LẮNG NGHE NHỊP TIM CỦA CHÚA KITÔ

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Câu chuyện về bữa ăn tối cuối cùng trong Phúc âm thánh Gio-an cho chúng ta một hình ảnh bí ẩn tuyệt vời.  Thánh sử mô tả vị tông đồ yêu quý tựa đầu vào ngực Chúa Giê-su.  Hình ảnh này chứa đựng điều gì?  Rất nhiều điều:

Thứ nhất, khi bạn tựa đầu vào ngực người khác, tai của bạn nằm ngay bên trên trái tim người đó, bạn có thể nghe nhịp đập trái tim của họ.  Vì vậy, trong hình ảnh của thánh Gio-an, chúng ta thấy vị tông đồ yêu dấu áp tai lên trái tim Chúa Giê-su, lắng nghe nhịp đập trái tim của Chúa, và từ đó nhìn ra thế giới.  Đây là hình ảnh tối thượng về sứ vụ tông đồ của thánh Gio-an: Vị tông đồ lý tưởng là người hòa nhịp với nhịp tim của Chúa và nhìn thế giới với âm thanh của nhịp đập đó trong tai mình.

Và còn có một tầng mức thứ hai của hình ảnh này: Đó là biểu tượng của bình an, hình ảnh em bé ngả đầu vào ngực mẹ, hài lòng, thỏa mãn, êm dịu, không căng thẳng, không muốn ở đâu khác hơn nơi này.  Đây là hình ảnh của tình mật thiết tối thượng, của sự nhất thể cộng sinh, một mối liên hệ còn sâu sắc hơn cả tình yêu lãng mạn.

Và đối với thánh Gio-an, đó còn là hình ảnh của bí tích Thánh thể: Điều mà chúng ta thấy trong hình ảnh một người áp tai lên trái tim của Chúa Giê-su, là cái cách mà thánh Gio-an muốn chúng ta hình dung chính mình khi tham dự bí tích Thánh thể, bởi vì, rốt cuộc, đây chính là ý nghĩa của bí tích Thánh thể, dựa đầu vào ngực Chúa Giê-su.  Trong phép Thánh thể, Chúa Giê-su dành cho chúng ta, về mặt thực thể, một lồng ngực để dựa đầu vào, để được nuôi dưỡng, để cảm thấy an toàn và vững chãi, và từ đó nhìn ra thế giới.

Cuối cùng, đây còn là hình ảnh về cách chúng ta cần chạm đến Chúa và được Chúa duy trì trong sự cô tịch như thế nào.

Cha Henri Nouwen từng nói: “Bằng cách chạm vào tâm điểm của sự cô tịch chúng ta, chúng ta cảm thấy mình đã được những bàn tay thương yêu chạm đến.”  Sâu thẳm trong lòng mình, giống như một dấu ấn, có một nơi Chúa đã chạm đến, đã vuốt ve và đã hôn chúng ta.  Rất lâu trước khi ký ức của chúng ta có thể nhớ được, rất lâu trước khi chúng ta có thể nhớ được đã chạm tới hay đã thương yêu hay hôn ai hay cái gì, hay nhớ được mình đã được ai hay cái gì trên thế gian này chạm tới, đã có một thứ ký ức khác, một ký ức đã được những bàn tay thương yêu nhẹ nhàng chạm đến.  Khi áp tai vào trái tim Chúa – vào lồng ngực của những gì tốt lành, chân chính và đẹp đẽ – chúng ta đã nghe một nhịp tim nào đó và chúng ta nhớ mãi, trí nhớ cất giữ ở một nơi ban sơ nào đó, ở một cấp độ vượt lên trên suy nghĩ, rằng mình đã từng được Chúa hôn dịu dàng.

Tựu trung, đây là điều sâu sắc nhất trong lòng chúng ta.  Có một huyền thoại cổ xưa nói rằng khi tạo ra một em bé, Chúa hôn linh hồn của em và hát cho em nghe.  Khi vị thiên thần hộ mệnh mang em xuống trần gian để nhập vào thể xác của em, vị đó cũng hát cho em.  Huyền thoại này nói rằng nụ hôn và bài hát của Chúa, cũng như bài hát của vị thiên thần, mãi mãi lưu lại trong linh hồn em – để được đánh thức, nâng niu, chia sẻ, và trở thành nền tảng cho tất cả các bài hát của chúng ta.

Nhưng để cảm nhận được nụ hôn đó, để nghe thấy bài hát đó, cần có sự cô tịch.  Bạn không cảm thấy được sự dịu dàng khi trong lòng và tất cả xung quanh bạn đều ồn ào, khó chịu, giận dữ, chua chát, ganh tị, tranh giành, và hoang tưởng.  Âm thanh nhịp đập trái tim của Chúa chỉ có thể nghe được trong một cô tịch nào đó và trong sự dịu dàng mà nó mang lại.  Thánh Gio-an Thánh giá từng định nghĩa cô tịch là “đem cái nhẹ nhàng hòa hợp với cái nhẹ nhàng.”  Đó là cách ông nói về việc chúng ta sẽ bắt đầu nhớ lại cái chạm nguyên thủy của Chúa, khi, qua sự cô tịch, chúng ta dọn dẹp hết khỏi trái tim mình tất cả những gì không nhẹ nhàng, nghĩa là ồn ào, giận dữ, chua chát, và ganh tỵ.  Khi chúng ta trở nên nhẹ nhàng, chúng ta sẽ nhớ lại rằng mình đã được đôi tay thương yêu chạm vào, và, giống như vị tông đồ yêu dấu, lúc đó chúng ta sẽ áp tai mình vào nghe nhịp đập trái tim của Chúa.

Vậy, trong mỗi chúng ta đều có một nhà thờ, một nhà nguyện, một nơi thờ phụng, một nơi tôn nghiêm không phải do bàn tay con người tạo nên.  Và đó là nơi dịu dàng, nơi trinh trắng, nơi thiêng liêng, nơi không hề có giận dữ, không cảm thấy bị lừa dối, không cần phải tranh giành, và không cần phải bất an.  Đó là nơi dịu dàng; nhưng nó có thể bị xâm phạm, bằng việc cam kết với chính mình nhưng lại không tôn trọng chính mình, và đặc biệt, bằng dối trá rồi duy lý hóa và tiếp theo đó là chai sạn, sa đọa và khô cứng của trái tim.  Tuy nhiên, trái lại, đó cũng là nơi có thể vẫn không hề bị xâm phạm, thiêng liêng, không bị hề hấn gì kể cả khi bị lạm dụng và xâm hại.

Chính tại nơi đó, nơi chỉ vào được qua sự cô tịch và dịu dàng của tinh thần, mà chúng ta có được đặc ân tiếp cận với Chúa vì đó là nơi Chúa đã chạm đến chúng ta và nơi mà chúng ta nhớ lại điều đó, cho dù mờ nhạt đến đâu.

Chúng ta đã từng được chạm đến bằng đôi tay dịu dàng hơn nhiều và đầy thương yêu hơn nhiều so với đôi tay của chính chúng ta.  Ký ức về cái chạm đó là một dấu ấn – ấm áp, sâu đậm, dịu dàng.  Bước vào miền ký ức đó là dựa vào ngực Chúa, giống như vị tông đồ yêu dấu đã làm tại bữa ăn tối cuối cùng.  Từ nơi đó, tai áp trên trái tim của Chúa Ki-tô, chúng ta có cái nhìn chân thật nhất về thế giới của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

From: Langthangchieutim

ĐI RA TRONG ÁNH SÁNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nicôđêmô, một đầu mục của người Do Thái; ông đến gặp Chúa Giêsu ban đêm”.

Một ngọn hải đăng thật cần thiết trong việc soi dẫn tàu thuyền ở các vịnh, bãi cạn hay các lối vào cảng. Một trong những hải đăng nổi tiếng nhất là ngọn “Hải Đăng Alexandria”; xây từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, tồn tại đến thế kỷ 15, ở Alexandria, Ai Cập; và là kỳ quan của thế giới cổ đại.

Kính thưa Anh Chị em,

Ai Cập có một hải đăng 18 thế kỷ tuổi; nhưng nhân loại có một hải đăng ‘vô cùng tuổi’, chiếu sáng thế giới cổ đại lẫn hiện đại, ‘Hải Đăng Giêsu’. ‘Hải Đăng’ ấy không chỉ soi rọi trên biển Hồng Trần mà còn dẫn con người vào cảng cực lạc Thiên Quốc. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cho thấy một người đến gần ‘Hải Đăng Giêsu’. Chi tiết thú vị của ‘cuộc tiếp cận’ ấy là vị khách đến vào ban đêm, một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa; và người ấy đã ‘đi ra trong ánh sáng’ sau khi gặp Ngài!

Tin Mừng Gioan là ‘Tin Mừng của những biểu tượng’. Nicôđêmô đến vào “ban đêm”, theo thánh Augustinô, vì lẽ ông chưa được sinh lại hoàn toàn và do đó, chưa sống trọn vẹn dưới ánh sáng đức tin; nói cách khác, chưa ‘đi ra trong ánh sáng’ Giêsu. Tiến trình đức tin của Nicôđêmô là tiến trình ‘đến với ánh sáng’; đúng hơn, tiến trình được tái sinh trong nước và Thánh Thần. Thoạt đầu, ông sợ hãi, hiểu biết của ông về Ngài còn rất ít; nhưng sau khi gặp Ngài, ông giác ngộ, trở nên mạnh mẽ. Về sau, ông mạnh dạn bênh vực Ngài; Ngài chết, ông công khai trợ táng. Nicôđêmô đã ‘đi ra trong ánh sáng’, ‘được sinh lại’ bởi nước và Thánh Thần; và ông theo Chúa Giêsu đến cùng.

Thật trùng hợp, Phêrô và Gioan trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay đi ra từ ngục tối và hân hoan bước đi trong quyền năng và sức mạnh của Đấng Phục Sinh; hai ngài đã ‘đi ra trong ánh sáng’ và Thánh Thần để can đảm bênh vực niềm tin vào Đấng các ngài cậy trông. Thánh Vịnh đáp ca tỏ bày niềm phấn khích, “Phúc cho tất cả những ai tin tưởng nơi Chúa”.

Nicôđêmô là một tấm gương tuyệt vời cho chúng ta trong thế giới hôm nay. Nhiều Kitô hữu cảm thấy việc sống đức tin một cách triệt để, đặc biệt trong môi trường làm việc, học đường và các cộng đồng… là một thách đố. Như Nicôđêmô, nhiều người cảm thấy dễ dàng hơn khi đến với Chúa Giêsu “ban đêm”; thế mà, dẫu đã đến với Ngài theo cách này, họ vẫn không bước ‘đi trong ánh sáng!’. Tại sao? Họ không muốn để mình được biến đổi; nói đúng hơn, được sinh lại bởi trên.

Anh Chị em,

‘Đi ra trong ánh sáng’ đồng nghĩa với việc sống trong ánh sáng, trong Thần Khí. ‘Đi ra trong ánh sáng’ là sống đời sống mới mà Chúa Phục Sinh mang lại. Thánh Phaolô nói, “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng”. Hãy để Thánh Linh đi vào bên trong bạn, dẫn dắt linh hồn bạn, dẫn đến nơi Ngài muốn. Thông thường, chúng ta chùn chân, sợ hãi, như Nicôđêmô trước đó; chúng ta không biết phải đi những bước tiếp theo, không biết phải làm gì để thực hiện những bước quan trọng này. Hãy học gương can đảm của Nicôđêmô! Như Nicôđêmô, chúng ta ý thức rằng, bước quan trọng là để Thánh Linh dẫn dắt, để Ngài sinh chúng ta một lần nữa; và với sự tự do của Thần Khí, chúng ta không biết nó sẽ kết thúc ở đâu, vì “gió muốn thổi đâu thì thổi”, nhưng tin chắc một điều, chúng ta đã ‘đi ra trong ánh sáng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con luôn sống như con cái ánh sáng, hầu nhân loại biết rằng, “Hải Đăng Giêsu” đang sống, đang chiếu soi họ, chiếu soi thế giới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót-Cha Vương

 Chúc bạn và gia quyến cuối tuần tràn đầy Lòng Chúa Xót Thương nhé.

Cha Vương

 Thứ 7 Bát Nhật Phục Sinh: 15/04/2023

TIN MỪNG: Bấy giờ, bà Ma-ri-a nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, / thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. / Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. / Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! / Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. (Lc 1:46-50)

SUY NIỆM: Để chuẩn bị cho Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót, mời bạn hướng về Thân Mẫu của Lòng Thương Xót để tái khám phá ra mầu nhiệm Thiên Chúa Làm Người. Toàn bộ cuộc sống của Mẹ đều được khắc ghi bởi sự hiện diện của Lòng Thương Xót trở nên xác phàm. Thân Mẫu của Đấng Chịu Đóng Đinh và cũng là Thân Mẫu của Đấng Phục Sinh đã bước vào trong thánh địa Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vì Mẹ có sự tham dự thật sâu xa vào với mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa. Vì là Mẹ của Lòng Thương Xót, nên suốt cuộc đời Mẹ luôn là máng thông ơn Thiên Chúa xuống cho nhân loại. Xin Mẹ ghé mắt xót thương nhìn đến thân phận mỏng dòn của con người và làm cho ta xứng đáng chiêm ngưỡng khuôn mặt của lòng thương xót, là Chúa Giêsu Con Mẹ.

LẮNG NGHE: Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, (Ep 1:4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ, Mẹ là máng thông ơn Thiên Chúa xuống cho nhân loại, xin giúp từ bỏ tội lỗi để đi vào sự thẳm sâu của Lòng Chúa Xót Thương hầu được sống hạnh phúc muôn đời với Chúa.

THỰC HÀNH: Mời bạn đọc một Chuỗi Hạt Lòng Thương Xót Chúa.

Maria, Mẹ lòng thương xót -St: Lm Vũ Đức Hiệp – Tb: Mộng Thường

 From: Đỗ Dzũng

NHIỀU HƠN NHỮNG GÌ CÓ THỂ TƯỞNG TƯỢNG

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đến mà ăn!”.

Pascal nói, “Điểm phân biệt lớn nhất về sự toàn năng của Thiên Chúa, là khi nghĩ về nó, trí tưởng tượng của con người sẽ không còn! Ngài luôn ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay chứng thực điều Pascal nói. Với Chúa Phục Sinh, mọi sự có thể bắt đầu lại, có thể được phục hồi, kể cả đổ vỡ, phản bội và thất bại. Mọi sự trở nên mới mẻ! Với Ngài, mọi sự đều có thể cho Phêrô, cho các môn đệ, luôn luôn ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng!’.

Khi ai đó ở trong một tâm trạng xót xa, họ có xu hướng trở lại với nếp cũ hầu khôi phục sự tự tin và giá trị bản thân. Với Phêrô, nếp cũ là đánh cá, vì vậy ông ra biển, rủ các bạn cùng đi. Họ cũng là những người cảm thấy có lỗi vì đã bỏ Thầy trong cuộc thương khó và có lẽ do sự cắn rứt lương tâm nên họ dễ dàng nhập cuộc với Phêrô. Vậy mà nhóm bạn chài đáng thương ấy thật may mắn, họ gặp lại Thầy mình, ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng!’. Ngài sẽ băng bó và chữa lành những trái tim thương tổn của họ, dẫu họ chưa nhận ra Ngài.

Chúa Phục Sinh hiện ra, truyền cho họ buông chài bên phải mạn thuyền và họ đã bắt được rất nhiều cá. Mẻ cá này không chỉ là ân huệ sau một đêm công cốc; nó mang tính biểu tượng cao! Biểu tượng trọng tâm là Đấng Phục Sinh đang ở với họ, giữa thất bại, ‘giữa nếp cũ, nhưng đánh bắt theo cách mới’. Gioan nói, “Chúa đó!”; Ngài thầm nhắc họ sứ mệnh ban đầu, “Lưới người như lưới cá!”. Và điều quan trọng, nếu họ tự sức làm điều này bằng nỗ lực của mình theo ‘nếp cũ’, họ sẽ trắng tay; nhưng làm theo ‘cách mới’, tức là ‘theo lệnh, theo cách Ngài’, ‘trong thời gian của Ngài’, nỗ lực của họ sẽ mang lại thành quả, ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng!’.

Bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay là một bằng chứng. Trước thượng hội đồng, Phêrô tuyên bố những lý chứng hùng hồn nhất. Giêsu, “Tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, đã trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Ngài, không ai đem lại ơn cứu độ!”, đúng như lời Thánh Vịnh đáp ca.

Tin Mừng nói, “Bước lên bờ, các ông thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa”. Ôi! Với Phêrô, lại là một biểu tượng! Những ánh lửa của đêm nào sống lại trong ông, lửa phản bội, lửa chối Thầy; nhưng nay, lửa xót thương, lửa thứ tha! Trong đêm khổ nạn của Thầy, khi đang sưởi bên bếp lửa hồng , ông đã nói, “Tôi không biết người ấy!”; nhưng giờ đây, cũng bên bếp lửa hồng, ‘Người Ấy’ lại nói với ông và các bạn, “Hãy đến mà ăn!”. Sao mà thâm trầm đến thế, ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng’; bởi lẽ, nó gợi lên những lời của đêm Tiệc Ly, lời từ các phép lạ bánh cá hoá nhiều, lời của các bữa ăn thắm tình Thầy, đượm tình trò.

Anh chị em,

“Hãy đến mà ăn!”. Chúa Phục Sinh mời tất cả chúng ta “Hãy đến mà ăn!”, đến dự bữa tiệc thịnh soạn của lòng thương xót Ngài. Lịch sử của Phêrô, của các môn đệ, cũng là lịch sử của mỗi người chúng ta. Không phải lúc nào chúng ta cũng trung tín, chân thực; ở đó có cả bất trung, bội tín, thậm chí bán Thầy. Vậy mà Chúa Phục Sinh quên hết! Lòng nhân hậu và xót thương của Ngài bù đắp mọi vong ân bội nghĩa, kể cả sự dữ; đến nỗi, như Gioan viết, “Không ai dám hỏi, ‘Ông là ai?’”.

Ba năm nhìn thấy Thầy yêu thương bao người khốn khổ đã giúp họ nhận biết Ngài là Đấng Xót Thương; và nay Ngài thương xót chính họ! Ước gì bạn và tôi, cũng biết Ngài bằng chính danh xưng Thương Xót đó; và về sau, biết yêu mến Ngài như Phêrô yêu Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con hiểu rằng, ân sủng phục sinh không chỉ kết thúc với việc con được tha thứ; nó kết thúc với việc trái tim con được biến đổi ‘nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thế giới đã có biến đổi gì nhờ việc Chúa Giêsu sống lại?-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới, chúc bạn được tràn đầy hy vọng vào Chúa Phục Sinh nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 14/04/2023

GIÁO :  Thế giới đã có biến đổi gì nhờ việc Chúa Giêsu sống lại? Vì cái chết từ nay không còn là “chấm dứt” mọi sự nữa, nên niềm vui và hi vọng đã đến với thế giới. Cái chết không còn cai trị trên Chúa Giêsu (Rm 6,9). Chết cũng không còn quyền trên chúng ta, là những người thuộc về Chúa Giêsu nữa. (YouCat, số 108)

SUY NIỆM: Ám ảnh bởi cái chết luôn rình rập ở bên, người ta đã cố gắng tìm hiểu về cái chết nhưng đều đi đến chỗ bế tắc, không giải quyết được vì, thực ra, sự sống hay cái chết là một huyền nhiệm. Vì vậy người ta mới có nhiều cách khác nhau để diễn tả đến cái chết: sợ chết, trốn chết, quên chết, hoặc đón nhận cái chết. Mỗi người có một quan niệm về sự chết. Nhưng riêng với người Kitô giáo, họ tin rằng chết là ngưỡng cửa đi vào cuộc đời hay chết là con đường đưa tới sự sống. Nói cách khác, chết không phải là hết, là mất mát, là đi vào ngõ cụt, đi vào cõi hư vô mà chết là một sự chuyển đổi như trong kinh Tiền tụng lễ An táng có viết :”Đối với chúng ta là những Kitô hữu, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi trú ngụ dưới trần bị tiêu hủy, chúng con sẽ về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời”.

❦ Người nào đã nhận được sứ điệp Phục Sinh không thể nào còn bước đi với bộ mặt bi thảm và sống cuộc sống không có niềm vui của một người không có hy vọng. (Friedrich Schiller, 1759–1805, văn sĩ và kịch gia Đức) (YouCat, số 108 t.t)

LẮNG NGHE: Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. (Ga 6:47)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, cuộc sống là một hành trình đi về quê trời. Hành trình ấy chấm dứt sớm hay muộn không ai biết, chỉ biết chắc một điều là có ngày chấm dứt, ngày đó là giờ chết. Xin giúp con biết chuẩn bị cho chính mình một hành trang qua việc dấn thân làm việc lành phúc đức để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

THỰC HÀNH: Giả sử như hôm nay là ngày cuối của bạn, hành trang đem theo với bạn là những gì?

Sự sống thay đổi mà không mất đi

From: Đỗ Dzũng

 Sau khi sống lại Chúa Giêsu có mang cùng một thân xác như trước khi Người qua đời không?  

 Nguyện xin bình an của Chúa Phục Sinh ở cùng bạn và gia đình luôn mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 13/04/2023

GIÁO LÝ: Sau khi sống lại Chúa Giêsu có mang cùng một thân xác như trước khi Người qua đời không? Chúa Giêsu đã cho các môn đệ đụng chạm đến xác Người, Người ăn uống với họ, cho họ thấy vết đâm nơi cạnh sườn Người. Nhưng thân xác Người không còn hoàn toàn thuộc về trần gian, mà thuộc về Thiên đàng nơi Chúa Cha đang ngự trị. (YouCat, số 107)

SUY NIỆM: Đức Kitô sống lại còn mang theo các vết thương khi chịu đóng đinh thập giá, nhưng không còn ở trong không gian hay thời gian nữa. Người có thể vào trong một phòng đã đóng kín cửa, và có thể hiện ra với các môn đệ ở nhiều nơi khác nhau với vẻ bề ngoài mà các ông không thể nhận ra ngay lập tức được. Chúa sống lại không phải là lại sống như đời sống thường trước kia, nhưng đã đổi sang một đời sống khác: Chúa Kitô một khi đã sống lại từ cõi chết thì không còn chết nữa, sự chết không còn quyền gì đối với Người nữa (Rm 6,9). (YouCat, số 107 t.t.)

❦ Chúa Giêsu hiện ra với bà Maria Magdala mà bà đã không nhận ra ngay được liền. Chúa Giêsu nói: “Maria”. Bà quay lại và nói với Chúa: “Rabbouni” có nghĩa là “Lạy Thầy”. Ga 20,16

LẮNG NGHE: Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:20b)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, ma quỷ đang tìm cách gieo vào cuộc sống hiện đại hôm nay những nghi ngờ và bất đồng làm con sợ hãi hoang mang, xin biến con trở nên khí cụ của bình an, xua tan sợ hãi, lan toả yêu thương và chiếu sáng niềm hy vọng trong cuộc đời.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Kính Mến.

https://www.youtube.com/watch?v=hWisUl5ZUOQ

Giêsu ơi, ở cùng con luôn mãi

From: Đỗ Dzũng

CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG TIN LÀ CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG MẾN

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa nhật II phục sinh, Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa.  Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương.  Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại dương hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699).  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005).  Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá.  Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo.  Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa.  Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao ban bình an, là Chúa cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài.  Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi.  Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.  Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

  1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này.  Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.  Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24,11).  Thánh Matthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi.  Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17).  Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”  Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay.  Chỉ tin những gì thấy được.  Chỉ chấp nhận những gì sờ được.  Đòi kiểm nghiệm tất cả.  Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả.  Không chỉ tin vào lời nói suông.  Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác.  Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin.  Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma?  Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã.  Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được.’  Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe.  Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta.  Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại.  Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa.  Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng.  Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng ‘lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.’  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: “Lạy Thiên Chúa của con.”  Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi.  Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi.”  Nhà thần học Paul Tillich nói: “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin.  Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh.”  Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin.”  Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững.”  Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy.  Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

  1. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy, tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.  Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).  Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.  Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu,” bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra.  Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình.  Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…  Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc.  Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó.  Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

  1. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời.  Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi.  Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.  Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót.  Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót.

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân.  Mỗi người, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.  Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ.  Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót.  Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12).  Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn Dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống.  Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống.”

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như thánh Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con.  Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa.”  Người Kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến.  Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc.  Càng tin vững thì càng bình an.  Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến.  “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).  Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

NIỀM VUI PHỤC SINH

Tôi rất thích câu Kinh Thánh: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?” (Ga 20:15). 

Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy.  Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.

1. Tiến Lên Và Chạm Vào Ngài

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn?  Sao anh em nghi ngờ?  Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy.”

Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không đến gần sờ thử.  Tôi nghi ngại.  Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật.  Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật.  Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20).

2. Thiên Chúa Tốt Lành

Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha.  Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20).

Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa…  Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài.”

Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh.  Thiên Chúa có tốt lành?  Có.  Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh.

3. Phó Thác

Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng.  Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khóat, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa.  Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài.”

Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con,” chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin.

4. Loại Bỏ Sợ Hãi

Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh.  Ngài không còn ở đây.  Ngài đã sống lại như Ngài đã nói.”  Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).

Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ.  Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm.  Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.

Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình.”

5. Công Khai

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai.  Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự.  Không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa.  Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp.

6. Khiêm Nhường

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa.  Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa.  Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.

Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường.  Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người.  Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.”  Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự phục sinh.  Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin rằng ngôi mộ trống.

7. Hành Trình Emmaus

Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus.  Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì.  Một người nói: “Sao ông hỏi vậy?  Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”  Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ.  Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.

Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta…  Sự phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành.”

8. Cầu Nguyện Liên Lỉ

Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).

Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện.  Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui.”  Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh.

9. Nhận Biết Chúa Trong Mọi Sự

Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài.  Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương.  Thánh GH Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự.  Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự.”  Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.

Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc.  Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ra và trao cho người khác chính cuộc đời mình!

Therese Borchard

Kha Đông Anh (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

From: Do Tan Hung&KimBang Nguyen

Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không?-Cha Vương

Ngày thứ 4 Bát Nhật Phục Sinh tràn đầy niềm vui và hy vọng nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 12/04/2023

GIÁO LÝ:  Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không? Không có bằng chứng theo khoa học về việc Chúa Giêsu sống lại. Nhưng có những chứng cớ rất mạnh của cá nhân cũng như tập thể của nhiều người đương thời tại Giêrusalem. (1Cr 15,3-6; Lc 24,2-3; Ga 20,8).

(YouCat, số 106)

SUY NIỆM: Bằng chứng cổ xưa nhất ghi chép Chúa Giêsu sống lại là thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, viết khoảng 20 năm sau cái chết của Chúa Giêsu: “Trước hết tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.

Sau đó Người đã hiện ra với năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống nhưng một số đã an nghỉ (1Cr 15,3-6).

Ở đây thánh Phaolô nói về một truyền thống sống động ngài gặp trong cộng đồng Kitô giáo sơ khởi, khi chính ngài vừa mới trở thành Kitô hữu, hai ba năm sau cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu – theo sau cuộc gặp gỡ ngao ngán với Chúa đã phục sinh. Các môn đệ đã cho rằng ngôi mộ trống là chỉ dẫn đầu tiên về thực tại Chúa sống lại (Lc 24,5-6).

Đây là việc các phụ nữ đã khám phá thấy – theo luật thời đó thì bằng chứng của họ không được chấp nhận. Dù người ta nói rằng tông đồ Gioan đến mộ, đã thấy và đã tin (Ga 20,8), việc xác tín rằng Chúa Giêsu sống lại chỉ phát triển nhờ một loạt các lần hiện ra.

Chỉ sau khi Chúa về trời, mới không còn những gặp gỡ với Đấng đã sống lại. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn tiếp tục có những gặp gỡ với Chúa Giêsu, Người vẫn sống. (YouCat, số 106 t.t.)

❦ Tình yêu Thiên Chúa đi tới chỗ sáng như chớp. Như một tia chớp Chúa Thánh Thần đi qua đêm của mỗi người. Đấng Phục Sinh bắt lấy bạn, đảm nhận mọi sự, mang trên Người tất cả những gì bạn không mang nổi. Chỉ như thế mà sau này, đôi khi rất lâu sau này điều đó mới rõ ràng: Chúa Kitô đã đi qua và đã phân phát những gì quá đầy của Người. (Frère Roger Schutz)

LẮNG NGHE: Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:27-29)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho con!

THỰC HÀNH: Tự suy ngẫm coi có những gì chung quanh bạn tuy mắt người phàm không thấy nhưng bạn tin là nó có thật.

From: Đỗ Dzũng