“SỰ LƯƠNG THIỆN KHÔNG QUA SÁT HẠCH”…-Truyện ngắn HAY

8 SÀI GÒN

Một ngày nọ, có một người đàn ông tên là Walter Salles vào thành phố làm việc, ông đi ngang một cậu bé đánh giày khoảng mười mấy tuổi ở quảng trường nhà ga xe lửa, cậu bé đánh giày hỏi ông: “Thưa ông, xin hỏi ông có cần đánh giày không ạ?”

Walter cúi đầu nhìn đôi giày chưa quá bẩn của mình, ông lắc đầu từ chối. Khi Walter chuẩn bị đổi tàu thì cậu bé lúng túng, ngượng ngùng, đôi mắt ánh lên sự cầu xin: “Thưa ông, cả ngày nay cháu chưa ăn gì rồi, xin ông có thể cho cháu vay một chút tiền được không ạ? Cháu sẽ cố gắng đánh giày, một tuần sau cháu sẽ trả lại tiền cho ông!”.

Walter nhìn cậu bé trước mặt mặc bộ quần áo rách rưới, cả người gầy gò, thế là ông móc túi đưa cho cậu bé vài đồng xu. Cậu bé vô cùng cảm kích nói lời cảm ơn ông rồi chạy đi như bay. Khi đó, Walter nghĩ thầm: “Lại là một thằng nhóc lừa đảo…” và rồi ông đã quên bẵng đi…

Cho đến vài tuần sau, Walter lại đi ngang qua trạm xe lửa, đột nhiên ông nghe thấy giọng nói từ xa vọng lại: “Thưa ông, xin ông đợi một lát!”. Khi đó, ông nhìn thấy một cậu bé gầy gò chạy đến đưa cho ông mấy đồng xu, lúc này Walter mới nhận ra cậu bé này chính là đứa bé đánh giày đã mượn ông tiền.

Cậu bé vừa thở hổn hển vừa nói: “Cháu đã đợi ông ở đây rất lâu rồi, rốt cuộc hôm nay cũng đã trả được tiền cho ông”.

Walter cầm trong tay những đồng xu còn ướt đẫm mồ hôi của cậu bé, đột nhiên ông cảm thấy đứa trẻ này thật đặc biệt. Thế nên bỗng nhiên ông có một suy nghĩ, ông thấy cậu bé này rất phù hợp với hình tượng nam chính trong kịch bản mới của mình.

Hóa ra Walter là một đạo diễn và khi đó ông đang chuẩn bị phần tiền kỳ cho bộ phim, ông đã quan sát các sinh viên của trường diễn xuất không dưới một trăm lần, nhưng đều không vừa ý.

Lúc này, ông nhận ra rằng cậu bé này có thể là nam chính trong bộ phim của ông. Và rồi ông lấy vài đồng xu ra và nói với cậu bé rằng: “Số tiền này là chính tôi muốn cho cháu, không cần trả lại. Ngày mai cháu hãy đến văn phòng đạo diễn ở công ty điện ảnh trong thành phố tìm tôi, tôi sẽ cho cháu một niềm vui bất ngờ lớn hơn”. Nói xong, Walter rời đi, trong lòng cảm thấy rất ấm áp và bắt đầu hy vọng vào cậu bé này.

Hôm sau, bảo vệ công ty điện ảnh nói với Walter rằng trước cửa có một nhóm trẻ con mặc quần áo rách rưới đến. Walter vô cùng ngạc nhiên, ông đi ra cửa thì thấy cậu bé ngày hôm qua chạy đến, vui vẻ nói: “Thưa ông, họ đều cũng là trẻ mồ côi lưu lạc không có cha mẹ giống như cháu, các bạn ấy cũng hy vọng có được niềm vui bất ngờ ạ!”

Walter không thể nào ngờ được một cậu bé vô gia cư nghèo khó lại lương thiện đến thế. Nhưng sau khi quan sát, ông nhận ra quả thật là có vài đứa trẻ khác trong số đó phù hợp với vai nam chính trong kịch bản của ông hơn. Dù vậy cuối cùng Walter đã quyết định chọn cậu bé đánh giày này và ông viết trong hợp đồng lý do mà ông chọn cậu bé là: “Sự lương thiện không cần qua sát hạch”.

Vài năm sau, Vinícius de Oliveira cũng mở một công ty điện ảnh và làm chủ tịch, anh còn viết một quyển tự truyện có tên là “Cuộc đời diễn viên của tôi”.

Trên trang bìa trong của quyển sách có dòng chữ viết tay của ông Walter: “Sự lương thiện không qua sát hạch” và đánh giá của ông về Vinícius de Oliveira: “Vì lòng lương thiện, cậu từng đem cơ hội nhường cho người khác; cũng vì sự lương thiện ấy, cơ hội trong cuộc đời chưa từng bỏ qua cậu”.

Đạo diễn Walter Salles

#8saigon

http://compassgermany-frankfurt.de/…/306-long-luong-thien

NGƯỜI MẸ ĐAU KHỔ TÌM KẺ HIẾP DÂM ĐỂ LẤY TỦY CỨU CON VÀ CÂU CHUYỆN ĐẪM NƯỚC MẮT -Truyen ngan HAY

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Tha thứ cho bản thân mình có lẽ là một việc không mấy dễ dàng khi người ta cứ dằn vặt và đau khổ mãi về quá khứ đau thương. Câu chuyện xúc động dưới đây sẽ cho bạn hiểu, ai cũng có thể thay đổi nếu chưa trút hơi thở cuối cùng.

Cuối năm 2002, trên một số trang báo của Ý đã xuất hiện một thông báo tìm người rất đặc biệt:

Ngày 17/5/1992, Ở bãi đậu xe đường số 5, khu thương nghiệp thành phố Avenue, một người phụ nữ da trắng bị một chàng trai da đen cưỡng hiếp. Không lâu sau, người phụ nữ kia đã sinh ra một bé gái da đen. Hiện tại cô bé bị bệnh máu trắng, cần phải làm phẫu thuật cấy ghép tủy gấp, ba ruột của cô bé chính là niềm hy vọng duy nhất để cứu sống cô, hy vọng người năm xưa sau khi đọc được lời nhắn này, hãy mau chóng liên hệ với bác sĩ Adrew làm việc tại bệnh viện Elizabeth.

Bản tin đã nhanh chóng tạo ra một chấn động trong dư luận.

Đây là một câu chuyện có thật, và nó sẽ có kết cục như thế nào? Đối diện với một kẻ cưỡng bức. Bạn có tha thứ cho anh ta không?

Cô bé bị bệnh máu trắng liên quan đến một bí mật

Ở một khu dân cư thuộc thành phố Foyer nước Ý, Marda 35 tuổi là người phụ nữ luôn bị mọi người xì xào bàn tán, bởi cô và chồng cô Peter đều là người da trắng, nhưng trong hai đứa con của họ lại có một đứa là da đen.

Điều này đã khiến cho những người hàng xóm xung quanh không khỏi cảm thấy tò mò, Marda luôn cười nói với họ rằng, do bà nội của mình là người da đen, ông nội là người da trắng, nên đứa con gái Monica mới xuất hiện sự lại giống như vậy.

Và bí mật đã không thể che đậy được nữa

Mùa thu năm 2002, cô bé da đen Monica bị chuẩn đoán mắc bệnh máu trắng, biện pháp chữa trị duy nhất là làm phẫu thuật cấy ghép tủy. Hết thảy những người thân họ hàng hai bên đều đến bệnh viện làm xét nghiệm nhưng không có ai thích hợp cả.

Một buổi tối, bác sĩ Andrew đang trực ban thì có tiếng gõ cửa, là vợ chồng Marda. Và ông đã được nghe bí mật mà hai vợ chồng họ chôn giấu bao năm nay.

“Chuyện xảy ra vào tháng 5/1992, lúc đó là 10h tối, trời mưa rất to. Marda vừa tan ca làm. Khi cô đi ngang qua một bãi đậu xe bị bỏ hoang, Marda nghe thấy sau lưng có tiếng bước chân; cô sợ hãi quay đầu lại nhìn, là một chàng trai da đen đang đứng phía sau cô.

Anh ta tay cầm một khúc cây, đánh cô ngất đi, và làm nhục cô. Không lâu sau đó, Marda phát hiện mình đã mang thai. Họ đã vô cùng sợ hãi, lo sợ rằng đứa con này chính là của người da đen kia. Marda muốn phá bỏ cái thai, nhưng Peter đã ngăn cản cô bởi anh vẫn hi vọng đứa bé trong bụng chính là con của họ.

Cứ như vậy, họ đã thấp thỏm chờ đợi

Tháng 3/1993, Marda hạ sinh một bé gái, là da đen. Họ đã hoàn toàn tuyệt vọng, và quyết định sẽ đem đứa bé cho cô nhi viện, nhưng mỗi lần nghe thấy tiếng khóc của nó thì lại không nhẫn tâm. Và cuối cùng họ quyết định sẽ nuôi nấng cô bé này như con gái.

Mắt Peter bắt đầu nhòe đi, anh tiếp tục nói:

Dù sao thì Marda cũng đã mang thai nó, đứa bé không có tội gì cả. Nó xứng đáng được sống và yêu thương.

Sống mũi bác sĩ Andrew cũng đã cay cay, ông im lặng một lúc rồi cuối cùng mở lời: “Ông bà phải tìm được cha ruột của Monica, nói không chừng tủy xương của anh ta, hoặc tủy xương của con cái anh ta có thể thích hợp với Monica”.

“Nhưng… ông bà có bằng lòng để cho anh ta xuất hiện trong cuộc đời mình lần nữa hay không?”

Marda nói: “Vì Monica, chúng tôi bằng lòng tha thứ cho anh ta, nếu như anh ta chịu bước ra để cứu đứa bé, tôi hứa sẽ không khởi tố”.

Bác sĩ Andrew không khỏi chấn động sâu sắc bởi tấm lòng lòng thương con của người mẹ này.

Marda và Peter suy nghĩ hết lần này đến lần khác, quyết định dùng hình thức giấu tên, để đăng một bản tin tìm người trên báo.

Tháng 11/2002, trên hầu hết các tạp chí thành phố Foyer đều đăng một bản tin tìm người. Nhưng trong biển người mênh mông, huống hồ chuyện đã nhiều năm như vậy, biết đi đâu để tìm tên cưỡng dâm năm xưa?

Tình mẫu tử cảm động lòng người đã tình cờ giúp đỡ nhiều bệnh nhân bất hạnh.

Câu chuyện này đã làm cảm động rất nhiều người, một làn sóng hiến tủy lan khắp cả nước, không ít người tự nguyện làm xét nghiệm tủy để xem mình có thích hợp hay không. Và điều đó đã cứu được rất nhiều bệnh nhân bị bệnh máu trắng, nhưng Monica lại không nằm trong số những người may mắn.

Bản tin cũng truyền đến tai những tội phạm da đen năm đó.

Rất nhiều người đã tự nguyện trình báo để làm xét nghiệm xương tủy, hi vọng có thể hiến tủy cho Monica. Cả những tù nhân da trắng cũng bị cảm động trước tình mẫu tử của Marda, họ bày tỏ sự quan tâm chân thành đến cô và cung cấp nhiều manh mối hỗ trợ cảnh sát và gia đình tìm ra kẻ cưỡng gian năm xưa.

Nhưng đáng tiếc thay, họ vẫn không thể tìm ra cha ruột của Monica. Hơn hai tháng trôi qua, người đàn ông da đen kia vẫn không xuất hiện. Marda và Peter vẫn hồi hộp lo lắng chờ đợi phép màu sẽ đến với con gái của họ.

Người đàn ông bí ẩn dần hé lộ

Sau khi bản tin tìm người này xuất hiện trên trang báo ở thành phố Napoli, trong lòng ông chủ của một nhà hàng cao cấp là Achlia bắt đầu dậy sóng.

Ngày 17/5/1992, trong cuộc đời anh đã trải qua một đêm gió bão bùng tựa như ác mộng, anh rất có thể là người được nhắc đến trong câu chuyện trên.

Không ai có thể ngờ được rằng triệu phú Achlia của ngày hôm này từng là một người rửa chén thuê trong một nhà hàng ở thành phố Foyer. Cha mẹ mất sớm, anh phải nghỉ học, lăn lộn kiếm sống ngoài xã hội. Trớ trêu thay, ông chủ của anh lại là một kẻ phân biệt chủng tộc. Dẫu anh có cố gắng làm việc chăm chỉ thế nào thì vẫn luôn phải chịu sự đánh đập chửi mắng từ ông ta.

Đó là sinh nhật lần thứ 20 của Achlia. Anh dự định sẽ nghỉ làm sớm để đón mừng sinh nhật của mình, không ngờ trong lúc loay hoay đã vô tình làm rơi một cái đĩa, ông chủ túm chặt lấy cổ anh bắt anh phải nuốt hết những mảnh vỡ đó. Achlia phẫn nộ cho ông ta một đấm, rồi xông ra khỏi quán.

Anh quyết tâm báo thù người da trắng. Buổi tối hôm đó trời mưa tầm tã, trên đường dường như không có một bóng người đi lại, trên bãi đậu xe anh gặp Marda, căm phẫn dâng trào trong anh về sự phân biệt chủng tộc, lòng căm thù đối với người da trắng đã khiến anh phạm phải tội ác lớn nhất trong cuộc đời mà đến tận bây giờ anh vẫn không thể tha thứ cho chính mình: anh đã cưỡng bức người phụ nữ vô tội đó.

Hối hận vô cùng, anh đã mua vé xe lửa đến thành phố Napoli, rời xa khỏi thành phố này trong đêm hôm đó, hi vọng có thể quên đi cảm giác tội lỗi mà anh đã gây ra.

Về sau, Achlia đã tìm được công việc thuận lợi ở nhà hàng của một người Mỹ, đôi vợ chồng đó rất quý sự cần cù của anh, còn đem cô con gái Lina gả cho anh, về sau còn giao cho anh quản lý toàn bộ công việc kinh doanh của nhà hàng.

Mấy năm trở lại đây, anh đã phát triển nhà hàng thành một nhà hàng cao cấp sang trọng. Anh và Lina cũng có với nhau ba đứa trẻ vô cùng đáng yêu. Đối với mọi người, Achlia thật sự là một ông chủ tốt, người chồng tốt và người cha tốt.

Achlia vẫn không sao quên được tội ác năm xưa. Anh luôn cầu nguyện Thượng Đế, xin Người hãy phù hộ người phụ nữ đã từng bị anh làm hại kia, hy vọng cô có thể bình an vô sự sống một cuộc sống hạnh phúc, và không bị tổn hại bởi tội lỗi anh đã gây nên. Nhưng anh trước giờ chưa từng đem bí mật trong lòng này nói với bất kỳ ai.

Buổi sáng hôm đó, Achlia đã đọc đi đọc lại bản tin đó đến mấy lần, trực giác mách bảo rằng anh chính là kẻ cưỡng gian được tìm trên tờ báo đó. Anh không bao giờ nghĩ rằng, người phụ nữ đáng thương đó đã mang thai và đã nuôi dưỡng đứa con vốn không thuộc về mình.

Cả ngày hôm đó, Achlia đã gọi điện thoại cho bác sĩ Andrew mấy lần, nhưng điện thoại còn chưa quay xong anh liền vội cúp máy. Trong lòng anh đang giãy giụa đau đớn.

Nếu như đứng ra thừa nhận tất cả, mọi người sẽ biết được quá khứ xấu xa của anh, những đứa con sẽ không còn yêu thương anh nữa, anh sẽ mất đi gia đình hạnh phúc và người vợ xinh đẹp, cũng sẽ mất đi sự tôn trọng của xã hội đối với mình.

Anh đã rất khó khăn để có một cuộc sống như ngày hôm nay, anh không thể để hạnh phúc tuột mất được.

Bữa tối hôm đó, mọi người trong nhà đều bàn luận về những tin tức có liên quan đến Marda trên báo chí như những lần trước. Người vợ Lina nói:

“Em thật sự rất khâm phục người phụ nữ này. Nếu như đổi lại là em, em sẽ không đủ can đảm để nuôi dưỡng con gái đã được sinh ra vì bị cưỡng hiếp. Em càng khâm phục chồng của cô ấy, anh ta quả thật là một người đàn ông đáng được tôn trọng, có thể chấp nhận một đứa con như thế”.

Achlia im lặng hồi lâu rồi hỏi: “Vậy em nhìn nhận kẻ cưỡng hiếp đó như thế nào?”

Lina căm phẫn nói: “Em tuyệt đối không thể tha thứ cho hắn ta được. Năm xưa đã làm sai rồi, vào thời khắc then chốt của bây giờ, hắn ta lại rụt cổ trốn tránh. Hắn ta thật đúng là quá đê tiện, quá ích kỷ, thật là quá ghê tởm! Hắn ta là con quỷ hèn nhát!”

Nghe Lina nói vậy, Achlia càng không dám nói ra sự thật với vợ. Anh trằn trọc suốt đêm không sao ngủ được, cảm giác bản thân như bị đày đọa dưới địa ngục, những khung cảnh trong đêm mưa gió tội ác đó không ngừng xuất hiện trước mắt. Anh dằn vặt tự hỏi: “Mình rốt cuộc là người tốt, hay là người xấu?”

Mấy ngày sau, Achlia không cách nào im lặng được nữa, tình thương của người cha đã bùng lên từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn anh, anh muốn cứu con gái mình. Anh đã phạm sai lầm một lần rồi, bây giờ không thể phạm sai lầm tiếp nữa. Anh gọi cho bác sĩ Andrew bằng điện thoại công cộng.

Cũng trong tối hôm đó, anh lấy hết can đảm để nói với vợ tất cả. Lina bật khóc, cô không thể nào có thể chấp nhận được người chồng rất mực yêu thương cô lại chính là một tên tội phạm.

Cô chạy ào ra khỏi cửa, lái xe đi suốt đêm trong vô vọng, cô chưa từng trải qua đêm nào khủng khiếp như vậy trong cuộc đời.

Sau một đêm dằn vặt đau khổ, cô đã quyết định trở về. Achlia ra mở cửa, hai mắt đỏ hoe. Lina kiên định nói: “Achlia, anh hãy đến chỗ bác sĩ Andrew! Em sẽ đi cùng với anh!”

Trong tuyệt vọng luôn xuất hiện ánh sáng hy vọng

Ngày 8/2/2003, vợ chồng Achlia đã đến bệnh viện Elizabeth và làm xét nghiệm ADN, kết quả anh thật sự chính là cha ruột của Monica.

Khi biết được người đàn ông da đen từng làm nhục mình cuối cùng đã dũng cảm bước ra, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng lăn dài trên má Marda.

Cô đã căm hận trong suốt 10 năm, nhưng thời khắc này đây cô vô cùng cảm động.

Tất cả đều được tiến hành cực kỳ bí mật, bệnh viện đã không tiết lộ thân phận của người trong cuộc cho báo chí mà chỉ thông báo với ký giả rằng đã tìm được cha ruột của Monica.

Thông tin này đã khiến người dân cả nước quan tâm, họ không ngừng gọi điện thoại và viết thư cho bác sĩ Andrew, nhờ ông gửi sự tha thứ và lòng tôn kính của họ đến người da đen này: “Anh ấy từng là tội nhân, nhưng giờ đây anh ấy là một anh hùng!”

Ngày 18/2, dưới sự sắp xếp bí mật, Marda gặp Achlia trong phòng khách của bệnh viện. Khi nhìn thấy Marda, bước chân Achlia nặng nề, sắc mặt tái nhợt. Marda và chồng bước đến, nắm chặt lấy tay anh, ba người nhìn nhau khóc không thành tiếng, nước mắt hòa lẫn vào nhau.

Rất lâu sau, Achlia nghẹn ngào nói: “Xin lỗi, xin lỗi, xin hãy tha thứ cho tôi! Câu nói này tôi đã chôn sâu trong lòng suốt hơn 10 năm nay rồi, hôm nay cuối cùng đã có cơ hội để nói với chị. Tôi thực sự hi vọng Monica và anh chị sẽ sống hạnh phúc bên nhau. Tôi rất cảm ơn Monica, con bé đã cho tôi một cơ hội để chuộc tội và có thể sống thanh thản trong nửa đời còn lại.

Đây chính là món quà mà con bé đã ban tặng cho tôi.

Marda nói: “Cảm ơn cậu đã có thể bước ra. Cúi xin Thượng Đế phù hộ, tủy xương của cậu đã cứu sống con gái tôi!”

Ngày 22/2/2003, thời khắc mà mọi người chờ đợi từ lâu cuối cùng đã đến, xương tủy của Achlia được cấy ghép vào trong thân thể của Monica. Một tuần sau đó, Monica khỏe mạnh xuất viện.

Vợ chồng Marda đã hoàn toàn tha thứ cho Achlia.

Đây quả thật là một câu chuyện hy hữu chấn động tâm can, xúc động lòng người.

Có lẽ bạn cũng đã từng làm sai, đi lầm đường, nhưng chỉ cần có lòng sửa lỗi thì bạn có thể “bình thản mà đối mặt với tương lai”. Bởi chỉ khi ta thành thật với bản thân mình, dũng cảm chấp nhận con người mình dù là những điều xấu xa nhất, chúng ta mới có thể nhìn thấy ánh sáng của sự tốt đẹp.

Trong tận cùng của cái ác chính là bản tính lương thiện bị che giấu. Đừng ngại ngần đối diện với nó mà vươn lên, đó mới là sự tốt đẹp chân chính và vĩnh hằng trong cuộc đời.

Theo Cmoney


 

Năm ấy cô giáo Quỳnh 21 tuổi, và cậu học trò yêu đơn phương cô ấy vừa tròn 18.- Truyen ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Năm ấy cô giáo Quỳnh 21 tuổi, và cậu học trò yêu đơn phương cô ấy vừa tròn 18.

***

Hồi đó năm cuối đại học sư phạm, tôi đi làm cô giáo thực tập một trường phổ thông trung học có tiếng. Chuyến thực tập ấy rất quan trọng quyết định xem tôi có được về dạy chính thức hay không ở một ngôi trường đáng mơ ước như thế. Tôi cũng là cô giáo dạy Văn

Với thành tích học tập khá đình đám và những kĩ năng đoàn hội từ thời đại học, trường nhận tôi về đã giao cho trọng trách dạy 2 lớp chủ lực. 1 lớp chuyên, học rất giỏi và ngoan. 1 lớp cá biệt, lười học và cực kì quậy. Để xem tôi thể hiện chuyên môn và kĩ năng sư phạm ra sao.

Dạy lớp chuyên, hoá ra quá đơn giản. Các em chăm học, thông minh, nên tôi chỉ cần làm đúng chuyên môn người thầy là vượt chỉ tiêu.

Nhưng dạy lớp cá biệt đương nhiên là thử thách cho cô giáo trẻ thừa kiến thức nhưng thiếu kinh nghiệm ứng phó với trò “nhất quỷ nhì ma”.

Tôi nhớ ngày đầu đến lớp, áo dài bay bay, tóc dài buông xoã, nụ cười toả nắng bước vào lớp. Thay vì màn chào hỏi sư phạm là những màn hú hét inh ỏi. Các em dạn dĩ ko ngại đánh giá ngoại hình tôi, bày tỏ cảm xúc với tôi. Cô đẹp quá cô ơi. Thích cô quá cô ơi. Hú hú… Cuối buổi học thư tình nhét đầy hộc bàn tôi

Qua vài ngày đầu run rẩy, dần dần tôi cũng lấy được quân bình và tìm ra phương pháp trị bọn học trò cá biệt này. Không thể dạy kiểu thầy nói trò nghe thụ động, tôi chọn cách tương tác, đặt câu hỏi, yêu cầu thực hành và ghi nhớ tại chỗ. Môn viết, tôi ko bắt các em học vẹt về bài thơ bài văn mà tôi kêu các em chủ động viết suy nghĩ về những gì các em thích, thần tượng của em, món ăn em thích, nơi em muốn đi du lịch…Nhờ đó mà dần dần kể cả em lười nhất cũng biết cách viết và bày tỏ cảm xúc một cách trôi chảy… Giờ ngoại khoá tôi sẵn sàng tham gia để hiểu các em hơn. Không ngờ một thời gian sau lớp tiến bộ rõ. Các em yêu thích môn Văn, thi đỗ điểm cao, thầy hiệu trưởng xuống tận lớp khen. Cả lớp chuyển sang thích cô Quỳnh dạy. Bọn con gái thích tâm sự đủ thứ chuyện quần áo tóc tai với tôi. Bọn con trai ít chọc ghẹo tôi mà dành cho tôi nhiều tôn trọng hơn, cúi đầu chào mỗi khi tôi đi qua thay vì hú hét.

Một chiều nọ, cậu học trò nhỏ khá hiền hiếm hoi trong lớp quậy đó e dè bước lên bục giờ ra chơi và lí nhí hỏi, tối nay cô có thể đến nhà dự sinh nhật em ko. Tôi nói tôi sẽ ghé qua. Lúc đó tôi chỉ nghĩ đơn giản là một cách để động viên tinh thần và tạo sự kết nối với học sinh.

Đêm đó tôi đến nhà em. Ba mẹ em ra đón hồ hởi. Tôi bước vào nhà, đồ ăn bánh kem có sẵn. Nhưng không có người khách nào. Tôi hỏi bạn bè đâu em. Em nói em chỉ mời cô thôi. Tôi hơi ngại. Em nói vì em thích tôi, thích như 1 người bạn gái. Tôi hoảng hồn. Tôi hỏi em ko sợ ba mẹ em biết hay sao. E nói ba mẹ em biết rồi, và chính em nói em muốn mời cô và họ đồng ý. Tôi im lặng. Cả bữa ăn gia đình em đối xử tôi rất tốt. Thậm chí tôi còn có cảm giác họ xem tôi như con dâu tương lai thật . Năm ấy em 18, tôi 21.

Cuối buổi tôi xin phép ra về, mẹ em nói cho bà nói chuyện riêng một chút. Bà cầm tay tôi nói, cô biết chuyện này kì quặc, nhưng cô mong con đừng chê trách em, từ chối phũ phàng em, hãy giúp em, động viên em, làm sao để em nó tập trung học cho kì thi sắp tới. Tôi yên lặng lắng nghe và gật đầu hứa rằng, tôi sẽ làm tốt nhất có thể.

Sau hôm ấy, mỗi buổi dạy tôi rất cố gắng giữ thái độ quân bình. Không né tránh em, cũng ko khuyến khích em bày tỏ tình cảm. Ánh mắt em hay nhìn tôi khác các bạn còn lại. Tôi hay mỉm cười động viên.

Hôm rời trường, tôi hẹn em ra. Tôi nói cô trân trọng tình cảm của em, nhưng giờ cô cũng chưa ổn định, em cũng cần phải học hành cho xong đã, khi đó tính tới mấy chuyện tình cảm chưa muộn.. Em nói em sẽ cố gắng học và đỗ đạt, cô đợi em nhé. Tôi không gật, không lắc, chỉ cười. Tôi nói cố gắng lên, cô tin em làm được.

…Thấm thoát ko ngờ nhiều năm đã trôi qua. Hoá ra duyên nghiệp tôi ko làm cô giáo, đường đời đưa đẩy tôi làm truyền hình, làm người người có chút ảnh hưởng trên mạng xh.

Một hôm nọ có nick lạ vào còm FB tôi “cô ơi, đọc tin của em”. Tôi vô mục tin nhắn, đó chính là em, chàng trai năm ấy. Em tha thiết muốn gặp lại tôi một lần, tình cờ làm sao, cơ quan em đối diện cơ quan tôi.

Trưa hôm ấy tôi mặc quần âu sơ mi ra dáng gương mẫu, hẹn em một quán cafe ngay giữa hai chỗ làm. Em giờ đây là 1 người đàn ông chững chạc và thành công, nét mặt phong trần, duy nụ cười vẫn ngại ngùng. Chúng tôi hỏi thăm công việc nghề nghiệp hiện tại. Nhắc về trường cũ. Hỏi thăm ba mẹ em.

Em nói, ngày đó nếu ko nhờ cô động viên chắc em cũng bỏ học như nhiều đứa bạn năm ấy. Ba mẹ em cũng hay nhắc cô nói có dịp muốn cảm ơn cô.

Tôi chỉ cười, bảo có gì đâu.

Không ai trong 2 chúng tôi nhắc lại chi tiết ngày đó em dành cho tôi thứ tình cảm đầu đời trong sáng.

Lúc chia tay em hỏi tôi lấy chồng chưa, tôi cười bảo sắp, đang có người yêu. Em không nói gì. Tôi hỏi em sao, em bảo em vẫn một mình. Tôi hồ nghi hình như em có nói cả câu “em vẫn đợi cô” nhưng tôi vờ như ko nghe. Tôi bảo mau kiếm cô nào về cho ba mẹ có cháu đi, nói đúng giọng điệu của cô giáo với học trò.

Thật ra năm ấy tôi chưa có người yêu. Nhưng tôi vẫn đã trả lời như vậy. Bởi dẫu mong manh, tôi ko muốn bất cứ khả năng nào tiếp nối câu chuyện cô giáo cũ – học trò cũ ở phiên bản trưởng thành này.

Quay đi ngoảnh lại, nhiều năm nữa đã trôi qua rồi. Em giờ có thể đã là một người chồng người cha tuyệt vời, tôi vẫn là cô, mà là bà cô già .

Tôi biết em vẫn theo dõi FB của tôi và đọc được câu chuyện này. Tôi viết lại, như một vệt kí ức đẹp của tình thầy trò đan xen mơ hồ với thứ tình cảm ngây thơ vụng dại đầu đời.

Tôi cũng biết chắc em có đọc tin về vụ cô giáo học trò cư xử không đúng mực mấy hôm nay trên mạng. Mừng thay chúng ta giờ đã trưởng thành và nhớ lại chuyện ngày xưa trong cảm xúc đẹp vì đã không làm điều gì đáng hổ thẹn.

Cảm xúc không có lỗi, chỉ có hành động dẫn lối đúng đắn bởi lý trí mới đưa ta đến nơi ta cần đến hay vô định. Mong rằng cả đời này ta luôn có thể nhìn lại những gì đã qua không phải bằng hối tiếc, mà là mỉm cười trong bình an.

Sài Gòn

3/10/2024

Ngô Như Quỳnh


 

MỘT NGƯỜI BẠN CHÂN THẬT VỚI MÌNH ĐÓ LÀ TÀI SẢN VÔ GIÁ-Truyen ngan HAY

Vũ Quốc Thịnh

Gần 12:00 giờ đêm, có hai người đàn ông ngồi cạnh nhau đếm tiền.

— Một người ôm cây đàn, hốc mắt lõm xuống

— Một người tóc muối tiêu, mở tiền trong cái túi nhỏ bỏ vào chiếc nón và đếm.

Tiền 2.000, tiền 5.000, 10.000, 20.000 và thi thoảng có vài tờ 50.000 hay 100.000.

Tôi đi bộ ngang nên cứ nghe và thấy được vài điều vài câu :

— Hôm nay người ta đi nhậu nhiều ông ạh

— Ừ, gần Tết nên Tất niên vui vẻ

— Vui nên có mấy khách cũng cho sộp lắm

— Ừ, tôi cũng mong có kha khá mua vài món Tết cho mấy đứa nhỏ.

Tò mò nên tôi ghé hỏi :

— Hai chú là anh em ạ?

— Không, hai chú là bạn, ông bạn chú tật nguyền từ nhỏ.

Rồi chú chở chú này đi hát bao lâu rồi?

— Chú làm việc ban ngày, ban đêm chở bạn mình đi hát, ai thương thì cho ít cho nhiều, ổng không chịu ngồi đường chờ bố thí, cũng không chịu để người nhà nuôi.

Hai chú chở nhau đi như vầy bao lâu rồi?

— Lúc này chú mù mới nói: Cũng hai mươi mấy năm rồi con, ổng là đôi mắt, đôi chân đưa chú đến nơi chú có thể hát cho người nghe. Ngày xưa ổng chở chú bằng xe đạp, sau này ổng mua được xe máy thì chở chú bằng xe máy.

Mỗi ngày hai chú làm xong rồi chia nhau thế nào? Tôi cũng hơi tò mò hỏi..

— Được nhiêu thì chia đôi, chú chịu tiền xăng, chú sáng mắt trả lời.

Chúc hai chú nhiều sức khoẻ nhé, Tết thật ấm áp bên gia đình.

— Cám ơn cháu, cháu cũng vậy nhé!

Tôi lại đi, một vòng hai vòng sau, theo thói quen lại nhìn 2 chú….Chợt …. thấy điều lạ lạ…

— Chú sáng mắt dúi vào tay bạn mình một sấp tiền, đa số là tiền 100.000, 50.000 và 20.000. Chú nói: Đây phần của ông đây, tôi đã “chia đôi” rồi đó.

— Cảm ơn ông, bao nhiêu năm ông đều giúp chở tôi đi và chia đều cho tôi…

— Còn lại trên tay chú là tiền 10.000 và một số 5.000, 2.000.

Mắt tôi chợt cay cay, “chia đôi” đâu đồng nghĩa là 2 phần bằng nhau. Người bạn mù mắt thì tin bạn mình hoàn toàn. Người bạn sáng mắt thì muốn cho bạn mình phần hơn.

Sống trên đời phải chăng có những người có rất nhiều tiền, và ở đây 2 chú là những người mới thật sự giàu có. Cuộc sống này còn quá nhiều điều tốt đẹp, đôi mắt ướt mà con tim sao đập rộn rã tình yêu thương con người….

CÓ MỘT NGƯỜI BẠN CHÂN THẬT VỚI MÌNH ĐÓ LÀ TÀI SẢN VÔ GIÁ MÀ BẠN CÓ ĐƯƠC.

S.T.


 

CHIẾC LON GUIGOZ HÀNH TRANG NGƯỜI TÙ – Hoàng Chương – Nghiêm Nguyễn chuyển

Hoàng Chương.- Nghiêm Nguyễn chuyển

Không biết vô tình hay hữu ý mà trong hành trang lên đường của tôi có chiếc lon Guigoz. Guigoz là lon sữa bột của nước Hòa Lan sản xuất. Hầu hết trước năm 1975, con cái của công chức, quân nhân và gia đình khá giả đều uống loại sữa này. Vợ tôi để dành những cái lon không để đựng những đồ gia vị gồm bột ngọt, tiêu, đường, muối, mỡ… vì vừa nhẹ, vừa sạch và vừa kín. Khi đậy nắp lại không có con kiến nhỏ nào chui lọt.

Trong “ba–lô” (túi sách nhà binh) đi học tập cải tạo của tôi có đến hai chiếc lon Guigoz. Một cái đựng bàn chải đánh răng và kem súc miệng. Còn cái kia đựng thuốc ngừa sốt rét, thuốc đau bụng và hai chai dầu gió. Đó là những việc mà vợ tôi lo xa. Ngày 27 tháng 6 năm 1975 là ngày tôi đến trường nữ Trung Học Gia Long, đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, trình diện. Sau mấy tháng không làm việc gì nặng nhọc, khi mang ba-lô trên vai đi bộ độ mươi bước thì tôi cảm thấy người như chùng xuống. Tôi thầm trách vợ tôi: ”đã nói học tập có mười ngày, đem theo đồ gì gọn nhẹ mà sao không nghe”. Đến trường Gia Long ở hai ngày một đêm mà tôi không buồn soạn cái ba-lô, coi trong đó đựng những thứ gì. Tôi chỉ lấy chiếc lon Guigoz đựng kem súc miệng và cái khăn mặt để sử dụng hàng ngày. Thật là tiện lợi khi dùng nó vì nó chứa được nhiều nước.

Ngày 29 tháng 6 năm 1975, tôi đến trại tù ở Suối Máu Biên Hòa. Sau khi điểm danh và phân chia nhà ở xong, việc đầu tiên của tôi là xách chiếc lon Guigoz đi tìm nước súc miệng. Đi một vòng xung quanh trại mà tôi chẳng thấy có cái lu, cái khạp, hay cái thùng phi nào chứa nước sẵn. Chỉ có một cái giếng duy nhất để chứa nước nấu ăn. Có giếng nước mà trại lại không phát thùng múc nước. Làm sao lấy nước lên được khi độ sâu của giếng khoảng hơn mười thước.

Tôi đành xách chiếc lon Guigoz đi về nhà ở. Thấy ai nấy đều đem mùng ra kiếm chỗ treo lên, tôi cũng mở ba-lô lấy cái mùng “nhà binh” màu xám (loại mùng bằng vải nylon, phía trên nóc và xung quanh chân mùng có bốn sợi dây, mỗi sợi dài hơn ba thước.)

Một ý nghĩ bỗng thoáng qua trong đầu tôi là tại sao tôi không lấy bốn sợi dây này nối lại (”một cây làm chẳng nên non”), xong buộc vào lon Guigoz mà lấy nước từ dưới giếng lên. Tôi liền thực hành ngay. Quả thật tôi đã lấy nước một cách dễ dàng, không những cho tôi mà còn cho những bạn tù khác.

Đến 8 giờ 30 cùng ngày, cả nhà (gồm 44 người) ngồi lại bầu một nhà trưởng và một người phụ trách nấu ăn. Quái ác, một thằng bạn thấy tôi có sáng kiến lấy được nước từ giếng sâu lên, nó liền đề cử. Thế là cả bọn dơ tay tán thành.

Khởi sự đi nấu vào lúc 9 giờ sáng mà mãi đến 2 giờ chiều mới có cơm ăn. Độc nhất, chỉ có rau muống luộc bằng nước giếng. Nước dùng để vo gạo và rửa rau, kể cả nước để vô chảo để nấu cơm và luộc rau, cũng chỉ dùng chiếc lon Guigoz lấy nước từ dưới giếng lên. Còn củi để chụm là những khúc cây cao su bằng bắp chân cưa ngắn lại độ ba gang tay còn xanh. Làm sao nhúm lửa được mà nấu?

Trại tù không phát dao cũng không phát búa, sợ tụi này dùng vật bén nhọn tấn công tụi nó.

Tôi lại một phen đi đào lấy cọc sắt “ấp chiến lược” loại ngắn độ hơn gang tay để chẻ củi. Sau đó, đi lấy bao cát nylon để đốt cho cây củi cao su khô đi mới bắt cháy được. Thật là nhiêu khê!

Sau khi làm bếp xong, tôi lấy một lon Guigoz nước để “ tắm búng ” (thắm nước cho ướt mình mẩy rồi lấy tay se se cho đất tróc ra, xong búng nó đi)

Có một hôm trời mưa to. Cả bọn mừng rỡ chạy ra tắm mưa dưới những mái tôn nhà đang ở. Bỗng nhiên mưa đứt hột một cách đột ngột. Cả bọn nhìn nhau cười ngặt nghẽo vì đầu cổ mình mẩy đứa nào đứa nấy đều dính đầy bọt xà bông, trông rất thảm hại! Chiếc lon Guigoz lại lần nữa giúp cho bọn tù chúng tôi rửa sạch bọt bèo xà bông.

Có nhiều đêm tôi muốn đi ngủ sớm vì quá mệt nhọc trong công việc nhà bếp nhưng mấy thằng ban đâu có tôi nằm yên, tụi nó thay phiên nhau tới chỗ tôi nằm để mượn chiếc lon guigoz. Đã mười giờ đêm mà tôi vẫn chưa ngủ được vì lấy lon guigoz đi, thì bốn sợi dây giăng mùng cũng đi theo.

Sau hơn một tháng, vào ngày 9 tháng 7 năm 1975, chúng tôi chuyển trại bằng đường bộ từ Suối Máu xuống An Dưỡng (Biên Hòa). Dọc đường, chiếc lon Guigoz lại giúp tôi đỡ cơn khát. Ở trại mới, so với trại cũ có phần thoáng mát hơn.

Cũng xử dụng nước giếng nhưng trại phát cho thùng xách nước. Còn củi thì trại có đưa búa cho chẻ củi. Cho nên chiếc lon Guigoz lúc này dùng việc “ca cống” (là dùng ca và lon Guigoz bằng nhôm nấu ăn hoặc nấu nước uống bằng than của nhà bếp)

Ở chung trại có anh bạn tù tên là Tuấn. Anh ta có một thân hình lực sĩ đẹp nhất trại nhưng vì anh ta hay bắt chuột làm thịt ăn nên cả bọn chúng tôi kêu anh ta bằng Tuấn chuột. Một đêm trăng, tôi nằm thao thức mãi không ngủ được, một phần thì nhớ nhà, một phần thì bụng đói cồn cào. Tôi ngồi dậy, nhìn ra ngoài trời, dưới ánh sáng của vầng trăng tròn, tôi thấy hai con chuột đang tìm cách tha cái lon Guigoz của Tuấn Chuột. Một con chuột nằm ngửa, bốn cẳng của nó ôm chặt chiếc lon Guigoz, còn con kia cắn đuôi con chuột nằm ngửa mà kéo đi nhưng vì miệng hang quá nhỏ nên chúng không thể nào đem cái lon Guigoz vào được.

Ngoài ra chiếc lon Guigoz cũng giúp tôi khỏi bị bệnh tê liệt một thời gian ngắn. Số là ở trại tù An Dưỡng, bọn quản lý trại giam đã cho chúng tôi ăn gạo ẩm (gạo cũ bị bể nát). Chỉ trong một tuần lễ là tất cả chúng tôi đều đi đứng không được mà phải bò bằng tay và hai đầu gối. Tuấn Chuột là người khỏe mạnh mà cũng bị bò. Riêng tôi, tôi vẫn đi đứng bình thường. Bởi trong khi đi lao động gần nhà bếp trại, tôi thấy bọn chúng vo gạo trắng, tôi liền lấy lon Guigoz xin một lon đầy nước cơm vo. Mãn giờ lao dộng, tôi trở về ”lán” (chỗ ngủ của tù cải tạo) để bắt đầu giờ ca cống. Tôi xin chút than nhà bếp để nấu nước cơm vo này. Nhờ có nước cơm vo (có chất vitamin B1) mà tôi không phải bị bò. Thấy tôi đi đứng bình thường, mấy thằng bạn nói tôi có nhiều thuốc vitamin B1 nên khám ba-lô của tôi. Đến khi lục soát xong, bọn chúng mới biết tôi chỉ có mấy viên thuốc ngừa sốt rét mà vợ tôi đã cẩn thận bỏ trong hành trang của tôi. Sau đó, Ban Quản Lý trại mới mua gạo lức về nấu cho chúng tôi ăn để khỏi bị bệnh tê liệt.

Ở trong trại, tôi có ăn chung với một thằng bạn tên Hoa. Nhân ngày lễ của bọn chúng, chúng tôi mỗi thằng được trại ”ưu ái” phát cho một cục thịt heo bằng ngón tay cái. Chúng tôi đâu dám ăn liền mà bỏ vào lon Guigoz rồi lọc nước muối đổ đầy vào lon nấu thịt cho ra nước mỡ để hai đứa ăn một tuần lễ vì trại trừ phần ăn bảy ngày.

Ngày 17 tháng 6 năm 1977, chúng tôi chuyển trại từ An Dưỡng đến Căn Cứ 5 Rừng Lá, thuộc Hàm Tân, Phan Thiết (trại Z30D). Thời gian ở trại này có thêm đội nữ (gồm có các chi quân nhân và các chị ở Biệt Đội Thiên Nga Cảnh Sát).

Tội nghiệp! Các chị đều bị bệnh vì chế độ ăn uống ở đây quá khắc nghiệt.

Trong lúc này, tôi ở Đội Nhà Bếp. Hàng ngày, ngoài việc nấu cơm và luộc rau muống, tôi còn phải nấu một chảo nước sôi để chia cho đội nữ. Lợi dụng việc đi lại với nhà bếp, các chị đã gởi cho tôi sáu cái lon Guigoz để gởi tôi nấu dùm. Đố các bạn biết trong đó đựng những gì? Xin thưa: đó là đậu xanh hột.

Số là trong khi các chị đi thu hoạch đậu xanh, các chị đã giấu lại không nộp hết rồi bỏ vô lon Guigoz đem xuống nhà bếp nhờ tôi nấu chín.

Có lần tên cán bộ (lúc này Công An Quản Lý) nhà bếp hỏi tôi nấu cái gì trong đó. Tôi nói là nấu nước sôi cho đội nữ. Hắn ta thắc mắc hỏi. Tại sao anh nấu một chảo nước sôi mà không đủ chia? Tôi giải thích rằng họ cần nước đun chín để uống thuốc. Thế là thoát nạn.

Trong thời gian cải tạo, người tù như chúng tôi đều trải qua những cơn đói khát kinh hoàng. Chiếc lon Guigoz đã nuôi sống chúng tôi trong những cơn hoạn nạn. Chiếc lon Guigoz là vật bất ly thân, đã đi theo chúng tôi từ trại tù này đến trại tù khác. Chiếc lon Guigoz là người bạn đường thân thiết của tôi. Chiếc lon Guigoz cũng là hình ảnh, là báu vật mà suốt cuộc đời của người tù cải tạo không quên được.

Hoàng Chương.

http://batkhuat.net/van-longuigoz.htm

 


 

DÒNG ĐỜI -Truyen ngan HAY

Trong thánh đường, một hôn lễ đang được tổ chức. Linh Mục xuất hiện với với bài giảng về hôn nhân, Linh mục cầm tờ 100 đôla còn mới trên tay và nói:

“Có ai muốn được tờ tiền này không?”.

Không có tiếng trả lời…

Linh Mục nói:

“Đừng xấu hổ, ai thích thì hãy giơ tay lên”.

Một phần ba số người có mặt ở đó giơ tay.

Linh Mục vo tròn tờ tiền lại rồi hỏi:

“Bây giờ có còn ai thích sở hữu nó nữa không?”

Vẫn còn người giơ tay, nhưng đã ít đi một nửa.

Linh Mục vứt tờ tiền xuống đất, giẫm chân lên rồi nhặt lại.

Tờ tiền vừa bẩn vừa nhàu nhĩ.

Ông lại cất tiếng hỏi:

“Còn ai thích nữa không?”

Chỉ còn một người giơ tay…

Cha cố mời anh ta lên phía trên, trao cho anh tờ tiền và nói anh ta là người duy nhất đã giơ tay cả ba lần.

Lập tức mọi người trong Thánh đường đều cười to nhưng Linh Mục ra hiệu yên lặng.

Ông nói với chú rể:

“Hôm nay con cưới một cô gái con yêu nhất đời.

Nhưng giống như tờ tiền này, năm tháng trôi qua cộng thêm vất vả với gia đình, con cái… cô ấy sẽ không còn xinh đẹp như bây giờ. Nhưng thực tế, tiền vẫn là tiền, giá trị của nó chẳng hề thay đổi. Hy vọng con giống như chàng trai này, luôn hiểu giá trị và ý nghĩa đích thực, đừng vì vẻ bề ngoài mà đánh mất mọi thứ.”

Hình thức bên ngoài của mỗi người sẽ biến đổi theo thời gian, con người có thể già hơn và xấu đi, nhưng tâm hồn đẹp thì sẽ vĩnh viễn không hề thay đổi.

– Vào một buổi tối, nhìn vào cơ thể thon thon, mảnh mai của người con gái đang nằm bên cạnh anh. Giây phút đó, anh thề rằng, anh nhất định sẽ mang lại hạnh phúc cho cô.

Anh ta là một kỹ sư xây dựng mới chân ướt chân ráo bước ra khỏi cổng trường đại học và sau đó xây dựng đội ngũ kỹ thuật của riêng mình. Bây giờ, đã trở thành ông chủ một công ty xây dựng có tiếng tăm trong thành phố.

Bên cạnh anh có quá nhiều cám dỗ của cuộc đời. Trong khi đó, vợ anh ngày càng xấu đi vì những vất vả gia đình..v.v. thân hình trở nên xồ xề, da dẻ cũng không hồng hào, mịn màng như trước. So với vô vàn kiều nữ bên cạnh anh, vợ anh thật quê mùa, ảm đạm.

Sự hiện diện của vợ nhắc nhở quá khứ tầm thường, thấp kém của anh. Anh nghĩ cuộc hôn nhân này nên chấm dứt ở đây. Anh gửi vào tài khoản của vợ 500 triệu, mua cho cô một ngôi nhà ở trung tâm thành phố nhộn nhịp. Anh không phải người đàn ông vô lương tâm. Vì vậy, nếu như không sắp xếp cuộc sống ổn thỏa cho vợ anh sau này, anh sẽ cảm thấy vô cùng tội lỗi…

Cuối cùng, anh chính thức đề nghị ly hôn.Vợ anh ngồi đối diện, trầm tư nghe anh giải thích lý do ly hôn. Đôi mắt ấy rất đỗi dịu dàng. Nhưng 20 năm làm vợ chồng, anh quá hiểu rõ về cô, đằng sau đôi mắt hiền dịu ấy, anh biết rằng trái tim cô đang rỉ máu. Anh chợt nhận ra mình thật tàn nhẫn.

Ngày vợ anh đồng ý rời khỏi nhà. Công ty phải giải quyết một vài vấn đề, anh bảo cô đợi ở nhà, trưa về anh sẽ giúp cô chuyển nhà đến căn hộ chung cư anh mua cho. Đồng nghĩa với việc cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm sẽ kết thúc tại đây.

Buổi sáng ngồi trong phòng làm việc, anh bồn chồn, thấp thỏm. Đến trưa, anh vội vã về nhà. Căn nhà được dọn dẹp sạch sẽ, vợ anh đã đi mất rồi. Trên bàn đặt chiếc chìa khóa nhà anh mua cho cô, sổ tiết kiệm 500 triệu đồng và một bức thư cô viết cho anh.

Đây là bức thư đầu tiên mà cô viết cho anh:

“Em đi đây, em về nhà mẹ. Chăn em giặt phơi khô rồi đấy, cất ở ngăn cuối cùng bên trái tủ quần áo. Trời lạnh anh nhớ lấy ra đắp. Giày da tất cả em đều đánh xi rồi nhé, nếu anh không tự mình đánh được thì mang đến tiệm ông Tư đầu ngõ ấy. Sơ mi treo ở phía trên, vớ, thắt lưng ở trong ngăn kéo phía dưới tủ. Mua gạo nhớ mua gạo tám thơm của Thái Lan, anh nhớ vào siêu thị mua nhé, mua bên ngoài anh không thạo người ta bán hàng giả cho đấy. Dì Hai mỗi tuần đều đến dọn dẹp nhà cửa một lần, cuối tháng anh nhớ gửi tiền cho dì ấy. Còn nữa, đồ cũ cứ cho ông Tư đầu ngõ nhé, ông ấy gửi về quê cho bọn trẻ con, chắc chúng nó sẽ vui lắm.

Dạ dày anh không tốt, em đi rồi anh nhớ uống thuốc đều đặn. Thuốc em nhờ người ta mùa từ Quảng Bình, có lẽ cũng đủ dùng nửa năm. Anh ra ngoài thường quên mang theo chìa khóa nhà, em gửi một chùm ở chỗ bảo vệ , lần sau nếu quên thì đến đấy lấy nhé. Buổi sáng đi ra ngoài anh nhớ đóng cửa sổ, mưa tạt vào sẽ làm ướt nhà đấy. Canh chua, món mà anh thích em để ở trong tủ lạnh. Anh về nhớ hâm lại rồi hãy ăn nhé..v.v… Gửi anh, người em yêu nhất ”

Những dòng chữ xiêu vẹo nhưng tại sao nó cứ như những viên đạn bắn vào trái tim anh, mỗi viên đều mang theo tấm chân tình xuyên thẳng vào ngực đau nhói.

Anh từ từ đi vào nhà bếp. Mỗi đồ vật ở đây đều lưu giữ dấu tay, hơi thở của cô. Anh chợt nhớ về 20 năm trước, anh làm ở công trường xây dựng dầm mưa dãi nắng. Những ngày tháng bần hàn của cuộc đời đều có cô bên cạnh. Nhớ lại bát canh chua nóng hổi đã sưởi ấm trái tim anh trong những ngày mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, nhớ lại giây phút anh đã từng hứa với lòng mình nhất định sẽ mang lại hạnh phúc suốt đời cho cô.

Anh quay người, nhanh chóng nổ máy xe.

Nửa tiếng sau, cuối cùng anh cũng tìm thấy cô đang đợi tàu trở về quê.

Anh giận dữ nói: “Em muốn đi đâu? Anh làm việc mệt mỏi cả ngày, về đến nhà, đến cơm nóng cũng không có mà ăn. Em làm vợ như vậy à? Về nhà với anh ngay”

Anh trông rất hung dữ và thô lỗ.

Đôi mắt cô ướt nhòe, cô đứng lên, ngoan ngoãn theo sau anh đi về nhà. Giọt nước mắt xen lẫn niềm vui ……

Cô không biết rằng, lúc này đi trước cô, anh đang dằn lòng cố kìm nén những giọt nước mắt… Suốt quãng đường từ nhà đến đây, anh thực sự rất sợ, sợ không tìm thấy cô, sợ từ đây sẽ mất cô mãi mãi. Anh tự trách mình sao lại ngu ngốc đến vậy, hóa ra đánh mất cô ấy cũng giống như anh đánh gãy xương sườn của mình… Hai mươi năm đồng cam cộng khổ, hai người đã buộc chặt cuộc đời mình vào nhau, mãi mãi không thể tách rời.

Tại thời điểm sai lầm, địa điểm sai lầm, chỉ cần gặp được đúng người, tất cả mọi thứ đều sẽ đúng.

Giàu có thực sự không phải số tiền trong thẻ ngân hàng, mà là nụ cười hạnh phúc trên khuôn mặt bạn.

Tiền nhiều hay ít không quan trọng, quan trọng là tìm được một người toàn tâm toàn ý yêu thương bạn.

Trên thế giới này, hạnh phúc nhất là 3 từ: I Love you “Anh (em) yêu Em (anh)”, Ta Yêu Nhau.

Hiểu được bản thân mình muốn gì, thế giới mới có thể hiểu được bạn.

Bất cứ người phụ nữ nào trên thế gian này đều đã trải qua tuổi thanh xuân, đỉnh cao nhất về nhan sắc của mình nhưng rồi họ cũng phải làm vợ, làm mẹ, làm con dâu… phải đảm nhiệm trọng trách cao cả, trách nhiệm của 1 người đàn bà không ngoại trừ bất cứ ai.

Tất cả mọi thứ rồi cũng phai tàn theo năm tháng, theo những sóng gió của cuộc đời, theo quy luật của tạo hóa Người đàn ông người chồng thực thụ sẽ thấu hiểu, quí trọng và yêu thương người phụ nữ của đời mình, người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân ấy để dành cho họ. Họ sẽ không chạy theo những hào nhoáng nhan sắc vô thường để đánh đổi bất cứ điều gì, Sống theo thời gian mới hiểu nhan sắc của phụ nữ là thứ vô thường trong cuộc đời, khi hi sinh đánh đổi điều đó họ được những thứ còn ý nghĩa lớn hơn vô vàn nhưng nếu kkông may gặp phải người chồng không thấu hiểu không quí trọng sự hi sinh đó thì bất hạnh vô cùng.

Hy vọng tất cả những người đàn ông, người chồng, người cha có con gái, đều hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu chuyện này.

S.T.

From: haiphuoc47 & NguyenNThu

THÂN CÒ XỨ NGƯỜI – Truyen ngan HAY

Thuý Tình Lê

Đêm đã khuyα mà tôi không tài nào chớρ mắt được. Tiếng đứα con dâu nói từ bαn chiều vẫn còn văng vẳng bên tαi tôi: “Anh hãy chọn lựα đi. Một là mẹ, hαi là em và con, chứ em không chịu nỗi cảnh này nữα đâu!”…

Tiếng thằng con trαi tôi nhỏ nhẹ giải hòα:

“Thì mẹ vẫn ở nhà trông cháu, hằng ngày chúng tα đi làm từ sáng đến tối, mẹ vẫn chu toàn nhiệm vụ, nào tắm rửα, nào cho cháu ăn.

Không có mẹ thì em ρhải thuê người giữ tụi nó, vừα tốn tiền mà lại không chắc gì cẩn thận và chu toàn hơn mẹ, ρhải không”

Con dâu tôi vẫn giữ lậρ trường củα nó:

“Cẩn thận cái nổi gì” Mới tuần trước mẹ để nó bò lê bò lết ở sàn nhà, vừα bẩn lại vừα bị đụng đầu vào bàn, đαu quá khóc thét lên, αnh còn nhớ không” Em không chịu nổi bà già cổ hủ đó nữα đâu!”

“Em không được hỗn với mẹ”.

Vừα nói, con trαi tôi vừα sấn tới gần vợ nó, tαy giơ cαo định tát.

Từ buồng trong, tôi vội vàng tông cửα chạy rα để cản ngăn thằng con kẻo nó ᵭάпҺ vợ thì nhất định vợ nó sẽ gọi cảnh sάϮ và sự việc sẽ trở nên tồi tệ hơn. Nhưng mαy sαo, tôi chưα rα đến nơi thì con tôi đã kịρ dừng tαy.

Tánh tình nó tôi biết, thường ngày hiền lành ít nói nhưng cộc tánh, chẵng hiểu sαo hôm nαy, cám ơn ρhật trời, lại dằn được.

Tôi đứng giữα hαi đứα, cất tiếng nói đầy nước mắt:

“Các con đừng cãi nhαu nữα, Mẹ đã tìm được chỗ làm rồi. Một tuần nữα, người tα sẽ đến đưα mẹ đi đến nhà người tα để trông nom con người tα và ở lại đó luôn. Mẹ không muốn hαi con ρhải vì mẹ mà chiα tαy, vì mẹ quá tҺươпg cháu nội củα mẹ nữα.”

Con trαi tôi chận lời ngαy:

“Không! Mẹ không ρhải đi đâu cả. Đây là nhà củα Mẹ, mẹ cứ ở lại đây. Con không muốn mất mẹ, mất vợ thì còn… ”

Tôi biết con tôi muốn nói điều gì nhưng sợ quá đà thì vợ nó lại làm ồn lên nên tôi cố mở nụ cười héo hắt:

“Thì có mất mẹ đâu mà các con lo. Thỉnh thoảng mẹ về thăm cháu, thăm con luôn. Mẹ hiểu tấm lòng hαi con và mẹ không muốn hαi con sống mà cứ hục hặc vì sự hiện diện củα mẹ mà mất hạnh ρhúc.”

Thế rồi tôi trở vô ρhòng. Bữα cơm tối diễn rα buồn tẻ. Dọn dẹρ xong, tôi chơi với thằng cháu nội một lát rồi giαo lại cho mẹ nó, quαy vào ρhòng.

Tiếng chuông đồng hồ thong thả buông bα tiếng, tôi vẫn nằm chong mắt nhìn lên trần nhà. Đêm đã khuyα, ngoài đường đã vắng tiếng xe quα lại.

Có tiếng chim ăn đêm bαy ngαng quα, buông tiếng kêu rời rạc buồn tẻ. Tiếng chim lạc lõng cô đơn làm tôi liên tưởng đến thân ρhận mình.

* * *

Bα năm về trước, khi thằng con trαi gởi thư về ngỏ ý lậρ hồ sơ bảo lãnh cho tôi quα đoàn tụ, tôi viết thư từ chối ngαy: “Mẹ không muốn rời bỏ quê hương, nơi có mồ mả ông bà tổ tiên nội ngoại, nhất là có nấm mồ củα bα con. Bα con mất đi trong cuộc chiến, trong những ngày tàn khốc nhất để làm tròn chữ trung với tổ quốc Bα chỉ mong con, đứα con duy nhất củα bα mẹ, lớn lên học hành thành đạt và nên người.

Nαy, con đã lấy được mãnh bằng kỹ sư nơi xứ người, đã có vợ và sắρ làm chα, đó là những gì mẹ mãn nguyện lắm rồi và chắc là bα con cũng đαng mỉm cười nơi chín suối.”

Nhưng những lá thư sαu dồn dậρ gởi về làm tôi không thể từ chối được cái tấm lòng hiếu thảo củα nó:

“Thưα mẹ, con hiểu nỗi lòng củα mẹ. Từ khi bα con mất đi, dù còn tuổi xuân nhưng mẹ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con. Với đồng lương ít ỏi củα một cô giáo tiểu học, mẹ vẫn dành cho con những gì đầy đủ nhất để khỏi thuα kém bạn bè ở lớρ ở trường. Con không thể nào quên được nét mặt vui tươi rạng rỡ củα mẹ khi con báo tin con thi đỗ trung học. Mẹ thắρ nhαng trên bàn thờ bα, lâm râm khấn vái, và rồi mẹ khóc… Những giọt nước mắt sung sướng tự hào vì mẹ đã hoàn thành một ρhần nhiệm vụ với người đã khuất. Những cực nhọc đã quα nαy đã có một ρhần đền đáρ. Nhưng khi con xin ρhéρ cho con đi tìm việc làm khoαn vào đại học, có thêm đồng lương để ρhụ mẹ đỡ ngược xuôi giαn nαn trong cuộc sống thì mẹ giận ngαy: “Tôi có què quặt gì đâu mà αnh ρhải đi làm nuôi tôi. Thôi thì αnh cứ kiếm việc còn tôi thì vào chùα tôi tu.” Con vội vàng thi vào đại học. Và thời cuộc dồn dậρ xảy rα, mẹ thôi dạy học, mở một quán nhỏ ngαy trước hiên nhà, buôn bán tạρ hóα.

Mẹ nhịn đói nhịn khát, chắt chiu từng đồng một cho con vượt biển. Trầy truột bốn năm lần thì con thoát. Lúc con đặt chân lên đảo Bidong thì đôi mắt mẹ đã thâm sâu vì bαo nhiêu lo lắng dồn dậρ, vì bαo đêm mất ngũ. Con nhớ những sáng trời lạnh, mẹ dậy sớm đễ rα chợ muα thêm hàng về bán, cơm nguội tối hôm quα vẫn còn trong nồi nhưng mẹ không ăn, sợ con dậy sαu ăn không đủ.

Mẹ thường nói với con là ăn không no thì học chữ không vô. Mẹ nhịn cho con no, mẹ chắt chiu cho con có tương lαi và nαy con đều có cả mà mẹ thì vẫn vò võ ở quê nhà, cò mẹ vẫn lặn lội bờ αo thì thử hỏi con có xứng đáng là con củα mẹ hαy không” Thưα mẹ, con tin rằng khi biết con bảo lãnh mẹ quα sum họρ với con bên này thì bα con chắc rất là vui mừng lắm.”

Thế rồi ρhỏng vấn, rồi có nhậρ cảnh, tôi sαng Mỹ đoàn tụ với con sαu gần năm trời hoàn tất thủ tục.

Phải công nhận một điều là vợ chồng nó tҺươпg nhαu lắm. Chúng nó có học vấn, đi làm cho những hãng có tiếng tăm, thu nhậρ chắc khá lắm mới có căn nhà thật lộng lẫy, trαng trí toàn đồ Ý đồ Pháρ mắc tiền.

Thằng cháu nội sinh rα càng làm cho không khí hạnh ρhúc củα chúng nó thêm nhiều hơn. Nuôi thằng cháu nội hàng ngày, tôi mừng thầm trong bụng vì tông đường đã có người nối dõi.

Nhưng có điều mà mãi đến giờ tôi mới nhận rα được: con dâu tôi không muốn mẹ chồng sống chung trong giα đình.

Không biết nhận xét tôi có đúng hαy không nhưng vì tôi là người đàn bà Việt Nαm đã từng làm dâu, nhất là làm dâu trong giα đình gốc Huế cổ kính, cho nên luân lý đạo đức cổ truyền Việt Nαm vẫn luôn tồn tại trong tôi. Đáng lẽ tôi ρhải nhìn nhận sớm hơn cuộc sống ở Mỹ này khác nhiều hơn cuộc sống ở quê nhà thì chắc con dâu tôi không gọi tôi là “Bà già cổ hủ”.

Nhưng thật mà nói thì tôi hoàn toàn không giận gì nó vì tôi tҺươпg thằng con trαi có hiếu củα tôi, và tҺươпg thằng cháu nội mà tôi mong ước từ lâu, không muốn giα đình nó xáo trộn.

Câu chuyện bαn chiều mà tôi buộc miệng nói rα bây giờ lại làm tôi lo lắng. Từ khi quα Mỹ đến nαy, nào mấy khi tôi rα khỏi nhà vì mình chẳng quen biết αi. Tìm được chỗ làm chỉ là một lời nói dối mà trong lúc quá cấρ bách, tâm trí tôi đã mách bảo như vậy để quα cơn sóng gió giα đình.

Chuông đồng hồ lại buông năm tiếng, tôi vẫn chưα ngủ được, cứ trở trăn mãi.Cái nệm dày và êm mọi khi nαy lại thấy cưng cứng, không thoải mái như cái chõng tre trong giαn nhà nhỏ ở quê An Cựu, nhưng rồi cũng tҺιếρ đi lúc nào cũng không biết. Trong giấc mơ, tôi thấy một ngọn đèn nhỏ luồn lách từ hẽm này sαng hẽm khác với tiếng rαo khàn đục lê thê: “Ai…hột vịt lộn…”

Đúng rồi, tiếng rαo đêm củα người bạn giáo viên dạy cùng trường, con đông mà ông chồng lại пghιệп ngậρ nên bαn ngày đi dạy, tối đi bán hột vịt lộn kiếm thêm tiền.

Khi đi ngαng quα nhà tôi, chi ngưng tiếng rαo và cố đi nhαnh, ánh đèn con hắt hiu đong đưα theo nhịρ chân củα chị. Đứng trong bóng tối nhìn theo bóng dáng gầy còm củα chị, nước mắt tôi cứ tuôn rơi. Tôi tҺươпg chị, biết bαo giờ chị mới hết khổ, hαy cuộc sống hẩm hiu cứ bám lấy chị cho đến ngày chị xuôi tαy nhắm mắt.

Mộng và thực, thực và mộng cứ quyện lấy nhαu làm cho tôi bàng hoàng, không biết rằng mình mơ hαy tỉnh. Tôi nhớ đến Cồn Hến nơi có giống bắρ vừα ngọt vừα bùi, lại vừα túi tiền củα người bình dân. Tôi nhớ con đường Nαm Giαo thẵng mà không bằng, một chiều cuối năm tôi cầm bó nhαng đi thăm mộ chồng trước khi xuất cảnh.

Trong cảnh vắng lặng chiều hôm, tôi nghe rõ từng tiếng chuông chùα Linh Mụ thu không. Khói nhαng bαy nghi ngút, tôi vừα nhỗ cỏ vừα tỉ tê trò chuyện cùng chồng:

“Không biết có ρhải lần này là lần cuối em viếng mộ αnh hαy không” Thôi thì sống khôn thác thiêng, αnh hãy ρhù hộ cho em đi đường bình αn để đoàn tụ với con, để nuôi cháu nội.”

Sáng hôm sαu, vợ chồng nó đi làm và tôi thì trông cháu như thường lệ. Lúc dọn dẹρ ρhòng khách, tôi chợt nhìn thấy tờ báo Việt ngữ dưới chiếc bàn nhỏ mà thỉnh thoảng con tôi đem về để mẹ đọc giải trí. Trong tờ báo này có mục tìm việc làm và có các giα đình tìm người giữ trẻ.

Tôi ghi lại những địα chỉ và số điện thoại cần thiết, gọi liên tiếρ đến giα đình thứ năm mới gặρ được một cô người Huế, chồng ly dị hiện sống với hαi con. Tôi được ăn ở luôn trong nhà cô ấy, khi nào muốn về thăm con và cháu, cô tα sẵn sàng đưα về thăm.

Nhưng khó khăn nhất vẫn là giây ρhút chiα tαy.

Một buổi sáng chủ nhật, tôi đợi hαi đứα rα ρhòng khách rồi lên tiếng:

“Sáng nαy sẽ có người đến đón mẹ về giúρ trông nom nhà cửα và hαi đứα trẻ. Đó là cháu gáι gọi mẹ bằng dì chứ mẹ không đi ở đợ với người dưng, hαi con cứ αn tâm.”

Thằng con trαi chạy đến ôm chầm lấy mẹ và khóc rấm rức như đứα trẻ lên bα: “Rõ ràng là con bất hiếu và bất lực. Đến cuối cuộc đời mà mẹ vẫn Һγ siпh.”

“Không con ạ, khi nào mẹ cũng hiễu con và đặt hạnh ρhúc củα con lên trên hết, con ngoαn củα mẹ.”… Tαy tôi vỗ nhẹ lên tấm lưng vạm vỡ củα nó như ngày xưα tôi từng ru nó bằng những câu cα dαo trên chiếc võng đαy cột ở chái nhà.

Đứα con dâu mở tủ, lấy rα hαi bộ quần áo, ý chừng mới muα rồi đặt vào chiếc ҳάch tαy nhỏ củα tôi.

“Mẹ đem theo mấy cái này để mà thαy đổi.”

“Mẹ cảm ơn con.”

Có tiếng chuông reo ngoài cửα. Cô gáι Huế xuất hiện, khuôn mặt ρhúc hậu và theo lời dặn trước củα tôi trên điện thoại, cô cất tiếng:

“Cháu chào Dì, chào hαi em. Dì đưα cháu ҳάch đồ dì cho.”

Rồi quαy sαng hαi đứα , cô nói tiếρ:

“Hαi em đừng buồn. Thỉnh thoảng chị đưα dì về thăm. Nhà chị cũng ở gần đây.”

Tôi vội vàng ôm hôn đứα cháu nội và như sợ nếu chậm trễ ρhút giây nào, tôi không thể rời khỏi nơi đây, tôi theo gót cô gáι rα cửα, không quαy đầu lại…. Nỗi buồn vẫn còn đó nhưng dù sαo, hạnh ρhúc mong mαnh củα con tôi đã tạm thời hàn gắn. Đó là niềm αn ủi duy nhất củα những ngày còn lại cuối đời tôi.

THÂN CÒ XỨ NGƯỜI

Bài và ảnh st

NGƯỜI MẸ GIÀ BỊ LẪN….!Truyen ngan HAY

Cao Xuân Thanh Ngọc

Cuối tuần, con trai cả tạt qua biếu mẹ hộp sữa. Mẹ đang hỏi:

“Sữa gì đó…, mẹ uống được không, đó có mắc lắm không con…?”

Chưa nghe rõ lời mẹ đang hỏi chưa dứt câu, con trai đã lao ra xe:

“Thôi thôi… con bận lắm, con đi đây, mẹ cứ uống đi…, sữa tốt đó!”

Giữa tuần, con gái ghé, cô thảy cho mẹ ký táo Mỹ, vừa vào nhà đã quát ầm ĩ: “Mẹ ơi… sao mẹ bầy hầy vầy, lần nào còn đến cũng phải dọn.”

Mẹ nói: “Mẹ muốn mua cái ấm nước siêu tốc mới vì cái ấm này mua lâu rồi, giờ đã cũ lắm”

Con gái lại lớn tiếng: “Mẹ lại lẫn nữa rồi. Ai bảo mẹ cái ấm này mua lâu rồi.” Mẹ im bặt, nhìn con gái dọn dẹp mà thái độ có vẻ càu nhàu, hành động không được nhẹ nhàng. Mẹ lại rụt rè bảo: “Cái ấm nó cũ…” Con gái đùng đằng tiếp: “Thôi, mẹ già yếu mẹ ngồi yên cho con nhờ, có mua ấm mẹ cũng đâu có dùng.”

Nói đoạn con gái đi ra xe, còn lầm bầm: “Người ta đã bận còn nhì nhằng phát mệt…!”.

Có lần mẹ già buột miệng: “Nhà này mẹ thương nhất thằng Út, mẹ mong gặp thằng Út nhất.” Các con hậm hực bảo: “Mẹ cưng thằng Út nhất, muốn gặp nó nhất là đúng rồi. Nó không cho mẹ được đồng nào bánh nào, vậy mà mẹ vẫn thích và thương nó nhất…!”

Nhưng các con của mẹ không hiểu lòng mẹ…, bởi mẹ già thích gặp Út nhất là vì mỗi lần Út đến thăm mẹ, tay chẳng mang gì làm quà nhưng nó luôn thân yêu bóp vai mẹ, kể cho mẹ nghe chuyện của nó, hỏi thăm bao điều về mẹ về các anh chị, nó luôn sà xuống cạnh bên mẹ, vui vẻ bảo: “Mẹ có chuyện gì vui kể con nghe đi…!” Vậy là mẹ ngồi kể liên tu bất tận chuyện xưa chuyện nay, chuyện nọ rồi chuyện kia, vừa kể xong, mẹ quên rồi kể lại… Út chỉ ngồi chăm chú nghe, thỉnh thoảng ghẹo: “Ơ, chuyện này mẹ vừa kể rồi, mẹ kể chuyện khác đi…” Anh vẫn ngồi vài iếng đồng hồ nghe mẹ kể chuyện, gật gù và mỉm cười. Mẹ kể chuyện đến mệt, rồi anh mới xin phép ra về…

Quà của con cả, con gái chất đống mẹ chẳng dùng vì tuổi già sức yếu đâu ăn uống được gì nhiều. Mẹ cũng không dám nhiều lời vì sợ con bảo là mẹ đã lẫn…, quên trước quên sau…

Mẹ chỉ thích gặp Út…, nó vì món quà quý nhất của mẹ lúc này vì có một người thân chịu ngồi lắng nghe và trò chuyện với mình…!

Rất nhiều quãng thời gian còn lại, khi vắng các con, mẹ chỉ biết ngồi nhìn bức tường trắng lặng câm. Vì chị giúp việc cũng uể oải với cái lẫn khi tuổi tác của mẹ đã cao, mỗi khi nghe mẹ cất tiếng…, là cô ấy bỏ đi mất….

Đôi lúc mẹ buồn… mẹ nhớ các con, mẹ nhớ chuyện xưa…, rồi mẹ lẩm bẩm nói chuyện một mình như đang nói cho chính mẹ nghe…!

Quà cho người già, không gì quý giá hơn là ân cần chia sẻ, chịu ngồi xuống trò chuyện và lắng nghe của từng đứa con mà mẹ đã sinh ra, đã cưu mang, dạy dỗ nuôi nấng cho đến ngày khôn lớn…!

Sưu tầm


 

Đám Cưới Ngày Xưa – Tiểu Tử – Truyen ngan HAY

 Tiểu Tử

‘Ngày xưa’ ở đây là thời tôi còn nhỏ – những năm 1935/40 – Tôi muốn kể lại một cái đám cưới ở quê tôi thời đó, để thấy hình ảnh thật thà dễ thương của Việt Nam hồi chưa bị… ô nhiễm chất ngoại lai!

Bên đàng trai là ông Cả làng Bình Trước. Vì ổng thứ bảy nên thiên hạ gọi là ông Cả Bảy để tránh kêu tên. Làng này nằm cách tỉnh lỵ mười lăm cây số. Bên đàng gái là ông Cả làng Thới An nằm ngay trong thị xã. Người ta gọi ổng là ông Cả Dừa, vì ổng có vựa buôn bán dừa khá lớn trong vùng. Cũng là ‘Ông Cả’ hết, nhưng ông Cả Thới An vẫn oai hơn ông Cả Bình Trước nhờ dựa hơi vào ‘tòa tỉnh’, còn ông Cả Bình Trước dầu không có tiếng nhưng lại có miếng nhờ ruộng vườn màu mỡ minh mông trải dài. Như vậy cũng ‘môn đăng hộ đối’!

Chú rể là con trai thứ nhì của ông Cả Bảy. Cậu nầy – người nhà gọi là Cậu Ba – học hết Lớp Nhứt rồi ở nhà làm ruộng. Cô dâu là con gái út của ông Cả Dừa, sau Tiểu Học có đi Sài Gòn học hai năm Trung Học rồi về phụ người chị Hai bán vải trong chợ nhà lồng thị xã.

Ông mai là thầy giáo Kiến, nhờ là bà con của hai bên nên mọi sự đều được dễ dàng… Tuy vậy, ổng cũng gặp chút khó khăn khi tính chuyện đám cưới! Nguyên do là ông Cả Dừa đòi đàng trai đến rước dâu ‘bằng một con heo đứng’ – nghĩa là heo sống – Nghe như vậy, ông Cả Bảy nói: “Cũng đúng chớ! Tập tục ông bà để lại làm sao thì mình cứ làm theo y chang như vậy mới là phải đạo!”

Vậy là ổng ra lịnh cho người nhà đạp xe vô xóm truyền rao kiếm heo. Mà phải ‘heo lang’ – nghĩa là heo trắng – cỡ trộng trộng ‘kẻo không người ta cười mình.’ Nghe tin, mấy chủ heo đem heo tới nhà cho ông Cả lựa. Người ở gần thì cột một chân con heo, dẫn bộ đi ụt ịt. Người ở xa thì cột chùm bốn chân con heo rồi để lên bọt-ba-ga xe đạp chở đi. Sân nhà ông Cả coi giống như chợ heo với heo đứng heo nằm kêu la eng éc!

Chọn được con heo vừa ý, ông Cả giao trách nhiệm giữ heo cho thằng Đực là cháu kêu ổng bằng chú, ổng nuôi trong nhà từ nhỏ. Ông Cả giải nghĩa: “Mầy lanh lợi nên tao giao con heo cho mầy chăm sóc. Từ đây đến ngày rước dâu, mầy phải kè theo nó, nuôi vỗ cho nó tươi tắn mạnh dạn, bởi vì nó là lễ vật dẫn đường đám rước dâu, mầy hiểu hôn?” Sau đó, thằng Đực đạp xe xuống trại hòm mời bác Ba thợ mộc chở thùng đồ nghề lên đóng cái cũi để ngày rước dâu khiêng con heo. Mặc dầu bác Ba chuyên đóng hòm nhưng nhờ khéo tay và ‘có con mắt’ nên bác đóng cái cũi có song bằng gỗ tạp coi cũng đặng và khi đẩy con heo vô đứng thử thấy cũng rộng rãi thoải mái.

Sáng sớm ngày rước dâu, thằng Đực tắm rửa con heo sạch sẽ, vừa lau khô ráo thì thầy Chơn – đệ tử thầy Năm Vàng dưới chùa – cũng vừa đạp xe đến, theo lời nhắn của ông Cả, mang theo cái mộc gỗ có chữ ‘Song Hỉ’ to bằng bàn tay và hộp son tàu. Chắc thầy đã quen làm vụ này nên chỉ một thoáng là thầy đã đóng xong mấy dấu đỏ lên mình con heo lang. Trước khi trở về chùa, thầy dặn: “Đừng cho con heo nằm. Cứ giữ cho nó đứng chừng nửa giờ là son khô hè!” Một lúc sau, thằng Đực lùa heo vô cũi, đóng sập cửa rồi cột lại bằng sợi kẽm nhỏ. Xong, nó đi thay quần áo: quần trắng, khăn đóng áo dài đen chỉnh tề, bởi vì nó sẽ phụ chú Tư Bộn – người gia nhân tin cẩn của ông Cả – khiêng con heo đi đầu đám rước dâu!

Đám rước dâu đi bằng xe ngựa (hồi thời đó xe hơi rất hiếm). Cứ bốn người là chung một cỗ xe, đàn ông theo đàn ông, đàn bà theo đàn bà. Chỉ có chú rể là ngồi riêng một xe với khai trầu rượu và mấy mâm lễ vật. Đặc biệt, xe chú rể được kết bông hoa có tua có tụi bằng vải đỏ và bằng bông hoa tươi! Và đặc biệt là con ngựa nào cũng mang đầy lục lạc trên đầu trên cổ và ở đỉnh đầu có một chùm lông chim màu sắc hực hỡ. Thành ra, khi ngựa lúc lắc đầu thì lục lạc khua leng keng và khi ngựa chạy thì lục lạc kêu rổn rẻng nghe rất vui tai hào hứng!

Giờ rước dâu được ấn định là đúng Ngọ nên ông Cả Bảy đã canh giờ để đoàn rước dâu có đủ thời gian đi hết mười lăm cây số là đến cách nhà đàng gái độ hai mươi thước ngừng lại cho bà con bước xuống xe sửa soạn.

Ngưới lớn trẻ con mấy nhà nằm dọc theo đường chỗ đoàn xe ngựa đậu, kéo nhau ra đứng coi, chỉ trỏ. Thấy chộn rộn, mấy con chó cũng chạy ra đường thi nhau sủa rân!

Trong lúc ông Cả và ông mai lăng xăng sắp xếp ai đứng sau ai đứng trước, thằng Đực và chú Tư Bộn đã khiêng cái cũi con heo đặt xuống đường, chờ. Đằng nhà đàng gái có mấy người chạy ra nhìn rồi chạy vô, sau đó một người chạy ra châm điếu thuốc đốt dây pháo treo trên cành vú sữa gie ra ngoài đường. Pháo nổ điếc tai. Bầy chó hè nhau sủa mấy tiếng rồi cụp đuôi chạy trốn! Con heo hết hồn, vừa kêu eng éc vừa nhảy lồng lộn làm bể tung cái cũi. Nó phóng ra, chui ngang hàng rào bông bụp nhà bên cạnh, chạy tuốt vô phía sau. Thằng Đực và chú Tư Bộn la chói lói: “Con heo sẩy! Con heo sẩy!” Mọi người nhốn nháo, cũng la theo inh ỏi! Mấy người đàn bà hết hồn vội vã trèo lên xe ngồi lại như hồi mới tới! Mấy người đang đứng coi trước nhà cũng chạy vào rượt theo con heo. Đàn ông trong đám rước dâu đều chạy ùa vô, vừa chạy vừa cột hai vạt áo dài lại cho khỏi bị vướng víu. Nghe vẳng ra từ phía vườn cây sau nhà ‘Nó đây! Nó đây nè!’… ‘Nó chạy qua sàn nước!’… ‘Nó kia kìa!’… ‘Chụp! Chụp!’… ‘Nó đó! Nó đó!’… Mấy con chó trong nhà chắc cũng rượt theo nên nghe sủa rân. Rồi chắc có con chó bị ai đạp hay bị heo lấy mũi húc nên nghe kêu ẳng ẳng. Lại nghe ‘Coi chừng nó chui qua nhà thầy Năm. Chận cái lỗ hàng rào lại! Chận lại!’… ‘Rồi! Rồi! Xáp vô! Xáp vô!’… Sau đó, chỉ còn nghe có tiếng con heo kêu eng éc như bị thọc huyết! Chó cũng thôi sủa, người cũng thôi la. Một lát, thấy thằng Đực và chú Tư Bộn khiêng tòn ten con heo nằm ngửa bằng một đòn tre xỏ giữa bốn chân heo cột thành một chùm! Đi theo sau là những người trong đám rước dâu, người nào người nấy quần áo xốc xếch lấm lem son đỏ và bùn đất!

Ông Cả và ông mai soát lại tình hình để ‘tính tới’ thì thấy thiếu mất chàng rể! Mọi người hết hồn! Lại chạy trở vô khu vườn rượt heo hồi nãy, vừa chạy vừa gọi lớn ‘Cậu Ba ơi! Cậu Ba!’ Vườn cây trái nầy khá rộng nên nghe tiếng gọi túa ra nhiều chỗ. Bỗng nghe ‘Tui đây! Tui đây!’, rồi có người hỏi ‘Lạm gì trỏng vậy?’… ‘Tui kiếm cái khăn đóng’… ‘Kiếm ra chưa?’… ‘Chưa!’ Im lặng một lúc, rồi nghe ‘Đây nè!’… ‘Đâu vậy?’… ‘Trên nhánh cây mận nè!’… ‘Thôi! Đi ra! Lẹ đi! Kẻo Cả đợi!’

Thấy đám rước dâu ‘tả tơi’ quá nên bà già chủ nhà mời hết vô nhà ‘uống miếng nước’ và để lau chùi quần áo mặt mày. Thằng Đực và chú Tư Bộn thì khiêng con heo trở vô tắm rửa cho nó bên cái giếng nằm phía sau hè. Họ cũng không quên cho con heo uống nước bằng cái chậu sành để gần miệng giếng. Trong khi đó, ông Cả nhờ bà chủ nhà cho người gọi ông thợ mộc hàng xóm qua sửa lại cái cũi, cũng may chỉ sút đinh sơ sơ thôi!

Xong xuôi, ông Cả mới hỏi bà chủ nhà: “Thím có biết ai ở gần đây có con dấu Song Hỉ để đóng son tàu lên con heo không?” Bà già trả lời: “Dạ! Để tôi biểu thằng nhỏ ở nhà đạp xe qua chùa thỉnh thầy Ba qua làm vụ nầy cho!”

Vậy là độ nửa giờ sau, con heo lang mang dấu đỏ đứng yên ổn trong cũi và đám rước dâu sắp xếp hàng ngủ chỉnh tề đợi ông mai đi ‘đánh tiếng’ cho đàng gái. Một lúc lâu thấy ổng trở lại mặt mày tiu nghỉu: “Họ nói quá giờ rồi, họ không tiếp!” Mọi người đều lắc đẩu kêu Trời, chắc lưỡi liên hồi rồi bàn tán góp ý ồn ào. Ông Cả đá vô cái cũi làm con heo giật mình rống lên eng éc. Ổng hét: “Thôi! Im hết! Đi dìa!” Một con chó đứng gần đó bỗng sủa mấy tiếng làm ông Cả nổi sùng, quay qua đá nó một cái làm nó kêu ẳng ẳng cúp đuôi chạy thẳng vô nhà! Mọi người đều im re, kẻ trước người sau leo lên xe. Mấy anh đánh xe dẫn ngựa quay đầu lại. Cử động của mấy con ngựa làm lục lạc khua vang. Ông Cả lại hét lớn: “Mẹ bà nó! Tụi bây lột hết lục lạc cho tao! Vui vẻ gì nữa mà nhã nhạc rùm trời!” Từ đây về Bình Trước, chỉ còn nghe tiếng móng ngựa gõ lóc cóc khô khan trên mặt đường nhựa …

Vài ngày sau, ông mai chạy đi chạy về để dàn xếp hai bên. Cuối cùng rồi cũng êm thấm: lễ rước dâu được ấn định lại vào ngày Mười Sáu âm lịch tháng tới, nhưng lần nầy đàng gái không đòi ‘heo đứng’ mà chỉ xin ‘một con heo quay’, bởi vì ông Cả Dừa nhứt định phải có đốt pháo để ổng ăn mừng ngày vu qui của cô con gái út!

Tiểu Tử


 

Đám cháy – Tác giả : Chu Thị Hồng Hạnh- Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

 Tác giả : Chu Thị Hồng Hạnh.

Đang đứng ở hành lang hút thuốc thì anh sững sờ khi thấy cô đi tới. Mười năm rồi, họ chia tay nhau đúng 10 năm. Ngày còn là sinh viên, cô nhỏ nhắn, gày gò, thiếu sức sống. Còn bây giờ trước mặt anh là một thiếu phụ xinh đẹp, đầy đặn, mặn mà, duyên dáng. Anh không ngờ gặp lại cô ở cái nơi miền Trung xa xôi này. Hoá ra anh và cô cùng đi công tác, và như một trò đùa của số phận, lại ở cùng một khách sạn, cùng tầng luôn.

Họ yêu thích nhau khi cùng tham gia vào chương trình Mùa hè xanh do Đoàn trường tổ chức vào năm thứ ba. Đến năm thứ tư khi tốt nghiệp, cô phải về quê vì mẹ cô bệnh nặng, gia cảnh nhà cô đơn chiếc. Xa mặt cách lòng và có lẽ tình yêu chưa đủ lớn nên họ chia tay nhau êm đềm.

Sau 10 năm gặp lại, anh giờ có một công ty nhỏ, một vợ hai con. Cô lấy một người chồng khá giả, yêu chiều vợ rất mực, không tiếc tiền cho vợ đi chăm sóc sắc đẹp. Cô cũng có một cô con gái đang học lớp một.

Họ rủ nhau xuống quầy bar của khách sạn ngồi ôn lại chuyện cũ. Ly này nối tiếp ly kia và kết cục là sáng hôm sau họ mở mắt ra thì thấy đang nằm bên nhau.

Ngày ấy! khi chia tay nhau (trước đây 10 năm) thì giữa họ cũng mới chỉ có là những cái ôm, những nụ hôn nồng thắm. Còn đêm qua họ quấn vào nhau không ngừng. Mấy ngày ở thành phố biển xinh đẹp trôi qua như cơn gió. Ngoài lúc đi làm việc, còn lại họ hối hả trở về phòng thỏa sức âu yếm nhau. Cả hai đều thấy nuối tiếc đã bỏ lỡ nhau. Anh giờ không còn là chàng trai ngô nghê ngày nào, mà thấm đẫm hương vị của người đàn ông thành đạt. Cô cuồng nhiệt say mê bên anh mỗi đêm…Trước khi chia tay họ đều thống nhất sẽ về nói thật với gia đình của mình để có thể đến được với nhau đàng hoàng, chính đáng.

Xuống xe taxi, vừa đi về lối rẽ vào chung cư, anh nghe thấy tiếng reo lớn

– A! ba đã về

Rồi con gái út lao đến ôm chặt lấy anh. Con trai đầu mới 8 tuổi nhưng rất chững chạc cầm dây xích chó đứng bên cạnh cười rõ tươi. Con Ki nhảy chồm lên rên rỉ liếm tay anh. Rồi 3 người một chó hân hoan dắt nhau lên nhà. Bước chân vào cửa là mùi thức ăn ngon lành bao phủ kín phòng. Vợ anh, người phụ nữ rất hiền lành, nhẹ nhàng, đảm đang quay ra cười dịu dàng, trìu mến.

– Anh tắm rửa đi, rồi ra ăn cơm cho nóng.

Ăn xong như mọi ngày, anh lại ra ngồi bên hồ cá để hút thuốc và suy ngẫm. Đây mới là cuộc sống của anh, vợ con của anh. Bây giờ anh nói gì với vợ đây? Nói là anh đã gặp người yêu cũ và muốn quay lại với cô ấy. Vợ anh đâu có tội tình gì mà anh phải đâm cho cô ấy một nhát dao chí mạng vậy! Bạn bè ai cũng nói vợ anh là típ phụ nữ vượng phu, ích tử. Ai lấy được cô ấy có phúc lắm. Có lẽ 9 năm vợ chồng với bao lo toan, gánh vác đã làm cho cuộc sống vợ chồng của họ trở thành nhàm chán, nên anh mới đắm đuối bên người yêu cũ.

Anh cứ lửng lơ như vậy mất mấy ngày, vì khi chia tay anh hứa về nhà sẽ nói chuyện với vợ và gọi cho cô, nhưng cứ nhìn đến điện thoại là anh lại cảm thấy khó chịu như người vướng phải nợ tình khó gỡ ra được.

Chiều nay về đến khu chung cư anh ở, thấy xe hú còi inh ỏi, người đông nghìn nghịt. Anh xuống kính xe hỏi thăm người qua đường.

– Có chuyện gì vậy hả anh ?

– Cháy ở trên chung cư ấy!

Ngay lập tức anh rút điện thoại ra gọi cho vợ, không thấy nhấc máy, gọi lại vẫn không ai nhấc máy… Anh sợ quá xuống xe chạy bộ, gạt đám đông ra và nhìn thấy tầng nhà anh đang cháy. Cư dân đang chạy túa xuống, cảnh tượng rất hỗn loạn. Anh gạt tay mấy anh dân phòng để chạy lên. Họ giữ cứng anh lại.

– Yêu cầu anh ở yên dưới này cho cảnh sát phòng cháy chữa cháy làm việc.

– Anh thở hổn hển nước mắt trào ra

– Trời ơi! để cho tôi lên, vợ con tôi đang ở trên đấy. Cảm giác đau đớn nghẹt thở bóp chặt trái tim anh. Anh vô cùng sợ hãi khi nghĩ đến những tình huống xấu sẽ xảy ra, rồi mất đi những người thân yêu nhất… Đang giằng co chợt anh nghe tiếng con gái anh gọi

– Ba ơi! Ba ơi! Ba…

Anh quay lại, như người vừa chết đi sống lại lao tới ôm chặt vợ con. Vợ anh nói

– Em và Ti đưa Bi đi học thêm rồi cho Ki đi dạo, về thấy nhà cháy sợ hết hồn. Điện thoại di động hết pin em đang sạc ở trên nhà nên không gọi cho anh được.

Anh lẩm bẩm như người mộng du

– May quá, cả nhà bình yên là anh mừng lắm rồi.

Những ngày tiếp theo đó, cả nhà vô cùng bận rộn. Cháy căn hộ kế bên nhưng nhà anh đồ đạc cũng bị hư hỏng, tường bị ám khói rộp hết. Anh luôn chân luôn tay sửa chữa nhà cửa và vô cùng cảm tạ ông trời đã phù hộ gia đình anh. Và cũng trải qua cảm giác tưởng chừng mất đi tất cả người thân, anh mới thấy trân quý gia đình bé nhỏ của mình.

Nhiều lúc anh cũng không hiểu nổi tại sao mình lại bốc đồng như thế trong những đêm ở khách sạn. Lúc ấy anh như là cậu thanh niên mới lớn, có thể đi cùng trời cuối đất với người mình thương. Giờ đây, điều mà anh lo sợ nhất là cô sẽ nói với chồng cô về anh, rồi đề nghị li dị. Rồi gia đình cô sẽ ra sao? Tưởng tượng cảnh chồng cô sẽ gặp vợ anh mà anh lạnh hết cả người. Anh cảm giác, đám cháy như một điềm cảnh báo đối với anh. Nếu anh tiếp tục dấn sâu vào cuộc tình này, anh sẽ mất tất cả.

Anh thất thần, sa sút thấy rõ. Mấy đêm hôm trước vợ anh khẽ hỏi:

– Anh à! có chuyện gì xảy ra với anh vậy? Từ lúc anh đi công tác về em thấy anh bồn chồn, lo lắng, xuống sắc quá!

Anh giật mình

– Không có sao đâu em, công việc nhiều quá. Anh thấy ở chung cư cũng nguy hiểm nên đang cố gắng dồn tiền để đổi xuống đất em à!

Chiều nay đang tiếp đối tác thì anh có điện thoại. Là cô. Tròn một tháng cô mới gọi. Anh xin phép ra ngoài nghe điện thoại. Giọng cô gấp gáp

– Anh à! từ hôm về em bận quá. Con gái em bị sốt dịch phải đi cấp cứu. Hai vợ chồng em mệt rã rời. Anh ơi chồng em tốt lắm. Em vẫn luôn yêu anh, nhưng tốt nhất mình đừng liên lạc nhau nữa nhé!

– Anh hiểu.

Anh trả lời giọng nhẹ tênh rồi dứt khoát nhấn nút chặn số máy của cô.

Từ giờ anh có thể yên ổn sống rồi!

ĐÁM CHÁY

Tác giả : Chu Thị Hồng Hạnh.

Bài & ảnh sưu tầm.


 

HÀNH ĐỘNG TỬ TẾ CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHIẾN CẢ NƯỚC MỸ CẢM ĐỘNG…TRUYEN NGAN HAY

Đây là một câu chuyện có thật xảy ra ở Hoa Kỳ. Câu chuyện được lan truyền trên Internet này nói với mọi người rằng: Thiên lý thiện ác hữu báo đối với bất cứ ai đều có tác dụng, thuận theo thiên lý chính là phúc báo. Dưới đây là câu chuyện của Seine Marne.

Đó là một buổi tối đầu xuân tháng hai, trên trời có chút mưa tuyết lất phất, Seine Marne đang lái chiếc xe Ford từ Portland đến Sheridan để ký hợp đồng đặt hàng. Hợp đồng này rất quan trọng, nó gần như quyết định số phận của công ty ông, là kết quả của hơn ba tháng đàm phán gian khổ.

Seine Marne vô cùng vui vẻ, ngâm nga một giai điệu trên suốt quãng đường. Trên đường không có nhiều xe, đèn xanh nên ông lái xe rất nhanh. Khi đến nơi hẹn, lúc dừng xe, ông dường như nhìn thấy điều gì đó qua ánh đèn? Seine Mane cúi xuống nhìn kỹ hơn và phát hiện có gì đó kỳ lạ ở bánh trước bên phải. Khi đến gần, ông ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc. Khi ông chạm vào nó, nó thực sự là máu! Seine Marne giật mình, đột nhiên trở nên căng thẳng, chẳng lẽ ông đã tông vào ai đó khi đang lái xe với tốc độ cao? Ông cố gắng nhớ lại nhưng dường như không có ấn tượng gì về việc chiếc xe tông vào vật thể nào. Nhưng vết máu trên bánh xe là có thật!

Nhưng Seine Marne, giữa sự giàu có sắp đến gần và vụ tai nạn xe hơi, ông gần như không hề do dự, nếu không nhanh chóng quay ngược lại để tìm người có thể đã bị mình làm bị thương thì hậu quả sẽ khủng khiếp biết bao! Có lẽ mạng sống của họ còn có thể cứu được? Dựa theo lương tâm của mình, ông lập tức lên xe, nổ máy, quay đầu xe và quan sát kỹ con đường mình đã đi.
Lúc này, đối tác kinh doanh đang chờ ký hợp đồng đã gọi điện hỏi ông tại sao không để ý đến thời gian? Họ thúc giục ông nhanh lên! Seine Marne giải thích rằng ông ấy đang vội và sẽ đến đó ngay, đồng thời cầu xin sự tha thứ của họ. Đối tác kinh doanh đang đợi ở đó rất tức giận và hét lên: “Cút đi, đồ không đúng giờ!” rồi cúp điện thoại.

Seine Marne sững sờ, đó là một hợp đồng trị giá 3 triệu đô la Mỹ! Ông thật muốn chạy tới, bản hợp đồng này có ý nghĩa sống còn với ông! Có lẽ số phận của cuộc đời ông sẽ được thay đổi, bởi bản hợp đồng này! Tuy nhiên, ông vẫn lái xe đi tiếp. Trong mắt ông dường như nhìn thấy người bị thương đang nằm trên vũng máu, rên rỉ đau đớn, mạng sống của họ đang bị đe dọa.

Trong đêm sương mù, Seine Marne vừa lái xe vừa nhìn dọc đường. Cuối cùng đi gần nửa đường, ông nhìn thấy bóng một người nằm ở đó! Ông nhanh chóng đỗ xe rồi bước ra ngoài. Một cô bé mười ba, mười bốn tuổi đang nằm bất tỉnh trên đường. Cô bé bị thương ở đầu và máu chảy rất nhiều. Seine Marne bế bé gái lên và đưa bé đến bệnh viện. Sau khi được giải cứu, cháu bé tạm thời thoát khỏi cơn nguy kịch nhưng vẫn bất tỉnh.

Cảnh sát đã liên lạc với cha mẹ của cô bé, cặp vợ chồng vô cùng yêu thương con gái đã gầm lên và đánh Seine Marne. Seine Marne không bào chữa và âm thầm chịu đựng trong nước mắt. Ông nghĩ rằng nếu mình là cha mẹ của đứa trẻ, ông cũng sẽ đấm đá hung thủ! Ông bị đánh đến mức mũi bầm tím, mặt sưng vù, nhổ ra hai chiếc răng đầy máu. Khi về nhà, gia đình nói ông thật ngu ngốc, vì không có bằng chứng chứng minh ông là hung thủ nên tại sao ông phải làm vậy? Tại sao lại nhận trách nhiệm về mình?

Seine Marne không giải thích nhiều, ông gác lại công việc kinh doanh trong tay, hàng ngày hộ tống bé gái bị thương tên Catherine đến bệnh viện, đồng thời thanh toán mọi chi phí y tế kịp thời. Catherine hôn mê trong 26 ngày và Seine Marne đã bảo vệ cô bé trong 26 ngày, tiêu tốn 38.000 USD chi phí y tế.
May mắn thay, đến ngày thứ 27, Catherine cuối cùng cũng tỉnh dậy và nói cho mọi người biết sự thật: Vào ngày xảy ra sự việc, cô bé đang mang tập hồ sơ tranh về vùng quê để phác họa, trên đường về, cô nhớ rất rõ mình bị một chiếc xe máy màu đỏ đang chạy rất nhanh đụng ngã!

Cảnh sát đã ghi lại lời kể của cô và gọi đến video giám sát trên đường phố ngày hôm đó, từ video giám sát họ xác nhận được lời kể của cô bé và đã tìm ra chủ nhân của chiếc xe máy màu đỏ gây tai nạn! Vết máu trên bánh xe Seine Marne chỉ là vết máu nhỏ giọt trên mặt đất khi Catherine bị xe máy tông.

Sự tình trở nên rõ ràng. Cha mẹ cô gái ôm ông khóc, ông không phải người gây tai nạn, mà là ân nhân cứu mạng của cô gái này! Nếu như không phải ông ấy quay lại kịp thời, đưa cô gái đến phòng cấp cứu của bệnh viện thì có lẽ cô gái đáng yêu này đã sớm không còn!

Câu chuyện của ông đã khiến cả nước Mỹ cảm động, và vận mệnh của ông cũng vì thế mà thay đổi. Những hợp đồng kinh doanh đến như mưa tuyết, khiến ông choáng ngợp. Mọi người đều tin rằng đồng hành cùng một doanh nhân như vậy sẽ dẫn đến thiên đường!

Trong cuộc phỏng vấn với đài truyền hình địa phương, câu trả lời của Seine Marne với phóng viên rất đơn giản: “Lúc đó, tôi chỉ nghĩ nếu không quay lại kiểm tra thì tôi sẽ không bao giờ cảm thấy thoải mái trong cuộc đời. Tôi làm điều này chỉ để thỏa mãn lương tâm của mình, tôi không có quyền lựa chọn giữa sinh mạng của người khác và lợi ích kinh doanh”.

Theo: Triệu Tử Hinh
Nguyên Anh biên dịch

From:  Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

Con tàu chỉ có một người – Tác giả : Phan Xuân Sinh – Truyen ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Tác giả : Phan Xuân Sinh

Con tàu chỉ có một người – Câu chuyện xúc động ý nghĩa sâu sắc

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ.

Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận…

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó!

Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.

Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà.

Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

” Anh yêu quý,

Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ, từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.

Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.

Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.

Vợ anh

Lê Thị Hồng”…

Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội.

Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.

“Hồng em,

Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.

Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.

Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.

Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.

Chồng em

Nguyễn Hữu”

Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ.

Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”

Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. ”

“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”

Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”

Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”

Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”

Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.

Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết..

Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.

Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.

Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.

Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…

Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều.

Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

Tác giả : Phan Xuân Sinh