Lễ Tạ Ơn: Chiếc Kính Gãy

Lễ Tạ Ơn: Chiếc Kính Gãy – VVNM 2016 – Việt Báo Online
Tác giả: Phan
Bài số 4972-18-30672-v7111916

Nhân mùa Lễ Tạ Ơn bắt đầu, mời tiếp tục đọc về Tháng Mười Một, bài thứ 3 của Phan. Chiếc Kính Gãy là chuyện trên đất Mỹ. Tác giả là nhà báo trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông cũng là tác giả Viết Về Về Nước Mỹ đầu tiên có bài đạt số lượng trên một triệu người đọc và đã nhận giải Vinh Danh VVNM 2016.
* * *

kinh-gay-gong

Kính gãy (gọng).

Mùa Lễ đã về, lễ Tạ ơn đến gần từng ngày với những sớm mai thức dậy trong hơi thu lành lạnh, những chiều về bát ngát trời thu trên những cánh đồng…Tôi nhớ lắm những người quen kẻ còn người mất, thương đám trẻ trong nhà không còn háo hức đợi quà mà chúng đang tất bật đời sống của những người đã trưởng thành, những người cố nhín chút thời gian đi mua quà cho người thân của chúng khi ngày lễ Tạ ơn đã cận kề.

Tôi còn nhớ lễ Tạ ơn đầu tiên năm tôi đến Mỹ. Tôi nghĩ riêng trong lòng, xứ giàu người ta bày vẽ quá, lễ này lễ nọ để bán thiệp, bán quà… những hình thức thương mại thật đa dạng, phong phú ở xứ tư bản. Nhưng chỉ lễ Tạ ơn năm sau tôi đã nhìn ra, làm thương mại ở xứ giàu dù sao cũng còn nhân đạo hơn làm thương mại ở xứ nghèo là chế tạo ra đồ giả, thuốc tây giả, hàng nhái…bất chấp an toàn thực phẩm và sức khoẻ của người khác.

Những suy nghĩ bước đầu hội nhập ấy tôi nhớ rõ vì đó là những suy nghĩ đầu tiên về lễ Tạ ơn trên mảnh đất dung thân mà mình vừa tới được. Những ý nghĩ cụ thể hơn khi ấy chỉ là một ngày nghỉ được trả lương, và một buổi tối ăn uống với gia đình.

Nhưng hội nhập sâu hơn vào đời sống Mỹ tôi mới hiểu thêm được ý nghĩa của ngày lễ Tạ ơn. Tại sao hàng năm lễ Tạ ơn lại được xem như quốc lễ; tại sao muôn người đều hoan hỷ đón mừng lễ Tạ ơn… Bởi ngoài lịch sử của lễ Tạ ơn đầu tiên trên nước Mỹ đã quá đẹp, và ngày lễ này ngày càng đẹp đẽ hơn với thêm nhiều ý nghĩa về tình người, nhân bản, từ bi… mà tôi đã may mắn được làm người chứng.

Sau lần nước Mỹ bị khủng bố, tôi bị mất việc. Hàng tuần lãnh tiền thất nghiệp đã tới những tuần cuối rồi cũng chưa tìm được việc làm khác vì kinh tế Mỹ lúc ấy tuột dốc nên việc làm ít. Tôi nghe lời người bạn cùng mất việc với tôi, và theo anh ta đi làm công việc dễ nhất trong thành phố là đi giao pizza tận nhà cho khách hàng đặt hàng (order) qua điện thoại.

Ôi, bao nhiêu tự ái, tủi thân cứ nhỏ lệ âm thầm mỗi tối khi ngồi đếm những đổng tiền tip trong ngày có được để sinh tồn. Nhưng cũng bao nhiêu tự ái, tủi thân ấy chấp cánh bay đi vào một lễ Tạ ơn để tôi an nhiên sống, thậm chí thích nghề giao pizza tận nhà từ món quà của thượng đế ban cho.

Hôm đó gần lễ Tạ ơn, trời đổ nước đá bào chứ không phải tuyết, những hạt mưa đá nhỏ tí teo tung tăng trên đường theo gió. Tôi trợt chân trước cửa nhà một khách hàng, không bị thương nhưng gãy mất cái kính.

Bà chủ nhà là một bà cụ Mỹ trắng rất phúc hậu. Bà lo lắng và thương cảm cho tôi đến cảm động. Tôi đã ngồi xuống sofa nhà bà, uống tách trà nóng do bà mời. Tôi đã làm một việc sai trái với nội quy cho người đi giao pizza là không được phép làm như thế, không được bước vào trong cánh cửa nhà của khách hàng. Nhưng trước thịnh tình của người bản xứ thì phải biết xử sự sao cho ra một người Việt Nam?

Tôi quên hết nỗi lo sợ có thể mất việc nếu ông quản lý ở tiệm pizza biết được. Tôi cảm ơn bà cụ đã vỗ về tự ti mặc cảm trong lòng tôi vào một đêm đông. Tôi chỉ cái bảng tên đường gắn trên khung cửa cách biệt phòng khách với nhà sau trong nhà bà. Tôi hỏi: “Bà thích Elvis Presley lắm hả?” Vì tôi thấy trên khung cửa ấy là tấm bảng màu xanh lá cây, chữ trắng, và ghi là “Elvis Presley. Blvd”

Bà cụ như trẻ lại tới thời bà còn con gái, bà huyên thuyên kể về kỷ niệm. Tôi chỉ hiểu được đó là món quà của người bạn trai đầu tiên đã tặng bà khi hai người đi xem buổi ca nhạc của Elvis Presley. Đó là lúc ông cụ đã đói bụng nên mò từ trên lầu xuống, hỏi: “Pizza tới chưa?”

Mọi chuyện cứ diễn ra như theo ý Chúa. Sáng hôm sau tôi đi làm. Nhà tôi nhờ đem trả đồ mà má xấp nhỏ đã mua ở Trung tâm thương mại Collin Creek mà người Việt quen gọi là Collin Creek Mall. Sao tôi lại thấy một khách hàng khác cũng đi trả đồ như tôi. Cô ta trả lại hai cái đồng hồ treo tường be bé, xinh xinh, trên mặt đồng hồ có in hình Elvis mờ mờ, có cả chữ ký của Elvis nữa.

Tôi đợi cô trả xong thì xin mua. Cả hai cái đồng hồ có sáu mươi đô la, vị chi có ba mươi đồng một cái. Tôi cần một cái để thay cái đồng hồ Toyota ở nhà, hồi mua xe người ta cho quà. Nhưng nó đã rơi và vỡ kính. Tôi nghĩ đến bà cụ nên mua hai để tặng bà một. Tôi nghĩ thầm, chắc bà cụ vui lắm vì cái đồng hồ này độc đáo là mỗi giờ Elvis lại hát một câu trong những bản nhạc ngày xưa ông hát. Món quà tặng này biết đâu có thể làm bà cụ mỗi giờ mỗi trẻ lại khi hoài niệm và yêu mến Elvis Presley.

Đâu ngờ ý Chúa đã an bày, tới hôm lễ Tạ ơn năm ấy. Tôi không có cơ hội đi giao pizza đến nhà bà nên đợi hết giờ làm thì lái xe đến nhà bà. Bấm chuông để tặng bà cái đồng hồ. Bà vui đến ứa nước mắt với một người Việt nam vô danh, tôi thì khóc được với một người bản xứ đã tặng tôi cái kính mới vào lễ Tạ ơn năm ấy. Bà nói với tôi, “Cái kính gãy của anh đã rơi khỏi túi áo lạnh của anh nửa cái. Sáng hôm sau tôi thấy trên sofa, nên tôi đi đặt làm cái kính mới cho anh, theo độ của cái kính gãy. Anh thử lại xem có vừa mắt không…?”

Chúng tôi thành bạn vong niên với nhau cho tới lúc bà mất. Tôi thành bạn nhậu của ông nhà sau khi bà mất đến lúc ông phải vô viện dưỡng lão…

Từ đó tôi cảm nhận về ngày lễ Tạ ơn qua lăng kính mới. Nếu cứ nhìn cuộc sống qua bảng giá, cộng thuế ở Mỹ này thì cuộc đời khô xảm lắm! Mỗi người chỉ còn là cái máy in tiền để đi mua và trả thuế. Tôi hiểu thêm ý nghĩa của lễ Tạ ơn là sự cho đi và nhận lại; dù chỉ một câu chúc mừng nhau, món quà mọn, nhưng làm ấm lòng nhau cho cuộc sống thăng hoa tới người người cảm nhận được hạnh phúc quanh mình. Nên tôi hiểu được một người bạn đã trò chuyện với tôi trước lễ Tạ ơn gần đây, cô ấy nói, “Ngày xưa em cũng hay ăn gà vào dịp lễ này với gia đình, nhưng từ ngày quy y, em không ăn thịt gà nữa. Cứ lễ giết gà về là em ráng làm những việc tốt, lớn nhỏ gì cũng hồi hướng công đức cho tất cả những con gà sẽ bị giết trong dịp lễ này, cầu mong cho chúng thoát khỏi kiếp súc sanh và được đầu thai vào một kiếp sống mới, tốt đẹp và an lành hơn…”

Có phải lễ Tạ ơn đã cứu rỗi một người, rồi ý nghĩa ngày lễ thấm sâu thêm vào lòng người để mỗi người hướng thiện theo cách riêng? Để mỗi năm lễ Tạ ơn về, ai cũng ráng sắp xếp công việc để có thể tham gia vào những bữa ăn miễn phí tổ chức bởi các Hội Từ Thiện, nhằm giúp bữa ăn cho những người không nhà. Ai từng đến với những bữa ăn này, thường sang năm lại đến vì thôi thúc của lòng từ bi đã thức dậy trong tâm khi nhìn những người nghèo đứng xếp hàng trong gió lạnh để nhận một phần ăn từ những người thiệm tâm. Ai có thể đứng ngoài tình người dửng dưng cho được. Phải đứng về một phía, nếu ta không là người cho thì ta sẽ là người nhận. Chẳng ai đứng ngoài xã hội mình đang sống được cả.

Với lễ về năm nay, tôi vừa gãy cái kính do bất cẩn. Ta thán với người bạn xa,“sao tôi xui dữ vầy nè?” Bạn tôi gợi ý, đi tìm cái kính cũ xài đỡ đi, rồi tính sau. Tôi chỉ tìm ra cái kính của bà cụ năm xưa cho, cũng đã gãy… Tôi hỏi tại sao những người cho không cung cấp đủ kính cho tôi dùng – là ý nghĩ trong mùa Tạ ơn này! Nhưng nhờ không có kính nên tôi chẳng nhìn xa được nên nhìn vào lòng mình là khỏi cần kính. Tôi thấy rõ ra mình cứ đứng mãi bên phía người nhận nên bên cho hụt người! Tôi gọi cô bạn đã quy y, “Cho anh đóng góp chút đỉnh vô bữa ăn cho người không nhà mà nhóm con lai của các em tổ chức. Nếu hôm đó anh có thời gian thì anh sẽ góp một bàn tay với anh chị em…”

Một trong những ý nghĩa của lễ Tạ ơn là sự cho và nhận. Ở đâu cũng nhiều người rộng lòng nên ở đâu cũng có rất nhiều người đang cần những tấm lòng nhân ái của mọi người. Nếu Tạ ơn chỉ gói ghém với những người mà ta từng thọ ơn thì danh sách những người ta phải mang ơn, đền ơn sẽ dài hơn trí nhớ chúng ta nhiều bởi không ai tồn tại trên đời mà không từng mang ơn người khác. Chúng ta được sinh ra làm người, đã là một ân sủng của Tạo hoá. Tôi không biết xuất thân của ai, nhưng bản thân thì tôi rõ. Từ đứa bé đủ cơm no áo ấm, mỗi ngày đến trường. Rồi lớn lên trong mù mịt tương lai vì lịch sử sang trang. Rồi vượt thoát đến miền đất hứa, trải qua bao nhiêu hoàn cảnh khi hưng lúc khó… Tôi không thể một mình vượt qua tất cả để tồn tại đến bây giờ mà ơn thọ từ cái kính của người bản xứ đã tặng tôi, làm thay đổi cái nhìn của một người di dân theo hướng thiện tâm và tích cực hơn…

Mùa Tạ ơn về, lễ Tạ ơn cận kề với bao tấp nập ngoài phố thị, trên môi cười trẻ nhỏ, lo toan trong ánh mắt những người lớn còn khó khăn… Tôi đã đủ cơm ăn áo mặc, một việc làm ổn định, một chỗ ở không phải sợ nắng mưa. Tôi Tạ ơn xứ sở này đã cho tôi biết bao nuôi dưỡng và dung thứ để tôi có hiện tại. Tạ ơn quê nhà đã đón nhận tôi từ một sinh linh bé bỏng, cho tôi thật nhiều kỷ niệm tuổi thơ, cả nỗi nhớ thương quê dạt dào trong lòng người viễn xứ khi lễ Tạ ơn về.

Tạ ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục. Tạ ơn thầy cô đã dạy dỗ cho tôi từ vỡ lòng tới khai trí. Tạ ơn anh chị em trong nhà đã chia cay xẻ đắng với nhau khi vận nước đổi thay, cha tù mẹ bệnh… Tạ ơn bạn bè đã lắng nghe và chia sẻ cùng tôi. Tạ ơn em mùa về khơi gợi biết bao nỗi niềm. Tạ ơn cả lời thơ dòng nhạc đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi theo năm tháng…

Tạ ơn đời khoan thứ bao dung…

Thanksgiving 2016

Phan

From: nguyenkimchuc & Anh chi Th ụ  Mai gởi

3 câu chuyện khiến bạn phải xem tới 3 lần và trầm ngâm tới 3 tiếng…

3 câu chuyện khiến bạn phải xem tới 3 lần và trầm ngâm tới 3 tiếng…

Trong việc đối nhân xử thế, chúng ta hãy cố gắng học cách lắng nghe, nên cho người khác có cơ hội để giải thích. Có như vậy, mới giúp chúng ta tránh được nhiều điều khiến ta phải hối tiếc sau này.

1. Sự khoan dung.

Câu chuyện kể về một người lính Mỹ, cuối cùng đã được trở về nhà sau trận chiến đấu vô cùng ác liệt ở Việt Nam…
Từ San Francisco, anh gọi điện cho cha mẹ mình: “Ba mẹ ơi, con đã trở về nhà này, nhưng con có một chuyện muốn nhờ ba mẹ. Con có một người bạn, con muốn đưa anh ấy về nhà cùng con”. “Chắc chắn rồi, con trai yêu quý“, cha mẹ anh vui vẻ trả lời: “Ba mẹ rất muốn gặp bạn con”.
“Nhưng có một điều con muốn nói trước với ba mẹ”, chàng trai tiếp tục, “anh bạn con đã bị thương khá nặng trong chiến tranh. Anh ấy đã hơi bị đãng trí và còn bị mất một cánh tay và một chân. Anh ấy không có nơi nào để về, và con muốn anh ấy đến sống với chúng ta…”
“Ồ, ba mẹ xin lỗi con, con trai… Nhưng có lẽ chúng ta có thể giúp anh ấy tìm một nơi nào khác để sống…”
“Không, ba mẹ ơi, con muốn anh ấy tới sống với chúng ta”.
“Con à“, người cha nói, “con có biết con đang yêu cầu cha mẹ điều gì không? Một người tàn tật đến như vậy sẽ là một gánh nặng khủng khiếp cho ba mẹ. Ba mẹ còn có cuộc sống riêng của mình chứ, ba mẹ không thể để một điều như vậy làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng. Ba nghĩ rằng con hãy về nhà đi và quên anh bạn đó của con đi. Anh ấy rồi sẽ tìm được cách lo liệu cho cuộc sống của mình thôi…”
Lúc đó, người con trai gác điện thoại. Cha mẹ anh không còn nghe thấy điều gì từ đầu dây bên kia nữa. Song, một vài ngày sau đó, họ đột nhiên nhận được một cú điện thoại từ đồn cảnh sát San Francisco. Con trai của họ đã qua đời sau khi ngã từ trên một tòa nhà xuống, cảnh sát đã thông báo như vậy cho họ. Cảnh sát San Francisco nhận định rằng đó là một vụ tự sát.

Cha mẹ người lính, trong đau đớn tột cùng, đã vội vã bay tới San Francisco và được đưa tới nhà xác thành phố để nhận diện thi thể của con trai. Họ nhận ra anh, người con trai yêu quý của mình. Nhưng đột nhiên họ khiếp hãi không thốt nên lời khi nhìn thấy một điều mà trước đó họ không hề hay biết, đó là con trai của họ chỉ còn một cánh tay và một chân.
Những giọt nước mắt ân hận rơi xuống, nhưng tất cả đã quá muộn màng.

Cảm ngộ: Đừng bao giờ đối xử phân biệt với người khác, bạn sẽ không biết được người thực sự bị gây tổn thương là ai? Hãy bao dung rộng lượng với mọi người và tự nghiêm khắc với bản thân mình! Nếu mỗi người chúng ta đều có thể dành sự bao dung và nhân ái cho những người lạ như cho chính người thân của mình, thì thế giới này sẽ tốt đẹp biết bao.
Bởi vì với sự từ bi, bao dung chúng ta sẽ đủ sức mài mòn bất kỳ hòn đá vô tri vô giác nào để trở thành một viên ngọc lung linh tỏa sáng, đủ sức biến điều khó khăn trở nên dễ dàng, đủ sức biến một người tầm thường hay tàn khuyết thành một vĩ nhân.  Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

2. Sự hiểu lầm:

Tại Alaska có một cặp vợ chồng trẻ mới kết hôn. Đến thời kỳ người vợ sinh nở nhưng do sinh khó nên đã qua đời để lại đứa con.

Người cha vì mải cuộc sống bận rộn, nên con không có ai chăm sóc. Vì vậy người cha đã đào tạo một con chó. Con chó này rất thông minh và biết nghe lời, có thể chăm sóc em bé được. Nó còn mang được bình sữa mang đến cho em bé uống.

Một hôm người cha để con chó ở nhà trông chừng đứa bé, khi ông trở về nhà bỗng thấy khắp miệng con chó toàn là máu, nguyên nhân là vì……
Người đàn ông ra ngoài có việc, để con chó ở nhà trông đứa bé. Khi ông trở về, nhìn thấy khắp sàn nhà toàn là máu, nhưng lại không thấy đứa bé đâu cả. Còn con chó thì vừa liếm máu tươi ở khóe miệng, vừa vẫy vẫy cái đuôi vui vẻ nhìn ông.

Người đàn ông nổi giận, liền rút con dao đâm mạnh vào bụng con chó. Con chó kêu thảm một tiếng, làm cho đứa trẻ đang ngủ say dưới tấm thảm loang lổ vết máu giật mình tỉnh dậy. Lúc này, người đàn ông kia mới phát hiện xác chết của một con cho sói đang nằm bên cạnh góc tường.

Cảm ngộ: Có rất nhiều sự việc mà bạn nhìn thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, nhưng nó chưa chắc đã đúng như những gì bạn nghĩ.
Trong việc đối nhân xử thế, chúng ta hãy cố gắng học cách lắng nghe, nên cho người khác có cơ hội để giải thích. Có như vậy, mới giúp chúng ta tránh được nhiều điều khiến ta phải hối tiếc sau này.
Ngược lại nếu chúng ta không hỏi, không nói, không giải thích mà đã vội vã hành động hay phán xét thì đây không phải là thể hiện sự mạnh mẽ, cá tính mà nó chính là sự bất công, không có trách nhiệm với chính mình và những người khác.

3. Sự nóng giận

Một cậu bé có tính xấu rất hay nổi nóng. Một hôm cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh và nói với cậu bé rằng mỗi khi cậu nổi nóng thì hãy chạy ra đằng sau nhà đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ.
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần cậu bé đã tập kiềm chế cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào mỗi ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình thì dễ hơn là phải đóng cây đinh lên hàng rào.

Một ngày kia, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu nói với cha và ông bảo cậu hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng rào mỗi một ngày mà cậu không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần.

Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một bữa cậu bé tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu đã cùng cậu đến bên hàng rào. Ở đó ông nói với cậu rằng:

“Con đã làm rất tốt, nhưng hãy nhìn những lỗ đinh trên hàng rào. Hàng rào đã không thể giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói đó cũng giống như những lỗ đinh này, để lại những vết sẹo trong lòng người khác. Dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn ở lại. Vết thương tinh thần cũng đau đớn như những vết thương thể xác vậy. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con trong mọi chuyện. Họ nghe con nói khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở rộng tấm lòng mình cho con. Hãy nhớ lấy lời cha…”

Cảm ngộ: Con người khi cáu giận thường trút giận dữ lên những người thân yêu ở quanh mình, bởi vì họ biết những người thân yêu của chúng ta sẽ luôn bao dung và tha thứ cho chúng ta. Nhưng những lời nói khi tức giận luôn giống như những chiếc đinh làm tổn thương người khác. Có thể bạn chỉ là vag lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Người Nhựt Bản có kể một câu chuyện như sau:

Zenkai là một thanh niên con của một hiệp sĩ Samourai. Anh được tuyển vào phục dịch cho một viên chức cao cấp trong triều đình. Không mấy chốc, Zenkai đem lòng say mê người vợ của chủ mình. Anh lập mưu giết người chủ và đem người đàn bà trốn sang một vùng đất lạ.

Anh tưởng có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà. Nhưng không mấy chốc, người đàn bà đã để lộ nguyên hình của một con người ích kỷ, đê tiện. Zenkai đành bỏ người đàn bà và ra đi đến một vùng đất khác, ở đó anh sống qua ngày bằng nghề hành khất.

Trong cảnh bần cùng khốn khổ, Zenkai đã bắt đầu hồi tâm để nhớ lại những hành động tội lỗi của mình. Anh quyết định làm một việc thiện để đền bù cho quá khứ nhơ nhớp của mình.

Anh đi về một vùng núi hiểm trở, nơi mà nhiều người đã bỏ mình vì khí hậu khắc nghiệt cũng như vì công việc nặng nhọc. Zenkai đem hết sức lực của mình để khai phá một con đường xuyên qua vùng núi ấy.

Ban ngày đi khất thực, ban đêm đào đường xuyên qua núi. Zenkai cặm cụi làm công việc ấy ròng rã trong 30 năm trời.

Hai năm trước khi Zenkai hoàn thành công trình của mình, thì người con của viên chức triều đình mà anh đã sát hại trước kia bỗng tìm ra tung tích của anh. Người thanh niên thề sẽ giết Zenkai để trả thù cho cha mình. Biết trước mình không thoát khỏi án phạt vì tội ác mình đã gây ra mấy chục năm trước, Zenkai phủ phục dưới chân người thanh niên và van xin:

“Tôi xin sẵn sàng chịu chết. Nhưng cậu hãy cho phép tôi được hoàn thành công việc tôi đang làm dở. Khi mọi sự đã hoàn tất, cậu hãy giết tôi”.

Người thanh niên ở lại để chờ cho đến ngày trả được mối thù cho cha. Nhưng trong khi chờ đợi, không biết làm gì, người thanh niên đành phải bắt tay vào việc đào đường với Zenkai mà vẫn nuôi chí báo thù cha.

Nhưng chỉ một năm sau cùng làm việc với kẻ đã giết cha mình, người thanh niên cảm thấy mọi ý muốn báo thù đều tan biến trong anh. Thay vào đó, anh lại thấy dậy lên trong lòng sự cảm phục và thương mến đối với sự nhẫn nhục, chịu đựng của Zenkai.

Con đường đã được hoàn thành trước dự định. Giờ đây dân chúng có thể qua lại vùng núi hiểm trở một cách dễ dàng.

Giữ đúng lời hứa, Zenkai đến phủ phục trước mặt người thanh niên để chấp nhận sự trừng phạt. Nhưng người thanh niên vừa đỡ Zenkai dậy vừa nói trong tiếng khóc:

“Làm sao tôi có thể chém đầu được thầy của tôi?”

Câu chuyện trên đây hẳn hàm chứa được nhiều bài học. Ngạn ngữ Latinh thường nói:” Sai lầm, vấp ngã là chuyện thường tình của con người, nhưng ngoan cố trong sai lầm là bản chất của ma quỉ”. Nét đẹp quí phái nhất nơi lòng người đó là còn biết hồi tâm, còn biết nhận ra lỗi lầm và từ đó quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Trong câu chuyện trên đây hẳn phải là hình ảnh của sự phục thiện mà Thiên Chúa vẫn luôn khơi dậy trong lòng người.

Nhưng bài học đáng chú ý hơn trong câu chuyện trên đây có lẽ là: tình liên đới xóa tan được hận thù trong lòng người. Người thanh niên đã khám phá ra giá trị ấy khi bắt tay làm việc với Zenkai, con người mà trước đó anh đã quyết tâm tiêu diệt cho bằng được. Quả thực, tình liên đới, sự đồng lao cộng khổ, sự hiện diện bên nhau có sức tiêu diệt được hận thù trong lòng người.

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai gởi

Lời trăn trối của tỷ phú trên giường bệnh khiến ai cũng phải suy ngẫm

Lời trăn trối của tỷ phú trên giường bệnh khiến ai cũng phải suy ngẫm

ty-phu

Sau bao năm miệt mài theo đuổi ước vọng giàu sang nhưng rồi tỷ phú Vương Quân Dao cũng phải đối diện với cái chết khi tuổi đời còn quá trẻ. Những lời ông nói trên giường bệnh khiến nhiều người không khỏi giật mình.

Trong sự nghiệp kinh doanh, tôi đánh trận nào thắng trận đó. Trong con mắt người khác, tôi là một doanh nhân thành đạt điển hình. Nhưng niềm vui tôi có được ngoài công việc cũng không nhiều. Thói quen hưởng thụ vật chất dư thừa của cuộc sống giàu sang khiến cơ thể tôi phát phì.

Giờ đây, khi mắc bệnh phải nằm viện, tôi mới có thời gian suy nghĩ lại cuộc sống trước đây. Bao nhiêu sự đắc ý, bao nhiêu công danh lợi lộc đối với một người sắp chết, chúng không còn sức hút nữa, không có chút ý nghĩa nào nữa.

Trong bóng tối, tôi đã nhiều lần tự hỏi chính mình. Nếu như có thể làm lại cuộc đời, điều tôi muốn làm nhất là gì? Liệu có thể xem nhẹ tiền tài và danh vọng? Có thể làm được vậy không?

Trong bóng đêm, tôi thấy những thiết bị y tế phóng ra những ánh sáng đủ màu sắc và những tiếng gọi của tử thần.

Hiện tại, tôi hiểu được rằng, khi còn sống, con người nên biết đủ tiền tài, dành thời gian nhiều hơn để theo đuổi niềm đam mê khác như tình yêu thương, nghệ thuật, hoặc chỉ để có một thân hình đẹp.

Theo đuổi tiền tài chỉ làm con người tham lam hơn và sống nhạt nhẽo. Biến con người thành những hình hài kỳ quái giống như tôi hiện tại.

Lúc Thượng Đế tạo ra con người với đầy đủ giác quan, là muốn con người cảm thụ vạn vật bằng tất cả con tim, không phải niềm vui mang đến từ tiền bạc.

Tôi đã kiếm được rất nhiều tiền khi còn khỏe mạnh, nhưng khi chết, tôi lại không mang theo được thứ gì. Tình thương yêu không có quan hệ đến vật chất, chúng không phai mờ và mất đi, có được nó mới là thật sự đạt được giàu sang. Tình thương sẽ đi theo, luôn bên cạnh, tiếp thêm động lực và tạo ra ánh sáng soi đường cho mỗi bước đi đúng đắn. Còn tiền bạc sẽ không đi theo con người ta mãi mãi.

Tiền bạc đủ dùng cho chi tiêu sinh hoạt cơ bản, phần còn thừa nên để nó phục vụ lý tưởng, phục vụ tinh thần và phục vụ xã hội.

Tình yêu thương sẽ đưa chúng ta đi xa ngàn dặm. Dù đi bao xa, trèo lên bao cao, nó đều nằm trong trái tim của mỗi người. Ai cũng nắm trong tay tình yêu và thế giới này đều nằm trong đó.

Chiếc giường nào đắt tiền nhất trên thế giới? Đó chính là giường bệnh.

Trên chặng đường đi của đời người, chúng ta có thể có người lái xe thay, có thể giúp kiếm tiền nhưng không có ai mang bệnh hộ chúng ta được. Đồ vật mất đi có thể tìm trở lại, nhưng có một thứ mất đi không bao giờ tìm trở lại được, đó là sinh mệnh.

Vương Quân Dao sinh năm 1966 vì mải mê theo đuổi ước vọng giàu sang để thực hiện giá trị nhân sinh của đời người, anh đã làm việc rất chăm chỉ. Vì mắc phải bệnh ung thư và làm việc quá sức, anh đã từ biệt cõi đời khi mới 38 tuổi.

Bác sỹ đòi rút ống thở của con trai, ông bố trả lời bằng hành động cực sốc:

Câu chuyện của anh khiến tôi nhớ đến lời trăn trối cuối cùng của một vị vua vĩ đại, Alexander. Trước khi chết ông đã để lại 3 điều ước:

“Điều ước đầu tiên, hãy bảo thầy thuốc mang quan tài của ta về một mình.”

“Ước nguyện thứ hai, hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho trên suốt dọc đường đến mộ ta khi các ngươi mang quan tài ra nghĩa địa.”

“Ước muốn cuối cùng, hãy đặt hai bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài.”

Rồi vua Alexander giải thích: “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã nhận ra. Để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình: bởi một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng phải trân quý cuộc sống của chính mình.

Mong ước thứ hai của ta là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên theo đuổi mộng giàu sang. Ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu sang, nhưng ta đã lãng phí hầu hết thời gian của đời người.

Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng.”

Nói xong những lời này, vua Alexander đã nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

Công danh lợi lộc chẳng dài lâu, đời người chỉ thoáng qua như mây khói. Vì vậy, hãy tận dụng những năm tháng đời người ngắn ngủi để sống sao cho có ý nghĩa, sống sao cho có ích, đừng để đến khi sắp cận kề cái chết, mới nhận ra ý nghĩa của đời người.

San San

Thiên thần phải bật khóc vì lòng đố kỵ của con người…

Thiên thần phải bật khóc vì lòng đố kỵ của con người…

Có một câu chuyện kể rằng, một ngày nọ có một thiên sứ đến nhà của một đôi vợ chồng ở một nông trang, thiên sứ nói với họ rằng: “Do các con sống hiền lành lương thiện, ta quyết định cho các con 3 điều ước, nhưng có một điều kiện là: Cho dù các con có ước điều gì đi chăng nữa, thì hàng xóm của các con cũng sẽ nhận được gấp đôi”.

thien-than

Người vợ nghe thấy thế vui quá bèn nói: “Hãy cho con một núi thóc, để năm nay chúng con sẽ không phải làm ruộng nữa!”. Sáng ngày hôm sau, quả nhiên trước nhà xuất hiện một ngọn núi bằng thóc, người chồng rất vui mừng, nhưng nghĩ một lát thấy kho thóc nhà mình sẽ không đủ để cất giữ, liền chuẩn bị vào thị trấn mua gỗ về dựng kho thóc lớn hơn.

Người chồng vừa đi đến nửa đường thì gặp người hàng xóm, hỏi ra thì biết rằng người hàng xóm cũng đi mua gỗ về để dựng kho chứa thóc. Người hàng xóm phấn khích nói: “Hôm nay trước cửa nhà tôi đột nhiên xuất hiện 2 ngọn núi bằng thóc, năm nay và cả năm sau tôi sẽ không phải làm ruộng nữa!”. Ông chồng nghe xong lập tức tâm ghen tị liền nổi lên, chỉ mong sao người hàng xóm biến đi cho khuất mắt.

Một tuần sau, thiên sứ lại đến, hai vợ chồng lại ước điều ước thứ 2, họ nói với thiên sứ rằng:“Chúng con không có con, chỉ ước sao có một đứa con xinh xắn đáng yêu”. Mười tháng sau, hai vợ chồng quả nhiên sinh hạ một em bé, đang chuẩn bị đi thông báo cho người thân và bạn bè tin tốt lành này, ai ngờ vẫn chưa kịp bước ra khỏi cửa, người hàng xóm đã mang trứng gà đỏ vào nhà, rất phấn khích nói: “Vợ tôi sinh rồi, quả thật không ngờ được vợ chồng tôi vẫn có thể có con, thậm chí còn sinh đôi nữa”.

Hai vợ chồng nghe thấy thế không vui cho lắm, nhìn trứng gà đỏ hàng xóm mang đến mà nuốt không trôi. Tối hôm đó thiên sứ lại đến, và bảo họ hãy ước điều ước thứ 3, ông chồng phẫn nộ nói: “Tôi yêu cầu chặt đi một cánh tay của tôi!”. Thiên sứ nghe thấy thế rất kinh ngạc, ông chồng lại nói: “Tôi muốn để cho tên hàng xóm dương dương tự đắc kia mất hết cả hai tay, cả đời sẽ không làm gì được nữa.”

Người chồng quỳ xuống đất, đợi cho cánh tay của mình rơi xuống, nhưng mãi không thấy phản ứng gì, liền ngẩng đầu lên, nhìn thấy thiên sứ nước mắt chảy dài, rồi nói: “Yêu cầu của ngươi ta không thể thực hiện nổi, tại vì ta yêu tất cả mọi người trên thế gian này. Ngươi thật là ngốc nghếch, sao ngươi lại muốn hại người khác, và khiến cho bản thân cũng bị đau khổ, đồng thời cũng khiến Thần cảm thấy thương tâm?”

Những người bạn yêu quý, trong hoàn cảnh công tác hay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, có phải chúng ta cũng thường vô ý mà đố kỵ những người “hàng xóm” may mắn hơn chúng ta không?

Đố kỵ cũng như một con dao, bạn tưởng rằng bạn đã đâm nó lên thân của kẻ khác, kỳ thực bạn đã đâm nó vào chính trái tim mình.

Theo Secretchina

Mảnh đạn B.40 và phép nhiệm mầu

Mảnh đạn B.40 và phép nhiệm mầu

Nguyễn Trãi

Tác giả Nguyễn Trãi là SQ pháo đội trưởng pháo binh đóng vùng II CT đã thuật cho chúng ta nghe 2 câu chuyện may mắn của ông trong chiến tranh: lần thoát chết trong nháy mắt xui khiến ông vừa rời 1 hố cá nhân tránh bom nhỏ tức thì nguyên 1 trái đại bác 130 ly “thảy lổ” rơi đúng ngay chóc hố cá nhân ấy. Lần sau ông bị thương nặng vì trúng đạn B,40 cùng bị 3 viên đạn AK bắn xuyên nhưng kỳ diệu lại thoát ra cùng 1 lổ, tại vùng Gò Găng Bình Định, tiếp đến trãi bao gian lao số mệnh như ngàn cân treo sợi tóc nhưng ông không chết và may mắn lần hồi lết về được quê nhà vùng ven thành phố Nha Trang. Chuyện kể trước, ông tạm dừng khi may mắn trở về đến quê nhà, Bầy tui tiếp tục lên mạng cố gắng sưu tầm tác phẩm của ông theo tên tác giả. Câu chuyện tiếp này kể về điều may mắn kỳ diệu này diễn ra mấy chục năm sau cuộc chiến tranh, sự việc xảy ra trên đất Mỹ… Mời các bạn theo dõi tiếp câu chuyện của 1 người có số mệnh được âm đức phù hộ….. .    

Bệnh viện Nha trang chạy loạn không còn Bác Sĩ , Gia dình tôi nhờ một y tá trong làng mỗi ngày đến thay băng rửa vết thương . Ba tôi mua cua biển nấu cháo cho ăn cả chục ngày để vết thương lồi thịt làm đầy vết thương .

Cảnh tượng ở quê tại Nhatrang đêm dêm họp đấu tố y như phim ‘ Chúng Tôi Muốn Sống “ tôi tìm cách vào Sài Gòn bằng một giấy thông hành đi mổ vết thương .

Trong căn nhà của tôi nơi tôi được sinh ra và lớn lên , hàng đêm , cứ vào khoảng bảy tám giờ tôi nghe tiếng quát tháo của ông Chủ Tịch Xã VC mới vừa được lên nắm quyền trong những buổi họp “đấu tố “ làm tôi lien tưởng đến cuốn phim “ Chúng Tôi Muốn Sống “ được coi từ hồi nhỏ .

Tôi nghĩ thầm “ không thể nào sống ở điạ phương này , phải tìm mọi cách để vào Sài Gòn “ vào nhà vợ .

Bàn tay trái nơi có mảnh đạn B40 chưa lành vẫn còn ra máu , tôi đi trình diện Trường Đại Học Phú Thọ để trả nợ 10 ngày “ học tập “ cho xong . Mấy cán bộ VC không cho tôi vô , tôi dại dột năn nỉ để được “ học tập “ Tôi muốn “ trả cho xong nợ quỷ thần “

Ra đến Miền Bắc , chổ mảnh đạn đã lành , nhưng bàn tay không cầm được vật nặng quá hai kí lô , và cả bàn tay mất cảm giác rất nhiều , lúc nào cũng thấy bị tê buốt .

Cán bộ quản Giáo không tin tôi và cho là “ trây lười lao động “, có lần lấy cây kim dài đâm vào lòng bàn tay để xem tôi có bị đau không ..

Năm mảnh đạn B40 khác nhỏ hơn và nằm bên ngoài nhiều hơn , nên chỉ hai hay ba năm sau ngày ra Bắc là nó tự động bị đẩy ra ngoài , ung lên thành mủ , tôi chỉ lấy dao cạo râu rạch nó và lấy ra dễ dàng

Sau bảy năm , tôi được thả ra , ngày trở về nhà từ trại tù Hàm Tân Z30 C , tôi chống nạn gổ , một tay cầm chiếc đàn guitar tự đóng ngoài Bắc . hình hài tôi không khác một người đi ăn xin có biết chút ít ca hát kiếm sống .

Tôi về khá bất ngờ cả nhà không biết trước , mọi người trong gia đình vợ tại Sài gòn ôm chầm lấy tôi mà chỉ biết khóc .

Tôi đi Bệnh Viện Chợ Rẫy xin mổ mảnh đạn , mấy bác sĩ đều kết luận “ mổ sẽ bị liệt cánh tay “ ; tôi không dám yêu cầu nữa

Đầu năm 1990 , tôi đi theo diện HO1 , đi qua cổng phi trường ở Mỹ , còi báo động kêu lên , tôi phải ở lại và bị rắc rối vì mảnh đạn trong cánh tay .

Tôi tin tưởng vào nền y khoa tối tân của Mỹ , nên đã nhiều lầu yêu cầu chụp hình và xin giải phẩu mảnh đạn B40 . Tất cả các Bác Sĩ cũng đều cả quyết “ nếu lấy mảnh đạn ra chắc chắn bàn tay sẽ bị liệt “

Tôi chấp nhận cứ để như vậy cho đến khi mình chết đi . Lâu lâu cũng bị đau nhức , bàn tay ấy cũng yếu hơn tay kia và nhất là trời lạnh thì đau nhức hơn .

Có lần phải đi làm MRI về bệnh nhức đầu , vừa bỏ vào máy chừng 10 phút , máy báo động kéo ra cho biết có vật lạ bằng kim loại trong người , đó là một mảnh B 40 nhỏ trên trán và một mảnh lớn trên cánh tay . Họ không dám làm MRI nữa .

Ngày tôi bị thương là 31 tháng 3 năm 1975 . đúng chính xác 37 năm sau cũng ngày ấy chổ mảnh đạn nơi cánh tay sưng lên rất to , đỏ mọng . Tôi đi gặp Bác sĩ gia đình , họ gởi tôi đến một bác sĩ chuyên khoa người Mỹ .

Tôi vào nhà thương mổ chỗ sưng ấy , khi về nhà , ngày hôm sau có y tá người Mỹ đến nhà thay băng . Vết thương được khoét rộng clean hết máu mủ bên trong , vết thương không được may khép kín miệng , họ để trống cho y tá mỗi ngày rút cuộn băng cũ đầy mủ máu ra , và nhét cuộn băng mới vào . Tôi đau đớn thấy bảy tám ông trời . Cứ như thế đến 69 ngày liên tục , vết mổ lành hẵn và đầy đặn thịt lồi lên .

Bác sĩ có cho biết chỉ mổ chỗ sưng mà không lấy đụợc mảnh đạn ( vì nguy hiểm các giây thần kinh , động mạch tỉnh mạch đã bao kín mảnh đạn )

Vết mổ lành sau 69 ngày , khoảng 20 ngày sau đó ngay chỗ mổ sưng lên lại y như lần đầu . Tôi gặp Bác sĩ gia đình , ông ta lại chuyển đến Bác Sĩ mổ kỳ trước . Vừa nhìn thấy chổ sưng , Bác Sĩ này hẹn ngay cho lần mổ thứ hai .

Ông ta nói : sẽ clean thật kỹ bên trong , lần này vết mổ được khâu vá kín mít nên không cần  y tá tới nhà thay băng . Hai tuần lể sau khi mổ lần thứ nhì , đi tái khám , tất cả đều ngon lành và ông ta hẹn hai tuần nữa đến cắt những đường chỉ khâu .

Tôi thấy nhẹ nhõm trong người và yên chí từ nay hết bị hành hạ mặc dù mảnh đạn vẫn còn nằm bên trong .

Ba tuần sau đó chổ vết mổ sưng lên lần thứ ba giống y chang hai lần đầu . Tôi gặp trực tiếp Bác Sĩ mổ trở lại . Ông ta nhìn rồi lắc đầu và nói “ tôi đầu hàng “ Ông bác sĩ này chuyển tôi đến một Bác Sĩ khác chuyên về Nhiễm Trùng .

Đến chỗ chuyên khoa về nhiễm trùng , họ khám nghiệm , nghiên cứu hồ sơ từ chỗ cũ , lấy máu lẫn mủ gởi đến hai phòng Lap khác nhau để xét nghiệm , Tôi còn được đưa đi Chụp hình X quang xác định chổ mảnh đạn , và đi Scan xương gần đó xem có bị ung thư xương mà tạo ra mủ hay không .

Tất cả đều có kết quả mủ và máu không có virus. Cả ba ông bác sĩ ba nơi đều kết luận ba lần khác nhau ‘” nên chấp nhận tình trạng ra mủ như vậy đến suốt đời “.

Tôi chưa chịu thua, bèn đi gặp thầy thuốc Bắc , uống đến  65 thang thuốc Bắc mà vẫn cứ ra mủ dài dài . .

Tôi chấp nhận chổ vết mổ ra mủ suốt đời , mỗi 24 giờ thay băng một lần . Mảnh đạn đã không thể nào lấy ra được thì cũng chấp nhận mang nó đến khi về bên kia thế giới.

Không còn một giải pháp nào để giải quyết tình trạng máu và nhất là mủ ở đâu trong cánh tay cứ ứa ra đúng trọn hai năm liền kể từ ngày mổ đầu tiên.

Đã hai lần mổ, ba ông Bác Sĩ y khoa thứ thiệt của nền Y Khoa Mỹ cũng tuyên bố bó tay và khuyên tôi chấp nhận tình trạng ra mủ như vậy cũng như mảnh đạn cứ để yên đến khi chết .

Thuốc Bắc có đến 65 thang cũng không hề hấn gì . Tôi xoay ra Cầu Nguyện , cầu xin Cha Trương Bửu Diệp giúp con . Đặc biệt Vợ tôi Cầu Nguyện hằng giờ trước bàn thờ có hình Cha Trương Bưu Diệp mà bà rất tin tưởng .

Với một niềm tin rất mạnh trong lòng , Bà vẫn hằng cầu nguyện ngày này qua tháng nọ với Cha Trương Bửu Diệp . Bỗng một bữa tôi thấy chổ mủ chảy ra hằng ngày khô lại và lành , để lộ bên trên một cái mày màu nâu của máu khô có chiều dài khoãng hai centimet . Tôi thử kéo cái mày màu nâu lên . Một cục máu và mủ đã cứng từ lâu có chiều dài cũng chừng hai centimét và to bằng ngón tay giữa .

Cục máu lẫn mủ khô ấy được kéo lên đã để lại cánh tay tôi một lỗ sâu hút . Tôi tiếp tục băng chổ ấy lại và từ từ nhiều ngày sau nữa thịt tự động mọc ra thêm làm bằng mặt cái lỗ trống

Rõ ràng Phép lạ của Cha Trương Bửu Diệp đã cứu tôi thoát ra khỏi tình trạng ra mủ suốt đời , và đặc biệt hơn nữa , mảnh đạn đã cũng đi ra theo với cục máu lẫn mủ cứng ấy .

Tôi quên không xẻ cục máu mủ khô ấy để biết thật rỏ có mảnh đạn trong đó hay không . Tôi xin đi chụp X quang và kết quả bàn tay tôi trở lại bình thường không còn mảnh đạn nữa .

Ngày tôi bị thương là 31/3 /1975 . Đúng 37 năm sau cũng ngày đó nó sưng lên . Trong hai năm liên tục kể từ ngày bị sưng , mảnh đạn di chuyển từ chổ bị bắn len lỏi luồng lách xuyên qua các khe hở của các giây thần kinh , các động mạch và tỉnh mạch để đến chổ mổ , rồi khô cứng lại cùng với máu mủ mà ra ngoài, cũng vào khoảng tháng ba năm 2014 Tổng cộng 39 năm mảnh đạn ở lại trong tôi.

Quả đúng là chỉ có một Phép Lạ mới làm được như thế. Hôm Lể Giổ Cha Trương Bửu Diệp tại một Nhà Thờ gần nhà tôi được tổ chức hôm tháng 3 năm 2014 ; tôi đã xin phép Cha Chủ Tế lên Cung Thánh để kể lại chuyện cái mảnh đạn và phép Lạ của Cha Trương Bửu Diệp đã ban cho tôi với tấm lòng Tạ Ơn Cha.

Câu chuyện hoàn toàn thuộc về tâm linh , và tuỳ vào niềm tin của từng người có hay không . Nhưng đối với tôi là một bằng chứng và là sự thật . Cả gia đình tôi ai cũng tin rằng có phép lạ của Cha Trương Bửu Diệp .

Nguyễn Trãi / Houston

Ngày hôm sau không bao giờ đến.

Ngày hôm sau không bao giờ đến.

  “Ngày hôm sau không bao giờ đến “ Câu chuyện bắt đầu khi tôi 16 tuổi. Trong khi đang chơi bên ngoài trang trại của gia đình ở California, tôi gặp một nguời con trai.

Ðó là một người bình thường như bao người khác, người trêu chọc bạn để rồi bạn đuổi theo và đấm cho anh ta một trận. Sau lần gặp gỡ đầu tiên đó, chúng tôi tiếp tục gặp nhau và trêu chọc lẫn nhau.

Nhưng việc trêu chọc chỉ diễn ra một lúc, rồi chúng tôi thường đứng nói chuyện ở hàng rào. Tôi có thể kể với anh mọi bí mật của mình. Anh chỉ yên lặng lắng nghe và tôi nhận thấy anh thật dễ gần.Ở truờng chúng tôi đều có những mối quan hệ riêng, nhưng khi về nhà chúng tôi thuờng kể cho nhau nghe mọi chuyện. Một hôm tôi kể với anh cái gã, mà tôi thích, đã làm cho trái tim tôi tan nát. Anh an ủi tôi và bảo rồi mọi chuyện sẽ qua. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc, vì có một người bạn thực sự hiểu mình. Có điều gì đó ở anh khiến tôi rất thích, tôi lại cho rằng đây chỉ là cảm giác.

Trong những năm trung học, chúng tôi luôn bên nhau với tình bạn đơn thuần. Vào buổi lễ tốt nghiệp, tuy chúng tôi nhận đuợc bằng vào hai ngày khác nhau, nhưng tôi rất muốn ở cạnh anh.

Tối hôm đó khi mọi nguời đã về hết tôi đến nhà anh, nói rằng tôi rất muốn gặp anh. Ðó quả là một cơ hội lớn, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm, chỉ là ngồi bên cạnh anh ngắm sao trời, và cùng bàn về những dự định của hai đứa. Anh nói anh muốn lấy vợ sớm để ổn định cuộc sống, rằng anh muốn trở thành người giàu có,thành đạt.

Tôi về nhà với nỗi ân hận, vì đã không thổ lộ cho anh biết tình cảm của mình. Tôi muốn ngỏ lời yêu anh, nhưng lại quá nhút nhát và sợ sệt. Tôi để những cơ hội ấy qua đi, và tự nhủ sẽ nói cho anh ấy vào một ngày nào đó.

 Trong những năm học đại học, tôi luôn muốn thổ lộ cùng anh nhưng luôn có nhiều nguời xung quanh anh. Sau khi ra truờng anh tìm việc làm ở New York. Tôi mừng cho anh, nhưng cũng cảm thấy buồn, vì chưa nói được gì với anh. Nhưng làm sao tôi có thể nói ra điều đó được, khi mà anh đang chuẩn bị ra đi.

Tôi giữ kín điều đó cho riêng mình và nhìn anh bước lên máy bay. Tôi đã khóc rất nhiều và cảm thấy rất buồn khi không nói được những điều trong trái tim mình. Sau đó tôi được nhận vào làm thư ký, rồi làm cho một nhà phân tích máy tính. Tôi rất tự hào về những gì mình đạt đuợc. Cho đến một ngày tôi nhận được một bức thư có kèm thiệp mời mừng đám cuới. Ðó là của anh.

 Tôi đến dự đám cuới một tháng sau đó. Ðám cưới thật lớn được tổ chức ở một nhà thờ, và chiêu đãi ở một khách sạn lớn. Tôi gặp cô dâu và cả anh nữa, và tôi nhận ra rằng mình vẫn rất yêu anh. Tôi đã tự kiềm chế, để không làm hỏng ngày vui của anh.

Tôi cố gắng tỏ ra vui vẻ, khi nhìn thấy anh bên cô ấy, để che giấu đi những giọt lệ đang tuôn rơi trong lòng tôi. Tôi rời New York và cho rằng mình đã hành động đúng. Khi tôi lên máy bay, anh đi tiễn và nói rằng, anh rất vui khi gặp lại tôi. Tôi về nhà cố quên đi mọi chuyện đã xảy ra ở New York, vì hiểu rằng mình không thể làm khác. Một năm qua, chúng tôi vẫn trao đổi thư từ cho nhau và kể cho nhau nghe mọi chuyện.

Rồi một thời gian dài, anh không viết thư cho tôi. Tôi bắt đầu lo lắng vì tôi đã viết đến 6 bức thư. Cho đến khi tôi mất hết hy vọng, tôi nhận đuợc lời nhắn: “Hãy gặp anh ở hàng rào nơi chúng ta vẫn trò chuyện truớc đây”.

 Tôi đến và gặp lại anh. Anh nói rằng anh đã vui vẻ trở lại, quên đi mọi chuyện rắc rối từ cuộc ly dị. Tôi càng yêu anh hơn, nhưng vẫn không thể nói ra mối tình ấp ủ bấy lâu. Khi anh quay lại New York, tôi đã khóc rất nhiều. Tôi không muốn nhìn thấy anh ra đi. Anh hứa sẽ đến thăm tôi ngay khi có thể.

Rồi một ngày,  anh không đến thăm tôi như đã hẹn. Tôi đoán rằng có lẽ anh rất bận. Chuỗi ngày chờ đợi kéo dài, cho đến khi tôi đã quên đi điều đó, thì nhận được một cuộc điện thoại, từ luật sư của anh ở New York. Ông ấy cho tôi biết anh đã mất, trong một tai nạn trên đường ra sân bay. Trái tim tôi duờng như vỡ vụn và tôi thực sự bị sốc. Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao anh không đến như đã hẹn. Tôi đã khóc, những giọt nuớc mắt của sự mất mát và đau đớn đến khôn cùng.

Tôi tự hỏi: “Tại sao điều đó lại xảy đến với một người tốt như anh?”. Tôi thu dọn công việc đến New York để nghe đọc di chúc của anh. Mọi thứ đã được chuyển về cho gia đình, và người vợ cũ của anh. Tôi gặp lại cô ấy. Cô kể cho tôi nghe về tình trạng của anh, rằng anh luôn buồn, cho dù cô ấy đã làm mọi cách, cũng không thể nào khiến cho anh hạnh phúc được, như hôm gặp lại tôi ở đám cưới của họ.

Người ta trao lại cho tôi quyển nhật ký của anh. Nó được bắt đầu từ ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Anh viết rằng anh rất yêu tôi, nhưng vì quá nhút nhát, mà không dám nói ra điều đó. Ðó là lý do tại sao anh im lặng, và thích lắng nghe tôi.

Anh luôn yêu tôi kể cả khi đến New York và kết hôn với người khác. Ðối với anh, quãng thời gian hạnh phúc nhất, là khi ở bên tôi, và được nhảy với tôi trong đám cưới. Anh đã tưởng tượng rằng, đó là đám cuới của chúng tôi, và anh đã rất đau khổ, khi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ly hôn.

Anh viết rằng anh rất hạnh phúc, khi nhận được thư của tôi. Và cuốn nhật ký kết với dòng chữ: “Hôm nay, nhất định tôi sẽ nói với cô ấy rằng tôi rất yêu cô ấy”. Ðó chính là ngày, mà anh bỏ tôi ra đi vĩnh viễn – ngày mà tôi sẽ biết được tình yêu, từ sâu thẳm trái tim anh dành cho tôi.

Nếu bạn yêu một người nào đó, đừng đợi đến ngày mai, để nói với họ biết điều đó. Bởi lẽ ngày hôm sau đó, có thể sẽ không bao giờ đến nữa.

Anh chị Thụ & Mai gởi

“Có ai bán ve chai không“.

“Có ai bán ve chai không“.

  Đây là lời bài hát nổi tiếng kể về một câu chuyện có thật ở Đài Loan diễn ra vào những thập niên 1980, bài hát có tên:

“Có ai bán ve chai không“.

Nội dung câu chuyện có thật xúc động lòng người như sau:

Một ông lão chân bị khập khiễng sống bằng nghề thu thập vỏ chai, ông bị câm điếc và phải sống đơn độc một mình, cuộc sống khá khốn khổ.

Một ngày kia ông nhặt được một em bé bị bỏ rơi trên đường phố. Ông đã ngây ngất trong niềm vui và nghĩ rằng đó là một món quà mà thượng đế đã ban cho mình.

Ngay lập tức, ông đã đem đứa trẻ về nuôi, thu lượm những vỏ chai rượu rỗng bán đi để lấy tiền mua sữa. Ngày qua ngày, em bé bị bỏ rơi được ông cưu mang và nuôi nấng như vậy. Đến năm lên 6 tuổi, em bé đã nhặt một con cún con về nuôi và đặt tên nó là Vượng Tài.

Chú chó nhỏ, ông lão câm điếc và cô bé cùng dựa vào nhau để sống. Tuổi thơ của em lớn lên cùng những vỏ chai rượu xếp chồng lên nhau.

Chất giọng bẩm sinh tốt của em đã trở thành máy rao bán cho ông. Cứ mỗi sáng sớm em lại dắt ông lão chống nạng để đi thu lượm, vừa đi em vừa hô lớn: Có ai bán ve chai không? Có ai bán ve chai không?

Sau này khi lớn lên, cô gái bé bỏng hôm nào giờ đã có người yêu là một nhà viết nhạc trữ tình. Nhà soạn nhạc này cũng rất nghèo nhưng rất yêu cô.. Anh đã vì cô mà viết rất nhiều bài hát, cũng đối xử với ông lão hết sức tốt. Mỗi lần đến chơi đều giúp ông lão vận chuyển các chai rượu rỗng, cùng trò chuyện với ông bằng cách vẽ tay, chơi cùng con chó…

Thế rồi một ngày cô trở nên nổi tiếng. Cuộc sống hoàn toàn thay đổi, cô tậu nhà mới, xe hơi và được nhiều người theo đuổi… Cô gái vẫn rất yêu chàng trai và hy vọng anh có thể đến sống cùng với mình trong biệt thự, không phải trở lại ngôi nhà ve chai nữa bởi vì người cha vừa câm vừa điếc khiến cô cảm thấy xấu hổ!

Nhưng chàng trai không muốn, và vẫn cùng ông lão sống tại căn nhà cũ. Sau đó, cô gái ngày càng bận rộn, danh tiếng cũng ngày càng trở nên lớn hơn, cuộc sống của cô càng ngày bị chi phối bởi nhà quản lý. Ông lão ve chai cảm thấy nhớ con gái nên nài nỉ chàng trai đưa đi gặp con gái. Nhưng còn chưa vào được buổi hoà nhạc ông đã bị đuổi ra…

Sau đó cô gái cảm thấy ông khá phiền phức nên đã gửi cho ông một khoản tiền và yêu cầu ông không được làm phiền mình nữa. Ông lão nước mắt rưng rưng, lấy tay lau những giọt lệ tràn ra rồi rời đi mà không cầm lấy một đồng nào của cô!

Chàng trai lúc này đã không thể chịu được, tìm đến cô gái để nói chuyện phải trái nhưng cô không nghe. Cũng bởi giờ đây sự chênh lệch đẳng cấp và suy nghĩ của 2 người quá lớn nên kết cục chỉ có thể chia tay. Về phần ông lão, do quá nhớ thương con gái nên đã lâm bệnh nặng. Chàng trai đã cầu xin cô gái, hy vọng cô có thể trở về thăm ông một lần, nhưng rốt cuộc cô gái vẫn không nghe lời anh!

Đến lúc này, chàng trai chỉ còn cách hỏi thăm nơi diễn của cô gái và nói lại với ông lão. Ông lão cố gắng hết sức cùng chú chó già đến để nhìn mặt cô lần cuối. Nhưng thật không may, khi đi ngang qua đường một chiếc xe tải không biết từ đâu chạy tới chuẩn bị đâm vào ông lão. Đột nhiên con chó già Vượng Tài nhảy tới và đẩy ông lão ra. Nó đã bị chiếc xe tải đâm chết…

Chàng trai sau khi biết chuyện đã quyết định viết cho cô bài hát cuối cùng. Anh đã thức suốt mấy đêm để viết. Nhưng do phải đối mặt với một thời gian dài sống trong khó khăn nghèo đói, cộng thêm gánh nặng tư tưởng. Khi thân thể của anh đã sắp không thể chịu được nữa, anh đã viết bài hát này và nhờ người mang đến đưa cho cô gái.

Chàng trai sau khi viết xong bài hát cũng là lúc rời xa trần thế. Khi trong buổi hoà nhạc cô gái miễn cưỡng mở tờ giấy ra, lời bài hát này có đại ý rằng:

Thật là một giọng nói quen thuộc
Ở bên tôi suốt bao năm mưa gió.
Chưa bao giờ cần phải nhớ
Sẽ không bao giờ quên.
Không có trời, nào có đất
Không có đất, nào có nhà
Không có nhà, nào có bạn
Không có bạn, nào có tôi
Nếu như bạn chưa từng nuôi nấng tôi
Cho tôi một cuộc sống ấm áp
Nếu như bạn chưa từng bảo vệ tôi
Thì số phận tôi sẽ như thế nào !
Chính bạn là người nuôi tôi khôn lớn
Ở bên tôi khi tôi nói lời đầu tiên
Chính bạn đã cho tôi một ngôi nhà
Hãy để tôi và bạn cùng có nó
Mặc dù bạn không thể mở lời
Nói một lời
Nhưng càng hiểu rõ hơn về con người thế nhân này
Đen và trắng, đúng và sai
Mặc dù bạn không thể diễn tả cảm xúc thật của mình
Nhưng đã phải trả giá
Đó cuộc sống nhiệt thành
Từ một phương xa gửi đến bạn
Một giọng nói quen thuộc
Hãy để tôi nhớ đến bạn
Một tâm hồn hoà ái và từ bi
Khi nào
Bạn sẽ quay trở lại bên cạnh tôi
Hãy cùng tôi hát
Có ai bán ve chai không
Có ai bán ve chai không…

Đọc xong lời bài hát, bao nhiêu sự việc quá khứ như vùn vụt trở về: Một đống đầy những chai rỗng, người cha già câm điếc, vì để mua cho cô một túi hạt mà khổ sở vất vả, và con chó yêu quý nô đùa vẫy đuôi bên cô…

Cô gái đã bật khóc, cuối cùng lương tâm đã quay trở lại, những nỗi khổ, lo lắng, bất an…

Cô đã học ngay lời bài hát này. Đến cuối buổi biểu diễn cô đã thông báo với ban nhạc về bái hát cuối cùng này có tên: “Có ai bán ve chai không“.

Cô gái “vong tình” đã cất lời hát, tất cả khán giả đều cảm thấy bị sốc và họ đều rơi nước mắt. Cô gái đã kể về cuộc đời của mình ngay trên sân khấu, sau đó chạy thật nhanh đến bệnh viện, cô muốn gặp lại người cha của mình.

Khi ông lão nhìn thấy con gái, những dòng nước mắt từ trên má lã chã rơi. Ông lão không nói gì, chỉ mỉm cười với con gái và từ từ nhắm mắt lại… Cô gái khóc nấc từng tiếng không ngừng…

Đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật. Trong cuộc sống, có thể cha mẹ không cho chúng ta được một môi trường thuận lợi và hoàn cảnh vật chất đầy đủ nhất, nhưng họ đã làm hết sức mình để cho chúng ta được sống và trưởng thành. Họ đã dành cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất, kể từ lúc mới sinh còn bập bẹ, cho đến khi chập chững đi bộ từng bước, và đến khi trưởng thành như bây giờ. Họ đã phải dùng cả cuộc đời và tâm huyết dành cho chúng ta.

Vì vậy hãy luôn yêu thương và kính trọng cha mẹ mình. Bởi vì họ đã nuôi dưỡng chúng ta bằng ân tình mà cả đời chúng ta cũng sẽ không bao giờ trả hết được.

Nguồn: Sưu tầm.

Trương C Nghĩa gởi

Hai câu chuyện thật

“O’ HARE”

O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago .

Al Capone,  1 tên gangster khét tiếng một thời ở Mỹ.
–  Easy Eddie là luật sư của Al Capone.

Sau đây là 2 câu chuyện thật :

Có rất nhiều Quân nhân Mỹ can trường trong thế chiến thứ Hai.Một trong những anh hùng đó là Trung Tá Phi Công Hải Quân Butch O’Hare.Trung Tá O’Hare là Phi Công khu trục tùng sự trên Hàng Không Mẫu Hạm Lexington trong vùng biển khu vực Nam Thái Bình Dương.

Chuyện thứ nhất

Một hôm toàn thể phi đoàn của ông được giao phó thi hành một phi vụ quan trọng. Sau khi cất cánh và gia nhập đội hình bay, liếc nhìn bảng phi cụ, ông nhận ra có chuyện không ổn, hoặc là đồng hồ báo xăng bị hư hoặc là ai đó không bơm đẩy xăng cho ông. Với tình trạng này, ông không đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ và trở về tầu được. Trung tá O’Hare báo với Phi ĐoànTrưởng và được lệnh phải quay về. Ông miễn cưỡng rời khỏi đội hình của phi đoàn và quay trở lại hàng không mẫu hạm.

Trên đường về tầu, bỗng nhiên, trung tá O’Hare thấy một cảnh tượng làm ông dựng tóc gáy: dưới thấp xa xa trước mặt ông là nguyên một phi đoàn oanh tạc cơ của Nhật đang trên đường tìến về hải đội Hoa kỳ. Phi đoàn khu trục của Hoa Kỳ đã bay đi thi hành nhìệm vụ và hải đội không còn ai bảo vệ cả. Dù có gọi, phi đoàn khu trục cũng không thể trở về kịp để cứu và cũng không còn thời gian để báo với hải đội những nguy hiểm sắp đến. Việc duy nhất còn có thể làm là bằng bất cứ giá nào cũng phải xua đuổi phá tan và chuyển hướng đội oanh tạc cơ Nhật.

Không còn nghĩ đến an nguy cho mình, trung tá O’Hare lao thẳng vào đội hình đoàn oanh tạc cơ Nhật, với bốn nòng súng 50 ly gắn trên cánh đỏ rực, ông tấn công tới tấp bắn hết chiếc này đến chiếc khác. Đến khi hết đạn, ông vẫn tiếp tục tấn công, liều lĩnh đâm thẳng vào các phi cơ Nhật, cố gắng cắt đuôi chiếc này, hay cắt cánh chiếc kia mong cho họ không điều khiển và bay được. Trong đáy cùng tuyệt vọng, ông làm bất cứ gì có thể làm để các oanh tạc cơ Nhật không đến được hải đội Hoa kỳ.

Cuối cùng, đoàn phi cơ Nhật bối rối và chuyển hướng. Thở ra nhẹ nhõm, trung tá O’hare lê lết chiếc máy bay tả tơi của mình về lại hàng không mẫu hạm. Ông báo lại sự việc, chiếc máy quay phim gắn trên phi cơ là bằng chứng hùng hồn nhất.Nỗ lực trong tuyệt vọng để bảo vệ hải đội Hoa kỳ, ông đã hạ 5 chiếc oanh tạc cơ Nhật.

Đó là ngày 20 tháng 2 năm 1942. Trung tá O’Hare là phi công Hải Quân đầu tiên trong quân chủng được trao tặng Huân Chương Danh dự của Quốc Hội Liên Bang Hoa kỳ.

Năm 1943, trung tá O’Hare tử trận trong một cuộc không chiến lúc ông 29 tuổi. Để không ai có thể quên được người anh hùng này, phi trường của thành phố Chicago , quê hương ông, đã được đặt tên là phi trường O’Hare. Dịp nào đó nếu dừng chân tại phi trường O’Hare, xin hãy đi thăm khu kỷ niệm O’Hare, nhìn tận mắt Huân Chương Danh Dự đã gắn lên ngực áo của ông. Khu lưu niệm này nằm giữa Terminal 1 và Terminal 2.

Chuyện thứ hai

Hơn mười lăm năm trước đó, tại thành phố Chicago có một người mang biệt danh là Easy Eddie. Trong thời gian này, Trùm tội ác Al Capone hầu như làm chủ thành phố. Capone nổi tiếng không do các hành động anh hùng mà vì các việc làm bóc lột, tàn nhẫn và hung ác. Thành phố Chicago , qua Capone, tràn ngập những nơi bán rượu lậu, các động mãi dâm và các vụ giết người không gớm tay.

Easy Eddie là luật sư của Al Capone. Chắc chắn Eddie rất giỏi. Việc rành rẽ và biết lợi dụng các kẽ hở pháp luật của Eddie đã giúp Capole nhởn nhơ ngoài vòng tù tội. Để tỏ lòng biết ơn, Capole trả công Eddie rất hậu. Không chỉ về tiền bạc mà còn chu cấp về tài sản nữa. Chẳng hạn như gia đình Eddie sống trong một lâu đài lớn, kín cổng cao tường và thừa mứa các tiện nghi của lúc đó với kẻ hầu người hạ ngay trong nhà. Lâu đài này lớn đến độ chiếm nguyên một đoạn đường của thành phố Chicago . Dĩ nhiên với cuộc sống giầu có quyền thế của kẻ đương thời, làm sao Eddie có thể nhận và hiểu được những khốn cùng của xã hội chung quanh.

Như mọi người, Eddie có một nhược điểm. Có một con trai và Eddie thương con vô cùng. Cậu bé có đủ thứ ở trên cõi đời, toàn những loại thượng hảo hạng: quần áo, xe cộ ngay cả trường học nồi tiếng vì giá cả tiền bạc không thành vấn đề, không gì có thể ngăn cản được. Mặc dù liên hệ chặt chẽ và chìm ngập trong tội ác, Eddie cũng đã có những cố gắng dậy con thế nào là phải và trái.

Vâng, Eddie đã cố dậy cậu con trai vượt lên từ cuộc sống nhớp nhúa của chính mình, ước mong con sẽlà người tốt.. Cho dù giầu có và quyền thế xiết bao nhưng vẫn có hai thứ Eddie không thể cho con được, hai thứ mà chính Eddie đã chót bán cho Capone: làm gương và để lại cho con niềm danh dự.

Qua nhiều đêm trằn trọc thao thức, Eddie quyết định việc để lại danh dự cho con cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa hơn là cho con cuộc sống giầu có với những đồng tiền từ máu và nước mắt của người khác. Phải thay đổi hoàn toàn những việc làm lầm lỡ trước kia, phải báo với chính quyền những sự thật vế Al Capone. Eddie cố gắng rửa sạch những nhơ nhớp trên cái tên của mình, ngõ hầu cho con biết thế nào là trung thực và ngay thẳng.

Để hoàn tất mọi chuyện, Eddie phải ra trước toà làm nhân chứng chống lại ông Trùm, biết rằng giá phải trả sẽ không nhỏ. Hơn tất cả mọi chuyện trên đời, Eddie muốn phục hồi tên tuổi mình, hy vọng sẽ để lại cho con tấm gưong và niềm danh dự.

Eddie ra trước toà làm nhân chứng, Trùm Al Capone vào tù. Vài tháng sau, Eddie gục ngã trong cơn mưa đạn trên một con đường lẻ loi ở Chicago . Eddie đã để lại cho con trai một món quà lớn nhất trên thế gian này, mua bằng giá cao nhất là sinh mạng của chính mình.

Hai câu chuyện này có liên hệ gì với nhau ?    Trung tá phi công Hải Quân Butch O’Hare chính là con trai của Easy Eddie. Ước mong qúy vị cũng ngậm ngùi và cảm khái như tôi khi đọc những dòng chữ này.

Câu chuyện đáng đọc

Câu chuyện đáng đọc

Dưới đây là câu chuyện của một người đàn ông ăn xin đầy xúc động kể lại. Tấm lòng lương thiện của cô gái đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời anh.

Đang đi trên đường tình cờ một người ăn xin tiến lại gần và xin tiền thì liệu bạn có cho họ không? Hay bạn chỉ cho họ một ít theo sự phản xạ của bản thân. Và có bao giờ, bạn nghĩ sẽ cho người ăn xin đó một chiếc thẻ ngân hàng chứa gần 20 tỉ để họ tự đi rút tiền, càng quan trọng hơn, chiếc thẻ đó không có mật khẩu?

Chắc chắn ai cũng thốt lên rằng: “Không bao giờ xảy ra trường hợp như thế?”. Nhưng bạn hãy dành thời gian đọc câu chuyện này, sẽ có điều bất ngờ trái ngược với suy nghĩ của bạn đấy.

Harris là một nhân viên cao cấp của công ty quảng cáo nổi tiếng thuộc thành phố New York, Mỹ. Vào một ngày tháng 8 năm 2010, cô đang cùng bạn bè ăn trưa tại một nhà hàng thì bỗng một người bạn của cô muốn mua ít đồ dùng, thế là hai người xin đi trước, khi đang đi trên một con đường lớn thì có một người lang thang tiến lại gần bên cô, bằng một giọng nói yếu ớt giới thiệu về mình: “Tôi tên là Valentin, 32 tuổi, thất nghiệp đã 3 năm rồi, chỉ dựa vào việc ăn xin để sống qua ngày.

Tôi muốn nói là liệu cô có thể bằng lòng giúp tôi được không? Ví dụ bố thí cho tôi vài đồng bạc lẻ để tôi có thể mua một chút đồ dùng hàng ngày”. Nói xong anh ta nhìn cô với đôi mắt đầy kỳ vọng.

co-gai

CCô

Cô  động lòng trắc ẩn nhìn anh chàng da đen trẻ tuổi đang đứng trước mặt mình rồi cất lời: “Không vấn đề, tôi rất sẵn lòng giúp đỡ anh”.
Cô liền thò tay vào túi áo tìm tiền, nhưng thật không may hôm nay cô lại quên mang theo tiền mặt, và chỉ có duy nhất một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng. Cô có chút ngần ngại lấy chiếc thẻ ra nhưng vẫn chưa biết nên ứng xử như thế nào?

Người ăn xin hiểu được sự khó xử của cô, liền nhỏ nhẹ nói: “Nếu cô tin tôi thì có thể để tôi dùng chiếc thẻ này và sau đó sẽ đem trả cô ngay không?” Vốn tính lương thiện và dễ tin người, Harris đưa ngay chiếc thẻ cho người ăn xin.

Sau khi cầm chiếc thể trên tay Valentin không đi ngay mà cầu khẩn Harris: “Ngoài việc mua một số đồ dùng sinh hoạt tôi có thể mua them một bình nước không?”

Harris thoải mái nói: “Hoàn toàn có thể, nếu anh cần hãy cứ dùng tiền trong đó mà mua”.

Người ăn xin đi rồi, cô và bạn quay trở về công ty làm việc. Ngồi làm việc chưa lâu, cô bắt đầu nghi ngờ và có chút hối hận, buồn bã rồi quay sang nói với bạn: “Thôi chết, thẻ tín dụng của mình không những không cài mật khẩu mà trong đó còn có gần 20 tỉ. Người đàn ông đó chắc chắn đã chạy mất rồi. Lần này đúng là xui xẻo hết mức .”

Nghe được lời tâm sự của cô, đồng nghiệp cô trách móc: “Sao cậu có thể dễ dàng tin tưởng tuyệt đối vào một người lạ mặt như vậy được. Là cậu ngây thơ hay ngốc nghếch vậy, đúng là lương thiện quá đáng”.

Cô không còn tâm trạng để làm việc tiếp được nữa, nhờ bạn xin xếp là cô ra ngoài có tý việc rồi cô chạy ngay đến con đường lớn lúc nãy.
Chỗ mà cô đưa chiếc thẻ ngân hàng cho anh chàng ăn xin da đen. Điều mà cô không ngờ tới đó là khi vừa bước chân đến thì nhìn thấy người ăn xin đang đứng đợi ở đó.

Trên tay anh ta vẫn còn cầm chiếc thẻ tín dụng của cô, thấy Harris anh chàng mừng rỡ nở nụ cười rồi tiến lại gần và nói : “Tôi dùng tổng cộng hết 25 Đô, mua một chút đồ và một bình nước, cô đối chiếu xem có đúng không”.

nguoi-xin

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối diện với một người thật thà, đáng tin như vậy, Harris có chút cảm động, cô không kiềm chế được và cầm lấy tay anh ta, liên tục nói:
“Cảm ơn anh, cảm ơn anh”. Người đàn ông không hiểu gì, rõ ràng người giúp đỡ anh chính là cô ấy, người phải cảm ơn phải là anh mới đúng chứ, sao cô ấy lại phải cảm ơn anh ta vậy?

Không lâu sau, cô cùng bạn bè đi đến tạp chí New York, đem chuyện vừa xảy ra kể ngay cho họ. Sau khi bài báo về anh chàng Valentin  “đói cho sạch rách cho thơm” được bạn đọc biết đến, nhiều người cảm động và tình nguyện giúp đỡ anh.

Trong đó có một doanh nhân vô cùng thành đạt tại bang Texas đã gửi cho anh 6000 đô để thưởng cho sự trung thực. Nhưng điều khiến anh sung sướng hơn cả là một hãng hàng không tại Wisconsin đã gọi điện và mời anh đến kí hợp đồng làm tiếp viên hàng không của hãng.

Có được quá nhiều sự giúp đỡ như vậy anh thật sự cảm thấy sung sướng: “Từ nhỏ mẹ tôi đã dạy tôi rằng dù nghèo nhưng cũng không được làm điều gì thất đức. Dù không được đi học những cũng không bao giờ được ném giá trị của bản thân xuống dưới đất để người khác dẫm đạp. Sở dĩ tôi được nhiều người giúp đỡ như vậy bởi tôi luôn tin rằng người thành thật ắt sẽ có một kết thúc tốt đẹp”.

Ngoài yêu thương ra, động từ đẹp nhất trên thế gian chính là giúp đỡ, đó là việc làm đáng được ngưỡng mộ nhất trong xã hội. Khi gặp người cần sự giúp đỡ, nếu có thể hãy giúp họ, bạn đừng bỏ lỡ cơ hội, vì có thể một cái chìa tay của bạn sẽ làm thay đổi cuộc đời một con người. Cũng giống như câu chuyện ở trên vậy!

From: Nguyễn Kim Bằng

TÌNH CUỐI!!!

TÌNH CUỐI!!!

Ngày xưa (đầu thập niên 60) Ông Bình-Nguyên-Lộc có viết một cuốn truyện “Mối tình cuối cùng!” với câu nói trong bài tựa:”Người ta nói mối tình đầu là đẹp nhất! Nhưng theo tôi (BNL) mối tình cuối cùng mới là đẹp nhất!!!”. Đây là lần thư hai tôi đọc được một bài nói về một mốt tình cuối cùng rất đẹp! Khó ai có được, vì nhiều người đã có “Tình đầu là tình cuối, người ơi” rồi!!!

  Tôi viết truyện này vào ngày sinh nhật thứ 72 (Đúng 6 vòng của 12 con giáp)

. Sở dĩ tôi gọi là tình cuối! Vì tôi biết sau khi người yêu tôi chết, tôi sẽ không thể (còn) yêu ai hoặc được ai yêu nữa!!!
 Thường, người ta hay viết truyện về những mối tình đầu! Vì mối tình đầu là mối tình khó quên nhất!!! Đúng vậy! Ở vào tuổi mới lớn, khi con tim lần đầu biết rung động vì một ánh mắt, một nụ cười, môt tà áo… Làm sao chúng ta có thể quên được những ngày tháng mộng mơ với một người đẹp???

 Cái thuở ban đầu lưu-luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên!!!

(Thế-Lữ)

 Nhưng, tôi là cái thằng thích (nói nôm-na)trật đường rầy! Không thích giống ai, nên mới (ti-toe) viết về mối tình cuối!!!

    Đó là mối tình của tôi với Thúy-Hằng, bắt đầu cách đây hơn 15 năm. Thúy-Hằng thua tôi 7 tuổi, tôi ly-dị vợ, nàng rẽ gánh chia tay chồng! Người đời thường gọi những mối tình như thế là… “Rổ rá cặp lại”!

Mà đúng thiệt! Tôi với nàng là hai cuộc đời bị bể, bể tanh banh, bể tan tành thành nhiều mảnh vụn! Cố gắng lắm, cố gắng mệt nghỉ, cố gắng tối đa mới ráp lại được với nhau thành một cặp!!! Không gọi là rổ rá cặp lai thì gọi bằng cái chi nữa cha (nội)?

Sở dĩ tôi viết là cố gắng lắm, cố gắng tối đa, mệt nghỉ! Vì cuôc tình của chúng tôi ban đầu cũng không suông-sẻ gì cho cam!!!

 Tôi ly-dị vợ thì xong rồi! Trước khi gặp lại Thúy-Hằng thì tôi cũng có (lai-rai) vài mối tình với những người đàn bà (hoặc) chồng chết, (hoặc) ly-dị! Những mối tình đó đã đưa đẩy tôi lang thang qua nhiều tiểu bang của Mỹ-Quốc!!!

Thúy-Hằng ngược lại, sau khi chia tay với chồng thì có người yêu cũ tìm đến!

    Người yêu cũ của nàng vốn là một anh Tàu lai tên Triết, có giấy tờ chứng minh (gốc Tầu)đàng hoàng! Nhờ có giấy tờ, nên anh ta được nhà nước cộng sản Việt-Nam “ưu-ái”cho về nước sau khi chiến tranh Trung-Việt ở biên giới phía Bắc nổ ra!!! Dùng chữ “Cho Về Nước” là chính quyền cộng sản Việt-Nam hí lộng ngôn từ, chứng tỏ tính ưu việt của đảng ta thôi! Thật ra đây là âm mưu nhằm ăn cướp tài sản, nhà cửa, tiền bạc… của người Tàu và tống xuất họ ra khỏi Việt-Nam một cách hợp lý, hợp tình và (cũng) hợp pháp luôn, đi đâu thì đi!!!

 Để được “ưu-ái” Triết phải đóng đủ 12 lượng vàng, – loại vàng Kim-Thành 24 cara, ngôn ngữ bình dân gọi là “cây”! Mặc dù nó chỉ có hình chữ nhật 4×8 cm, mỏng tanh, nặng chừng 37,5 gram, – trước khi bước chân lên những con thuyền nhỏ, mong manh, nhét người chật cứng như cá hộp Sạc-Đin-Nờ, được đẩy ra khỏi hải phân Việt-Nam rồi… muốn trôi đi đâu thì đi, nhà nước cộng sản VN hổng chịu trách nhiệm (à nghen!).

  Nhờ hai gia đình ở gần nhau trong Chợ-Lón, Thúy- Hằng  và Triết quen biết nhau từ lúc còn nhỏ, từ khi…‘Xưa đôi ta bé ta ngu, ta đem dây thung ta quấn con cu…, con cu sưng to ta khóc hu-hu…’ Triết hơn Thúy-Hằng 4 tuổi!

    Cuối năm 1978, khi nghe phong thanh chương trình vượt biên bán chính thức của người Tàu do Triết tiết lộ, gia đình Thúy-Hằng tìm cách “gửi-gấm” nàng theo Triết!

Trong thời gian chuẩn bị, Triết tìm được đường dây làm giấy tờ giả cho Thúy-Hằng. Trong lúc chờ đợi, nàng cũng nhờ Triết dạy cấp tốc một số tiếng Tàu cần thiết để lúc ra đi có bị hạch hỏi cũng dễ dàng lọt thoát phầnnào!

    Triết nhà giàu, khá bảnh trai, ăn nói nhỏ nhẹ! Thấy nhà Triết có piano, sau những giờ học tiếng Tàu, Hằng thường chơi piano cho Triết nghe! Nhờ học đàn piano từ lúc 5 tuổi đến khi Cộng-Sản chiếm miền Nam, nên Thúy-Hằng đánh đàn piano, tài nghệ dù chưa đạt được (đỉnh cao chói-lọi) như Đặng-Thái-Sơn! Nhưng nghe cũng lọt lỗ nhĩ và nếu gặp may (không chừng) có thể trình diễn ở Carnegie Hall, New York City!!!

 Nhưng rồi cuộc gửi gấm Thúy-Hằng không thành, vì chờ đợi lâu quá! Gia đình Thúy-Hằng bèn quyết định tự đóng ghe, mua bến, lo lót công-an, và đi thoát trước khi Triết ra đi!!! Mối tình hai người tan vỡ, vì không còn tin tức, liên lạc được với nhau! Đó là chuyện“Khi xưa đôi ta bé…”!!!

  Trở lại chuyện này, hai cái rổ rá rách teng-beng Triết, Thúy-Hằng cặp lại, không khớp với nhau! Nên bị bung ra chỉ sau một thời gian ngắn chưa tới 2 tháng!!!

Theo lời một người quen (dĩ nhiên là quen, lạ làm sao biết?) của Thúy-Hằng kể lại, Triết biết Thúy-Hằng sau khi chia tay với chồng có được một món tiền, đâu khoảng hơn 100.000 Du-Ét Đi, nhờ bán căn nhà hai vợ chồng mua 15 năm trước, cưa đôi, nên rù-quyến Thúy- Hằng về VN làm ăn, buôn bán chi đó!

Chắc vì sợ rủi ro, bất trắc, mất tiền, hơn nữa qua đọc báo, biết được những vụ người“Việt gốc Ngu” ở hải- ngoại đem tiền về Việt-Nam làm ăn như vua chả giò Trịnh-Vĩnh-Bình hoặc Trần-Trường bỏ về VN làm ăn sau khi ‘chơi bạo lấy tiếng ngu’, treo hình lão già dịch Hồ-Lưu-Manh (Hồ-Chí-Minh)trong tiệm cho thuê Video bị khoảng 50.000 người Việt ở O-Ren-Giờ-Cao-Ti biểu tình chống đối! Nên Thúy-Hằng từ chối kế hoạch làm giàu do Triết vẽ ra! Thế là Triết bất mãn, không mặn mà chuyện cặp lại rổ với nàng nữa!!! Thúy-Hằng buồn bã, vì vừa đá vỏ dưa văng xa hơn 300 thước thì lại đạp (nhằm) vỏ dừa!!!

Đúng vào lúc đó thì tôi gặp lại Thúy-Hằng trong một bữa ăn tối ở nhà một người bạn. Trước đây, tôi và nàng chỉ quen biết nhau nhưng ít khi liên lạc với nhau, vì không thân và ở cách xa nhau!

Sau bữa ăn tối định mệnh (đã an-bài) đó, tôi và nàng liên lạc gọi phôn, chát trên sờ-kai-pê càng ngày càng lâu, thường xuyên hơn. Nàng coi tôi như một cái thùng Rì-sai-cồ, có nơi (đổ rác) kể lể những chuyện đau buồn, khổ sở, không hạnh phúc… với người chồng cũ!

Tôi hiểu tâm trạng Thúy-Hằng nên an ủi nàng, rồi chẳng hiểu ma đưa lối, quỉ dẫn đường, tôi yêu nàng lúc nào không hay! Sau hơn 4 tháng tâm sự (loài cua biển) chán chê, chúng tôi hẹn gặp nhau đi ăn tối (lại ăn tối)rồi đi coi phim, tức là là đi coi hát bóng!

Bữa đó nhằm tối chủ nhật, ăn xong tụi tôi vào rạp AMC ở Eastridge, San Hố-Dề. Chắc nhằm ngày lành, tháng tốt nên rạp vắng vẻ, có đâu chừng 7-8 cặp ngồi rải rác! Tụi tôi chọn hàng ghế trên cùng, không có ai. Ở hàng ghế đó ta có thể thấy địch mà địch sẽ không thấy ta!!! (nếu không quay đầu lại).

  Hai đứa tôi ngồi sát bên nhau! Chẳng hiểu có phải do 2 ly bồ đào tửu (Red Wine) uống trong bữa ăn với nàng hay do mùi nước bông thơm ngọt như đường mía lau của Thúy-Hằng mà khi đèn vừa tắt chừng 10 phút, màn ảnh còn đang chiếu quảng cáo, tôi bạo dạn choàng tay qua ôm vai nàng, ghé sát tai nàng thì thầm:

– Anh thích mùi nước bông em dùng ghê!.

Thúy-Hằng chẳng những không phản đối mà còn quay mặt qua phía tôi cười nhẹ:

– Vậy mai mốt đi với anh, em sẽ xài loại này!

   Mèng ơi! Nghe câu nói ngọt như đường cát, mát như đường phèn của nàng mà tôi sướng đến run rẩy cả người! Hai khuôn mặt kề sát nhau khiến tôi cầm lòng không đặng, thế là chúng tôi mi nhau!!!

Sau bữa đi coi phinh mùi mẫn đó, Thúy-Hằng đề nghị tôi dọn về ở chung với nàng để… chia tiền nhà, tiền điện nước, tiền rác… Tôi xin nàng một tuần lễ để… “động-não”suy tính hơn thiệt!!!

Sau mấy ngày suy nghĩ đến mất ngủ (đêm năm canh chỉ ngủ có canh đầu, bốn canh sau buồn rầu nên ngủ quên!), tôi đồng ý dọn về ở chung với nàng! Sở dĩ tôi nói suy nghĩ vì(bản-tính) tôi là một thằng thích tự do, phải so sánh cái được (lợi), cái mất (hại) khi ở chung với nhau! Cuối cùng, thấy cái được nhỉnh hơn cái mất chút đỉnh nên tôi Ô-kê Sa-Lem!!!

Nhưng cuộc đời không hề đơn giản như đang giỡn, mà vô cùng phức tạp, rắc rối, rắc rối to, rắc rối lớn là khác! Nói rắc rối và phức tạp, vì chưa ở chung thì không thấy! Ở chung rồi, thì mới có những cái pra-bờ-lầm mà cho dù là có tài tiên đoán như Khổng-Minh, có tái thế cũng không có cách chi thấy trước đặng!!!

Như vừa nói ở trên, tôi là thằng thích tự do! Bởi thích tự do nên khi sống mình ên, tôi không sắm sửa nhiều đồ đạc làm chi, tôi lại luôn có phương châm sống, học được sau hơn 6 năm sống dưới chế độ Cộng-Sản Việt-Nam: – “Tăng thu, giảm chi! Tích-cực cầm nhầm!!!”.

    Bởi vậy, bữa sáng tôi dọn đồ đạc về ở với Thúy-Hằng, nàng đã ngạc nhiên tột cùng khi tôi đến bấm chuông cửa nhà, chỉ xách theo có một cái va-li. Nàng nhìn tôi, ngơ ngác!

   – Anh không có đồ đạc gì sao?

Tôi chỉ cái va-li:

– Đây nè! Em không thấy sao?

Thúy-Hằng ngập ngừng:

– Ý em nói là… bàn ghế, đồ trang-trí…“nội-thất“…giường, tủ, sách, báo…

Tôi lắc đầu:

– Không! Anh hay di chuyển đổi chổ ở, nên không sắm gì cả! Còn đồ “nội-thất” toàn của chủ nhà cho thuê!!!

Đến đây cần phải nói rõ thêm. Thời gian đó tôi đang “se phòng” chủ nhà có giao hẹn không được dẫn bạn gái về nên tôi chưa bao giờ hẹn nàng chỗ mình ở! Chúng tôi chỉ hẹn hò, gặp gỡ nhau ở nhà nàng. Sau khi ly-dị, Thúy-Hắng thuê được một áp-pạc-tơ-măng 2 phòng ngủ khang trang ở khu Willow Glen với giá (tình- cảm) khá rẻ, chỉ bằng nửa giá thị trường, của người chị là Bờ-rốc-cờ, có nhiều apartment cho thuê!

  Thúy-Hằng có vẻ suy nghĩ nhưng không nói gì thêm, lẳng lặng dẫn tôi lên phòng ngủ, xếp quần áo của tôi trong cái va li vào chung tủ của nàng!

    Buổi chiều hôm đó, ăn cơm xong, Thúy-Hằng rủ tôi ra quán cà phê Gót Hồng ở đường Tully uống nước, tâm sự! Gọi là tâm sư cho văn vẻ chứ thật ra tôi biết ý nàng muốn nói đến chuyện… “Tiền là tiền nhiều khi không …mà có, tiền là tiền nhiều lúc có… như không…” Đúng như tôi đoán, sau khi”xử-lý, dứt-điểm!” một ly sâm bổ lượng Thúy-Hằng nói:

     – Anh về ở với em, mỗi tháng anh nên phụ em (chút đỉnh) chuyện tài chính! Tôi mỉm cười, không biết cái chút đỉnh của nàng định nói là bao nhiêu?

     – Đương nhiên rồi! Trước đây anh “se phòng” bao nhiêu thì bây giờ anh đưa em bấy nhiêu, cộng thêm tiền chơ nữa!!!

Thúy-Hằng cầm tay tôi:

     – Tiền chợ anh không cần đưa! Anh đi làm trễ, em nhờ anh đưa con gái em đến trường, thay vì thuê người chở cũng tốn kém. Anh giữ tiền đó đổ xăng, đưa đón con gái em đi học! Mọi chi tiêu khác như đi coi phim, ăn nhà hàng, du lịch… mình chai hia! Thúy-Hằng tính toán quá ư hơp lý, hợp tình, hợp đạo nghĩa (góp gạo thổi cơm chung). Tôi đồng ý cái rụp!!!

 Vấn đề gai góc nhất đã được đôi bên

“chủ-động” thỏa thuận êm đẹp, thoải mái, thân thiện, thắm đượm tình đồng-chí, đồng-sàng! Tuy nhiên chỉ ít ngày sau, vài sự cố”nổi cộm” khác mới bị “phát-hiện” mà phải động não cực mới “phát-kiến” giải quyết được vấn đề! Cái sự cố “nổi cộm” đầu tiên là do tôi “sở-hữu” một tật ngáy, ít người có! Thật ra công tâm mà nói, tôi ngáy không lớn lắm, chỉ như là… gọi đò sang sông thôi! Thời gian đầu còn vui vì lửa mới bén, củi, rơm còn đang cháy đỏ… kêu lách tách, Thúy-Hằng không nghe tôi ngáy, nhưng chỉ ít lâu sau nàng trở nên mất ngủ vì tiếng ngáy của tôi!!! Nhiều đêm khoảng 2-3 giờ sáng, bị đánh thức bởi tiếng gọi đò của tôi, không ngủ lại được, nàng đành ôm mền gối ra sa lông ngủ, tôi không biết. Sáng nàng dậy trước, đi làm trước nên tôi không “phát-hiện” được vấn đề!!!

Cho đến một hôm, có lẽ “bức-xúc” quá chịu không nổi, Thúy-Hằng đem chuyện ngáy của tôi ra đấu tố, bắt tôi phải đấu tranh tư tưởng với thế lực phản động chủ tâm phá hoại giấc ngủ (hòa-bình) của nàng! Sau khi trình bày, lật tới, lật lui, lật xuôi, lật ngược…, dùng ánh sáng Mác-Lê soi rọi vào tất cả các vùng kín, vùng sâu, vùng xa của vấn đề, tôi thành khẩn nhận khuyết điểm! Tôi cam kết sẽ không phá rối giấc ngủ của Thúy-Hằng bằng cách… sẽ ra ngủ riêng ở sa lông trừ khi… nàng cho vời!!!

Vấn đề thứ hai là chuyện đưa đón con gái của Thúy-Hằng đi học. Con bé tên Mimi, 15 tuổi, xinh đẹp, thông minh, học giỏi; nhưng có tật ngủ dậy trễ! Thường 8:15g sáng vào học, từ nhà đến trường mất khoảng 15-20 phút, nếu không bị “ùn-tắc” giao thông! Tôi thường chở nó ra khỏi nhà vào lúc 7:45g. Thúy-Hằng dặn đánh thức con bé vào lúc 7:15, cho nó 30 phút sửa soạn vệ sinh cá nhân, làm thức ăn sáng mang theo! Mấy ngày đầu Mimi còn, đúng giờ! Nhưng không hiểu sao chỉ được chừng hơn tuần lễ con bé trở chứng, gọi dậy lúc 7:15g thì phải 20 phút sau nó mới ra khỏi phòng!!! Thành ra bữa nào tới trường, nó cũng vội vã; để rồi quên mang thức ăn sáng theo!!!

  Tôi không phải Bố nó nên không biết giải quyết làm sao? Đem chuyện nói với Thúy-Hằng, nàng nói tôi làm sẵn thức ăn sáng cho nó. Khổ một điều là buổi tối hỏi nó ăn gì để tôi biết mà chuẩn bị, nhưng nhiều lúc tôi cũng quên, nên nhiều khi tôi cứ làm bánh mì kẹp thịt, chả lụa… theo ý mình!

Cho đến môt hôm tôi được nghỉ làm, đi đón Mimi, về đến nhà nó quăng cái backpack lên ghế salon rồi đi vào phòng riêng. Tôi ngồi xuống bên cạnh, chợt ngửi thấy mùi thum thủm, chua chua…, nhìn quanh không thấy gì lạ tôi bèn ghé mũi vào cái cặp đeo lưng của Mimi mới “phát-hiện”cái mùi khó ngửi phát ra từ đó!

 Tôi gọi Mimi ra, nói nó mở ra để xem cái gì bên trong mà bốc mùi như vậy? Hóa ra đó là mấy phần ăn sáng mà nó không ăn nhưng không vứt đi, để lâu quá, lại có cà rốt ngâm dấm nên bốc mùi dữ-dội!!!

Làm sạch, khử mùi cái backpack cho Mimi xong, tôi nói với nó là sẽ không làm thức ăn sáng cho nó nữa, con bé đồng ý!

Cái “nổi cộm” thứ ba cũng ác liệt không kém, nhưng không nằm nơi tôi mà ở Thúy-Hằng, đó là “bệnh hay quên”! Bệnh hay quên của Thúy-Hằng không dính dáng gì đến bệnh Đề-men-ti-a hay An-dờ-hai-mơ hết! Bởi nàng chỉ quên những lúc… cần nhớ nhất như… trả tiền khi đi chợ, sóp-ping, biu điện-thoại…

Tiền nhà, điện nước (cũng may) nàng để cho nhà băng chạc thẳng vào ờ-cao, nên tôi không thắc mắc chi cho lắm! Cái nổi cộm này làm cho tôi khá nhức đầu, mỗi lần đi chợ mua thức ăn, đẩy xe ra tính tiền, khi vừa đến lúc trả tiền là thế nào nàng cũng nói quên một hai thứ để chạy vào trong lấy! Không thể chờ được, nên tôi đành phải móc thẻ nhà băng ra cà! Lúc trở ra, thấy tôi đã đẩy xe ra ngoài, Thúy-Hằng cười hồn nhiên:

     – Ủa? Anh trả tiền rồi hả? Lát về nhà em đưa lại!

   Nhưng cái “lát về” đó chưa bao giờ xẩy ra! Nghĩ tiền chợ không bao nhiêu, nhiều lắm chừng 300 Du Ét Đi mỗi tháng nên tôi cũng(ráng nhịn) không kêu ca gì, coi như… cúng(cô-hồn) rằm tháng bẩy thôi1 Hơn nữa, thỉnh thoảng Thúy-Hằng cũng dành trả tiền tụi tôi đi coi phim, ăn kem, ăn nhà hàng hay đi chơi xa mà không đòi chai hia!!!

Tôi cứ để như thế hơn 2 năm, 7 tháng không nói gì! Cho đến một ngày kia thấy Thúy-Hằng làm quá, chịu hết nổi tôi đành phải đem chuyện “lát về” ra nói. Thúy- Hằng tròn mắt:

     – Ủa? Em cứ tưởng có trả anh lại rồi chứ!

   Nhìn cặp mắt bồ câu, con đậu con bay, ngây thơ vô (số) tội của Thúy-Hằng, tôi cười:

     – Em mới 50 tuổi, chứ có phải 80 đâu mà dễ tưởng vậy?

Thúy-Hằng không nói gì, yên lặng nhìn tôi cả phút đồng hồ rồi bất chợt đứng lên, vào trong phòng ngủ lấy ra một cái hộp hình chữ nhật cỡ khoảng 3 bao thuốc 555 gói giấy vàng, cột nơ thật đẹp và một cái bao thơ lớn, dầy cộm, màu vàng, loại dùng để gửi những bưu kiện nhỏ, đặt xuống trước mặt tôi. Thấy tôi đưa mắt dò hỏi, Thúy-Hằng mỉm cười, trút trong bao thơ ra mấy xấp biu đi chợ, mua hàng được bấm dính với nhau bằng Tắc-cơ. Tôi ngạc nhiên nhìn:

     – Biu gì vậy?

     – Biu anh trả tiền chơ, điện thoại, sóp-ping… chứ biu gì? Em giữ lại hết ở đây, cộng lại, tất cả gần 4 ngàn đô la! Em dùng số tiền đó, mua cho anh cái đồng hồ Omega Speedmaster Professional Moonwatch làm quà sinh nhật cho anh ngày mai. Anh có thể mở ra coi bây giờ!!!

  Tôi cảm động nhìn Thúy-Hằng ngẩn ngơ, không biết nói gì! Hóa ra nàng cố ý không trả lại tiền chợ cho tôi cũng có mục đích!!!

 Từ ngày về chung sống với nhau, thông thường tới sinh nhật của nàng hay tôi, chúng tôi rất ít khi tổ chức, chỉ rủ vài người bạn đi ăn tối cho vui tại một nhà hàng nào đó, cũng không nói trước lý do, sợ họ mua quà tặng thì lại phiền! Chúng tôi chỉ tặng nhau những món quà như sợi dây chuyền nhỏ, cái vòng cẩm thạch, cái cà vạt, chiếc áo pull-over…, những món quà chưa bao giờ có giá trị tới 100 Du-Ét Đi!!!

Hai đứa tôi ngồi yên lặng nhìn nhau đến mấy phút, tôi nắm tay nàng kéo qua ngồi cạnh rồi mới mở chiếc hộp ra! Cầm chiếc đồng hồ luxury đẹp và sang đeo vào tay, thật vừa vặn, vừa như hai cái rổ rách được cặp lại thật khít khao như rổ mới!!!

Tụi tôi ở với nhau tới giờ đã được 15 năm. Con gái nàng đã ra trường, đi làm ở riêng, tụi tôi mỗi đứa một phòng! tối ngủ đóng cửa nên tôi có ngáy cỡ nào Thúy- Hằng cũng chẳng nghe!!!

Tụi tôi đã dùng chung Ờ-Cao, in-côm hai đứa đổ chung vào một mối, không còn so đo, thắc mắc chia hai, hay chai hia nữa! Bởi tôi và nàng đều nhận thấy tiền bạc lúc về già cũng chẳng còn ý nghĩa gì nhiều, không có đủ để sống thì cũng khổ! Nhưng tình cảm quan trọng hơn nhiều!!!

Tuổi già, người ta cần sự thương yêu, chăm sóc cho nhau đến khi xuôi sáu tấm nhiều hơn là tiền bạc, nếu không thiếu thốn thì đừng quan tâm đến nó, cũng đừng nghĩ đến chuyện để dành cho con cái. Chúng nó có đời sống riêng và cũng không cần đến tiền bạc của Cha Mẹ để lại.

Do đó. tôi mới gọi mối tình của tôi và Thúy-Hằng là tình cuối! Nếu một trong hai người ra đi trước, người còn lại chắc cũng khó mà kiếm được cái rổ nào có thể cặp lại với mình! Bởi vì nó đã tả-tơi quá cỡ thợ mộc rồi, khó lòng mà cặp lại được!!!

                      9-2014

   Tác-giả bài viết: Thạch-Đạt-Lang