
Một trường hợp án oan!


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Hai người Khách Trọ
Hai vợ chồng người Do Thái tỵ nạn – Cách họ cảm ơn nước Mỹ
Hai ông bà Peter and Joan , sống ở Seattle , Hoa Kỳ đã qua đời , để lại di chúc nhờ luật sư chuyển toàn bộ gia tài của mình là $847,215.57 cho chính phủ Hoa Kỳ . Hai ông bà không có con cháu , và thân nhân gần cũng không có ai vì họ là những người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết hại . Hầu hết thân nhân của họ đã chết trong các trại tập trung của Hitler từ mấy chục năm trước .
Hai ông bà không để lại gia tài cho các hội từ thiện mà để lại cho chính phủ Hoa Kỳ , vì theo di chúc , họ muốn cám ơn chính phủ Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón họ và giúp đỡ họ có cuộc sống mới từ trại tập trung kinh hoàng của Đức Quốc Xã .
Ông Peter Petrasek sanh năm 1920 tại nước cộng hòa Czech . Khi quân đội Đức xâm lược nước này thì ông mới 12 tuổi .. Chị của ông chết vì trúng đạn pháo kích , cha của ông bị bắt vào trại tập trung và bị giết tại đây , mẹ của ông thì bị lưu lạc mất tích . Ông còn sống sót là nhờ có sức khỏe và thể hình tốt , nên được chọn chuyển vào trại Thiếu nhi để phục vụ cho quân đội Đức ..
Khi quân đội Mỹ của phe Đồng Minh giải phóng khu trai tập trung đó , ông được nhận vào quy chế tỵ nạn của Mỹ và được đưa sang Mỹ , được 1 gia đình người Mỹ nhận nuôi . Ông không trở về quê hương vì sau khi Phát xít Đức thua cuộc thì đất nước của ông lại bị Liên Xô chiếm đóng và trở thành nước Czech cộng sản .
Bà Joan , vợ ông , cũng là người Do Thái , đến từ Ái Nhĩ Lan . Hai người gặp nhau và làm đám cưới ở Canada , sau đó bà theo ông về Mỹ và sống ở Seatle cho đến ngày mất . Ông Peter làm thợ cơ khí cho hãng Bethlehem Steel suốt mấy chục năm và bà Joan làm nghề thợ may .
Khi bà Joan bị ung thư năm 1998 , biết không qua khỏi , 2 vợ chồng bàn đến việc để lại gia tài cho ai . Hai ông bà đã đồng ý và viết di chúc giống hệt nhau , trong đó nói họ rất cám ơn nước Mỹ đã cho họ cơ hội sống 1 cuộc sống bình an và tự do , 1 cuộc sống không chiến tranh , không lo nghĩ và được đối xử bình đẳng và tôn trọng như mọi người Mỹ khác , là những điều mà họ biết họ không có được nếu sống trong 1 quốc gia độc tài như Phát xít hay Cộng sản , và họ muốn biểu lộ lòng biết ơn đó bằng cách để lại toàn bộ gia tài chắt chiu cả đời cho chính phủ Mỹ .
Sau khi ông Peter mất , đại diện của Tòa Bạch Ốc đã được mời đến văn phòng luật sư của hai ông bà để nhận tấm ngân phiếu và đã chuyển nó vào ngân khố quốc gia của nước Mỹ .
Tác giả: Chú Chín Cali
Bài số 5267-19-31111-vb8111217
Đây là một bài mới tác giả viết về tâm trạng của con cái khi phải đưa cha mẹ già vào nursing home. Tác Giả tham dự VVNM năm 2015, được giải danh dự trong năm đầu (2016) và giải “Vinh danh tác phẩm” ( Á khôi) năm 2017. Ông là một chuyên viên về hưu, đang định cư tại Orange County.
***
Sống ở Mỹ khá lâu nên tôi ít nhiều cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của người Mỹ nên không có ý định nhờ vả con cái khi tuổi về chiều. Một ngày nào đó khi thấy mình không còn khả năng để tự lo cho mình được nữa tôi sẽ vào sống trong các “Boarding care” để có người chăm sóc, nếu tệ hơn sẽ được hưởng những phúc lợi dành cho người cao niên và được bảo vệ bởi hệ thống an ninh xã hội Mỹ. Ở Mỹ có “Nursing Home” được trang bị đầy đủ phương tiện, kỹ thuật và nhân sự chuyên môn để chăm sóc những người không còn khả năng tự lo cho mình, có “Hospice Service” chăm sóc vật chất lẫn tinh thần cho các bịnh nhân không thể sống hơn sáu tháng, giúp họ ra đi trong yên bình và giúp gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.
Nhưng tư tưởng lạc quan nầy đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi thật sự đối diện với tử thần và nếm mùi bịnh viện sau khi trải qua một cơn bạo bịnh phải nhập viện trong 10 ngày. Tuy đã được thoát chết, vết thương mổ xẻ đã lành, nhưng những đau đớn về thể xác và vết thương tâm thần mà bịnh viện để lại vẫn còn hằn sâu trong ký ức không bao giờ lành. Từ đấy tôi bắt đầu thấy sợ bịnh viện, sợ luôn cả nursing home vì đây chẳng qua chỉ là một hình thức khác của bịnh viện, bịnh viện của người già.
Từ tâm trạng sợ hãi nầy tôi liên tưởng đến 4 năm hãi hùng mà nhạc mẫu tôi phải trải qua trong nursing home trước khi bà mất. Từ đấy những quảng cáo đẹp về nursing home với hình ảnh những cụ già vui chơi hạnh phúc được thay thế bằng những hình ảnh đau khổ của nhạc mẫu tôi và của những cụ già ngồi xe lăn ủ rủ, nghiêng ngả, cong queo, nhễu nhão, những gương mặt mếu máo, những ánh mắt vô thần.
Chúng tôi may mắn được sống chung với cha mẹ vợ vì bà xã tôi là con gái út. Lúc còn khỏe ông bà nhạc của tôi quán xuyến hết mọi chuyên trong nhà để vợ chồng tôi được rảnh tay lo chuyện ngoài xã hội. Hai con tôi gần gũi với ông bà ngoại nhiều hơn với cha mẹ chúng. Đi học về vừa đến cổng nhà là đã réo gọi ông bà ngoại. Tuy nuôi con nhưng thật ra tôi chưa biết thay tã hay cho con bú! Kể cã tiếng Việt chúng nói đều nhờ ông bà dạy từ ngày chúng bập bẹ tập nói.
Nhưng cuộc sống hanh phúc chấm dứt từ khi nhạc mẫu tôi ngã bịnh. Năm 78 tuổi, sau chuyến du lịch Việt Nam về, mẹ nằm suốt trong phòng, than mệt. Ngoài bịnh tiểu đường loại 2 mãn tính, mẹ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiểu, đau cột sống, ho kinh niên và sau đó khám phá ra bị ung thư phổi. Từ đấy bà ra vào bịnh viện như đi chợ. Thiếu bàn tay của mẹ, gia đình tôi rối loạn lung tung, con cái đi học trể, cơm nước thất thường, nhà cửa bề bộn. Vợ chồng tôi phải tập lại từ đầu cách quán xuyến gia đình, nuôi con, thêm nuôi mẹ già trong bịnh viện. Bố cũng yếu chỉ hụ hợ chuyện lấy thơ, đổ rác, đóng cổng là đã than mệt rồi.
Bác sĩ ung thư khuyến cáo không nên mổ xẻ hoặc trị liệu gì cho mẹ vì ung thư đã di căn đến não. Hơn nữa tuổi mẹ đã quá cao lại bị bịnh tiểu đường nên vết mổ không lành. Hãy để cho thiên nhiên quyết định vận mệnh của mẹ. Tôi dấu nhẹm lời bác sĩ bảo rằng mẹ chỉ sống tối đa là sáu tháng. Mẹ được cho về nhà với lời khuyên “thích ăn cái gì cho bà ăn cái nấy”. Nhưng “Còn nước còn tát” chúng tôi không chịu thua, chạy chửa bịnh cho mẹ bằng thuốc nam. Ai bày thuốc gì ở đâu tôi cũng tìm cho được. Khi lái xe mắt tôi cũng láo liên nhìn bên lề đường, dọc theo các hàng rào tìm cây cỏ “Dendelion” để hái lá cho mẹ ăn. Nghe nhà ai có cây nha đam chúng tôi cũng tìm đến xin hay mua cho bằng được. Bã xã tôi cầu nguyện cho mẹ hàng ngày không xao lãng.
Như được một phép nhiệm mầu, bịnh ung thư của mẹ tôi thuyên giảm dần dần và sau mấy tháng khối u trong phổi tự nhiên biến mất. Bác sĩ gia đình rất vui bảo “đừng thắc mắc, hảy cứ tin là như vây đi”. Nhạc mẫu tôi thì tin là mình đã hết bịnh thật, còn vợ chồng tôi thì gần như kiệt lực, mong sau phép lạ sẽ kéo dài. Bịnh ung tư không thấy trở lại, nhưng bịnh đau cột sống làm mẹ đau đớn không ăn ngủ được nên sinh ra khó tính. Mẹ lại quên trước quên sau. Mẹ không còn kiểm soát được tiêu tiểu nữa nhưng nhất định không chịu mang tã. Bố cũng già mệt mõi, suốt ngày ngủ trong phòng. Ông bà lại không biết tiếng Mỹ, không dùng điện thoại, nên khi vợ chồng tôi đi làm lúc nào cũng phập phòng lo sợ.
Bác sĩ gia đình đề nghị nên cho mẹ vào nursing home để dễ bề chăm sóc. Vợ chồng tôi đồng ý ngay nhưng gặp sự phản khán quyết liệt của nhạc mẫu tôi. Suốt đời mẹ không bao giờ xa gia đình nửa bước nói chi chuyện cách ly vĩnh viễn! Đối với mẹ, mất gia đình là mất tất cã. Chúng tôi nể mẹ nên không dám nói chuyện nursing home nữa, chỉ sợ làm mẹ buồn ảnh hưỡng đến sức khỏe.
Nhưng sức khỏe của mẹ càng lúc càng tệ. Sau lần cấp cứu cuối cùng vì bị ngất xỉu, bác sĩ đề nghị phải đưa thẳng mẹ vào nursing home, vì theo ông, đó là cách tốt nhất để bác sĩ có thể theo dỏi bịnh tình và giữ an toàn cho mẹ.
Ngày đầu tiên vào nursing home không ai nỡ bỏ mẹ một mình nên quấn quít bên bà cho đến tối rồi cũng phải ra về. Đó là ngày đầu tiên trong cuộc đời mẹ phải sống lẻ loi một mình bên những người xa lạ. Tôi còn nhớ rỏ gương mặt thẫn thờ của mẹ nhìn theo con cháu đang bỏ bà mà đi. Tôi không dám nhìn mẹ lâu hơn vì tôi thấy mẹ khóc, một điều rất lạ đối với nhạc mẫu tôi vốn là người đàn bà can cường và cứng rắn. Bố thấy tội nhiệp đòi mỗi ngày chở bố vào nursing home để ông chăm sóc cho mẹ. Được mấy tuần rồi tôi cũng chịu thua vì chuyện đón đưa hàng ngày thật là bất tiện. Còn nếu để bố đi xe bus nếu có chuyện gì xảy ra thì ai lo cho bố đây!
Từ ngày Mẹ vào nursing home vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, không còn phải lo lắng như khi xưa khi bỏ mẹ ở nhà. Chúng tôi yên tâm là mẹ được theo dõi và chăm sóc 24/7. Tan sở vợ chồng tôi chở bố vào thăm mẹ, thấy mẹ sạch sẽ thơm tho, giường nệm trắng tinh, kẻ qua người lại tấp nập vui vẻ lắm. Yên tâm chúng tôi dần dần xao lãng việc thăm viếng. Cả hai cháu cũng không còn đòi đi thăm ngọai nữa, nhiều khi phải bắt chúng mới chịu đi. Chúng không thích cái mùi trong nursing home.
Từ ngày sống trong nursing home mẹ hoàn toàn thay đổi, trở nên trầm lặng, ít nói, khác hẳn với mẹ trước đó “quậy” tưng bừng trong bịnh viện. Mẹ chịu mang tã, nằm yên trên giường, không có ý kiến chuyện chung quanh, không đòi hỏi gì, không còn than phiền đau lưng nhức gối, hay càu nhàu vì thiếu ngủ, mất ăn như lúc ở nhà. Sau nầy mới biết bà đã được cho dùng thuốc an thần và thuốc đau nhức nồng độ cao nên lúc nào bà cũng ở trạng thái lờ đờ lim dim ngủ. Có lúc tỉnh táo, mẹ chỉ nhìn qua khung cửa sổ với đôi mắt vô thần. Hỏi mẹ có đau đớn gì không, mẹ lắc đầu. Hỏi có thích ăn uống đồ ăn Việt Nam không mẹ lắc đầu, tuy tôi biết là mẹ rất ghét đồ ăn Mỹ nhất là khẩu phần cho bịnh nhân tiểu đường và cao máu nhạt nhẽo không sao nuốt nỗi. Mẹ chịu đưng, sống âm thầm không một lời than thở.
Cho đến một hôm mẹ nắm tay nhà tôi, nước mắt rưng rưng mẹ van xin:
– Mẹ muốn chết con à. Con xin người ta cho mẹ chết đi!
Bà xã tôi sững sờ, ôm mẹ năn nỉ:
– Mẹ đừng nói kỳ vậy, phải ráng lên chớ, con biết phải làm sao bây giờ?
Rồi vợ tôi cũng khóc. Tôi chỉ đứng nhìn. “Chúng tôi biết phải làm sao bây giờ”?
Vợ chồng tôi đều nghĩ rằng đã tìm được giải pháp tốt nhất cho mẹ rồi. Mẹ thì đã “ráng” quá nhiều, ráng đến mõi mòn, đến kiêt quệ nên muốn bỏ cuộc. Đã bốn năm dài đăng đẵng mẹ sống nơi đây như cái xác không hồn.
Có lúc chúng tôi vào thăm mẹ vào giờ ăn trưa thấy mẹ ngồi gục đầu trên xe lăn như một em bé ngoan, mắt nhắm nghiền, đợị đến phiên mình há mồm được đút cho ăn. Mẹ không còn thiết tha gì nữa.
Những tháng cuối cùng mẹ nằm trên giường đưa mắt nhìn con cháu, không cử động hoặc nói năng gì. Hình như có điều gì u uẩn trong lòng mà mẹ không nói được hay mẹ có tâm sự gì nhưng muốn giấu kín trong lòng.
Một buổi sáng sớm, tôi nhận được cú điện thoại từ nursing home báo tin là mẹ chúng tôi đã mất đêm qua. Bà mất lúc nửa đêm nên không ai hay biết cho đến sáng ngày hôm sau. Bà âm thầm ra đi không một lời từ giả, không một giọt nước mắt tiển đưa. Chắc mẹ cô đơn lắm lúc trút hơi thở cuối cùng. Suốt đời mẹ lo cho chồng, cho con, cho cháu, ngày mẹ ra đi chỉ có một mình, trong cô đơn. Có ai biết rằng không phải mẹ chỉ cô đơn trong giây phút ra đi mà mẹ đã chết từ lâu rồi, kể từ ngày mẹ bước chân vào ngưởng cửa nursing home, một nhà tù không cần đóng cửa. Tôi chợt hiểu được tại sao mẹ đã khóc ngày đầu tiên đến nursing home. Ngày ấy mẹ chấp nhận bản ản tử hình không văn tự vì muốn hy sinh cho con cái. Ngày ấy Mẹ đã khóc lời vĩnh biệt các con cháu rồi.
Chúng tôi vội vã vào nursing home vừa kịp lúc nhìn mẹ lần cuối cùng trước khi người ta phủ kín mặt mẹ với tấm trải giường màu trắng rồi mang xác mẹ đi. Mọi người đứng nhìn theo chết đứng, ngỡ ngàng, đớn đau, nhưng không ai khóc thành lời. Chúng tôi đã biết là ngày nầy sẽ đến với mẹ, và hôm nay nó đã đến.
Cái chết của nhạc mẫu nhắc tôi nhớ lại chuyện cổ tích về chuyện người tiều phu đẩy xe chở mẹ vào rừng cho thú hoang ăn thịt vì bà đã quá già. Tôi có khác gì người tiều phu đó, đã đưa nhạc mẫu tôi vào nursing home để chết. Đến một ngày nào sẽ đến lượt con tôi chở tôi đi như vậy sao?
Tôi lại nhớ đến chuyện con voi già biết mình sắp chết, nó âm thầm đi vào cái “nghĩa địa voi” là cái hang động cho voi đến để chết. Nó âm thầm gục chết một mình bên cạnh những đống xương voi già đã chết trước nó. Tôi chợt nghĩ nếu con người làm được như con voi già thì con cháu không phải cực khổ vì cha mẹ già, không phải khổ tâm vì mặc cảm là đã làm một hành động bất nhân, bất hiếu, như tâm trạng hối hận của tôi bây giờ đối với nhạc mẫu của tôi.
Nursing home. Cái trạm cuối của cuộc đời mấy ai tránh khỏi!
Bạn đã chọn cho mình cách đến chưa?
Chú Chín Cali
Thầy Năm Chén
Tiểu Tử
Sau trận Tết Mậu Thân (1968) ở Huế, gia đình ông thầy thuốc Nam đó chết hết, chỉ còn lại có hai cha con. Nhà cửa tiêu tan, sự nghiệp tiêu tan, thầy không muốn ở lại cái vùng đất mà thầy cho là còn gần với quân xâm lăng miền Bắc. Thầy gạt nước mắt, dẫn thằng con trong tuổi quân dịch đi vô Nam.
Thầy nói: “Ở trong nớ tuy tứ cố vô thân nhưng chắc chắn là mình được yên ổn lâu dài.” Trên chuyến xe vào Sài Gòn, ông bắt chuyện với một sư ông lên xe ở trạm Nha Trang. Thì ra sư ông cũng là thầy thuốc Nam nữa. Nhờ vậy, tâm sự được dàn trải dễ dàng. Sư ông trụ trì ở chùa Thiền Lâm Gia Ðịnh, vừa làm phật sự vừa bắt mạch vừa bốc thuốc. Sư ông nói:
– Tôi làm không xuể.
– Bịnh nhân có đông không ?
– Tùy mùa. Nói chung chung thì cũng nhiều. Với tôi, Phật sự là chánh, còn chữa bịnh là phụ. Vì không đủ thời giờ nên tôi đành từ chối bịnh nhân…
Thấy cũng tội nghiệp! Khi sư ông biết tình cảnh của cha con ông thầy thuốc Nam, sư đề nghị:
– Nếu ông anh không chê thì tôi xin mời ông anh về tá túc với chúng tôi. Mình sẽ phụ nhau chữa bịnh cho đồng bào thì thật là hoan hỉ.
Trong cảnh “tứ cố vô thân,” đề nghị của sư ông như một cái phao. Ông thầy nhận lời và cám ơn rối rít. Sư ông nói:
– Ðời sống trong chùa đạm bạc như thế nào chắc ông anh cũng đoán biết, không cần phải giãi bày. Duy chỉ có điều này là cần nói rõ: bịnh nhân đến chùa phần đông là đồng bào nghèo, mà chùa thì không có khả năng tài chánh để chữa thí, vì vậy, mình chỉ lấy tiền thuốc thôi.
– Ngoài nớ, gặp bịnh nhân nghèo, tôi cũng làm như rứa. Ðôi khi còn không lấy tiền.
– A di đà Phật…
… Chùa Thiền Lâm nằm giữa một nghĩa trang vây quanh bởi một bức tường rào xây bằng gạch bờ-lóc không có tô và cũng không quét vôi. Nhiều nơi tường bị nứt dài, gạch bể lổ đổ. Dọc theo mặt tiền là mấy “tiệm“hớt tóc (Không biết gọi là gì cho đúng. Mấy anh thợ hớt tóc, trước đây hớt tóc dạo, bây giờ… đóng đô ở đó bằng cách đóng lên tường mấy cây đinh rồi móc tấm ni-lông hay tấm vải trắng cỡ thước rưỡi bề ngang, có mấy cây trúc chống căng ra như một mái nhà. Bên dưới, đặt hai ghế đẩu – một cho khách, một cho thợ hớt tóc – và trên tường treo ngang tầm mắt người ngồi ghế đẩu là tấm kiếng cỡ hai trang giấy lớn. Trên tường cũng có viết nguệch ngoạc bằng sơn dầu các kiểu tóc và giá cả. Chiều, họ gỡ hết đem đi. Sáng, họ trương lên, ngồi đánh cờ tướng với nhau hay hút thuốc rung đùi… đợi khách !). Cổng vào nghĩa trang, bằng sắt rỉ sét xiêu vẹo, mang một bảng gỗ đã mục nhiều nơi, lớp sơn tróc rơi để lòi sớ gỗ, nhưng cũng còn vừa đọc vừa… đoán ra được hàng chữ: “Nghĩa trang Hội Tương tế X…” Từ ngoài ngõ chạy thẳng vô chùa là đường đất đỏ nằm giữa hai hàng cây điệp. Vây quanh chùa là mả thấp mả cao xếp hàng dài dài… Chùa là một ngôi nhà cất theo kiểu xưa: nền cao, nóc bánh ích, cột kèo gỗ, ba gian hai chái, hàng ba thật rộng. Không có mái cong chạm rồng chạm phụng gì hết. Mới nhìn tưởng là nhà ở chớ không phải chùa! Biết là chùa nhờ có tấm bảng nằm dưới mái hiên: “Thiền Lâm Tự”! Bên trong không có “năm ngăn bảy nắp đầy dẫy tượng Phật, tượng Bồ Tát sơn son thếp vàng” như mấy chùa nổi tiếng. Nhưng cũng có đầy đủ ngôi tam bảo với các vật dụng cần thiết để làm phật sự. Ở đây, đúng là một cảnh chùa nghèo.
Tuy nhiên, theo lời sư ông, những ngày rằm ngày vía, Phật tử đến cúng bái khá đông. Phần lớn là đồng bào ở trong vùng và những người không thích “chùa nhà giàu” – chính họ nói như vậy. Về chùa Thiền Lâm, sư ông phân công rõ rệt: sư ông và người đệ tử lo phật sự và trông nom trong ngoài, còn cha con ông thầy thì lo phần chữa bịnh kể cả việc đi bổ thuốc.
Cái chái phía bên phải xưa nay vẫn là phòng mạch, bây giờ giao hẳn cho ông thầy tự do sắp xếp. Cha con ông được cho một căn buồng ở hậu liêu, có cửa sổ nhìn ra vườn rau cải của chùa. Lâu lâu, có ai rước sư ông đi làm đám ở đâu thì cha con ông thầy lãnh phần đèn nhang cúng bái thường nhựt… Ông thầy chữa bịnh mát tay nên bịnh nhân càng ngày càng đông. Thầy bắt mạch, rờ trán, xem lưỡi… rồi bốc thuốc gói từng thang bằng giấy báo. Khi trao thuốc lúc nào thầy cũng dặn: “Ðổ vô năm chén nước, sắc còn một chén uống.” Thang nào của thầy cũng là năm chén nước và không thang nào là không đi kèm với câu dặn dò trên. Vì vậy, bịnh nhân và người trong vùng gọi ổng là “thầy năm chén. ” Lâu ngày thành tên luôn, làm như thầy thứ Năm và tên Chén vậy! Cho nên, về sau, khi nói chuyện với thầy, bịnh nhân gọi thầy bằng “thầy Năm” rất tự nhiên. Không thấy thầy ngạc nhiên hay cải chánh gì hết !Thằng con thầy Năm Chén, tên Kiệt, thông minh học giỏi cần cù. Kiệt thi đậu vào trường kỹ thuật Cao Thắng. Mấy năm sau, chưa ra trường đã phải nhập ngũ, đi công binh.
Lâu lâu được kỳ phép, về chùa giúp cha bổ thuốc bốc thuốc, giống như thời mới vào Nam với hy vọng “nơi ni mình sẽ được yên ổn lâu dài…”
…
Vậy rồi có ngày 30 Tháng Tư 1975…
Hồi thời Tết Mậu Thân, thầy còn chạy vô Nam. Bây giờ, thầy không biết chạy đi đâu nữa. Thầy thở dài: “Ðúng là cái số !” Bản chất thầy hiền hòa mộc mạc như các vị thuốc Nam của thầy, cho nên sự miền Nam mất vào tay cộng sản, thầy nghĩ rất đơn giản: “Tại ông Trời! Nhơn bất thắng Thiên, ông bà mình dạy như rứa. Khi ổng đã định, mần răng mà cãi được!”
Hồi xưa, thầy học “chữ thánh hiền” trước khi thầy học thuốc. Chữ thánh hiền đã cho thầy có cái nhìn rất khiêm tốn khi thầy chữa bịnh: “Chẳng qua là phước chủ may thầy…” Bây giờ, sống trong nghĩa trang, ngày ngày nhìn mấy lô mả to mả nhỏ nằm im hàng hàng, thầy càng tin ở số mạng. Cái số thầy phải bỏ xứ để vô Nam, cái số thầy phải ở chùa bốc thuốc, rồi bây giờ cái số thầy “bị mất nước; sống mần răng với bọn cộng sản đây?” Nghĩ đến đó, thầy tự an ủi: “Chừ, mình sống giữa những người chết, chắc bọn nó để cho yên…” Kiệt đi học tập mấy hôm rồi về chùa phụ sư ông quét dọn trong ngoài, bởi vì bên phòng mạch bịnh nhân cũng vắng. Làm như người ta lo sợ quá rồi… quên bịnh! Trái lại bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như bây giờ người ta chỉ còn biết… dựa vào Phật! Thời gian sau, Kiệt tìm được việc làm ở Khánh Hội, trong một ga-ra nằm cạnh bờ sông, chuyên sửa máy xe hơi máy tàu. Thầy Năm Chén và sư ông lâu lâu đóng cửa phòng mạch, đóng cửa chùa để đi học tập chánh trị. Bởi vì “tư tưởng Mác Lê là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại,” phải thông suốt để về chùa làm phật sự cho đúng…“ tác phong cách mạng” và về phòng mạch kê toa bốc thuốc cho hợp với…“ yêu cầu đấu tranh giai cấp”!
Một hôm, mấy cán bộ thành vào viếng nghĩa trang. Sau khi đi một vòng, họ khen… hai hàng phượng đẹp! Cuối cùng, họ nói:
– Theo quy hoạch của thành phố, nơi này sẽ là công viên cây xanh, để đồng bào quanh vùng có nơi thư giãn. Việc bốc mộ sẽ có thông cáo. Mấy người được ở lại đây để trông chừng việc bốc mộ cho đến thời hạn ấn định trong thông cáo là phải dọn đi ngay. Rõ chứ?
Sư ông làm thinh. Thầy Năm Chén cũng làm thinh. Nói cái gì bây giờ? Ðối với những người không biết luật pháp, đối với chế độ CS không có luật pháp, thì nói “ừ” hay nói “không” cũng đều là vô nghĩa! Bởi vì họ không chấp nhận sự đối thoại. Ngoài ra, họ kiêu căng đến mức độ có thể viết một câu tổ bố và lố lăng quá mức mà ai cũng thấy trên đường đi Bến Lức – câu này dân chúng truyền miệng cho nhau nghe từ mấy tháng nay và chính mắt thầy Năm Chén đã đọc khi đi bổ thuốc ở vùng đó – “Thằng trời đi chỗ khác chơi; Ðể cho Nông Hội tiến lên làm mùa.” Thì… còn lời gì để nói? Nhưng sự “làm thinh” của sư ông và thầy Năm Chén không phải chỉ đơn thuần ở chỗ “hết nước nói,” mà còn là cách để tỏ thái độ của hai ông: làm thinh là khinh miệt bọn chúng, những thằng không đáng để nói chuyện, những thằng mất gốc, tổ tiên không thờ đi thờ hai thằng tây mũi lõ Mác gì gì Lê gì gì đó không biết nữa. Sự làm thinh của hai ông – sự làm thinh của kẻ sĩ – có giá trị gấp mấy lần những lời thóa mạ chửi bới, vậy mà mấy cán bộ CS lại cho là “thành quả của giác ngộ cách mạng”! Mấy hôm sau, thầy Năm Chén kéo thằng con ra góc nghĩa trang, thấp giọng nói:
– Cha có chuyện ni muốn nói với con. Nhưng con phải giữ kín
– Dạ.
– Con nên tìm đường đi chui đi.
– Cha nói chi lạ rứa?
– Không có chi lạ hết. Cha không muốn con ở lại xứ ni. Mình không còn đất đứng nữa, con à.
Nói đến đây, giọng thầy nghẹn lại. Thầy không nhìn con. Thầy nhìn ra mấy lô mả. Thầy chớp mắt thật nhanh để nước mắt đừng đọng thành giọt. Rồi thầy thở dài… Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Rồi sẽ không còn được như vầy nữa, nay mai…
Chế độ không để cho ai được yên, kể cả người chết! Kiệt nhìn cha, bồi hồi. Con người đó xưa nay hiền hòa, an phận. Vậy mà bây giờ lấy một quyết định có tánh cách chống đối dầu là tiêu cực, chứng tỏ ông “chịu đựng hết nổi.”
– Nghèo như mình thì lấy vàng mô mà đi chui, cha?
– Cha nghe nói có nhiều người làm việc trên tàu. Họ đi được.
– Nhưng đó là họ đi một mình. Ði đánh cá, gặp dịp là đi luôn.
– Thì cha cũng muốn con tìm cách làm như rứa. Con cũng một mình chớ mấy mình.
– Không! Con còn có cha nữa
– Ðừng lo cho cha. Cha già rồi. Tương lai là con, mô phải là cha.
– Gia đình mình chết hết, còn lại có hai cha con. Con đâu thể nào bỏ cha được, cha.
– Chính bởi vì cha chỉ còn lại có mình con mà cha muốn con phải đi khỏi xứ ni. Cha không muốn thấy con làm tôi mọi cho một lũ ngu dốt. Cha muốn thấy con được sống trong một xứ tự do. Có nghèo cũng nghèo trong tự do. Mà rủi có… rủi có chết cũng chết trong tự do, con à.
Ðến đây thì Kiệt không dám nhìn cha, bởi vì gương mặt héo hon đó vừa nhăn nhúm lại như một miếng cau khô. Lòng quặn thắt, Kiệt nhìn đi nơi khác. Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Ðằng kia, hai hàng phượng trổ bông đỏ ối. Màu đỏ trong nghĩa trang, xem vừa lạc lõng vừa vô duyên, không hợp tình hợp cảnh chút nào. Vậy mà bao lâu nay Kiệt không hề để ý.
Làm như phải lâm vào một nghịch cảnh, người ta mới nhìn thấy rõ những nghịch cảnh chung quanh!Bây giờ thì đến phiên Kiệt thở dài…
…Từ ngày có thông cáo dán trên cổng nghĩa trang, đồng bào tới lui chùa nườm nượp. Làm như thiên hạ muốn gần Phật thường hơn, đều đặn hơn, lâu hơn… trong những ngày những tháng còn lại này. Bởi vì Phật sẽ không còn được ở đây nữa, mặc dầu – theo lời ông già bà cả trong xóm – Phật đã được an vị ở chùa này gần ba mươi năm, hồi thời chưa có nghĩa trang, hồi thời bà phủ S. chưa bán đất cho Hội Tương tế X. Họ nói với nhau: “Nhà Nước CS này ngang ngược không nể nang ai hết. Có ngày sẽ bị Trời Phật trừng phạt cho coi!” Bên phòng mạch, bây giờ, lúc nào cũng đông người. Có bịnh nhân đến xem mạch và có những người không phải đến xem mạch nhưng đã từng uống thuốc của thầy Năm Chén. Những người này, sau khi cúng bái bên chùa, bước qua đây ngồi nói chuyện cà kê. Làm như để hỗ trợ tinh thần thầy vậy. Có người hỏi:
– Rồi thầy dọn đi đâu?
– Biết đi mô chừ!
– Quân gì mà vô nhân đạo Muốn đuổi ai thì đuổi. Muốn lấy của ai thì lấy. Mà mở miệng ra là “cho nhân dân, vì nhân dân.”
– Tại cái số của tôi như rứa, mấy ông à. Nói mần chi?
Bây giờ, thầy Năm Chén, sau khi trao mấy thang thuốc cho bịnh nhân, không phải chỉ nói vỏn vẹn câu quen thuộc “đổ năm chén nước, sắc còn một chén uống,” mà còn dặn dò thêm phải ăn uống như thế nào, phải kiêng cữ những gì bởi vì “cái tạng ni dễ bị bịnh khi trái gió trở trời…” Thầy còn nói:“Khi mô thấy bắt đầu khó chịu thì lấy bao nhiêu lá gì với lá gì kèm theo bao nhiêu bông gì với bông gì… sắc uống cho nó chận.” Thầy làm như ngày mai thầy sắp đi xa. Và chắc đi lâu lắm, bịnh nhân cần bảo trọng lấy thân. Người nào cũng cảm động khi nhận mấy thang thuốc của thầy, mấy thang thuốc không phải chỉ có những vị này vị nọ, mà có cả tình người nằm trong đó. Chất liệu trân quí này, trong thời buổi này, thật hiếm hoi. Cho nên, khi cầm trên tay mấy thang thuốc, cử chỉ của họ bỗng trở nên trang trọng. Và người nào cũng nghĩ: “Tội nghiệp ! Người hiền hậu như vậy, bảy tám năm nay giúp đỡ đồng bào bịnh nhân ai cũng mang ơn… Vậy mà nhà cầm quyền CS cũng không để cho yên!”
…Ít lâu sau, Kiệt được một người bạn có tàu đánh cá rủ đi chui bởi hắn đang cần người sếp máy. Kiệt về chùa cho cha hay. Thầy Năm Chén mừng rớt nước mắt:
– Rứa là lời cầu nguyện của cha đã được Ơn Trên chứng giám. Khi mô đi?
– Mười hôm nữa.
– Ờ… Chừ thì mình vô thắp nhang lạy tạ Trời Phật, đi con.
Năm hôm sau, bỗng thầy Năm Chén than “khó thở, ” “tỳ vị bất thông.” Thầy không ăn được cơm, thầy ăn cháo. Cháo với chao, tương, rau luộc. Không ăn được những món cứng như dưa leo, dưa cải, củ cải muối… những món thường dùng trong bữa cơm chay lạt ở chùa. Không thấy thầy uống thuốc. Thầy nói: “Cứ ăn cháo vài hôm là khỏi.” Sư ông thương hại, an ủi: “Họ đuổi thì mình đi. Thầy lo làm chi cho sanh bịnh. Chừng hết hạn bốc mộ, tôi sẽ đưa thầy về quê tôi ở Nha Trang. Ở đó, cũng có một ngôi chùa nhỏ như vầy. Mình sẽ tiếp tục giúp đồng bào như đã làm lâu nay. Thầy yên tâm đi. A di đà Phật…” Ngày thứ mười, cha con thầy Năm Chén qua chùa lạy Phật. Xong, thầy đưa cho Kiệt một gói bằng vải đỏ đã phai màu nhỏ bằng đầu ngón tay cái, cột làm nhiều gút, nói:
– Cha cho con cái ni. Con giữ kỹ trong người để hộ thân.
Kiệt cho vào túi áo trên ngực, cẩn thận gài miệng túi bằng cây kim tây, nhìn cha cảm động, nghĩ: “Cha thật chu đáo. Còn nhớ cho mình bùa ngải để hộ thân nữa.” Chia tay mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý! Thầy chỉ thở dài.
Thời buổi bây giờ, chỉ có thở dài là không thấy ai để ý. Bởi vì, ai cũng thở dài hết!…
Thời gian sau, thầy Năm Chén theo sư ông về chùa ở ngoại ô NhaTrang. Thầy lại bốc thuốc giúp đồng bào nghèo.
Kiệt đi chui, lọt. Rồi định cư ở Canada…
Một hôm, sực nhớ gói bùa ngải của cha, Kiệt tò mò mở ra xem: đó là ba cái răng vàng, loại răng cấm. Thì ra thầy Năm Chén đã cạy ba cái răng vàng của mình để cho con làm của hộ thân! Không còn răng để nhai cơm, thầy chịu ăn cháo suốt phần đời còn lại. Nhớ cha, thương cha, Kiệt cầm ba cái răng vàng trong tay mà khóc hết nước mắt…
(Nguồn: truongsinh2@hotmail.com)
Bắt mẹ đi ăn mày!
Bắt mẹ đi ăn mày , một tháng sau, con trai và con dâu lóa mắt trước “tài sản ngầm” của bà cụ
Ở thành phố Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc có một người con bất hiếu tên là Thạch. Gia đình anh ta chẳng lấy gì làm khá giả, bản thân anh ta không có trình độ học vấn, lại dày ăn mỏng làm, lấy được cô vợ cũng ngang ngược, không biết điều.
Thạch có một người mẹ già mù lòa. Bà họ Lưu nên người trong thôn đều gọi bà là bà Lưu. Kể từ sau khi chồng mất, vì mù lòa nên bà chẳng thể làm gì, lại cần có người chăm sóc.
Người con dâu rất khó chịu về việc này. Một hôm, cô ta buông lời tàn nhẫn, nói bà chỉ biết ăn bám, tốn tiền của trong nhà. Bà Lưu giận lắm, quyết định bỏ nhà ra đi.
Tối đến, Thạch ra ngoài trở về, thấy mẹ thu dọn đồ thì vội giữ bà lại và nói vợ một hồi: “Tại sao lại để mẹ đi, mẹ là cây tiền của chúng ta đó.”
Cô con dâu hứ một tiếng, đúng lúc định mắng chồng, nghe đến hai từ cây tiền thì im bặt, lập tức hỏi lại chồng nói thế là có ý gì. Thạch cố làm ra vẻ bí mật, nói: “Đến mai cô sẽ biết”.
Thì ra lúc trên thành phố, ngồi trong quán rượu, anh ta nhìn thấy một người ăn xin kiếm được khối tiền nhờ có người bố thí.. Anh ta có tay có chân mà mỗi ngày còn kiếm ra nhiều tiền thế, mẹ mình, một bà già mù lòa, tuổi lại cao, người ta nhìn thấy sẽ thương tình mà nhất định sẽ bố thí nhiều tiền.
Phát hiện này khiến Thạch mừng như bắt được vàng. Anh ta tự cho rằng mình thật thông minh, nhà anh ta sắp giàu to.
Kế hoạch này, Thạch đem trình bày với người mẹ già mù lòa, đồng thời còn bỏ cả buổi tối ra dạy bà cách làm để xin được nhiều.
Bà Lưu vốn không muốn đi nhưng rồi lại bị những lời ngon ngọt của con trai làm cho mềm lòng. Cuối cùng, bà đồng ý, vì bà nghĩ mình tuổi đã cao, cũng không muốn hằng ngày phải va chạm với con dâu. Đây xem ra cũng là một cơ hội cho bà.
Ngày hôm sau, trời vừa sáng, Thạch đã dắt mẹ già mù lòa lên thành phố. Anh ta chọn một gốc cây lớn ngay cạnh một đầu cầu đông người qua lại, bảo mẹ ngồi ở đó rồi đưa cho bà một cái gậy, một cái bát vỡ và nói:
“Mẹ, công cụ cần thiết con đã đặt cả trong tay mẹ rồi, mẹ cứ làm ra vẻ đáng thương một chút, càng đáng thương càng tốt, người ta nhìn thấy mới cho mẹ tiền.
Nếu có ai hỏi mẹ vì sao phải đi ăn xin, mẹ cứ nói là mình mắc bệnh nặng, không có tiền chữa trị sẽ chết. Con cái trong nhà thấy mẹ bệnh nặng đều bỏ mặc, không biết giờ chúng sống chết ra sao. Tối con sẽ lại đến đón mẹ về nhà.”
Bà Lưu nghe con trai nói vậy liền đáp: “Con trai, con yên tâm, mẹ biết rồi.
Ảnh minh họa.
Thạch rút từ trong túi ra một cái bánh bao, đặt vào tay mẹ, nói rằng đó là đồ ăn cả ngày, mẹ phải ăn tiết kiệm. Bố trí xong xuôi, anh ta nhanh chóng vào quán trà đánh bài.
Đến tối, anh ta mới ra khỏi quán rượu trong trạng thái say túy lúy. Thấy mẹ vẫn đang ở chân cầu ăn xin nhưng bà không ngồi mà nằm, giống như đang nằm ngủ.
Thạch vội lại gần, lay mẹ, hỏi mẹ làm sao. Bà Lưu biết con đến đón, vội giải thích: “Mẹ già rồi, không kiếm được bao nhiêu lại còn nằm ngủ”.
Nói xong, bà vội nhét toàn bộ số tiền xin được trong ngày vào tay con trai. Thạch đếm, không nhiều lắm nhưng dù sao đó cũng là một sự khởi đầu thuận lợi với anh ta.
Những ngày sau đó, ngày nào Thạch cũng đưa mẹ lên thành phố ăn xin, tiền kiếm được ngày một nhiều, đủ để chi tiêu cho cả gia đình, thậm chí còn đủ cả cho anh ta vào quán trà, quán rượu ăn chơi.
Bà Lưu mất tích
Một buổi tối, chừng 1 tháng sau ngày bà Lưu đi ăn xin, Thạch đến chân cầu đón mẹ về nhà như thường lệ nhưng anh ta tìm khắp một lượt quanh đó không thấy mẹ đâu.
“Mẹ đi đâu được nhỉ, chẳng phải đã dặn là ở đây đợi mình sao?” – anh ta lẩm bẩm trong miệng rồi cấp tốc đi tìm. Thế nhưng tìm đã nhiều nơi mà vẫn không thấy bóng dáng mẹ đâu.
Cuối cùng, anh ta đốt đuốc lên định đi tìm tiếp thì phát hiện tại chỗ mẹ ngồi có dòng chữ: Muốn tìm bà cụ, hãy đến Chúc Gia Thôn ở ngoại thành.
Chúc Gia Thôn? Ai mà to gan vậy, dám đưa mẹ mình đến đó? Cho đến khi nhớ ra chủ nhân của Chúc Gia Thôn là Chúc viên ngoại giàu có nổi tiếng, Thạch mới giật mình.
Nhưng tại sao ông ta lại đưa mẹ mình đến đó? Lẽ nào ông ta sẽ cho mẹ tiền? Nhưng cho tiền thì đâu cần phải đưa người đi như vậy?
Nghĩ đến tiền, mắt anh ta sáng lên, bất chấp đường đến đó có xa đến mấy, anh ta vẫn quyết định sẽ đến đó làm cho rõ mọi chuyện.
Đến Chúc Gia Thôn, Chúc viên ngoại ra tận bên ngoài đón Thạch và nói rằng chính ông ta đã đón bà Lưu về nhà mình, hiện tại bà đang được người giúp việc trong nhà chăm sóc tử tế.
Thạch nghe vậy liền hỏi Chúc viên ngoại vì sao làm vậy, người này cười nói: “Trong nhà có người lớn tuổi giống như có báu vật trong nhà.. Mẹ cậu trên người có bảo bối đó, lẽ nào cậu không biết?”
Thạch lắc đầu, nói không biết. Chúc viên ngoại lại nói:
“Hôm nay lúc đi qua cầu, tôi thấy mẹ cậu rất giống mẹ tôi nên bất chợt, tôi nhớ đến người mẹ quá cố của tôi. Thêm nữa, mẹ cậu có bán ngọc Lam Điền, đó là loại ngọc quý, một mẩu nhỏ cũng đã hơn trăm lượng.
Tôi không mang đủ tiền nên đã đưa bà ấy về nhà. Tôi muốn nhận bà ấy làm mẹ nên mới bảo cậu đến đây thương lượng, chắc cậu không có ý kiến gì chứ?”
Thạch tỏ ra kinh ngạc, đề nghị Chúc viên ngoại đợi một chút, giọng không tin tưởng cho lắm:“Làm sao có thể thế được. Mẹ tôi làm sao có thể làm mẹ ông được Mẹ tôi không thể có ngọc Lam Điền. Nhà tôi nghèo khó suốt mấy đời nay, nếu có ngọc quý, chúng tôi đã sớm phát tài rồi, cần gì phải đi ăn mày nữa?”
Chúc viên ngoại giải thích: “Trước khi qua đời bố cậu làm nghề mài dũa ngọc Lam Điền, lẽ nào cậu không biết ông ấy có của riêng?”
Thạch biết bố mình trước đây từng làm thợ đá nhưng anh chưa từng nghe nói bố làm nghề mài dũa ngọc Lam Điền. Lẽ nào bố đã từng đến huyện Lam Điền thật? Thậm chí còn bí mật cất giữ một ít làm của riêng? Nếu như vậy thì đúng là số ngọc đó mẹ đang giữ rồi.
Bây giờ bà Lưu mới bỏ ngọc Lam Điền ra, Chúc viên ngoại lại muốn nhận mà làm mẹ, hai việc này đã khiến Thạch không thể không sinh nghi. Lẽ nào Chúc viên ngoại biết mẹ vẫn còn ngọc? Lẽ nào mẹ đã nói với ông ta như vậy?
Nghĩ đến đây, Thạch lo lắng ra mặt, biết đâu Chúc viên ngoại muốn cuỗm hết sốt ngọc mà mẹ anh ta đang giữ, phen này anh ta phải vạch trần âm mưu của Chúc viên ngoại.
“Vậy không được, mẹ tôi không phải mẹ ông, ông không thể nhận. Cho dù nhà tôi thực sự có ngọc Lam Điền đi chăng nữa thì ngọc đó cũng là của nhà tôi, không phải của ông. Nếu ông muốn, ông có thể bỏ tiền ra mua. Bây giờ tôi phải đưa mẹ tôi về.” – Thạch quả quyết.
Chúc viên ngoại nói thế nào cũng không làm Thạch thay đổi quyết định, quyết gọi mẹ ra bằng được. Lúc đó, bà cụ mới lấy ra một viên ngọc Lam Điền, quả thực rất sáng, rất đẹp. Thạch nhìn không chớp mắt, quả nhiên nhà mình có bảo bối mà sao mẹ chưa từng nói với mình một câu.
Cuối cùng, Chúc viên ngoại đã bỏ ra 100 lượng bạc để mua viên ngọc đó, sau đó đồng ý để Thạch đưa mẹ anh ta về.
Lúc bà Lưu chuẩn bị đi, Chúc viên ngoại nói với bà: “Mẹ, dù mẹ có đi đâu thì mẹ vẫn là mẹ của con. Đã nhận mẹ là mẹ, con sẽ luôn là con của mẹ.
Từ giờ có khó khăn gì, mẹ cứ đến tìm con. Nếu trong nhà mẹ vẫn còn ngọc Lam Điền, mẹ cứ bán lại cho con, con sẽ trả mẹ giá cao, có bao nhiêu con sẽ mua bấy nhiêu, con sẽ không để mẹ chịu thiệt.”
Bà Lưu gật đầu, rơm rớm nước mắt: “Chúc viên ngoại quả thực là một người tốt, tôi sẽ bán hết số ngọc tôi có cho cậu, cảm ơn cậu đã giúp tôi!”
Hồi kết
Đưa mẹ về nhà, Thạch nói với vợ chuyện mẹ có ngọc quý. Cả hai hí hửng lắm, nghĩ mình sắp giàu to. Kể từ đó, cả hai đối xử với mẹ vô cùng tử tế, không bắt mẹ làm bất cứ việc gì, ngày nào cũng cười nói hân hoan, giống như cung phụng đức phật vậy.
Tất nhiên, không ít lần Thạch dò hỏi mẹ về số ngọc quý nhưng bà Lưu nhất định không nói. Con dâu sợ mẹ chồng giận nên bảo chồng: “Đừng vội, chúng ta đều là người nhà, sớm muộn gì mẹ cũng sẽ lấy ra cho chúng ta thôi, không phải vội.”
Cho đến ngày qua đời, bà Lưu vẫn không lấy ngọc ra cho con trai và con dâu. Tuy nhiên bà đã có những ngày cuối đời được chăm sóc tử tế, được vui vẻ hạnh phúc.
Sau khi bà Lưu chết, vợ chồng Thạch đã lục tung cả nhà lên tìm nhưng chẳng thấy ngọc Lam Điền đâu. Đến lúc này, cả hai mới vỡ lẽ rằng họ đã mắc lừa Chúc viên ngoại. Họ quyết tìm đến nhà ông này nói cho ra nhẽ.
Thấy vợ chồng Thạch, Chúc viên ngoại cười lớn, nói: “Đúng thế, mẹ hai người làm gì có ngọc. Đó là vở kịch do tôi tạo ra đó. Tôi thương mẹ các người, mục đích của tôi là để các người phải hiếu thảo với mẹ của mình.”
Lúc này, Thạch tỏ ra hối hận lắm, nhưng anh ta vẫn còn một việc không hiểu: “Thế nhưng viên ngọc mẹ tôi bán cho ông thì sao?”
Chúc viên ngoại đáp: “Viên ngọc đó là của tôi đấy.”
Tôn Trọng Người Khác Chính Là Mỹ Đức Cao Thượng Nhất Của Đời Người
“Lòng rộng một thước, con đường sẽ rộng một trượng”. Mở rộng tấm lòng bao dung người khác, bạn sẽ thấy cuộc đời của mình đẹp hơn biết bao nhiêu.
Ngày nọ, có một ông lão ăn mày quần áo rách rưới, đầu tóc bù xù, trên người bốc ra mùi hôi khó chịu dừng chân đứng trước một cửa tiệm bánh ngọt náo nhiệt. Những vị khách mua hàng đứng bên cạnh đều bịt mũi, nhíu mày, tỏ vẻ vô cùng khó chịu với ông lão.
Nhân viên bán hàng quát to: “Đi ngay chỗ khác! Đi ngay đi!”.
Người ăn mày lập cập lấy ra mấy đồng tiền lẻ cáu bẩn nói: “Tôi đến mua bánh ngọt! Xin hỏi loại nào là nhỏ nhất?”.
Từ bên trong, ông chủ tiệm bánh ngọt rảo bước ra ngoài, niềm nở lấy ra một chiếc bánh ngọt nhỏ xinh, đẹp đẽ từ trong tủ kính đưa cho người ăn mày. Sau đó, ông cúi gập người thật sâu xuống, nói: “Cảm ơn quý khách đã chiếu cố mua hàng! Hoan nghênh quý khách lần sau lại tới!”.
Người ăn mày đón chiếc bánh từ ông chủ, mặt hiện rõ vẻ thất kinh, vội quay người rời khỏi tiệm bánh. Trong đời mình, dường như ông chưa từng được đối xử tôn trọng đến vậy!
Cháu trai ông chủ tiệm bánh chứng kiến toàn bộ sự việc, vô cùng thắc mắc, bèn tiến lại hỏi: “Ông nội! Sao ông lại niềm nở với người ăn mày bẩn thỉu đó như vậy ạ?”.
Ông chủ tiệm bánh mỉm cười hiền từ, nhìn cháu trai của mình nói: “Dù đó có là một người ăn mày nhưng ông ấy cũng vẫn là khách hàng của chúng ta. Để mua bánh ngọt của cửa hàng chúng ta, ông ấy đã không tiếc tiêu những đồng tiền phải trải qua bao nhiêu vất vả mới kiếm được. Nếu ông không tự mình phục vụ ông ấy thì sao có thể xứng với sự ưu ái người ăn mày ấy dành cho chúng ta đây?”.
Cháu trai ông chủ lại hỏi vặn vẹo: “Đã vậy thì vì sao ông vẫn còn lấy tiền của ông ăn mày ấy ạ?”.
Ông chủ cười đáp: “Hôm nay, ông ấy đến đây với tư cách là khách chứ không phải là đến để ăn xin cháu ạ! Đương nhiên, chúng ta phải tôn trọng ông ấy chứ! Nếu như ông không lấy tiền thì chẳng phải đã làm nhục ông ấy rồi sao? Nhất định cháu phải nhớ kỹ điều này, hãy tôn trọng từng khách hàng bất kể họ là ai, ngay cả đó là một người ăn mày. Bởi tất thảy những thứ chúng ta có được hôm nay đều là do khách hàng mang lại”. Cậu bé nghe xong gật gật đầu, ra chiều cũng hiểu chuyện.
Chủ tiệm bánh nọ chính là ông nội của tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi. Tỷ phú Tsutsumi từng nói: “Năm đó, mỗi cử chỉ của ông nội đối với người ăn mày đó đều khắc sâu trong tâm trí tôi”. Về sau, Tsutsumi đã kể lại rất nhiều lần câu chuyện này cho nhân viên của mình nghe để họ học tập cách tôn trọng khách hàng.
Tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi. Ảnh dẫn theo veja.abril.com.br
Tôn trọng không phải là phép xã giao thông thường để chiều lòng ai đó. Nó đến từ sự thấu hiểu, trân quý và cảm thông, kính trọng lẫn nhau. Đó cũng là thứ tình cảm cao thượng, cho đi và không cầu mong nhận lại. Bạn tôn trọng ai đó không phải bởi muốn được lợi lộc gì từ họ. Đơn giản là vì bạn trân quý họ.
Sự tôn trọng giúp người ta đối đãi với nhau bằng lễ nghĩa chứ không phải ganh đua, tranh đấu. Tôn trọng thường đi kèm với thiện lương, khoan dung, nhẫn nại. Người biết tôn trọng người khác cũng sẽ có được vận mệnh tốt đẹp, đi khắp thiên hạ cũng vẫn được quý yêu. Mạnh Tử từng giảng: “Thương người thì người thương lại mình, kính người thì người kính lại mình“. Vậy nên tôn trọng người khác cũng chính là tự tôn trọng mình.
“Lòng rộng một thước, con đường sẽ rộng một trượng”. Mở rộng tấm lòng bao dung người khác, bạn sẽ thấy cuộc đời của mình đẹp hơn biết bao nhiêu. Người làm sếp biết tôn trọng cấp dưới, nhân viên thì công ty thịnh vượng, nhân tâm đoàn kết. Thương nhân biết tôn trọng khách hàng thì làm ăn xuôi chèo mát mái. Biết tôn trọng ngay cả chính kẻ thù của mình lại chính là một loại dũng khí, một loại trí huệ.
Khổng Tử nói: “Điều mình không muốn, chớ làm cho người” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Có thể coi đó là điểm mấu chốt nhất của mỹ đức tôn trọng mà chúng ta đang bàn bạc ở đây. Mỗi người có một cuộc đời được an bài khác nhau, một con đường riêng phải tự mình đi. Đừng bao giờ cưỡng chế những điều ý chí bạn mong muốn lên thân người khác. Khoan dung, hòa ái, kính trọng lẫn nhau mới chính là nghệ thuật sống cao thượng nhất.
Cuối cùng, khi không thể khoan dung, nhẫn nại và tôn trọng người khác, bạn hãy thử làm theo 3 cách dưới đây:
1. Chấp nhận sự khác biệt, bao dung, rộng lượng với người khác.
2. Kiểm soát hành vi của bản thân để cả hai đều cùng là người chiến thắng.
3. Có thể tiến có thể lùi, chỉ ra sai sót của đối phương bằng sự từ bi, rộng lượng, đừng quá khắt khe, kiêu ngạo, coi thường người khác.
HÌNH: – Tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi

BIẾT ƠN
Huỳnh Huệ dịch
Một thanh niên học tập xuất sắc đến xin ứng tuyển vào một chức vụ quản lý ở một công ty lớn.
Anh ta qua được vòng phỏng vấn thứ nhất; vào vòng 2 giám đốc công ty sẽ phỏng vấn anh ta và là người quyết định. Qua lý lịch của người thanh niên, vị giám đốc biết được thành tích học tập ưu tú của anh ta, từ bậc trung học đến sau đại học, chưa từng có một năm nào kết quả không đạt xuất sắc.
Người giám đốc hỏi:
– Khi đi học ở trường, cậu có được học bổng nào không?
Cậu thanh niên trả lời không
Ông ta hỏi tiếp: “Vậy là cha của cậu trả học phí cho cậu phải không?”
Cậu ta đáp: “Cha tôi mất năm tôi mới lên một; chính mẹ tôi là người trang trải tiền học cho tôi.”
– Mẹ cậu làm việc ở đâu?
– Mẹ tôi làm nghề giặt quần áo.
Ông ta bảo cậu cho ông xem tay của cậu. Chàng thanh niên đưa ra 2 bàn tay trắng trẻo mịn màng.
Người giám đốc lại hỏi : “ Cậu có bao giờ giúp mẹ giặt quần áo không?
Cậu ta trả lời : “ Không thưa ông, Mẹ tôi chỉ muốn tôi đọc nhiều sách và lo học. Với lại mẹ tôi có thể giặt đồ nhanh hơn tôi.
– Tôi có 1 yêu cầu. Hôm nay cậu đi về gặp mẹ và rửa tay cho bà , sáng mai quay lại đây gặp tôi.
Người thanh niên thấy có nhiều khả năng được tuyển dụng nên về đến nhà cậu vui vẻ bảo mẹ để cậu rửa tay cho bà. Bà mẹ tuy thấy đề nghị của con rất lạ kỳ nhưng bà cảm động và hạnh phúc để cho con trai rửa tay cho mình.
Trong khi cậu chậm rãi rửa 2 bàn tay của mẹ, nước mắt cậu tuôn ra. Đó là lần đầu tiên trong đời cậu nhận thấy đôi bàn tay của mẹ đầy những vết nhăn, vết sẹo thâm đen. Một số chỗ bầm tím mới khiến bà đau và rùng mình khi cậu rửa tay của bà trong nước.
Đó cũng chính là lần đầu trong đời cậu nhận ra chính dôi tay của mẹ đã giặt bao nhiêu là đống quần áo để có tiền đóng học phí cho mình. Những vết sẹo, chỗ bầm trên hai bàn tay mẹ, những nỗi nhọc nhằn, vất vả là cái giá mẹ phải trả cho cậu được học hành xuất sắc, tốt nghiệp ra trường và cả tương lai của cậu.
Sau khi rửa tay cho mẹ, cậu lặng lẽ giặt hết đống quần áo còn lại. Đêm đó hai mẹ con nói chuyện rất lâu. Sáng hôm sau, cậu thanh niên trở lại văn phòng của vị giám đốc.
Người giám đốc thấy đôi mắt rướm lệ của cậu đã hỏi :
– Cậu nói xem ngày hôm qua ở nhà cậu đã làm gì và học được điều gì?
Cậu trả lời :
– Tôi đã rửa tay cho mẹ và đã giặt nốt số quần áo còn lại
– Hãy cho tôi biết cảm tưởng của cậu.
– Một là, bây giờ tôi đã hiểu thế nào là biết ơn. Nếu không có mẹ, tôi dã không được học hành như hôm nay. Hai là, nhờ cùng làm việc giúp mẹ, đến bây giờ tôi mới biết làm được một việc gì đều gian khó, vất vả. Ba là tôi đã nhận biết giá trịvà tầm quan trọng của quan hệ trong gia đình, với người thân.
Người giám đốc nói: Đó là những điều mà tôi muốn người quản lý của tôi phải có. Tôi muốn tuyển dụng một người biết ơn người khác giúp đỡ, một người thấu hiểu những chịu đựng hy sinh của người khác để hoàn thành công việc, và một người sẽkhông xem tiền là mục tiêu duy nhất trong đời. Cậu đã trúng tuyển vào chức vụ này.
Sau này, chàng thanh niên làm việc rất miệt mài và được cấp dưới kính trọng. Nhân viên của cậu cũng làm việc cần mẫn và là một nhóm đoàn kết tốt. Công việc kinh doanh của công ty tiến triển rất tốt.
Một đứa trẻ quen được che chở và nhận được mọi thứ nó muốn, sẽ phát triển tính cách “muốn là được”, sẽ thành đứa trẻ ích kỷ xem mình là số 1, và không đếm xỉa gì đến nỗ lực của cha mẹ.
Khi lớn lên đi làm việc, người này sẽ cho rằng ai cũng phải nghe theo lời mình. Khi thành quản lý, anh ta sẽ chẳng bao giờbiết được những cố gắng, vất vả của nhân viên và sẽ luôn đổ lỗi cho người khác. Với loại người này, họ có thể học giỏi, có thể một thời thành đạt, nhưng cuối cùng vẫn không thấy hài lòng, thỏa mãn. Họ sẽ càu nhàu, trong lòng luôn bực bội, tức tối và lao vào chiến đấu tranh giành để có nhiều hơn. Nếu chúng ta là những bố mẹ luôn bao bọc con mình, liệu chúng ta có đang thực sự thể hiện yêu thương con đúng cách, hay là ta đang làm hại con cái?
Bạn có thể cho con cái sống trong một ngôi nhà to, ăn ngon, học đàn piano, xem TV màn hình rộng. Nhưng khi bạn cắt cỏ, hãy để cho chúng cùng làm và trải nghiệm.. Sau bữa ăn, cứ để chúng rửa bát với nhau. Làm như vậy không phải vì bạn không có tiền thuê người giúp việc, mà là vì bạn yêu thương con cái một cách đúng đắn. Bạn muốn chúng hiểu rằng dù cha mẹ có giàu đến đâu, một ngày kia cha mẹ cũng yếu già như mẹ của cậu thanh niên trong câu chuyện kể trên.
Điều quan trọng nhất là con cái của bạn học biết ơn , biết trân trọng những nỗ lực và có thể trải nghiệm những khó khăn và học được kỹ năng hợp tác với người khác để hoàn thành công việc.Con cái cũng phải biết trân quý, biết ơn những gì cha mẹ đã làm và yêu cha mẹ.
Có lẽ bạn sẽ chuyển tiếp thư này đến nhiều người. Biết đâu câu chuyện này có thể thay đổi số phận của ai đó.
From anh chị Thụ & Mai
Thơ thẩn
Thơ với thẩn! Mộng với mơ! Mời đọc, đời không là thơ, là mơ! Bực-bội!!!
TÌNH KHÔNG ĐẸP NHƯ THƠ!!!
Nguyễn-Thị-Thanh-Dương
Chị đến Mỹ muộn màng và yêu cũng muộn màng. Các anh chị của chị đến Mỹ từ lâu, họ làm bảo lãnh Cha Mẹ, rồi đến chị, diện anh chị em không được ưu tiên cao! Nên lá đơn bảo lãnh nộp sở di trú khi chị 25 tuổi, đến 37 tuổi, chị mới được đặt chân đến Mỹ!!!
Mười hai năm chờ đợi ấy, chị đã phải hi sinh rất nhiều, không dám yêu ai và chẳng dám đáp lại tình ai! Bố mẹ chị đã răn đe? Bất cứ giá nào cũng phải đợi đi Mỹ để đoàn tụ với gia đình, con nhé! không được yêu thương thằng nào hết?!?
Chị vừa vâng lời Cha Mẹ, vừa mộng mơ, tưởng tượng? Thôi thì ráng hy sinh những tình cảm bên này, qua bên ấy, tha hồ lựa chọn một tấm chồng! Cỡ bác sĩ, kỹ sử trở lên, thà muộn mà ngon lành, còn hơn sớm, phải ở lại Việt-Nam, tình yêu nào cũng sẽ lụi tàn, mà chuyện áo cơm thì vất vả cả đờ!. Và chị hớn hở chờ đợi!!!
Qua Mỹ, đến nay đã 3 năm, chị đã sốt cả ruột mà chưa tìm đâu ra một ông bác sĩ, hay kỹ sư! Vậy mà ở Việt-Nam, người ta cứ đồn rằng qua Mỹ lấy chồng dễ ợt, bạn bè, hàng xóm khoe con em họ lấy chồng có đủ loại bằng cấp nọ kia! Dù những cô gái may phước đó chẳng đẹp hơn chị là bao! Thì chị cũng có quyền hy vọng như thế lắm chứ!!!
Bây giờ chị mới hiểu rằng, người Việt-Nam ở Mỹ, học hành, thành đạt thật đấy, nhưng con gái Việt-Nam ở đây không còn khan hiếm nữa, những thế hệ sau này đã lớn lên, đủ? cung cấp? nhu cầu tại chỗ, chưa kể? thị trường? trong nước Việt-Nam thì vô tận, các cô gái trẻ đẹp luôn khao khát! Chờ mong được Việt Kiều về cưới và mang họ qua Mỹ!!!
Thế nên chị lạc lỏng giữa dòng đời, giữa xứ Mỹ và giữa cái tuổi không còn trẻ và chưa đủ già của chị…
Nước Mỹ, sau vụ 9-11 kinh tế khó khăn, công ăn việc làm bị hạn chế, chị không có tay nghề, kinh nghiệm, vốn liếng tiếng Anh dăm ba chữ! Nên chị xin việc hãng nào là cầm chắc bị hãng đó từ chối!!! Cuối cùng, chị cũng được một chỗ làm để kiếm ra tiền, khỏi sống nhờ vào các anh chị, là làm may cho một shop của người Việt-Nam, họ chỉ cần chị biết may, thế là đủ! !!
Cả ngày chị cặm cụi vào cái máy may, vào những miếng vải cắt sẵn, và dăm ba câu chuyện vặt với người bạn may bên cạnh, dần dần cũng thành tẻ nhạt! Người ta có chồng có con, nên cứ nói đến đề tài này là chị né!? Vì sợ động vào nỗi đau âm thầm của chị!!! Chị chỉ còn một niềm vui duy nhất đó là cuối tuần đi chợ, nhìn đủ các gương mặt lạ, những hàng hoá, thực phẩm để nghĩ đến những món ăn ngon sẽ nấụ, và nhất là xin được mấy tờ báo về nhà nằm khểnh đọc chơi!!!
Ở thành phố này có bao nhiêu tờ báo phát hành, chị đều xăng xái xin đủ cho bằng được, thiếu một tờ là chị áy náy! Báo free mà, không mất tiền thì cứ hưởng tối đa, không đọc được mục này thì cũng đọc mục nọ! Mà nếu không đọc gì hết cũng chẳng sao, tờ báo sẽ đem ra lót bàn, đựng rác! Khi gọt trái cây, dùng để đựng vỏ, đựng hột, và túm lại dễ dàng trước khi nhét vào thùng rác! Tiện lợi mọi bề!!!
Thường thì chị hay đọc mục “Tìm bạn bốn phương”, thấy người ta đăng báo tìm bạn, chị cũng ham quá! Nhưng vẫn thấy ngần ngại, sợ Cha Mẹ, anh chị biết rõ tâm địả chị đang muốn lấy chồng! Nên chị chưa bao giờ có ý định đăng lên những lời khao khát của chính mình!!!
Một hôm, chị ngồi buồn chẳng biết làm gì bèn gọt một trái xoài ăn chơi. Trải tờ báo ra bàn, chị vừa gọt vỏ xoài vừa lơ đãng đọc một bài thơ nằm chình ình trên trang báo trước mặt chị! Bài thơ than thân, trách phận và oán đời, nghe mà não nề của tác giả Phong-Trần!!!
Bài thơ đã làm chị xúc động, cái bút hiệu Phong-Trần càng làm chị xúc động hơn, chị tưởng tượng nhà thơ Phong-Trần dày dạn gió sương, cũng đang là một kẻ cô đơn, mòn mỏi như chị! Chị muốn cắt bài thơ ra để dành, nhưng những vỏ xoài đã dính lên bài thơ làm ướt nhẹp! Nghĩ mà tội nghiệp cho nhà thơ, có biết đâu tác phẩm tim óc của mình bị ngược đãi ơ hờ như thế! Nếu chị không vừa gọt trái xoài vừa liếc mắt đọc bài thơ cho đỡ sốt ruột, thì có lẽ chẳng bao giờ chị biết đến nhà thơ Phong-Trần cả!!!
Từ hôm ấy trở đi mỗi tuần chị đều chăm chú giở từng trang, tờ báo mà chị đã gặp! Nhà thơ Phong-Trần trong lúc gọt xoài, để tìm thơ anh!!! Chị đọc từng chữ, từng dòng và ghiền thơ anh hồi nào không hay! Chị liền bạo gan, gọi phone tới toà soạn báo để hỏi thăm và xin số điện thoại của nhà thơ Phong-Trần với tấm lòng ái mộ!!! Chị không ngờ, cú phone đầu tiên chị gọi nhà thơ Phong-Trần được hân hoan đón nhận đến thế, nghe chị nói rất thích thơ anh, nhà thơ Phong-Trần đã kiên nhẫn chép tay cả chục bài thơ và gởi bằng bưu điện cho chị!!!
Từ đấy, ngành bưu điện đang hồi ế ẩm, bỗng nhiên vớ được hai khách hàng chăm chỉ viết thư cho nhau, nhờ bưu điện chuyển giùm! Và cũng từ đấy, mỗi lần thơ anh đăng lên báo, đều ghi tặng tên chị phía dưới, những bài thơ anh dịu dàng hơn, tình tứ hơn, làm chị cảm động!!!
Chị mang đến shop may một trái tim vui đang yêu, chị dò dẫm để khoe khéo với bà thợ may bên cạnh mà chị từng trò chuyện mỗi ngày:
– Nhà chị có hay đọc báo chí Việt-Nam không?
– Có chứ, cả nhà cùng đọc, ở xứ Mỹ buồn thấy bà! Cuối tuần có báo chùả đọc cũng vui!!!
– Thế chị có đọc tờ báo không?
Bà kia cướp lời, nhanh nhẩu:
– Ðã nói là báo nào cũng đọc hết trơn, báo cuốn, báo tờ có đủ cả! Một mặt ông xã đi lấy, một mặt tôi đi chợ xin thêm, nên không sót tờ nào! Có khi còn lấy dư, ê hề chật cả nhà!!!
Chị vừa trách vừa thấp thỏm vui mừng:
– Lần sau lấy báo vừa đủ coi thôi, lấy dư người khác không có đọc, tội người ta! Thế chị có đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần không?
Bà bạn may khựng lại:
– Ủa!…thằng đó là thằng nào?
– Sao chị bảo báo nào cũng đọc hết? Phong-Trần là một nhà thơ!!!
Bà kia lại nhanh nhẩu:
– Ôi, ai hơi đâu để ý tới mục thơ thẩn, tôi chỉ khoái coi mục tử vi hàng tuần thôi hà! Thơ của thằng Phong-Trần hay của bất cứ ai cũng không nhằm nhò gì với tôi hết!!!
Chị bực mình, nghĩ thầm: Con mẹ này trước ở Việt-Nam chuyên mua bán ve chai lông vịt, trình độ đâu mà đọc văn thở?!
Chị lại gói niềm riêng, đợi khi nào gặp được người cao cấp hơn sẽ hỏi! Một hôm, có cặp vợ chồng, bạn của người anh, đến nhà chị chơi, cả hai đều là kỹ sư điện, họ rất thân với gia đình chị, chị liền lân la đến gần người vợ để chuyện trò:
– Chị ơi, chị có thích đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần đăng trên báo Việt-Nam ở đây không?
Bà kỹ sư điện trả lời nhanh như điện:
– Chị không có thì giờ đọc mấy bài thơ đăng trên báo chợ đâu em ạ, thơ chẳng ra thơ, vần một nơi, ý một nẻo! Có đọc chỉ thêm bực mình!!!
Chị cố gỡ gạc, giải thích:
– Cũng tuỳ chứ chị! Em thấy thơ của nhà thơ Phong-Trần có hồn lắm?
Bà kỹ sư vẫn chua ngoa:
– Ở Mỹ người ta ai cũng lo đi cày để kiếm tiền! Đa số những đứa dở hơi mới rảnh để làm thơ đăng báo hay tự đăng trên net và cũng được gọi là thi sĩ, là nhà thơ!!!
Rồi bà hùng hồn chỉ trích:
– Báo chí ở Mỹ ai làm chả được! Trước kia ở Việt-nam, là một anh thợ mổ thịt heo hay đạp xe 3 bánh, sang đây cũng có thể làm chủ báo ngon lành, bài vở lên internet lấy xuống, hay nhờ người dịch vớ vẩn từ báo Mỹ! Lại thêm có những đứa dở hơi như nhà thơ Phong-Trần nào đó, cặm cụi, bỏ thì giờ, sáng tác thơ văn, gởi về đóng góp cho tờ báo!!!
Chắc bà kỹ sư ngày xưa thất tình một anh nhà báo! Nên mới cay cú thậm tệ giới này? Làm một tờ báo ít nhiều cũng phải có kiến thức, hay năng khiếu về báo chí văn thơ, và nhất là lòng yêu nghề thì tờ báo mới sống còn! Chị chẳng hơi đâu tranh luận vấn đề này làm gì!!!
Chị buồn quá, thế là từ thành phần lao động đến trí thức, không ai biết đến nhà thơ Phong-Trần của chị cả! Nói gì đến tên chị đứng khiêm nhường bé nhỏ dưới mỗi bài thơ của anh? Thì thôi, mình chị đọc thơ anh, mình chị hãnh diện vậy!!!
Mối tình thơ của hai người kéo dài được hơn hai chục số báo và mấy chục lá thư qua đường bưu điện, thì họ bắt đầu hẹn để nhìn mặt nhau cho thoả lòng thương trộm nhớ thầm!!!
Lần đầu tiên gặp chị đã e ấp nhìn anh :
– Anh ơi, tại sao anh lấy bút hiệu Phong-Trần, nghe lãng mạn và bụi đời thế?!
Anh trả lời thản nhiên:
– Có gì đâu, tên anh là Trần-Văn-Phong! Ðọc theo kiểu Mỹ là Phong-Trần!!!
Thì ra thế! tên anh Trần-Văn-Phong viết ngược theo kiểu Mỹ thành Phong-Trần! Vô tình trở nên lãng mạn, rất thích hợp cho một người làm thơ như anh! Chứ anh có phải cất công suy nghĩ cho cái bút hiệu của mình đâu!?
Chị không đẹp lắm, độc thân và trinh nguyên, nhưng hơi cứng tuổi! Còn anh, hơn chị đúng 10 tuổi, đã một đời vợ, li dị, hai con theo Mẹ! Cho nên mấy năm nay anh trở thành người đàn ông độc thân, đi về một bóng, anh mong có một người đàn bà cho căn nhà ấm lên, cho lòng anh đỡ trống trải!!!
Thế là họ không có gì để chê nhau cả, mối tình thơ đã đi đến đoạn kết mong muốn: Họ cưới nhau!!!
Chị lấy anh vì sau 3 năm sống ở Mỹ, chị đã thực tế biết rằng khó có thể kiếm một tấm chồng bằng cấp Bác sĩ, kỹ sư, khi trình độ học vấn thấp, tuổi đã xế chiều và nhan sắc chẳng có gì đáng nhớ! Như món hàng ế ẩm, muốn bán được, cần phải hạ giá đến đại hạ giá!!! Chị đã ON SALE cuộc đời chị, lấy một người chồng chẳng những đã không bằng cấp cao, mà còn có một quá khứ lòng thòng vợ con! Dù anh hết tình hết nghĩa với người vợ, nhưng hai đứa con, chắc vẫn đậu lại trong lòng anh nỗi thương nhớ xót xa!? Trái tim anh có yêu chị cách mấy, đôi khi cũng tạm ngừng nghỉ để quay về với hai con! Chị cũng đành thôi, ở đời có gì tuyệt đối đâu?!
Khi đọc một bài thơ, không nhìn thấy tác giả, bài thơ hay sẽ làm rung cảm lòng người, nhưng khi nhìn thấy tác giả thì những rung cảm ấy sẽ giảm đi một ít, và nếu sống cùng một nhà với tác giả, thì bài thơ bỗng trần trụi như đời thường của người đã sáng tác ra nó!!!
Những ngày, những tháng trôi qua, chị không còn thấy thơ anh hay nữa! Dù mỗi khi đăng báo, anh vẫn đề tặng tên chị, và chị đã ngạc nhiên không hiểu sao chị lại thay đổi nhanh chóng thế?!
Nhà thơ Phong-Trần mà chị ngưỡng mộ và yêu mến ngày nào, bây giờ là một thằng đàn ông suốt ngày cởi trần trùng trục vào mùa Hè, anh mặc duy nhất cái quần đùi, đôi vai anh gầy, nhô lên, tưởng gío cũng có thể lung lay! Vậy mà trước kia anh đã làm bài thơ với câu: Ðôi vai anh sẽ là nơi em tựả! Thơ chỉ là bịa đặt và hoang tưởng!!!
Anh thường ngồi ở ghế, hai chân thô lỗ gác lên bàn, vừa nhâm nhi ly trà nóng vừa sáng tác thơ! Trong khi ngoài bếp, chị đang nấu nướng, dao thớt khua lên, chảo mỡ kêu ì xèo! Và trong phòng thì thằng cu Tí bé bỏng của hai người đang nằm o-oe chơi một mình! Nhưng khi nó khóc ré lên, chính anh là người phải vội vàng hạ chân xuống bàn, cắt đứt dòng tư tưởng đang tuôn ra để chạy lại tủ lạnh.lấy bình sữa hâm cho bớt lạnh, và nhét vô miệng thằng con, hoặc tệ hại hơn, anh phải thay diaper cho nó, mất nhiều thời gian hơn, xong việc thì ý thơ cũng bay xa! Tác phẩm bằng xương bằng thịt đã hại tác phẩm tinh thần của anh!!!
Có lần, anh ngồi lì để viết cho xong một ý thơ, không chạy ra đáp ứng ngay tiếng khóc của thằng Cu Tí, thì vợ anh đã lớn tiếng:
– Không ra mà lo cho nó đi! Thơ với thẩn, để thằng nhỏ chết đói bây giờ!
Anh tức giận nhìn nàng thơ của anh, người đã từng dịu dàng, âu yếm đi vào những bài thơ của anh! Bây giờ hiện nguyên hình là một con mẹ khô cằn sỏi đá, đầu óc lúc nào cũng toan tính đến chuyện thực tế, đói no, bạc tiền!!! Trước chị ngưỡng mộ anh, coi thơ anh là hương hoa trong cuộc sống! Bây giờ những hương hoa ấy đã bay đi, đã trở thành những món phụ tùng không cần thiết!!!
Một buổi sáng thức dậy, trời chuyển gió lạnh, lòng anh bỗng vu vơ cảm xúc yêu thương khi nhìn ra ngoài trời những chùm lá cây đẩy đưa trong gió! Anh thèm được rủ chị cùng anh đi sóng đôi trong cái không gian lạnh lẽo ấy để tìm hơi ấm của lòng nhau! Anh phấn khởi hỏi chị:
– Em ơi, ngoài kia đang gió lạnh. Em có biết anh đang mơ ước gì không?
Chị chu mỏ đáp sỗ sàng:
– Mơ ước có một tô phở nóng hổi với đầy đủ tương ớt, ngò gai, húng quế ngay trước mặt để ăn cho ấm người chứ gì!? Hôm nay tôi không có rảnh mà hầm xương nấu phở cho anh đâu!!!
Trời ơi! Khi không mà anh thấy lạnh cả lòng, lạnh hơn cả những chùm lá trên cây đang run lên vì gió lạnh ngoài kia!
Nhưng cũng chưa lạnh, chưa đau bằng những bài thơ anh đang viết dở dang, những ý thơ chợt đến anh đã ghi vội trên tờ giấy để trên bàn đã bị chị dọn dẹp vứt vô thùng rác thẳng tay, không một thắc mắc! Anh tiếc đứt ruột, trách chị, thì chị nghênh mặt lên, đe doạ:
– Quý hoá gì? Thơ với thẩn viết lung tung rác cả nhà! Lần sau, anh còn để bừa bộn tôi giục thùng rác nữa đó!!!
Anh đành ngậm ngùi, ra moi thùng rác tìm lại mảnh giấy thơ lẫn lộn với những tã dơ của Cu Tí và những thứ rác rưới khác! Chị đâu biết rằng một cảm xúc nào đó đã qua rồi đâu dễ gì tìm lại được, nếu không ghi vội trên những mảnh giấy kia!!!
Thỉnh thoảng anh gọi phone thăm hai đứa con của đời vợ trước, một đứa đã lớn, một đứa còn đang học high school! Thương con, anh muốn gởi cho nó một hai trăm làm quà! Nàng thơ của anh đã trề môi mai mỉa:
– Lương công nhân có là bao, mà hứa hẹn cho nó tiền?! Hãy làm bài thơ tặng nó cho có tình cảm? Thế mới là vô giá!!!
Anh đau xót và tủi quá, chẳng lẽ lại cãi nhau, lại ly dị? Cuộc đời đâu có đủ dài cho con người, để họ thử thách lấy nhau, bỏ nhau, như trò chơi trẻ con? Thích đó, rồi lại chán chê, muốn bỏ?!?
Anh vẫn đi làm công nhân và vợ anh đi làm ở shop may, thằng Cu Tí đem gởi bà ngoại chiều tối mới mang về! Vợ anh đang chạy đua với thời gian, chị sang Mỹ muộn, lấy chồng muộn và có con muộn! Nên muốn làm gấp rút, kiếm nhiều tiền để mua nhà như người ta, ở nhà thuê, trả tiền tháng nào là mất luôn tháng đó!!!
Ước mơ bình thường thế, mà trời cũng không để yên! Anh bị lay off, anh không có tội gì cả, hãng không có việc nên phải giảm bớt nhân viên! Vậy mà chị đổ tội cho anh:
– Sao bao nhiêu người hãng không lay off mà lại là anh?! Chắc tại anh mải nghĩ thơ nghĩ thẩn làm không được việc, nên họ đuổi cho bõ ghét chứ gì?!
Anh làm ngơ, chấp chi con đàn bà nông cạn! Anh lo đi làm giấy tờ xin hưởng tiền thất nghiệp, rồi thủng thỉnh xin việc làm sau! Nhân lúc rảnh rỗi bất đắc dĩ này anh nghỉ ngơi và làm thơ! Cuộc đời là thế, ngay cả khi hoạn nạn, cay đắng cũng có thể thành thơ!!!
Nhưng con vợ không để anh yên, chị đi ra, đi vào, lườm nguýt! Thấy anh vẫn cầm bút, vùi đầu vào trang giấy, chị chịu không nổi, ghé mắt vào sinh sự:
– Anh đang làm gì đó?!
Anh cười, dù thật lòng chẳng muốn cười:
– Làm thơ!
Chị kêu lên, như chưa từng thấy anh làm thơ bao giờ:
– Trời ơi, không lo viết đơn xin việc, mà còn ngồi làm thơ? Thơ có ăn được không? Có đổi ra tiền để đi chợ hay trả bill được không?!
Anh kiên nhẫn:
– Tất nhiên là không! Nhưng nó cho anh một niềm vuỉ!!! Nàng thơ ngày nào của anh lồng lộn lên:
– Anh sống không có lập trường như thế à? Phải đối diện với thực tế, phải đi tìm việc làm chứ!?
Rồi chị nghẹn ngào như một người vợ đau khổ khi bị chồng phụ rẫy:
– Bây giờ tôi mới hiểu lời của chị kỹ sư, bạn của anh tôi, chị ấy nói ?Mấy đứa làm thơ toàn là mấy đứa dở hơi, sống trên mây!?
– Em cứ làm như nếu anh không đi làm, thì vợ con chết đói ngay ấy! Ở Mỹ, chuyện lay off thất nghiệp đến với tất cả mọi người, bất cứ lúc nào! Việc gì em phải đau khổ thế?! Rồi anh cũng sẽ xin được việc làm khác thôi, nhưng trong lúc rảnh rỗi, anh vẫn có quyền mơ mộng, làm thơ! Thơ đến với anh những lúc hạnh phúc và cả khi thất vọng, khổ đau!!!
Nhìn vẻ mặt nghiêm trang của anh, nhìn đôi mắt anh ngời sáng long lanh đang nhìn thẳng vào mắt chị với sự phản kháng âm thầm mà mãnh liệt! Chị bỗng thấỷ khớp không dám làm ầm ĩ thêm nữa!!! Chị chợt nhớ đã mấy lần Mẹ chị khuyên chị rằng: Mày có thằng chồng hiền lành, thương vợ thương con là tốt phước rồi! Đừng hiếp đáp nó, con chó bị dồn đến nước cùng cũng quay đầu lại cắn chủ! Nó mà tức giận quá, mất khôn, nó ly dị, thì mày chỉ có nước ôm con nuôi tới già! Còn nó, nếu ham vui như người ta, về Việt-Nam lấy vợ trẻ, vợ đẹp vẫn còn được?!
Cho nên chị không dám quát tháo thêm nữa, chị đành bỏ đi làm việc khác sau khi đã quẳng lại cho nhà thơ một cái nguýt mắt đầy đanh đá!
Một mình anh ngồi lại, giận vợ nhưng cũng thương vợ, đàn bà thường thực tế và nông cạn như thế! Anh hiểu, cái tình yêu thơ mộng mới ngày nào đã thay thế bằng những lo âu, toan tính trong cuộc sống! Chị quá lo cho gia đình, cho tương lai của con! Chị sợ tuổi đời của cả hai người không đủ dài, để làm nên cơ nghiệp như chị mong muốn!!!
Trên tờ báo hàng tuần vẫn tiếp tục đăng thơ anh, thơ anh vẫn tình tứ, vẫn ướt át! Nhưng nếu người ta để ý, thì dưới mỗi bài thơ, anh không còn ghi lời tặng cho chị nữa!!!
Mục tiêu của đời chị là có tiền để mua nhà, để dành lo cho tương lai thằng Cu Tí, làm đến cả đời chưa chắc xong! Nên chị cần quái gì điều đó, cái tên chị có dính trên báo cũng chả làm túi tiền chị tăng thêm một xu nào!?
Những bài thơ của anh đã trở thành vô nghĩa! Và mối tình thơ của chị đã chết tự lúc nào!!!
Nguyễn thị thanh dương
Mười năm khổ nhục trong tù, nay Chương được thả về nhưng bị cưỡng bức cư trú tại khu kinh tế mới Ðạm-Ri. Những tháng năm bị kiềm tỏa giữa núi rừng cheo leo, giờ được sải đôi chân tự do trên con đường dẫn về phố thị lòng Chương nghe phơi phới lạ thường!
Những bạn tù cùng trên đường về, người nào cũng nôn nao mong được gặp mặt người thân. Riêng Chương thì vô tư, chẳng bận tâm vì không còn ai để đoàn tụ. Chàng bây giờ sống một cuộc sống đơn độc của một kẻ không nhà.
Cha mẹ Chương đã mãn phần từ lâu. Vân, vợ chàng và đứa con gái lên hai đã biệt tích từ năm 1976 khi ông Trương Thanh cha nàng ở Hà Nội về buộc Vân phải làm đơn ly dị chồng để lấy tên cán bộ thân cận của ông từ Bắc vào. Nàng chống cự quyết liệt rồi ôm con bỏ nhà ra đi. Ông Trương Thanh gởi đơn lên chính quyền tố cáo Hoàng Thuý Vân đã mang con vượt biên, vợ chồng ông không chịu trách nhiệm trước hành động phản quốc đó.
Sau khi làm thủ tục trình diện chính quyền sở tại, Chương may mắn xin được một chân công nhân gạch ngói tại vùng Madagui. Chàng có nơi ăn chốn ở tạm thời.
Ngay buổi đầu, anh em công nhân trong đội gạch ngói đã mở rộng vòng tay đón nhận Chương. Họ tận tình hướng dẫn, tập luyện cho chàng học nghề theo từng khâu một. Dù phải làm việc nặng nhọc liên tục dưới ánh nắng thiêu người, Chương vẫn cảm thấy hạnh phúc. Một niềm hạnh phúc đơn thuần của đời sống tự do ngoài vòng kềm kẹp. Giá trị mồ hôi đổ ra được trả công và nhân cách của chàng dù sao cũng không bị xúc phạm từng giờ từng phút như trong lao tù.
Sáng nay, một đoàn xe tải lần lượt nối đuôi nhau đậu trước sân lò ngói. Loa phóng thanh từ Ban Quản Trị yêu cầu công nhân tập họp chuyển ngói lên xe. Chương theo chân mọi người sắp thành hai hàng dọc. Mỗi hàng là một dây chuyền. Mỗi chồng ngói năm viên được chuyền tay nhau đưa vào tận lòng xe Mọi người đang chăm chú làm việc, bỗng có tiếng gọi:
“Ðại bàng, Ðại bàng!”
Anh em công nhân đưa mắt hỏi nhau ai là đại bàng, rồi tất cả nhìn vào Chương khiến cho dây chuyền ngói khựng lại.
Một người đàn ông đầy đặn, tầm thước từ trong phòng lái bước xuống xe rồi tiến thẳng tới nơi Chương đứng. Anh ta kéo Chương ra khỏi hàng, ôm chặt lấy tấm thân gầy gò của chàng reo lên:
– “Ðại bàng ơi! Em không ngờ thầy trò mình lại được gặp nhau đây. Cám ơn Trời Phật! Em đã hai lần ghé vào nhà cũ để hỏi thăm đại bàng về chưa nhưng căn nhà thì đổi chủ, chị Vân và cháu Vân Chuyên, nghe nói đã vượt rồi.”
“Ðường đạn may mắn” đã cắt đứt hàng lông mày bên trái để lại vết sẹo trên khuôn mặt Ðông đã giúp cho Chương nhận ra người tài xế năm nào.
Chuyến đi công tác qua vùng Mỏ Cày thuộc tỉnh Quảng Ngãi cuối năm 1973, một viên đạn bắn sẻ của địch lướt qua trước mặt Chương rồi chạm sát vào da trán của Ðông lấy luôn hàng lông mày của anh ta. Nếu tốc độ xe lúc ấy nhanh hơn một tích tắc là chàng nhận đủ viên đạn vào đầu.
Chương từ chối sự trợ giúp tài chánh của Ðông, viện lý do là lương công nhân đủ sống và cám ơn Ðông vẫn còn quí mến chàng.
Bảy ngày sau, Chương nhận được lá thư của Ðông:
“Anh Chương kính mến,
Trước hết, em xin anh tha lỗi vì hôm gặp anh, em quá đường đột đã làm mất đi phép tắc của người thuộc cấp và đã khiến cho anh khá ngại ngùng với tiếng gọi ‘Ðại Bàng’. Nỗi vui mừng được gặp lại anh đã làm cho em quên giữ gìn ý tứ. Ôi, sung sướng biết chừng nào khi thấy anh còn lành lặn cho dù lao tù đã vùi dập anh suốt mười năm.
Từ khi còn trong quân ngũ, cái nhóm từ huynh-đệ-chi-binh đối với em chưa đủ nói lên tình mặn nồng ruột thịt, chết sống có nhau như anh với đồng đội. Em rất kính trọng và thương quý anh, bởi anh là vị chỉ huy đã thể hiện tấm lòng nhân ái đối với binh sĩ dưới quyền. Chắc anh còn nhớ nhóm lưu linh của bọn em: Ðoàn, Hồng, Hiệp, Hàn và Ðông. Bọn em đã ‘tái kết nghĩa đào viên’ trong năm vừa rồi. Chúng em hứa với nhau: ‘Ðứa nào gặp đại bàng Lê Hồng Chương trước là phải cấp báo ngay cho anh em. Ðồng thời, cùng nhau chăm sóc giúp đỡ ông Thầy’. Như vậy, em là người được diễm phúc gặp huynh, người anh cả đã một thời tận tụy với đàn em.
Ngày Mười Lăm tháng tới đây, nhóm lưu linh hẹn gặp nhau tại nhà em để được chúc sức khỏe ông thầy. Em sẽ đích thân xuống Madagui chở anh. Chúng em cũng có bàn thảo tìm một việc làm mới thích hợp với sức khỏe và năng lực của anh hiện giờ.
Rất mong ông Thầy chấp thuận cho cuộc họp mặt tình nghĩa này.
Ðại diện nhóm lưu linh.”
Em Ðông.
Ðọc xong bức thư, Chương bồi hồi xúc động. Thì ra trong cuộc biển dâu vẫn còn đọng lại một chút tình.
Cuộc gặp gỡ với những chiến hữu cũ đầy thân tình và cảm động. Họ xem Chương như một người anh và thật sự quan tâm tới chàng. Cái nhóm lưu linh ấy chẳng có người nào khá giả cả, hầu hết là công nhân và xã viên hợp tác xã. Riêng Ðông, đời sống có phần thoải mái hơn nhờ những gói cà phê quốc cấm giấu trong xe hàng hợp pháp.
Họ tích cực vận động và qua trung gian của người đồng hương với Ðông, hiện là thủ trưởng một cơ quan ở huyện xin cho Chương một chân trong Tập Đoàn Sản Xuất Cà Phê ở khu đất mới Tân Hội. Chàng có hộ khẩu thường trú và được phục hồi quyền công dân sớm sủa.
Trên thực tế, Chương có trách nhiệm cai quản ba mẫu cà phê của những người giấu mặt trong bóng tối đầy quyền lực. Nhờ vào lực lượng cơ khí của đội xe ủi đất thuộc Công Ty Thủy Lợi, mấy tay chóp bu địa phương đã tạo được những mẫu cà phê hạng nhất tại vùng này.
Mùa cà phê đã đến thời kỳ thu hoạch. Ðồng bào dân tộc đến tấp nập ghi tên hái cà phê lấy công. Trẻ em cũng tham gia khá đông đảo. Chúng rất rành rẽ trong kỹ thuật hái cà phê, vừa làm vừa nói chuyện, cười đùa ríu rít. Trong số này có một em bé gái đồng lứa với các em khác nhưng làm việc còn rụt rè chậm chạp. Bạn bè gọi tên bé là Ca-len và em nói tiếng dân tộc Ra đê. Bé đeo những chuỗi cườm đủ màu sắc trên tay, trên cổ và một chiếc gùi quá lớn sau lưng. Thoạt nhìn, bé giống như một nghệ sĩ tí hon đóng vai dân miền Thượng.
Con bé cũng có màu da bánh mật, đầu tóc cháy nắng vàng hoe. Ðặc biệt là mái tóc của nó được chải rẽ đường ngôi giữa đỉnh đầu và lúc nào cũng có kẹp vắt tóc hai bên thái dương. Với chiếc mũi dọc dừa nhỏ nhắn cùng cái miệng mủm mỉm xinh xinh khiến nó nổi bật trong đám trẻ dân tộc kia. Bé làm việc cặm cụi, ít khi cười đùa. Nó chỉ trả lời mỗi khi bạn hỏi. Gặp lúc những câu chuyện kể vui vui, con bé nở nụ cười trông thật rạng rỡ, phô ra đôi hàm răng trắng ngần.
Chương nhìn con bé mà nghe lòng xốn xang. Chàng nhớ đến Vân Chuyên đứa con gái của mình và người vợ đã vượt biên. Nhiều đêm Chương suy nghĩ nếu Vân đã đến được bến bờ tự do thì ít nhất nàng cũng biên thư gởi về nhờ bạn bè chuyển cho chàng. Ðã gần mười năm rồi còn gì! Từ ý nghĩ đó nên Chương hoàn toàn thất vọng. Biết đâu hai mẹ con nàng đã bỏ xác ngoài biển khơi!
Ngày mới quen nhau, Chương chỉ hiểu lờ mờ Vân mồ côi cha. Mẹ Vân, bà Hương quê Thừa Thiên đến lập nghiệp tại thị trấn Sông Vàng. Một khu thị tứ sầm uất nên nghề buôn bán vải của bà mỗi ngày mỗi phát đạt. Trong vòng có mấy năm mà mẹ Vân đã tạo dựng được một sự nghiệp thuộc loại nhất nhì tại thị trấn.
Tình của Chương và Vân ngày càng đậm đà khắn khít. Lễ thành hôn của hai người tuy đơn sơ nhưng thật thơ mộng: chồng lính chiến, vợ nữ sinh. Họ hàng tham dự là đám áo màu tray-di cùng với đám nữ sinh, bạn học của Vân. Lễ cưới tựa như buổi tiệc khao quân có các em gái hậu phương chiêu đãi.
Ngày vào tù, Chương được Vân báo cho biết cha nàng từ Hà Nội đã trở về gặp lại mẹ. Thì ra bà Hương đã dấu kín lý lịch có chồng tập kết ra Bắc. Lòng Chương cũng cảm thấy vui vui bởi từ nay bé Vân Chuyên có đầy đủ ông bà ngoại.
Ðến mùa thu hoạch cà phê, vùng đất mới Tân Hội nhộn nhịp hẳn lên. Xe tải, xe con của cán bộ thương nghiệp từ các nơi đổ về tấp nập.
Tất cả thành phẩm cà phê trong vùng này khi xuất đi đều phải có giấy phép của chính quyền huyện. Nhiều trạm kiểm soát hỗn hợp được bố trí trên các tuyến đường vào ra khu vực. Cà phê của cá thể do ngành thương nghiệp thu mua theo giá ấn định, không được mang ra ngoài bán. Tuy vậy, vẫn có một số con buôn lén lút mua giá cao gấp bội. Họ thu góp rồi gởi trong nhà dân. Chính quyền biết rõ điều đó nên thường xuyên đột nhập vào nhà dân khám xét. Nếu bị phát hiện, cà phê lậu bị tịch thu và chủ nhà bị phạt tù.
Cà phê là sản phẩm do nhà nước độc quyền quản lý cũng như tiêu hạt trầm hương và quế ống. Ai chứa trong nhà là mang mối họa vào thân.
Nỗi oái ăm của một dân tộc là mọi sản phẩm của mình làm ra đều dồn vào tay nhà nước. Những con tôm hùm, mực nang, sò huyết… là hải sản dồi dào trên vùng biển nước ta, thế mà chúng biến mất trong đời sống dân chúng. Ðồng bằng Cửu Long là vựa lúa của miền Nam giờ đây đã trở thành vựa lúa xuất khẩu của Ðảng cầm quyền để người dân không đủ gạo ăn giáp hạt.
Hai ngày qua bé Ca-len không đến nông trường. Sáng nay, bé lại xuất hiện trong đám trẻ con dân tộc. Khuôn mặt u buồn của bé hôm nay lại càng buồn hơn. Cuối ngày, bé là người giao sản phẩm trễ nhất.
Phần công của em chỉ bằng một nửa của mấy ngày trước. Chương động lòng cho công em bằng lượng cà phê của bạn bè. Nó nhìn chàng rồi trịnh trọng:
– Cám ơn ông.
Con bé phát âm tiếng Việt rất chuẩn. Khác hẳn giọng nói lơ lớ của những đứa bé dân tộc kia. Chương ngạc nhiên hỏi:
– Cháu là người Kinh? Con bé gật đầu.
– Hai ngày qua sao cháu không đến? Bé ngước nhìn Chương với đôi mắt ướm lệ:
– Mẹ cháu bệnh.
Chương tò mò:
– Thế bố cháu đâu?
Con bé lắc đầu. Chương định hỏi thăm thêm gia cảnh của nó, nhưng bé vội vã ra về.
Chương nghĩ con bé Ca-len này được đặt tên theo âm ngữ dân tộc Ra đê, như vậy cha mẹ của nó, một trong hai người phải là giống dân thiểu số sống tại vùng Ka-long bên dưới chân đèo Prein.
Bé mang chiếc gùi lớn sau lưng, đôi chân tong teo trong chiếc quần đùi rộng quá khổ, nhìn từ xa giống như con búp bê đang di động. Cơn gió xoáy chạy dọc theo con đường băng qua ngọn đồi cuốn hút bụi lá lên cao nom như một cái phễu. Bước chân con bé xiêu xiêu như rơi vào cuốn phễu đó. Áo quần và tóc bị cuốn hút ngược lên như muốn vuột khỏi cái thân hình gầy guộc, đen đủi của nó. Bé vẫn bình thản bước đi khi nắng chiều vụt tắt.
Ðêm về, Chương trằn trọc mãi, lòng cứ xót thương cho hoàn cảnh bất hạnh này. Giấc ngủ nặng nề đến với Chương trong lúc nửa đêm về sáng. Chàng mơ thấy bé Ca-len rớt xuống vực sâu bên dưới dòng thác. Nó hụt chân, trồi đầu lên gọi chàng: “Bố ơi cứu con với” rồi cả thân mình nó chìm lỉm xuống dòng sâu. Chương giật mình bừng tỉnh, lồng ngực vẫn còn nghe nặng trĩu.
Từ sáng sớm, vườn cà phê đã rôn rịp người. Chương có ý đợi bé Ca- Len mà vẫn không thấy. Chàng muốn đến nhà để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình em ra sao, và có thể giúp được gì cho nó. Chương hỏi thăm khá nhiều người nhưng chẳng ai biết chỗ ở của bé. Hai ngày chờ đợi con bé trở lại vườn cà phê là hai ngày lòng chàng như lửa đốt. Chương càng nghĩ đến nó, chàng càng tự trách mình thờ ơ và vô tình.
Cuối cùng rồi bé Ca- Len cũng đến. Nó lặng lẽ làm việc giữa tiếng cười vui của đám trẻ. Đôi mắt bé trũng sâu như người thiếu ngủ. Mái tóc hoe vàng cháy nắng không còn ngôi rẽ ngay ngắn giữa đỉnh đầu, cây kẹp vắt hững hờ trên mái tóc lưa thưa rối bời.
Cuối ngày, Chương cố giữ con bé ở lại đến khi mọi người đã ra về. Chàng bày tỏ ý định đến nhà để xem căn bệnh của mẹ nó ra sao và chàng có thể giúp đỡ được gì không.
Mặt trời mệt mỏi ngã mình trên đỉnh rừng già, phớt chút nắng vàng nhợt nhạt trên các ngọn đồi cà phê. Chương hăm hở theo chân bé Ca-Len đến nhà.
Một túp lều mái tranh vách nứa nằm khuất giữa đám bắp đang độ ra hoa. Con bé nhè nhẹ đẩy cánh cửa liếp bằng nứa đơn sơ.
Chương bước vào túp lều lờ mờ ánh sáng. Từ nơi góc nhà, tiếng yếu ớt của một người đàn bà vẳng lên:
– Ai đó?
Chương cố vận dụng sự điều tiết của đôi mắt để nhìn cho rõ khuôn mặt người đang nằm trên chiếc giường tre ọp ẹp:
– Thưa bà, tôi là người làm ở nông trường cà phê… Chương trả lời chưa hết câu, bỗng người đàn bà kêu lên:
– Ôi! Anh Chương! Rồi lịm đi…
Chương sững sờ! Tiếng nói của Vân, vợ chàng. Giọng nói thân yêu đã ngự trị trong tim chàng, mọc mầm trong ký ức chàng. Giọng nói đã quần tụ trong nỗi nhớ quay quắt suốt mười năm trong tù, làm sao chàng lầm lẫn được. Chương nhào tới. Khuôn mặt xanh xao của Vân hiện ra. Trong một giây khựng lại, rồi chàng ôm chầm lấy vợ, kêu lên:
– Vân ơi! Em ơi! Sao lại ra nông nỗi này?
Vân ngất xỉu trước cơn xúc động tận cùng. Trái tim nàng nhỏ nhoi quá, yếu đuối quá, làm sao kham nổi trước niềm vui to lớn quá, bất ngờ quá! Làm sao kham nổi cơn đau đớn vượt ngoài sức chịu đựng của nàng.
Chương vùi mặt vào ngực vợ. Nhịp đập của trái tim nàng nhẹ nhàng, chầm chậm, từng khoảng nhỏ cách rời. Nó mất cả rồi cơn rộn ràng tới tấp trong căn ngực no tròn của thuở hai người yêu nhau. Bộ ngực bây giờ trải bằng theo lớp xương sườn khô đét làm nổi bật chiếc bụng nàng trương cao.
Vân tỉnh lại. Nàng đưa đôi tay ốm yếu ôm lấy đầu chồng. Vân muốn ghì Chương vào ngực nàng nhưng đôi tay không còn sinh lực chỉ đủ sức áp nhe bàn tay lên cổ chàng. Chương ngẩn đầu nhìn Vân.
Chàng đặt môi hôn trên má trên mắt và môi nàng.
Vân giữ đầu Chương cho hai người úp mặt vào nhau. Nàng muốn nghe lại hơi hướng của chồng. Nàng muốn nhìn vào đôi mắt chàng, đôi mắt tình tứ và đầy cương nghị mà nàng đã yêu đắm đuối trong buổi gặp gỡ đầu tiên, nhưng nàng chẳng còn thấy gì ngoài nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt.
Con bé tự nãy giờ yên lặng, ngơ ngác. Nó đứng nơi góc nhà nhìn cảnh tượng lạ lẫm của mẹ và người đàn ông tên Chương, người mà trong bức hình phóng lớn, mẹ thường hay đem ra ngắm và bảo là bố của bé, rồi mẹ âm thầm lau nước mắt.
Vân sực nhớ đến con gái, nàng gắng gượng đẩy đầu chồng qua một bên rồi lên tiếng gọi:
– Vân Chuyên đến đây với bố. Bố đã về với mẹ con mình rồi.
Nàng thì thầm bên tai Chương:
– Con gái của chúng mình đó. Tội nghiệp. Nó đã chịu đựng cùng em bao nỗi nhọc nhằn, đắng cay suốt mười năm nay.
Bé Vân Chuyên ngập ngừng từng bước, từng bước một đến bên giường của mẹ. Chương vụt đứng lên ôm con gái vào lòng với muôn vàn nỗi xót xa. Chàng âu yếm nói với con:
– Ba xin lỗi. Ba vô tình và Ba chẳng ngờ…
Tạ ơn Thượng Đế, Người đã dẫn dắt con về đây để có cuộc trùng phùng này. Con bé gục đầu trên vai Chương nhủ thầm: “Bố trong bức hình thì vặm vỡ, ôm vai mẹ cười rạng rỡ, còn Bố bây giờ sao lạ quá như hai người đàn ông khác biệt”.
Nó nào biết mười năm khốn khổ trong tù đã huỷ hoại cơ thể chàng thanh niên đầy sinh lực kia, còn lại tấm thân gầy gò tàn tạ của người bố ngày hôm nay.
Vân nhìn chồng và con mà nước mắt cứ trào ra, dù nàng gắng gượng để không khóc nữa. Dường như nước mắt trong mười năm tích tụ, đã đến lúc tràn bờ, nàng không còn đủ sức ngăn chặn.
Ba người yên lặng trong màn đêm bao phủ. Chương một tay cầm tay vợ, tay kia ôm chặt bé Vân Chuyên vào lòng. Họ đang tận hưởng những phút giây sum họp đã đợi chờ suốt mười năm.
Vân đau đớn thầm nghĩ: “Trong giây phút đoàn viên đã có ánh chớp chia lìa, tàn nhẫn quá, bẽ bàng quá!” Bỗng cơn đau nổi lên như những mũi dao cắt vào ruột gan Vân, nàng kêu lên: “Chương ơi! con ơi!” rồi cơn tê dại úp chụp lên toàn thân khiến cho tay chân nàng run lẩy bẩy. Chương vội buông con, ôm lấy vợ.
Chiếc đèn dầu hoả cháy leo lét trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ xiêu vẹo. Ánh sáng vàng vọt làm cho cảnh tượng trong túp lều càng thêm thê lương.
Qua cơn đau, Vân mỉm cười trong nước mắt, nàng thì thào:
– Em hạnh phúc và thoả nguyện vô cùng. Bé Vân Chuyên không còn cô quạnh và cả em, trời đã cho thấy mặt anh lần này. Em rất yên lòng khi… con bé còn cha.
Chương ngậm ngùi nhưng quả quyết nói:
– Ngày mai anh sẽ đưa em đi thành phố; nơi đó có bạn bè anh giúp đỡ để chữa bệnh cho em.
Vân vội ôm đầu Chương vào ngực để chàng không kịp thấy dòng nước mắt của nàng đang tuôn ra trên đôi mắt trũng sâu. Vân không muốn cho chồng con biết căn bệnh viêm gan của nàng đã chuyển sang giai đoạn ung thư. Bỗng dưng nàng hỏi Chương:
– Họ mướn anh làm công việc gì ở khu cà phê ấy?
Chương cầm tay vợ ân cần:
– Cai quản ba mẫu cà phê của các ông trên Huyện. Bây giờ là mùa thu hoạch, anh lo điều hành và bảo quản sản phẩm trong kho.
Vân hối thúc:
– Vậy anh phải về ngay bây giờ. Nếu có việc gì xảy ra không chừng anh bị mất việc.
– Đành chịu vậy. Chàng cả quyết:
– Anh phải ở lại đây đêm nay để chăm sóc em thay con.
– Anh à, số cà phê hột bị mất trộm thì mẹ con em sẽ cùng chung số phận ngồi tù với anh.
Vân nằn nì:
– Thương em, thương con xin anh nghe lời em. Anh chưa thấu hiểu bằng em cái xã hội “bần cùng sinh đạo tặc” này đâu. Ngày mai, anh sắp xếp công việc đâu vào đó rồi đến với em và con.
Một thực tế phũ phàng mà Chương không thể tránh né được.
Chàng phải gượng ép nghe theo lời vợ. Trước khi rời túp lều, Chương đắp lại tấm chăn bông đã nhàu nát lên mình vợ, hôn nàng và con gái. Vân lấy dưới gối một bì thư lớn đã niêm phong trao cho chàng.
Chương bước ra khỏi lều, gió núi về đêm phả vào mặt chàng nghe tê lạnh. Rẫy cà phê um tùm nối tiếp nhau trong màn đêm u uất.
Tiếng dế vang vang từ bên bờ cỏ im bặt khi bước chân chàng đến gần. Loài chồn ăn đêm cũng chuyền cành tránh xa khi thấy bóng người đi tới. Tâm hồn Chương trĩu nặng nỗi lo âu phiền muộn.
Chàng cảm thấy hụt hẫng trước hoàn cảnh tận cùng bi đát của vợ con.
Bên trong chiếc phong bì là một tập vở học trò, loại giấy tái tạo xậm màu và nhàu nát. Màu mực tím có nơi đã hoen ố và mờ nhạt.
Chương chậm rãi, cẩn trọng giở từng trang đọc dưới ánh đèn dầu vàng vọt:
Năm 1976.
Anh yêu,
Em không thể viết thư cho anh, bởi em sợ anh đau buồn vì những bất hạnh đã xảy ra. Em viết những dòng này với cõi lòng tan nát! Chương ơi, em đã bỏ nhà ra đi vì ông Trương Thanh đã gây áp lực với má buộc em phải ly dị anh. Ngay từ ngày đầu nhìn thấy ông đến nhà là linh cảm em báo trước nỗi bất an. Tội nghiệp cho má, bà đã hiến trọn tình yêu và niềm tin vào ông ấy, nhưng bản chất đa nghi và tâm hồn ti tiện, ông xem em như là đứa con hoang, đứa con ngoại hôn. Ông không chấp nhận em cùng dòng máu với ông ta.
Có lần ông ấy nói thẳng với cấp bộ đảng là ông không tin vợ ông hoài thai trong thời gian chỉ sống chung có ba tuần lễ trước khi ông tập kết ra Bắc.
Người Cộng Sản hành xử vì cứu cánh, bởi vậy họ không từ nan một mưu chước nào. Ông lợi dụng má và muốn chiếm đoạt gia tài. Em ra đi chưa đầy bốn tuần lễ là ông ta báo cáo lên chính quyền rằng em thuộc diện phản quốc trốn ra nước ngoài.
Má đã rửa nhục bằng máu của ông ấy và cái chết của Người! Em đã khóc mấy ngày liền khi hay tin má quyên sinh. Bây giờ, mọi nẻo về của em và con đều bít lối. Căn nhà đã bị tịch thu, tài sản của má hoàn toàn mất sạch. Em đang tìm một nơi ẩn náu lo bươn chải qua ngày, nuôi con, chờ chồng…
Ngày… 1977
Em và con đang ở Tân Hội, một vùng đất hoang mới được khai khẩn thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên em hiện giờ trong hộ khẩu là Hoàng Thị Vấn. Cái tên Hoàng Thuý Vân của anh ngày xưa đã mất rồi. Có lẽ định mệnh đã an bài cho em sống chết nơi đây.
Ngày… 1980…
Ngày… 1981
Triệu chứng bệnh gan của em mỗi ngày mỗi nặng. Nếu có mệnh hệ nào, em sẽ gởi bé Vân Chuyên đến nhà Thái Tuỵ, bạn học của em tại Thị Trấn Sông Vàng.
Ngày… 1982…
Đọc nửa chừng phần nhật ký, Chương thiếp đi tự lúc nào không hay. Tiếng chim kêu lanh lảnh ngoài vườn cây đánh thức chàng tỉnh giấc.
Chương vội vã sắp xếp dụng cụ thu hoạch cà phê trong ngày, viết đơn xin phép nghỉ một tuần lễ và yêu cầu ban lãnh đạo tập đoàn cho người thay thế chàng trong ngày hôm nay. Chương đang xếp vài bộ đồ vào túi xách, chợt bé Vân Chuyên đột ngột chạy vào nhà mếu máo khóc:
– Mẹ chết rồi!
Chương ngẩn người, tựa sét đánh trúng ngay tim. Chương vất quần áo xuống đất chạy ra ngoài. Chàng cắm đầu cắm cổ băng đồi.
Chàng chạy thục mạng bất kể gai cây đá sạn, bất kể những cành cà phê quất vào mặt, vào đầu. Chàng chạy theo con đường nào gần nhất. Đôi chân trần rỉ máu nhưng Chương hoàn toàn mất cảm giác. Chàng quên tất cả, bỏ mặc công việc hàng ngày, ngay cả bản thân chàng cũng quên tất!
Chương tông cửa vào nhà, vợ chàng nằm đó, hai tay buông xuôi, đôi mắt không hồn nhìn trân trân về hướng khung cửa. Tấm hình lớn của hai vợ chồng chụp trong ngày cưới nằm bên cạnh nàng.
Chương ôm chầm lấy xác vợ. Chàng lay, chàng gọi, chàng gào thét trong nỗi đau đớn tận cùng. Chàng đấm vào trái tim đang rỉ máu.
Chàng đấm vào lồng ngực cho nỗi uất ức vỡ trào. Máu căng đầy đôi tròng mắt đỏ ngầu, máu chảy rần rật trong đôi tay chàng run rẩy. Cơn uất nghẹn không lối thoát.
Con bé đứng bên giường mẹ ôm mặt khóc thút thít tự lúc nào, Chương quay nhìn thấy con cô đơn và lạnh lẽo, chàng chợt tỉnh.
Giọt máu của chàng còn đó, núm ruột của chàng còn đây, Chương đứng dậy ôm con vào lòng và nước mắt bỗng dưng tuôn trào.
Nước mắt chàng chảy thành dòng rơi xuống mặt bé Vân Chuyên. Nước mắt của hai cha con hoà chung một làm ướt đẫm cả ngực áo con gái chàng.
Ánh nắng xuyên qua mái lá rọi xuống khung hình phản chiếu ánh sáng lung linh trên bức tường nứa. Mắt Vân bây giờ đã khép. Khuôn mặt nàng vẫn còn vương nét khổ luỵ chất chồng, duy hai khoé miệng nàng dường như còn giữ lại nụ cười mãn nguyện.
Chương chôn vợ nơi nghĩa địa của vùng đất mới Tân Hội. Trên bia mộ chàng ghi: “ Nơi an nghỉ cuối cùng của bà Lê Hồng Chương, nhũ danh Hoàng Thúy Vân. Mất ngày 18 tháng 8 năm 1985”
Chồng và con gái Lê Vân Chuyên phụng lập ”
Từ hôm ấy, khi mặt trời chiều đổ sập sau đỉnh núi cao, người ta thường thấy hai cha con, một già một trẻ đi viếng mộ trở về. Mái tóc bạc màu làm nổi bật gương mặt khắc khổ của người cha. Bé gái trầm ngâm nắm tay cha bước đi giữa bóng hoàng hôn đang chìm vào đêm tối…
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Anh chị Thụ & Mai gởi

Thực vậy, trong cuộc đời đầy bon chen, giông bão, đầy cám dỗ, thị phi này, tìm được một người có tấm lòng quả đã không còn là chuyện dễ dàng nữa. Chỉ khi người ta biết cho đi thì mới xứng đáng nhận lại những gì tuyệt vời nhất. Người Hungary có một câu nói rất hay thế này: “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”…
Chàng trai trẻ chuẩn bị mở một cửa hàng trên con phố nơi mình sinh sống. Anh hỏi ý kiến của cha: “Con muốn mở một cửa hàng buôn bán kiếm tiền ở con phố này. Vậy con phải chuẩn bị điều gì trước đây?”.
Người cha nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Con phố này thật sự cũng đã có không ít cửa hàng rồi, nhưng mặt tiền vẫn còn nhiều. Nếu như con không muốn kiếm nhiều tiền, bây giờ có thể thuê hai mặt tiền để bày biện quầy hàng, nhập vào một số hàng hóa thì đã có thể mở cửa kinh doanh rồi. Còn nếu như con muốn kiếm được nhiều tiền hơn, thì trước hết cần phải chuẩn bị làm một vài điều gì cho người dân trên con phố này”.

Chàng trai trẻ hỏi: “Con phải làm gì trước đây?”.
Cha của anh suy nghĩ một lúc rồi nói: “Chuyện cần làm thật sự rất nhiều. Ví như, lá rụng ngoài đường rất ít khi có người quét dọn. Mỗi sáng con hãy dậy sớm dành chút thời gian quét dọn lá rụng ngoài đường. Còn nữa, khi nhân viên bưu điện gửi bưu phẩm, có khá nhiều bưu phẩm khó tìm được người nhận. Con cũng có thể giúp tìm kiếm một chút, sau đó kịp thời trao lại bưu phẩm cho người nhận. Ngoài ra, còn có rất nhiều gia đình cần sự giúp đỡ lặt vặt, nếu có thể con hãy dang rộng đôi tay giúp họ một chút”.
Chàng trai trẻ tỏ ý không hiểu, hỏi: “Nhưng những điều này có liên quan gì với việc con mở cửa hàng chứ?”. Cha của anh mỉm cười nói: “Nếu như con muốn việc làm ăn của mình được tốt, thì tất cả những điều này sẽ trợ giúp đắc lực cho con. Còn nếu như con không muốn làm tốt việc làm ăn, thế thì hết thảy điều này có lẽ không có tác dụng gì lớn nữa”.
Chàng trai trẻ tuy bán tín bán nghi, nhưng vẫn quyết định nhất nhất làm y theo lời của cha mình. Mỗi sáng, anh đều cố gắng dậy sớm quét dọn đường phố, gửi bưu phẩm giúp nhân viên bưu điện, khiêng vác giúp những người già cả. Ai có khó khăn cần sự giúp đỡ, anh nghe thấy đều sẵn sàng đến giúp. Không lâu sau, mọi người trên khắp con phố này đều đã biết đến anh.
Nửa năm sau, cửa hàng của chàng trai trẻ treo lên tấm biển kinh doanh. Điều khiến anh kinh ngạc là khách hàng đến khá đông. Kẻ gần người xa đều đã trở thành khách hàng quen thuộc của anh. Thậm chí những người già cả ở bên kia con phố sẵn sàng bỏ qua cửa hàng ngay gần chỗ họ mà không ngại chống gậy đi một quãng xa để đến cửa hàng anh mua đồ. Anh kinh ngạc, hỏi họ rằng: “Trước cửa nhà ông vốn có cửa tiệm, tội tình gì phải bỏ gần cầu xa như thế?”.
Họ cười nói rằng: “Chúng tôi đều biết cậu là người tốt, đến cửa hàng của cậu mua đồ chúng tôi mới yên tâm”. Về sau, anh còn giao hàng đến tận nhà khách hàng. Khi gặp phải những người khó khăn, túng thiếu, anh luôn để họ mua chịu trước, đợi khi có tiền thì gửi trả lại sau. Ngoài ra anh cũng nhiệt tình tham gia các hoạt động công tác xã hội từ thiện, biết được ai đang gặp khó khăn, anh cũng đều sẵn lòng dang tay giúp đỡ.
Mấy tháng sau, khá nhiều người ở con phố kế bên cũng đều chạy đến cửa hàng của anh mua đồ. Hơn một năm sau, người trong khắp khu phố đều biết đến cửa hàng của anh, đều cùng kéo đến ủng hộ. Anh tiếp tục mở ra thêm vài chi nhánh, đại lý ở con phố khác. Việc làm ăn càng làm càng lớn, tất nhiên cũng càng kiếm được nhiều tiền hơn. Chỉ trong thời gian khoảng mười năm, anh đã từ một chàng trai không chút danh tiếng, lắc mình một cái trở thành một nhà doanh nghiệp với tài sản bạc triệu.
Một ngày kia, có một phóng viên tới phỏng vấn, hỏi anh bí quyết kinh doanh nào để chỉ trong 10 năm ngắn ngủi có được thu hoạch lớn như vậy. Anh nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Bởi vì trước khi có được, tôi đã học cách cho đi…”.

Lái xe taxi ở một thành phố lớn như New York, chắc chắn sẽ có rất nhiều những trải nghiệm thú vị và ngoài dự tính. Tài xế đưa khách từ chỗ này đến chỗ khác, phải đối diện với nhiều loại người và những yêu cầu đa dạng khác nhau.
Một ngày nọ, một tài xế taxi ở New York nhận được cuộc gọi xe từ một vị khách kỳ lạ, trải nghiệm lần này gây ấn tượng sâu sắc với anh, khiến anh xúc động rất lâu và anh đã chia sẻ trải nghiệm này trên mạng.
Tôi nhận được cuộc gọi đến một địa chỉ nọ để đón khách. Sau khi đến nơi, tôi bấm còi, nhưng không có ai ra. Tôi gọi điện thoại, nhưng cũng không gọi được, tôi bắt đầu hơi mất kiên nhẫn.
Đây là chuyến cuối cùng mà tôi phải đón vào buổi trưa, sắp đến giờ nghỉ rồi. Tôi gần như đã từ bỏ, chuẩn bị lái xe rời đi. Nhưng sau cùng tôi lại nghĩ, hay là ở lại một chút.
Tôi đợi một lúc thì xuống xe bấm chuông cửa. Không lâu sau, tôi nghe thấy có tiếng nói yếu ớt của một người già vang lên: “Xin đợi một chút!”
Tôi đợi ở ngoài một lúc thì cửa mới từ từ mở ra. Tôi nhìn thấy một bà cụ với dáng người nhỏ bé đứng sau cánh cửa, tôi đoán ít nhất cụ đã 90 tuổi rồi. Trên tay cụ kéo theo một cái vali nhỏ.
Tôi liếc mắt nhìn vào nhà và kinh ngạc phát hiện ra cảnh tượng bên trong. Ở đây dường như không có ai sống cả, đồ nội thất đều được phủ vải, bốn bức tường trống trơn, không có đồng hồ, đồ trang trí, hình ảnh hoặc tranh, không có gì cả.
Tôi chỉ nhìn thấy một cái thùng ở góc nhà, bên trong đều là hình ảnh và đồ lưu niệm cũ.
Bà cụ nói: “Cậu trai trẻ, có thể phiền cậu giúp tôi mang vali lên xe không?”
Tôi để vali vào trong cốp xe, sau đó quay lại đỡ cánh tay của bà cụ, đưa bà bước chầm chậm xuống lầu rồi lên xe. Bà cụ cảm ơn tôi.
Tôi nói: “Là việc cháu nên làm mà…”
Bà cụ cười nói: “Ồ, cậu thật sự rất tốt.”
Bà ngồi vào xe rồi đưa cho tôi một tờ giấy có ghi địa chỉ và yêu cầu tôi đừng đi đường trong trung tâm thành phố.
Tôi nói với bà: “Nhưng như vậy thì chúng ta sẽ phải đi đường vòng ạ”.
Bà trả lời tôi: “Không sao cả, bà cũng không vội. Nơi bà cần đến là viện dưỡng lão.”
Lời bà nói khiến tôi hơi bất ngờ.
Tôi nghĩ thầm: “Viện dưỡng lão chẳng phải là nơi người già chờ đến ngày ra đi hay sao?”
Bà cụ nói tiếp: “Bà không có người thân. Bác sĩ nói bà không còn nhiều thời gian nữa rồi.”
Khoảnh khắc đó, tôi quyết định tắt đồng hồ đếm hành trình. Tôi hỏi bà: “Vậy cháu nên đi thế nào ạ?”
Kết quả là suốt hai tiếng sau đó, chúng tôi đi rất nhiều vòng ở vùng ngoại ô thành phố.
Trên xe, bà cụ chỉ cho tôi thấy tiệm ăn mà bà từng làm việc. Chúng tôi đi qua rất nhiều nơi khác nhau, căn nhà mà bà sống cùng chồng lúc còn trẻ và cả phòng khiêu vũ mà bà từng đến. Khi đi ngang qua những con đường nào đó, bà cũng sẽ nhờ tôi lái chậm lại, bà hiếu kỳ nhìn ra ngoài qua cửa sổ và yên lặng không nói gì cả.
Chúng tôi gần như đi lòng vòng suốt cả buổi chiều đến chập tối, cho đến khi bà cụ nói: “Bà mệt rồi, chúng ta đến nơi cần đến đi”.Trên đường đến viện dưỡng lão, chúng tôi đều không nói câu gì.
Viện dưỡng lão nhỏ hơn tôi tưởng tượng. Sau khi đến nơi, có hai y tá bước ra đón chúng tôi. Họ đẩy một cái xe lăn, tôi thì chuyển hành lý của bà cụ. “Tổng cộng bao nhiêu tiền vậy cháu?”, bà cụ vừa hỏi vừa mở ví tiền.
Tôi trả lời: “Miễn phí ạ”. Bà cụ lại nói: “Nhưng cháu cũng phải nuôi gia đình mà”. Rồi tôi cười nói: “Sẽ còn những hành khách khác nữa mà bà”.
Tôi gần như không kịp suy nghĩ, cứ thế ôm lấy bà cụ. Bà cũng ôm chặt lấy tôi: “Cháu đã khiến một người gần như sắp bước đến cuối đời cảm thấy vô cùng hạnh phúc, cảm ơn cháu!”. Bà cụ nói thế và mắt bà đỏ hoe.
Tôi bắt tay tạm biệt bà. Trên đường quay về, tôi nhận ra mình đang đi lòng vòng không mục đích. Tôi không muốn nói chuyện với bất cứ ai cả, cũng chẳng có tinh thần để đón khách. Tôi cứ mải suy nghĩ, nếu như ban đầu tôi không đợi bà cụ? Nếu khi đó tôi không tìm thấy và lái xe bỏ đi thì bà cụ phải làm sao đây chứ?
Bây giờ khi tôi nhớ lại ngày hôm đó, tôi vẫn tin rằng tôi đã đưa ra một quyết định quan trọng và chính xác.
Trong cuộc sống, chúng ta cứ mãi luôn bận rộn tất bật. Chúng ta phải làm những việc “quan trọng” hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Nhưng bà cụ đã khiến tôi thật sự hiểu được khoảnh khắc yên tĩnh mà đầy ý nghĩa đó. Đồng thời cũng khiến tôi cảm thấy đau lòng với sự cô độc và buồn bã của chuyến đi cuối cùng trong cuộc đời của bà.
Chúng ta phải dành thời gian để tìm hiểu bản thân mình, tận hưởng cuộc sống của mình. Chúng ta nên kiên nhẫn chờ đợi trước khi vội vàng bấm còi. Sau đó, có lẽ chúng ta sẽ thấy được việc thật sự quan trọng. /Ngọc Trúc’s blog/
PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện
Lòng Nhân Ái có hậu ngay ở đời này
Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.
Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.
Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”
Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.
Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.
Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.
*Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây.
Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.
Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.
Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.
*Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.
Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.
Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.”
Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.
Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.
Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.
Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn.
Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.
Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”
*Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892.Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.
Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.
Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…
Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.
Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.
Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”
*Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!).
Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)
S.T.