TÌNH KHÔNG ĐẸP NHƯ THƠ!!!

 Thơ thẩn  

    Thơ với thẩn! Mộng với mơ! Mời đọc, đời không là thơ, là mơ! Bực-bội!!! 

 TÌNH KHÔNG ĐẸP NHƯ THƠ!!!

 Nguyễn-Thị-Thanh-Dương 

    Chị đến Mỹ muộn màng và yêu cũng muộn màng. Các anh chị của chị đến Mỹ từ lâu, họ làm bảo lãnh Cha Mẹ, rồi đến chị, diện anh chị em không được ưu tiên cao! Nên lá đơn bảo lãnh nộp sở di trú khi chị 25 tuổi, đến 37 tuổi, chị mới được đặt chân đến Mỹ!!!

Mười hai năm chờ đợi ấy, chị đã phải hi sinh rất nhiều, không dám yêu ai và chẳng dám đáp lại tình ai! Bố mẹ chị đã răn đe? Bất cứ giá nào cũng phải đợi đi Mỹ để đoàn tụ với gia đình, con nhé! không được yêu thương thằng nào hết?!?

Chị vừa vâng lời Cha Mẹ, vừa mộng mơ, tưởng tượng? Thôi thì ráng hy sinh những tình cảm bên này, qua bên ấy, tha hồ lựa chọn một tấm chồng! Cỡ bác sĩ, kỹ sử trở lên, thà muộn mà ngon lành, còn hơn sớm, phải ở lại Việt-Nam, tình yêu nào cũng sẽ lụi tàn, mà chuyện áo cơm thì vất vả cả đờ!. Và chị hớn hở chờ đợi!!!

Qua Mỹ, đến nay đã 3 năm, chị đã sốt cả ruột mà chưa tìm đâu ra một ông bác sĩ, hay kỹ sư! Vậy mà ở Việt-Nam, người ta cứ đồn rằng qua Mỹ lấy chồng dễ ợt, bạn bè, hàng xóm khoe con em họ lấy chồng có đủ loại bằng cấp nọ kia! Dù những cô gái may phước đó chẳng đẹp hơn chị là bao! Thì chị cũng có quyền hy vọng như thế lắm chứ!!!

Bây giờ chị mới hiểu rằng, người Việt-Nam ở Mỹ, học hành, thành đạt thật đấy, nhưng con gái Việt-Nam ở đây không còn khan hiếm nữa, những thế hệ sau này đã lớn lên, đủ? cung cấp? nhu cầu tại chỗ, chưa kể? thị trường? trong nước Việt-Nam thì vô tận, các cô gái trẻ đẹp luôn khao khát! Chờ mong được Việt Kiều về cưới và mang họ qua Mỹ!!!

Thế nên chị lạc lỏng giữa dòng đời, giữa xứ Mỹ và giữa cái tuổi không còn trẻ và chưa đủ già của chị…

Nước Mỹ, sau vụ 9-11 kinh tế khó khăn, công ăn việc làm bị hạn chế, chị không có tay nghề, kinh nghiệm, vốn liếng tiếng Anh dăm ba chữ! Nên chị xin việc hãng nào là cầm chắc bị hãng đó từ chối!!! Cuối cùng, chị cũng được một chỗ làm để kiếm ra tiền, khỏi sống nhờ vào các anh chị, là làm may cho một shop của người Việt-Nam, họ chỉ cần chị biết may, thế là đủ! !!

Cả ngày chị cặm cụi vào cái máy may, vào những miếng vải cắt sẵn, và dăm ba câu chuyện vặt với người bạn may bên cạnh, dần dần cũng thành tẻ nhạt! Người ta có chồng có con, nên cứ nói đến đề tài này là chị né!? Vì sợ động vào nỗi đau âm thầm của chị!!! Chị chỉ còn một niềm vui duy nhất đó là cuối tuần đi chợ, nhìn đủ các gương mặt lạ, những hàng hoá, thực phẩm để nghĩ đến những món ăn ngon sẽ nấụ, và nhất là xin được mấy tờ báo về nhà nằm khểnh đọc chơi!!!

Ở thành phố này có bao nhiêu tờ báo phát hành, chị đều xăng xái xin đủ cho bằng được, thiếu một tờ là chị áy náy! Báo free mà, không mất tiền thì cứ hưởng tối đa, không đọc được mục này thì cũng đọc mục nọ! Mà nếu không đọc gì hết cũng chẳng sao, tờ báo sẽ đem ra lót bàn, đựng rác! Khi gọt trái cây, dùng để đựng vỏ, đựng hột, và túm lại dễ dàng trước khi nhét vào thùng rác! Tiện lợi mọi bề!!!

Thường thì chị hay đọc mục “Tìm bạn bốn phương”, thấy người ta đăng báo tìm bạn, chị cũng ham quá! Nhưng vẫn thấy ngần ngại, sợ Cha Mẹ, anh chị biết rõ tâm địả chị đang muốn lấy chồng! Nên chị chưa bao giờ có ý định đăng lên những lời khao khát của chính mình!!!

Một hôm, chị ngồi buồn chẳng biết làm gì bèn gọt một trái xoài ăn chơi. Trải tờ báo ra bàn, chị vừa gọt vỏ xoài vừa lơ đãng đọc một bài thơ nằm chình ình trên trang báo trước mặt chị! Bài thơ than thân, trách phận và oán đời, nghe mà não nề của tác giả Phong-Trần!!!

Bài thơ đã làm chị xúc động, cái bút hiệu Phong-Trần càng làm chị xúc động hơn, chị tưởng tượng nhà thơ Phong-Trần dày dạn gió sương, cũng đang là một kẻ cô đơn, mòn mỏi như chị! Chị muốn cắt bài thơ ra để dành, nhưng những vỏ xoài đã dính lên bài thơ làm ướt nhẹp! Nghĩ mà tội nghiệp cho nhà thơ, có biết đâu tác phẩm tim óc của mình bị ngược đãi ơ hờ như thế! Nếu chị không vừa gọt trái xoài vừa liếc mắt đọc bài thơ cho đỡ sốt ruột, thì có lẽ chẳng bao giờ chị biết đến nhà thơ Phong-Trần cả!!!

Từ hôm ấy trở đi mỗi tuần chị đều chăm chú giở từng trang, tờ báo mà chị đã gặp! Nhà thơ Phong-Trần trong lúc gọt xoài, để tìm thơ anh!!! Chị đọc từng chữ, từng dòng và ghiền thơ anh hồi nào không hay! Chị liền bạo gan, gọi phone tới toà soạn báo để hỏi thăm và xin số điện thoại của nhà thơ Phong-Trần với tấm lòng ái mộ!!! Chị không ngờ, cú phone đầu tiên chị gọi nhà thơ Phong-Trần được hân hoan đón nhận đến thế, nghe chị nói rất thích thơ anh, nhà thơ Phong-Trần đã kiên nhẫn chép tay cả chục bài thơ và gởi bằng bưu điện cho chị!!!

Từ đấy, ngành bưu điện đang hồi ế ẩm, bỗng nhiên vớ được hai khách hàng chăm chỉ viết thư cho nhau, nhờ bưu điện chuyển giùm! Và cũng từ đấy, mỗi lần thơ anh đăng lên báo, đều ghi tặng tên chị phía dưới, những bài thơ anh dịu dàng hơn, tình tứ hơn, làm chị cảm động!!!

Chị mang đến shop may một trái tim vui đang yêu, chị dò dẫm để khoe khéo với bà thợ may bên cạnh mà chị từng trò chuyện mỗi ngày:

– Nhà chị có hay đọc báo chí Việt-Nam không?

– Có chứ, cả nhà cùng đọc, ở xứ Mỹ buồn thấy bà! Cuối tuần có báo chùả đọc cũng vui!!!

– Thế chị có đọc tờ báo không?

Bà kia cướp lời, nhanh nhẩu:

– Ðã nói là báo nào cũng đọc hết trơn, báo cuốn, báo tờ có đủ cả! Một mặt ông xã đi lấy, một mặt tôi đi chợ xin thêm, nên không sót tờ nào! Có khi còn lấy dư, ê hề chật cả nhà!!!

Chị vừa trách vừa thấp thỏm vui mừng:

– Lần sau lấy báo vừa đủ coi thôi, lấy dư người khác không có đọc, tội người ta! Thế chị có đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần không?

Bà bạn may khựng lại:

– Ủa!…thằng đó là thằng nào?

– Sao chị bảo báo nào cũng đọc hết? Phong-Trần là một nhà thơ!!!

Bà kia lại nhanh nhẩu:

– Ôi, ai hơi đâu để ý tới mục thơ thẩn, tôi chỉ khoái coi mục tử vi hàng tuần thôi hà! Thơ của thằng Phong-Trần hay của bất cứ ai cũng không nhằm nhò gì với tôi hết!!!

Chị bực mình, nghĩ thầm: Con mẹ này trước ở Việt-Nam chuyên mua bán ve chai lông vịt, trình độ đâu mà đọc văn thở?!

Chị lại gói niềm riêng, đợi khi nào gặp được người cao cấp hơn sẽ hỏi! Một hôm, có cặp vợ chồng, bạn của người anh, đến nhà chị chơi, cả hai đều là kỹ sư điện, họ rất thân với gia đình chị, chị liền lân la đến gần người vợ để chuyện trò:

– Chị ơi, chị có thích đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần đăng trên báo Việt-Nam ở đây không?

Bà kỹ sư điện trả lời nhanh như điện:

– Chị không có thì giờ đọc mấy bài thơ đăng trên báo chợ đâu em ạ, thơ chẳng ra thơ, vần một nơi, ý một nẻo! Có đọc chỉ thêm bực mình!!!

Chị cố gỡ gạc, giải thích:

– Cũng tuỳ chứ chị! Em thấy thơ của nhà thơ Phong-Trần có hồn lắm?

Bà kỹ sư vẫn chua ngoa:

– Ở Mỹ người ta ai cũng lo đi cày để kiếm tiền! Đa số những đứa dở hơi mới rảnh để làm thơ đăng báo hay tự đăng trên net và cũng được gọi là thi sĩ, là nhà thơ!!!

Rồi bà hùng hồn chỉ trích:

– Báo chí ở Mỹ ai làm chả được! Trước kia ở Việt-nam, là một anh thợ mổ thịt heo hay đạp xe 3 bánh, sang đây cũng có thể làm chủ báo ngon lành, bài vở lên internet lấy xuống, hay nhờ người dịch vớ vẩn từ báo Mỹ! Lại thêm có những đứa dở hơi như nhà thơ Phong-Trần nào đó, cặm cụi, bỏ thì giờ, sáng tác thơ văn, gởi về đóng góp cho tờ báo!!!

Chắc bà kỹ sư ngày xưa thất tình một anh nhà báo! Nên mới cay cú thậm tệ giới này? Làm một tờ báo ít nhiều cũng phải có kiến thức, hay năng khiếu về báo chí văn thơ, và nhất là lòng yêu nghề thì tờ báo mới sống còn! Chị chẳng hơi đâu tranh luận vấn đề này làm gì!!!

Chị buồn quá, thế là từ thành phần lao động đến trí thức, không ai biết đến nhà thơ Phong-Trần của chị cả! Nói gì đến tên chị đứng khiêm nhường bé nhỏ dưới mỗi bài thơ của anh? Thì thôi, mình chị đọc thơ anh, mình chị hãnh diện vậy!!!

Mối tình thơ của hai người kéo dài được hơn hai chục số báo và mấy chục lá thư qua đường bưu điện, thì họ bắt đầu hẹn để nhìn mặt nhau cho thoả lòng thương trộm nhớ thầm!!!

Lần đầu tiên gặp chị đã e ấp nhìn anh :

– Anh ơi, tại sao anh lấy bút hiệu Phong-Trần, nghe lãng mạn và bụi đời thế?!

Anh trả lời thản nhiên:

– Có gì đâu, tên anh là Trần-Văn-Phong! Ðọc theo kiểu Mỹ là Phong-Trần!!!

Thì ra thế! tên anh Trần-Văn-Phong viết ngược theo kiểu Mỹ thành Phong-Trần! Vô tình trở nên lãng mạn, rất thích hợp cho một người làm thơ như anh! Chứ anh có phải cất công suy nghĩ cho cái bút hiệu của mình đâu!?


Chị không đẹp lắm, độc thân và trinh nguyên, nhưng hơi cứng tuổi! Còn anh, hơn chị đúng 10 tuổi, đã một đời vợ, li dị, hai con theo Mẹ! Cho nên mấy năm nay anh trở thành người đàn ông độc thân, đi về một bóng, anh mong có một người đàn bà cho căn nhà ấm lên, cho lòng anh đỡ trống trải!!!

Thế là họ không có gì để chê nhau cả, mối tình thơ đã đi đến đoạn kết mong muốn: Họ cưới nhau!!!

Chị lấy anh vì sau 3 năm sống ở Mỹ, chị đã thực tế biết rằng khó có thể kiếm một tấm chồng bằng cấp Bác sĩ, kỹ sư, khi trình độ học vấn thấp, tuổi đã xế chiều và nhan sắc chẳng có gì đáng nhớ! Như món hàng ế ẩm, muốn bán được, cần phải hạ giá đến đại hạ giá!!! Chị đã ON SALE cuộc đời chị, lấy một người chồng chẳng những đã không bằng cấp cao, mà còn có một quá khứ lòng thòng vợ con! Dù anh hết tình hết nghĩa với người vợ, nhưng hai đứa con, chắc vẫn đậu lại trong lòng anh nỗi thương nhớ xót xa!? Trái tim anh có yêu chị cách mấy, đôi khi cũng tạm ngừng nghỉ để quay về với hai con! Chị cũng đành thôi, ở đời có gì tuyệt đối đâu?!

Khi đọc một bài thơ, không nhìn thấy tác giả, bài thơ hay sẽ làm rung cảm lòng người, nhưng khi nhìn thấy tác giả thì những rung cảm ấy sẽ giảm đi một ít, và nếu sống cùng một nhà với tác giả, thì bài thơ bỗng trần trụi như đời thường của người đã sáng tác ra nó!!!

Những ngày, những tháng trôi qua, chị không còn thấy thơ anh hay nữa! Dù mỗi khi đăng báo, anh vẫn đề tặng tên chị, và chị đã ngạc nhiên không hiểu sao chị lại thay đổi nhanh chóng thế?!

Nhà thơ Phong-Trần mà chị ngưỡng mộ và yêu mến ngày nào, bây giờ là một thằng đàn ông suốt ngày cởi trần trùng trục vào mùa Hè, anh mặc duy nhất cái quần đùi, đôi vai anh gầy, nhô lên, tưởng gío cũng có thể lung lay! Vậy mà trước kia anh đã làm bài thơ với câu: Ðôi vai anh sẽ là nơi em tựả! Thơ chỉ là bịa đặt và hoang tưởng!!!

Anh thường ngồi ở ghế, hai chân thô lỗ gác lên bàn, vừa nhâm nhi ly trà nóng vừa sáng tác thơ! Trong khi ngoài bếp, chị đang nấu nướng, dao thớt khua lên, chảo mỡ kêu ì xèo! Và trong phòng thì thằng cu Tí bé bỏng của hai người đang nằm o-oe chơi một mình! Nhưng khi nó khóc ré lên, chính anh là người phải vội vàng hạ chân xuống bàn, cắt đứt dòng tư tưởng đang tuôn ra để chạy lại tủ lạnh.lấy bình sữa hâm cho bớt lạnh, và nhét vô miệng thằng con, hoặc tệ hại hơn, anh phải thay diaper cho nó, mất nhiều thời gian hơn, xong việc thì ý thơ cũng bay xa! Tác phẩm bằng xương bằng thịt đã hại tác phẩm tinh thần của anh!!!

Có lần, anh ngồi lì để viết cho xong một ý thơ, không chạy ra đáp ứng ngay tiếng khóc của thằng Cu Tí, thì vợ anh đã lớn tiếng:

– Không ra mà lo cho nó đi! Thơ với thẩn, để thằng nhỏ chết đói bây giờ!

Anh tức giận nhìn nàng thơ của anh, người đã từng dịu dàng, âu yếm đi vào những bài thơ của anh! Bây giờ hiện nguyên hình là một con mẹ khô cằn sỏi đá, đầu óc lúc nào cũng toan tính đến chuyện thực tế, đói no, bạc tiền!!! Trước chị ngưỡng mộ anh, coi thơ anh là hương hoa trong cuộc sống! Bây giờ những hương hoa ấy đã bay đi, đã trở thành những món phụ tùng không cần thiết!!!

Một buổi sáng thức dậy, trời chuyển gió lạnh, lòng anh bỗng vu vơ cảm xúc yêu thương khi nhìn ra ngoài trời những chùm lá cây đẩy đưa trong gió! Anh thèm được rủ chị cùng anh đi sóng đôi trong cái không gian lạnh lẽo ấy để tìm hơi ấm của lòng nhau! Anh phấn khởi hỏi chị:

– Em ơi, ngoài kia đang gió lạnh. Em có biết anh đang mơ ước gì không?

Chị chu mỏ đáp sỗ sàng:

– Mơ ước có một tô phở nóng hổi với đầy đủ tương ớt, ngò gai, húng quế ngay trước mặt để ăn cho ấm người chứ gì!? Hôm nay tôi không có rảnh mà hầm xương nấu phở cho anh đâu!!!

Trời ơi! Khi không mà anh thấy lạnh cả lòng, lạnh hơn cả những chùm lá trên cây đang run lên vì gió lạnh ngoài kia!

Nhưng cũng chưa lạnh, chưa đau bằng những bài thơ anh đang viết dở dang, những ý thơ chợt đến anh đã ghi vội trên tờ giấy để trên bàn đã bị chị dọn dẹp vứt vô thùng rác thẳng tay, không một thắc mắc! Anh tiếc đứt ruột, trách chị, thì chị nghênh mặt lên, đe doạ:

– Quý hoá gì? Thơ với thẩn viết lung tung rác cả nhà! Lần sau, anh còn để bừa bộn tôi giục thùng rác nữa đó!!!

Anh đành ngậm ngùi, ra moi thùng rác tìm lại mảnh giấy thơ lẫn lộn với những tã dơ của Cu Tí và những thứ rác rưới khác! Chị đâu biết rằng một cảm xúc nào đó đã qua rồi đâu dễ gì tìm lại được, nếu không ghi vội trên những mảnh giấy kia!!!

Thỉnh thoảng anh gọi phone thăm hai đứa con của đời vợ trước, một đứa đã lớn, một đứa còn đang học high school! Thương con, anh muốn gởi cho nó một hai trăm làm quà! Nàng thơ của anh đã trề môi mai mỉa:

– Lương công nhân có là bao, mà hứa hẹn cho nó tiền?! Hãy làm bài thơ tặng nó cho có tình cảm? Thế mới là vô giá!!!

Anh đau xót và tủi quá, chẳng lẽ lại cãi nhau, lại ly dị? Cuộc đời đâu có đủ dài cho con người, để họ thử thách lấy nhau, bỏ nhau, như trò chơi trẻ con? Thích đó, rồi lại chán chê, muốn bỏ?!?

Anh vẫn đi làm công nhân và vợ anh đi làm ở shop may, thằng Cu Tí đem gởi bà ngoại chiều tối mới mang về! Vợ anh đang chạy đua với thời gian, chị sang Mỹ muộn, lấy chồng muộn và có con muộn! Nên muốn làm gấp rút, kiếm nhiều tiền để mua nhà như người ta, ở nhà thuê, trả tiền tháng nào là mất luôn tháng đó!!!

Ước mơ bình thường thế, mà trời cũng không để yên! Anh bị lay off, anh không có tội gì cả, hãng không có việc nên phải giảm bớt nhân viên! Vậy mà chị đổ tội cho anh:

– Sao bao nhiêu người hãng không lay off mà lại là anh?! Chắc tại anh mải nghĩ thơ nghĩ thẩn làm không được việc, nên họ đuổi cho bõ ghét chứ gì?!

Anh làm ngơ, chấp chi con đàn bà nông cạn! Anh lo đi làm giấy tờ xin hưởng tiền thất nghiệp, rồi thủng thỉnh xin việc làm sau! Nhân lúc rảnh rỗi bất đắc dĩ này anh nghỉ ngơi và làm thơ! Cuộc đời là thế, ngay cả khi hoạn nạn, cay đắng cũng có thể thành thơ!!!

Nhưng con vợ không để anh yên, chị đi ra, đi vào, lườm nguýt! Thấy anh vẫn cầm bút, vùi đầu vào trang giấy, chị chịu không nổi, ghé mắt vào sinh sự:

– Anh đang làm gì đó?!

Anh cười, dù thật lòng chẳng muốn cười:

– Làm thơ!

Chị kêu lên, như chưa từng thấy anh làm thơ bao giờ:

– Trời ơi, không lo viết đơn xin việc, mà còn ngồi làm thơ? Thơ có ăn được không? Có đổi ra tiền để đi chợ hay trả bill được không?!

Anh kiên nhẫn:

– Tất nhiên là không! Nhưng nó cho anh một niềm vuỉ!!! Nàng thơ ngày nào của anh lồng lộn lên:

– Anh sống không có lập trường như thế à? Phải đối diện với thực tế, phải đi tìm việc làm chứ!?

Rồi chị nghẹn ngào như một người vợ đau khổ khi bị chồng phụ rẫy:

– Bây giờ tôi mới hiểu lời của chị kỹ sư, bạn của anh tôi, chị ấy nói ?Mấy đứa làm thơ toàn là mấy đứa dở hơi, sống trên mây!?

– Em cứ làm như nếu anh không đi làm, thì vợ con chết đói ngay ấy! Ở Mỹ, chuyện lay off thất nghiệp đến với tất cả mọi người, bất cứ lúc nào! Việc gì em phải đau khổ thế?! Rồi anh cũng sẽ xin được việc làm khác thôi, nhưng trong lúc rảnh rỗi, anh vẫn có quyền mơ mộng, làm thơ! Thơ đến với anh những lúc hạnh phúc và cả khi thất vọng, khổ đau!!!

Nhìn vẻ mặt nghiêm trang của anh, nhìn đôi mắt anh ngời sáng long lanh đang nhìn thẳng vào mắt chị với sự phản kháng âm thầm mà mãnh liệt! Chị bỗng thấỷ khớp không dám làm ầm ĩ thêm nữa!!! Chị chợt nhớ đã mấy lần Mẹ chị khuyên chị rằng: Mày có thằng chồng hiền lành, thương vợ thương con là tốt phước rồi! Đừng hiếp đáp nó, con chó bị dồn đến nước cùng cũng quay đầu lại cắn chủ! Nó mà tức giận quá, mất khôn, nó ly dị, thì mày chỉ có nước ôm con nuôi tới già! Còn nó, nếu ham vui như người ta, về Việt-Nam lấy vợ trẻ, vợ đẹp vẫn còn được?!

Cho nên chị không dám quát tháo thêm nữa, chị đành bỏ đi làm việc khác sau khi đã quẳng lại cho nhà thơ một cái nguýt mắt đầy đanh đá!

Một mình anh ngồi lại, giận vợ nhưng cũng thương vợ, đàn bà thường thực tế và nông cạn như thế! Anh hiểu, cái tình yêu thơ mộng mới ngày nào đã thay thế bằng những lo âu, toan tính trong cuộc sống! Chị quá lo cho gia đình, cho tương lai của con! Chị sợ tuổi đời của cả hai người không đủ dài, để làm nên cơ nghiệp như chị mong muốn!!!

Trên tờ báo hàng tuần vẫn tiếp tục đăng thơ anh, thơ anh vẫn tình tứ, vẫn ướt át! Nhưng nếu người ta để ý, thì dưới mỗi bài thơ, anh không còn ghi lời tặng cho chị nữa!!!

Mục tiêu của đời chị là có tiền để mua nhà, để dành lo cho tương lai thằng Cu Tí, làm đến cả đời chưa chắc xong! Nên chị cần quái gì điều đó, cái tên chị có dính trên báo cũng chả làm túi tiền chị tăng thêm một xu nào!?

Những bài thơ của anh đã trở thành vô nghĩa! Và mối tình thơ của chị đã chết tự lúc nào!!!

     Nguyễn thị thanh dương

Thân Phận

 Thân Phận

 Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Mười năm khổ nhục trong tù, nay Chương được thả về nhưng bị cưỡng bức cư trú tại khu kinh tế mới Ðạm-Ri. Những tháng năm bị kiềm tỏa giữa núi rừng cheo leo, giờ được sải đôi chân tự do trên con đường dẫn về phố thị lòng Chương nghe phơi phới lạ thường!

Những bạn tù cùng trên đường về, người nào cũng nôn nao mong được gặp mặt người thân. Riêng Chương thì vô tư, chẳng bận tâm vì không còn ai để đoàn tụ. Chàng bây giờ sống một cuộc sống đơn độc của một kẻ không nhà.

Cha mẹ Chương đã mãn phần từ lâu. Vân, vợ chàng và đứa con gái lên hai đã biệt tích từ năm 1976 khi ông Trương Thanh cha nàng ở Hà Nội về buộc Vân phải làm đơn ly dị chồng để lấy tên cán bộ thân cận của ông từ Bắc vào. Nàng chống cự quyết liệt rồi ôm con bỏ nhà ra đi. Ông Trương Thanh gởi đơn lên chính quyền tố cáo Hoàng Thuý Vân đã mang con vượt biên, vợ chồng ông không chịu trách nhiệm trước hành động phản quốc đó.

Sau khi làm thủ tục trình diện chính quyền sở tại, Chương may mắn xin được một chân công nhân gạch ngói tại vùng Madagui. Chàng có nơi ăn chốn ở tạm thời.

Ngay buổi đầu, anh em công nhân trong đội gạch ngói đã mở rộng vòng tay đón nhận Chương. Họ tận tình hướng dẫn, tập luyện cho chàng học nghề theo từng khâu một. Dù phải làm việc nặng nhọc liên tục dưới ánh nắng thiêu người, Chương vẫn cảm thấy hạnh phúc. Một niềm hạnh phúc đơn thuần của đời sống tự do ngoài vòng kềm kẹp. Giá trị mồ hôi đổ ra được trả công và nhân cách của chàng dù sao cũng không bị xúc phạm từng giờ từng phút như trong lao tù.

Sáng nay, một đoàn xe tải lần lượt nối đuôi nhau đậu trước sân lò ngói. Loa phóng thanh từ Ban Quản Trị yêu cầu công nhân tập họp chuyển ngói lên xe. Chương theo chân mọi người sắp thành hai hàng dọc. Mỗi hàng là một dây chuyền. Mỗi chồng ngói năm viên được chuyền tay nhau đưa vào tận lòng xe Mọi người đang chăm chú làm việc, bỗng có tiếng gọi:

“Ðại bàng, Ðại bàng!”

Anh em công nhân đưa mắt hỏi nhau ai là đại bàng, rồi tất cả nhìn vào Chương khiến cho dây chuyền ngói khựng lại.

Một người đàn ông đầy đặn, tầm thước từ trong phòng lái bước xuống xe rồi tiến thẳng tới nơi Chương đứng. Anh ta kéo Chương ra khỏi hàng, ôm chặt lấy tấm thân gầy gò của chàng reo lên:

– “Ðại bàng ơi! Em không ngờ thầy trò mình lại được gặp nhau đây. Cám ơn Trời Phật! Em đã hai lần ghé vào nhà cũ để hỏi thăm đại bàng về chưa nhưng căn nhà thì đổi chủ, chị Vân và cháu Vân Chuyên, nghe nói đã vượt rồi.”

“Ðường đạn may mắn” đã cắt đứt hàng lông mày bên trái để lại vết sẹo trên khuôn mặt Ðông đã giúp cho Chương nhận ra người tài xế năm nào.

Chuyến đi công tác qua vùng Mỏ Cày thuộc tỉnh Quảng Ngãi cuối năm 1973, một viên đạn bắn sẻ của địch lướt qua trước mặt Chương rồi chạm sát vào da trán của Ðông lấy luôn hàng lông mày của anh ta. Nếu tốc độ xe lúc ấy nhanh hơn một tích tắc là chàng nhận đủ viên đạn vào đầu.

Chương từ chối sự trợ giúp tài chánh của Ðông, viện lý do là lương công nhân đủ sống và cám ơn Ðông vẫn còn quí mến chàng.

Bảy ngày sau, Chương nhận được lá thư của Ðông:

“Anh Chương kính mến,

Trước hết, em xin anh tha lỗi vì hôm gặp anh, em quá đường đột đã làm mất đi phép tắc của người thuộc cấp và đã khiến cho anh khá ngại ngùng với tiếng gọi ‘Ðại Bàng’. Nỗi vui mừng được gặp lại anh đã làm cho em quên giữ gìn ý tứ. Ôi, sung sướng biết chừng nào khi thấy anh còn lành lặn cho dù lao tù đã vùi dập anh suốt mười năm.

Từ khi còn trong quân ngũ, cái nhóm từ huynh-đệ-chi-binh đối với em chưa đủ nói lên tình mặn nồng ruột thịt, chết sống có nhau như anh với đồng đội. Em rất kính trọng và thương quý anh, bởi anh là vị chỉ huy đã thể hiện tấm lòng nhân ái đối với binh sĩ dưới quyền. Chắc anh còn nhớ nhóm lưu linh của bọn em: Ðoàn, Hồng, Hiệp, Hàn và Ðông. Bọn em đã ‘tái kết nghĩa đào viên’ trong năm vừa rồi. Chúng em hứa với nhau: ‘Ðứa nào gặp đại bàng Lê Hồng Chương trước là phải cấp báo ngay cho anh em. Ðồng thời, cùng nhau chăm sóc giúp đỡ ông Thầy’. Như vậy, em là người được diễm phúc gặp huynh, người anh cả đã một thời tận tụy với đàn em.

Ngày Mười Lăm tháng tới đây, nhóm lưu linh hẹn gặp nhau tại nhà em để được chúc sức khỏe ông thầy. Em sẽ đích thân xuống Madagui chở anh. Chúng em cũng có bàn thảo tìm một việc làm mới thích hợp với sức khỏe và năng lực của anh hiện giờ.

Rất mong ông Thầy chấp thuận cho cuộc họp mặt tình nghĩa này.

Ðại diện nhóm lưu linh.”

Em Ðông.

Ðọc xong bức thư, Chương bồi hồi xúc động. Thì ra trong cuộc biển dâu vẫn còn đọng lại một chút tình.

Cuộc gặp gỡ với những chiến hữu cũ đầy thân tình và cảm động. Họ xem Chương như một người anh và thật sự quan tâm tới chàng. Cái nhóm lưu linh ấy chẳng có người nào khá giả cả, hầu hết là công nhân và xã viên hợp tác xã. Riêng Ðông, đời sống có phần thoải mái hơn nhờ những gói cà phê quốc cấm giấu trong xe hàng hợp pháp.

Họ tích cực vận động và qua trung gian của người đồng hương với Ðông, hiện là thủ trưởng một cơ quan ở huyện xin cho Chương một chân trong Tập Đoàn Sản Xuất Cà Phê ở khu đất mới Tân Hội. Chàng có hộ khẩu thường trú và được phục hồi quyền công dân sớm sủa.

Trên thực tế, Chương có trách nhiệm cai quản ba mẫu cà phê của những người giấu mặt trong bóng tối đầy quyền lực. Nhờ vào lực lượng cơ khí của đội xe ủi đất thuộc Công Ty Thủy Lợi, mấy tay chóp bu địa phương đã tạo được những mẫu cà phê hạng nhất tại vùng này.

Mùa cà phê đã đến thời kỳ thu hoạch. Ðồng bào dân tộc đến tấp nập ghi tên hái cà phê lấy công. Trẻ em cũng tham gia khá đông đảo. Chúng rất rành rẽ trong kỹ thuật hái cà phê, vừa làm vừa nói chuyện, cười đùa ríu rít. Trong số này có một em bé gái đồng lứa với các em khác nhưng làm việc còn rụt rè chậm chạp. Bạn bè gọi tên bé là Ca-len và em nói tiếng dân tộc Ra đê. Bé đeo những chuỗi cườm đủ màu sắc trên tay, trên cổ và một chiếc gùi quá lớn sau lưng. Thoạt nhìn, bé giống như một nghệ sĩ tí hon đóng vai dân miền Thượng.

Con bé cũng có màu da bánh mật, đầu tóc cháy nắng vàng hoe. Ðặc biệt là mái tóc của nó được chải rẽ đường ngôi giữa đỉnh đầu và lúc nào cũng có kẹp vắt tóc hai bên thái dương. Với chiếc mũi dọc dừa nhỏ nhắn cùng cái miệng mủm mỉm xinh xinh khiến nó nổi bật trong đám trẻ dân tộc kia. Bé làm việc cặm cụi, ít khi cười đùa. Nó chỉ trả lời mỗi khi bạn hỏi. Gặp lúc những câu chuyện kể vui vui, con bé nở nụ cười trông thật rạng rỡ, phô ra đôi hàm răng trắng ngần.

Chương nhìn con bé mà nghe lòng xốn xang. Chàng nhớ đến Vân Chuyên đứa con gái của mình và người vợ đã vượt biên. Nhiều đêm Chương suy nghĩ nếu Vân đã đến được bến bờ tự do thì ít nhất nàng cũng biên thư gởi về nhờ bạn bè chuyển cho chàng. Ðã gần mười năm rồi còn gì! Từ ý nghĩ đó nên Chương hoàn toàn thất vọng. Biết đâu hai mẹ con nàng đã bỏ xác ngoài biển khơi!

Ngày mới quen nhau, Chương chỉ hiểu lờ mờ Vân mồ côi cha. Mẹ Vân, bà Hương quê Thừa Thiên đến lập nghiệp tại thị trấn Sông Vàng. Một khu thị tứ sầm uất nên nghề buôn bán vải của bà mỗi ngày mỗi phát đạt. Trong vòng có mấy năm mà mẹ Vân đã tạo dựng được một sự nghiệp thuộc loại nhất nhì tại thị trấn.

Tình của Chương và Vân ngày càng đậm đà khắn khít. Lễ thành hôn của hai người tuy đơn sơ nhưng thật thơ mộng: chồng lính chiến, vợ nữ sinh. Họ hàng tham dự là đám áo màu tray-di cùng với đám nữ sinh, bạn học của Vân. Lễ cưới tựa như buổi tiệc khao quân có các em gái hậu phương chiêu đãi.

Ngày vào tù, Chương được Vân báo cho biết cha nàng từ Hà Nội đã trở về gặp lại mẹ. Thì ra bà Hương đã dấu kín lý lịch có chồng tập kết ra Bắc. Lòng Chương cũng cảm thấy vui vui bởi từ nay bé Vân Chuyên có đầy đủ ông bà ngoại.

Ðến mùa thu hoạch cà phê, vùng đất mới Tân Hội nhộn nhịp hẳn lên. Xe tải, xe con của cán bộ thương nghiệp từ các nơi đổ về tấp nập.

Tất cả thành phẩm cà phê trong vùng này khi xuất đi đều phải có giấy phép của chính quyền huyện. Nhiều trạm kiểm soát hỗn hợp được bố trí trên các tuyến đường vào ra khu vực. Cà phê của cá thể do ngành thương nghiệp thu mua theo giá ấn định, không được mang ra ngoài bán. Tuy vậy, vẫn có một số con buôn lén lút mua giá cao gấp bội. Họ thu góp rồi gởi trong nhà dân. Chính quyền biết rõ điều đó nên thường xuyên đột nhập vào nhà dân khám xét. Nếu bị phát hiện, cà phê lậu bị tịch thu và chủ nhà bị phạt tù.

Cà phê là sản phẩm do nhà nước độc quyền quản lý cũng như tiêu hạt trầm hương và quế ống. Ai chứa trong nhà là mang mối họa vào thân.

Nỗi oái ăm của một dân tộc là mọi sản phẩm của mình làm ra đều dồn vào tay nhà nước. Những con tôm hùm, mực nang, sò huyết… là hải sản dồi dào trên vùng biển nước ta, thế mà chúng biến mất trong đời sống dân chúng. Ðồng bằng Cửu Long là vựa lúa của miền Nam giờ đây đã trở thành vựa lúa xuất khẩu của Ðảng cầm quyền để người dân không đủ gạo ăn giáp hạt.

Hai ngày qua bé Ca-len không đến nông trường. Sáng nay, bé lại xuất hiện trong đám trẻ con dân tộc. Khuôn mặt u buồn của bé hôm nay lại càng buồn hơn. Cuối ngày, bé là người giao sản phẩm trễ nhất.
Phần công của em chỉ bằng một nửa của mấy ngày trước. Chương động lòng cho công em bằng lượng cà phê của bạn bè. Nó nhìn chàng rồi trịnh trọng:

– Cám ơn ông.

Con bé phát âm tiếng Việt rất chuẩn. Khác hẳn giọng nói lơ lớ của những đứa bé dân tộc kia. Chương ngạc nhiên hỏi:

– Cháu là người Kinh? Con bé gật đầu.

– Hai ngày qua sao cháu không đến? Bé ngước nhìn Chương với đôi mắt ướm lệ:

– Mẹ cháu bệnh.

Chương tò mò:

– Thế bố cháu đâu?

Con bé lắc đầu. Chương định hỏi thăm thêm gia cảnh của nó, nhưng bé vội vã ra về.

Chương nghĩ con bé Ca-len này được đặt tên theo âm ngữ dân tộc Ra đê, như vậy cha mẹ của nó, một trong hai người phải là giống dân thiểu số sống tại vùng Ka-long bên dưới chân đèo Prein.

Bé mang chiếc gùi lớn sau lưng, đôi chân tong teo trong chiếc quần đùi rộng quá khổ, nhìn từ xa giống như con búp bê đang di động. Cơn gió xoáy chạy dọc theo con đường băng qua ngọn đồi cuốn hút bụi lá lên cao nom như một cái phễu. Bước chân con bé xiêu xiêu như rơi vào cuốn phễu đó. Áo quần và tóc bị cuốn hút ngược lên như muốn vuột khỏi cái thân hình gầy guộc, đen đủi của nó. Bé vẫn bình thản bước đi khi nắng chiều vụt tắt.

Ðêm về, Chương trằn trọc mãi, lòng cứ xót thương cho hoàn cảnh bất hạnh này. Giấc ngủ nặng nề đến với Chương trong lúc nửa đêm về sáng. Chàng mơ thấy bé Ca-len rớt xuống vực sâu bên dưới dòng thác. Nó hụt chân, trồi đầu lên gọi chàng: “Bố ơi cứu con với” rồi cả thân mình nó chìm lỉm xuống dòng sâu. Chương giật mình bừng tỉnh, lồng ngực vẫn còn nghe nặng trĩu.

Từ sáng sớm, vườn cà phê đã rôn rịp người. Chương có ý đợi bé Ca- Len mà vẫn không thấy. Chàng muốn đến nhà để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình em ra sao, và có thể giúp được gì cho nó. Chương hỏi thăm khá nhiều người nhưng chẳng ai biết chỗ ở của bé. Hai ngày chờ đợi con bé trở lại vườn cà phê là hai ngày lòng chàng như lửa đốt. Chương càng nghĩ đến nó, chàng càng tự trách mình thờ ơ và vô tình.

Cuối cùng rồi bé Ca- Len cũng đến. Nó lặng lẽ làm việc giữa tiếng cười vui của đám trẻ. Đôi mắt bé trũng sâu như người thiếu ngủ. Mái tóc hoe vàng cháy nắng không còn ngôi rẽ ngay ngắn giữa đỉnh đầu, cây kẹp vắt hững hờ trên mái tóc lưa thưa rối bời.

Cuối ngày, Chương cố giữ con bé ở lại đến khi mọi người đã ra về. Chàng bày tỏ ý định đến nhà để xem căn bệnh của mẹ nó ra sao và chàng có thể giúp đỡ được gì không.

Mặt trời mệt mỏi ngã mình trên đỉnh rừng già, phớt chút nắng vàng nhợt nhạt trên các ngọn đồi cà phê. Chương hăm hở theo chân bé Ca-Len đến nhà.

Một túp lều mái tranh vách nứa nằm khuất giữa đám bắp đang độ ra hoa. Con bé nhè nhẹ đẩy cánh cửa liếp bằng nứa đơn sơ.

Chương bước vào túp lều lờ mờ ánh sáng. Từ nơi góc nhà, tiếng yếu ớt của một người đàn bà vẳng lên:

– Ai đó?

Chương cố vận dụng sự điều tiết của đôi mắt để nhìn cho rõ khuôn mặt người đang nằm trên chiếc giường tre ọp ẹp:

– Thưa bà, tôi là người làm ở nông trường cà phê… Chương trả lời chưa hết câu, bỗng người đàn bà kêu lên:

– Ôi! Anh Chương! Rồi lịm đi…

Chương sững sờ! Tiếng nói của Vân, vợ chàng. Giọng nói thân yêu đã ngự trị trong tim chàng, mọc mầm trong ký ức chàng. Giọng nói đã quần tụ trong nỗi nhớ quay quắt suốt mười năm trong tù, làm sao chàng lầm lẫn được. Chương nhào tới. Khuôn mặt xanh xao của Vân hiện ra. Trong một giây khựng lại, rồi chàng ôm chầm lấy vợ, kêu lên:

– Vân ơi! Em ơi! Sao lại ra nông nỗi này?

Vân ngất xỉu trước cơn xúc động tận cùng. Trái tim nàng nhỏ nhoi quá, yếu đuối quá, làm sao kham nổi trước niềm vui to lớn quá, bất ngờ quá! Làm sao kham nổi cơn đau đớn vượt ngoài sức chịu đựng của nàng.

Chương vùi mặt vào ngực vợ. Nhịp đập của trái tim nàng nhẹ nhàng, chầm chậm, từng khoảng nhỏ cách rời. Nó mất cả rồi cơn rộn ràng tới tấp trong căn ngực no tròn của thuở hai người yêu nhau. Bộ ngực bây giờ trải bằng theo lớp xương sườn khô đét làm nổi bật chiếc bụng nàng trương cao.

Vân tỉnh lại. Nàng đưa đôi tay ốm yếu ôm lấy đầu chồng. Vân muốn ghì Chương vào ngực nàng nhưng đôi tay không còn sinh lực chỉ đủ sức áp nhe bàn tay lên cổ chàng. Chương ngẩn đầu nhìn Vân.

Chàng đặt môi hôn trên má trên mắt và môi nàng.

Vân giữ đầu Chương cho hai người úp mặt vào nhau. Nàng muốn nghe lại hơi hướng của chồng. Nàng muốn nhìn vào đôi mắt chàng, đôi mắt tình tứ và đầy cương nghị mà nàng đã yêu đắm đuối trong buổi gặp gỡ đầu tiên, nhưng nàng chẳng còn thấy gì ngoài nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt.

Con bé tự nãy giờ yên lặng, ngơ ngác. Nó đứng nơi góc nhà nhìn cảnh tượng lạ lẫm của mẹ và người đàn ông tên Chương, người mà trong bức hình phóng lớn, mẹ thường hay đem ra ngắm và bảo là bố của bé, rồi mẹ âm thầm lau nước mắt.

Vân sực nhớ đến con gái, nàng gắng gượng đẩy đầu chồng qua một bên rồi lên tiếng gọi:

– Vân Chuyên đến đây với bố. Bố đã về với mẹ con mình rồi.

Nàng thì thầm bên tai Chương:

– Con gái của chúng mình đó. Tội nghiệp. Nó đã chịu đựng cùng em bao nỗi nhọc nhằn, đắng cay suốt mười năm nay.

Bé Vân Chuyên ngập ngừng từng bước, từng bước một đến bên giường của mẹ. Chương vụt đứng lên ôm con gái vào lòng với muôn vàn nỗi xót xa. Chàng âu yếm nói với con:

– Ba xin lỗi. Ba vô tình và Ba chẳng ngờ…

Tạ ơn Thượng Đế, Người đã dẫn dắt con về đây để có cuộc trùng phùng này. Con bé gục đầu trên vai Chương nhủ thầm: “Bố trong bức hình thì vặm vỡ, ôm vai mẹ cười rạng rỡ, còn Bố bây giờ sao lạ quá như hai người đàn ông khác biệt”.

Nó nào biết mười năm khốn khổ trong tù đã huỷ hoại cơ thể chàng thanh niên đầy sinh lực kia, còn lại tấm thân gầy gò tàn tạ của người bố ngày hôm nay.

Vân nhìn chồng và con mà nước mắt cứ trào ra, dù nàng gắng gượng để không khóc nữa. Dường như nước mắt trong mười năm tích tụ, đã đến lúc tràn bờ, nàng không còn đủ sức ngăn chặn.

Ba người yên lặng trong màn đêm bao phủ. Chương một tay cầm tay vợ, tay kia ôm chặt bé Vân Chuyên vào lòng. Họ đang tận hưởng những phút giây sum họp đã đợi chờ suốt mười năm.

Vân đau đớn thầm nghĩ: “Trong giây phút đoàn viên đã có ánh chớp chia lìa, tàn nhẫn quá, bẽ bàng quá!” Bỗng cơn đau nổi lên như những mũi dao cắt vào ruột gan Vân, nàng kêu lên: “Chương ơi! con ơi!” rồi cơn tê dại úp chụp lên toàn thân khiến cho tay chân nàng run lẩy bẩy. Chương vội buông con, ôm lấy vợ.

Chiếc đèn dầu hoả cháy leo lét trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ xiêu vẹo. Ánh sáng vàng vọt làm cho cảnh tượng trong túp lều càng thêm thê lương.

Qua cơn đau, Vân mỉm cười trong nước mắt, nàng thì thào:

– Em hạnh phúc và thoả nguyện vô cùng. Bé Vân Chuyên không còn cô quạnh và cả em, trời đã cho thấy mặt anh lần này. Em rất yên lòng khi… con bé còn cha.

Chương ngậm ngùi nhưng quả quyết nói:

– Ngày mai anh sẽ đưa em đi thành phố; nơi đó có bạn bè anh giúp đỡ để chữa bệnh cho em.

Vân vội ôm đầu Chương vào ngực để chàng không kịp thấy dòng nước mắt của nàng đang tuôn ra trên đôi mắt trũng sâu. Vân không muốn cho chồng con biết căn bệnh viêm gan của nàng đã chuyển sang giai đoạn ung thư. Bỗng dưng nàng hỏi Chương:

– Họ mướn anh làm công việc gì ở khu cà phê ấy?

Chương cầm tay vợ ân cần:

– Cai quản ba mẫu cà phê của các ông trên Huyện. Bây giờ là mùa thu hoạch, anh lo điều hành và bảo quản sản phẩm trong kho.

Vân hối thúc:

– Vậy anh phải về ngay bây giờ. Nếu có việc gì xảy ra không chừng anh bị mất việc.

– Đành chịu vậy. Chàng cả quyết:

– Anh phải ở lại đây đêm nay để chăm sóc em thay con.

– Anh à, số cà phê hột bị mất trộm thì mẹ con em sẽ cùng chung số phận ngồi tù với anh.

Vân nằn nì:

– Thương em, thương con xin anh nghe lời em. Anh chưa thấu hiểu bằng em cái xã hội “bần cùng sinh đạo tặc” này đâu. Ngày mai, anh sắp xếp công việc đâu vào đó rồi đến với em và con.

Một thực tế phũ phàng mà Chương không thể tránh né được.

Chàng phải gượng ép nghe theo lời vợ. Trước khi rời túp lều, Chương đắp lại tấm chăn bông đã nhàu nát lên mình vợ, hôn nàng và con gái. Vân lấy dưới gối một bì thư lớn đã niêm phong trao cho chàng.

Chương bước ra khỏi lều, gió núi về đêm phả vào mặt chàng nghe tê lạnh. Rẫy cà phê um tùm nối tiếp nhau trong màn đêm u uất.

Tiếng dế vang vang từ bên bờ cỏ im bặt khi bước chân chàng đến gần. Loài chồn ăn đêm cũng chuyền cành tránh xa khi thấy bóng người đi tới. Tâm hồn Chương trĩu nặng nỗi lo âu phiền muộn.

Chàng cảm thấy hụt hẫng trước hoàn cảnh tận cùng bi đát của vợ con.

Bên trong chiếc phong bì là một tập vở học trò, loại giấy tái tạo xậm màu và nhàu nát. Màu mực tím có nơi đã hoen ố và mờ nhạt.

Chương chậm rãi, cẩn trọng giở từng trang đọc dưới ánh đèn dầu vàng vọt:
Năm 1976.

Anh yêu,

Em không thể viết thư cho anh, bởi em sợ anh đau buồn vì những bất hạnh đã xảy ra. Em viết những dòng này với cõi lòng tan nát! Chương ơi, em đã bỏ nhà ra đi vì ông Trương Thanh đã gây áp lực với má buộc em phải ly dị anh. Ngay từ ngày đầu nhìn thấy ông đến nhà là linh cảm em báo trước nỗi bất an. Tội nghiệp cho má, bà đã hiến trọn tình yêu và niềm tin vào ông ấy, nhưng bản chất đa nghi và tâm hồn ti tiện, ông xem em như là đứa con hoang, đứa con ngoại hôn. Ông không chấp nhận em cùng dòng máu với ông ta.

Có lần ông ấy nói thẳng với cấp bộ đảng là ông không tin vợ ông hoài thai trong thời gian chỉ sống chung có ba tuần lễ trước khi ông tập kết ra Bắc.

Người Cộng Sản hành xử vì cứu cánh, bởi vậy họ không từ nan một mưu chước nào. Ông lợi dụng má và muốn chiếm đoạt gia tài. Em ra đi chưa đầy bốn tuần lễ là ông ta báo cáo lên chính quyền rằng em thuộc diện phản quốc trốn ra nước ngoài.

Má đã rửa nhục bằng máu của ông ấy và cái chết của Người! Em đã khóc mấy ngày liền khi hay tin má quyên sinh. Bây giờ, mọi nẻo về của em và con đều bít lối. Căn nhà đã bị tịch thu, tài sản của má hoàn toàn mất sạch. Em đang tìm một nơi ẩn náu lo bươn chải qua ngày, nuôi con, chờ chồng…
Ngày… 1977

Em và con đang ở Tân Hội, một vùng đất hoang mới được khai khẩn thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên em hiện giờ trong hộ khẩu là Hoàng Thị Vấn. Cái tên Hoàng Thuý Vân của anh ngày xưa đã mất rồi. Có lẽ định mệnh đã an bài cho em sống chết nơi đây.
Ngày… 1980…

Ngày… 1981

Triệu chứng bệnh gan của em mỗi ngày mỗi nặng. Nếu có mệnh hệ nào, em sẽ gởi bé Vân Chuyên đến nhà Thái Tuỵ, bạn học của em tại Thị Trấn Sông Vàng.
Ngày… 1982…

Đọc nửa chừng phần nhật ký, Chương thiếp đi tự lúc nào không hay. Tiếng chim kêu lanh lảnh ngoài vườn cây đánh thức chàng tỉnh giấc.

Chương vội vã sắp xếp dụng cụ thu hoạch cà phê trong ngày, viết đơn xin phép nghỉ một tuần lễ và yêu cầu ban lãnh đạo tập đoàn cho người thay thế chàng trong ngày hôm nay. Chương đang xếp vài bộ đồ vào túi xách, chợt bé Vân Chuyên đột ngột chạy vào nhà mếu máo khóc:

– Mẹ chết rồi!

Chương ngẩn người, tựa sét đánh trúng ngay tim. Chương vất quần áo xuống đất chạy ra ngoài. Chàng cắm đầu cắm cổ băng đồi.

Chàng chạy thục mạng bất kể gai cây đá sạn, bất kể những cành cà phê quất vào mặt, vào đầu. Chàng chạy theo con đường nào gần nhất. Đôi chân trần rỉ máu nhưng Chương hoàn toàn mất cảm giác. Chàng quên tất cả, bỏ mặc công việc hàng ngày, ngay cả bản thân chàng cũng quên tất!

Chương tông cửa vào nhà, vợ chàng nằm đó, hai tay buông xuôi, đôi mắt không hồn nhìn trân trân về hướng khung cửa. Tấm hình lớn của hai vợ chồng chụp trong ngày cưới nằm bên cạnh nàng.

Chương ôm chầm lấy xác vợ. Chàng lay, chàng gọi, chàng gào thét trong nỗi đau đớn tận cùng. Chàng đấm vào trái tim đang rỉ máu.

Chàng đấm vào lồng ngực cho nỗi uất ức vỡ trào. Máu căng đầy đôi tròng mắt đỏ ngầu, máu chảy rần rật trong đôi tay chàng run rẩy. Cơn uất nghẹn không lối thoát.

Con bé đứng bên giường mẹ ôm mặt khóc thút thít tự lúc nào, Chương quay nhìn thấy con cô đơn và lạnh lẽo, chàng chợt tỉnh.

Giọt máu của chàng còn đó, núm ruột của chàng còn đây, Chương đứng dậy ôm con vào lòng và nước mắt bỗng dưng tuôn trào.

Nước mắt chàng chảy thành dòng rơi xuống mặt bé Vân Chuyên. Nước mắt của hai cha con hoà chung một làm ướt đẫm cả ngực áo con gái chàng.

Ánh nắng xuyên qua mái lá rọi xuống khung hình phản chiếu ánh sáng lung linh trên bức tường nứa. Mắt Vân bây giờ đã khép. Khuôn mặt nàng vẫn còn vương nét khổ luỵ chất chồng, duy hai khoé miệng nàng dường như còn giữ lại nụ cười mãn nguyện.

Chương chôn vợ nơi nghĩa địa của vùng đất mới Tân Hội. Trên bia mộ chàng ghi: “ Nơi an nghỉ cuối cùng của bà Lê Hồng Chương, nhũ danh Hoàng Thúy Vân. Mất ngày 18 tháng 8 năm 1985”

Chồng và con gái Lê Vân Chuyên phụng lập ”

Từ hôm ấy, khi mặt trời chiều đổ sập sau đỉnh núi cao, người ta thường thấy hai cha con, một già một trẻ đi viếng mộ trở về. Mái tóc bạc màu làm nổi bật gương mặt khắc khổ của người cha. Bé gái trầm ngâm nắm tay cha bước đi giữa bóng hoàng hôn đang chìm vào đêm tối…

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Anh chị Thụ & Mai gởi

Đời người trước khi có được, cần phải học cách cho đi

Đời người trước khi có được, cần phải học cách cho đi

  

Thực vậy, trong cuộc đời đầy bon chen, giông bão, đầy cám dỗ, thị phi này, tìm được một người có tấm lòng quả đã không còn là chuyện dễ dàng nữa. Chỉ khi người ta biết cho đi thì mới xứng đáng nhận lại những gì tuyệt vời nhất. Người Hungary có một câu nói rất hay thế này: “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”…

Chàng trai trẻ chuẩn bị mở một cửa hàng trên con phố nơi mình sinh sống. Anh hỏi ý kiến của cha: “Con muốn mở một cửa hàng buôn bán kiếm tiền ở con phố này. Vậy con phải chuẩn bị điều gì trước đây?”.

Người cha nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Con phố này thật sự cũng đã có không ít cửa hàng rồi, nhưng mặt tiền vẫn còn nhiều. Nếu như con không muốn kiếm nhiều tiền, bây giờ có thể thuê hai mặt tiền để bày biện quầy hàng, nhập vào một số hàng hóa thì đã có thể mở cửa kinh doanh rồi. Còn nếu như con muốn kiếm được nhiều tiền hơn, thì trước hết cần phải chuẩn bị làm một vài điều gì cho người dân trên con phố này”.

Cho đi rồi sẽ nhận lại. Ảnh theo Thichdulich.com.vn

Chàng trai trẻ hỏi: “Con phải làm gì trước đây?”.

Cha của anh suy nghĩ một lúc rồi nói: “Chuyện cần làm thật sự rất nhiều. Ví như, lá rụng ngoài đường rất ít khi có người quét dọn. Mỗi sáng con hãy dậy sớm dành chút thời gian quét dọn lá rụng ngoài đường. Còn nữa, khi nhân viên bưu điện gửi bưu phẩm, có khá nhiều bưu phẩm khó tìm được người nhận. Con cũng có thể giúp tìm kiếm một chút, sau đó kịp thời trao lại bưu phẩm cho người nhận. Ngoài ra, còn có rất nhiều gia đình cần sự giúp đỡ lặt vặt, nếu có thể con hãy dang rộng đôi tay giúp họ một chút”.

Chàng trai trẻ tỏ ý không hiểu, hỏi: “Nhưng những điều này có liên quan gì với việc con mở cửa hàng chứ?”. Cha của anh mỉm cười nói: “Nếu như con muốn việc làm ăn của mình được tốt, thì tất cả những điều này sẽ trợ giúp đắc lực cho con. Còn nếu như con không muốn làm tốt việc làm ăn, thế thì hết thảy điều này có lẽ không có tác dụng gì lớn nữa”.

Chàng trai trẻ tuy bán tín bán nghi, nhưng vẫn quyết định nhất nhất làm y theo lời của cha mình. Mỗi sáng, anh đều cố gắng dậy sớm quét dọn đường phố, gửi bưu phẩm giúp nhân viên bưu điện, khiêng vác giúp những người già cả. Ai có khó khăn cần sự giúp đỡ, anh nghe thấy đều sẵn sàng đến giúp. Không lâu sau, mọi người trên khắp con phố này đều đã biết đến anh.

Nửa năm sau, cửa hàng của chàng trai trẻ treo lên tấm biển kinh doanh. Điều khiến anh kinh ngạc là khách hàng đến khá đông. Kẻ gần người xa đều đã trở thành khách hàng quen thuộc của anh. Thậm chí những người già cả ở bên kia con phố sẵn sàng bỏ qua cửa hàng ngay gần chỗ họ mà không ngại chống gậy đi một quãng xa để đến cửa hàng anh mua đồ. Anh kinh ngạc, hỏi họ rằng: “Trước cửa nhà ông vốn có cửa tiệm, tội tình gì phải bỏ gần cầu xa như thế?”.

Họ cười nói rằng: “Chúng tôi đều biết cậu là người tốt, đến cửa hàng của cậu mua đồ chúng tôi mới yên tâm”. Về sau, anh còn giao hàng đến tận nhà khách hàng. Khi gặp phải những người khó khăn, túng thiếu, anh luôn để họ mua chịu trước, đợi khi có tiền thì gửi trả lại sau. Ngoài ra anh cũng nhiệt tình tham gia các hoạt động công tác xã hội từ thiện, biết được ai đang gặp khó khăn, anh cũng đều sẵn lòng dang tay giúp đỡ.

Mấy tháng sau, khá nhiều người ở con phố kế bên cũng đều chạy đến cửa hàng của anh mua đồ. Hơn một năm sau, người trong khắp khu phố đều biết đến cửa hàng của anh, đều cùng kéo đến ủng hộ. Anh tiếp tục mở ra thêm vài chi nhánh, đại lý ở con phố khác. Việc làm ăn càng làm càng lớn, tất nhiên cũng càng kiếm được nhiều tiền hơn. Chỉ trong thời gian khoảng mười năm, anh đã từ một chàng trai không chút danh tiếng, lắc mình một cái trở thành một nhà doanh nghiệp với tài sản bạc triệu.

Một ngày kia, có một phóng viên tới phỏng vấn, hỏi anh bí quyết kinh doanh nào để chỉ trong 10 năm ngắn ngủi có được thu hoạch lớn như vậy. Anh nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Bởi vì trước khi có được, tôi đã học cách cho đi…”.

CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI TÀI XẾ TAXI…

CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI TÀI XẾ TAXI…

 

Lái xe taxi ở một thành phố lớn như New York, chắc chắn sẽ có rất nhiều những trải nghiệm thú vị và ngoài dự tính. Tài xế đưa khách từ chỗ này đến chỗ khác, phải đối diện với nhiều loại người và những yêu cầu đa dạng khác nhau.

Một ngày nọ, một tài xế taxi ở New York nhận được cuộc gọi xe từ một vị khách kỳ lạ, trải nghiệm lần này gây ấn tượng sâu sắc với anh, khiến anh xúc động rất lâu và anh đã chia sẻ trải nghiệm này trên mạng.
Tôi nhận được cuộc gọi đến một địa chỉ nọ để đón khách. Sau khi đến nơi, tôi bấm còi, nhưng không có ai ra. Tôi gọi điện thoại, nhưng cũng không gọi được, tôi bắt đầu hơi mất kiên nhẫn.
Đây là chuyến cuối cùng mà tôi phải đón vào buổi trưa, sắp đến giờ nghỉ rồi. Tôi gần như đã từ bỏ, chuẩn bị lái xe rời đi. Nhưng sau cùng tôi lại nghĩ, hay là ở lại một chút.

Tôi đợi một lúc thì xuống xe bấm chuông cửa. Không lâu sau, tôi nghe thấy có tiếng nói yếu ớt của một người già vang lên: “Xin đợi một chút!”
Tôi đợi ở ngoài một lúc thì cửa mới từ từ mở ra. Tôi nhìn thấy một bà cụ với dáng người nhỏ bé đứng sau cánh cửa, tôi đoán ít nhất cụ đã 90 tuổi rồi. Trên tay cụ kéo theo một cái vali nhỏ.
Tôi liếc mắt nhìn vào nhà và kinh ngạc phát hiện ra cảnh tượng bên trong. Ở đây dường như không có ai sống cả, đồ nội thất đều được phủ vải, bốn bức tường trống trơn, không có đồng hồ, đồ trang trí, hình ảnh hoặc tranh, không có gì cả.

Tôi chỉ nhìn thấy một cái thùng ở góc nhà, bên trong đều là hình ảnh và đồ lưu niệm cũ.
Bà cụ nói: “Cậu trai trẻ, có thể phiền cậu giúp tôi mang vali lên xe không?”
Tôi để vali vào trong cốp xe, sau đó quay lại đỡ cánh tay của bà cụ, đưa bà bước chầm chậm xuống lầu rồi lên xe. Bà cụ cảm ơn tôi.
Tôi nói: “Là việc cháu nên làm mà…”
Bà cụ cười nói: “Ồ, cậu thật sự rất tốt.”
Bà ngồi vào xe rồi đưa cho tôi một tờ giấy có ghi địa chỉ và yêu cầu tôi đừng đi đường trong trung tâm thành phố.
Tôi nói với bà: “Nhưng như vậy thì chúng ta sẽ phải đi đường vòng ạ”.
Bà trả lời tôi: “Không sao cả, bà cũng không vội. Nơi bà cần đến là viện dưỡng lão.”
Lời bà nói khiến tôi hơi bất ngờ.
Tôi nghĩ thầm: “Viện dưỡng lão chẳng phải là nơi người già chờ đến ngày ra đi hay sao?”
Bà cụ nói tiếp: “Bà không có người thân. Bác sĩ nói bà không còn nhiều thời gian nữa rồi.”
Khoảnh khắc đó, tôi quyết định tắt đồng hồ đếm hành trình. Tôi hỏi bà: “Vậy cháu nên đi thế nào ạ?”
Kết quả là suốt hai tiếng sau đó, chúng tôi đi rất nhiều vòng ở vùng ngoại ô thành phố.

Trên xe, bà cụ chỉ cho tôi thấy tiệm ăn mà bà từng làm việc. Chúng tôi đi qua rất nhiều nơi khác nhau, căn nhà mà bà sống cùng chồng lúc còn trẻ và cả phòng khiêu vũ mà bà từng đến. Khi đi ngang qua những con đường nào đó, bà cũng sẽ nhờ tôi lái chậm lại, bà hiếu kỳ nhìn ra ngoài qua cửa sổ và yên lặng không nói gì cả.
Chúng tôi gần như đi lòng vòng suốt cả buổi chiều đến chập tối, cho đến khi bà cụ nói: “Bà mệt rồi, chúng ta đến nơi cần đến đi”.Trên đường đến viện dưỡng lão, chúng tôi đều không nói câu gì.
Viện dưỡng lão nhỏ hơn tôi tưởng tượng. Sau khi đến nơi, có hai y tá bước ra đón chúng tôi. Họ đẩy một cái xe lăn, tôi thì chuyển hành lý của bà cụ. “Tổng cộng bao nhiêu tiền vậy cháu?”, bà cụ vừa hỏi vừa mở ví tiền.
Tôi trả lời: “Miễn phí ạ”. Bà cụ lại nói: “Nhưng cháu cũng phải nuôi gia đình mà”. Rồi tôi cười nói: “Sẽ còn những hành khách khác nữa mà bà”.

Tôi gần như không kịp suy nghĩ, cứ thế ôm lấy bà cụ. Bà cũng ôm chặt lấy tôi: “Cháu đã khiến một người gần như sắp bước đến cuối đời cảm thấy vô cùng hạnh phúc, cảm ơn cháu!”. Bà cụ nói thế và mắt bà đỏ hoe.
Tôi bắt tay tạm biệt bà. Trên đường quay về, tôi nhận ra mình đang đi lòng vòng không mục đích. Tôi không muốn nói chuyện với bất cứ ai cả, cũng chẳng có tinh thần để đón khách. Tôi cứ mải suy nghĩ, nếu như ban đầu tôi không đợi bà cụ? Nếu khi đó tôi không tìm thấy và lái xe bỏ đi thì bà cụ phải làm sao đây chứ?
Bây giờ khi tôi nhớ lại ngày hôm đó, tôi vẫn tin rằng tôi đã đưa ra một quyết định quan trọng và chính xác.

Trong cuộc sống, chúng ta cứ mãi luôn bận rộn tất bật. Chúng ta phải làm những việc “quan trọng” hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Nhưng bà cụ đã khiến tôi thật sự hiểu được khoảnh khắc yên tĩnh mà đầy ý nghĩa đó. Đồng thời cũng khiến tôi cảm thấy đau lòng với sự cô độc và buồn bã của chuyến đi cuối cùng trong cuộc đời của bà.

Chúng ta phải dành thời gian để tìm hiểu bản thân mình, tận hưởng cuộc sống của mình. Chúng ta nên kiên nhẫn chờ đợi trước khi vội vàng bấm còi. Sau đó, có lẽ chúng ta sẽ thấy được việc thật sự quan trọng. /Ngọc Trúc’s blog/

PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện

Lòng Nhân Ái có hậu ngay ở đời này

Lòng Nhân Ái có hậu ngay ở đời này

Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.

Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.

Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”

Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.

Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.

Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.

*Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây.

Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.

Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.

Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

*Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.

Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.

Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.

Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.

Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.

Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.

Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn. 

Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.

Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”

*Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892.Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.

Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…

Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.

Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.

Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.” 

*Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!).

Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)  

S.T.

Câu chuyện cảm động của chàng trai Mỹ khiến ai đọc cũng cần suy ngẫm và làm theo

Câu chuyện cảm động của chàng trai Mỹ khiến ai đọc cũng cần suy ngẫm và làm theo

  Trong cuộc sống, không ai không mong mình có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tuy nhiên để đạt được điều đó thì mấy ai làm được. Bạn hãy đọc câu chuyện dưới đây về một chàng trai Mỹ, có thể tự rút ra bài học cho mình.

Câu chuyện cảm động này có thể nhiều người sẽ cảm thấy quen thuộc. Ai chưa từng một lần nhặt được của rơi? Tuy nhiên, ít ai biết được tầm ý nghĩa của một hành động, dù rất nhỏ.

Tommy làm thuê cho gia đình ông George đã nhiều năm. Anh rất được ông chủ coi trọng bởi vì anh là người thật thà, chăm chỉ và luôn chu toàn mọi việc. Một ngày nọ, ông chủ bảo Tommy đi về phía Nam của Texas để thu tiền nợ quý đầu năm.

Tommy rời nhà vào buổi sáng và thu được 100.000 đô la tiền nợ. Anh hào hứng vì đã hoàn thành xuất sắc công việc mà ông chủ giao phó và bỏ tất cả tiền vào chiếc túi nhỏ bên mình. Trên đường trở về, vì đói và khát nên Tommy đã ghé vào một quán ăn bên đường dùng bữa trưa rồi nhanh chóng bắt chuyến xe buýt quen thuộc để trở về giao tiền cho ông chủ.

Túi tiền bị mất

Về đến nhà, Tommy nhận ra chiếc túi da nhỏ bên người cùng tất cả số tiền đã biến mất. Ông chủ rất tức giận và nghi ngờ Tommy đã nói dối về việc đánh mất tiền để chiếm dụng 100.000 đô la cho riêng mình. Ông chủ la mắng Tommy và đe dọa rằng nếu anh không thể trả lại số tiền đó vào ngày hôm sau, ông sẽ trình báo với cảnh sát. Bị oan uổng nhưng lại không thể biện minh cho bản thân, Tommy chán nản, thất vọng và chỉ biết gục đầu khóc thật to.

Cùng khu phố của họ có một cậu thanh niên tên là Jeffery. Anh cũng làm kinh doanh nhiều năm và mặc dù nỗ lực, chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo nhưng Jeffery thường xuyên gặp thất bại trong công việc.

Mệt mỏi với những kế hoạch không thành, Jeffery quyết định đóng cửa cửa hàng kinh doanh và trở về quê nhà trông nom trang trại cùng cha mẹ. Và điều trùng hợp ngẫu nhiên chính là khi Tommy có mặt trong quán ăn ven đường, Jeffery cũng đã ở đó trong khi chờ đợi chuyến xe để trở về quê.

Người đàn ông chính trực tìm thấy được túi tiền

Sau khi Tommy đứng lên và rời khỏi quán, Jeffery đã thấy chiếc túi nhỏ của anh. Jeffery để ý thấy bên trong có rất nhiều tiền và trong thoáng chốc anh nảy ra ý định muốn có số tiền đó.

Jeffery nhanh chóng di chuyển tới chỗ chiếc túi da và vui sướng khi biết rằng mình đang nắm giữ trong tay 100.000 đô la. Nỗi buồn vì thất bại trong kinh doanh và tâm trạng ủ rũ kéo dài suốt nhiều ngày tháng của anh bỗng chốc tan biến. Anh mơ về viễn cảnh tươi đẹp cùng những kế hoạch, dự định mới với số tiền lớn này. Tuy nhiên, vào lúc anh quyết định bỏ tiền vào trong túi của mình, những suy nghĩ khác nhau giằng xe trong tâm anh.

Jeffery thầm nghĩ:

“Nếu mình giữ lại số tiền này, cuộc sống của mình khi trở về quê sẽ dễ dàng và vui sướng biết bao. Mình sẽ dùng nó để mua thêm một số giống vật nuôi, mở rộng kinh doanh trang trại của cha mẹ.

Nhưng rất có thể chủ nhân của túi tiền này sẽ bị oan ức suốt đời, bị mất chức vị hay thậm chí có thể mất mạng chỉ bởi vì họ đã đánh mất túi tiền. Hành động tham lam của mình có thể sẽ khiến một gia đình hạnh phúc trở nên tan vỡ, hoặc khiến một người chắt chiu tích góp cả đời bỗng chốc về tay không. Nếu như vậy thì mình sẽ gây ra tội lỗi quá lớn rồi. Nghèo khó hay giàu sang đều có nguyên nhân, mình nên thuận theo an bài của số phận. Vì thế mình nên đợi ở đây cho đến khi chủ nhân của số tiền này quay trở lại. Số tiền này nhất định phải trở về với chủ nhân của nó”.

Trời tối dần và người vào quán ăn càng lúc càng tấp nập. Jeffery cố gắng quan sát từng người, nhưng không ai có vẻ lo lắng vì mất đi túi tiền lớn cả. Mặc dù Jeffery đói sôi bụng nhưng anh lại chẳng có tiền để mua thức ăn, tuy nhiên anh vẫn cố chờ đợi để tìm cho ra chủ nhân túi tiền trong dòng người ra vào quán.

Jeffery ngồi đợi cho tới khi khách trong quán bắt đầu thưa dần và cửa hàng chuẩn bị đóng cửa. Đột nhiên, Jeffery nhìn thấy một người thanh niên khác trạc tuổi anh bước vào quán, nét mặt thể hiện rõ sự lo lắng, căng thẳng và đau khổ.

Đó chính là Tommy. Tommy đã xin ông chủ cho đi tìm túi tiền nhưng sợ Tommy bỏ trốn nên cử thêm hai người đi theo giám sát anh.

Túi tiền được trả lại

Jeffery quan sát rất kỹ rồi đi lại bên người thanh niên và hỏi: “Anh đánh mất thứ gì sao?”. Tommy tường thuật lại sự việc cho Jeffery và nói rằng nếu không tìm thấy số tiền ấy, anh không biết cuộc đời mình sẽ ra sao. Jeffery mỉm cười đáp lại: “Cuối cùng anh cũng đến rồi. Tôi đã đợi anh mãi”.

Nhận lại túi tiền, Tommy ôm chặt lấy Jeffery và nghẹn ngào: “Tôi vô cùng biết ơn anh, Jeffery ạ. Nếu không phải một người chính trực như anh tìm được túi tiền và kiên nhẫn ngồi đây chờ đợi, tôi đã thực sự đi đến bước đường cùng và dự định tìm cho mình một cái chết. Anh đã cứu cuộc đời của tôi và tránh cho người thân của tôi khỏi những lụy phiền. Anh quả thực đã làm một việc vô cùng vĩ đại”.

Tommy đề nghị đưa lại cho Jeffery 1/5 giá trị số tiền tìm được nhưng Jeffery đã một mực từ chối. Tommy rút xuống còn 1/10 nhưng Jeffery vẫn cương quyết không nhận. Cho tới khi Tommy nói: “Vậy anh hãy cầm 20 đô la này để mua đồ ăn”, Jeffery vẫn lắc đầu và tỏ ý Tommy hãy mang đầy đủ số tiền trả lại cho ông chủ.

Cuối cùng, Tommy nói: “Vậy sáng mai tôi mời anh dùng bữa có được không?” và Jeffery đã đồng ý.

 

 

 

 

 

 

Một hành động tốt, hai người được cứu

Sáng hôm sau, Jeffery mang theo tâm trạng vô cùng phấn khởi tới điểm hẹn của hai người. Khi Tommy có ý định định mời Jeffery ăn sáng trong một nhà hàng sang trọng, anh ngay lập tức ngăn lại và nói:

Tôi rất biết ơn anh Tommy. Hôm qua tôi định bắt xe về quê, nhưng vì đợi anh nên tôi đã lỡ mất chuyến xe ấy. Sáng nay, tôi nghe tin chuyến xe đã gặp tai nạn và rất nhiều hành khách đã bị thương. Anh mới là người đã cứu mạng tôi và làm một việc vĩ đại”.

Hành động chính trực của Jeffery đã cứu mạng cả hai người. Khi ông chủ của Tommy nghe được câu chuyện đã vô cùng ngưỡng mộ sự thành thật của Jeffery và trò chuyện với anh một hồi lâu. Sau đó ông giữ Jeffery ở lại làm kế toán tại cửa hàng của mình, ông cần một người chính trực. Sau nhiều năm làm việc và học hỏi kinh nghiệm từ ông chủ, cuối cùng Jeffery đã thành công với công việc kinh doanh riêng của mình và trở thành một doanh nhân thành đạt trong xã hội.

***
Trong cuộc đời ngắn ngủi, con người ai cũng muốn có được nhiều lợi ích vật chất để sống tốt. Tuy nhiên, không mấy ai hiểu được đạo lý “Lấy đủ làm vui”, vì thế mà luôn vận dụng các loại thủ đoạn để giành lợi cho riêng mình. 

Họ không biết rằng, phàm là những thứ dùng thủ đoạn, cưỡng cầu để có được đều mang theo nghiệp chướng rất lớn.

Ngược lại, con người nếu biết sống tốt, tích đức hành thiện, có phúc báo thì tự nhiên sẽ được mọi thứ.

Người xưa vẫn dạy rằng một người cần sống lương thiện:

-làm điều tốt mà không cần suy tính

-mang ơn mà không bao giờ quên. 

Nếu có thể làm được như vậy

-chính là đang tích phúc báo

– đó mới là cái lợi vĩnh hằng.

S.T.

Cho đi

Cho đi

  Cậu bé nọ ăn cắp chai thuốc trị bệnh. Bà chủ tiệm giựt lại chai thuốc và chửi mắng cậu ta xối xả.

Có người đàn ông, là chủ quán ăn, động lòng thương, liền chạy ra, hỏi cậu để biết rõ sự việc.

Khi hay rằng cậu bé ăn cắp chai thuốc vì mẹ của cậu đang bệnh nặng,  ông chủ quán ăn liền trả tiền cho bà chủ tiệm thuốc,  rồi tặng cậu bé chai thuốc ấy và còn bảo con gái của ông mang cho cậu bé ít thức ăn.

Ba mươi năm sau, người đàn ông tốt bụng xưa kia vẫn còn là chủ quán ăn cùng cô con gái đã lớn.

Ngày nọ, ông bị đột quỵ và phải nhập viện. Muốn chạy chữa thì ông ta phải trả số tiền quá lớn!

Cô con gái tính đến chuyện bán quán ăn..

Nào ai ngờ rằng ”cậu bé ăn trộm năm xưa” giờ là bác sỹ tình cờ tiếp nhận bệnh nhân là ân nhân của mình.

Với lòng biết ơn, ”ông bác sỹ chịu ơn” quyết tâm chữa trị cho ân nhân,  mà không để ông ta phải trả tiền bởi vì

 ” Sở phí bịnh viện của người đàn ông ngày hôm nay đã được trả trước cách đây ba mươi năm!!!”

 Anh chị Thụ & Mai gởi

QUAN THANH LIÊM THÌ KHÔNG CẦN CẢNH VỆ

QUAN THANH LIÊM THÌ KHÔNG CẦN CẢNH VỆ

Kha Tiệm Ly

Cao Thám hoa sau khi về hưu thường mặc áo gai, chân mang hài cỏ, lưng đeo bầu rượu, tay cầm gậy trúc tiêu dao khắp xứ. Một lần vào một cao lâu, vừa ngồi xuống mở rượu uống suông thì tiểu nhị mang liền đến một mâm thức ăn đầy ắp sơn hào hải vị, cung kính thưa:

– Kính mời ngài!

Cao Thám hoa:

– Huynh đệ có lầm không vậy? Ta không đủ ngân lượng để trả những thứ quý giá nầy đâu!

– Ngài chớ bận tâm. Chủ nhân tôi bảo mang ra hầu ngài!

Bàn bên, có một vị y phục sang trọng, dáng vẻ một thương gia hơi ngạc nhiên, bèn kêu tiểu nhị tới, cao ngạo hỏi:

– Kẻ rách rưới đó là ai, sao ta thấy mọi người ở đây kính trọng như vậy?

Tiểu nhị nhăn mày, không hài lòng:

– Đó là Cao Thám hoa, cựu huyện lệnh huyện Thanh Mai nầy đó.

Lại ngạc nhiên:

– Cựu huyện lệnh? Cớ sao ra đường nghênh ngang một hình một bóng, không sợ cừu nhân sát hại à?

Tiểu nhị lắc đầu không trả lời, bỏ đi. Bàn bên, một cậu bé còn để chỏm tới vòng tay thưa vị khách sang trọng:

– Trẻ con nầy đoán ngài ở phương xa đến nên chưa hiểu sự tình. Ngài có thể cho một đứa bé miệng còn hôi sữa đây vô phép giải thích được không?

– Tiểu huynh đệ cứ nói; ta rửa tai nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“Ông Thám hoa cầm cành hoa” – Chữ Nôm trên bức tranh khắc năm 1909.

– Hổi nãy ngài nói, cựu huyện lệnh tôi “không sợ cừu nhân sát hại à?”. Thưa ngài, Cao huyện lệnh làm gì có cừu nhân mà sợ sát hại? Khi ngài còn tại chức, ngài yêu dân như con. Lo trước cái lo của dân,vui sau cái vui của dân. Những năm được mùa, dân ăn thịt, thì bữa cơm ngài mới có thịt; những năm thất mùa, dân ăn rau, ngài cũng ăn rau. Dân ấm, ngài mới mặc áo bông; dân lạnh, ngài cũng mặc áo tơi. Ngài thường thị sát dân tình, thấy người thiếu cơm thiếu áo thì không cầm được nước mắt rồi tự trách mình là kẻ làm quan mà không chu toàn cho bá tánh. Chưa hết, ngài luôn chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; không hề mảy may tham lạm của công, cho nên công khố luôn đầy ắp; vì vậy mà năm bính thân, Hoàng Hà đê vỡ, rồi ba năm liên tục mất mùa, thế nhưng người dân Thanh Mai không ai đói rét. Khi ngài đến nhậm chức, trên vai chỉ một tay nải, khi về hưu cũng một tay nải trên vai. Ngài về hưu để lại ân đức trùng trùng cho bá tánh; không chút oán cừu, thì cớ gì lại không “nghênh nang một hình một bóng”; cần chi ai bảo vệ?

Vị khách sang trọng gật gù, tỏ ý nghi ngờ:

– Nước Ngu lại có một vị quan đáng kính thế ư?

Chợt một hảo hán râu hàm tua tủa, lưng giắt đao to, vội chạy đến quỳ mọp dưới chân cựu huyện lệnh:

– Ôi! Cao ân nhân! Kẻ thất phu nầy thật có lỗi vì đã không nhận ra ngài!

Cao Thám hoa để vội bình rượu xuống bàn, hai tay đỡ háo hán đứng dậy:

– Mời ngồi! Mời ngồi! Hảo hán không nên quá lễ như vậy làm ta sượng sùng. Chẳng hay hà cớ…

– Kẻ thất phu nầy không dám ngồi ngang hàng với ân nhân! Năm xưa kẻ thất phu từ nước Sái, cõng mẹ lánh nạn đao binh, đến địa phận Thanh Mai thì đói lả, nằm gục bên đường; nếu không nhờ ngài mang về huyện đường chăm sóc thì giờ nầy kẻ thất phu và từ mẫu nay đã làm phân cho cỏ, há còn được quỳ dưới chân ngài để được nói tiếng biết ơn hay sao?

– Chuyện nhỏ! Hơn nữa đó chỉ là bổn phận của kẻ chăn dân mà thôi. Hảo hán hà tất để bụng! Nào! Cùng ta uống vài bầu cho ấm!

Hảo hán vừa đứng dậy thì một người trung niên thân hình vạm vỡ, lưng giắt kiếm dài tới vòng tay:

– Cao huyện lệnh! Lâu ngày không gặp! Kẻ tội đồ nầy cũng không nhận ra ngài, thật có lỗi!

– Huynh đệ là…

– Ngày trước tôi bị ngài cho đánh năm mươi hèo vì tội ăn cướp!

Vị khách sang trọng mỉm cười khó hiểu; còn hảo hán thì trừng trừng nhìn hắn; nhưng Cao Thám hoa vẫn thản nhiên:

– Vậy là hôm nay huynh đệ đến tìm ta báo hận năm xưa?

Người trung niên bỗng quỳ xuống:

– Kẻ tội đồ nầy ngàn lần không dám. Hôm nay đến là để báo ơn ngài!

Thám hoa cười:

– Huynh đệ khéo nói đùa! Bị ta phạt năm mươi hèo mà nay lại báo ơn à? Nếu huynh đệ còn hận trong lòng thì cứ xuống tay!

– Cao huyện lệnh ngài ôi! Tôi là kẻ có tội, đáng lý bị tù đày, mà ngài lại chỉ phạt năm mươi hèo; lại còn cho ba lượng bạc rồi tha về để phụng dưỡng mẹ già, vì ngài biết rằng tôi cướp của chẳng qua vì quá nghèo đói mà thôi! Trong khi bị hình phạt, tôi thấy ngài quay mặt qua bên, lấy tay áo lau nước mắt; còn nói: “Lỗi ở ta! Trong địa hạt ta cai quản mà có kẻ đói nghèo phải cướp giật kiếm ăn, là lỗi ở ta!”. Cùng một hình phạt mà thái độ của quan là trừng trị, một thái độ là giáo dục, hai cái khác nhau. Kẻ thất học nầy cũng biết điều đó, thưa ngài.

Mọi người thở phào. Vị khách sang trong bèn đến bàn Cao Thám hoa, tự kéo ghế ngồi:

– Ta mới chính là kẻ có lỗi đây: Đã bao năm trị vì Ngu quốc mà ta không biết trong hàng quan lại của ta có một vị quan đáng quý như vầy, không đáng trách hay sao?

Nói xong lấy ngọc tỷ trong tay áo để lên bàn. Thám hoa và mọi người trong cao lâu đồng quý xuống:

– Hoàng thượng anh minh! Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Liền đó, từ ngoài một toán người y phục thương hồ, giáo gươm tua tủa chạy vào. Hoàng thượng khoác tay:

– Các khanh lui ra! (nói với mọi người trong cao lâu) Các khanh hãy bình thân! Nay ta mới biết chỉ có bá tánh lê dân mới là những hộ vệ hữu hiệu mà thôi. Nếu làm quan mà hà hiếp dân lành, coi dân là nô dịch, là kẻ thù; thì khi còn quyền bính trong tay, họ có thể vẹn toàn bởi nhờ thiên binh vạn mã; nhưng khi rời khỏi quan trường thì sẽ thế nào? Chớ tưởng lúc lên xe xuống kiệu, khi nghe vạn lời tung hô, khi thấy muôn người khúm núm cúi đầu mà vội tưởng rằng bá tánh quý trọng mình mà lầm! Làm quan mà thương dân như con như Cao Thám hoa đây, khi về hưu dù áo vải hài gai mà mọi người đều yêu mến từ đáy lòng mình, vậy mới đúng là một vị quan đúng nghĩa. Cao Thám hoa! Ta còn phải học hỏi khanh nhiều lắm!

Kha Tiệm Ly 

Nước Mỹ Buồn Vui

Nước Mỹ Buồn Vui

Tác giả: Vũ Đức Nghiêm
Bài số 5178-19-31022-vb7072917Việt Báo thành kính tưởng nhớ Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm, một tác giả huynh trưởng từng góp bài Viết Về Nước Mỹ. Ông sinh ngày 30-6-1930 tại làng Hoành Nha, Giao Thủy, Nam Định, vừa từ trần tại San Jose, Bắc California, vào sáng Thứ Hai, 24 Tháng Bảy 2017, hưởng thọ 87 tuổi. Theo gia đình, tang lễ sẽ được cử hành ngày Thứ Bảy 5 tháng 8, 2017, tại nghĩa trang Oak Hill, khu Oak Chapel, San Jose.

Bài viết về nước Mỹ từ 14 năm trước của nhạc sĩ đã được phổ biến ngày 11 tháng 9, 2003, đánh dấu 2 năm nước Mỹ bị khủng bố tấn công, hiện vẫn còn lưu trên Việt Báo Online, đã có 144,622 lượt người đọc.

Để tưởng nhớ người nhạc sĩ tài ba, trân trọng mời đọc lại.

* * *

blank

Người tù trở về, Saigon ngày 4 tháng 9, 1988. Trung tá VNCH Vũ Đức Nghiêm sau 13 năm tù và em gái Bạch Cúc.

Từ những ngày thơ ấu, tôi đã có dịp nhìn thấy người Mỹ qua gia đình một Mục sư Mỹ đến giảng đạo Tin Lành ở quê tôi, làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Ông bà và cha mẹ tôi đã tin nhận Chúa từ những năm đầu của thập kỷ 1930, nên ông bà nội đã mời Mục sư Pruett đến quê tôi trong một kỳ giảng bố đạo. Ông bà Muc sư Pruett có mấy con nhỏ trạc tuổi tôi cùng đi theo. Tôi nhìn chúng một cách lạ lùng vì chúng có nước da trắng trẻo, mái tóc vàng như râu ngô, và đôi mắt xanh biếc như mắt mèo. Bọn chúng ăn mặc sạch sẽ, quần áo có mùi thơm nhẹ nhàng khi chúng chơi đùa gần tôi.

Tôi chỉ mới lên 5, 6 tuổi và bản tính nhút nhát nên chỉ dám đứng nhìn, lòng thầm mơ ước sẽ có ngày được như mấy đứa nhỏ ấy. Cho đến năm 1950, sau những ngày tháng tản cư, tôi trở về Hànội, học lớp đệ Nhị trường Chu văn An. Vốn liếng Anh ngữ của tôi, học sinh thi Tú tài Một cũng chỉ vỏn vẹn mấy bài học trong L’Anglais Vivant, tạm đủ khả năng dịch mấy bài tập từ Việt sang Anh và ngược lại, mà không có thực hành.

Khi tôi gặp Mục sư Taylor ở nhà thờ Tin Lành Hà nội, tôi chỉ nói được một câu chào và hỏi một câu thật vô duyên: “Are you busy” Tôi phát âm “busy” là ”biu-zi”, theo cách đọc của các thầy dạy tiếng Anh hồi đó. Mục sư Taylor mỉm cười trả lời nhỏ nhẹ: ”No, I’m not busy”, Ông phát âm tiếng busy thật rõ là ”bi-zi”như muốn giúp tôi phát âm cho chính xác. Tôi bị choáng ngợp đến nỗi hầu như lưỡi bị cứng đơ, bao nhiêu điều muốn nói dường như quên hết. Nếu hồi đó tôi can đảm hơn, bình tĩnh hơn, có lẽ tôi cũng đã nói cho mục sư Taylor biết nguyện vọng của tôi là tôi muốn học tiếng Anh, và biết đâu cuộc đời tôi đã chẳng có những khúc rẽ quan trọng.

Năm 1951, tôi nhập ngũ, học trường Sĩ quan Trừ bị tại Nam Định. Sau một thời gian đi tác chiến và ở các đơn vị trong quân đội, tôi được theo học một khoá Anh ngữ cấp tốc tại Trụ sở Hội Việt Mỹ Sài gòn. Ý thức được tầm quan trọng của Anh Ngữ, tôi cố gắng trau dồi môn sinh ngữ này, và sau khoá học ít lâu, tôi được về làm giảng viên Anh ngữ tại Trường Anh ngữ quân đi, Bộ Tổng Tham Mưu.

Tháng 9-1958, tôi được cử đi làm thông dịch viên tại Trường Bộ binh Fort Benning, Ga.

Được tiếp xúc thẳng với những sĩ quan Mỹ, tôi học hỏi nơi họ nhiều điều thiết thực giúp tôi nhìn xa hơn và tôi ước mơ sẽ có ngày trở thành công dân Mỹ và sống ở miền đất này như quê hương thứ hai của tôi.

Tháng Tư 1975, tình hình ở Sài gòn trở nên bi đát, Cộng quân đã vào sát thủ đô, tôi vội vã tìm đường di tản vợ con, nhưng không cách nào đi thoát.

Giặc Cộng cưỡng chiếm miền Nam, cũng như các bạn sĩ quan khác, tôi đi trình diện học tập, với niềm hy vọng mong manh là chỉ đi trong 30 ngày như thông cáo của Việt Cng. Rút cục, sau một năm bị giam ở các trại Long giao, Suối Máu, chúng tôi bị đưa ra Bắc, ở vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn từ tháng 6-76.

Đây là giai đoạn bắt đầu những ngày lưu đày cực kỳ gian khổ vì chính sách dã man và tàn bạo của giặc Cộng. Phần lớn chúng tôi mang tâm trạng của người con gái nhà lành ngây thơ, bị người tình đẹp trai, giầu có dụ dỗ, những tưởng cuộc sống thanh bình no ấm, nhưng người tình đã phản bội, hèn nhát bỏ chạy khi giặc cướp tràn vào, bắt người con gái về làm tôi mọi cho chúng và bị chúng hành hạ tơi bời cho bõ ghét; tuy vậy nguời con gái đó vẫn chẳng bao giờ nguôi thương nhớ người xưa, vẫn mơ ngày người xưa trở lại cứu mình khỏi tay bọn giặc.

Tâm trạng đó ám ảnh chúng tôi, ngay cả khi đang cuốc đất, chặt cây phát hoang trên rừng, khi nghe tiếng trực thăng bay qua, tôi thầm mơ ước, và tưởng tượng đến lúc tiếng loa phóng thanh trên trực thăng kêu gọi các anh em tù tập hợp ở trảng ven rừng cho quân bạn đến bốc đi. Tôi mơ mộng hão huyền như vậy khi nhớ đến lần Mỹ đổ quân xuống Sơn Tây để giải cứu tù binh hồi trước 1975; nhưng khi tiếng trực thăng xa dần, tôi mới thở dài vì thất vọng.

blank

Chàng nhạc sĩ H.O.

Có lần, chúng tôi đang chở đá về xây thêm phòng giam ở trại tù Nghệ Tĩnh 6, chợt nghe tiếng còi xe hơi từ xa vang vọng lại; có tiếng một anh tù la to: “Tới rồi! Tới rồi!” Lập tức, những tiếng la hưởng ứng khác vang di: “Tới rồi! Tới rồi!” Tên võ trang tức điên lên gọi đội trưởng đến nạt: Các anh la Tới rồi có nghiã gì?” Đội trưởng ấp úng: Molotova tới rồi! Tên VC tức tối: Chứ không phải là Mỹ tới đón các anh ha?” Hoạt cảnh này hầu như xẩy ra ở nhiều trại, nói lên niềm khao khát của những người tù, tuy giận người tình phụ bạc, (Mỹ) nhưng ”giận mà thương!”

Khoảng giữa những năm 1980. có tin Tướng Vessey được cử sang Việt nam nói chuyện với VC về tù cải tạo, niềm hy vọng nhen nhúm trong lòng mọi người. Trong thời gian này, vợ tôi gửi vào trại một tờ đơn của cha mẹ tôi từ California bảo lãnh cho vợ con tôi sang Mỹ đoàn tụ, dặn tôi phải ký giấy chấp thuận cho vợ con đi trước, còn tôi sẽ đi sau. Tên cán bộ quản giáo nói rằng: “Anh là tù, anh không được quyền ký giấy cho vợ con anh đi đâu cả.” Trước lý luận ngu xuẩn cuả VC, tôi im lặng, vì biết có trình bày, giải thích với chúng cũng vô ích.

Tại trại Hàm Tân, một ngày đầu tháng 9-1981, VC gọi tên 13 người tù, trong đó có Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn và tôi, đem theo mọi hành trang cá nhân để ”chuyển trại đến một nơi có điều kiện học tập tốt hơn”, theo lời chúng nói.

Một chiếc Molotova bít bùng kín mít đem chúng tôi đi. Duy Lam và tôi bị còng tay chung một còng số 8. Dọc đường, có anh nhìn qua khe hở của tấm vải bạt, loan báo là xe chạy về hướng Sài gòn; mọi người khẽ nói với nhau, ”không lẽ chúng cho mình về Sài gòn để trả tự do.”

Rút cục chúng đem chúng tôi giam ở khám Chí Hòa. Tôi bị nhốt một mình trong xà lim số 32, khu ED. Trong nỗi cô đơn mịt mùng của tù ngục, vì xà lim tối âm u, các cửa sổ đều bị bít kín, chỉ có một ngọn đèn hắt hiu, ngày đêm toả ánh sáng vàng vọt, tôi cảm thấy một nỗi chán chường và mất tinh thần ghê gớm. Sau khi lau chùi, quét dọn căn xà lim chừng 6m2, tôi quỳ xuống cầu nguyện, xin Thượng đế giúp tôi thêm can đảm và nhẫn nhục để vượt qua chặng đường gian khổ này.

Ngày tháng dần qua, tôi đã quen với bóng tối và nỗi cô đơn, và tôi giết thì giờ bằng cách sáng tác một vài giai điệu ghi lại những cảm xúc trong xà lim. Tôi hằng trông đợi sự giải cứu từ Thượng Đế và dụng cụ Ngài dùng sẽ là Mỹ để giải thoát chúng tôi! Âm thanh của bài hát The Star-Spangled Banner (Quốc ca Mỹ) làm lòng tôi phấn khởi vô cùng khi hát một mình trong bóng tối:

… ”And the rockets red glare, ”
”The bombs bursting in air”
”Gave proofs through the night”
”That our flag was still there! ”
”Our flag was still there!

Tôi ngậm ngùi, bâng khuâng nhớ đến ngày 30-4-75, tại Sài gòn, đại sứ Mỹ cuốn cờ tháo chạy. Tôi cứ tưởng rằng sẽ không bao giờ còn được thấy lá cờ đó nữa. Nhưng tôi tin rằng hình ảnh ”the flag was still there” đã làm Francis Scott Key nức lòng nhìn lá quốc kỳ Mỹ tung bay trên kỳ đài đồn Fort Sumter trong trận chiến giành độc lập của Mỹ năm 1812 để có cảm hứng viết lời ca ”The Star-Spangled Banner” bất hủ. Lá cờ đó còn tung bay mãi mãi trong tim tôi như một biểu tượng rực rỡ cho một ngày quê hương tôi sẽ không còn bóng cờ máu của giặc, khi lá cờ 50 ngôi sao sẽ góp phần trong sự nghiệp giải thoát hơn 70 triệu đồng bào và quê hương tôi khỏi tay giặc Cộng sản bạo tàn đang xéo dầy, phá nát quê hương tôi. Trong niềm cảm xúc ấy, tôi đã viết lời ca Việt theo điệu quốc ca Mỹ như sau:

”Ô kìa, bầu trời cao”
”Phất phới bay cờ sọc sao, ”
”Trời bừng sáng hay ban chiều,
”Nhìn cờ bay với bao tự hào.

”Giữa sa trường đầy gian lao,
”Vẫn tung bay cờ sọc sao.
”Lồng lộng gió trên chiến hào,
”Hồn non sông hiên ngang vẫy chào. ”
 
”Đầy trời rền vang trái phá,
”Tiếng bom gào như xé gió.
”Hãy vừng tin trong đêm dài”, ”
”Nhìn lên lá cờ còn đây. ”

”Này người ơi, hay chăng lá cờ hào hùng”
”Trong gió bay vẫy vùng”
”Miền trời tự do, lòng ta yêu dấu”
”Là quê hương những anh hùng”
(Chí Hòa, tháng 10-1981)

Bài hát này luôn vang vọng trong lòng tôi, giúp tôi vững tin là nước Mỹ dù có mang tiếng là kẻ bỏ rơi đồng minh, nhưng rút cục vẫn là chỗ dựa, ít ra là về tinh thần cho những kẻ bị đày đọa như chúng tôi.

Những tin tức về tướng Vessey và những thoả thuận giữa Mỹ và Việt cộng về tù cải tạo, dù không rõ rệt lắm cũng làm chúng tôi lên tinh thần và hy vọng nhiều hơn.

Tôi nhớ lại có lần đi thăm pho tượng thần Tự do, tôi đọc được những giòng chữ khắc trên bệ:

”Give me your tired, your poor”,
”Your huddled masses yearning to breathe free”,
”The wretched refugee of your teeming shore”
”Send these, the homeless, tempest-tossed to me”
”I lift my lamp beside the golden door! ”

Chuyển ngữ tiếng Việt của Tin Biển, San Jose:

”Hãy đem cho ta những kẻ nhọc nhằn, nghèo khó, ”
”Đám đông chen chúc, hỗn độn thèm khát được thở tự do”
”Những dân tỵ nạn bất hạnh tràn ngập cả bến bờ”
”Hãy đem cho ta những kẻ không nhà bị dập vùi vì bão tố”
”Ta giơ cao ngọn đuốc bên cánh cửa vàng! ”

Ôi ! sức mạnh của những lời tuyên ngôn hừng hực lửa thương yêu, vượt Thái bình Dương mênh mông, chiều nay tràn ngập trong tim người tù khốn khổ, đem lại niềm an ủi cho tâm hồn chán chường tuyệt vọng của tôi! Tôi nhẩm đọc những lời tuyên ngôn trên cho đến khi thuộc lòng và hết lòng cám ơn tác giả những lời tuyên ngôn vàng ngọc trên đây.

*

blank

Ông Bà Vũ Đức Nghiêm cùng con gái Vũ Thơ Trinh và Nhã Ca tại Việt Báo.

Rút cục, cũng đã đến ngày tôi được trả tự do và tôi đã được sang Mỹ đoàn tụ với gia đình tại San Jose, California, ngày 1-11-1990 theo chương trình đoàn tụ HO-04. Nghĩ về nước Mỹ với những kỷ niệm buồn vui, tôi nhớ đến câu mà người ta thường hay nhắc đến: 

”To be an enemy of the United States could be discomfort;

to be a friend, as Republic of Vietnam found to its sorrow, could prove fatal.”

Xin được tạm chuyển ngữ như sau, ”Là kẻ thù cuả Mỹ có thể khó chịu, nhưng là bạn của Mỹ, như Việt Nam Cộng Hòa đã cảm nhận trong niềm đau của họ, thì chỉ có ”từ chết tới bị thương”!

Lại có người cho rằng, “Yêu ai, xin đưa họ đến Mỹ, vì Mỹ là Thiên Đường. Ghét ai, xin đưa họ đến Mỹ, vì Mỹ là Địa ngục.”

Những suy nghĩ trái ngược nhau như vậy, có căn nguyên từ đâu? Tôi không muốn bàn đến vấn đề này vì nó rất phức tạp và nhức đầu. Trong phạm vi bài này, nói về nước Mỹ buồn, vui, tôi chỉ muốn nói lên lòng biết ơn của tôi đối với nước Mỹ và dân tộc Mỹ, là sứ giả của Thương đế, đã mở rộng vòng tay tiếp đón chúng tôi, cũng như hàng trăm ngàn gia đình Việt nam khốn cùng khác, từ vùng đất đọa đầy ngay trên quê hương mình đến một vùng đất trù phú, tự do, tương đối an ninh và thịnh vượng.

Trước ngày rời Việt nam, Việt cộng bắt chúng tôi ký giấy là không được phản bội và chống lại quê hương, tôi phải ký như một hình thức ”nín thở qua sông!”. Quê hương Việt nam yêu dấu của tôi, làm sao tôi có thể phản bội và chống lại quê hương. Có chăng là chống lại bọn giặc Cộng tham tàn bạo ngược đang ngự trị trên quê hương mà thôi. Trước sau, tôi chỉ là công dân của Việt nam Cộng Hòa, và không bao giờ là công dân của cái quái thai Công hoà xã hội chủ nghĩa mà giặc Cộng áp đặt lên Tổ quốc tôi.

Hiện giờ, tôi đã trở thành công dân Mỹ, tôi chia xẻ buồn, vui với người dân đất nước này. Sau biến cố 911, trong các buổi lễ đốt nến tưởng niệm và cầu nguyện cho nước Mỹ, tôi đã nghẹn ngào, âm thầm rơi nước mắt thương cho các nạn nhân của vụ khủng bố, cũng như tôi nức lòng chia xẻ nỗi vui mừng nhìn các cuộc diễn hành của quân đội trong ngày lễ Độc Lập của Mỹ.

Tôi yêu mến và biết ơn quê hương này, biết ơn các anh hùng cuả Mỹ đã trong hơn 200 năm qua anh dũng chiến đấu, xây dựng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Hoa kỳ.

Vũ Đức Nghiêm

*

Sau bài Viết Về Nước Mỹ mời đọc thêm thơ và chuyện tù của Trung Tá Vũ Đức Nghiêm, 51 tuổi, người tại trại tù cộng sản Nghệ Tĩnh 6.

51 Tự Trào

Tuổi trời cho ta năm mươi mốt,
Đau đớn thay, năm năm bị nhốt.
Sáng sáng đẩy xe vài chục xe,
Chiều chiều ngô hột dăm trăm hột.
Thi đua lao động chẳng cần hay,
Học tập tăng gia không mấy tốt.
Thơ thẩn loay hoay, ngày lại ngày,
Lòng son sắt trước sau như một.

Ta sinh ra biếng lười ngu dốt,
Chỉ thích lơ mơ ngồi dựa cột.
Mặc kẻ lên voi, ưa nói ngang,
Thương mình xuống chó, chẳng thưa thốt!
Gặp thời, ừ nhỉ, chúng khôn ngoan,
Lỡ vận, đành thôi, ta dại dột.
Say cuộc cờ, nghĩ mình pháo xe,
Hay đâu ta chỉ là con chốt!

Chốt đã qua sông liền thí chốt,
Ba năm kiếm củi, một giờ đốt.
Thảm thương thay, nghệ sĩ mang cùm,
Ngao ngán nhẽ, cáo cầy đội lốt.
Sông cạn khát khao vài trận mưa,
Núi cao chuyển mình từng cơn sốt.
Mơ ngày phục quốc, cứu quê hương,
Thù giặc Cộng, minh tâm khắc cốt.

Xà lim Trại tù Nghệ Tĩnh 6, (NT6); Tháng 1-1981

Vũ Đức Nghiêm

Lời bạt của tác giả:

Bài thơ này viết khi lao động tại Trại Tù Nghệ Tĩnh 6. Đang viết đến câu cuối: ”Thù Giặc Cộng minh tâm khắc cốt” thì chợt thấy một tên VC đi tới gần, mình vội vàng xóa chữ ”Cộng” thay bằng chữ ”Mỹ”. Tên VC bắt gặp mình đang viết, liền tịch thu tờ giấy, bắt đem lên Trưởng Trại. Tên này kết tội mình không chịu lao động, lại làm thơ phản động; nó hỏi vặn mình tại sao thù giặc Mỹ, mình nói là ”giặc Mỹ ném bom miền Bắc giết đồng bào tôi”, thì nó cười nói là: ”Anh nói vậy mà không phải vậy. Anh thích làm thơ, tôi cho anh vào cùng (nhà cùm) với anh Phạm Xuân Ninh (Hà Thượng Nhân) để làm thơ với nhau”. Ngày hôm đó, tôi bị đưa vào xà lim cùng với Hà Thượng Nhân.

Cậu bé hàng xóm của tổng thống Mỹ và câu chuyện thức tỉnh thế giới

 Cậu bé hàng xóm của tổng thống Mỹ và câu chuyện thức tỉnh thế giới

Lăng mộ hàng xóm của Tổng thống Grant

Bên bờ sông Hudson ở New York, cách lăng mộ của vị Tống thống đời thứ 18 của nước Mỹ Ulysses S. Grant chưa tới 100 mét, có một ngôi mộ của một cậu bé. Bên cạnh ngôi mộ có một tấm biển bằng gỗ, ghi lại một câu chuyện như sau:

Ngày 15 tháng 7 năm 1797, có một cậu bé 5 tuổi bất hạnh bị rơi xuống vách núi và tử vong. Cha mẹ cậu bé vì quá đau thương, tuyệt vọng nên đã xây một ngôi mộ ngay ở cạnh nơi cậu bé đã qua đời.

Sau đó vì tình hình kinh tế gia đình khó khăn, cha cậu bé đã bất đắc dĩ phải chuyển nhượng mảnh đất này, tuy nhiên, bản hợp đồng có kèm theo một yêu cầu đặc biệt cho người chủ mới: hãy vĩnh viễn lưu giữ lại phần đất nơi đặt ngôi mộ của cậu bé.

Người chủ nhân mới đồng ý với điều kiện này và viết nó vào trong điều khoản hợp đồng. 100 năm qua đi, mảnh đất này chuyển đổi bán cho rất nhiều người, nhưng phần mộ của cậu bé vẫn được giữ nguyên ở đó.

Năm 1897, mảnh đất được lựa chọn để đặt làm lăng mộ yên nghỉ của Tổng thống Ulysses S. Grant, nhưng điều khiến nhiều người xúc động hơn nữa là mộ phần của cậu bé vẫn được giữ lại ở đó và trở thành lăng mộ hàng xóm của Tổng thống Grant.

Lại 100 năm nữa qua đi, đến tháng 7 năm 1997, nhân dịp kỷ niệm 100 năm nhân ngày xây dựng lăng mộ của Tổng thống Grant, thị trưởng thành phố New York đã tới đây để tưởng nhớ ông đồng thời cho tu sửa lại phần mộ của cậu bé. Chưa dừng lại ở đó, ông còn đích thân tự tay viết câu chuyện này lên phần mộ của cậu bé để nó có thể lưu truyền lại đời đời cho hậu thế.

Một hợp đồng kéo dài 200 năm đã cho chúng ta thấy một đạo lý làm người rất đơn giản: Khi đã hứa, nhất định phải giữ lời.

Câu chuyện về một bà lão

Mùa đông năm 1935 là khoảng thời gian mà nền kinh tế của nước Mỹ tiêu điều nhất. Không khí ảm đạm bao trùm toàn bộ thành phố New York…

Vào một đêm lạnh giá giữa tháng 1/1935, một phiên tòa được tổ chức trong khu phố nghèo nhất New York. Đứng ở vị trí thẩm phán là ngài thị trưởng đáng kính của thành phố, ông Fiorello LaGuardia, và bên dưới bục là một bà lão đã gần 60 tuổi, áo quần cũ rách cùng với dáng vẻ sầu não. Gương mặt tiều tụy của bà hiện lên vẻ xấu hổ, bà đã bị buộc tội vì lỡ ăn cắp một ổ bánh mì.

Fiorello LaGuardia hỏi bà: “Bị cáo, bà bị tố là đã lấy trộm bánh mì, có đúng vậy không?”

Bà lão cúi đầu, ngập ngừng trả lời: “Vâng, thưa quý tòa, thực sự tôi có ăn cắp.”

Thẩm phán lại hỏi: “Động cơ để bà ăn cắp bánh mì là gì, là vì đói quá à?”

“Dạ vâng.” Bà lão ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn vào vị quan tòa rồi nói: “Nhưng nếu chỉ vì đói thì tôi đã không làm như vậy, tôi cần bánh mì để nuôi ba đứa cháu đã mất cha mẹ của mình, đã mấy ngày nay chúng chưa được ăn gì. Chúng thực sự rất đói… Tôi không thể đứng nhìn chúng chết đói được…” Nói đến đây bà bật khóc.

Sau khi nghe xong những lời thú tội của bà lão, đám đông trong phòng xử án bắt đầu rì rào bàn luận. Ngài thẩm phán gõ chiếc dùi xuống bàn, nói một cách nghiêm khắc: “Yên lặng, sau đây tòa tuyên án.”

Thẩm phán quay sang bà cụ: “Bị cáo, chúng tôi cần làm việc một cách công bằng, chấp hành theo pháp luật. Bà có hai sự chọn lựa: hoặc là bị phạt 10 USD hoặc là chịu 10 ngày tạm giam. Bà chọn cái nào?

Bà lão với vẻ mặt đầy đau khổ và hối hận: “Thưa ngài thẩm phán, tôi phạm tội, tôi chấp nhận chịu phạt. Nếu tôi có 10 USD thì tôi đã không đi ăn cắp bánh mì. Tôi chấp nhận bị tạm giam 10 ngày, nhưng ba đứa cháu nhỏ kia của tôi thì ai sẽ chăm sóc chúng đây?”

Ngài thị trưởng khẽ mỉm cười. Ông rút trong túi ra 10 đô-la và bỏ vào chiếc mũ nổi tiếng của mình.

Đây là 10 đô-la tiền phạt, bà đã được tự do!” Nói xong, ông hướng cặp mắt về phía những người đang tham dự phiên tòa: “Và bây giờ, xin mỗi người hãy nộp 50 cent tiền phạt, đây là tiền phạt cho sự lạnh lùng của chúng ta, phạt vì chúng ta đã sống ra sao mà để cho một cụ già đáng tuổi cha tuổi mẹ mình phải đi ăn cắp bánh mì để nuôi cháu.”

Tất cả mọi người trong phiên tòa đều kinh ngạc, tròn mắt nhìn thị trưởng LaGuardia. Cả phiên tòa bỗng nhiên yên lặng lạ thường, cảm giác như có một chiếc kim rơi xuống đất cũng có thể được nghe thấy. Một lát sau, tất cả những người tham dự đều lặng lẽ đứng dậy, móc trong túi ra 50 cent và để vào mũ của ngài thị trưởng.

Về lý mà nói, việc một bà cụ già nghèo bị phạt vì tội ăn cắp bánh mì, có liên quan gì tới những người ngoài khác? LaGuardia đã nói rất rõ ràng – là chi phí phải trả cho sự lạnh lùng của chúng ta.

Con người ta không phải là một sinh mệnh cá thể độc lập mà còn có sự tương tác với nhau và phải tự giác tuân theo những quy ước nhất định thì mới có thể sinh sống một cách hài hòa. Người biết trân trọng thỏa thuận đó mới là người cao quý, và người biết trả phụ phí cho sự lạnh nhạt thờ ơ của mình mới là người sáng suốt. Thế nhưng con người trong xã hội hiện nay thật sự quá lạnh lùng tàn nhẫn, và có lẽ đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ phải trả giá cho sự tự tư đó của mình…

Kiên Định biên dịch

Trái tim em, lồng ngực anh

 Trái tim em, lồng ngực anh

Lê Hữu

Đây không phải là chuyện tình lâm ly, ướt át, mặc dù câu chuyện có thật và cảm động. Cô gái đã trao trọn trái tim mình cho chàng trai cho dù hai người không hề quen biết nhau.

Một mình một ngựa 

Cô gái tên Abbey Conner, 20 tuổi. Chàng trai tên Loumonth Jack, 21 tuổi. Abbey đã từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, thế nhưng trái tim cô mãi mãi thuộc về chàng trai, và chàng sẽ chẳng bao giờ quên được nàng suốt phần đời còn lại.

Câu chuyện từng được Bill Conner, ông bố của cô gái, kể lại nhiều lần cho nhiều người, những ai từng đọc thấy hàng chữ “Abbey’s Ride for Life” trên tấm biển gắn đàng sau chiếc xe đạp Trek của ông.

Ông Conner có hai người con, Abbey và anh trai cô là Austin, 23 tuổi. Trong chuyến vacation hơn 5 tháng trước đây, cả hai được tìm thấy nằm bất tỉnh, úp mặt sâu xuống nước trong hồ bơi của một khách sạn ở Cancun, Mexico. Người ta chỉ cứu được Austin, riêng Abbey bị tổn thương não nghiêm trọng. Cô được chuyển tới bệnh viện Broward Health Medical Center ở Fort Lauderdale, Florida. Tại đây, sau những cố gắng một cách tuyệt vọng, các bác sĩ tuyên bố cô đã chết não và đi tới quyết định giải phẫu để lấy nội tạng và các mô sinh học mà cô tự nguyện hiến tặng năm 16 tuổi khi cô mới thi lấy bằng lái xe.

Cũng trong ngày ông Conner choáng váng nhận được thông báo về quyết định này, cách đó 670 miles đường chim bay, tại Lafayette, Louisiana, bố mẹ của một thanh niên da màu cũng được các bác sĩ ngậm ngùi thông báo về số phận không may của con trai mình. Jack đang nằm chờ chết trên giường bệnh vì chứng suy tim trầm trọng sau hai lần trụy tim. Sự sống chỉ còn đếm được từng ngày trên những đầu ngón tay, ngoại trừ phép lạ.

Và “phép lạ” đến với anh thật. Trái tim còn tươi rói của Abbey được cấy ghép kịp thời vào trong buồng ngực của Jack. Anh như được tái sinh.

Một người chết đi cho một người được sống. Trái tim Abbey dọn về nơi cư ngụ mới. Không chỉ trái tim thôi, cô hiến tặng đến bốn nội tạng, giúp cho bốn người trong độ tuổi từ 20 – 60 giành lại được sự sống trong cuộc chiến đấu với tử thần. Cô còn tặng cả đôi mắt đẹp của mình cho người khiếm thị ngắm nhìn được cuộc sống tươi đẹp muôn màu muôn vẻ.

Trái tim còn đập nghĩa là vẫn còn sự sống. Ông Conner tin chắc như vậy. Abbey, con gái ông, vẫn đang sống ở một nơi nào đó. Bằng mọi giá, ông phải tìm gặp đứa con yêu của mình.

Ông muốn rời khỏi nhà, tìm đến một nơi nào đó thật xa xôi để mong làm nhẹ bớt nỗi buồn phiền đè nặng trong lòng. Hơn thế nữa, ông còn muốn làm điều gì đó để tôn vinh cuộc sống ngắn ngủi và cao đẹp của con mình.

“Tôi muốn làm cách nào để mọi người nhận thức được ý nghĩa, sự cần thiết, tầm quan trọng và lòng nhân ái của việc hiến tặng nội tạng mình khi lìa đời.” Conner chia sẻ điều này với những người thân và nảy ra ý tưởng: với chiếc xe đạp Trek của mình, ông sẽ thực hiện chuyến đi suốt chiều dọc nước Mỹ, từ Madison, Wisconsin, quê nhà ông, đến tận Ft. Lauderdale, Florida, nơi ông nhìn mặt con gái mình lần cuối để quảng bá, vận động mọi người hưởng ứng việc làm tốt đẹp này.

“Tại sao không?” Conner nói. “Có gì ghê gớm lắm đâu, và chẳng thấm thía gì so với nghĩa cử của con gái tôi. Tôi thực sự mong muốnngày càng có thêm nhiều người tham gia vào việc hiến tặng nội tạng như Abbey đã làm.”

Với ý chí mạnh mẽ và tình yêu không bờ bến của ông bố, Conner quyết định thực hiện cho   bằng được việc này. Một mình một ngựa (sắt), ông lên đường ngày 22 tháng Năm, ngay sau ngày dự lễ ra trường của Austin, con trai ông, tại University of Wisconsin-Milwaukee.

“Tôi tin rằng Abbey cũng muốn tôi làm điều ấy,” ông nói.

Tình không biên giới 

Khi Jack được Louisiana Organ Procurement Agency thông báo về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” của ông Conner, anh tìm cách liên lạc với ông và nói rằng gia đình anh rất vui mừng được đón tiếp ông trong chuyến đi miệt mài ấy.

Sau bốn tuần lễ rong ruổi, vượt 1.400 dặm đường, ông Conner đã gặp được Jack tại Baton Rouge Louisiana vào đúng ngày Chủ Nhật Father’s Day. Trước mắt ông là chàng thanh niên da màu, vóc dáng thư sinh, tóc tai cắt ngắn, quần áo chỉnh tề. Trông Jack có vẻ hiền lành, dễ mến và ông có cảm giác thật gần gũi như từng quen biết nhau tự bao giờ.

Cả hai như bị hút vào nhau trong cái ôm dài đến hơn một phút. Nước mắt họ ứa ra.

Jack lần lượt giới thiệu gia đình mình, ông bà, bố mẹ, anh chị em, những đứa cháu… Hai ông bố, da trắng và da màu, ôm chặt lấy nhau, rưng rưng dòng lệ.

Da màu, thì đã sao! Ngay lúc này đây, ông Conner và mọi người ở quanh ông không ai nghĩ tới chuyện da trắng, da vàng, da đen, da nâu. Hơn lúc nào hết, chuyện màu da, màu tóc, màu mắt… hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Điều thực sự có ý nghĩa là, trái tim Abbey trong lồng ngực Jack đã mang hai gia đình xa lạ lại gần với nhau.

Đấy không phải là tính cách của Abbey đó sao? Conner còn nhớ, cô bé từng kể ông nghe một cảnh trong cuốn phim mà cô xem đến hai lần, “To Sir, with Love”. Ông thầy giáo bị đứt tay và cô nữ sinh tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy máu của ông thầy da đen cũng màu đỏ tươi giống như máu cô vậy.”

Trái tim Abbey và hình hài Jack cũng thế thôi, cũng cùng chung dòng máu.

“Happy Father’s Day!” Jack mỉm cười bước đến bên ông, trên tay cầm gói quà.

Conner đón lấy, mở ra. Một chiếc stethoscope – ống nghe của bác sĩ. Ông thoáng ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra.

“Cám ơn cháu. Cái này hay đấy.”

“Với cái này,” Jack nói, “Bác sẽ nghe rõ tiếng đập của con tim cô ấy.”

Conner lặng người đi mấy giây. Ông bật ra một tiếng nấc không giấu được, đưa cườm tay quệt ngấn nước mắt. Jack cởi tung nút áo để lộ vết sẹo dài chạy dọc trước ngực. Conner gắn ống nghe vào hai tai, áp đầu dây bên kia vào ngực Jack, đúng chỗ trái tim cậu. Không, trái tim con gái ông. Ông nhắm mắt lại, chăm chú lắng nghe… Lát sau, ông gỡ ống nghe, lặng im vài giây như cố trấn tĩnh, rồi buột miệng:

“Well, it’s working.”

“Oh yeah, definitely!” Jack đáp.

Không chỉ nghe rõ nhịp đập đều đều của trái tim, Conner còn nghe được cả tiếng thì thầm quen thuộc của Abbey, “Bố đến thăm con đấy phải không? Con vẫn ổn mà, Bố đừng lo cho con. Chỗ này, buồng ngực của Jack đấy, tốt lắm Bố à. Bố con mình vẫn gần nhau mà, phải không?”

Ông đã bao lần ôm chặt con mình vào lòng, bao lần nghe hơi thở con, nhịp tim con đập rộn ràng như thế này. Ông đã bao lần ôm ấp đứa con yêu, từ thuở cô còn bé bỏng, từ thuở mẹ cô còn sống, và cả những lần hai bố con xa nhau rồi gần nhau như thế này.

Conner cúi đầu thật sâu, hai mắt nhắm nghiền, nước mắt lại muốn ứa ra. “Đúng thế Abbey,” ông cũng thì thầm. “Bố đến thăm con đây. Bố đến thăm con để xem con đã ‘sống’ như thế nào kể từ ngày xa Bố. Sau cùng thì bố con mình đã gặp được nhau, phải không, ‘baby girl’ của Bố?”

“Baby girl”, ông Conner nhớ từng gọi con bé như vậy.

“Cám ơn cháu,” ông ngước lên, mỉm cười với Jack.

“Thật là một phép lạ,” Jack nói. “Abbey giống như là bà tiên có phép mầu trong chuyện cổ tích. Cháu đã chết đi, rồi được sống lại. Cháu mang ơn cô ấy nhưng không có cách nào để trả ơn.”

“Đừng nghĩ đến chuyện đền ơn đáp nghĩa,” ông Conner mỉm cười với chàng trai. “Cách trả ơn tốt nhất là hãy sống tốt. Đơn giản là vậy. Sống như Abbey vậy, giúp đỡ người khác và mang niềm vui đến cho mọi người.”

“Cháu hiểu,” Jack nói nhỏ. “Cháu còn phải cám ơn Bác nữa.”

“Bác phải cám ơn cháu chứ,” Conner lại mỉm cười. “Nhờ có cháu mà Bác được gặp lại Abbey. Bác thật hạnh phúc.”

Conner ngắm nhìn chàng trai trạc tuổi con ông. Ông nhìn xuống chiếc ống nghe vẫn cầm trên tay, món quà đặc biệt Jack tặng cho ông. Trong đời mình, quả là ông chưa bao giờ nhận được quà tặng Father’s Day nào ý nghĩa hơn thế.

Nhờ có Jack, ông Conner biết được rằng trái tim con gái ông chưa có phút giây nào ngừng đập, có điều trái tim ấy đã dọn sang hình hài khác. Abbey đã cho không trái tim quý giá của mình. Cô đã cho không, không điều kiện, không có bất cứ sự lựa chọn nào. Dẫu cho hình hài ấy, da dẻ kia có như thế nào thì trái tim cô vẫn rộn ràng những nhịp đập yêu thương.

Tình yêu cô gửi vào trái tim là tình không biên giới.

Abbey lìa xa bố khi tuổi cô vừa tròn đôi mươi, tuổi tươi đẹp nhất của một đời người. Trái tim cô đang tràn đầy nhựa sống, tràn đầy ước mơ. Cô khao khát sống và thiết tha yêu đời. Cô theo đuổi ngành học Public Relations tại trường University of Wisconsin-Whitewater với ước mong có cơ hội mở rộng giao tiếp với nhiều người và cũng giúp được nhiều người.

Với Conner, con gái ông vẫn đang sống; hơn thế nữa, cô thực hiện được điều ước muốn là làm đẹp cho cuộc sống. Còn gì hơn thế nữa.

Với Jack, anh bắt đầu lại cuộc sống. Anh yêu cuộc sống hơn bao giờ. Jack sẽ trở lại trường học, sẽ nối lại những giấc mơ còn dở dang vì phải bỏ dở chuyện học hành. Anh sẽ đi tiếp con đường Abbey đã đi; hay nói một cách nào đó, anh đi theo tiếng gọi của con tim nồng ấm đang nằm gọn trong lồng ngực anh.

Chia tay gia đình Jack, ông Conner lần lượt ôm hôn từng người một trong gia đình anh. Sau cùng, ông lại ôm chặt lấy Jack, gục đầu lên vai anh, ngỡ như đang ôm ấp đứa con yêu quý của mình.

Và rồi Conner lại leo lên lưng chiếc xe đạp, lại tiếp tục lên đường. Ông phải đi cho hết cuộc hành trình. Lần này, ông có thêm bạn đồng hành là băng ghi âm tiếng nhịp đập con tim của Abbey mà gia đình Jack gửi tặng ông. Conner như được tiếp sức, ông cảm thấy sung sức hơn bao giờ.

Conner dự kiến ngày 10 tháng Bảy tới đây sẽ chạm “mức đến”, Broward Health Medical Center tại Ft. Lauderdale, Florida, là nơi Abbey đã được các bác sĩ giải phẫu lấy nội tạng. Nơi đây, ông sẽ thực hiện nốt việc sau cùng là rải tro con mình xuống lòng biển khơi, như một dấu chấm hết cho cuộc hành trình dài mãi đến 2.600 dặm trường.

Abbey yêu biển, cô sẽ về lại với thiên đường “biển xanh, cát trắng, nắng vàng” của Florida.

Trả lời các phóng viên báo chí về cuộc “hành trình đơn độc” trên lưng con ngựa sắt, ông Conner nói, “Tôi không hề đơn độc. Lúc nào Abbey cũng ở cạnh tôi. Một khi bạn làm điều gì có ý nghĩa, bạn sẽ không cảm thấy đơn độc.”

Conner tin tưởng một cách mạnh mẽ sẽ có nhiều người cùng đồng hành với ông. Trong lá thư ngỏ gửi cho báo chí kể về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” dọc nước Mỹ nhằm vận động việc ghi danh online để trở thành người hiến tặng nội tạng, có đoạn ông viết:

“Thật là ích kỷ khi bạn nhất định chôn theo bạn những gì có thể cứu vớt được mạng sống con người. Bạn không mất gì cả trong lúc mang được hạnh phúc đến cho những kẻ xấu số. Vậy tại sao bạn lại từ chối hay ngần ngại? Sớm muộn gì thì bạn và tôi cũng phải chết mà, làm sao tránh khỏi được. Vậy tại sao không làm cho cái chết của mình không vô nghĩa và phí phạm?”

“Nếu bạn muốn để lại một di sản,” ông viết ở một đoạn khác, “không có di sản nào quý giá hơn là giúp cho người khác được tiếp tục sống, một cuộc sống ý nghĩa.”

Phần tôi, rất lấy làm “tâm đắc” đoạn cuối lá thư của ông Conner:

“Bạn vẫn đến nhà thờ, nhà nguyện để cầu nguyện sau khi chết sẽ được lên thiên đường, phải không? Vậy tại sao bạn không làm việc đó? Lời nguyện cầu của bạn sẽ sớm được cứu xét.  Hãy trao tặng cho người khác những gì thượng đế đã ban tặng cho bạn. Đấy là lẽ công bằng. Bạn đâu cần phải mang theo tất cả, một khi thân xác bạn nhẹ nhàng thì bạn cũng dễ… bay lên tới thiên đường.”

Lê Hữu

(Viết phỏng theo bản tin CBS News)* Nguồn ảnh: Photo by Caroline Ourso– Moving moment Dad hears daughter’s donated heart beat again:
httpv://www.youtube.com/watch? v=6xMd8Ie3vN4

Hai mẩu chuyện

 Hai mẩu chuyện
 
Sống trong gia đình nên săn sóc cho nhau và tìm hiểu cặn kẽ, đừng vội trách móc, giận hờn. Thiếu hiểu biết săn sóc kịp thời, là vô tình mình đẩy người mình thương vào cõi chết sớm hơn, do thiếu tìm hiểu, cảm thông và chăm sóc muộn màng.

1* Bộ quần áo cũ.

Minh D Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội…ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm. 
Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:
-Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
-Nhưng bố thích mặc bộ này!
Tôi bắt đầu cau có:
-Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.
Ông già buồn rầu, lập lại:
-Bố thích bộ quần áo này lắm.
Tôi cũng cương quyết:
-Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
-Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.

Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ. 
Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.

            2* .Bệnh và Lười.
Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:
-Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm nhưng không ngủ được nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim. 

Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này ai nghe cho được.
Tui định bụng hôm nay về mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt. Về nhà, quả nhiên cơm canh không có, đứa con nhỏ hoảng hốt: 
-Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi, má bị xỉu phải cấp cứu.
Tui vội vã vào nhà thương. Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay nó đau nhức, than thở mà tui nghĩ nó giả bộ nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.

Bệnh ung thư phát mạnh quá, sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua phải hửi mùi thuốc lá tui hút. Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp tay gối bao nhiều năm mà nó đau đớn, bịnh nặng tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về mới nằm liệt ra thôi. Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui có OK không. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry” rồi đi ra. 
Tui trở vào phòng thăm vợ. Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:
-Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cày mà anh thích đó. 
Tui vỗ về:
-Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm.
Tui ráng nấu mấy món ngon đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc. Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la mắng vợ con mỗi ngày, uy quyền lắm mà bây giờ mít ướt quá sức …

S.T.