CỞI MỞ VỚI SỰ KHÔN NGOAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm?”.

“Như bìa một cuốn sách cũ, nội dung của nó bị xé ra, chữ viết và các chương bị xé lẻ. Nằm đây, thức ăn cho sâu; nhưng tác phẩm sẽ không bị mất hoàn toàn. Vì nó sẽ xuất hiện một lần nữa – như tôi tin tưởng – trong một phiên bản mới, hoàn hảo hơn vốn đã được Tác Giả sửa chữa và bổ sung!” – Benjamin Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Đó là những gì đọc được trên văn bia của Franklin. Tin Mừng hôm nay tường thuật một kịch bản của những người Sadducêô – vốn không có niềm tin như vị tổng thống – đặt cho Chúa Giêsu. Đó là một kịch bản giả định khá dài và khó xảy ra. Họ đặt vấn đề kẻ chết sống lại. Và Chúa Giêsu kết luận, “Các ông lầm!”. Ngài mời họ ‘cởi mở với sự khôn ngoan’ của Thiên Chúa.

Kịch bản về một người phụ nữ đã cưới bảy anh em sau khi những người này lần lượt qua đời. Kết thúc tình huống, họ hỏi, “Khi họ sống lại, người phụ nữ đó sẽ là vợ của ai?”. Chúa Giêsu trả lời, “Các ông lầm!”. Người Sadducêô, những nhà lãnh đạo tôn giáo truyền thống, chỉ chấp nhận Kinh Torah, năm cuốn đầu tiên của Cựu Ước. Họ không tin có thế giới bên kia hay sự sống lại, vì cho rằng Kinh Torah không dạy điều đó.

Vấn đề của người Sadducêô chính là sự thận trọng và cứng nhắc trong cách tiếp cận đức tin. Họ dựa vào lý trí của con người, áp dụng nó vào Kinh Torah. Và mặc dù lý trí và suy luận hợp lý của con người là hữu ích và cần thiết trong cuộc sống, nhưng họ đã cố gắng giải quyết mọi vấn đề đức tin trong nỗ lực của chính mình bằng cách giải thích Kinh Torah một cách hẹp hòi và cứng nhắc. Họ không cho phép mình ‘cởi mở với sự khôn ngoan’ sâu sắc hơn của Thiên Chúa tràn ngập lý trí khi người ta phải chú ý đến nguồn cảm hứng và mạc khải của Ngài. Thay vào đó, họ rạch ròi trắng đen trong mọi suy luận và thực hành. Để rồi, sự cứng nhắc này dẫn họ đến chỗ “lầm lạc”.

Trong cuộc sống, chúng ta cũng có thể lầm lạc khi sử dụng lý trí một cách cứng nhắc. Chúng ta đơn giản hoá đức tin đến mức nghĩ rằng, mình có thể đạt được mọi câu trả lời bằng nỗ lực của bản thân. Vậy mà, mục tiêu thường xuyên của chúng ta là cho phép tâm trí mình hoàn toàn đắm chìm trong sự khôn ngoan sâu sắc nhất của Thiên Chúa, ‘cởi mở với sự khôn ngoan’ của Ngài và những gì Ngài mặc khải. Những lời dạy của Giáo Hội sẽ hướng dẫn chúng ta, giữ chúng ta trên con đường ngay thẳng; nhưng chính tiếng nói của Chúa – nói với tâm trí chúng ta một cách thực tế và riêng tư – sẽ giúp chúng ta hiểu được chiều sâu, chiều rộng của Thánh Ý, Sự Thật và Sự Khôn Ngoan của Ngài.

Anh Chị em,

“Các ông lầm!”. Hôm nay, hãy suy gẫm về bất kỳ khuynh hướng nào mà bạn trở nên những người Sadducêô. Bạn có cứng nhắc hẹp hòi không? Bạn có cho phép mình lầm lạc khi nghĩ rằng bạn có tất cả các câu trả lời cho mọi vấn đề? Nếu vậy, hãy tìm kiếm sự khiêm tốn; hạ mình xuống trước những bí ẩn của thiên đàng. Hãy dùng tâm trí để tìm hiểu những lẽ thật mà Chúa đã mặc khải và sẵn sàng để ngày càng được thu hút sâu hơn vào sự sống của chính Chúa, ‘cởi mở với sự khôn ngoan’ sâu thẳm của Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con lầm lạc khi cứng nhắc trước một vấn đề đức tin hay giáo huấn của Hội Thánh. Cho con biết khiêm tốn, dễ dạy trước tiếng nói của Thánh Thần!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

************

Thứ Tư Tuần IX Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !” 


 

Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không?-Cha Vương 

Mỗi ngày Chúa trao cho bạn một tờ giấy trắng. Bạn sẽ là người vẽ lên đó, vì thế hãy vẽ sao cho đẹp lòng Chúa nhé. Chúc bình an! Mời bạn tiếp tục suy niệm những bài Giáo Lý căn bản trong quyển Giáo Lý YouCat.

Cha Vương 

Thứ 3: 4/06/2024

GIÁO LÝ: Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? Đối với những ai đã đón nhận Tin Mừng và đã biết Lời Chúa Giêsu dạy: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14,6), bí tích Rửa tội là con đường duy nhất cho họ đến cùng Thiên Chúa để được cứu độ. Nhưng vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người, và mọi người đều được mời gọi để được cứu độ nên dù một người không có cơ hội học biết về Chúa Kitô và đức tin, mà họ tìm Chúa cách chân thành và sống theo lương tâm mình, họ cũng gặp ơn cứu độ. Họ được rửa tội bằng lòng muốn. (YouCat, số 199) Trong Hội thánh Công giáo, có 3 hình thức rửa tội, nó cho chúng ta biết những người chưa được rửa tội có thể đến được cửa thiên đàng như thế nào.

  1.  1. RỬA TỘI BẰNG NƯỚC: Rửa tội bằng nước là hình thức “thông thường” quen thuộc nhất mà chúng ta thấy.
  2.  2. RỬA TỘI DO LÒNG MUỐN: Hình thức rửa tội thứ hai này khó hiểu nhất và cũng là một trong những hình thức giải thích cởi mở nhất. Ví dụ rõ ràng nhất về hình thức rửa tội do lòng muốn, tức là khi một người đang trên tiến trình nhận phép rửa nhưng không thể hoàn thành nó. “Đối với những người dự tòng chết trước khi được rửa tội, nếu họ minh nhiên ước muốn được rửa tội, đồng thời sám hối tội lỗi và sống đức mến, thì họ được bảo đảm ơn cứu độ, dù chưa thể lãnh nhận bí tích” (GLCG 1259)
  3. RỬA TỘI BẰNG MÁU: Sau rửa tội bằng nước, hình thức rửa tội này là rõ ràng nhất. Về cơ bản đó là khi một người chưa được rửa tội nhưng chết vì đức tin Kitô giáo. “Hội Thánh luôn xác tín rằng những người chịu chết vì đức tin mà trước đó chưa được rửa tội, thì coi như đã được thanh tẩy, vì đã chết cho Đức Kitô và với Đức Kitô” (GLCG 1258).

SUY NIỆM: Thiên Chúa đã liên kết việc cứu rỗi với các bí tích. Vì thế Hội thánh phải không ngừng trao ban cho nhân loại. Từ chối sứ mệnh này là phản bội lệnh truyền của Chúa. Nhưng chính Chúa không bị trói buộc vào các bí tích của Người. Nơi nào Hội thánh chưa đến được, hoặc không làm được – dù do lỗi của Hội thánh hoặc vì các lý do khác – chính Chúa mở ra cho con ngưởi một đường khác để được cứu rỗi. (YouCat, số t.t.)

LẮNG NGHE: Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12:50)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin chỉ cho con biết tầm quan trọng của ơn cứu rỗi để con sống thánh thiện hơn mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại lối sống của bạn coi nó có minh chứng cho đức tin của bạn không?

From: Do Dzung

Đường con theo Chúa -tinmung.net 

CẦU NGUYỆN BẰNG THÁNH VỊNH-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong thánh vịnh, Thiên Chúa cư xử theo những cách mà Ngài không được phép cư xử trong thần học.

Câu này của cố thần học gia Sebastian Moore nên được nêu bật trong thời đại mà ngày càng ít người muốn dùng thánh vịnh để cầu nguyện, vì họ cảm thấy bị xúc phạm với nhiều điều thỉnh thoảng họ gặp phải trong thánh vịnh.  Ngày càng có nhiều người phản đối dùng thánh vịnh như một cách cầu nguyện (hoặc họ muốn thanh lọc thánh vịnh), vì các thánh vịnh nói về giết người, báo thù, thịnh nộ, bạo lực, gây chiến và trọng nam khinh nữ.

Một số người nói làm sao họ có thể cầu nguyện với những lời đầy hận thù, thịnh nộ, bạo lực, nói về vinh quang của chiến tranh, về tiêu diệt kẻ thù nhân danh Thiên Chúa?  Một số khác thì phản đối tính trọng nam khinh nữ trong các thánh vịnh, khi thần thánh là nam và người nam được tôn sùng quá đáng.  Số khác lại thấy khó chịu về mặt thẩm mỹ.  Họ phản đối: “Đây là những vần thơ dở!”

Có lẽ các thánh vịnh không phải là thi ca tuyệt mỹ và chắc chắn là thoang thoảng có bạo lực, chiến tranh, thù hận, mong muốn báo thù, tất cả đều nhân danh Thiên Chúa.  Phải thừa nhận, nó cũng có tính chất trọng nam khinh nữ.  Nhưng những điều này làm cho thánh vịnh có một cách diễn đạt xấu để cầu nguyện sao?  Tôi xin phép được đưa ra một vài điểm ngược lại.

Một trong những định nghĩa kinh điển về cầu nguyện là “nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa.”  Đơn giản, rõ ràng, chính xác.  Tôi cho rằng vấn đề thật sự, chính là những lúc cầu nguyện, chúng ta hiếm khi thực sự làm vậy.  Thay vì dâng lên Thiên Chúa những gì thực sự ở trong tâm trí và tâm hồn, thì chúng ta lại có khuynh hướng xem Thiên Chúa là người mà chúng ta cần giấu diếm chân tướng sự thật của những suy nghĩ và cảm giác trong mình.  Thay vì dốc trọn tâm trí và tâm hồn, chúng ta lại thưa với Chúa những gì chúng ta nghĩ là Ngài muốn nghe, những gì không phải là suy nghĩ muốn giết người, khao khát báo thù hay sự thất vọng về Thiên Chúa.

Nhưng, bày tỏ những cảm giác đó mới là điều quan trọng.  Điều khiến cho các thánh vịnh đặc biệt thích hợp cho việc cầu nguyện, chính là vì các thánh vịnh không giấu diếm sự thật với Thiên Chúa, mà lại bày tỏ toàn bộ cảm giác thực sự của con người chúng ta.  Thánh vịnh là tiếng nói thành thật về những gì đang diễn ra trong tâm trí và tâm hồn chúng ta.

Đôi khi chúng ta cảm thấy tốt đẹp và bộc phát muốn nói ra những lời tôn vinh và cảm tạ, thì thánh vịnh cho chúng ta những lời đó.  Những lời này nói về sự tốt lành của Thiên Chúa trong mọi sự, là tình yêu, tình bạn, đức tin, sức khỏe, thức ăn, rượu, và vui hưởng.  Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng cảm nhận như thế.  Cuộc sống có những lúc cô đơn, lạnh lẽo, thất vọng, cay đắng âm ỉ hoặc bạo phát.  Các thánh vịnh cho chúng ta lời thành thật để có thể mở lòng về những cảm giác âm ỉ này với Thiên Chúa.  Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy mình bất xứng, không xứng với sự tin tưởng và yêu thương mình được ban cho.  Và thánh vịnh cũng cho chúng ta lời để nói ra, xin Thiên Chúa thương xót và làm mềm trái tim chúng ta, rửa sạch chúng ta và cho chúng ta một khởi đầu mới.

Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy thất vọng cay đắng với Thiên Chúa, và cần cách để bày tỏ.  Thánh vịnh cho chúng ta lời để nói ra (“Vì sao Ngài im lặng?”, “Vì sao Ngài quá xa con?”), cho chúng ta ý thức Thiên Chúa không sợ những giận dữ, cay đắng của chúng ta, mà như người cha người mẹ đầy yêu thương, Ngài chỉ muốn chúng ta đến và kể với Ngài những chuyện này.  Các thánh vịnh là những phương tiện đầy ơn ích cho việc cầu nguyện, vì chúng nâng lên những suy nghĩ và cảm giác khác nhau của chúng ta lên Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có những lý do làm chúng ta thấy khó khăn với thánh vịnh.  Trước hết, thời đại chúng ta thường gạt bỏ ẩn dụ và thích hiểu theo nghĩa đen, một vài hình ảnh trong thánh vịnh lại chướng tai gai mắt.  Thứ hai, chúng ta có khuynh hướng chối bỏ cảm thức thực sự của mình.  Thật khó để thừa nhận những cảm giác mà đôi khi chúng ta đều có, là tự đại, ám ảnh tình dục, ghen tương, cay đắng, hoang tưởng, muốn giết người, thất vọng với Thiên Chúa, hoài nghi trong đức tin.  Những lời cầu nguyện của chúng ta quá thường đi ngược lại những suy nghĩ và cảm giác thật của mình.  Chúng ta cầu nguyện những điều mà chúng ta nghĩ là Thiên Chúa muốn nghe.  Thánh vịnh thì trung thực hơn.

Cầu nguyện với sự trung thực tuyệt đối là một thách thức.  Tác giả Kathleen Norris nói như sau: “Nếu cầu nguyện đều đặn, thì không thể nào cầu nguyện cho chuẩn được.  Đâu phải lúc nào chúng ta cũng ngồi thẳng thớm, càng không thể lúc nào chúng ta cũng có những suy nghĩ thánh thiện.  Khi cầu nguyện, chúng ta đâu thể lúc nào cũng mặc bộ đồ đẹp nhất, thường là mặc những bộ đồ đủ sạch sẽ.  Chúng ta đọc quyển sách chúc tụng của Kinh Thánh thông qua mọi tâm trạng và tình trạng cuộc sống.  Những lúc thấy thảm thê tột độ, chúng ta vẫn hát.  Ngạc nhiên thay, thánh vịnh lại không phủ nhận những cảm giác thật của ta, mà lại cho chúng ta được phản chiếu nó, ngay trước mặt Thiên Chúa và mọi người.”  Những câu cách ngôn tạo cảm giác tốt đẹp thể hiện cảm giác chúng ta nên có, chúng không thể nào thay thế được tính thực tế đời thực của các thánh vịnh bày tỏ những cảm giác thật mà đôi khi chúng ta có.  Bất kỳ ai nâng tâm trí và tâm hồn lên Thiên Chúa mà không bao giờ nói đến những cảm giác cay đắng, ghen tương, thù hận, ghét bỏ, và chiến tranh, thì nên làm người soạn những câu bắt tai để viết thiệp, chứ đừng đi làm cố vấn tâm linh cho bất kỳ ai.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC IN HÌNH CHÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

“Bạn nhất thiết phải trả cho Caesar đồng xu có hình ảnh của ông ấy; nhưng bạn sẵn sàng dâng hiến điều tốt nhất của mình cho Chúa, bởi chính hình ảnh của Ngài mới – ở trên bạn – chứ không phải hình Caesar. Bạn đã được in hình Chúa!” – Thánh Jêrôme.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bạn đã ‘được in hình Chúa!’”. Tin Mừng hôm nay – một lần nữa – khiến chúng ta ngạc nhiên trước sự thông minh lạ lùng của Chúa Giêsu. Với câu trả lời tuyệt vời, Ngài trực tiếp chỉ ra tính công bằng tự nó của các thực tại trần thế: “Của Caesar, trả về Caesar!”.

Tuy nhiên, Lời Chúa còn nói đến một điều gì đó hơn cả việc Chúa Giêsu thoát khỏi cuộc xung đột với những kẻ gài bẫy Ngài; một điều gì đó hoàn toàn phù hợp với mọi khía cạnh cuộc sống của bạn và tôi: “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”. Việc đề cập đến hình ảnh Caesar khắc trên đồng xu nói rằng việc họ cảm thấy đầy đủ với các quyền và nghĩa vụ công dân của một quốc gia là đúng; nhưng về mặt biểu tượng, nó khiến họ phải nghĩ đến một hình ảnh khác được in dấu nơi mỗi người nam nữ: hình ảnh Thiên Chúa. Ngài là Chúa của mọi người, và chúng ta, những người được tạo dựng “theo hình ảnh Ngài” – ‘được in hình Chúa’ – trước hết thuộc về Ngài.

“Ngay từ đầu lịch sử Kitô giáo, việc xác quyết quyền chủ tể của Chúa Giêsu trên trần gian và trên lịch sử cũng có nghĩa là nhìn nhận rằng, con người không được để cho tự do cá nhân của mình suy phục một cách tuyệt đối bất cứ quyền bính trần thế nào, nhưng chỉ suy phục một mình Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu Kitô. Vì lẽ, Caesar không phải là Chúa!”. Trong suốt cuộc đời mình, Chúa Giêsu không ngừng đặt ra vấn đề lựa chọn. Cũng thế, chúng ta có quyền lựa chọn, và các lựa chọn rất rõ ràng: hoặc chúng ta chọn các giá trị trần thế để sống hoặc chúng ta quyết định sống theo các giá trị Tin Mừng.

Cuộc sống luôn luôn là thời gian để lựa chọn, thời gian để hoán cải, thời gian để “thay thế” chính cuộc sống – lần này và lần khác – cho phù hợp với động lực và ý muốn của Chúa, Đấng chúng ta thuộc về. Việc cầu nguyện sẽ dần dần giúp chúng ta khám phá ra những gì Ngài mong đợi. Ai chọn Thiên Chúa, thuộc về Ngài, sẽ trở thành ‘nơi ở’ của Ngài. Phêrô viết, “Anh em hãy lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca trùng hợp một cách sâu sắc, “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!”.

Anh Chị em,

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”. Đức Phanxicô nói, “Tôi thuộc về ai? Thuộc về gia đình, thành phố, bạn bè, công việc, chính trị; thuộc về một đất nước? Vâng tất nhiên! Nhưng trước hết – Chúa Giêsu nhắc nhở – bạn và tôi thuộc về Thiên Chúa. Đây là sự thuộc về căn bản. Chính Ngài là Đấng đã ban cho bạn tất cả những gì bạn đang có, đã có. Do đó, ngày qua ngày, chúng ta phải sống cuộc sống mình trong sự nhận biết ‘sự thuộc về căn bản’ này với lòng biết ơn chân thành đối với Chúa Cha, Đấng tạo dựng mỗi người một cách riêng biệt, không thể lặp lại, và luôn rập theo hình ảnh Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Ngài. Bởi lẽ, bạn đã ‘được in hình Chúa’. Đó là một bí ẩn kỳ diệu!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để cuộc sống con hao hao mang ‘dáng dấp Caesar’. Xin cho nó luôn ngát ‘mùi Chúa’ vì con được in hình Ngài!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

*************

Thứ Ba Tuần IX, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.


 

 BỐN PHÉP LẠ THÁNH THỂ MỚI-Philip Kosloski – Trầm Thiên Thu 

Philip Kosloski – Trầm Thiên Thu 

Mặc dù đã có rất nhiều phép lạ Thánh Thể từ thời Trung Cổ, nhiều phép lạ đã xảy ra trong thế kỷ trước, với một số phép lạ đã được xác nhận trong 20 năm qua.  Các phép lạ này là bằng chứng sống động cho giáo lý của Giáo Hội Công giáo rằng mặc dù hình dạng của bánh và rượu vẫn còn, nhưng bản chất đã được thay đổi hoàn toàn (nhờ quyền năng của Thiên Chúa) thành Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô.  Đó là giáo huấn dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền vẫn không thay đổi về bản chất từ thời các tông đồ.

Ngoài ra, Giáo Hội đã công nhận rằng đôi khi Thiên Chúa can thiệp theo cách hữu hình hơn và có thể thay đổi ngay cả hình dạng của bánh rượu thành Mình Máu Ngài.  Hoặc Thiên Chúa có thể bảo quản tấm bánh đã thánh hóa một cách kỳ diệu trong một khoảng thời gian dài, vượt qua những gì tự nhiên đối với bánh.

  1. TẠI LEGNICA – BA LAN

Năm 2013, Đức Giám Mục Zbigniew Kiernikowski, giáo phận Legnica, cho biết: “Ngày 25-12-2013, khi đang cho rước lễ, một Bánh Thánh rơi xuống, sau đó được cầm lên và đặt vào một bình nước.  Ngay sau đó, các vết màu đỏ xuất hiện.  Đức Giám Mục Stefan Cichy, giáo phận Legnica, đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu hiện tượng này.  Tháng 02-2014, một mảnh nhỏ màu đỏ của Bánh Thánh được tách ra và đặt trên khăn thánh.  Ủy ban đã lấy mẫu để tiến hành các cuộc kiểm tra kỹ lưỡng của các viện nghiên cứu thích hợp.”

Sau khi điều tra, Bộ phận Pháp y cho biết: “Trong hình ảnh mô bệnh học, các mô đã được tìm thấy có chứa các phần cơ có vân chéo. (…) Toàn bộ (…) rất giống cơ tim với những thay đổi thường xuất hiện trong cơn hấp hối . Các nghiên cứu di truyền chỉ ra nguồn gốc con người của mô.”

  1. TẠI SOKÓŁKA – BA LAN

Trong Thánh Lễ Chúa Nhật 12-10-2008, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Antôn ở Sokolka, một Bánh Thánh đã rơi khỏi tay linh mục khi đang cho rước lễ.  Linh mục ngừng cho rước lễ, cúi xuống cầm Bánh Thánh lên, rồi đặt Bánh Thánh vào một bình nước nhỏ.  Bình thường thì Bánh Thánh sẽ tan trong nước, sau đó sẽ được xử lý đúng quy cách phụng vụ.

Sau Thánh Lễ, theo lời yêu cầu của cha xứ Stanislaw Gniedziejko, sơ Julia Dubowska đã đổ nước và Bánh Thánh vào một bình chứa khác.

Một tuần sau, vào ngày 19-10-2008, sơ Julia thấy có mùi thơm dịu dàng của bánh không men.  Khi mở hộp đựng, sơ nhìn thấy ở giữa Bánh Thánh – phần lớn còn nguyên vẹn – có một vết cong màu đỏ tươi, giống như vết máu: một phân tử sống của cơ thể.  Nước không bị loang màu sắc.

Một phần của Bánh Thánh đã thay đổi và được lấy để phân tích riêng bởi hai chuyên gia, giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska và giáo sư Stanislaw Sulkowski, để đảm bảo độ tin cậy của kết quả.

Kết quả của cả hai nghiên cứu độc lập đều hoàn toàn phù hợp.  Họ kết luận rằng cấu trúc của Bánh Thánh đã biến đổi giống hệt với mô cơ tim của một người sắp chết.  Theo giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska, cấu trúc của các sợi cơ tim liên kết chặt chẽ với cấu trúc của bánh, theo cách mà con người không thể làm được.

  1. TẠI TIXTLA – MEXICO

Ngày 21-10-2006, trong một cuộc tĩnh tâm của giáo xứ, một Bánh Thánh sắp được trao đã tiết ra chất màu đỏ.  Đức Giám Mục Alejo Zavala Castro đã triệu tập một ủy ban thần học điều tra để xác định xem đó có là một phép lạ hay không.  Tháng 10-2009, ngài đã mời tiến sĩ Ricardo Castañón Gómez tiến hành nghiên cứu khoa học với một nhóm các khoa học gia và xác minh tính chất kỳ diệu của sự việc.  Tiến sĩ Gómez đã hoàn thành cuộc điều tra.

Nghiên cứu khoa học được thực hiện từ tháng 10-2009 đến tháng 10-2012, với nhận định này: “Chất màu đỏ được phân tích tương ứng với máu, trong đó chứa Hemoglobin và DNA có nguồn gốc từ con người.  Hai nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia pháp y lỗi lạc với các phương pháp luận khác nhau đã cho thấy rằng chất này có nguồn gốc từ bên trong, loại trừ giả thuyết rằng ai đó có thể đã đặt nó từ bên ngoài.  Đó là loại máu AB, giống như máu ở Khăn Liệm Turin.  Một phân tích hiển vi về độ phóng đại và độ xuyên thấu cho thấy phần trên của máu đã đông lại từ tháng 10-2006.  Hơn nữa, tháng 02-2010, các lớp bên trong cho thấy sự hiện diện của máu tươi.

  1. TẠI CHIRATTAKONAM – ẤN ĐỘ

Ngày 28-04-2001, tại nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Chirattakonam, cha xứ nhận thấy một hình ảnh kỳ lạ xuất hiện trên một Bánh Thánh, và ngài đã ghi lại chính xác những gì xảy ra.

Lúc 8 giờ 49 sáng, tôi đã đặt Mình Thánh để mọi người tôn thờ.  Một lúc sau, tôi thấy như có ba chấm trên Thánh Thể.  Tôi ngừng cầu nguyện và bắt đầu nhìn vào Mặt Nhật, cũng mời các tín hữu chiêm ngưỡng dấu ba chấm.  Sau đó, tôi mời các tín hữu tiếp tục cầu nguyện và đóng cửa Nhà Tạm…  Sáng thứ Bảy, 05-05-2001, tôi mở cửa nhà thờ để cử hành phụng vụ bình thường.  Tôi đến mở cửa Nhà Tạm để xem điều gì đã xảy ra với Thánh Thể trong Mặt Nhật.  Tôi thấy ngay trong Bánh Thánh có một hình tượng giống như mặt người.  Tôi vô cùng xúc động và yêu cầu các tín hữu quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện.  Tôi nghĩ chỉ mình tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt, vì vậy tôi đã hỏi người giúp lễ xem có thấy gì ở Mặt Nhật hay không.  Người giúp lễ trả lời: “Con nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.”

Cuối cùng, hình ảnh trở nên rõ ràng hơn và là một người giống như Chúa Giêsu Kitô đội vòng gai.  Hình ảnh kỳ diệu đã được Tổng Giám Mục Beatitude Cyril Mar Baselice, tổng giáo phận Trivandrum, điều tra.  Mặt Nhật với Bánh Thánh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ cho đến ngày nay.

Philip Kosloski – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

******

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã làm cho thế giới nên rực rỡ

với sự hiện diện huy hoàng của Chúa.

Chúa ôm trọn phận người chúng con

để chúng con có thể chia sẻ thiên tính của Chúa.

Chúa mạc khải chính Chúa cho chúng con

qua Bánh Hằng Sống bởi trời.

 

Xin chia sẻ ánh sáng thần linh của Chúa cho con

để con có thể thấy Chúa trong Thánh Thể.

Xin tuôn đổ vào tim con lòng tôn kính và ngỡ ngàng

về quà tặng Mình và Máu của Chúa.

Nhờ mầu nhiệm Thánh Thể

Xin liên kết trái tim chúng con với Chúa

để chúng con trở nên mối hiệp thông cho thế giới

và được sống với Chúa đến muôn đời.  Amen!

From: Langthangchieutim

CỐ CHẤP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phép rửa của Gioan là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!”.

“Nói dối thực sự là một thói xấu đáng nguyền rủa. Nó lớn lên cùng với đứa trẻ và trở nên cố chấp cùng sự trưởng thành của một con người. Một khi cái lưỡi đã ‘có tài nói dối’, thật khó để tưởng tượng trong việc sửa lại nó vì đó là điều không thể!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay phần nào chỉ ra những con người xem ra ‘có tài nói dối’; đúng hơn, những con người ‘cố chấp’ đang tìm cách gài bẫy Chúa Giêsu.

Đó là những nhà lãnh đạo tôn giáo đang hoạnh hoẹ Ngài, “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy?” nhân việc Chúa Giêsu đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ. Nhân dịp này, Chúa Giêsu đã trích lời Thánh Kinh, nói cho họ rằng, “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân, nhưng các ngươi đã biến nó thành hang trộm cướp!”. Điều này khiến các thượng tế, kinh sư phẫn nộ và ngay lập tức bắt đầu bàn bạc cách thức để có thể xử tử Ngài.

Trước tiên, hãy xét xem sự căng thẳng. Theo đúng nghĩa đen, họ đang âm mưu giết Con Thiên Chúa. Lòng đầy hận thù, họ ghen tị và không chịu tin Ngài. Chúa Giêsu thấy sự cứng lòng của họ và đặt họ vào thế phải trả lời câu hỏi của Ngài trước khi Ngài trả lời câu hỏi của họ, “Phép rửa của Gioan là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!”. Tại sao Ngài làm điều này?

Câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra thực sự là một hành động đầy xót thương. Ngài cho họ cơ hội để ăn năn. Nếu trả lời câu hỏi của Ngài bằng một niềm tin khiêm tốn và thành thật, họ đã có thể cứu được mạng sống mình. Thay vào đó, họ thảo luận để đưa ra một câu trả lời đúng về mặt chính trị nhưng tránh việc nói phép rửa của Gioan là từ con người vì sợ dân chúng phản đối. Bởi thế họ nói “Chúng tôi không biết!”. Nhưng hãy tưởng tượng nếu họ nói rằng phép rửa của Gioan thực sự đến từ Thiên Chúa và lẽ ra họ phải tin thì sao? Chỉ cần hạ mình xuống, thừa nhận họ đã sai lầm đối với Gioan, thì Chúa Giêsu đã trả lời câu hỏi của họ và cuộc sống đức tin đích thực của họ đã có thể bắt đầu! Nhưng họ đã không làm vậy. Họ vẫn ‘cố chấp’, không thừa nhận mình đã sai.

Anh Chị em,

“Các ông trả lời cho tôi đi!”. Chúa Giêsu muốn những con người ‘có tài nói dối’ này ra khỏi sự cứng lòng. Khi một người từ chối thừa nhận tội lỗi mình, từ chối thay đổi, thì đến Thiên Chúa cũng không thể giúp gì họ. Họ lạc lối trong tội lỗi và gánh lấy hậu quả. Hôm nay, hãy suy gẫm về bất cứ điều gì mà bạn vẫn ‘cố chấp’. Có vấn đề đức tin nào bạn đang từ chối tin? Có mối quan hệ tan vỡ nào mà bạn từ chối khôi phục cách khiêm tốn? Bạn có biện minh cho tội lỗi mình, từ chối thừa nhận nó và cần thay đổi? Hãy cầu xin Chúa ban cho bạn và tôi một trái tim khiêm nhường. Khiêm nhường không gì khác hơn là hoàn toàn thành thật với bản thân và người khác trước mặt Chúa. Đừng rập theo các nhà lãnh đạo này nhưng khiêm tốn tìm cách loại bỏ mọi sự ngoan cố khỏi trái tim bạn để Chúa có thể bước tới, mang lòng thương xót của Ngài vào cuộc sống bạn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con cảm thấy ‘yên ổn’ trong những ‘nhà tù tự tạo’ của mình. Xin giải thoát con khỏi sự ‘cố chấp’, bướng bỉnh trước sự dun dũi của Thánh Thần!”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

********

Thứ Bảy Tuần VIII – Mùa Thường Niên

Bài trích thư của thánh Giu-đa tông đồ.

17 Anh em thân mến, anh em hãy nhớ lại những lời các Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã nói trước kia. 20b Anh em hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần, 21 hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời. 22 Những người do dự thì anh em phải thương xót ; 23 hãy lo cứu họ, kéo họ ra khỏi lửa thiêu. Còn những người khác, thì anh em phải vừa thương xót, vừa sợ hãi, gớm ghét ngay cả chiếc áo đã bị thân xác họ làm cho ra ô uế.

24 Xin kính dâng Đấng có quyền phép gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững, tinh tuyền, trước vinh quang của Người, trong niềm hoan lạc, 25 xin kính dâng Thiên Chúa duy nhất, Đấng Cứu Độ chúng ta, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, kính dâng Người vinh quang, oai phong, sức mạnh và quyền năng, trước mọi thời, bây giờ và cho đến muôn đời ! A-men.

*******

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

27 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ lại vào Giê-ru-sa-lem. Đang khi Người đi đi lại lại trong Đền Thờ, thì các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Người và hỏi: 28 “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy?” 29 Đức Giê-su đáp: “Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 30 Vậy, phép rửa của ông Gio-an là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!” 31 Họ bàn với nhau: “Nếu mình nói : ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’ 32 Nhưng chẳng lẽ mình nói : ‘Do người ta’ ?” Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an thật là một ngôn sứ. 33 Họ mới trả lời Đức Giê-su: “Chúng tôi không biết.” Đức Giê-su liền bảo họ: “Tôi cũng vậy, tôi cũng không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.” 


 

Thăm viếng yêu thương phục vụ – Tác giả:  Huệ Minh

Tác giả:  Huệ Minh

Thăm viếng! Một nhu cầu hết sức tự nhiên, hết sức bình thường của con người và chuyện bình thường như thế thì có gì đâu để mà nhớ, để mà mừng. Mỗi một cuộc thăm viếng mang ý nghĩa, mang niềm vui, mang ý nghĩa khác nhau nhưng cuộc thăm viếng của Đức Trinh Nữ Maria hết sức đặc biệt để rồi ngày hôm nay Giáo Hội mừng kính cuộc thăm viếng của Mẹ. Cuộc thăm viếng của Mẹ được trọn vẹn niềm vui bởi vì Mẹ đã lên đường một cách vô vị lợi và Mẹ đã mang Chúa đến cho người khác.

Thánh Sử Luca ghi lại rất ngắn gọn: “Khi ấy, bà Maria lên đường, vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa” (Lc 1, 39). Đơn giản thế thôi: đi đến miền núi. Ngày hôm nay đi lên miền núi cũng là một điều khó khăn huống hồ gì thời của Đức Mẹ. Nếu như tính toán về phương tiện đi lại, điều kiện vật chất thì chẳng ai dại gì mà đi đến cái vùng núi xa xôi hẻo lánh như vậy. Vượt trên cách trở của địa lý và vượt trên sự tính toán thường tình của con người, Mẹ Maria đã ra đi và ra đi một cách “vội vã”. Thánh Sử thêm chữ “vội vã” như muốn nói về lòng hăng say, nhiệt tình của Mẹ dù là lên núi khó khăn cách trở. Nếu lên núi với cái bộ mặt ũ rũ, với cái thái độ lề mề chậm chạp chắc có lẽ là chán lắm, đàng này Đức Mẹ đã “vội vã”!

Một cách diễn tả đơn sơ, vài ba hàng ngắn gọn, chúng ta nhận ra Đức Maria đã đi thăm bà chị họ mình với một tâm tình hết sức là dễ thương, nhiệt tình, chịu thương, chịu khó …

Đặc biệt hơn các cuộc thăm viếng khác ở chỗ là vừa vào nhà, bà Êlisabét nghe tiếng Bà Maria chào thì bỗng dưng đứa con trong bụng nhảy lên. Không chỉ đứa con trong bụng nhảy lên mà mẹ nó được “đầy Thánh Thần”. Đến đây thì quá rõ, chẳng còn gì phải bàn cãi nữa, cuộc thăm viếng của Đức Mẹ quả thật là hết sức đặc biệt và đầy ý nghĩa.

Cuộc thăm viếng của Mẹ vốn đã có ý nghĩa nhưng với xã hội ngày hôm nay, ý nghĩa ấy lại càng được nhân lên gấp bội vì lẽ ngày hôm nay, người ta tính toán với nhau nhiều quá, người ta đã khép lòng lại với anh chị em đồng loại nhiều quá! Và có đi thăm đi chăng nữa cũng chỉ với cái hình thức của con người, của cuộc đời là “có qua có lại mới toại lòng nhau” chứ không còn mang ý nghĩa vô vị lợi như Mẹ nữa. Hơn nữa, khi Mẹ thăm viếng, Mẹ đã không chỉ tung hô Chúa, giới thiệu Chúa mà còn mang Chúa lại cho người khác. Và trong cuộc đời, nếu nhìn kỹ một chút, nếu chìm lắng một chút: có Chúa là có tất cả.

Và thử dừng lại một chút để nhìn lại cuộc đời của Mẹ. Đâu phải bỗng dưng hay vô tình mà Mẹ có Chúa và Mẹ mang Chúa cho người khác. Nếu như Mẹ không có Chúa thì làm gì Mẹ có thể mang Chúa cho người khác, Mẹ chia sẻ niềm vui có Chúa trong đời Mẹ cho người khác được.

Điểm này trong cuộc thăm viếng của Mẹ hết sức quan trọng: muốn mang Chúa, muốn giới thiệu Chúa cho người khác thì trong mình, trước tiên phải có Chúa. Và muốn có Chúa như Mẹ, cần và cần lắm đời sống chiêm niệm, đời sống đơn sơ hoàn toàn tín thác cho Chúa.

Nếu như Đức Maria ồn ào náo động như nhiều người Do Thái cùng thời với Mẹ thì làm sao mà Mẹ có Chúa được? Nếu như Đức Maria trông chờ vào Đấng Mêsia như nhiều người Do Thái thời ấy trông chờ thì làm sao mà Mẹ cưu mang Đấng Cứu Độ trần gian thật được? Và nếu như Đức Maria là người sống bề ngoài, sống cái bề nổi của cuộc đời thì làm sao mà Mẹ khiêm tốn sống trong sự quan phòng của Chúa được.

Nơi Mẹ Maria, có một dấu ấn hết sức đặc biệt đó là Mẹ hết sức quảng đại. Chúng ta, ngày hôm nay, nhiều khi cứ vun vén cho bản thân mình với lối sống đậm chất của ích kỷ, của vun vén nên hình ảnh quảng đại của Mẹ ngày hôm nay cũng là một bài học hết sức to lớn của mỗi người chúng ta. Khi Mẹ cho đi niềm vui thì niềm vui của Mẹ không chỉ nhân hai, nhân bốn mà nhân đến vô cùng.

Thế nên, cuộc thăm viếng của Mẹ hôm nay không chỉ mang niềm vui cho gia đình Êlisabét mà còn mang lại niềm vui cho những ai tự xưng mình là con của Chúa, là con của Mẹ.

Nếu là con của Mẹ thật thì mỗi một cuộc thăm viếng của ta cũng phải giống như Mẹ, nghĩa là cuộc thăm viếng ấy hoàn toàn vô vị lợi và cuộc thăm viếng ấy mang Chúa cho người khác. Có quá đáng chăng khi nói rằng thăm viếng vô vị lợi và có Chúa thì cuộc thăm viếng ấy mới có ý nghĩa và mang niềm vui trọn vẹn. Nếu thăm viếng mà ẩn ý dưới một nguồn lợi nào đó hay là cuộc thăm viếng ấy mình chỉ đi tìm mình thì cũng vui lắm nhưng nó chưa tròn vẹn và chưa mang ý nghĩa cao đẹp như Mẹ.

Thi thoảng có dịp nhìn lại cuộc thăm viếng của Mẹ để ta soi chiếu những cuộc thăm viếng của ta. Xin Mẹ nâng những cuộc thăm viếng của chúng ta thêm tầm cao lên một chút, thêm ý nghĩa lên một chút. Xin Mẹ soi sáng, giúp đỡ chúng ta có những cuộc thăm viếng tròn vẹn ý nghĩa như cuộc thăm viếng của Mẹ với gia đình Êlisabét xưa vậy.


 

HÃY NHẬN LẤY MÀ ĂN! – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Trước tình trạng giảm sút người tham dự Thánh lễ tại Hoa Kỳ, nhất là từ sau đại dịch Covid-19, Hội đồng Giám mục nước này đang thực hiện một phong trào được gọi là “Phục hưng Thánh Thể,” với mục đích mời gọi các tín hữu hãy trở lại với truyền thống yêu mến Thánh Thể của Giáo hội.  Phong trào này kéo dài trong 3 năm, bắt đầu từ ngày 19/6/2022.  Và đỉnh cao của cuộc phục hưng là Đại hội Thánh Thể Toàn quốc sẽ diễn ra ở Indianapolis từ ngày 17 đến 21/7/2024.

Với cuộc phục hưng này, các vị chủ chăn của Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ muốn khẳng định: các cuộc khủng hoảng đức tin, gia đình, luân lý, xã hội của thời đại này chỉ có thể chữa lành bằng phương thuốc thiêng liêng là bí tích Thánh Thể.  Quả vậy, một thế giới phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa, sẽ tự hủy diệt và biến thành bãi chiến trường, bạo lực sẽ tràn lan.  Bí tích Thánh Thể được gọi là “Bí tích cực trọng,” vì Chúa Giê-su thực sự hiện diện trong bí tích này.  Đó không chỉ là sự hiện diện thụ động khô khan, mà Chúa còn trở nên của ăn của uống cho các tín hữu.  Đến với bí tích Thánh Thể sẽ giúp chúng ta gặp gỡ Chúa, nhờ đó những tổn thương được phục hồi và những khiếm khuyết nơi con người sẽ được nâng đỡ.

Cùng với phong trào “Phục hưng Thánh Thể,” Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ mời gọi mỗi tín hữu hãy mời một người trở lại nhà thờ.  Những người này đã lâu không còn tham dự Thánh lễ và không sinh hoạt với cộng đoàn.  Việc làm này thể hiện ý nghĩa của bí tích Thánh Thể, là Bí tích của tình hiệp thông – hiệp thông với Chúa và với anh chị em.  Sáng kiến phục hưng đức tin và lòng yêu mến Thánh Thể sẽ bao gồm việc phát triển các tài liệu giảng dạy mới, đào tạo cho các lãnh đạo giáo phận và giáo xứ, ra mắt trang web dành riêng cho việc phục hồi lòng yêu mến Thánh Thể, và triển khai một nhóm đặc biệt gồm 50 linh mục, những vị sẽ đi khắp đất nước để rao giảng về bí tích Thánh Thể.

Tại Việt Nam chúng ta, các buổi cử hành Thánh Thể và Chầu Mình Thánh quy tụ rất đông tín hữu tham dự, đó là điều đáng mừng.  Tuy vậy, lòng yêu mến Thánh Thể nơi nhiều tín hữu vẫn chỉ đóng khung ở sinh hoạt cộng đoàn, khá ít người dành thời gian để cầu nguyện riêng và thinh lặng trước Thánh Thể.  Thiếu những giây phút cầu nguyện riêng trước Thánh Thể, người tín hữu khó có thể gặp gỡ thân tình cá vị với Đức Giê-su.  Phong trào “Phục hưng Thánh Thể” của Giáo hội Hoa Kỳ nhắc chúng ta cần sống mầu nhiệm Thánh Thể một cách rõ nét và hiệu quả hơn.

“Hãy nhận lấy mà ăn!”  Đây là lời của Chúa Giê-su, khi Người thiết lập bí tích Thánh Thể.  Đây không phải là một lời nói có ý nghĩa tượng trưng hay dùng hình ảnh so sánh.  Đức Giê-su hiến mình làm của ăn của uống nuôi dưỡng đức tin của tín hữu.  Như người mẹ sẵn sàng hy sinh mọi sự cho con mình, Đức Giê-su để lại cho trần gian chính máu thịt mình.  Thánh Thể là bí tích yêu thương.  Nơi Thánh Thể, Chúa Giê-su hiện diện âm thầm khiêm tốn, để gặp gỡ và lắng nghe những nỗi niềm của nhân thế.  Ngài cùng đi với con người trong mọi nẻo đường của cuộc sống còn nhiều thử thách chông gai.

Qua các Bài đọc Lời Chúa của năm B, Phụng vụ dẫn chúng ta khởi đi từ lễ nghi Cựu ước đến lễ nghi của Tân ước.  Những gì đã được thực hiện trong thời Cựu ước, chỉ là hình bóng cho lễ nghi của Tân ước.  Thánh Phao-lô cũng đề cập tới so sánh này trong Bài đọc II.  Nếu trong Cựu ước, lễ dâng là máu bò máu dê, thì đến thời Tân ước, lễ dâng là chính máu của Chúa Giê-su, Con Chiên vẹn sạch.  Đức Giê-su là Chiên Vượt qua mới, gánh trên vai mình tội lỗi của muôn dân.  Người chịu phạt thay cho con người ở mọi thời đại.  Người là Của Lễ Toàn Thiêu, dâng hiến mình trên thập giá.  Nơi Bí tích Thánh Thể, Chúa Giê-su dạy chúng ta bài học hy sinh, sống vì hạnh phúc của tha nhân, khiêm tốn phục vụ và yêu thương mọi người.

“Hãy nhận lấy mà ăn!”  Chúa đang nói với chúng ta như đã nói với các môn đệ năm xưa.  Ăn Thịt Chúa và uống Máu Chúa là kết hợp mật thiết với Người, nhờ đó được chia sẻ sức sống siêu nhiên của Người.  Nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta được cải hóa tâm hồn và dần dần trở nên giống như Chúa, được ở trong Người, như lời Người nói: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy.”  Một khi được nuôi dưỡng bằng Thịt và Máu Chúa Giê-su, các tín hữu cũng được mời gọi sống hiệp thông hài hòa với anh chị em mình.  Thánh Phao-lô viết cho giáo dân Cô-rin-tô: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17).

Hãy đến với Chúa Giê-su Thánh Thể để tôn vinh tình yêu thương của Thiên Chúa.  Hãy năng nhận lãnh lương thực thiêng liêng để chúng ta được thần linh hóa và được nếm hưởng hạnh phúc Thiên đàng ngay khi còn sống nơi dương thế.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

NHƯ MỘT CHỨNG NHÂN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.

“Điều chính yếu không thể thấy bằng mắt. Để thấy nó, phải nhìn bằng tim!” – Saint Exupéry.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhân vật mù loà trong Tin Mừng hôm nay không thấy Chúa Giêsu bằng mắt, anh thấy Ngài bằng tim. Anh không hề nhận ra rằng, hành động đức tin và sự kiên trì của anh sẽ được ghi lại trong Thánh Kinh ‘như một chứng nhân’ ngàn đời cho vô số người được soi dẫn qua mọi thời đại.

Anh mù Bartimê chỉ làm phần việc của mình và Chúa Giêsu lấy đức tin của anh, chữa lành anh, dùng anh làm nhân chứng cho vinh quang Ngài. Diễn tiến của câu chuyện này rất sâu sắc đối với đời sống đức tin và cách thức cầu nguyện của bạn và tôi.

Trước hết, hãy bắt đầu với hoàn cảnh của anh, một người mù, nghèo khó và sống nhờ người khác. Anh ấy đang ở trong tình trạng rất thiếu thốn. Trong tình trạng này, anh nghe Chúa Giêsu đi ngang qua và nhân cơ hội đó, anh kêu lên Ngài, “Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Điều đáng chú ý là Bartimê bị những người chung quanh khiển trách vì lời cầu khá ồn ào của anh; và với điều này, họ như thể muốn nói với anh rằng, anh không xứng đáng với thời gian và sự quan tâm của Ngài.

Bài học quan trọng có thể rút ra từ đoạn văn này là sự kiên trì. Bartimê phớt lờ những lời quở trách của người khác và anh lớn tiếng hơn. Anh không cho phép sự tiêu cực và những đánh giá sai lầm của người khác cản trở tầm nhìn và lòng tin của anh vào Chúa Giêsu. Thực tế, khi sự phản đối càng gia tăng, anh càng lớn tiếng hơn. Bài học này dạy chúng ta cách đối phó với những khó khăn trong cuộc sống. Thông thường, chúng ta bị cám dỗ thu mình lại và nản lòng khi phải đối mặt với một số bất trắc. Điều chúng ta nên làm những lúc ấy là tin cậy vào Chúa nhiều hơn. Chúng ta cần hướng về Ngài và tin chắc rằng, Ngài sẽ nghe chúng ta và muốn can thiệp bất cứ giá nào để giải thoát chúng ta.

Và đó chính xác là những gì Chúa Giêsu đã làm. Ngài lắng nghe Batimê, đáp lại và chữa lành anh. Thật thú vị! Khi thấy khi Ngài để mắt đến Batimê và nhất là khi Ngài gọi anh, tất cả những người vừa quở trách anh lại bất ngờ động viên anh! Đây là kết quả của việc Chúa Giêsu chấp nhận, nhưng cũng là kết quả đức tin và sự kiên trì của anh ‘như một chứng nhân’ cho hiệu quả sức mạnh của việc cầu nguyện.

Anh Chị em,

“Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Hôm nay, hãy suy gẫm về lời cầu nguyện khiêm nhường của người ăn xin mù loà này và biến nó thành lời cầu nguyện của chính bạn. Hãy lặp đi lặp lại lời cầu này và cố gắng khám phá đức tin mà anh ấy đã có. Anh không thấy Chúa Giêsu bằng mắt, nhưng thấy Ngài bằng tim để tuyệt đối tin tưởng vào Ngài, Đấng cũng sẽ nghe lời cầu của bạn, gọi bạn đến và ban cho bạn sự chữa lành mà bạn cần. Và đến lượt bạn, ‘như một chứng nhân’, bạn sẽ làm chứng cho sự kiên trì và niềm tin vào Chúa của một con người cầu nguyện.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con. Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con. Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

***********

Thứ Năm Tuần VIII – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

46 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, anh ta tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. 47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng : “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 49 Đức Giê-su đứng lại và nói : “Gọi anh ta lại đây !” Người ta gọi anh mù và bảo : “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” 50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su. 51 Người hỏi : “Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” Anh mù đáp : “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” 52 Người nói : “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh !” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.


 

 NÔ LỆ THÁNH THIỆN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy sự táo bạo của Giacôbê và Gioan khi họ thỉnh cầu một điều xem ra quá nhân loại. Bằng một câu hỏi, Chúa Giêsu nhẹ nhàng trả lời họ cách sâu sắc, “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”. “Chén Thầy sắp uống”, “Phép rửa Thầy sắp chịu” là hiến mình đến chết như một nô lệ, một sự ‘nô lệ thánh thiện!’.

Sự dạn dĩ của Giacôbê và Gioan có thể một phần xuất phát từ việc họ đã trở nên rất quen thuộc với lòng nhân lành của Chúa Giêsu; vì thế, họ đã sa vào cạm bẫy coi thường lòng nhân lành đó bằng cách tìm kiếm ân huệ cho mình. Và Ngài đã tóm tắt câu trả lời dành cho tất cả họ thế này, “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người!”. Cách nào đó, Ngài nói về chính Ngài, vốn là người đầu tiên trong số họ trở nên tôi tớ. Ngài đã hạ mình làm nô lệ của họ và là “đầy tớ của mọi người”.

Áp đặt chế độ nô lệ – theo nghĩa đen – lên người khác là một sự lạm dụng nghiêm trọng. Nhưng Chúa Giêsu đang nói đến một hình thức nô lệ khác, ‘nô lệ thánh thiện’. Với Ngài, ‘nô lệ thánh thiện’ là nô lệ trong đó chúng ta hiến thân hy sinh cho người khác vì tình yêu. Và đây là điều Ngài đã làm một cách hoàn hảo. Cái chết của Ngài trên thập giá là một cái chết thể xác thực sự. Đó là tự nguyện hy sinh mạng sống trần thế nhằm mục đích giải phóng người khác. Khi đề cập đến chính mình, Ngài tóm tắt, “Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

Sự vĩ đại của Chúa Giêsu trước tiên được tìm thấy trong sự thật đơn giản rằng, Ngài là Thiên Chúa, nhưng nó được thể hiện rõ ràng nhất khi Ngài hiến mạng sống “làm giá chuộc muôn người”. Chính thập giá đã trở thành hành động phục vụ yêu thương vĩ đại nhất từng được biết đến. Hoa quả của sự hy sinh vị tha của Ngài là sự cứu rỗi của tất cả những ai quay về với Ngài. Vì vậy, Chúa Giêsu đã biến chế độ nô lệ và cái chết thành hành động yêu thương vĩ đại nhất từng được biết đến.

Anh Chị em,

Hôm nay, hãy suy gẫm về lời kêu gọi của chính bạn để sống một cuộc đời ‘nô lệ thánh thiện’. Chúa kêu gọi bạn hy sinh bản thân mình cho người khác vì tình yêu như thế nào? Từ quan điểm thuần túy của con người, ý tưởng về sự hy sinh, sự phục tùng và thậm chí cả chế độ ‘nô lệ thánh thiện’ thật khó hiểu. Nhưng khi chúng ta lấy Chúa Giêsu làm mẫu mực thì điều đó trở nên sáng tỏ hơn nhiều. Hãy tìm những cách để bạn có thể hiến thân cho người khác một cách vị tha và biết rằng, bạn càng bắt chước Chúa trong nỗ lực thánh thiện này thì cuộc sống của bạn sẽ càng vĩ đại hơn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con trở nên trưởng giả, hơn thua; giúp con đủ nhỏ để có thể phục vụ mọi người!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******

Thứ Tư Tuần VIII – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

32 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình : 33 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.”

35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”