Lời ly biệt của cậu bé 11 tuổi sau quyết định hiến tạng: ‘Con đã sẵn sàng lên Thiên đường’

Lời ly biệt của cậu bé 11 tuổi sau quyết định hiến tạng: ‘Con đã sẵn sàng lên Thiên đường’

“Con đã sẵn sàng lên Thiên đường” là câu ly biệt cuối cùng Luca, 11 tuổi nói với cha mẹ mình trước khi nhắm mắt qua đời một cách thanh thản dù bị bạo bệnh hành hạ. Em đã sống một cuộc đời có ý nghĩa…

Cậu bé có trái tim lương thiện và cuộc đời ý nghĩa, Luca

Cậu bé Luca Pucella qua đời, một tháng sau khi trải qua cơn động kinh đau đớn do hội chứng hiếm gặp Rohhad. ROHHAD – là viết tắt của hội chứng béo phì khởi phát nhanh, rối loạn chức năng tuyến giáp và rối loạn tự chủ. Hiện nay, theo thống kê trên toàn thế giới đã có 75 người mắc chứng bệnh này. Đây là nguyên nhân gây ra hàng loạt các vấn đề sức khỏe của Luca, như ngưng hô hấp và tim ngừng đập, điều này đã xảy ra lặp đi lặp lại nhiều lần với Luca.

Luca bé nhỏ đã yên giấc trong chiếc quan tài cầu vồng đúng như di nguyện của em.

Tại Bridgend, xứ Wales, bên trong chiếc quan tài được trang trí hình cầu vồng theo đúng nguyện ước. Hàng trăm người đã tới tham dự lễ tang của em, bao gồm bạn bè, ông già Noel và các chuyên gia chăm sóc y tế, tất cả mọi người đều đến bên cạnh em. Cảnh sát vùng phía Nam xứ Wales đã hộ tống đám tang đến nhà thờ địa phương, nơi những người đại diện của tổ chức từ thiện tới để nói lời tạm biệt với cậu bé.

Theo thông tin từ Wales Online, các cơ quan nội tạng của Luca đã được hiến tặng và cứu sống 3 mạng người khác, trong đó có một đứa trẻ.

Mục sư Mike Komor xúc động nói rằng:“Cậu bé có một niềm say mê to lớn với cuộc sống, một ý chí quyết đoán và một tính cách lém lỉnh. Đó cũng là lý do tại sao chúng tôi nhân cơ hội này kỷ niệm cuộc đời Luca, mọi thứ về buổi lễ khiến nó trở nên đặc biệt và mọi thứ về Luca làm cậu bé trở nên tuyệt vời”,ông nói.

Luca bên cha mẹ và em gái

Ông Komor thay lời đọc bài diễn văn của cha mẹ Luca:

“Luca, cha mẹ đã có rất nhiều niềm vui và con là người anh tốt nhất của Sofia. Chúng ta đã phải học cách chia sẻ thời gian bên con cùng với những nhân viên chăm sóc, y tá, bác sỹ, giáo viên và nhiều người khác nữa. Tất cả họ đều đã trở thành một phần của gia đình chúng ta. Con là trung tâm của sự chú ý, lấp đầy niềm vui của bố mẹ bằng những kỷ niệm hạnh phúc.

Tình yêu trong con là vô vàn để san sẻ, Luca.

Cha mẹ vẫn luôn nói rằng con là một cậu bé đặc biệt và tình yêu của con chắc chắn đã phát sáng đến từng lỗ chân lông trên thân thể con. Con đã có nhiều cách để thể hiện tình yêu ấy, đó là khi con ôm tất cả mọi người, cách con vuốt ve chú chó nhỏ khi nó ngang qua và dừng lại hỏi thăm một người vô gia cư nào đó trên đường. Con thật sự là một cậu bé lương thiện và dễ mến”.

Sau khi đọc xong lá thư của bố mẹ viết cho Luca, mục sư Mike Komor xúc động nói:

“Bên cạnh mong ước được giúp đỡ người khác cho đến tận khi qua đời, Luca đã sống một cuộc sống như mong muốn – cậu bé nắm bắt mọi cơ hội le lói mà cuộc sống ban tặng bằng cả đôi tay mình và chắt chiu mọi hy vọng nhỏ nhoi từ đó.

Những vòng hoa tiễn Luca đến Thiên đường

Nhiều người đều biết rằng, Luca đã lớn lên theo đức tin Kito giáo tại chính nhà thờ này. Cậu bé có một đức tin mạnh mẽ và đã bày tỏ về nó nhiều lần, Luca đã thật sự sẵn sàng để lên Thiên đường.

Điều này đem lại cho chúng tôi một niềm tin chắc chắn rằng, giờ đây Luca đã được giải thoát khỏi những đau đớn và con đã thanh thản”.

Ông Komor tiếp tục:

Cuộc đời của một người có thật sự đáng sống hay không, không phụ thuộc vào độ dài ngắn anh ta tồn tại trên cõi đời này. Câu chuyện của Luca chính là minh chứng cho điều đó, một cuộc sống đáng tự hào, đầy tình yêu thương và sự dũng cảm, dù nó chỉ kéo dài vỏn vẹn 11 năm. Và sau tất cả, cậu bé “đã sẵn sàng để lên Thiên đường”…

Ý nghĩa, hạnh phúc và giá trị của một đời người không nằm ở thời gian chúng ta đã sống và đã làm được gì cho bản thân mình. Mà chính là trong những năm tháng ngắn ngủi, dù ít ỏi nhưng hạnh phúc lại chính là sống hết mình vì người khác và vì những yêu thương. Trải qua hàng ngàn hàng vạn kiếp sống trên thế gian, người ta đều hiểu rằng, điều duy nhất có thể lưu giữ lại trên cõi đời này chính là cho đi chứ không phải nhận về cho riêng mình…

Nguồn ảnh: Wales Online/Peter Bolter WS

Anh Lân

From: Kristie Phan & Lucie 1937 gởi

Cụ Bá ngồi chễm chệ trên chiếc ghế được dát vàng, chạm tinh sảo…

Tăng Bui‘s post.
Cụ Bá ngồi chễm chệ trên chiếc ghế được dát vàng, chạm tinh sảo, hai đầu RỒNG ở tay ghế nhìn có vẻ uy nghi, Bộ da Hổ lót ghế thay nệm càng tăng thêm vẻ uy nghi.

Cụ Bá lim dim mắt từ từ quét qua lần lượt các Lý. Bỗng cụ đập bàn chát một cái. Tao đã nuôi chúng mày một cách tuyệt đối, lương bổng không thiếu thứ gì. Vậy tại sao chúng mày làm việc không như tao mong muốn?

Quyền lực trong tay, công cụ bạo lực trong tay, vậy tại sao chúng mày vẫn không bịt miệng được cái đám Dân đen? Tao muốn: giết nhầm hơn bỏ sót!

Không ai bắt nhịp, chẳng ai hô; nhưng lạ thay tất cả bọn chúng đều đồng thanh “Đội ơn Cụ, chúng con đã hiểu”.

Băng đảng này còn thì chúng mày còn cơ hội sống cuộc sống Vương giả: Biệt thự khắp nơi trên thế giới, siêu xe, du thuyền muốn gì đều có. Vậy mà chúng mày không ai lo đại cuộc.đứa nào cũng lo lợi ích riêng. Vậy rồi chúng ta sẽ về đâu? Tao nhắc lại: mất băng đảng là chúng ta mất tất cả.

Tao cũng không muốn đem chúng mày ra xử làm gì; tao cũng đau chứ khi phải xử thuộc hạ. Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay cũng cần phải xử điển hình để an Dân. 

Thôi thì ta cho quay vòng quay không kỳ diệu (1/101), nghĩa là trong 101 con số đó chỉ có 01 con số tử, kẻ nào quay đúng thì phải chịu.

‘Hãy để cha con sống những tháng ngày cuối cùng như mong muốn’

From:   Honolulu Nguyen‘s post.
 ‘Hãy để cha con sống những tháng ngày cuối cùng như mong muốn’

Tình yêu của cha mẹ giống như mảnh đất phì nhiêu thầm lặng, không cần hương hoa để tô vẽ, cũng không cần phải thể hiện ra ngoài. Mảnh đất ấy chỉ lặng lẽ, âm thầm, nhưng lại dưỡng thành nên thứ tình yêu vĩnh cửu.

Hôm cha tôi được bác sĩ chẩn đoán ung thư phổi, mẹ không hề tỏ ra quá đau thương. Bà chỉ ngẩn người ra một lúc rồi nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt trên khoé mi. Cha cũng rất bình tĩnh, sau khi trao đổi với bác sĩ về quá trình hoá trị và kết quả sau hoá trị, cha đã nhốt mình trong phòng một ngày. Sau đó ông tuyên bố sẽ không hoá trị. Cả tôi và vợ đều gắng sức khuyên nhủ cha nhưng mẹ lại không nói lời nào, bà chỉ lặng lẽ gắp thức ăn cho ông.

Cha tôi có bảo hiểm y tế, chi phí trị liệu gia đình hoàn toàn có thể gánh vác được, nhưng ông vẫn kiên quyết không đồng ý. Cha nói có trị liệu thì thời gian kéo dài thọ mệnh cũng chỉ được tính bằng tháng bằng ngày, cha không muốn những ngày còn lại của đời mình bị nhốt trong bốn bức tường bệnh viện, ở đó hết lần này lần khác chịu đựng những đớn đau của các đợt hóa trị. Cha muốn những ngày cuối cùng sẽ được sống cuộc đời mà cha mong muốn.

Mẹ im lặng hồi lâu rồi nói:“Để cha mẹ về quê đi, cha con luôn thích được về quê sinh sống”. Sau khi kết hôn tôi đã đón cha mẹ lên thành phố sống cùng chúng tôi. Nhưng cha mẹ vẫn thường xuyên nhớ về thôn quê, ra khỏi cửa là có thể ngắm cảnh ruộng đồng sông nước, cha không thích cuộc sống nơi thành phố chật chội và ngột ngạt này.
Cha mẹ vẫn thường xuyên nhớ về thôn quê.

Sang ngày thứ ba, tôi và vợ đưa cha mẹ về quê, và quả thật cha mẹ đã được sống những tháng ngày vui vẻ. Khu vườn bỏ hoang lâu ngày được cha làm lại, cha ra chợ mua rất nhiều loại hoa về trồng, hoa hồng, hoa cúc, hoa lan đủ cả, cha thậm chí còn mua hẳn một xe ba gác về nhà để trồng. Cứ cuối tuần vợ chồng tôi lại về thăm cha mẹ, thấy khu vườn nhỏ mỗi lần về mỗi khác, ngày càng tươi đẹp hơn.
Dáng cha hao gầy ốm yếu nhưng luôn chân luôn tay ngoài vườn làm lụng, mẹ thì phụ cha tưới nước chăm cây. Tôi khuyên mẹ:“Sức khỏe cha con không tốt, mẹ khuyên cha đừng bận tâm mấy việc này nữa”.Mẹ nói rằng khuyên không được:“Con xem, cha con làm có vui vẻ không kìa, cứ kệ cho cha con làm”.

Trước khi về hưu mẹ là giáo viên dạy môn sinh vật, cả một đời bà chỉ yêu hoa. Cha nói nhỏ với tôi:“Đây đều là những loại hoa mẹ con thích nhất, mẹ con luôn mơ ước có một khu vườn như thế này. Nhưng khi cha còn trẻ thì vì quá bận rộn, cha lại cho rằng thời gian còn dài nên cứ lần lữa khất lần khất lượt, cuối cùng ngoảnh đầu lại thì đã mấy chục năm rồi, giờ nếu không nhanh thì e rằng không còn kịp nữa”. Hoá ra tâm nguyện của mẹ mấy chục năm qua cha vẫn nhớ trong lòng.

Trong bữa ăn, tôi thấy cha thích ăn thứ gì thì mẹ đều làm cho cha ăn, không hề vì bệnh tật mà kiêng khem.

Lúc sắp đi, tôi hỏi cha mẹ có muốn đi cùng tôi không, nhưng cả hai đều từ chối. Cha nói với tôi rằng:“Con trai à, cha đã đi cùng con gần nửa đời người, cũng đã đến lúc phải biết đủ rồi. Mẹ con đã ở với cha gần cả cuộc đời vất vả lo toan, cha muốn dành chút thời gian ngắn ngủi sống với mẹ con những ngày tháng vui vẻ, cha mẹ sống ở đây rất tốt”.Cha chọn những ngày sau cùng của cuộc đời mình để ở riêng bên mẹ.

Mỗi cuối tuần tôi và vợ đều về thăm cha mẹ, nhưng có một lần mẹ gọi điện kêu tôi không cần về nữa, vì cha mẹ vắng nhà. Sau đó tôi nói chuyện với cô ba thì được biết cha mẹ đi du lịch 8 ngày, vì sợ con cái lo lắng nên đã giấu vợ chồng tôi.

Tôi khẽ trách cha chủ quan với sức khỏe bản thân mình, và trách mẹ quá chiều cha. Sau đó mẹ nói với tôi:“Ngày tháng không còn dài, chúng ta nên tôn trọng ý kiến của cha con, để cha con được làm những điều mình thích. Đời người trước sau đều phải chết, nếu như có thể làm được những điều không để lại tiếc nuối vậy thì hoàn mỹ rồi”. Nghe xong tôi không thể nói được lời nào thêm nữa…
… nếu như có thể làm được những điều không để lại tiếc nuối vậy thì hoàn mỹ rồi. 
Sau khi cha mẹ trở về, sang tuần thứ hai, bệnh tình của cha chuyển biến thêm nặng. Lần này tôi tôn trọng ý kiến của cha, không đưa ông đến bệnh viện. Cha ở lại nhà và được mẹ và vợ chồng tôi chăm sóc chu đáo cho đến khi ông nhẹ nhàng nhắm mắt. Lúc sắp đi, cha khe khẽ gọi một tiếng tên mẹ, mẹ đưa tay cho cha, hai người nắm chặt tay nhau đến khi cha qua đời.

Trong đám tang, mẹ nhẹ nhàng quan sát mọi việc, tuy có đau buồn nhưng không hề mất đi sự kiểm soát, có lúc bà còn dùng đôi tay gầy yếu của mình vỗ vào đôi bờ vai đang run rẩy của tôi:“Con trai, đừng khóc nữa, cha con đi rồi, đến một thế giới mà ở đó sẽ không còn bệnh tật nữa”.

Tang lễ kết thúc, mọi người ra về hết nhưng mẹ vẫn không chịu về, mẹ để chúng tôi về trước:“Các con về đi, mẹ muốn ở lại đây với cha con thêm một lúc nữa, dưới lòng đất tối đen kia chắc cha con cô đơn lắm”.

Sau khi cha mất, mẹ đi du lịch khắp nơi, trong khoảng thời gian ngắn ngủi nửa năm mẹ đã đi rất nhiều nơi như đảo Hải Nam, Tây Hồ, Vịnh Hạ Long, Yên Tử,…

Khi về nhà thăm mẹ, tôi được mẹ cho xem những bức ảnh chụp khi đi du lịch. Tôi thấy ảnh chụp trên một ngọn đồi, tuy sức khỏe cha rất yếu nhưng thần thái và sắc mặt luôn thể hiện sự mãn nguyện, cha ôm mẹ vào lòng đứng bên bờ sông ngắm cảnh. Tôi còn nhìn thấy những bức ảnh sau này mẹ đi du lịch một mình, trên tay mẹ đều cầm bức ảnh chụp chung hai người. Mẹ nói rằng đó đều là những nơi mà khi còn sống cha muốn đi mà chưa đi được, mẹ giúp cha đi tiếp cuộc hành trình.

Tới lúc này, lần đầu tiên trong đời tôi mới cảm nhận được tình yêu sâu đậm của cha và mẹ dành cho nhau.

Mẹ nói:“Mỗi lần thấy những người cầu sống không được mà cầu chết cũng không xong, mẹ thấy may mắn vì lúc trước không để cha con phải chịu khổ. Mẹ hiểu cha con, cả một đời điều quan trọng nhất với ông ấy chính là sự tự tôn, cha con không sợ chết, chỉ sợ chết không có thể diện. Cha con mất đi, người tổn thương nhất chính là mẹ, nhưng mẹ thà rằng nhìn thấy cha con vui vẻ ra đi còn hơn thấy ông ấy ở lại mà chịu khổ trong lòng. Mẹ tin rằng nếu đổi lại là mẹ thì cha con cũng sẽ làm như vậy”.

Mẹ còn nói:“Mỗi người cuối cùng đều phải ra đi, như trăm sông đều phải đổ về biển lớn, mẹ bằng lòng cho cha con vui vẻ ra đi, đến nơi đó trước chờ đợi mẹ”.

Tình yêu của cha mẹ giống như một mảnh đất phì nhiêu thầm lặng, không cần hương hoa để tô vẽ, cũng không cần sự biểu hiện hời hợt bề ngoài. Ngược lại, tình yêu đó lại khiến con người có được cảm giác an toàn đáng tin cậy, nó cũng là nền tảng thiết thực nhất mà mỗi một con người đều cần đến trong kiếp nhân sinh…

Minh Vũ biên dịch

Chuột Cắn Khố Rách

ChuotCanKhoRach
 
 

“Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một đạo sư. Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa nên dặn học trò ở lại chăm lo tu hành.

Học trò nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ, Vì nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc mỗi một miếng khố che thân. Nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác.

Dân làng thấy vậy, bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột. Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa, nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn.Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo.

Một tín đồ thấy vậy bèn tình nguyện dâng cúng tu sĩ một con bò cái để có sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con bò nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho bò ăn. Do đó, ngoài thức ăn khất thực, tu sĩ lại phải đi xin rơm về nuôi bò.

Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng trọt, nuôi bò. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, bò ăn không hết, phải mang bán ngoài chợ.

Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể, phải gọi người đến làng giúp Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng gì cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú.

Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp đẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại, nhưng thời gian tu hành không còn là bao vì tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa, rồi có tiền bạc phải lo đầu tư, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa.

Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán.

Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ ôn tồn hỏi tại sao lại có sự thay đổi như thế Tu sĩ trả lời, ‘thưa thầy, thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi bò, và để có rau nuôi bò, con phải canh tác. Rồi thì trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp, rồi thì buôn bán thành công, tiền bạc nhiều thêm, con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con còn mướn người lo việc cúng tế, nhang đèn cẩn thận’.

Sư phụ thở dài,

“Xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát !
Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp, chỉ gây trở ngại cho việc thanh tu !
Chỉ vì một cái khố rách mà con đã đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đã chỉ dạy nhằm việc giải thoát.
Con chỉ lầm lẫn một chút mà đã đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ đó rồi làm sao có thể thoát được ?”

Chỉ vì một sự việc rất nhỏ mà đôi khi nó sẽ dấn đến những sự việc lớn bất ngờ mà chính bản thân ta cũng không ngờ tới. 

THẦY PHONG-THUỶ ĐÃ CHỈ RA CÁI “PHONG-THUỶ” TỐT NHẤT ĐỜI NGƯỜI. AI CŨNG NÊN BIẾT! ĐỂ TẬN-DỤNG!!!

From:  Kimtrong Lam

THẦY PHONG-THUỶ ĐÃ CHỈ RA CÁI “PHONG-THUỶ” TỐT NHẤT ĐỜI NGƯỜI.
AI CŨNG NÊN BIẾT! ĐỂ TẬN-DỤNG!!!

Câu chuyện thú-vị và thâm-thúy này đã được rất nhiều người Trung-Quốc chuyền tay nhau, chia sẻ cho nhau như cách để truyền cảm hứng, chỉ bảo nhau khai thác thật triệt để cái gọi là “PHONG-THUỶ tốt” ở mỗi người!!!

Nội-dung câu chuyện như sau:

Triệu-Tử-Hào làm ăn kinh doanh rất phát đạt! Anh quyết định mua một mảnh đất rộng ở ngoại ô, xây một biệt thự ba tầng, bên trong có vườn hoa cây cảnh ao cá, kết hợp rất đẹp mắt!!!

Đằng sau vườn còn có một cây vải cổ thụ trăm tuổi. Sở dĩ vì nhắm đến cây vải mà Triệu mới mua mảnh đất này, nguyên nhân là bởi vợ anh thích ăn vải!
Trong thời gian sửa sang nhà cửa, bạn bè khuyên anh tìm một thầy PHONG-THUỶ về xem giúp để tránh phạm phải những điều kiêng kỵ!
Triệu-Tử-Hào tự lái xe đến Hồng-Kông mời một đại sư. Vị đại sư này họ Tào, đã có hơn 30 năm kinh nghiệm, rất có tiếng trong giới phong thủy!
Sau khi trình bày mọi chuyện, Triệu-Tử-Hào lái xe đưa thầy phong thủy về biệt thự nhà mình!

Trên đường đi, gặp bất cứ xe nào muốn vượt, anh đều nhường!
Vị đại sư cười nói: “Ông chủ Triệu lái xe thật chậm rãi!”. Triệu-Tử-Hào cười lớn, đáp: “Những người vượt phần lớn đều là đang có chuyện gấp, không nên cản trở, làm mất thời gian của họ!”.
Xe về đến thị trấn, một đứa trẻ đang vừa cười vừa từ trong ngõ nhỏ chạy thẳng ra đường.

Triệu-Tử-Hào vội phanh xe tránh, đứa trẻ cười tít mắt chạy qua rồi, anh vẫn chưa nhấn ga đi tiếp mà ngó vào trong ngõ, dường như đang đợi điều gì! Một lát sau, lại có một đứa trẻ khác chạy ra, đuổi theo đứa trẻ lúc trước đã đi khá xa!!!
Tào đại sư ngạc nhiên hỏi: “Sao anh biết phía sau vẫn còn một đứa trẻ nữa?”.
Triệu nhún vai: “Trẻ nhỏ đều thích chơi trò đuổi bắt, nếu chỉ chơi một mình, đứa trẻ chẳng thể cười vui như thế được!”.

Vị đại sư giơ ngón tay cái ra trước mặt khách hàng của mình, tỏ ý tán dương:”Có tâm!”.

Đến biệt thự, vừa xuống xe, vài con chim bất giác bay từ sân sau ra phía trước. Nhìn thấy vậy, Triệu-Tử-Hào liền dừng xe trước cổng và nói với thầy phong thủy: “Phiền đại sự đợi ở đây một lát!”.
“Có chuyện gì vậy?” – vị đại sư lại một lần nữa ngạc nhiên!
“Sau vườn chắc chắn là có trẻ con đang hái trộm vải, bây giờ mà chúng ta vào, chúng sẽ hoảng sợ, không may rơi từ trên cây xuống đất sẽ rất nguy hiểm!” Triệu-Tử-Hào cười đáp.

Thầy phong thủy họ Tào trầm ngâm trong giây lát và nói: “Phong-thủy nhà anh không cần phải xem nữa!!!”.
Lần này, đến lượt Triệu ngạc nhiên: “Đại sư, sao ông lại nói như vậy?”
“Những nơi có anh ở đều là những nơi có PHONG-THUỶ tốt cả rồi!”, Tào đại sư đáp.

Nhân kiệt địa linh, PHONG-THUỶ tốt nhất đời người chính là TÂM của mỗi người!

Con người nếu có TÂM, PHÚC, sống tại nơi có phong thủy xấu rồi cũng sẽ có ngày chuyển thành đẹp! Ngược lại, nếu sống tại nơi có thế phong thủy đẹp, thế đó rồi cũng sẽ tự bị phá vỡ!!!
Nói như vậy để thấy rằng, không phải cứ ở nơi có phong thủy tốt, cuộc sống của chúng ta khắc sẽ thuận lợi viên mãn! Phong thủy tốt hay xấu phụ thuộc vào TẤM LÒNG, vào TÂM ĐỨC, PHÚC PHẬN của con người! Và để có được những thứ đó, chúng ta cần không ngừng TU-DƯỠNG mỗi ngày!!!
Tu dưỡng để sống THIỆN-LƯƠNG, tu dưỡng để sống HIẾU-THUẬN! Để mình ở vị trí thấp hơn người khác để thấu hiểu, bao dung và cảm thông, tu dưỡng để biết đủ, hài lòng với những gì mình có, không THAM-SÂN-SI, không OÁN-TRÁCH, THUẬN theo lẽ tự nhiên…

Bất cứ ai, một khi trong lòng đã tiếp nhận NIỀM VUI, AN-LẠC của người khác, biết NGHĨ cho NGƯỜI khác thì người có lợi, không chỉ là NGƯỜI khác, mà còn bao gồm cả chính BẢN-THÂN chúng ta!!!

Image may contain: 1 person, swimming, text and water

Phép màu giá bao nhiêu?

From:   Tonnu Rừng Xanh‘s album.
 
No automatic alt text available.
Image may contain: 1 person, sitting and child
Image may contain: 1 person, outdoor

Tonnu Rừng Xanh added 3 new photos to the album: PHÉP MÀU GIÁ BAO NHIÊU….

 

Phép màu giá bao nhiêu?

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.
Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”
Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”
– Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.
– Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?
– Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.
– Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”
– Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

– Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.
Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

( st )

CHIẾC ĐÒN GÁNH

CHIẾC ĐÒN GÁNH

Nguyễn Minh Phúc

Những người phụ nữ quê tôi không ai không biết đến chiếc đòn gánh vì ai cũng đã từng hơn một lần gánh nó trên vai. Quê tôi miền Trung nghèo lắm. Từ những bé gái mới lớn lam lũ giúp mẹ thổi cơm gánh nước, đôi vai nhỏ như oằn xuống với một cánh tay bấu vào thân đòn nặng trĩu còn tay kia dùng lấy thăng bằng gánh hai thùng nước sóng sánh – đến những bà mẹ già lập cập gánh những bó rau, bụi cải hay con gà con vịt thong dong ra chợ bán. Rồi những đứa em, người chị, hầu như cứ rãnh việc, buông tay ra là động đến chiếc đòn gánh. Gánh lúa, gánh phân, gánh mạ non, gánh nước … Toàn bộ công việc nặng nhọc đặt trên vai người phụ nữ. Đàn ông quê tôi lại ít thấy gánh gồng gì. Dĩ nhiên là họ làm những việc khác có khi còn nhọc nhằn hơn nhưng ít khi động đến chiếc đòn gánh …

Tôi nhớ như in lúc tôi còn là thằng bé sáu, bảy tuổi, chiều chiều ra đứng trên đầu cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Rướn người trên thành cầu sắt thật cao, tôi đưa mắt hướng về phía chợ. Hễ cứ thấy từ xa ai đó đang quang gánh bước đi là lòng tôi lại thấp thỏm mừng vì nghĩ đó là mẹ mình. Cái dáng tất bật, lam lũ của những người đàn bà quê tôi hầu như ai cũng giống nhau. Cho nên, tôi thường nhìn lầm. Tôi đợi từ xa và dõi mắt nhìn chằm chằm vào dáng đi vất vả cũng với hai cánh tay, một nắm trên thân đòn và một lấy thăng bằng, buông lỏng theo từng bước chân như chạy. Không lẫn vào đâu được, đúng là bước chân của mẹ tôi. Bước chân mẹ lạ lắm, có gì đó như lo toan, vội vã, nhẫn nhục, nhọc nhằn trong mỗi nhịp đi hối hả. Nhưng khi bóng người đàn bà kẽo kịt gánh gồng đến gần, thì lại không phải. Niềm vui biến mất, gương mặt buồn xo, tôi lại ngồi xuống thành cầu đợi mẹ tôi.

Cuối cùng thì mẹ cũng xuất hịên! Từ xa, nhận ra mẹ, tôi đã ba chân bốn cẳng chạy ùa tới mừng rỡ. Tôi chẳng quan tâm gì đến mồ hôi mồ kê trên gương mặt mẹ chảy ròng ròng vì mệt, vì nắng rát mà điều quan trọng nhất là nhìn vào hai cái mẹt đong đưa hai bên đòn gánh dưới cái quang bằng dây thép uốn tròn. Quà của tôi nằm ở đó! Khi thì là chiếc bánh mì, vài viên kẹo dẻo, một lóng mía ghim, có khi là mấy thứ đồ chơi rẻ tiền bằng nhựa … Thích nhất là được mẹ mua cho bánh bò ông ba tàu ngoài cổng chợ. Tôi mê bánh bò ông thì ít mà thích con gái ông thì nhiều! Chẳng là con ông học cùng lớp với tôi. Nó học giỏi nhì lớp, còn tôi hạng nhất. Bọn trẻ con thường cắp đôi tôi với con Lẻm, tên nó. Không biết nó nghĩ gì không chứ riêng tôi thì thích! Mà cũng lạ, không ai như tôi, mới học đến lớp hai, lớp ba mà đã biết mắc cỡ khi gặp nó … Nhưng đó là chuyện hồi con nít …

… Không cần đợi mẹ đồng ý, tôi đã lục mẹt lấy quà của mình vì biết mẹ chỉ mua cho tôi. Nhà có mấy chị em, ba mất sớm mà tôi là con trai duy nhất nên mẹ thương tôi hơn cả. Trăm lần như một, chiều nào mẹ đi chợ về, sau khi bán hết mớ rau cải, bầu bí trồng ở vườn nhà, thế nào mẹ cũng dành tiền ki cóp mua cho tôi ít quà. Tôi cầm gói bánh bò tung tăng chạy trước, mẹ gánh cặp mẹt đi sau. Không nhìn vào mắt mẹ nhưng biết chắc mẹ đang cười nhìn tôi hạnh phúc. Đôi gánh nhẹ hẫng trên vai mẹ và thỉnh thoảng mẹ còn nói vói theo nhắc yêu tôi: Ranh con, chạy vừa vừa chứ, té ngã bây giờ! 

Hình minh họa

Tôi thật không biết chiếc đòn gánh do ai nghĩ ra và xuất hiện đầu tiên vào lúc nào nhưng quả thật, đó là một dụng cụ tuyệt vời để di chuyển vật nặng từ nơi nầy đến nơi khác bằng sức người ở quê tôi. Nó được làm bằng cây tre già ngâm nước càng lâu càng tốt, để tre dẻo, chắc và khỏi mục. Tôi đã thơ thẩn hàng giờ nhìn người ta đục đẽo chiếc đòn gánh. Thật cũng lắm công phu! Sau khi chỉ lấy đoạn gốc tre già ngâm nước chừng vài tháng, người ta làm hai chiếc máng ở hai thân đòn. Hai cái máng nầy phải giống nhau như một, giữa khắc một cái rãnh sâu dùng để móc quang vào cho khỏi lệch. Cái máng nầy cũng lắm chuyện. Gặp tay thợ đẽo giỏi, nó là hình tròn, hình ô van có khi còn được tạc vào dấu thập hoặc chữ vạn mà tôi không biết để làm gì. Có lẽ lấy hên mua may bán đắt khi gánh trên vai chiếc đòn gánh ấy chăng, hay chỉ là khắc lên cho đẹp … Chưa hết, còn phải gọt đẽo thân đòn cho thật thẳng, đoạn ở giữa mỏng hơn hai bên đầu làm đòn đong đưa cho nhẹ sức hơn khi gánh nặng … Khoảng hơn tiếng đồng hồ đẽo gọt thì chiếc đòn gánh ra đời. Nó có thể dùng hết đời nầy đến đời khác trong một gia đình quê tôi vì hiếm khi bị gãy. Đến khi nước bóng ở thân đòn nổi lên màu đen mun thì không biết chiếc đòn đã thấm biết bao nhiêu mồ hôi từ trên đôi vai những người đàn bà tần tảo …

Nhưng chiếc đòn gánh của mẹ tôi không chỉ có thế. Nó còn là một trời kỳ diệu. Nó mang đến tuổi thơ tôi những niềm vui háo hức tràn trề, cả những giấc mơ đẹp đẽ nhất trên đời. Còn gì sung sướng hơn khi được đặt ngồi vào một đầu quang, đầu bên kia là trái bầu trái bí mẹ gánh suốt dọc đường ra chợ. Tôi cứ ngồi im như thế trên suốt con đường làng, hấp háy đôi mắt hãnh diện nhìn quanh xem có đứa bạn học nào để mà vểnh mặt lên, tự hào được ngồi gánh mẹ. Tôi cũng không buồn khi thấy chỉ mấy con trâu, con bò dọc đường làng chào tôi kêu nghé ọ và những đứa trẻ chăn trâu nhìn theo cười chế giễu. Tôi biết chúng nó ganh tỵ vì không được ngồi gánh như tôi …Và vì tôi nặng hơn mấy trái bầu bí ở gánh bên kia nên mẹ phải đưa vai chệch về phía tôi để giữ thăng bằng. Mệt lắm nhưng mẹ vui. Tôi biết được điều ấy trên đôi mắt long lanh, hài lòng bừng lên trên mặt mẹ …

Hình minh họa

Đến gần chợ là tôi dứt khoát bảo mẹ cho xuống, có năn nỉ mấy cũng không chịu ngồi thêm. Tôi sợ con Lẻm, con ông ba tàu bán bánh bò đầu cổng chợ nhìn thấy. Vì sao sợ nó cười, tôi không biết nhưng rõ là tôi thích được nhìn nó xuất hiện với hai chiếc nơ xinh xắn, chạy lò cò trước cổng, mắt tròn xoe nhìn tôi và gật đầu chào. Tôi làm như ngó lơ, chạy lúp xúp theo mẹ, mắt liếc thật nhanh vào con Lẻm còn tay thì cứ cầm dây quang phía sau chiếc đòn gánh mà nhắc để khỏi mắc cỡ: Đi nhanh lên mẹ, con đói bụng lắm rồi …

Tuổi thơ tôi và chiếc đòn gánh mẹ như không hề rời nhau. Cũng có những hôm không bán được hàng, mẹ quảy gánh về mà không có quà cho tôi. Tôi cứ cầm lấy đòn gánh mẹ mà khóc tấm tức, dỗ mấy cũng không nín. Tôi nghĩ mẹ không thương tôi hoặc là quà của tôi mẹ đã cho ai mất rồi. Tôi chẳng nhìn lên mắt mẹ để thấy mẹ buồn như thế nào vì không tiền mua quà cho đứa con cưng. Có hôm mẹ tủi thân cứ nhìn tôi, ôm tôi mà khóc …

Nhưng cũng có lúc, chiếc đòn gánh với tôi là cả một cơn ác mộng! Tôi nhớ có lần đi hái trộm xoài non của bác Hai Trầu cạnh nhà. Bác Hai qua mét mẹ và chuyện đã xảy ra … Tôi mới bước chân về đến cửa, mẹ tìm hoài không thấy roi nên sẵn cây đòn gánh , mẹ phát vào mông tôi mấy cái. Dĩ nhiên là mẹ phát nhẹ thôi vì chiếc đòn gánh thì to bảng mà mông tôi thì nhỏ. Nhưng mà đau thấu trời xanh. Ghê thật là cái vị đòn làm bằng cây tre già ngâm nước! Nó thấm vào thấu bên trong, đau và nhức buốt hơn mọi loại roi nào khác. Tôi chỉ còn cách quỳ xuống đất nức nở mà xin lỗi mẹ vì đau và sợ ăn đòn tiếp . ..

Tối đó, mẹ vừa khóc vừa bôi dầu nhị thiên đường vào mông tôi đã nổi lên mấy vết hằn đỏ. Mẹ dằn vặt mình vì đã giận đánh con. Tôi làm bộ quay mặt vào tường không nhìn mẹ. Tôi giận, mẹ hỏi gì cũng không nói và thiếp đi lúc nào không hay. Khi thức dậy vẫn còn thấy mẹ ngồi chằm chằm nhìn tôi, nghẹn ngào: Mẹ đánh con bậy quá … Nhưng ai bảo con hư …Lúc ấy, với đôi mắt nhạt nhoè, tôi chỉ muốn ôm mẹ mà khóc.Vì hờn, tủi thân hay còn giận mẹ, tôi không biết. Nhưng tôi biết chắc một điều là mẹ yêu thương tôi vô bờ bến!

Chiếc đòn gánh của mẹ, với tôi còn là những kỷ niệm không thể nào quên! Khi tôi đã lớn, nhà nghèo, mẹ hàng ngày trĩu nặng nó trên vai – khi thì gánh phân, gánh gạo đi bán – khi thì gánh nươc , gánh hàng tảo tần nuôi tôi ăn học. Những năm tháng còn là sinh viên, mỗi dịp nghỉ hè về quê, tôi lại ra cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Nhưng mẹ giờ đã yếu lắm! Mẹ không còn gánh nặng được nhưng phải cố, vì tôi. Hình hài mẹ nhỏ quắt lại, đôi vai như muốn run lên theo bước chân, môi mắm chặt mỗi lần mẹ cố sức. Duy đôi mắt mẹ thì không hề thay đổi! Đôi mắt vẫn ánh lên niềm hạnh phúc và tự hào nhìn đứa con trai phổng phao, chững chạc sắp trưởng thành. Tôi đứng lặng trên cầu, rơm rớm nhìn vào thân thể và đôi vai gầy guộc của mẹ oằn xuống dưới mỗi bước đi …Tôi muốn lao vào ôm mẹ mình nhưng đã không làm như vậy. Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn ân hận trách mình vì điều ấy …

Ngày ấy, mẹ vẫn thường nói vui: Chính nhờ chiếc đòn gánh của mẹ nuôi con ăn học đấy! Mẹ mong khi mẹ không còn đụng đến nó nữa thì con đã trưởng thành …Còn giờ thì vì con – mẹ đâu, nó đó …

 … Bây giờ tôi đã thành đạt. Sự nghiệp, công danh đến muộn nhưng cuối cùng cũng đến. Mẹ mừng hơn ai hết. Con Lẻm ông ba tàu bán bánh bò ngoài cổng chợ giờ là vợ sắp cưới của tôi. Ngày tôi lấy vợ, từ dưới quê mẹ lên thăm. Xuống bến xe đón mẹ, tôi thật ngỡ ngàng khi mẹ cứ hi hoáy tìm một vật gì để dưới gầm xe. Tìm mãi, sau cùng mẹ mới lôi được ra cây đòn gánh! Thì ra thói quen, mẹ mua cau trầu mừng đám cưới tôi và cứ nghĩ sẽ đến nhà tôi với đòn gánh trên vai và cặp quang sắt rỉ! Tôi buồn cười và hơi bực bội về sự lẩm cẩm của mẹ. Ai đời lên đến thành phố rồi mà còn đem theo nào quang nào gánh, dáng đi cứ tất bật, lo âu như ngày nào. Ngoài việc mướn xe chở cau trầu, tôi còn phải kêu thêm một chiếc xích lô chở riêng cặp quang và chiếc đòn gánh theo về vì không biết để đâu. Bảy mươi tuổi, có khi mẹ lẩn thẩn rồi cũng nên.Tôi nhủ thầm như vậy …

Mừng đám cưới tôi có mấy ngày, mẹ đòi về nằng nặc. Nhà không ai trông nom, vườn tược, gà heo không ai chăm sóc, mẹ bảo thế! Hầu như đêm nào ở nhà tôi mẹ cũng thức trắng, trằn trọc không ngủ. Mẹ lo những việc không đâu, nào ai biết được. Thỉnh thoảng mẹ lại ngồi dậy, húng hắng ho. Tôi làm sao dỗ giấc ngủ, lo lắng đòi mẹ uống thuốc nhưng mẹ bảo không sao. Me lo chuyện rau mọc nhiều không ai cắt bán, lo gà vịt không ai cho ăn, lo nước trong lu không ai gồng gánh … Đúng mẹ lẩm cẩm thật rồi!

Tôi và con Lẻm mời mẹ ở lại luôn trên thành phố với vợ chồng tôi nhưng mẹ nhất định không chịu. Mẹ ở không quen chốn đông đúc, ồn ào hơn nữa còn phải chăm mộ bà nội, ba con dưới quê, ở lâu làm sao được , mẹ nói cái lý của mẹ. Cái lý của các bà mẹ thì lúc nào cũng thuyết phục được bất kỳ ai trên đời chứ chẳng phải riêng tôi …

Ngày mẹ ra bến xe về quê ngoài quà mừng của vợ chồng tôi gửi bà con lối xóm vẫn là chiếc đòn gánh đã lên nước theo cùng. Nhìn dáng mẹ tất bật, hối hả, lòng tôi trào dâng niềm thương vô bờ bến nhưng biết làm sao giữ mẹ. Đến lúc nầy, mẹ mới móm mém cười, chắc là muốn chúng tôi đừng buồn khi chia tay:

– Đó, con thấy không? Nhờ đem theo đòn gánh mà khi về, mẹ mới mang hết mấy thứ quà con gửi cho lối xóm … Không có nó, mình mẹ bê sao nổi!

Tôi nhận ra mẹ mình có lý. Một đời mẹ tảo tần đắm đuối vì con với chiếc đòn gánh cùng theo mẹ đi suốt bao năm trời gian khổ mãi cho đến khi con đã trưởng thành vẫn còn mãi lo âu …

oOo

Rồi mẹ tôi qua đời! Tuổi già và những căn bệnh triền miên không cho mẹ ở lại cùng tôi mãi. Cuộc chia ly đớn đau cuối cùng rồi cũng đến! Trong nỗi đau mất mẹ, tôi chỉ còn biết lặng người, xót tím tâm can.

Lúc nhập quan, khi người ta đưa hình hài nhỏ bé, khô quắt của mẹ vào quan tài, ngoài những bộ đồ cũ nát mẹ vẫn thường mặc khi còn sống cùng những vật dụng thường dùng, tôi chợt nhớ đến chiếc đòn gánh đã đi theo suốt đời cùng mẹ. Nó vẫn nằm đó, trong góc nhà kia, vẫn ánh lên thứ nước màu đen tuyền với cái thân đòn hình như cong lên vì vất vả. Chợt nghĩ về những ngày ấu thơ gian khổ, chợt nghĩ về tình yêu bao la, thắm thiết của mẹ, tôi trào dâng nước mắt …

Tôi nhớ đến lời mẹ tôi khi còn sống – mẹ đâu thì nó đó – chiếc đòn gánh ấy! Và cố thuyết phục mọi người xin đưa cây đòn theo cùng mẹ sang thế giới bên kia … Ai cũng cản tôi nhưng cuối cùng thì họ xiêu lòng. Vậy là trong quan tài mẹ tôi lại có thêm chiếc đòn gánh đã từng một thời bôn ba cùng mẹ.

Khi mọi người ra về sau lễ tang, còn một mình ngồi bên mộ mẹ, tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc như thế. Rồi cũng sẽ qua hết mọi khổ đau, hạnh phúc, mọi cao sang, quyền quý kể cả những vụn vặt thấp hèn trên đời nầy nhưng tôi biết, hình ảnh mẹ tôi và chiếc đòn gánh nhọc nhằn ngày xưa sẽ theo mãi tôi đến suốt quãng đời còn lại …

Chị Lucie 1937 gởi

Câu Chuyện Thật trong Mùa GIÁNG SINH: 57 XU

 Câu Chuyện Thật trong Mùa GIÁNG SINH: 57 XU
Một cô bé đang đứng thổn thức bên cạnh một nhà thờ nhỏ sau khi đã chạy vòng vòng mà không vào được bên trong vì “nhà thờ chật cứng”. 

“Con không vào được lớp học Chủ Nhật” (Sunday School: lớp học mà nhà thờ thường mở vào ngày chủ nhật để dạy giáo lý và chữ cho trẻ em là chính nhà thờ), cô bé nức nở nói với vị linh mục vừa đi tới. Nhìn bộ dạng tiều tụy, nhếch nhác của cô bé, vị linh mục hiểu ngay ra nguyên do, và cầm tay cô bé dẫn vào trong, tìm cho cô một chỗ trong lớp học.

Đêm hôm đó, cô bé lên giường ngủ mà đầu chỉ nghĩ tới những đứa trẻ không có chỗ để thể hiện lòng tôn kính đối với Chúa. Khoảng 2 năm sau đó, cô bé đã chết trong một chung cư tồi tàn. Cha mẹ của cô bé gọi điện cho vị linh mục – người đã trở nên rất thân thiết với cô bé, đến để chủ trì buổi lễ tang.

Khi di chuyển thi hài của cô bé nghèo, người ta đã tìm thấy một chiếc ví rách nát và bẩn thỉu tựa như được moi ra từ đống rác, trong đó có 57 xu và một tờ giấy xé nham nhở viết trên đó vài dòng chữ nghoệch ngoạc của đứa trẻ: “Để giúp đỡ xây dựng một nhà thờ lớn hơn cho nhiều đứa trẻ có thể đến Lớp học ngày Chủ nhật”. Đó là kết quả trong 2 năm trời dành dụm với cả tấm lòng hy sinh không chút vụ lợi của cô bé. Khi đọc những dòng chữ này, vị linh mục đã không thể cầm được nước mắt.

Mang theo mảnh giấy và chiếc ví rách nát trong những buổi lễ, vị linh mục kể cho mọi người câu chuyện về tấm lòng hy sinh cao cả của đứa bé. Ông đã bỏ ra rất nhiều công sức để kêu gọi, quyên góp tiền xây dựng một nhà thờ rộng hơn. Nhưng câu chuyện này không chỉ dừng lại ở đó.

Một tờ báo có uy tín đăng câu chuyện về cô bé, và có một nhà kinh doanh bất động sản đã đọc được nó. Ông ta đề nghị nhượng bán cho nhà thờ một mảnh đất rộng, mà giá trị hồi đó lên tới nhiều ngàn đô la, với giá chỉ có… 57 xu. Các tín đồ đã tổ chức một đợt quyên góp quy mô rộng và lớn chưa từng có, chỉ chưa đầy 5 năm số tiền đã lên tới 250.000 đô la – một số tiền rất lớn thời bấy giờ (cách đây gần một thế kỷ). Tấm lòng nhân hậu cao cả của cô bé đã được đền đáp một cách xứng đáng.

Nếu có dịp qua thành phố Philadelphia, mời bạn ghé thăm Nhà thờ Temple Baptist (Nhà thờ Thánh rửa tội) với sức chứa 3.300 người; và trường đại học Temple, nơi mà hàng trăm sinh viên đang theo học. Và bạn cũng nên ghé thăm Bệnh viện Good Samaritan (Bệnh viện hội bác ái) cùng với Trường học ngày Chủ nhật, nơi dành cho hàng trăm đứa trẻ tham dự Lớp học ngày Chủ nhật, và sẽ không còn đứa trẻ nào trong vùng phải đứng bên ngoài vào ngày chủ nhật nữa.

Trong một căn phòng của toà nhà, bạn có thể tìm thấy một tấm hình với khuôn mặt dễ thương của cô bé gái, người với 57 xu và sự hy sinh của mình, đã làm nên một câu chuyện thần thoại.

Ngay bên cạnh đó, tấm hình của vị linh mục – Dr.Russell H.Conwell, tác giả của cuốn sách “Cánh đồng Kim cương”. 

Đó là một câu chuyện có thật, hoàn toàn thật, minh chứng cho những gì mà một tâm hồn cao thượng và tấm lòng hy sinh cao cả có thể làm được, chỉ với 57 xu. 

(Quickinspirations)
Phạm Minh

Nguồn: Ngọn nến nhỏ 

From LUCIE 1937

Có Một Kiểu Tình Yêu Như Thế

  Có Một Kiểu Tình Yêu Như Thế

Vài năm trước, mỗi ngày đi làm, Jim đều được ông Jake, một người hàng xóm đã cao tuổi đưa cho một tờ tiền mặt 5 đôla. Ông nhờ Jim ghé qua một quán cà phê trên đường để mua hộ ông một gói cà phê có giá 4 đôla.

Thói quen này của ông Jacke đã duy trì đến mấy năm nay rồi. Và để đáp trả lòng tốt của Jim, ông Jake sẽ nhận làm cỏ, tỉa cây trong vườn nhà anh ấy.

Sau một thời gian lâu, bà chủ quán cà phê cũng đã quen với Jim. Bà ngày nào cũng chuẩn bị một gói cà phê và một đồng đô la tiền lẻ để trả lại.

Đôi lúc, Jim cũng rất tò mò và hỏi ông Jake: “Cà phê có hạn sử dụng rất lâu, tại sao ông không mua một lần nhiều nhiều một chút?”

ông Jacke lắc đầu và cười nói: “Không, tôi thích như thế này hơn, mỗi ngày một gói cà phê mới tốt.”

Có một lần, Jim vội vã tới nhà bạn để tụ tập cùng bạn bè nên anh liền mua cà phê ở tạm một cửa hàng khác.Không ngờ, ông Jake khi nhận được cà phê dù còn chưa mở ra đã nói: “Đây không phải loại cà phê mà tôi muốn.”

Jim cảm thấy bất ngờ, anh liền thử mấy lần sau đều mua ở nơi khác, nhưng dù cà phê đã được đóng gói y như vậy, mà ông Jake chỉ liếc mắt qua đã phát hiện ra rồi.

Từ đó, Jim không còn thử ông nữa.

Mấy năm sau, sức khỏe của ông Jake đã không còn được tốt như trước đây. Nhưng hàng ngày ông vẫn đều nhờ Jim mua cho mình một gói cà phê. Mỗi lần khi đưa 5 đôla cho Jim, hai ánh mắt của ông lại chất chứa đầy sự chờ mong.

Cho đến một hôm, khi Jim lại sang nhà ông Jake mua cà phê giúp ông. Ông Jake sức khỏe suy yếu nằm trên giường bệnh đưa tay ra, rồi nhẹ nhàng cầm tờ một đôla và hỏi Jim: “Thời gian lâu như vậy, chẳng lẽ cậu không biết gì sao?” 

Jim nhìn ông lão hàng xóm và lắc đầu.

Ông lão nói tiếp: “Tôi luôn luôn muốn mua cà phê ở cửa hàng đó, là vì người bán cà phê cho cậu là Elina.”

Giọng nói của ông Jake trầm xuống rất nhiều: “Bà ấy là người mà tôi yêu nhất. Năm đó, mẹ của bà ấy chê tôi là một kẻ nghèo nàn, nên đã chia rẽ chúng tôi…Tôi cũng chỉ có thể đau lòng mà rời đi. Nhiều năm sau này, vợ tôi bị bệnh qua đời, các con cũng đã trưởng thành có gia đình. Tôi đã quay trở lại nơi đó tìm hiểu và biết bà ấy bán cà phê ở cửa hàng đó. Bà ấy cũng đã sớm mất chồng. Cả hai người chúng tôi đều không quên ước định của tình yêu đầu năm xưa. Nhưng tôi không muốn quấy rầy đến cuộc sống bình yên của bà ấy, nên lặng lẽ sống ở đây. Cũng từ đó, tôi nhờ cậu mua cà phê hộ tôi.”

Jim đứng im lặng nhìn ông lão hàng xóm rồi bất chợt hỏi với vẻ khó hiểu: “Chẳng lẽ, ông chưa từng đến thăm bà ấy sao?”

Ông Jake lắc đầu.

“Năm đó, lúc chúng tôi yêu nhau thường không có cách để gặp mặt nên đã đặt ra một ám hiệu. Đó là lấy tờ một đô la gấp thành một hình tam giác, để trong một bì thư, rồi nhờ người gửi thư đưa đến đối phương, ngụ ý nói rằng mình vẫn bình an. Cho nên, mỗi lần nhờ cậu mua cà phê, tôi đều gấp tờ tiền thành một hình tam giác. Còn Elina, mỗi lần trả lại tôi tờ một đô la, bà ấy cũng đều gấp thành một hình tam giác. Cứ như thế, dù chúng tôi không gặp lại nhau nhưng đều biết người kia vẫn bình an, khỏe mạnh…Bây giờ, tôi sắp phải đi gặp thượng đế rồi, nhưng nếu Elina không nhận được tin tức của tôi, bà ấy hẳn sẽ rất lo lắng. Dưới giường của tôi có một chiếc hòm, bên trong đều là những tờ tiền tôi đã gấp thành hình tam giác rồi. Xin cậu hãy giúp tôi tiếp tục mua cà phê …Tôi xin nhờ cậu…”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ông Jake nói xong, liền nhắm mắt lại và ra đi.

Không ngờ, trong đám tang của ông Jake, Jim đã mang đến một chiếc hòm khác. Trong chiếc hòm ấy, toàn là những gói cà phê đã được đóng sẵn và còn có rất nhiều những tờ tiền một đôla được gấp sẵn thành hình tam giác.

Vào nửa năm trước, bà Elina đã bị bệnh nặng mà qua đời. Trước khi rời đi, bà đã giao chiếc hòm này cho Jim để nhờ Jim thay thế mình chuyển lời nhắn bình an đến ông Jake….

Đây hẳn là một tình yêu đích thực!

Có thể quý trọng tất cả những người bên cạnh mình, thì đó chính là một loại hạnh phúc!

Theo Cmoney.tw

Mai Trà biên dịch

From Nguyễn Kim Bằng

Made In VietNam


Made In VietNam 

                                                 Tiểu Tử

 

Lẽ ra bữa nay bác sĩ Lê không nhận bịnh nhân vì là ngày nghỉ trong tuần của ông. Nhưng hôm qua, trong điện thoại, nghe giọng cầu khẩn của người bịnh ông không nỡ từ chối. Người đó – ông đoán là một cô gái còn trẻ – nói chuyện với ông bằng tiếng Mỹ. Cô ta hỏi ông nhiều lần:
– Có phải ông là bác sĩ Lee không?
Tên ông là Lê. Cái tên Việt Nam đó ở xứ Mỹ này người ta viết là “ Lee “, nên ông được gọi là “ ông Lee “ ( Li ).
<!>
Ông ôn tồn trả lời nhiều lần:
– Thưa cô, phải. Tôi là bác sĩ Lee đây.
– Phải bác sĩ Lee chuyên về châm cứu và bắt mạch hốt thuốc theo kiểu á đông không?
– Thưa cô phải.
– Có phải phòng mạch của bác sĩ ở đường Green Garden không?
Bác sĩ Lê, đã ngoài sáu mươi tuổi, tánh rất điềm đạm, vậy mà cũng bắt đầu nghe bực! Tuy nhiên, ông vẫn ôn tồn:
– Thưa cô phải. Xin cô cho biết cô cần gì?
Giọng cô gái như reo lên:
– Vậy là đúng rồi! Con Cathy bị bịnh suyễn nói bác sĩ chữa bịnh hay lắm. Cả nhà nó, kể luôn ba má ông bà nó đều đi bác sĩ hết.
Đến đây thì ông bác sĩ già đó không kềm được nữa, ông xẵng giọng:
– Cám ơn cô. Bây giờ xin dứt khoát cho tôi biết coi cô muốn cái gì?
Giọng bên kia đầu dây như lắng xuống:
– Tôi xin lỗi bác sĩ. Xin lỗi. Tôi muốn xin bác sĩ cái hẹn cho ngày mai. Tôi bịnh…
– Mai là ngày nghỉ trong tuần, phòng mạch không có mở cửa. Ngày khác vậy.
– Ngày mai cũng là ngày nghỉ của tôi nữa, bác sĩ à.
– Cô đã bịnh thì cứ xin nghỉ để đi bác sĩ, ngày nào lại không được!
Một chút im lặng ở đầu dây bên kia rồi giọng người con gái bỗng nghe thật buồn:
– Họ đâu có cho nghỉ, bác sĩ.. Họ nạt vô mặt:” Mầy muốn nghỉ thì mầy nghỉ luôn đi. Thiếu gì đứa muốn vào làm chỗ của mày. Mày biết không?”
Giọng nói như nghẹn ngang ở đó, rồi tiếp:
– Không có việc làm là chết, bác sĩ à…
Ông bác sĩ già làm thinh, suy nghĩ. Đầu dây bên kia, cô gái van lơn:
– Xin bác sĩ thông cảm. Tôi sợ bịnh nặng hơn, không đi làm nổi nữa là mất việc.
Xin bác sĩ thông cảm. Xin thông cảm.
– Ờ thôi, để tôi ráng giúp cô. Sáng mai, chín giờ. Phòng mạch của tôi ở số…
– Cám ơn bác sĩ. Cám ơn! Con Cathy có chỉ phòng mạch của bác sĩ rồi.
– Xin lỗi. Cô tên gì?
– Kim. K, I, M.
Bác sĩ Lê vừa ghi vào sổ hẹn vừa nghĩ:” Tội nghiệp! Chắc lại đi làm lậu nên mới bị người ta hâm he như vậy. Theo cách phát âm thì cô này có vẻ là người á đông. Tên Kim chắc là Đại Hàn. Để mình phải phone lại cô Cathy hỏi cho chắc ý kẻo gặp thứ lưu manh thừa dịp ngày nghỉ không có cô phụ tá, nó ‘su’ mình thì khổ! “
Đúng chín giờ, chuông cửa phòng mạch reo. Ông bác sĩ già bước ra mở cửa. Đứng trước mặt ông là một cô gái á đông còn trẻ, ăn mặc theo kiểu “ punk “: quần áo có tua có tụi, tóc dựng đứng hỗn loạn như con gà xước, đeo nhiều vòng sên bằng bạc to như dây lòi tói, đầy cổ đầy hai cườm tay, mang cái xắc đỏ cũng có tua có tụi. Bác sĩ Lê, quá đỗi ngạc nhiên, chưa kịp hỏi gì, thì cô gái nói bằng tiếng Mỹ rất lưu loát:
– Chào bác sĩ. Tôi là Kim, bịnh nhân đã gọi điện thoại cho ông hôm qua. Tôi có làm cho bác sĩ chờ không?
Bác sĩ Lê chưa hết ngạc nhiên, trả lời một cách máy móc:” Không! Không!”. Rồi ông bước tránh qua một bên:” Mời cô!”
Vào phòng mạch, ông đưa cho cô cái áo blouse trắng ngắn tay:
– Cô đến phía sau bình phong bỏ hết quần áo chỉ mặc quần lót thôi, rồi khoác ngược áo blouse này, lưng áo nằm về phía trước.
Trong lúc cô gái loay hoay làm theo lời dặn, ông bác sĩ già gọi phone về nhà, nói bằng tiếng Việt:
– Bịnh nhân của anh tới rồi, đang thay đồ. Chắc một giờ nữa là xong. Em đợi anh về rồi mình đi chợ.
Cô gái bỗng ló đầu ra khỏi bình phong mỉm cười nhìn ông, gương mặt thật rạng rỡ, định nói gì nhưng rồi không nói, thụt đầu vào tiếp tục cởi quần áo.
Một lúc sau cô ta bước ra, mắt ngời lên sung sướng, nói bằng tiếng Việt, giọng như reo lên:
– Bác sĩ là người Việt Nam mà con cứ tưởng là người Tàu! Tên “Lee” nghe Tàu trân!
– Ủa! Vậy mà tôi cứ nghĩ cô là người Đại Hàn chớ!
Rồi cả hai cùng cười, cái cười rất sảng khoái. Tình đồng hương trên đất khách bỗng thấy thật ấm, thật đầy…Ông bác sĩ già nhìn cô bịnh nhân trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước mặt ông mà không còn thấy cô gái “punk” hồi nãy nữa!
Ông đưa cho cô cái dĩa, rồi vừa chỉ cái giường cao vừa nói:
– Cô cởi hết đồ nữ trang để vào đây, rồi lên nằm trên này để tôi chẩn mạch.
Cô gái làm theo như cái máy.
Phòng mạch được trang trí rất đơn sơ, nhưng thật yên tịnh. Trong không khí có mùi thơm dìu dịu của moxa (ngải cứu, đốt lên để hơ huyệt). Cái giường khám bịnh cao ngang tầm tay của bác sĩ. Ở một đầu giường có gắn thêm một vòng bằng da để chịu cái đầu của bịnh nhân, và khi bịnh nhân nằm sấp để châm cứu trên lưng thì mặt người bịnh nằm trọn trong vòng da. Như vậy, người bịnh không cảm thấy khó chịu nhờ khoảng trống ở giữa vòng da giúp người bịnh vẫn thở đều đặn và mắt được nhìn thoải mái xuống sàn nhà.
Bác sĩ đặt hai bàn tay lên cánh tay trần của cô gái, ôn tồn hỏi:
– Cô bịnh làm sao? Nói tôi nghe.
– Con ngủ không được, đêm nào cũng trằn trọc tới khuya. Hay bị chóng mặt. Đang đứng làm việc, tự nhiên muốn sụm xuống làm sợ toát mồ hôi. Con lo quá, bác sĩ. Mất việc làm chắc con chết quá, bác sĩ!
Ông Lê bóp nhẹ cánh tay bịnh nhân:
– Cô yên tâm. Có tôi đây. Mà…cô có uống rượu không?
– Không. Dạ thưa không.
– Cô có hút thuốc không?
– Dạ thưa có. Hút cũng nhiều…
– Cô có xì ke ma túy gì không? Nói thiệt tôi nghe.
– Mấy thứ đó con không dám rớ. Hồi ở bên nhà thằng anh con chết vì ba cái thứ ôn dịch đó, bác sĩ à. Vì vậy, con sợ lắm!
– Cô le lưỡi tôi coi
– Ùm. Được rồi. Bây giờ cô nằm yên, để hai tay xuôi theo thân mình, nhắm mắt, thở đều đặn.
Ông bác sĩ già đứng cạnh giường đặt mấy đầu ngón tay lên cườm tay cô gái, chăm chú bắt mạch. Một lúc sau, ông bước vòng qua phía đối diện bắt mạch tay bên kia. Bộ mạch nói lên một sự rối loạn tâm thần. Cô gái này chất chứa quá nhiều ẩn ức nên sanh bịnh. Ông nhìn cô gái đang nhắm mắt thở đều: gương mặt Việt Nam đó, bỏ đi món tóc “punk”, vẫn toát ra nét nhu mì dễ thương. Ông cảm thấy tội nghiệp cô bịnh nhân trẻ này và thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy cô ta trôi qua xứ Mỹ để có một cuộc sống mà ông đoán là thật bấp bênh, qua cuộc nói chuyện trong điện thoại. Ông nói:
– Bây giờ, cô nằm sấp xuống để tôi châm trên lưng.
Cô gái mở choàng mắt nhìn ông, mỉm cười, một nụ cười đầy tin tưởng. Ông bác sĩ nói tiếp:
– Cô đừng sợ. Châm không có đau. Còn nhẹ hơn kiến cắn nữa.
Cô gái trở mình nằm sấp, hai vạt áo blouse rớt xuống hai bên, bày ra cái lưng thon thon với nước da ngà ngà. Theo thói quen, trước khi châm, bác sĩ vuốt lưng bịnh nhân vài lần để bịnh nhân đỡ bị stress. Lần này, khi vuốt xuống thắt lưng, ông để ý thấy dưới làn vải mỏng của quần lót có một vết bầm nằm vắt ngang phía trên của mông. Ngạc nhiên, ông hỏi:
– Cô bị ai đánh hay sao mà bầm vậy?
Cô gái cười khúc khích:
– Bác sĩ coi đi!
Ông già kéo quần lót xuống một chút, thì ra không phải vết bầm mà là hàng chữ xâm màu chàm: Made In VietNam! Ông bật cười, vừa kéo lưng quần lót lên vừa nói:
– Cha…Bạo quá há!
Cô gái hơi rút cổ cười khúc khích vài tiếng nữa rồi im. Chắc cô đang sống lại với một vài kỷ niệm nào đó. Ông bác sĩ già áp hai lòng bàn tay lên lưng bịnh nhân, nhưng bây giờ sao ông không còn thấy cười được nữa. Hàng chữ “Made In VietNam” nhắc cho ông rằng con người nằm đây là sản phẩm của quê hương ông, cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn “ Made In VietNam”, từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh…Chao ơi! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắc thẻo đến muốn trào nước mắt…
Ông bác sĩ vuốt lưng cô bịnh nhân thật chậm để cho niềm xúc động lắng xuống tan đi. Ông có cảm tưởng như ông đang sờ lại được quê hương, có chỗ cao chỗ thấp, có phù sa đất mịn…Tự nhiên, ông muốn nói lên một tiếng “cám ơn”. Ông muốn cám ơn cô bịnh nhân đã mang quê hương đến với ông bằng hàng chữ nhỏ xâm trên bờ mông, chỉ vỏn vẹn có một hàng chữ nhỏ. Và ông cũng muốn nói với cô, nói một cách thật tình, không văn chương bóng bẩy, nói như ông nói cho chính ông, vỏn vẹn chỉ có một câu thôi:” Tôi cũng made in VietNam đây!”. Nhưng rồi ông làm thinh tiếp tục vuốt lưng người bịnh. Ông biết rằng cô gái không thể nào hiểu được ông, một bác sĩ già vừa quá sáu mươi, đã gần nửa tuổi đời lưu vong trên xứ Mỹ, có đầy đủ tiền tài danh vọng mà cũng xâm hàng chữ “Made In VietNam”, xâm ở trong lòng…
Bác sĩ im lặng dò huyệt châm kim. Bỗng cô bịnh nhân nói, giọng buồn buồn, làm như cô vừa xem lại hết một đoạn phim đời nào đó:
– Thằng bồ của con xâm cho con để làm kỷ niệm hồi tụi này còn ở Louisiana. Ảnh là thợ xâm…
– Ủa! Rồi sao bây giờ cô ở đây?
– Con theo ba má con dọn về Cali, ổng bả nói ở Cali bạn bè nhiều làm ăn dễ.
– Ờ…người Việt mình thích ở miền nam Cali lắm.
Ngừng một chút bác sĩ lại nói, trong lúc hai tay vẫn tiếp tục châm kim:
– Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà…ba má cô làm gì?
Cô gái làm thinh một lúc mới trả lời, giọng ngang ngang:
– Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing, còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.
– Vậy rồi cô ở với ai?
– Với ba con. Bà Mỹ cho con đi học college, ba con lái xe đưa rước.
– Vậy mà sao hôm qua, trong phone, cô nói cô đi làm?
Giọng cô gái như nghẹn lại:
– Khổ lắm bác sĩ.
Cô ngừng một chút để nén xúc động rồi nói tiếp:
– Ba con ỷ có bà Mỹ nuôi, không chịu đi làm. Tối ngày cứ đi nhậu với bạn bè, rồi nay đổi xe, mai đổi xe…Con nói ổng, chẳng những ổng không nghe mà còn chửi con: “Tiên Tổ mày! Tao đem mày qua đây đặng mày dạy đời tao hả!”
Lại ngừng một chút mới nói được, nói như trút hết ẩn ức còn lại:
– Có lần ổng xáng cho con mấy bạt tay đau điếng…
Rồi nghẹn ngào:
– Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…
Nói xong, hít một hơi thật sâu rồi thở hắt ra một cái như vừa làm xong một việc gì thật khó!
Ông bác sĩ im lặng, tiếp tục châm, mà nghe thương hại cô bịnh nhân vô cùng. Cô ta cỡ tuổi con gái út của ông. Con gái út của ông đang học đại học, còn cô này thì đang sống trong hoàn cảnh quá bấp bênh. Cả hai đều Made In VietNam hết!
Châm xong, ông đặt tay lên cánh tay trần của bịnh nhân, vuốt vuốt như vuốt tay một đứa con đang cần được vỗ về an ủi:
– Cô cứ nằm yên như vầy độ mười lăm phút, nghen.
Tiếng “dạ” bỗng nghe như đầy nước mắt.
Sau khi gỡ kim, ông bác sĩ bóp tay bóp chân bịnh nhân một lúc rồi nói:
– Bây giờ thì cô mặc quần áo vào được rồi.
Cô gái ngồi lên nói “cám ơn” mà đôi mắt vẫn còn mọng nước. Cô bước vào sau bình phong, chậm rãi mặc quần áo, làm như cô muốn những xúc cảm hồi nãy có thời gian để thấm sâu vào lòng…
Khi cô bước ra, gương mặt cô đã trở lại rạng rỡ. Cô mỉm cười nhìn ông bác sĩ, rồi, vừa mở cái xắc đỏ vừa hỏi:
– Bao nhiêu vậy, bác sĩ?
– Không có bao nhiêu. Chừng chữa xong rồi cô hãy trả.
– Bác sĩ cho con trả mỗi lần, chớ đợi hết bịnh, tiền đâu con trả. Cái thứ đi làm lậu như con…
– Cô yên tâm. Rồi mình tính.
Ông bác sĩ đưa dĩa nữ trang:
– Cô đừng quên mấy thứ này.
Cô gái phì cười, không đeo vào người mà trút hết vào xắc, rồi hỏi:
– Chừng nào con trở lại nữa, bác sĩ?
– Tuần tới, cũng ngày này giờ này.
Bác sĩ mở tủ thuốc, chọn lấy ra hai chai có dán nhãn sẵn, trao cho bịnh nhân:
– Trên nhãn có ghi liều lượng: mỗi ngày, cô uống sáng trưa chiều, mỗi thứ hai capsule.
Ra đến cửa phòng mạch, ông bác sĩ già cầm bàn tay cô bịnh nhân trong hai bàn tay của ông, lắc nhẹ:
– Bớt hút thuốc đi, nghen! Từ từ rồi tôi sẽ chữa cho cô vụ ghiền thuốc nữa.
Ngập ngừng một chút rồi ông nói, giọng ôn tồn:
– Tôi muốn nói với cô điều này…
Cô gái chớp chớp mắt chờ. Chắc là lần đầu tiên cô được một ông già cầm tay một cách ân cần như vậy. Bác sĩ nói:
– Mình là người Việt Nam, ăn măỉc theo “punk” không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm! Mình phải xứng đáng là Made In VietNam, chớ cô.
Cô gái nhìn vào mắt ông bác sĩ, không nói gì hết, chỉ siết tay ông già một cái thật mạnh, rồi bước ra xe, một chiếc xe hơi cũ mèm phải đề tới bốn lần mới nổ máy!
* * *
Ông bác sĩ Lê ngồi uống cà phê với tôi ở khu Phước Lộc Thọ ( Orange County – Nam Cali ). Ông kể tiếp:
– Anh biết không, lần sau cô Kim đến phòng mạch, ăn mặc chải gỡ rất dễ thương. Chẳng có chút gì “ punk “ hết! Lần khám bịnh đó, tôi có hỏi cổ sao không về sống với thằng bồ ở Louisiane có phải hơn là sống cù bơ cù bất ở Cali. Cổ nói như mếu:” Ảnh có vợ rồi “. Tôi biết: như vậy là cổ kẹt thiệt. Tôi đem chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Bả cảm động lắm nên đề nghị giúp tiền cho cổ học một cái nghề gì đó, uốn tóc, làm nail chẳng hạn, để có công ăn việc làm vững chắc hơn là đi làm lậu tầm bậy tầm bạ.
Tôi nói chen vào:
– Chắc gì cổ chịu. Nghe anh kể, tôi đoán chị này cũng tự ái lắm.
– Anh nói đúng. Cổ từ chối hoài. Sau nhờ vợ tôi mời cổ về nhà khuyên nhủ, coi như là trong thân tình, cổ mới chịu. Hôm đó, cổ ôm vợ tôi vừa khóc vừa nói: “Con cám ơn ông bà. Cám ơn ông bà”.
– Sau đó cổ có đi học thiệt không?
– Có. Học làm nail. Học giỏi nữa là khác.
– Cổ bây giờ ra sao rồi?
– Mới đầu làm thợ, làm công cho người ta. Bây giờ vừa làm thợ vừa làm chủ. Khá lắm!
– Mừng cho cổ, há!
– Cổ xách đồ nghề tới làm nail cho vợ tôi, con út và hai con dâu tôi thường lắm. Làm không lấy tiền. Cổ cứ nói với mấy con tôi:” Tôi chịu ơn ông bà bác sĩ biết đời nào mới trả cho hết, mấy cô biết không? Tôi không dám nói ra, chớ mỗi lần tôi cầm bàn tay của bà bác sĩ để làm nail, tôi vẫn nghĩ không có bàn tay này thì làm gì tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh của tôi hồi đó để có những gì tôi có hôm nay…”
– Dễ thương quá!
– Noel, ngày Tết…cổ đều mang quà đến tặng vợ chồng tôi.
– Con người ở có tình có nghĩa quá, anh há!
– Đã hết đâu! Cổ còn nhớ đến ngày giỗ của ba má tôi nữa. Mấy ngày đó tụi con tôi có đứa quên chớ cô ta không bao giờ cô ta quên. Ngày đó, cô đem đồ tới cúng và ở lại phụ vợ tôi nấu nướng dọn giẹp nữa. Cho nên vợ tôi quí cô ta lắm!
Nói xong, bác sĩ Lê vỗ vai tôi, cười:
– Anh thấy không? Cô ta mới đúng là “Made In VietNam” đó! Còn nguyên chất, hè!
Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đâu đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:
– Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình “Made In VietNam”, không?
– Có chớ anh! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu “Made In USA” nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều!
Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…

 Tiểu Tử

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột

Đứa bé thoát chết sau ca phá thai 20 năm trước đang cố gắng tìm lại mẹ ruột, hành trình tìm kiếm người mẹ chưa hề một lần thấy mặt ấy khiến bao người cảm động.

20 năm trước, một đứa trẻ đã sống sót thần kỳ sau khi người mẹ đã cố tình phá thai vứt bỏ đi đứa con. Khi đó, đứa bé được sinh ra khoảng 1,3 kg, tại phòng sinh vào ngày 29/8/1997. Bên cạnh đứa bé sơ sinh chẳng có bà mẹ nào cả, cũng chẳng có bàn tay nào âu yếm nắm lấy đôi tay nhỏ xíu, lạnh ngắt của em. Ở đây, chỉ có em đang hấp hối, tuyệt vọng giữa cuộc sống này.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 1

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 2

Ngay từ đầu đứa trẻ này đã không nhận được sự chào đón.

Đứa trẻ ấy được một y tá cứu sống, em là Melissa Ohden. Quá trình tìm lại mẹ của mình được Melissa viết lại trong cuốn tự truyện You carried me, lúc này cô đã 36 tuổi. Melissa nói rằng, sở dĩ cô còn thở đến ngày này là nhờ một nữ y tá tại bệnh viện. Cô khi ấy là một đứa trẻ sinh non bị vứt vào thùng rác y tế, một nữ y tá đã nghe thấy tiếng khóc yếu ớt, những cử động nhẹ nhàng và hơi thở hổn hển của cô. Y tá đã lập tức đưa cô bé vào phòng chăm sóc đặc biệt. Đứa trẻ bị vàng da, suy hô hấp và động kinh. Các bác sĩ cho rằng, dù cho em bé khi đó sống sót được cũng sẽ bị những vấn đề về thị lực, thính lực và chậm phát triển.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 3

Malissa quyết định tìm lại người đã ‘vứt bỏ’ mình.

Cuối cùng, Melissa đã sống. Ba tuần sau đó, Melissa được chuyển đến Bệnh viện Đại học Y ở thành phố Iowa. Các y tá đã may cho cô bé những bộ quần áo nhỏ xíu và cả những chiếc bỉm đầy màu sắc. Melissa được y tá Mary đặt tên là Katie Rose. Ba tháng tuổi, Melissa được vợ chồng Linda và Ron Ohden nhận làm con nuôi. Cô bé xuất viện, cùng bố mẹ nuôi về nơi ở mới cùng với chị Tammy – cô bé lớn hơn Melissa 4 tuổi, cũng được vợ chồng Linda nhận làm con nuôi.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 4

Malissa và Tammy.

Sau khi được nhận làm con nuôi, vài năm đầu Melissa luôn đau ốm, khi được 5 tuổi, chính nghị lực của bản thân đã giúp cô bé sống khỏe mạnh hơn, phát triển như những đứa trẻ bình thường khác. Khi cô bé 6 tuổi, bố mẹ nuôi chào đón cậu con trai ruột tên Dustin. Melissa và chị gái Tammy ngay từ khi còn bé đã được bố mẹ nuôi cho biết rằng họ đã nhận nuôi hai em. “Tammy và tôi cãi nhau suốt, hệt như các cặp chị em khác. Trong một lần tranh cãi nảy lửa khi tôi 14 tuổi, Tammy đã hét lên: ‘Ít nhất thì bố mẹ chị vẫn muốn chị'”, Melissa kể lại.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 5

Sau trận tranh cãi với Tammy (bên phải), Malissa mới biết được câu chuyện đáng buồn của mình.

Câu nói của Tammy khiến cô bé băn khoăn về sự ra đời của mình. Cũng kể từ đó, Melissa đã bắt đầu cho hành trình tìm kiếm mẹ ruột của mình, dù cô biết mình là đứa trẻ bị bỏ rơi ngay từ khi ra đời, thậm chí cô còn chấp nhận bản thân mình là đứa trẻ không được chào đón trên cuộc đời này.

Trước khi đưa ra quyết định tìm lại mẹ ruột, tìm hiểu về gốc tích của mình, đã có một thời gian dài Melissa chìm đắm trong rượu. Sau dó cô tự nhủ lòng mình “Chắc chắn mẹ mình có uẩn khúc gì, và đây chỉ là một sự hiểu lầm”. Cô sau đó đã thi vào trường Đại học South Dakota, theo học ngành Khoa học Chính trị. Tại đây, Melissa biết rằng mẹ ruột mình cũng từng học ở đây, bà ngoại của cô là một giáo sư giảng dạy ở nơi này. Cô gái đáng thương này vẫn nuôi hi vọng một ngày không xa sẽ tình cơ gặp được mẹ hay bà ngoại mình ở nơi này.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 6

Ngay từ đầu Malissa đã biết mình chỉ là con nuôi, nhưng cô không ngờ mình lại có quá khứ tệ đến vậy.

Ở tuổi 19, khao khát lớn nhất của Melissa là biết rõ về nguồn gốc của mình. Thế nhưng, gần như không có một giấy tờ nào ghi chép về bản thân cô, sự ra đời hay đại loại là thế.

Melissa sau đó chuyển đến thành phố Sioux sinh sống – nơi cô chào đời. Cô cố gắng tìm kiếm người thân, kể cả việc ngồi cả ngày trên thư viện tra cứu thông tin, xem báo ảnh… hi vọng thấy ai đó có gương mặt giống mình. Melissa cũng đăng tin tìm người thân trên báo đài. Nhưng mọi thứ đều vô ích.

Thời gian trôi đi, năm 30 tuổi, Melissa bất ngờ tìm được thông tin về ông bà ngoại mình thông qua một bức ảnh. Nhưng không ngờ khi cô viết thư đến địa chỉ đó thì chỉ có người ông trả lời, và thật hụt hẫng khi người ông nói chính họ không muốn có sự ra đời của cô, và hiện tại họ cũng không có tin tức liên lạc của mẹ cô, bà ngoại cô đã mất.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 7

Cô luôn hi vọng tìm được một thông tin nào đó về người mẹ ruột của mình.

Cùng năm đó, Melissa yêu cầu bệnh viện cho xem hồ sơ bệnh án của mình. Cô gái phát hiện mình đang ở cùng thành phố với bố ruột. Nhưng người bố cũng đã qua đời sau khi nhận được bức thư của cô một thời gian ngắn. Ông không hồi đáp cho cô chỉ vì cảm thấy xấu hổ khi đã không can ngăn mẹ cô phá bỏ cái thai – điều này được em trai của bố cô kể lại khi ông ấy phát hiện được bức thư cô gửi cho bố ruột của mình.

Melissa từ bỏ việc tìm kiếm và kết hôn với Ryan, một nhân viên IT và sinh hai con gái Olivia, Ava. Cô bé Olivia sinh ra cùng bệnh viện nơi cô chào đời.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 8

Melissa từ bỏ việc tìm kiếm và kết hôn với Ryan.

Melissa 36 tuổi, người em họ của mẹ ruột cô bất ngờ gửi email liên lạc sau khi biết cô đang tìm mẹ. Từ đây, Melissa hiểu rõ hơn về bố mẹ mình. Họ là bạn tâm giao từ khi còn thơ ấu, đến khi vào đại học, cả hai đính hôn và mẹ cô đã mang thai. Cô biết mẹ rất khỏe mạnh nhưng kinh nguyệt lại không đều. Do đó, bà không biết mình mang thai, cho đến tận ba tháng cuối thai kỳ. Mẹ không muốn phá thai nhưng ông bà ngoại lại không đồng ý mối quan hệ của mẹ và bố. Phát hiện này là một cú sốc lớn bởi nhiều năm cô không ngừng suy nghĩ rằng mẹ không hề muốn sự tồn tại của cô. Bà ngoại đã sắp xếp cho mẹ đi phá thai chỉ trong vòng vài ngày sau khi biết đến sự tồn tại của cái thai.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 9

Malisa sinh con, và bé Olivia sinh ra cùng bệnh viện nơi cô chào đời.

Cuối cùng, sau ngần ấy năm tìm kiếm, Melissa đã tìm thấy mẹ. Tháng 5 năm ngoái, mẹ con tôi gặp nhau. “Thật dài phải không mẹ”, Melissa nói với mẹ lúc gặp gỡ. Còn mẹ cô bảo: “Mẹ đã bị cướp con đi”. “Bà nói đã mang rất nhiều cảm giác tội lỗi và sống với sự ân hận. Tôi an ủi và nói không trách mẹ. Trong trái tim tôi chỉ có sự tha thứ, cho bố và cho cả bà ngoại”, Melissa tâm sự.

Melissa giờ đây là một diễn giả, nhà văn. Cô sáng lập ra Abortion Survivors Network để hỗ trợ những người gặp phải tình huống tương tự. “Tôi liên lạc với 223 trường hợp sống sót sau phá thai, hầu hết đến từ Mỹ nhưng ở những quốc gia khác cũng nhiều”, Melissa kể lại.

Đứa bé sống sót sau ca phá thai và hành trình 20 năm tìm lại mẹ ruột - Ảnh 10

Cô nói, cô còn nợ nữ y tá năm đó một ân tình.

Hành trình tìm kiếm mẹ ruột suốt 2 thập kỷ của Melissa là một hành trình dài, có cả những giọt mồ hôi và vị mặn của nước mắt. Nhưng cuối cùng cô lựa chọn sự tha thứ thay vì hận thù. Cuộc sống hãy chỉ nên bao dung thôi, đừng cố giận hờn, hận thù nhau, vì chỉ khi nào đủ yêu thương, hạnh phúc mới ắt đong đầy.

Mỹ An (Theo Daily mail)

Một phụ nữ mất chồng muốn tự tử, ông lái đò hỏi một câu khiến cô bật cười!

Fr0m:    Honolulu Nguyen‘s post.

Honolulu Nguyen

 

 

Subject: Một phụ nữ mất chồng muốn tự tử, ông lái đò hỏi một câu khiến cô bật cười!

1. Người góa phụ và ông lái đò 
Một người góa phụ ở bên bờ sông với mong muốn tìm đến cái chết, may mắn được ông lái đò đi ngang qua cứu vớt.

Ông lái đò hỏi người góa phụ: “Tại sao lại muốn tìm đến cái chết?”, người góa phụ nói: “Bởi vì chồng của tôi đột ngột chết nên tôi cũng không thể sống nổi nữa.”
Ông lái đò hỏi: “Cô kết hôn được bao lâu rồi?”
Người góa phụ trả lời: “Được 3 năm.”
Ông lái đò lại hỏi: “Lúc chưa kết hôn, cô làm nghề gì?”
Người góa phụ trả lời: “Tôi làm nghề nhuộm vải trong thôn.”
Ông lái đò lại hỏi: “Khi ấy cuộc sống của cô thế nào?”
Người góa phụ trả lời: “Cũng hài lòng.”
Người lái đò lại hỏi: “Lúc đó cô chưa có chồng, tại sao cũng sống được tiếp vậy?”
Người góa phụ bật cười.

Ông lái đò nói: “Hãy tìm về chính bản thân mình khi chưa kết hôn đi, lúc đó cô có một mình, chẳng phải cũng vẫn cảm thấy hạnh phúc sao?”

2. Ông chủ khách sạn và kẻ lang thang
Ông chủ khách sạn phát hiện có một kẻ lang thang ngày nào cũng ngồi bất động ở ghế đá công viên mà nhìn chằm chằm vào khách sạn của mình, ông cảm thấy rất tò mò.

(Ảnh: internet) (Ảnh: internet)

Một hôm, ông chủ khách sạn không thể nhịn được nữa, thế là ông đi đến chỗ kẻ lang thang và hỏi: “Xin lỗi, anh bạn, tôi muốn hỏi anh một chút, tại sao ngày nào anh cũng nhìn chằm chằm vào khách sạn của tôi vậy?”
Kẻ lang thang nói: “Bởi vì cái khách sạn này quá đẹp! Mặc dù tôi chỉ có hai bàn tay trắng và ngủ trên ghế đá, nhưng mỗi ngày tôi đều nhìn nó như vậy, đến tối sẽ mơ thấy mình được ngủ ở trong đó”.

Ông chủ khách sạn sau khi nghe xong thấy rất đắc ý, liền nói: “Anh bạn, đêm nay tôi sẽ cho anh được mãn nguyện, anh có thể ở miễn phí tại phòng tốt nhất của khách sạn trong một tháng”.

Sau một tuần lễ, ông chủ khách sạn trở lại và muốn xem xem tình hình của kẻ lang thang thế nào, thì phát hiện người này rõ ràng là đã chuyển khỏi khách sạn rồi và trở lại ghế đá của công viên.

Ông chủ khách sạn hỏi kẻ lang thang: “Rốt cuộc thì đã xảy ra chuyện gì?”
Kẻ lang thang nói: “Lúc trước tôi ngủ trên ghế đá, mơ thấy được ở trong khách sạn, nên thấy rất vui vẻ, thế nhưng khi ngủ trong khách sạn, tôi lại thường mơ thấy mình trở lại với chiếc ghế đá cứng nhắc đó. Thật là đáng sợ, cho nên, tôi không thể chịu đựng được nữa!”
Ông chủ khách sạn nghe xong liền phá lên cười và nói: “Thì ra, đôi khi không có cũng khổ mà có cũng khổ!”
Quả thực là, nỗi khổ của con người thực ra không liên quan gì đến “có” hay “không có”, mà nó có liên quan đến “sự chấp trước” (dính mắc) của con người, nếu như coi đồ vật nào đó là thứ nhất định phải có được, khi không có thì ao ước thèm muốn, mà khi có rồi thì lại sợ mất đi… như thế đều là khổ.

3. Một ngón tay và hai bàn chân
Tôi có một người bạn, là nhân viên trong một cơ sở phúc lợi xã hội, anh ta đã kể cho tôi một câu chuyện như thế này:

Một lần, có một bà mẹ gọi điện đến phòng của anh ấy để xin giúp đỡ, cô ấy nói rằng đứa con trai thiếu niên của cô đã vô tình bị cắt đứt một ngón tay. Bởi vì không có cách nào để nối lại nên cậu ấy rất đau lòng, suốt ngày trốn trong phòng, không muốn đến trường nữa.
Nhận được điện thoại, nhân viên xã hội nói: “Cô có thể đưa cậu ấy tới đây để cùng nói chuyện được không?”
Bà mẹ nói: “Thằng bé cảm thấy mình không còn trọn vẹn nên không muốn gặp ai hết, tôi nghĩ là nó không sẵn sàng đi đến đó đâu”.

Thế là anh ấy sắp xếp một nhân viên tới nhà để hỏi thăm.

Hôm đó, người mẹ lo lắng nên từ sáng sớm đã đến cửa phòng con trai gõ cửa và nói có một cô nhân viên xã hội đến thăm, muốn quan tâm một chút đến tâm tư của cậu ấy.
Nhưng bà mẹ chỉ nghe thấy có rất nhiều đồ đạc ném về phía cánh cửa đang đóng chặt, hơn nữa còn nghe thấy một câu nói vô cùng giận dữ: “Mẹ đừng gọi người ta đến, con không muốn ai đến hỏi han gì cả”.

Giờ hẹn đã đến, người mẹ với vẻ mặt rầu rĩ đi ra mở cửa, bà vừa luống cuống vừa thấy có lỗi nói: “Thật sự là rất xin lỗi, lúc nãy tôi có nói qua với con trai là cô tới thăm, nhưng nó rất bướng bỉnh, nói thế nào cũng không chịu gặp cô”.
Cô nhân viên xã hội nói với bà mẹ bằng giọng an ủi: “Không sao đâu ạ, tôi hiểu mà, hay là để tôi thử xem xem thế nào? Phòng của cậu ấy ở đâu?”
Bà mẹ chỉ lên lầu: “Phòng ngay ở trên đầu cầu thang.”
Cô nhân viên xã hội nói: “Tốt rồi, vậy làm phiền chị cầm giúp tôi một cái nạng lên lầu chờ tôi.”

Cô nhân viên này là một người đi tập tễnh, hai chân đeo đôi giày sắt rất nặng, lúc đi lên lầu phải dùng tay vịn vào lan can rồi nhảy từng bậc thang, cho nên cần một người mang giúp cây nạng lên lầu chờ sẵn, chờ đến khi cô ấy lên lầu rồi thì có thể chống nạng vào mà đi.
Cô ấy đi lên lầu giống như đu xà vậy, hoàn toàn dùng lực của hai tay bám vào lan can mà đu, nhấc hai chân khỏi mặt đất, rồi lại rơi xuống bậc cầu thang, bởi vì giày sắt rất nặng nên mỗi lần rơi xuống bậc cầu thang thì phát ra âm thanh rất to.
Vì cô nhân viên đi lên lầu với tốc độ rất chậm, lại phát ra âm thanh thùng thùng rất nặng nề, quả thực là giống như là con rô bốt Mazinger Z đi lên lầu vậy.

(Ảnh: internet) (Ảnh minh họa: internet)

Cậu thiếu niên trong phòng nghe thấy âm thanh vừa quái dị lại vừa đáng sợ tới gần, cảm thấy vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, cậu ta không thể nhịn được nữa liền mở cửa phòng ra để xem là cái gì.

Nhưng cảnh tượng hiện ra trước mặt càng khiến cậu ta thêm chấn động hơn: “Một người phụ nữ với đôi chân không thể vận động được lại đến an ủi một người chỉ thiếu một ngón tay như mình…!”

Cô nhân viên xã hội không nói một câu nào, cậu bé đã tự cảm thấy rằng một chút thương tích của bản thân hoàn toàn không đáng kể gì.

Đọc hết ba câu chuyện này, trong lòng bạn cảm thấy thế nào?
Đau khổ của con người đến từ nỗi sợ bị mất một thứ gì đó, mà sở dĩ người ta sợ là bởi vì họ đã quá quen thuộc đến nỗi trở thành thói quen hay phụ thuộc vào sự tình, sự vật, con người đó… Một khi những thứ đó bị mất đi thì mục tiêu cuộc sống của họ, trọng tâm của họ lập tức bị hút ra, khiến cho họ không cách nào tiếp nhận được sự thật mà rơi vào đau khổ.
Nếu như không có điện thoại, không có internet, không có các cửa hàng tiện lợi… Thì con người sẽ không sống được sao? Con người sẽ không vui vẻ hạnh phúc sao?
Đương nhiên sẽ không như thế.
Nhận ra những thứ mà bạn “nhất định phải có”, đó chính là mấu chốt của tự do. Nói cách khác, một khi “thói quen” đó được cải biến, những điều trước đây “nhất định phải có” đã không còn là nhu cầu phải có nữa, thì bạn sẽ thấy mình được tự do và không còn bị ràng buộc bởi nó.
Đôi khi thay đổi khía cạnh nhìn nhận, thay đổi ý niệm, sẽ phát hiện tương lai phía trước sẽ rộng mở và sáng sủa hơn, bạn thấy có đúng không?

Mai Trà biên dịch