Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Trần Thị Thanh Minh

 Thân gửi đến quý anh chị “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” của chị Trần Thị Thanh Minh. Thật tội cho những người vợ phải gặp hoàn cảnh khó khăn đi thăm nuôi chồng trong những trại học tập cải tạo của chế độ Việt Cộng. Xin chúc phúc cho chị và các cháu đã may mắn đến được bến bờ tự do. Thân ái trong tình người Việt tha hương.

 Đinh công Đức

Một ngôi biệt thự nhỏ khiêm tốn cuối đường Hoàng Diệu, Đà Lạt. Phía sau là vườn hồng và có thể nhìn thấy trường Couvent thấp thoáng áo xanh lam của các nữ sinh nội trú. Đó là “ngôi nhà hạnh phúc” của chúng tôi cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó. Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc với ba đứa con thật dễ thương và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi nhất là Tết đến còn thêm “những con bà phước” (tức là những sỹ quan Võ bị không được về Sài Gòn ăn Tết vì cấm trại) tất cả đều quay quần vui chơi như chính nhà của họ, bởi vì các anh thích cái không khí thoải mái và thân thương nhất mà chúng tôi đã thật thân tình đón tiếp. Nếu cuộc sống ấy được kéo dài thì thật đúng là chúng tôi đã có một thiên đàng hạnh phúc thật sự rồi. Nhưng đâu có ai ngờ rằng Buôn Mê Thuột mất, mọi nơi di tản về Sài Gòn. Gia đình tôi cũng trong làn sóng kinh hoàng đó. Tôi và các con được ông bà nội các cháu yêu thương đùm bọc, và tôi đã sinh cháu bé ngay tháng tư năm đó. Cũng vì thế mà chồng tôi không thể ra đi một mình. Anh đã lên được tàu nhưng anh lại nhảy xuống bơi về. Nếu anh biết trở về rồi lại phải xa mẹ con tôi vĩnh viễn chắc anh đã chẳng quay về. Đó cũng chính là nỗi đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi của chúng tôi.

 Tháng sáu anh đã đi trình diện học tập cải tạo, với hy vọng sau mười ngày sẽ trở về… Không có chồng tôi ở nhà, tôi rất sợ hãi và buồn lo. Anh đã cho tôi một đời sống ổn định vững vàng. Nay không có anh tôi không thể làm gì hết, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính của chúng tôi cho con cái sau này. Tôi không còn gì hết ngay cả mạng sống của tôi cũng rất mong manh vì mới sanh cháu còn quá nhỏ. Rất may nhờ sự lo xa của bà nội các cháu nên mẹ con tôi còn được ăn cơm thêm vài tháng. Toàn dân ở thành phố đã phải ăn khoai lang, khoai mì và bo bo. Lương thực bán theo sổ gia đình, hoàn toàn không có gạo. Khi nào được mua bột mì thì sung sướng lắm. Vì có thể đổi bột lấy bánh mì (món ăn ngon nhất lúc bấy giờ) Nhờ có bánh mì tôi có thêm việc làm để kiếm được vài đồng đi chợ. Tôi phải lo làm nước sốt (muối + cà chua) thái cà rốt, củ cải, dưa leo làm đồ chua mang ra trước cửa bán từ 4 giờ sáng.

 Ngày tháng cứ qua đi với buồn lo nặng trĩu vì 4 đứa con cần ăn để sống.  Tôi như con chong chóng hết bán bánh tôm bánh cuốn tại đường Duy Tân lại quay ra bún ốc bún riêu ở đường Gia Long. Nhưng cũng không được bao lâu vì “chiến dịch dẹp lòng lề đường”. Tôi lại phải chạy thuốc tây, ai cần bán cần mua là có tôi làm chân chạy. Tôi còn nhớ một lần có người cần mua 5 chai nước biển, mà tôi chỉ có đủ vốn cho 2 chai, thế là tôi phải chạy làm 3 lần từ chợ Vườn Chuối qua chợ Bà Chiểu mới giao đủ hàng được.  Đạp xe đạp muốn kiệt sức vì mồ hôi và nước mắt nhoè nhoẹt đến không thấy đường đi. Nhiều lúc đầu óc tôi muốn vỡ tung ra vì những tính toán cho cuộc mưu sinh, vì những thay đổi khôn lường của xã hội chủ nghĩa và nhất là vì những hoang mang lo sợ cho chồng tôi đã bao lâu biệt vô âm tín. Ban đêm, nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các con tôi trong giấc ngủ say sưa; tôi yên tâm vì tôi vẫn còn có chúng ở bên tôi. Nhưng chồng tôi nay ở đâu? Đói no ấm lạnh ra sao? Anh là người nặng tình chồng vợ, yêu quý các con, liệu anh có yên giấc được không? Hay cũng như tôi thao thức suốt đêm thâu với bao nỗi lo âu tắc nghẽn không phương giải thoát. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc nức nở để vơi bớt nỗi buồn lo nặng trĩu bên mình. Tôi không dám khóc trước mặt các con vì chúng sẽ òa khóc theo ngay khi thấy tôi chảy nước mắt.

 Mãi gần một năm sau tôi mới được tin chồng tôi dù chẳng phải là tin vui. Anh đang bị một cơn sốt rét ác tính và thiếu thức ăn trầm trọng có thể chết bất cứ lúc nào. Mong ước của anh là muốn biết tin tức của mẹ con tôi trước khi anh nhắm mắt. Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Tôi lạy van người đưa tin xin chỉ đường cho tôi đi gặp anh.

Sau cuộc hành trình khá vất vả, lội suối băng rừng, những con vắt cắn tôi chảy máu tùm lum mà tôi không hề biết sợ biết đau. Quần áo ướt hết, gió lạnh làm tôi rét run, xanh mét. Tới nơi chưa kịp mừng thì đã bị cán bộ trưởng trại tra hỏi lâu ơi là lâu. Cuối cùng vì “cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Họ cho tôi gặp mặt. Vì chồng tôi đau nặng nên anh em cùng “láng” cho mắc võng ở giữa còn các anh mắc võng chung quanh để che gió lạnh. Thật sự thì có che được bao nhiêu đâu vì mỗi khi gió tạt vào thì tất cả đều lãnh gió cát đầy cả mặt mũi. Tôi chết đứng khi thấy chồng tôi chỉ còn là bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra vì đôi má đã hóp lại, cặp mắt lõm sâu không còn thần sắc. Tôi khóc lặng lẽ nước mắt như mưa nhào tới bên anh, ôm lấy tay anh, còn anh thì không còn đủ sức để nắm tay tôi nữa. Thời gian như ngừng lại, các anh xung quanh cũng yên lặng ngậm ngùi.

Tôi không thể nào quên được đêm hôm ấy, trước đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt mà tôi chắc trước kia đẹp đẽ oai phong lắm trong bộ quân phục VNCH, bây giờ thì chao ơi là tội nghiệp, họ chỉ còn là những bộ xương người biết cử động. Thương người, thương mình tôi khóc đến đau nhức cả hai mắt. Chồng tôi thì nằm thoi thóp, miệng vẫn cố cười, chắc anh đã mãn nguyện? Đứa con gái út của anh mới tám tháng nên hãy còn bú mẹ. Hai bầu sữa căng nhức, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi mọi người ra xa để vắt sữa. Tôi bưng chén sữa bỏ thêm hai muỗng đường rồi đổ cho chồng tôi từng muỗng một.

Chồng tôi có lẽ nhờ vào mấy chén sữa của tôi mà tới sáng anh đã tỉnh hẳn. Mấy anh bạn cứ chọc anh là uống sữa tiên nên mới được như vậy.

 Sau chuyến đi ấy tôi ngã bệnh cả tuần lễ. Vừa khỏi là tôi lại sửa soạn đi một chuyến nữa vì tôi biết chồng tôi rất cần thuốc men và tẩm bổ. Hai chân anh ấy không mang nổi tấm thân gầy chỉ còn 40 ký lô. Nỗi buồn lo này chưa hết, lại đến nỗi buồn vì con bé không thèm sữa mẹ nữa. Thế là tôi mất thêm niềm hạnh phúc vô biên là được ôm con, ngắm cái miệng xinh xinh của con như gắn liền với bầu vú mẹ để được mẹ chuyền cho giòng sữa chan chứa yêu thương. Các cụ đã nói là khi đang cho con bú thì không được cho ai sữa của mình kẻo trẻ sẽ chê sữa mẹ. Tôi cũng tin như thế nhưng biết làm sao hơn khi thấy chồng tôi cũng đang cần sức sống.

 Muốn có thuốc men và đồ ăn cho chồng thì phải lo tiền nhiều hơn. Bán ngoài đường bị đuổi, tôi xoay ra làm bánh croissant ở nhà. Tối nào tôi cũng nhờ mấy cậu hàng xóm sang nhào bột hộ, xong bắt bánh rồi chờ bột nở cho vào lò. Lúc đầu tôi tự làm, tự bán nhưng sau tôi để bà con lối xóm lấy bánh đi bán các nơi, bán nhiều thì lời nhiều. Nếu không bán hết thì tôi lấy lại để nướng khô bán cho các chị đi thăm nuôi. Vậy mà cũng chẳng được bao lâu thì hết vốn vì bánh thì vẫn phải làm mà tiền thì không thu về được vì ai cũng nghèo nên dù bánh bán hết cũng không đủ tiền mua gạo nên lại khất tôi lần sau, rồi lần sau nữa… Dù sao tôi vẫn phải cố xoay sở cho có đủ tiền đi thăm nuôi chồng.

 Tới năm 1977, chồng tôi bị “biên chế” chuyển từ Kà Tum qua Trại An Dưỡng Biên Hòa. Lúc đó chúng tôi mới được đi thăm chính thức. Cán bộ trong trại đã gửi giấy về nhà, cho phép thân nhân đi thăm sau gần hai năm biệt tăm tin tức. Có được đặc ân này là do những xôn xao, bất mãn của gia đình tù nhân cải tạo. Sau lần thăm đó, anh bị đưa ra Bắc lúc nào tôi không hay.

 Thời gian này là khủng khiếp nhất vì họ đổi anh đi lung tung, nào Lào Cai, nào Yên Bái, nào Lạng Sơn! Vừa được tin ở nơi này thì đã bị chuyển đi nơi khác, không có cách nào thăm nuôi được. Tôi phải mua chui những tấm phiếu để được phép gửi quà, mỗi gói chỉ có 3 kg thôi, địa chỉ phải viết theo ám số. Tôi phải làm thịt kho với cả chai nước mắm, hy vọng mặn thì để được lâu vì không biết bao giờ gói quà mới tới tay người nhận. Trông thấy tôi kho thịt, các con tôi nói: “Bố sướng quá, có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình!” Còn gì đau khổ và xót xa hơn cho tôi khi nghe thấy câu so sánh thơ ngây này!!

 Cuối cùng tôi cũng tìm ra được họ chuyển anh về Vinh-Nghệ Tĩnh. Tôi và chị anh vội ra thăm. Vì không có giấy phép nên chúng tôi phải đi tàu với giá chợ đen, nghĩa là đi từng chặng một và giá vé gấp đôi. Tới nơi tôi sẽ vào báo công an là tôi bị mất cắp nên mất luôn cả giấy phép thăm nuôi và xin họ chứng nhận cho. Phải có giấy đó tôi mới được phép vào trại thăm chồng tôi. Tôi đã phải nói dối mới thoát qua ải lính gác.

 Vừa xuống tàu là tôi đã hoảng sợ vì dân địa phương đứng chỉ chỏ bọn tôi: “Vợ ngụy kìa!” Cũng may họ không ném đá chúng tôi như đã ném đá các anh khi phải chuyển ra Bắc. Chúng tôi tới nơi là chiều thứ Bảy, họ không kiếm được chồng tôi. Qua ngày Chủ Nhật tôi vẫn còn hy vọng gặp mặt vì họ nói anh đi xa làm việc, đã cho gọi rồi, thứ hai sẽ gặp. Đêm Chủ Nhật, tôi nằm mê thấy anh về báo cho tôi biết là anh đã chết!? Anh linh thiêng như vậy chăng? Tôi tỉnh dậy khóc quá trời làm thức giấc mọi người. Các chị đi thăm nuôi an ủi tôi “Sinh dữ tử lành, yên chí đi, mai được gặp”. Tôi không thể nào tả được hết nỗi buồn lo, bối rối của tôi đêm đó và thức luôn đến sáng, không thể nào ngủ lại được. Mờ mờ sáng tôi đã dậy. Mọi người lo nấu cơm vì nghe nói ở đó không bao giờ tù nhân có cơm ăn. Trời sáng hẳn. Dưới lớp sương mù của núi, từ trên nhìn xuống, tôi thấy từng toán người đi ra lao động. Tôi như người mộng du, như có ai đẩy tới, tôi từ từ đi xuống chân núi, nơi cấm các thân nhân tù cải tạo tới gần. Toán 1 đi qua, rồi toán 2, rồi toán 3, tôi nghe thấy tiếng gọi “Chị Chung, chị Minh” và tiếp theo tiếng ai la to: “anh Chung chết rồi!” Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.

 Khi tỉnh lại, tôi thấy tay chân bị trói vào trõng tre, y sĩ đang chích thêm hai mũi thuốc khoẻ. Tôi nghe kể là tôi đã ngất đi và họ khiêng tôi lên núi cả tiếng đồng hồ qua rồi. Họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã làm gẫy kim chích. Tôi nói tôi không sao, cởi trói ra cho tôi. Sau cơn choáng quá đau tôi lại trở thành bình tĩnh quá làm họ cũng phát hoảng luôn. Tôi yêu cầu gì thì họ cũng cho phép hết. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kí lô quà tôi mang đến. Ai cần gì thì lấy rồi viết thư về nhà nhắn vợ con đem tiền trả tôi. Cuối cùng cán bộ mang đến cho tôi một cái túi xách tay, trong chả có gì ngoài bộ bà ba cũ mèm của chồng tôi. Họ cho tôi một chén cơm hẩm, hôi mùi gạo mốc, trên có quả trứng luộc dể mang ra mộ. Trẻ em theo sau để nhìn bát cơm, trầm trồ: “cơm kìa! cơm kìa!” tôi đi như một thây ma sống, mắt mở to mà nào có nhìn thấy gì, tai cũng chẳng nghe thấy gì, bước thấp bước cao theo hai người dìu tôi đi, tim như đau buốt, nước mắt chảy không ngừng. Khi ra tới mộ tôi lại ngất đi một lần nữa. Giá mà khi ấy tôi được đi luôn theo chồng tôi thì hay biết mấy!

 Tôi trở về nhà với một thân xác rã rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng gì, mắt mở to mà chả nhìn thấy gì. Tôi đã phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần. Rất may cho tôi và các con tôi là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận tình.

 Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hàng chữ “Người nhận đã chết. Trại yêu cầu hoàn.” Ra bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà. Tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa. Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”. Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!) Can tội: Giảng viên tâm lý chiến xã hội học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Án phạt tù: 3 năm; nhưng khi chết đã 3 năm 7 tháng. Nếu họ đúng lời chắc chồng tôi không thể chết.

 Thế là xong là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng vì bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội tình gì. Bên nội, bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để 1 đứa con xa tôi. Tình thương con đã thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm thì tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”. Tôi không chịu đi họp tổ, họp phường gì cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp. Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thì anh đã chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không còn gì phải họp với hành nữa”.

Lúc trước mình ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt thì họ xét cho chồng về sớm. Nay tôi không còn gì để sợ nữa thì họ lại để tôi được yên thân.

 Tôi bắt đầu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi tìm đất hứa không biết bao nhiêu lần. Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần. Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận vì thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi. Bị bắt tù đày thì lại càng hối hận hơn vì các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ. Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi. Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng, ỉa chảy thì cũng ghẻ lỡ ghê hồn. Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa. Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi.  Nhưng dù sao đi nữa cũng còn có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học trò trong trường.

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt vì “nhất thân, nhì thế” của xã hội lúc bấy giờ. Phận mình thì xong rồi, bạn bè tôi còn rất nhiều có chồng đang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ gì cho tù ăn được thì mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm. Trong cái tình đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ. Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu” cho các con ăn. Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng. Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt thì cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó. Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó. Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đã thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái trõng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh. Chị đã không thể “cho anh” và điều này đã khiến anh nổi giận nghĩ là chị đã có “ai khác” ngoài đời. Chị đã bị anh chửi bới tơi bời còn gì thê thảm hơn nữa không? Thời gian đã qua tôi hy vọng anh đã thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó. Mặc dù giờ thì anh chị cũng đã xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc. 

 Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội. Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm. Dễ nóng giận và mặc cảm đầy mình. Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước. Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng. Ông chồng lại muốn may để mặc vì ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới. Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tý tiền lo cho gia đình nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.” Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người. Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của mình; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”. Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu của vợ tù cải tạo.  

 Thắm thoát đã qua 7 năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đã dễ thở vì chị em bạn bè ở ngoại quốc đã bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh. Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!! Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum. Tôi phải gửi mẹ tôi tại Nghệ Tĩnh để cùng với người cháu đi vào K3 chỗ họ chôn xác Anh. Đường thì xa, đất sét trơn trượt tôi nghĩ đành phải bỏ cuộc vì hai bàn chân đã sưng rát. Tôi ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa van vái “anh có linh thiêng xin phù hộ cho em tới nơi để mang anh về gần em và các con”.  Đang gục đầu khấn nguyện thì nghe tiếng xe lọc cọc do một con trâu kéo, trên là các cán bộ đi công tác về. Họ tra hỏi và tôi “thành khẩn khai báo” nên họ cho tôi lên xe quá giang tới tận nơi. Tôi nhờ người cháu trở lại để đón Mẹ tôi trở vào trại ngày hôm sau để bốc mộ. Tôi không thể nào quên cái cảm giác hãi hùng khi được anh cán bộ đưa lên núi, chỗ đó là chỗ để các thân nhân tù lên ở tạm qua đêm vì không có xe về ngay. Khổ cho tôi là khi tôi tới nơi thì chỉ có một mình, có sợ cũng chẳng làm sao hơn được tôi đành cầu cứu nơi các đấng thiêng liêng, Chúa Mẹ, Phật Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cầu chồng tôi che chở bảo vệ tôi. Cứ mở mắt to mà van xin cầu nguyện đâu có dám nhắm mắt mặc dù đã quá mệt mỏi. Rất may trời bắt đầu tờ mờ sáng là mẹ tôi đã đến nơi. Chúng tôi được cán bộ hướng dẫn đi tìm mộ, may mắn tôi gặp được anh cán bộ người miền Nam rất tốt bụng đã cho phép chúng tôi được gặp những người đã chôn chồng tôi lúc trước. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là gì và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đã tan vào với cát, chỉ còn bộ xương trắng mà các bạn anh đã từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng mò tìm cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có hình dáng 2 người đứng bên nhau đã được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đã làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt. Anh đã phải cất giấu bao ngày vì nếu cán bộ thấy là bị tịch thu ngay. Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ vão trong một cái bị to để chúng tôi mang về. Còn tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh.

 Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nhìn và khẻ gọi mẹ.  Tôi quay lại giúp cô bạn còn vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang thì lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên ngoảnh mặt lại nhìn và lại bỏ đi luôn. Đem đồ lên đặt cùng chỗ với bà cụ chúng tôi lại quay lại trở lại để đem nốt chỗ còn lại, tôi bảo cô bạn, có lẽ anh tù kia quen Liễu đấy. Ta thấy anh gọi Mẹ lại kêu tên Liễu đó. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ cán bộ chồm lên đường kêu Liễu. Anh dây, Tuấn đây mà. Lúc đó bà cụ cũng đã trở lại và nhận ra con, cụ khóc òa ôm lấy anh tù, còn Liễu cũng khóc nhưng la “không phải anh mà” không phải anh đâu. Người chồng yêu quý vì tháng năm đói khổ phải ăn khoai mì nên mặt anh ta biến dạng vì quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai mì làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả. Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi còn sống thì mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

 Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đò, mọi người ngồi chật cứng trong xe, còn có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm. Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đã tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi. Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm vì mẹ con tôi ngơ ngác với xứ lạ quê người. Mẹ tôi phải lấy giây buộc cái bị và cuốn quanh người. Chỉ sợ lỡ mất đi thì khổ lắm. Tôi hồi hộp sợ hãi còn hơn khi đi vượt biên nữa.  Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm tình và nhờ có “thủ tục đầu tiên” (xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành. Sáng hôm sau cũng nhờ có ông quản lý nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát. Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đã có ơn trên che chở nên đã mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn. Vì nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu mà nếu họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng xuơng đi. Giờ đây lâu lâu tôi lại có cơn ác mộng gặp lại cái cảnh mà công an đi sục sạo trên tàu, bắt mở tất cả mọi thứ để khám xét là tôi hét lên bật giậy mồ hôi ướt đẫm người. Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi vì nhớ thương anh và tủi phận mình đơn độc.

 Hiện tại thì chồng tôi đã được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở Bình Dương. Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa vì họ còn tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đình tôi đã phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tả của tháng 6 năm 1994. Được gia đình cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ. Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đã khiến tôi mất hết niềm tin. Tôi chỉ còn biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

 Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Nay các con tôi đã lớn, đã thành đạt và rất hiếu thảo. Chúng hết lòng lo lắng, chăm sóc tôi. Tôi thật mãn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng mãi được. Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng. Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, còn lại một mình tôi, tôi lại thấy sợ hãi. Những năm tháng khổ cực, hãi hùng của thời dĩ vãng lại kéo đến ám ảnh tôi. Hình ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên trõng tre lại chập chờn quanh tôi. Tôi đã thì thầm với anh: “Đợi em đi cùng!” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên để được xum họp với chồng tôi. Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia dình có 4 năm 5 tháng. Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa.  Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!! 

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ …

Lisa Lê and Sonny-Judy La shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting, motorcycle and outdoor

Thông Điệp Cuộc Sống

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ ……..

Chú xe ôm dừng xe trước cổng cho cô sinh viên xuống. Bất ngờ cô đưa chú gói quà và nói:
– Chú về nhà rồi mở ra xem nhé.

Bắt đầu ngày mai cháu không đi học nữa, hôm nay cháu đã tốt nghiệp rồi. Cám ơn chú nhiều.
Chú xe ôm về nhà, cất xe, vào phòng mở gói quà ra, ngoài bộ quần áo còn có cả số tiền rất lớn, và một bức thư như sau:

”Thưa thầy, em là Tuyết Lan học toán với thầy năm lớp sáu ở trường Nguyễn Trãi. Lên lớp chín thì em nghe tin thầy bị giảm biên chế, đồng thời thầy cũng bị đau dây thanh quản nên khó nói. Từ đó thầy đi lái xe ôm kiếm sống, lúc nào cũng đeo khẩu trang kín mít để đừng có học trò nào nhận ra. Nhưng em đã nhận ra thầy khi thầy ngồi đón khách ở ngã tư Bình Hưng. Từ đó, em không tự đạp xe đi học nữa mà đặt mối thầy chở em đi học suốt hết lớp chín, hết phổ thông, và lên đại học.

Sáng nào đi học em cũng lấy theo 3 phần ăn, một cho em đến lớp ngồi ăn, hai biếu thầy một phần, và ba là biếu bà bán vé số nghèo ở góc đường Nguyễn Du. Ngày nào em cũng mua cho bà mấy tờ vé số, rất mong trúng số, nhưng chẳng hy vọng lắm.

Bố mẹ em hay thắc mắc về hành vi của em, nhưng vì cưng em nên bố mẹ cũng chìu ý em.
Em phát hiện thầy rất yêu nghề dạy học. Dù không đến lớp nữa, nhưng thầy đã lập một trang web dạy kèm cho tất cả ai bị yếu toán.
Thầy đã dạy dỗ tận tình, giúp nhiều bạn lấy lại căn bản toán bị mất, để các bạn có nền tảng học tiếp. Thầy cứ tập trung hướng dẫn biết bao học sinh trung học cơ sở trở nên vững về toán.

Thì ra ban ngày thầy chạy xe ôm, ban đêm thầy lên internet để dạy học miễn phí. Em nhận ra thầy vì cái cách nói quen thuộc của thầy vào cuối các buổi học là “các em gắng học để sau này phụng sự cho đời”.

Bây giờ lên mạng thầy vẫn nói câu đó. Trong cuộc đời thực, thầy là chú xe ôm đen đúa vất vả, nhưng trên mạng thầy vẫn còn uy phong của một thầy giáo tận tụy hiền lành.

Hình như trời không phụ lòng người, thầy không biết là em mua mãi rồi cũng trúng số độc đắc, lúc đó em đang học năm thứ ba. Em lĩnh tiền rồi đưa hết vào gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Em kiên nhẫn chờ đến hôm nay.

Hôm nay em đã tốt nghiệp nên sẽ không còn đi xe ôm nữa mà sẽ tự lái xe máy đi làm. Em kính biếu thầy một phần số tiền trúng số độc đắc của em như chút lòng tri ân của người học trò ngày xưa, mà sự thành công của em hôm nay đã có không ít ơn thầy trong đó.”

“Nhất tự vi sư – Bán tự vi sư.”

Mai này dù có đi xa, không còn hằng ngày ngồi trên xe của thầy nhưng em vẫn luôn nhớ về “chú xe ôm” thân thể gầy gò có trái tim tình người quý báu, và dưới mái tóc đã bạc ấy là một tâm hồn cao cả.

  CHUYỆN NGƯỜI ĂN MÀY

  CHUYỆN NGƯỜI ĂN MÀY

Victor sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở nước Anh. Cha mẹ của cậu đều dựa vào làm thuê để sinh sống. Mặc dù họ sống trong nghèo khó, nhưng mọi thành viên đều không vì vậy mà đánh mất đi sự chính trực, lòng lương thiện và nhân ái.

Khi còn bé, Victor đã từng gặp một ông lão ăn mày đáng thương gõ cửa xin ăn. Lúc ấy đang là giữa mùa đông, bên ngoài gió tuyết không ngừng thổi, ông lão ăn xin vừa đói vừa lạnh. Mẹ Victor trên tay chỉ còn vẻn vẹn mấy đồng tiền lẻ, nhưng đều đưa hết cho ông lão ăn mày. Victor nhìn mẹ cảm thấy thật khó hiểu..

Người mẹ nói với Victor, “Chúng ta ăn ít đi một bữa thì có thể cứu sống được một mạng người.” Victor lớn lên trong hoàn cảnh luôn chứng kiến những lời nói và việc làm mẫu mực của cha và mẹ.

Vài năm sau đó, Victor khi ấy đã trưởng thành. Trong một lần gặp gỡ bạn bè, anh quen được một cô gái có dung mạo xinh đẹp. Thế rồi rất nhanh, hai người họ đã yêu nhau.

Nhưng, cha của cô gái là một quan tòa, không muốn con gái mình lấy một người thanh niên nghèo chỉ có hai bàn tay trắng. Vì vậy, ông nói, “Khi nào cậu kiếm được đủ 10 ngàn bảng Anh thì mới nhắc tới hôn sự này.”

Mười ngàn bảng Anh, đối với một người trẻ tuổi vừa mới ra ngoài xã hội mà nói, thật sự là điều không thể nào thực hiện được..

Victor thất vọng đi tìm người bạn tốt của mình để tâm sự giải sầu. Daniel, bạn của Victor, là một họa sĩ trẻ tuổi, đang ở nhà vẽ một bức chân dung về người ăn mày. Anh ta mời một người ăn mày đến làm người mẫu. Người này ăn mặc quần áo cũ rách, khom người, một tay chống gậy, một tay cầm bát hướng về phía trước, trên trán còn hằn sâu vài nếp nhăn.

Victor nhìn thấy vậy trong lòng xúc động vì nhớ đến người ăn mày năm xưa ở trước cửa nhà mình. Trò chuyện một lúc, anh biết được người bạn của mình trả cho ông lão đó tiền công là 10 xu/1 giờ. Victor không khỏi xấu hổ vì sự keo kiệt của anh bạn.

Lúc này, người gác cổng trước nhà đến báo, Daniel có người tìm gặp vì thế anh vội đi và để Victor ngồi lại với ông lão ăn mày. Victor nhìn thấy bộ dạng đáng thương của ông lão, tay không tự chủ được mà đưa vào túi quần, móc móc một lúc. Cuối cùng cũng móc ra được một đồng bảng Anh tiền xu. Thừa dịp Daniel còn chưa quay lại, Victor mau chóng nhét đồng bảng Anh tiền xu vào tay ông lão. Ông lão ăn mày ngẩng đầu lên nhìn Victor có chút kinh ngạc, rồi tiếp nhận mà không nói một lời nào.

Sau đó, trong một lần tụ họp bạn bè, Victor gặp lại Daniel, anh bèn hỏi thăm xem bức chân dung người ăn mày của Daniel đã hoàn thành chưa. Daniel nói cho Victor biết, ông lão ăn mày kia vốn dĩ chính là nam tước Alfred Adler, một vị danh gia vọng tộc. Sản nghiệp của ông ấy nhiều vô kể, hàng năm đều tặng tiền từ thiện rất lớn cho các tổ chức và trường đại học. Ông sở dĩ muốn để Daniel vẽ mình thành một lão ăn mày cũng bởi lòng hiếu kỳ, muốn biết xem khi mình là một tên ăn mày thì bộ dạng sẽ như thế nào.

Victor nghe xong tình huống này trong lòng cảm thấy xấu hổ vô cùng vì sự khinh suất lỗ mãng của mình khi đó. Victor nghĩ, “Người ta là phú ông tiền tỷ, còn ngươi chỉ có một đồng bảng Anh tiền xu mà dám bố thí sao? Thật là không biết lượng sức mình!”

Không lâu sau đó, Victor nhận được một bức thư do nam tước Alfred Adler gửi đến. Trong thư ông viết, “Chàng trai trẻ, ta vì sự lương thiện, chính trực và tấm lòng nhân ái của cậu mà cảm thấy tự hào. Ta được Daniel kể cho nghe về câu chuyện tình yêu đẹp đẽ của cậu. Bức thư này có lẽ có thể giúp cậu biến câu chuyện tình yêu đẹp đẽ ấy thành sự thật.”

Trong bức thư còn kèm theo một tấm thiệp chúc mừng, bên trong có tấm chi phiếu 10 ngàn bảng Anh được viết như sau, “Lễ vật thành hôn dành cho anh Victor cùng cô Alister! Một lão ăn mày kính tặng!”                                 

Nguyễn Thị Vịnh

From: TU PHUNG  

 Hãy Im Lặng Khi Giận Dữ.

 Hãy Im Lặng Khi Giận Dữ.

Một vị Samurai đến thu nợ của người đánh cá. Người đánh cá nói: “Tôi xin lỗi, nhưng năm vừa qua thật tệ, tôi không có đồng nào để trả Ngài !.” Vị Samurai nổi nóng, rút kiếm ra định giết người đánh cá ngay lập tức. Rất nhanh trí, người đánh cá nói: “Tôi cũng đã học võ, và Sư phụ tôi khuyên: không nên đánh nhau khi đang tức giận !.”

Vị Samurai nhìn người đánh cá một lúc, sau đó từ từ hạ kiếm xuống. “Sư phụ của ngươi rất khôn ngoan. Sư phụ của ta cũng dạy như vậy !. Ðôi khi ta không kiểm soát được nỗi giận dữ của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm để trả nợ và lúc đo chỉ thiếu một xu thôi, chắc chắn ta sẽ giết ngươi !.”

Vị Samurai trở về nhà khi đã khá muộn. Ông nhẹ nhàng đi vào nhà vì không muốn đánh thức vợ, nhưng ông ta rất bất ngờ khi thấy vợ mình, và một kẻ lạ mặt mặc quần áo Samurai đang ngủ trên giường. Nổi điên lên, vì ghen và giận dữ, ông nâng kiếm định giết cả hai, nhưng đột nhiên lời của người đánh cá văng vẳng bên tai: “Ðừng hành động khi đang giận dữ !.”

Vị Samurai ngừng lại, thở sâu, sau đó cố tình gây ra tiếng động lớn. Vợ ông thức dậy ngay lập tức, kẻ lạ mặt cũng vậy, hoá ra đó chính là mẹ ông.

Ông gào lên: “Chuyện này là sao vậy ?. Suýt nữa con đã giết cả hai người rồi !” Vợ ông giải thích: “Vì sợ kẻ trộm lẻn vào nhà nên thiếp đã cho mẹ mặc quần áo của chàng để doạ chúng !.”

Một năm sau, người đánh cá gặp lại vị Samurai. “Năm vừa qua thật tuyệt vời, tôi đến để trả nợ cho Ngài đây, có cả tiền lãi nữa”, người đánh cá phấn khởi nói.

-“Hãy cầm lấy tiền của ngươi đi !.”  Vị samurai trả lời, “Ngươi đã trả nợ rồi !”

Nguồn: nghethuatsong.org

Tránh chiếc áo từ bi

Tránh chiếc áo từ bi

Chuyện xưa kể rằng, có một hiệp khách bôn tẩu giang hồ. Người này rất giỏi võ công, lại có tâm trừ gian diệt bạo, bênh vực kẻ yếu thế. Ngày nọ hiệp khách đi ngang qua ngôi làng, gặp lúc bọn cướp đang cướp bóc của dân lành liền ra tay trừ bạo. 

Với thanh kiếm quý trên tay, anh ta chiến đấu và lần lượt hạ gục nhiều tên cướp. Sau cùng tên đầu sỏ bỏ chạy vào một ngôi chùa ở cuối  làng. Hiệp khách đuổi theo, đến chùa anh tra kiếm vào vỏ rồi thận trọng đi vào chùa. Tới chánh điện, anh đảnh lễ Phật và sau đó đi tìm tên cướp.

Nhưng thật lạ hắn biến đâu mất. Hiệp khách đi vào hậu liêu, đến trai đường thì thấy một người mặc áo nhà sư đang ngồi quay mặt vào trong. Anh bước vào, định hỏi thăm, thì bất ngờ người này rút thanh kiếm giấu dưới gầm bàn, quay phắt lại phạt ngang một đường, tiếng kiếm rít trong gió nghe rợn người. Nhưng thật may, với võ công tuyệt đỉnh, hiệp khách ngả người ra sau, tránh được nhát kiếm chí mạng ấy.

Ngay tức thì, hiệp khách nhảy ra ngoài sân chùa rút kiếm giao đấu với tên cướp. Và lát sau dân làng cũng kéo đến rất đông để chứng kiến trận so tài. Họ thấy một điều rất lạ là người hiệp khách chỉ tránh những đường kiếm hiểm ác của tên cướp. Còn khi tấn công, anh ta chỉ cố đưa mũi kiếm của mình vào những vị trí nút thắt của chiếc áo cà-sa mà tên cướp đang mặc… Với tuyệt kỹ của mình, người hiệp khách cũng lần lượt phạt đứt những chiếc khuy vải của áo cà-sa. Và đường kiếm sau cùng thay vì kết liễu tên cướp, hiệp khách dùng mũi kiếm hất tung chiếc áo cà-sa ra khỏi người tên cướp.

Chiếc áo bay lên, sáng ngời không gian và khi rơi xuống lại phủ đúng lên thân thanh kiếm và người ta chỉ còn thấy chiếc mũi kiếm đang gí ngay yết hầu của tên cướp. Tên cướp buông kiếm đầu hàng và dân làng liền ùa vào trói gô hắn lại…

Một bô lão trong làng, chắp tay cảm tạ người hiệp khách và hỏi: Tráng sĩ võ công cao cường như vậy sao không hạ hắn sớm mà cứ vờn hắn làm dân làng lo quá? Người hiệp khách nói rằng: Dù hắn là tên cướp, nhưng tôi cố tránh chiếc áo từ bi nhà Phật mà hắn đang khoác trên người, mặc dù trước đó hắn đã dùng chiếc áo để bẫy tôi…

Chuyện của ngày xưa nhưng vẫn còn nguyên giá trị với hôm nay. Hiện tại, rất có thể có ai đó lợi dụng chiếc áo để bẫy người khác, dù đó là cá biệt. Chiếc áo nhà Phật và kẻ xấu là hai chuyện rất, rất khác nhau, không thể đánh đồng với nhau được. 

Phật pháp muôn đời bất ly thế gian pháp. Thế gian đầy sân si mộng ảo, không việc chi mà không có tội. Vì vậy nên như hiệp khách kia cần hết sức cẩn thận với những hành động cũng như phát ngôn của mình, nhất là với chiếc áo từ bi của nhà Phật. Nếu bên trong chiếc áo tu là một kẻ bất thiện, thì trước tiên hãy đánh bật chiếc áo ra khỏi người kẻ xấu, tránh làm tổn hại đến biểu tượng tốt đẹp của những bậc chân tu nói chung…

 Hoàng Dũng Hùng

From: TU-PHUNG

MỘT BÔNG HOA

MỘT BÔNG HOA

Có một cô gái bán hoa sau khi đã bán gần hết số hoa của của mình cũng là lúc cô phát hiện trời đã tối, cô liền quyết định về nhà sớm hơn dự định. Lúc này, cô phát hiện giỏ hoa của mình vẫn còn một bông hoa hồng chưa bán hết, cô liền đem tặng bông hoa hồng đó cho một người ăn xin bên đường rồi vui vẻ trở về nhà.

Người ăn xin chưa bao giờ nghĩ rằng lại có một việc tốt như vậy xảy đến đối với mình, lại có một cô gái xinh đẹp tặng cho mình hoa hồng, đúng là mặt trời mọc từ đằng Tây rồi, thế nên anh ta quyết định không ngồi ăn xin nữa mà trở về nhà.

Về đến nhà, anh ta tìm một cái lọ lấy nước và cắm bông hoa hồng vào đó, đặt lên trên bàn rồi tự mình ngồi ngắm nghía. Bất chợt anh ta thấy rằng, bông hoa đẹp như vậy sao lại cắm trong cái lọ bẩn thỉu được, thế nên anh ta mang lọ đi đánh rửa sạch sẽ và cho rằng thế mới xứng với bông hoa.

Làm xong tất cả anh ta lại vừa ngồi vừa ngắm nghía bông hoa, và anh ta lại thấy rằng lọ hoa đẹp đẽ như vậy sao lại để trên một cái bàn vừa bẩn vừa lộn xộn được, thế là anh ta lại bắt đầu lau dọn bàn sạch sẽ gọn gàng.

Làm xong anh ta lại ngồi ngắm nghía bông hoa, rồi anh ta lại phát hiện ra rằng, lọ hoa đẹp đẽ là thế, cái bàn gọn gàng sạch sẽ là thế, sao lại có thể để trong một căn phòng bụi bẩn bừa bãi được, thế là anh ta lại quyết định dọn dẹp căn phòng, sắp xếp lại đồ đạc gọn gàng.

Chả mấy chốc cả căn phòng nhờ có bông hoa hồng mà tươi sáng và ấm áp hơn hẳn, đang lúc đắm chìm trong cảm giác say mê, anh ta bất chợt thấy hình ảnh của mình qua tấm gương, đầu bù tóc rối, quần áo bẩn thỉu rách nát, thế là sau bao nhiêu năm, lần đầu tiên anh ta đi tắm gội thay quần áo, mặc dù quần áo có chút cũ nhưng sạch sẽ.

Sau khi chỉnh đốn lại mình xong, soi gương anh ta phát hiện ra rằng mình trông cũng không đến nỗi nào, tại sao lại đi làm ăn xin cơ chứ? Đây là lần đầu tiên anh ta tự hỏi mình như vậy từ lúc làm ăn xin đến giờ. Anh ta nhìn lại mình trong gương rồi nhìn lại căn phòng, nhìn lọ hoa và cuối cùng anh ta đi đến một quyết định quan trọng, đó là từ ngày mai anh ta sẽ không đi làm ăn xin nữa mà sẽ đi tìm việc làm khác.

Anh ta không sợ bẩn, không sợ vất vả nên rất nhanh, anh ta đã tìm được công việc cho mình. Và cũng có thể bông hoa hồng trong lòng anh ta đã cổ vũ khích lệ anh ta không ngừng cố gắng, nên mấy năm sau anh ta đã có sự nghiệp riêng cho mình.

Rồi nhiều năm sau anh ta tìm đến cô gái năm nào để tặng lại cho cô một phần tài sản của mình, không phải vì mục đích gì, đơn giản chỉ là cảm ơn cô đã tặng cho anh ta một bông hoa hồng khi anh ta đang là ăn xin. Đối với anh ta đó không đơn giản chỉ là bông hoa hồng mà đó là một niềm hy vọng vào cuộc sống.

Trong thực tế, mỗi người đều có những ưu điểm, chúng ta cần phải tin tưởng vào chính bản thân mình, bất kể hoàn cảnh thế nào cũng không nên từ bỏ chính mình. Đừng đắm chìm trong bờ vực của sự thất bại, chỉ cần bạn thực hiện một chút thay đổi nho nhỏ bạn sẽ thấy cuộc sống của bạn sẽ có sự khác biệt.

Thay đổi chính mình, đối mặt với mọi thứ bằng một thái độ tích cực, bạn sẽ tìm được bước đột phá vượt qua mọi khó khăn, tìm ra con đường nâng cao giá trị và phát triển bản thân một cách tốt nhất.
Khi bạn thay đổi chính mình, mọi thứ cũng sẽ thay đổi.
(st)

NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI

Image may contain: 1 person
Khuc Hu Vo to Những câu chuyện thú vị

NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI

Thông tin bệnh nhân AIDS chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói:
– “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây nhiễm?”
Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối:
– “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?”.

Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại tôi – một y tá vừa tốt nghiệp ba tháng, nơm nớp lo sợ bước vào căn phòng.

Vừa vào tới phòng, người mẹ sắp sinh mỉm cười với tôi. Tôi cứ nghĩ rằng những phụ nữ mắc loại bệnh này hẳn sẽ phấn son trang điểm lòe loẹt. Nhưng không phải vậy, cô cũng như những người phụ nữ bình thường khác, khuôn mặt hiền từ, mái tóc dài ngang vai, chân đi đôi giày búp bê…

“Cảm ơn cô!” Một giọng nói trong veo và nhẹ nhàng, cô là một phụ nữ bình thường nhưng lại mắc căn bệnh không hề bình thường chút nào.

Thì ra người mẹ trẻ tại giường số 13 này là một cô giáo trung học phổ thông. Một hôm trên đường từ trường về nhà, cô bị tai nạn xe hơi. Vì mất quá nhiều máu nên cô phải truyền máu gấp và không may bị nhiễm HIV. Đến tận khi cô đi khám thai, bác sĩ mới phát hiện cô đã mắc phải căn bệnh thế kỷ. Cuộc đời cô đã bước sang một ngã rẽ mới, ảm đạm và mờ mịt với kết cục buồn phía trước.

Đáng thương nhất là đứa bé trong bụng, nguy cơ bị lây nhiễm cũng rất cao, xác suất không dưới 20% đến 40%. Người mẹ không còn hệ thống miễn dịch, vì thế các biến chứng trong quá trình sinh là vô cùng nguy hiểm.

Khi chồng cô đến đã khiến cho cả khoa một phen kinh ngạc. Chồng của một phụ nữ bị AIDS thì trông thế nào nhỉ?
Khác xa với tưởng tượng của chúng tôi, chồng cô là một nhân viên văn phòng giỏi máy tính, đeo kính cận, cao ráo, lịch sự, và có phong thái rất đĩnh đạc.

– “Anh à, anh đoán xem con chúng ta sẽ giống em hay giống anh hơn?”
Tôi đang trải ga giường, nghe thấy những câu nói nhỏ nhẹ nỉ non của đôi vợ chồng trẻ thì sống mũi cay cay, nước mắt bắt đầu rơm rớm. Thì ra họ là một gia đình hạnh phúc.

– “Tất nhiên là giống anh rồi, nếu là con gái thì mới giống em chứ!” Cô vợ nghe vậy còn phụng phịu làm nũng ra điều không chịu.

Khi tôi bước ra khỏi phòng bệnh, nước mắt tôi chảy dài, trái tim tôi chua xót vô cùng.
Hàng ngày cô ấy phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát lượng virus HIV, hầu như ngày nào cũng phải lấy máu và truyền dịch. Hai cánh tay đầy đặn, nõn nà nay đã chi chít những vết kim tiêm.
Tôi là y tá mới ra trường, vốn sống còn ít ỏi lại khá “nhát gan”. Nhất là những lúc lấy máu, tôi vẫn thường làm cô ấy đau đến chảy nước mắt, nhưng cô chưa bao giờ nổi cáu với tôi, chỉ âm thầm cắn răng chịu đựng, thỉnh thoảng còn mỉm cười nói ‘không sao’.
Chỉ vài ngày sau khi cô nhập viện, tôi dần dần rất thích cô ấy.
Tuy còn vài ngày nữa mới đến ngày sinh, nhưng cả khoa đã chuẩn bị sẵn sàng. Cô năm nay đã 31 tuổi lại mang trong mình căn bệnh AIDS, nên bệnh viện cả trên lẫn dưới đều trong trạng thái đề phòng cao độ.
Nhưng bản thân cô lại rất bình tĩnh, hàng ngày đều đọc sách và nghe nhạc, còn viết thư tình hoặc vẽ tranh tặng con yêu.

Một hôm tôi đánh bạo hỏi, tại sao cô lại sinh đứa bé ra, rằng cô có biết nguy cơ lây nhiễm là rất cao?
Cô vừa mỉm cười vừa trả lời tôi: – “Con tôi đã đến với tôi, đó là duyên nợ, hơn nữa tôi không có quyền cướp đi sinh mệnh của bất kì ai.”

Tôi do dự, nhưng vẫn quyết định hỏi: – “Nếu cháu bị nhiễm HIV thì sao?”
Cô ấy im lặng một lúc, sau đó tiếp tục nói: – “Nếu không thử thì con tôi sẽ không có cơ hội sống nào.”
Tâm trạng tôi vừa buồn vừa xót xa, không khí trong căn phòng trở nên ngột ngạt.
Khi tôi chuẩn bị ra ngoài, cô đã nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, đôi mắt rưng rưng và nói:
– “Tôi muốn nhờ cô một việc, khi tôi sinh con dù có xảy ra chuyện gì, chồng tôi nhất định sẽ cứu lấy tôi. Nhưng tình trạng của tôi cô cũng biết rồi đó, vì thế nếu thực sự xảy ra chuyện xấu, xin hãy cứu lấy con tôi.”

Tôi cảm động ôm cô và khóc, cô đúng là một người mẹ thực sự.
Dưới ánh đèn huỳnh quang nhạt màu, cô nằm yên lặng trên bàn mổ, thân dưới không ngừng chảy máu, nước ối vẩn đục đã ộc ra. Điều này có nghĩa là thai nhi đang lâm vào tình trạng nguy hiểm vì thiếu oxy. Thể chất của cô vô cùng đặc thù, không hề có phản ứng với thuốc tê, chỉ có thể chọn mổ sống để lấy thai nhi ra và chấp nhận hy sinh người mẹ. Hai là tiêm thuốc gây mê, nhưng đợi khi thuốc có tác dụng thì em bé trong bụng đã bị ngạt thở hoặc bị sốc vì liều gây mê quá cao, nhưng chỉ như vậy mới có hy vọng cứu được người mẹ.
Cả hai trường hợp đều khiến bệnh viện và gia đình lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.
Cô nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như van nài, giọng nói yếu ớt nhưng rất kiên quyết:
– “Cứu lấy con tôi, nhanh cứu lấy con tôi, không cần phải quan tâm đến tôi…!”

Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái nhìn tuyệt vọng đến vậy, trong một căn phòng cũng tuyệt vọng như thế. Một người phụ nữ không thể gây tê, cũng không thể gây mê khi mổ đẻ, bao nhiêu bác sĩ đứng đó đều bất lực.
Con dao phẫu thuật nhanh chóng được đưa xuống bụng dưới, lớp da, lớp mỡ, lớp cơ, niêm mạc rồi tử cung… Người mẹ co giật từng cơn, toàn thân giãy giụa, quằn quại, mắt trợn ngược, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn, miệng cắn chặt chiếc khăn trắng và rên lên từng cơn xé lòng.

Tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến những giọt nước mắt của cô rơi xuống lã chã. Và tôi biết, đó không chỉ là đau đớn mà còn là tình yêu của người mẹ.
Đến tận hôm nay tôi mới hiểu vì sao làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bởi mỗi đứa con chào đời là biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu nhọc nhằn, thậm chí là hy sinh cả tính mạng của mẹ.
Cuối cùng, thai nhi đỏ hỏn cũng được đưa ra và khóc lên tiếng khóc yếu ớt đầu đời.
Người mẹ vừa ngất lịm đi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của con nên cô cố gắng hé mở đôi mắt liếc nhìn về phía con yêu, nhưng rồi mí mắt sưng húp nặng trịch lại vội vã cụp lại.

Tôi vội vàng tháo đai cố định ở chân và tay cho cô, vì gồng mình vật lộn với cơn đau, cổ tay cổ chân cô đều rớm máu. Hai mắt tôi đẫm lệ, trái tim tôi cũng như thắt lại…

Thật khó để tin rằng đây là một người mẹ AIDS, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy con trai của mình. Đôi mắt cô nhắm lại và sẽ không bao giờ còn mở ra được nữa. Cô bị nhiễm trùng nặng và không thể cầm được máu nên đã mãi mãi ra đi.
May mắn là em bé âm tính với virus HIV. Tôi tin rằng ở trên cao kia, cô cũng đang mỉm cười mãn nguyện.

Khi làm vệ sinh phòng bệnh, tôi đã tìm thấy một lá thư dưới gối của cô, bên trong còn vẽ một bức tranh ông mặt trời, bên dưới mặt trời là một đôi tay nhỏ. Cô viết cho con trai rằng:
– “Con yêu, cuộc sống giống như mặt trời, hôm nay lặn xuống ngày mai nhất định sẽ lại lên.”

Tôi không thể ngăn những giọt nước mắt, cuộc sống thật quá mong manh và cũng thật mạnh mẽ. Người mẹ nào mà chẳng thương con? Vậy cớ sao chúng ta lại phải phân biệt đối xử?
Cuối cùng tôi đã hiểu, cô cũng như những người mẹ bình thường khác, dũng cảm để giành lấy sự sống cho con.

Khi đứa bé được xuất viện, cháu nằm yên bình trong vòng tay cha. Ban đầu đứa trẻ khóc rất to, giống như biết mẹ nó sẽ không bao giờ còn quay về nữa. Nhưng nó chợt ngừng khóc khi tôi đặt bức thư lên ngực. Dường như trong lòng bé cũng đang mỉm cười khi nhận lấy cuộc sống vĩnh cửu này. Mai này lớn lên em sẽ biết rằng, mẹ của em là người mẹ vĩ đại nhất trên đời.
Fb le Tu
St.
#ncctv

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=280623729886328&id=100038161083648    

TĨNH THỨC

TĨNH THỨC

  1. Tỉnh thức: Vật chất dư thừa

Trong những xã hội tiên tiến, tỉnh thức không phải là một điều dễ làm, bởi vì vật chất dư thừa bao quanh khiến mình khó phân biệt đâu là thần tài, đâu là thần chết.

Chuyện kể rằng có hai tên tướng cướp một hôm đi ngang qua cánh rừng, bất ngờ cả hai cùng bắt gặp một người đàn ông tuổi trung niên đang hốt hoảng bỏ chạy, tay chỉ vào trong rừng, miệng hét to,

– Thần chết! Thần chết!.

Thấy chuyện lạ, hai tên tướng cướp chặn người đàn ông lại, kề dao vào cổ, vặn hỏi,

– Thần chết ở đâu mà nhà ngươi vừa chạy vừa hét ầm ĩ lên như vậy? Mát hả? Hay là té giếng sâu mười tám thước?

Lạ thay, mặc dù bị dao sắc chạm ngay cần cổ, người đàn ông vẫn không tỏ vẻ sợ hãi, nhưng tiếp tục chỉ tay vào rừng, tiếp tục hét to,

– Thần chết! Thần chết!

Thấy người đàn ông có thái độ lạ kỳ, hai tên tướng cướp liền để mặc người đàn ông một mình, rồi cả hai đi sâu vào bià rừng về hướng tay chỉ của người đàn ông. Thật bất ngờ, mới lần mò vào bià rừng được khoảng ném một cục đá, hai tên tướng cướp khám phá ra một cái hang bên trong chất cao đầy vàng bạc và kim cương. Thấy kho tàng bất ngờ xuất hiện trước mặt, hai tên tướng cướp mắt sáng ra. Rồi không ai nói ai, cả hai tên cướp thay phiên nhau đào vàng bạc, hốt kim cương cho vào những bao bố, chuẩn bị mang về thành phố. Cả hai vừa đào vàng, vừa hốt bạc, tâm hồn lâng lâng nghĩ tới ngày mai, một ngày mai tươi sáng với một kho tàng trời tặng ban cho thật bất ngờ. Sau một hồi loay hoay với kho vàng, cả hai tên cướp cùng đói bụng. Một tên mới đề nghị,

– Thôi, để tao vào thành phố. Mi cứ ở đây, đào tiếp, đợi tao mua bánh mì mang về tụi mình ăn trưa nhé.

Đang đói bụng, nghe bạn nói vậy, tên kia gật đầu đồng ý liền. Trên đường đi mua bánh mì ăn trưa, tên cướp thứ nhất bất ngờ động lòng tham, hắn nghĩ, ‘Thôi kệ, bây giờ mình ghé vào tiệm thuốc Bắc mua thuốc chuột nhét vào ổ bánh mì kẹp thịt. Như vậy cả nguyên một kho tàng sẽ thuộc hẳn về mình’. Nhưng cũng không ai ngờ, trong hang núi, tên cướp thứ hai cũng động lòng tham y như tên cướp thứ nhất. Cho nên, hắn bậm môi đứng nép ngay cửa hang, tay giơ cao thanh đao đợi chờ. Bởi không tỉnh thức, không nghi ngờ, tên cướp thứ nhất không chuẩn bị. Cho nên vừa mới ló đầu vào, đầu hắn rụng xuống, rơi lăn nghe kêu lông lốc trên nền đất khô. Giết chết bạn xong, tên cướp thứ hai tỉnh bơ ngồi xuống, lấy bánh mì có ướp thuốc chuột ra ăn. Nhưng bánh mì vừa kịp trôi qua cổ họng, hắn trợn mắt lên, rồi giãy đành đạch té chết nằm sõng soài bên cạnh xác đồng nghiệp còn chưa kịp lạnh. Thế là thần tài rớt mặt nạ xuống, hiện nguyên hình thần chết.

Tỉnh thức? Khó đấy!

II. Tỉnh thức: Giật gấu vá vai

Đối với những cuộc giật gấu vá vai, tỉnh thức cũng không phải là một điều dễ thực hiện, bởi vì đời sống vật chất thiếu thốn khiến người ta cũng dễ dàng bị mập mờ lẫn lộn giữa hạnh phúc bây giờ và bất hạnh tương lai.

Chuyện kể rằng tại một thôn làng có một cặp vợ chồng son. Cả hai rất hạnh phúc, nhưng chỉ tội nghèo. Bởi thế chồng phải ngày ngày vào rừng đốn củi kiếm tiền. Vợ ở nhà xúc cá bắt tép mang ra chợ bán. Cả hai quần quật làm việc đầu tắt mặt tối, thế mà vẫn không thoát cảnh cơm trưa trộn sắn, cơm chiều trộn khoai. Nhưng mặc cho phận nghèo tiếp tục theo đuổi, hai vợ chồng rất thương yêu nhau. Tối trong khi chồng đang ngồi xếp đống củi chuẩn bị mang ra chợ bán vào sáng sớm ngày hôm sau, vợ ngồi bên cạnh ướp muối từng chú cá xúc được trong ngày. Lâu lâu hai vợ chồng nhìn nhau, cười tủm tỉm thương yêu mặn nồng.

Bất ngờ, vào một ngày kia, trong khi đang vớt tép, vợ khám phá ra trong rổ lóng lánh một cục đá. Ánh sáng của hòn đá sáng lấp lánh che tối ánh bạc mặt trời nhiệt đới và cả những chú cá rô đồng lớn bằng bàn tay đang dãy dụa trong rổ. Mang hòn đá lớn bằng trái trứng chim câu về nhà, vợ nhờ người mang đi bán. Thế là bắt đầu kể từ đó đời sống của hai vợ chông thay đổi, chồng thôi phận tiều phu, vợ thôi kiếp xúc tép. Cả hai trở nên giàu có với nhà cao cửa rộng, người ăn kẻ ở tấp nập. Và cũng bắt đầu từ đó, người chồng một thời tiều phu bắt đầu đổi tính. Anh không còn tối tối quây quần xum họp với vợ trong túp lều tranh nữa, nhưng ngày đêm la cà nơi quán rượu nhà chứa… Và cũng bắt đầu từ đó, người vợ một thời xúc tép đổi hình. Chị ăn mặc sang trọng phấn son rỡ ràng, thường xuyên xuất hiện nơi sòng bạc casino… Có người còn nói chị trở nên gái gọi hạng sang… Thực hư chẳng ai biết. 

Tỉnh thức? Khó đấy! 

III. Tỉnh thức: Chốn thiền môn

Trong đời sống thiền môn, không tỉnh thức cõi thiền sẽ nhập nhằng hóa ra cõi trần.

Chuyện kể rằng, có nhà tu sĩ thuộc phái hành khất bình bát có lần dừng bước ngồi ăn xin dưới gốc đa đầu làng. Người trong thôn đi ngang qua, họ nhận ra gia tài duy nhất người tu sĩ sở hữu là hai cánh áo tăng và cái bình bát làm bằng gỗ. Tuy nghèo, nhưng nhà tu sĩ rất là hạnh phúc. Khuôn mặt của chàng không bao giờ thiếu vắng nụ cười. Ngày ngày ngồi dưới gốc đa, chàng lần chuỗi tâm kinh bình bát, “Xin cho con sống trọn một đời tu hành, chọn Trời làm mền, lấy đất làm giường, lấy hạnh phúc tha nhân là hạnh phúc của chính con”.

Dân làng đi ngang qua, có người dâng cúng trái chuối sứ, có người dâng tặng hành khất sĩ cái bánh cam. Trẻ em rắn mặt có tên nhặt đá ném người xuất gia. Có người không hiểu đạo lý diệt ngã của môn phái hành khất, cho nên đi ngang qua mở miệng mắng,

– Ơ hay chửa! Thanh niên trai tráng mặt mũi thông minh sáng láng như thế kia, tay chân vạm vỡ ra dáng người có ăn học như thế, mà lại lười biếng, không chịu đi làm! Rõ là nằm dưới gốc sung!

Ai cho chi, tăng sĩ trẻ tuổi cúi đầu, tay đưa lên trước ngực theo kiểu khất sĩ, miệng nói lời cám ơn.

Bị đá ném thẳng vào người, dù là to hay nhỏ, tăng sĩ vẫn yên lặng, thân mình không di chuyển, vầng trán cao không gợn một nét nhăn, nụ cười tăng sĩ vẫn nở trên môi, nhưng đầu cúi xuống tránh những hòn đá hiểm ác ném thẳng vào mặt.

Trước những lời la mắng, cự trách, người tu sĩ cúi xuống, tay chắp theo thế tâm kinh bình bát, mắt nhìn xuống nền đất, ánh mắt khoan thai tựa như Đức Phật ngự trên tòa sen.

Người trong làng, có mấy lần ghé tận gốc đa mời tăng sĩ về nhà dùng bữa cơm chay dưa muối. Nhưng tu sĩ bình bát nhã nhặn cúi đầu miệng nói lời cám ơn.

Ngày ngày trôi qua người tăng sĩ ngồi dưới gốc đa đã trở thành một phần đời sống của thôn làng. Sáng sáng lũ lượt kéo nhau đi ngang qua đầu làng chuẩn bị cho một ngày mới, người trong thôn nhận ra nhà tu sĩ vẫn ngồi thiền dưới gốc cây đa, ánh mắt hiền từ, nụ cười khoan dung.

Nhưng bất ngờ, vào một ngày kia người trong thôn nhận ra hai bộ quần áo tăng của người tu sĩ bị chuột nhắt gặm cắn nham nhở. Ái ngại cho tình cảnh đơn chiếc của tăng sĩ, có người quay về nhà mua tặng tăng sĩ hai bộ áo tăng mới. Nhưng tu sĩ lắc đầu, chỉ xin mượn kim chỉ khâu vá lại những chỗ rách.

Nhận ra những chú chuột nhắt là nguyên nhân chính tạo ra tình trạng cơ hàn lại thêm cơ hàn của tăng sĩ, có người chạy về nhà kiếm chú mèo mang lại tặng. Người này thông minh lanh lợi, ông không biếu tặng tăng sĩ một con mèo béo mập khỏe mạnh, mà là một chú mèo gầy đói ốm yếu nhưng hay bắt chuột. Dưới gốc cây đa, tăng sĩ nhìn chú mèo, thoạt tiên, chàng từ chối, viện lẽ ông thuộc về giới hành khất bình bát, không có quyền sở hữu bất cứ điều chi ngoài hai bộ y phục tăng sĩ và bình bát. Nhưng người chủ nhân của chú mèo ốm đói nói,

– Bạch thầy! Thầy nói đúng lắm. Nhưng con chỉ gởi tạm thầy chú mèo ốm đói nhờ phúc của thầy chăm nom dăm bữa nửa tháng mà thôi. Sau đó, con sẽ quay lại, xin lại chú mèo.

Nhận ra chú mèo gầy gò, ốm đói, bệnh hoạn, miệng kêu meo meo đói sữa, lòng từ tâm của tăng sĩ bình bát nổi lên, thế là chàng miễn cưỡng gật đầu.

Từ ngày có sự xuất hiện của chú mèo, chuột nhắt không còn dám lai vãng dưới gốc đa để cắn xé quần áo của tăng sĩ nữa. Nhưng cũng bởi có sự xuất hiện của mèo mướp hay chuột, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt tìm kiếm lương thực cho chú mèo. Nhận ra điều đó, có người trong thôn sáng chiều ghé vào dâng cúng thiền môn hai chén sữa cho chú mèo. Thế là xong xuôi một mối lo!

Ngày một ngày hai tiếp tục trôi qua, người biếu sữa cho chú mèo có chuyện phải rời bỏ thôn làng đi lên kinh đô làm ăn trong vòng một thời gian dài. Thôi thì cũng là nhất cử lưỡng tiện, ông liền quyết định mang con bò sữa lại gửi thiền sư gốc đa nhờ trông nom. Như thế chú mèo cũng có sữa, mà tăng sĩ cũng có thêm miếng sữa tươi uống hằng ngày. Nhìn chú bò, tăng sĩ không nói chi, miệng tiếp tục lời tâm kinh bình bát.

Bây giờ đã có nguyên một chú bò sữa quẩn quanh bên gốc đa, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt nhìn quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô. Bởi thế tăng sĩ không còn ngày ngày ngồi thiền dưới gốc đa nữa, nhưng sáng sớm chiều tối, chàng phải bỏ những buổi công phu tâm kinh bình bát đi quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô cho chú bò sữa.

Nhận ra tình trạng lúng túng của tăng sĩ, dân làng hội họp lại, và họ quyết định gửi tới gốc đa một người phụ nữ nhà nghèo cùng đinh khố rách, không công ăn việc làm để trông coi chú bò sữa cho nhà thiền sư. Thôi, thế cũng coi như là làm việc bác ái, một công hai việc, vừa là làm phúc cho cô gái, vừa là tiếp tục giúp nhà tăng sĩ không phải mất thì giờ công phu tu hành đi làm công việc dẫn bò ăn cỏ. Người trong thôn làng nhận ra đây là lần đầu tiên, khi nhận ra cô gái chăn bò sữa đang đứng trước mặt, vầng trán tu sĩ cao rộng thoáng gợn lên một đường hằn. Nhưng chàng không nói chi, tay chỉ ra phía sau. Thôn làng hiểu ý, người ta liền cất lên một ngôi nhà tranh nho nhỏ cho cô gái chăn bò sữa ở phía xa xa.

Ngày tháng trôi qua, đời sống của người trong thôn làng và người tăng sĩ gốc đa quay trở lại những nhịp điệu bình thường. Người trong thôn không còn phải lo cho tu sĩ nữa, bởi có người một phụ nữ đã được thôn làng cắt cử đặc trách công việc chăm sóc cho tăng sĩ. Tăng sĩ tiếp tục chăm chú vào những lời tâm kinh bình bát, bởi chàng không còn phải xao lãng và chia trí bởi những đường áo rách, bởi những chén sữa sáng chiều cho chú mèo, bởi những bó cỏ khô cho chú bò. Tất cả những điều đó, cô gái dưới túp lều tranh ở phía xa xa đã làm hộ chàng.

Tháng năm trôi qua, vào một buổi sáng, người trong thôn làng giật mình khám phá ra tăng sĩ không còn ngồi dưới gốc cây đa nữa.

– Ủa, tăng sĩ đi đâu rồi?

– Chắc là ông ấy lại cất bước lên đường viễn du với lời kinh bình bát của ông ấy rồi.

Trong khi người ta đang bàn tán về tăng sĩ bình bát, có người chỉ vào túp lều tranh,

– Trời ơi! Tưởng ổng đi đâu. Nhìn kìa!

Mọi người quay về hướng tay chỉ, ai cũng nhận ra tăng sĩ bình bát vừa từ trong túp lều tranh mở cửa đi ra. Chàng không còn mặc áo tăng sĩ nữa, nhưng trên người là một bộ áo bà ba màu nâu, cổ chàng quấn khăn rằn ri. Người đàn ông có một thời sống đời tăng sĩ bình bát mỉm cười, giơ tay chào mọi người trong thôn. Sau đó, chàng chậm rãi đi lại phía con bò, mở dây cột, rồi chậm rãi dẫn chú bò sữa đi ra ngoài cánh đồng.

Tỉnh thức? Khó đấy!

S.T.

From: TRUONG LE

LÁ RỤNG NƠI THIÊN ĐƯỜNG

LÁ RỤNG NƠI THIÊN ĐƯỜNG


– Này ông,
– Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
– Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
– Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà
đi chợ… Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà…?
Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

Hai ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi
động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm
bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
– Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
– Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
– Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
– Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn
những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỷ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi… Ông im
lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

Hai ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào.
Chợt ông bật cười:
– Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
– Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà
thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ
một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất…

Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà “giở giời” như vậy. Ở cái tuổi
răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không
hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà
có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn
có bà ở bên…
– Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy.
– Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.
– Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.

Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
– Bà nó ơi, bà sao thế?
– Ông… tôi mệt lắm… Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
– Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này.
Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
Bà mỉm cười.
– Ông ơi… Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
– Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

– Ông để tôi nói… Tôi làm những món ông thích nhất… và có cả bánh
gateau nữa… Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên… Tôi
cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm…Ông ở lại
mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé…
Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy
không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run
rẩy, và ông nói trong nước mắt.
– Bà ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà…
– Tôi muốn… nghe… điều ước… trong sinh nhật… của ông…
Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể
để đi theo người vợ thân thương.
– Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện
thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt…
Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến một thiên
đường khác, và chờ ông ở đó…

From:TRUONG LE

NẾU CHỈ CÓ MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG!

Image may contain: 1 person, text
Lệ Huyền to Những câu chuyện thú vị

NẾU CHỈ CÓ MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG !!

Có một cặp tình nhân rất yêu nhau, nhưng họ lại không hề biết trân trọng tình cảm mà họ đang có. Bởi vì họ luôn thích tranh cãi, để rồi cứ phải giận hờn nhau suốt năm, suốt tháng…

Rồi một ngày, người con trai này phải đi thi hành nghĩa vụ và tử trận nơi chiến trường. Khi mang xác người yêu về, cô gái này ôm khóc nức nở, rồi cô ngước mặt lên trời và nói: Lạy Thượng Đế, tuy con là người không có đạo, nhưng con luôn tin vào đấng tối cao. Con van ngài, xin cho chúng con có một ngày bên nhau, để chúng con có thể nói hết những gì chúng con muốn nói với nhau, nhưng chưa kịp nói. Con chỉ xin ngài một ngày bên người con yêu thôi!

Bất chợt trên trời có tiếng vọng xuống và nói : Nghe con than thở, ta thấy rất cảm động, nên ta sẽ ban cho con một ngày bên người con yêu. Nhớ yêu thương nhau hết lòng, vì sau một ngày, người con yêu sẽ phải ra đi vĩnh viễn!

Và rồi người thanh niên đã được sống lại, hai người ôm chặt lấy nhau như không muốn rời xa. Họ vội vàng nói cho nhau nghe hết những điều mà họ chưa hề nói, họ yêu nhau thắm thiết. Vì họ biết rằng, đây chính là ngày cuối cùng trong đời mà họ được yêu!

Rồi 24 giờ sắp trôi qua, lần này, họ lại cùng nhau qùy xuống để van xin Thượng Đế cho họ thêm một ngày nữa bên nhau. Thượng Đế thấy tội nghiệp, nên đã chấp thuận. Nhưng ngài nói thêm : Nếu hai con làm tốt, biết trân trọng và yêu thương nhau hết mình, ngày mai ta sẽ ban cho hai con thêm một ngày nữa. Nghe vậy, hai người mừng quá, nên họ yêu thương nhau bằng tất cả sự chân tình. Có lẽ họ đã biết rằng, ngày nào cũng sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời họ, để được sống và được yêu!

Rồi cứ như vậy, họ sống và yêu thương nhau bằng tất cả sự khao khát…Bây giờ, họ đã biết trân trọng tình cảm của nhau hơn xưa. Cũng chính vì lý do đó, nên Thượng Đế đã ban thêm cho họ từng ngày và từng ngày kế tiếp. Rồi kéo dài cho đến hết cuộc đời của hai người luôn!

Nếu bạn chỉ có duy nhất một ngày để sống, để yêu. Vậy bạn sẽ làm gì, sẽ nói gì với người mà bạn yêu thương nhất?!

Đừng đợi đến ngày mai bạn nhé, vì biết đâu, bạn sẽ không có ngày mai nữa thì sao?!

Đừng mang giận hờn vào giấc ngủ, vì có thể bạn sẽ không bao giờ thức dậy để nói những điều mà bạn muốn nói với người bên cạnh!

Hãy sống, hãy yêu nhau như ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Đó chính là cách để bạn giữ được hơi ấm cho tình yêu và hạnh phúc lâu dài !

Gen Lặn
—St—

NGƯỜI THỢ XÂY

Lm Trần Chính Trực to Công Giáo Rôma
Đời sống hiện tại là kết quả tạo dựng trong quá khứ

NGƯỜI THỢ XÂY

Người thợ xây nọ đã làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu trong nhiều năm cho một hãng thầu xây dựng. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình.

Hãng thầu rất tiếc khi thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị ông cố gắng ở lại giúp hãng xây một căn nhà trước khi thôi việc. Ông ta nhận lời.

Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây dựng căn nhà với những vật liệu tầm thường, kém chọn lọc, miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, căn nhà đã hoàn thành. Người chủ hãng mời ông đến, trao cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: “Ông đã gắn bó và làm việc rất tận tụy với hãng trong nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, chúng tôi xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!”

Thật là bàng hoàng! Nếu người thợ biết mình sẽ xây cất căn nhà cho chính mình thì hẳn ông ta đã làm việc cẩn thận hơn và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà ông biết rõ là kém phẩm chất như thế nào.

Câu chuyện người thợ xây cũng tương tự như chuyện đời của chúng ta. Cũng như người thợ già kia, chúng ta thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ, chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó.

Cuộc đời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Đời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn!
(st)

Image may contain: one or more people, house and outdoor

MỘT LY SỮA

Image may contain: 1 person, sitting

Chuyện Thú Vị

MỘT LY SỮA

Có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Hôm đó, cậu lục túi chỉ còn chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi mà bụng đang rất đói.

Cậu quyết định xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Cậu hốt hoảng khi thấy một cô bé dễ thương ra mở cửa. Thay vì xin ăn, cậu ta đành xin một ly nước uống. Cô bé nghĩ rằng cậu ta trông đang đói nên đem ra một ly sữa lớn.

Cậu uống từ từ, rồi hỏi: “Tôi nợ bạn bao nhiêu?”

Cô bé đáp: “Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt.”

Cậu ta nói: “Vậy thì tôi cảm ơn bạn nhiều lắm.”

Khi Howard Kelly rời căn nhà đó, cậu ta không những cảm thấy trong người khoẻ khoắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống rất mạnh mẽ.

Sau bao năm, cô gái đó bị ốm nghiêm trọng. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị căn bệnh hiểm nghèo này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời làm chuyên gia. Khi nghe tên nơi ở của bệnh nhân, một tia sáng lạ loé lên trong mắt anh ta. Anh đứng bật dậy và đi đến phòng cô gái. Anh nhận ra cô gái ngay lập tức. Anh quay trở lại phòng chuyên gia và quyết tâm phải gắng hết sức để cứu được cô gái. Anh đã quan tâm đặc biệt. Sau thời gian đấu tranh lâu dài, căn bệnh của cô gái đã qua khỏi. Anh cầm tờ hoá đơn thanh toán viện phí, viết gì đó bên lề và cho chuyển lên phòng cô gái.

Cô gái lo sợ không dám mở tờ hoá đơn viện phí ra, bởi vì cô chắc chắn rằng đến suốt đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này.

Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn: “Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa.”

Ký tên

Tiến sĩ Howard Kelly.

Mắt đẫm lệ, cô gái xúc động thốt lên: “Lạy chúa, tình yêu thương bao la của người đã lan rộng trong trái tim và bàn tay con người.”