấy “đau đớn tột độ, tình yêu không thành, hoặc bị từ chối hoặc phản bội.” , (và) sự cô đơn của bệnh tật.”

Đức Phanxicô nói về một người đàn ông Đức vô gia cư vừa mới chết, “một mình, bị bỏ rơi,” dưới hàng cột bao quanh Quảng trường Thánh Phêrô, nơi những người vô gia cư thường ngủ. “Tôi cũng cần Chúa Giêsu vuốt ve tôi,” Francis nói.

“Toàn bộ các dân tộc bị bóc lột và bị bỏ rơi; người nghèo sống trên đường phố của chúng tôi và chúng tôi nhìn theo cách khác; những người di cư không còn là những khuôn mặt mà là những con số; các tù nhân bị từ chối, mọi người bị coi là có vấn đề,” ĐGH Phan xi cô nói.

Chúa Nhật Lễ Lá đã mở ra một lịch trình dày đặc các nghi thức mục vụ trong Tuần Thánh dành cho đức giáo hoàng, bao gồm cả Thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà tù dành cho trẻ vị thành niên ở Rome. Tuần Thánh lên đến đỉnh điểm vào ngày 9 tháng 4 với Thánh lễ Chúa nhật Phục sinh, nhắc lại niềm tin của người Kitô giáo vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.

ĐGH đã bị một số bệnh trong những năm gần đây, bao gồm cả chứng đau đầu gối nghiêm trọng, điều đó có nghĩa là ngài phải chống gậy và thường ngồi xe lăn khi xuất hiện trước công chúng. Những khó khăn trong việc di chuyển đã hạn chế sự tham gia của ngài vào một số sự kiện, và như đã xảy ra vào năm ngoái, một hồng y cấp cao đã cử hành Thánh lễ vào Chúa Nhật Tuần Thánh.

Thánh lễ vào Chủ nhật Phục sinh, ngày quan trọng nhất trong lịch phụng vụ của Công Giáo, trong Thánh Lễ này, theo thông lệ ĐGH sẽ công bố bài giảng “Urbi et Orbi” (cho thành phố và thế giới)

Phan Sinh Trần

Bài giảng sâu sắc của ĐTC Phan xi cô trong tuần Thánh – Lễ Lá

Đài Chân Lý Á Châu

Bài giảng của Đức Thánh cha

Trong bài giảng sau bài Thương khó, Đức Thánh cha đặc biệt diễn giải câu Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?”. Đó là lời khẩn cầu mà phụng vụ hôm nay để cho chúng ta lập lại trong thánh vịnh đáp ca (Xc Tv 22,2) và là lời duy nhất Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá, như bài Tin mừng chúng ta đã nghe. Vì thế, đó là những lời đưa chúng ta vào trọng tâm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đi vào tột đỉnh những đau khổ Chúa đã chịu để cứu độ chúng ta”.

Chúa chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta

Đức Thánh cha nói: “Những đau khổ của Chúa Giêsu thật là nhiều và mỗi lần chúng ta nghe bài Thương khó, chúng ta đi vào những đau khổ đó. Có những đau khổ thể xác: từ những cái tát cho đến những sự đánh đập, từ những roi đòn cho đến mão gai, đến sự cực hình khổ giá. Có những đau khổ trong tâm hồn: sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ Thầy của Phêrô, những kết án của giới lãnh đạo tôn giáo và chính quyền, sự nhạo cười của lính canh, những lăng mạ dưới chân thập giá, sự phủ nhận của bao nhiêu người, sự thất bại mọi sự, sự bỏ rơi của các môn đệ… Giờ đây, xảy ra một điều không tưởng tượng được; trước khi chết Chúa Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con?”

Đức Thánh cha cũng nói đến đau khổ xé lòng về tinh thần mà Chúa Giêsu đã chịu: “Chúa cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì yêu thương chúng ta, Chúa đi tới độ chịu đau khổ tột cùng”. Đức Thánh cha nhận xét rằng: “Động từ ‘bỏ rơi’ trong Kinh thánh thật là mạnh; đau khổ tinh thần xuất hiện trong những lúc đau đớn tột cùng: trong những thất tình, bị xua đuổi và phản bội; nơi những người con bị phủ nhận và phá thai; trong những tình trạng bi ruồng bỏ, góa bụa và mồ côi; trong những hôn phối kiệt quệ, trong những loại trừ, tước bỏ những quan hệ xã hội, trong những áp bức bất công và trong cô độc vì bệnh tật: tóm lại, trong những tan nát bi thảm nhất của các mối quan hệ. Chúa Kitô đã chịu điều đó trên thập giá, vác lấy tội lỗi của trần thế… Chúa Giêsu đã chịu tất cả những điều đó vì chúng ta, liên đới với chúng ta đến tột cùng, để ở với chúng ta đến cùng. Để không một ai trong chúng ta có thể nghĩ mình cô độc và không thể phục hồi. Chúa đã chịu sự bỏ rơi để không để chúng ta trở thành con tin của sầu khổ, để ở cạnh chúng ta mãi mãi”.

Đáp lại tình thương của Chúa

Đức Thánh cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, một tình yêu như thế, tất cả cho chúng ta, và đến độ tột cùng, có thể biến đổi những con tim chai đá của chúng ta thành những con tim bằng thịt, có khả năng thương xót, dịu dàng, cảm thương. Chúa Kitô bị bỏ rơi thúc đẩy chúng ta tìm kiếm và yêu mến Chúa nơi những người bị bỏ rơi. Lý do vì nơi họ, không những chỉ có những người túng quẫn, nhưng có chính Ngài, Chúa Giêsu bị bỏ rơi, Đấng đã cứu vớt chúng ta, khi hạ mình đến cùng trong thân phận phàm nhân của chúng ta. Vì thế, Chúa muốn chúng ta chăm sóc các anh chị em của chúng ta, những người rất giống Ngài, giống Ngài trong tình trạng đau khổ tột cùng và cô đơn. Ngày hôm nay có bao nhiêu “Kitô hữu bị bỏ rơi”. Có cả các dân tộc bị bóc lột và bỏ mặc; có những người nghèo sống ở những ngã tư đường của chúng ta, những người mà chúng ta không dám nhìn thẳng vào họ; những người di dân không còn là những khuôn mặt nhưng chỉ là những con số; các tù nhân bị phủ nhận, những người bị xếp loại như những vấn đề. Nhưng cũng có bao nhiêu Kitô hữu bị bỏ rơi vô hình, giấu kín, bị gạt bỏ bằng những găng tay trắng: đó là những hài nhi chưa sinh ra, người già bị bỏ mặc, bệnh nhân không được thăm viếng, người khuyết tật bị làm ngơ, người trẻ cảm thấy trống rỗng lớn trong tâm hồn mà không có người nào thực sự nghe tiếng kêu đau thương của họ.”

“Chúa Giêsu bị bỏ rơi xin chúng ta hãy có đôi mắt và con tim đối với những người bị bỏ rơi. Đối với chúng ta là môn đệ của Đấng bị bỏ rơi, không ai có thể bị gạt ra ngoài lề, không ai có thể bị bỏ mặc một mình; vì chúng ta hãy nhớ rằng những người bị phủ nhận và loại trừ là hình ảnh sống động của Chúa Kitô. Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin ơn này, đó là luôn biết yêu mến Chúa Giêsu bị bỏ rơi và biết yêu mến Chúa Giêsu nơi mỗi người bị bỏ rơi.”

Phan Sinh Trần 

Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6:3-4)

Một ngày bình yên và hạnh phúc trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 30/04/2023

TIN MỪNG: THIÊN CHÚA phán với ông rằng: “Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc. Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. (St 17:4-5)

SUY NIỆM: Mỗi người Công Giáo VN đều có một Tên Thánh hay tên bổn mạng. Tục lệ lấy tên thánh đặt cho các cá nhân đã có từ thời giáo hội sơ khai. Công đồng Nicaea của Công Giáo, họp năm 325 cấm việc dùng tên các thần thánh không phải của Thiên Chúa Giáo để đặt tên. Cho nên việc lấy tên một vị thánh là để noi gương vị thánh đó, sống thánh thiện nhân lành, và cũng để nhờ Ngài nâng đỡ, che chở và cầu bầu cho mình trước Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay cho biết việc Chúa gọi Áp-ram, giao ước cho ông làm tổ phụ nhiều dân tộc và đổi tên ông thành Áp-ra-ham. Bởi đó Áp-ra-ham rất được người Do thái ngưỡng mộ. Họ coi ông là tổ phụ của họ. Khi bạn được rửa tội bạn được làm con của Thiên Chúa, được tham dự vào sự sống mới của của Ba Ngôi Thiên Chúa để bạn biết lắng nghe Lời Chúa dậy, học và thực hiện những điều bạn đã hứa trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội.

Vậy lối sống của bạn có phản ảnh đúng với lời hứa trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội không? Có bao giờ bạn chạy đến thánh bổn mạng để noi gương các ngài và xin các ngài giúp bạn trở nên trong trắng, trở nên thánh thiện xứng đáng là con Thiên Chúa chưa?

Bạn có coi những người chung quanh là anh em với nhau trong Hội thánh, giúp đỡ nhau cố gắng giữ gìn cho tâm hồn luôn trong trắng và thực hành những điều Chúa và Hội thánh dậy không?

LẮNG NGHE: Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6:3-4)

CẦU NGUYỆN: Lậy Chúa, khi chịu Bí tích Rửa tội con đã hứa với Chúa chỉ tin và thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi, quyết tâm từ bỏ ma quỷ, những cám dỗ của chúng để con luôn xứng đáng là con Thiên Chúa. Xin Chúa giúp con thực hiện quyết tâm ấy qua việc ăn nói nhẹ nhàng lịch sự với nhau trong đời sống hằng ngày.

THỰC HÀNH: Tên thánh của bạn là gì? Hãy đọc và tìm hiểu thêm về vị thánh đó. Nếu được thì hãy đọc kinh thánh quan thầy của bạn hằng ngày để xin ngài cầu giúp nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đừng bỏ con Chúa ơi-tinmung.net