Đáng mặt đàn ông – Biên soạn: Trần Linh -Truyện ngắn

Chi NguyenNhững câu chuyện Nhân Văn

Trước khi đến với chồng, tôi từng yêu một người đàn ông khác. Tôi yêu anh ta điên cuồng, yêu say đắm dù bị lừa dối hết lần này đến lần khác.

Nhiều người trách tôi dại khi lao vào yêu một kẻ chẳng ra gì, chỉ biết lừa tình lừa tiền tôi nhưng tôi vẫn không sáng mắt ra nổi. Cho đến khi tận mắt xem được mấy video nóng của anh ta với những cô người yêu khác, tôi mới đau khổ buông tay.

Phải mất 2 năm tôi mới bình ổn được tâm lý và mở lòng mình để yêu chồng tôi hiện tại. Anh điềm tĩnh, chững chạc, ít nói mà đã nói câu nào là dứt khoát, mạnh mẽ câu ấy. Tôi bị thu hút bởi tính cách quyết đoán ấy của anh.

Thấy chúng tôi đăng ảnh đính hôn, ảnh cưới lên facebook, người yêu cũ đã gọi điện cho tôi. Nhận ra giọng nói của anh ta, tim tôi đập thình thịch. Anh ta cười cợt, bảo tôi cưới mà không mời, rồi hỏi tôi có còn nhớ chuyện cũ không? “Những lần ở bên nhau, em nồng nhiệt lắm, không biết nếu chồng em biết được, anh ta sẽ nghĩ gì đây? Muốn yên chuyển cho anh 50 triệu”. Anh ta cười lớn rồi cúp máy, còn tôi điếng người. Tôi làm gì có tiền mà gửi.

Ngay sau đó, người yêu cũ gửi tin nhắn bảo tôi đến điểm hẹn, nếu không tới, anh ta sẽ gọi thẳng cho chồng tôi.

Mấy hôm đó, tôi lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Có lẽ chồng tôi cũng nhận ra điều bất thường ở vợ nên liên tục hỏi han. Dù vậy, tôi vẫn không dám nói ra những gì mình đang chịu đựng. Sau nhiều ngày suy nghĩ, tôi quyết định sẽ không làm theo yêu cầu của người yêu cũ. Dù lo sợ nhưng tôi vẫn nghĩ chắc người yêu cũ chỉ hù dọa mình thôi, anh ta làm sao có được số điện thoại của chồng tôi?

Nhưng tôi đã lầm…

Khi đang ăn cơm tối, chồng tôi nhận được điện thoại từ một số lạ. Ngay sau đó, anh mở loa ngoài cho tôi nghe. Da gà tôi nổi hết lên, lạnh hết cả người khi nghe giọng nói vang lên: “Anh có muốn biết chuyện cũ của vợ anh không nhỉ?”. Là anh ta, là kẻ tôi hận thấu xương.

Chồng tôi để yên cho anh ta nói. Anh ta luyên thuyên một hồi, kể đủ chuyện từ khi tôi và anh ta còn yêu nhau, tôi đã say đắm anh ta thế nào rồi những lần ân ái ra sao? Tôi ngồi thần người, tâm trí rối loạn hoàn toàn. Tôi đã nghĩ chồng sẽ giận dữ lắm, sẽ đập nát điện thoại, sẽ đuổi tôi ra khỏi nhà….

…. Không ngờ, anh bình tĩnh đáp lại: “Tôi ghi âm cuộc gọi rồi nhé. Tôi có thể sử dụng cuộc gọi này để kiện anh vì tội xúc phạm danh dự người khác đấy. Nên nhớ, ai cũng có quá khứ, tôi yêu vợ, đồng nghĩa với việc tôi chấp nhận quá khứ của cô ấy dù nó có xấu xa thế nào? Còn anh, là đàn ông mà nói xấu, bới móc chuyện cũ để phá hạnh phúc người yêu cũ thì hèn hạ quá, dùng nó để tống tiền lại quá khốn nạn”.

Tôi á khẩu, sốc đến mức không thể tin được. Chồng tôi tắt máy, ôm lấy tôi an ủi. Anh bảo dù tôi có thế nào thì đó cũng là quá khứ rồi. Điều anh trân trọng là hiện tại và tương lai, anh tin tôi sẽ không để anh phải thất vọng. Lúc này, bao nhiêu gánh nặng tôi cố mang theo như vỡ tan, tôi bật khóc ngon lành trong vòng tay của chồng. Anh bao dung, yêu thương tôi nhiều quá. Nhưng tôi vẫn sợ gã người yêu cũ vẫn tiếp tục làm phiền mình và sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ của vợ chồng tôi, nhưng rồi bao năm qua trôi đi tôi làm mẹ hai đứa trẻ vẫn hạnh phúc trong vòng tay chồng.

Kỷ niệm năm năm ngày cưới bạn chồng nói chuyện tôi mới biết, người yêu cũ hèn hạ hẹn chồng tôi ra để đưa cho xem ảnh trong điện thoại nói sẽ tung lên mạng..Chồng tôi túm lấy điện thoại của lão ta nhúng vào ly bia và nói nếu đụng vợ tôi lần nữa thì sẽ biến khỏi đất này, có cho lão ấy 5triệu để mua lại điện thoại Samsung như của lão.

Tôi mang ơn chồng và dặn lòng mình chăm sóc bố con anh kỹ hơn nữa, chồng đến bên tôi nói quên mọi chuyện đi, chúng ta còn con nữa nào thổi nến đi nào.…

Đáng mặt đàn ông.

Biên soạn – Trần Linh

Bài và ảnh sưu tầm.

 

CUỘC SỐNG VỐN RẤT DƠN GIẢN-Truyen ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Tên của anh là Jon Jindai, anh sinh ra tại một làng quê nghèo ở miền bắc Thái Lan. Mọi người dân ở đây hầu như đa phần lúc nào cũng đều nhàn rỗi. Trong một năm chỉ có khoảng 2 tháng bận rộn: một tháng để trồng lúa, một tháng thu hoạch lúa. Những thời gian khác còn lại họ thường câu cá, tán gẫu trò chuyện…

Trong những năm tháng giản dị tưởng chừng dài vô tận như vậy, anh Jon Jindai dần dần trưởng thành và trở thành một chàng thiếu niên quê mùa. Lúc này, anh phát hiện hầu hết những người trẻ tuổi trong làng đều ra thành phố lớn và đang bắt đầu theo đuổi cái gọi là “thành công”.

Vì vậy, anh Jon cũng không thể chịu đựng được và chọn Bangkok là điểm đến của mình.

Sau những nỗ lực, cuối cùng anh đã có thể bước vào cánh cổng trường luật, nhưng không thể nghĩ rằng cuộc sống của mình lại càng khó khăn hơn…

Mặc dù trước đó anh đã từng theo các nhà sư Thái Lan học tập một thời gian nhưng rất không may, anh vẫn chỉ là một chàng thanh niên tìm tòi học tập.

Do quá nghèo nên anh không thể dành hết thời gian để học tập ở trường, thay vào đó anh phải ra ngoài để làm các công việc lặt vặt khác kiếm tiền.

Việc học hành không được thuận lợi đã khiến chàng trai trẻ mang đầy hoài bão bắt đầu cảm thấy hoài nghi và oán giận cuộc đời. Về phần sinh hoạt cuộc sống, anh vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn.

Thời gian làm thêm, Jon bắt buộc phải sống cùng với hàng chục người trong một căn nhà, mỗi bữa cơm chỉ được ăn một bát mì Thái hoặc cơm chiên.

Anh đã từng phải làm những công việc như gác cổng khách sạn, phát tờ rơi trên phố, rửa bát đĩa nhà hàng. Mỗi ngày đều khiến anh mệt mỏi không thể cất đầu lên được, không khác gì một kẻ nô lệ.

Cứ như vậy, chàng thanh niên Jon càng ngày càng bế tắc và mê mang không biết cuộc đời mình sẽ thế nào.

Sau 7 năm gian khổ ở Bangkok, Jon trở về quê hương và bắt đầu một cuộc sống mới ở cách thành phố Chiang Mai về phía bắc khoảng 50 km.

Tại thời điểm đó Jon không thể nghĩ rằng, vì quyết định này mà đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của mình.

Cuộc sống mới của Jon đã bắt đầu như thế này: anh bắt đầu khai khẩn đất hoang, cải tạo lại một vườn rau rộng khoảng 2000 m2. Điều này sẽ khiến cho anh suốt 4 mùa cả năm đều có thể thu hoạch được các loại trái cây và rau quả mà không phải lo nghĩ. Anh còn đào 2 cái ao nuôi cá, cá ăn không hết lại đem cho nhà hàng xóm, cho không hết lại mang đi bán.

Những ngày tháng trôi qua như lại phảng phất trở lại quãng thời gian nhàn hạ và chỉ bận rộn đúng 2 tháng mỗi năm trước kia. Anh Jon lại tràn ngập niềm vui hạnh phúc. Anh Jon thu hoạch được 4 tấn thóc, cả gia đình một năm chỉ ăn tới nửa tấn, số còn lại được đem bán. Xuân qua thu đến, cuộc sống của anh ngày một dễ chịu hơn.

Anh nghe nói người bạn học xuất sắc nhất của mình đã có thể mua được nhà tại Bangkok nhưng lại phải gánh món nợ tới ba thập kỷ. Anh thầm cảm tạ và vui mừng vì quyết định không ở lại thành phố của mình. Anh cho biết: với thành tích học của tôi thì có đến 300 năm cũng không mua nổi một căn nhà!

Jon đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này, sau đó anh quyết định sẽ tự tay xây dựng một ngôi nhà cho mình!

Lần này Jon đã có đủ đất và đủ thời gian, nhưng anh vẫn không có tiền. Nhưng nói cho cùng, tiền không phải là thứ quan trọng nhất. Jon đã tự học kĩ thuật xây nhà bằng gạch, mỗi buổi sáng anh cần cù làm việc từ 5h – 7h tối, không tới 3 tháng một ngôi nhà đã được xây dựng hoàn thành.

Kể từ đó, mỗi năm Jon xây dựng ít nhất một ngôi nhà, cho tới bây giờ anh đã xây dựng được hơn chục ngôi nhà trong trang trại của mình. Mỗi một ngôi nhà đều như một biệt thự trang viên, thậm chí đến nỗi đêm nào anh cũng phải suy nghĩ xem mình sẽ qua đêm ở căn nhà nào.

Ngoài việc xây dựng nhà, anh Jon cũng rất quan tâm và cảm thấy hứng thú với nghệ thuật trang trí. Dần dần, tiếng tăm về bản lĩnh xây dựng nhà của anh Jon ngày càng lan rộng khắp nơi, quy mô trang trại cũng ngày càng phát triển hơn nhiều.

Anh thậm chí còn thiết lập thương hiệu trang trại riêng của mình: Pun Pun Organic Farm.

Nhiều người bắt đầu tìm đến và nhận anh làm thầy giáo. Anh cũng rất vui vẻ và bắt đầu dậy họ làm thế nào để khai hoang, trồng cây mà không cần dùng đến bất kỳ loại thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học nào…

Các học trò của ông không chỉ đến từ những thôn làng lân cận, mà còn có những người trẻ tuổi nước ngoài khác đến từ Hà Lan, Hoa Kỳ. Họ đã trở thành những người hâm mộ những triết lý sống đáng tin cậy của Jon.

Making arches

Thế rồi khi càng có nhiều người hơn việc ăn uống đã trở thành một vấn đề. Do đó, Jon lại mở ra 2 nhà hàng hữu cơ, thành lập nên một trang trại du lịch Thái Lan của riêng mình. Nơi mọi người có thể cùng nhau thảo luận về dưỡng sinh và thưởng thức các thực phẩm sạch hữu cơ. Còn có cô gái đã mở một lớp tập luyện yoga ngay tại một trong những căn nhà của Jon.

Cũng chính tại thời điểm này, những người nông dân Thái Lan đã được biết đến thế nào là một tình yêu xuyên biên giới. Những phẩm chất đáng quý từ người đàn ông này đã thu hút cô gái Peggy Reents đến từ bang Colorado, Hoa Kỳ.

Họ đã kết hôn với nhau và sau đó có một cậu con trai, một sự kết tinh ngọt nào của mối tình đẹp.

Câu chuyện thú vị của chàng trai Jon đã truyền cảm hứng và lan truyền khắp vùng ngoại ô Chiang Mai, thậm chí đã “kinh động” đến cả truyền hình Thái Lan. Vì vậy đài truyền hình đã vội vã tới phỏng vấn người đàn ông Thái này! Không chỉ vậy, Jon đã thu hút sự chú ý của các học giả quốc tế. Josh Kearns thuộc Đại học Colorado cũng đã đến hỏi anh bí quyết làm thế nào để sử dụng vật liệu truyền thống chế tác than.

Sau đó, Jon đã bất ngờ nhận được lời mời từ hội thảo TED nổi tiếng thế giới. Trong các buổi hội thảo này thường bàn về một phạm vi rộng các chủ đề khoa học, văn hóa thuộc phạm vi nghiên cứu và thực hành, thường thông qua hình thức kể chuyện. Người thuyết trình được cho phép tối đa là 18 phút để trình bày ý kiến của mình qua cách sáng tạo và lôi cuốn nhất mà họ có thể.Các diễn giả từng tham gia bao gồm Bill Clinton,Bill Gates, nhà sáng lập Google Larry Page và Sergey Brin, và nhiều người giành giải Nobel khác….

Người vợ Mỹ giúp anh có thể luyện tập tốt tiếng Anh trước khi lên sân khấu để diễn thuyết. Như vậy, người nông dân Thái với tiếng Anh thông thạo đã đứng trên bục sân khấu để diễn thuyết trước những người ưu tú nhất, bài phát biểu của anh với chủ đề: “Cuộc sống rất đơn giản, tại sao bạn lại đi khó khăn như vậy”. Bài phát biểu của anh sau đó đã giành được chiến thắng lớn với những tiếng cười và những tràng pháp tay nhiệt liệt.

Nhưng đồng thời bài phát biểu ý nghĩa này cũng đã để lại cho người nghe một sự suy ngẫm sâu sắc, giống như một câu nói cổ của Ấn Độ: “Đừng đi quá nhanh, hãy đợi linh hồn của bạn. Khi đường đi quá dài có lẽ chúng ta đã quên lý do tại sao chúng ta xuất phát.”

Câu chuyện của anh chàng nông dân Jon thật sự đã truyền cảm hứng cho không ít người. Anh ấy đã cho chúng ta thấy cho dù khó khăn đến đâu, dù cho mọi thứ dường như đóng lại trước mắt ta, vẫn luôn có môt con đường cho chúng ta đi, quan trọng là chúng ta sẽ đi nó như thế nào cho tốt?

Bạch Mỹ


 

Mỗi phút giây của cuộc sống là vô giá và sẽ không bao giờ lặp lại

Thao Teresa

Trong 100 năm nữa, như vào năm 2124, tất cả chúng ta sẽ được chôn cùng người thân và bạn bè của mình. Những người xa lạ sẽ sống trong ngôi nhà mà chúng ta đã đấu tranh để xây dựng, và họ sẽ sở hữu mọi thứ mà chúng ta có ngày hôm nay. Tất cả tài sản của chúng ta (đang có hoặc chưa có) sẽ trở nên xa lạ, bao gồm cả chiếc xe mà chúng ta đã tốn cả gia tài để mua, có thể chỉ trở thành đống phế liệu, hoặc may ra nằm trong tay một nhà sưu tầm xa lạ nào đó.

Con cháu chúng ta có lẽ sẽ không biết chúng ta là ai, cũng không nhớ đến chúng ta. Có bao nhiêu người trong chúng ta biết cha của ông nội mình là ai? Sau khi chúng ta qua đời, có thể chúng ta sẽ được nhớ thêm vài năm nữa, rồi dần chỉ còn là một bức ảnh trên kệ sách của ai đó, và sau vài năm, lịch sử, ảnh chụp và những việc làm của chúng ta sẽ chìm vào quên lãng. Chúng ta sẽ không còn là ký ức.

Nếu một ngày chúng ta dừng lại để phân tích những câu hỏi này, có lẽ chúng ta sẽ hiểu giấc mơ đạt được mọi thứ chỉ là một ảo tưởng ngu ngốc và yếu đuối như thế nào. Nếu có thể suy nghĩ về điều này, chắc chắn cách tiếp cận và suy nghĩ của chúng ta sẽ thay đổi, và chúng ta sẽ trở thành những con người khác.

Luôn muốn có thêm, thì sẽ không còn thời gian cho những điều thực sự giá trị trong cuộc sống này. Ta sẽ muốn đổi tất cả những điều đó để được sống và tận hưởng những cuộc dạo chơi mà ta chưa từng có, những cái ôm mà ta chưa trao, những nụ hôn cho con cái và những người thân yêu của mình, những trò đùa mà chúng ta chưa có thời gian cho nhau. Những khoảnh khắc đó chắc chắn sẽ là những kỷ niệm đẹp nhất, bởi chúng sẽ làm tràn ngập cuộc sống của chúng ta bằng niềm vui.

Và nhiều người trong chúng ta vẫn lãng phí điều này ngày qua ngày bởi lòng tham, sự ích kỷ và không khoan dung.

Mỗi phút giây của cuộc sống là vô giá và sẽ không bao giờ lặp lại. Vì vậy hãy dành thời gian để biết ơn và thưởng thức sự tồn tại của mình.

(Sưu tầm)


 

 96 tuổi vẫn yêu và 

 CUỘC SỐNG BẬN RỘN ĐẾN MỨC “KHÔNG CÓ THỜI GIAN ĐỂ CHẾT” CỦA CỤ BÀ NGƯỜI NHẬT

71 tuổi bắt đầu lại sự nghiệp nhiếp ảnh…

96 tuổi vẫn yêu và thất tình…

100 tuổi tổ chức triển lãm cá nhân..

Người phụ nữ hơn trăm tuổi này gần đây vẫn luôn thu hút sự quan tâm của truyền thông.

Báo chí không ngừng yêu cầu các bức ảnh cuộc sống của bà gần đây không phải các năm về trước. Nhưng bà đáp rằng đó hoàn toàn là những bức ảnh hiện tại.

Bởi không ai có thể tin rằng người phụ nữ hơn trăm tuổi sẽ có dáng vẻ và tinh thần như vậy.

Sasamoto Tsuneko sinh năm 1914, khuôn mặt luôn được trang điểm một cách nhẹ nhàng, mái tóc ngắn trẻ trung là hình ảnh của nhiếp ảnh tin tức nữ đầu tiên tại Nhật Bản vẫn còn hoạt động tới hiện tại.

Mỗi lần đến phỏng vấn truyền thông, các nhà báo luôn dặn dò: “Xin đừng lấy những bức ảnh cũ, chúng tôi cần bức ảnh gần đây.”

Bà ấy cũng bận lòng mà giải đáp: “Đây là bức ảnh của tôi bây giờ.”

Bởi vì dáng vẻ quá trẻ trung, cộng với gu ăn mặc thời thượng, mọi người khó có thể tưởng tượng ra “cô gái” trong ảnh đã ngoài trăm tuổi.

Chồng chết khi bà 71 tuổi, Sasamoto Tsuneko quyết định cầm lại máy ảnh và bắt đầu sự nghiệp của một nhiếp ảnh gia tự do.

Cách bà cầm máy vẫn thân thuộc, các kỹ năng, từ dễ đến khó không hề có phân nửa dáng dấp sự già cả!

Thất tình ở tuổi 96 bà công bố tuổi thực khiến những người xung quanh không khỏi bàng hoàng. Thế nhưng vị “đại cô nương” này không vì những mất mát trong tình cảm và ánh nhìn kỳ lạ của người khác đánh gục.

Ở tuổi 100, tự mình tổ chức triển lãm cá nhân và giành giải thưởng cao quý nhất, đó cũng là chiến thắng của người cao tuổi nhất trong lịch sử đạt được. Và bây giờ Sasamoto Tsuneko vẫn đang trên đường tạo ra một phép màu.

Đừng quan tâm đến tuổi tác già đi của mình, thay vào đó hãy để tâm hồn bạn mãi còn là thanh niên.

Ai đó hỏi bà ấy, bí quyết để duy trì sự trẻ trung là gì? Sasamoto Tsuneko liền trả lời đó chính là “tính hiếu kỳ”!

Nhắc tới ba từ tính hiếu kỳ, nhiều người chắc hẳn nghĩ ngay đến thời thơ ấu. Trong thời thơ ấu, chúng ta luôn tò mò với bất cứ điều gì, dám chấp nhận rủi ro, dám thách thức.

Nhưng Sasamoto Tsuneko cho chúng ta biết rằng tò mò mọi lúc giúp bạn luôn có thể chủ động đối diện và tràn đầy năng lượng.

Bà ấy nói: “Tôi thích nhìn chằm chằm vào thế giới, ngay cả khi một cái gì đó tôi không biết, tôi muốn sử dụng một bức ảnh để ghi lại từng khoảnh khắc. Tôi không muốn nghĩ về “việc già đi” và lại tiếp tục làm việc.”

71 tuổi là tuổi nghỉ hưu, nhưng bà chọn bắt đầu lại.

Chỉ vì bà vẫn muốn chụp ảnh, bà đã dành 6 năm để đi du lịch khắp Nhật Bản.

96 tuổi Sasamoto Tsuneko đến thăm ông Charles, Sculptor Charles, Nam Pháp và bắt đầu yêu!

Đối với công việc chụp ảnh của mình Sasamoto Tsuneko nói: “Công việc khiến tôi tràn đầy sự nhiệt tình, tình yêu vẻ đẹp, là cuộc sống của tôi! Con người nếu như chỉ làm mọi thứ phụ thuộc vào tuổi tác của mình nhất định thứ bỏ lỡ rất nhiều! 105 tuổi hôm nay vẫn duy trì một luật đặc biệt. 11 giờ đêm lên giường, thức dậy lúc 5 giờ sáng. Nghe tiếng Anh trên TV để đánh thức trí não. Sau đó, vừa xem TV, vừa thể dục.”

Ngoài nhiếp ảnh, mọi người cũng quan tâm đến cách thức chăm sóc sức khỏe của Sasamoto Tsuneko.

Tuy nhiên, bà ấy bận rộn cả ngày, không để bản thân mình nhàn rỗi,làm gì có thời gian để dưỡng sinh.

Nếu có một vũ khí ma thuật giúp bảo dưỡng nhan sắc, đó là sự kiên cường và yêu thương cuộc sống.

Cuộc sống của Sasamoto Tsuneko đầy nhiệt huyết, và nó không trở nên lười biếng vì tuổi già. Xung quanh chúng ta có rất nhiều người chỉ ngoài sáu mươi vừa nghỉ hưu đã bắt đầu cháu bồng cháu bế, chăm lo cuộc sống cuối đời.

Ngược lại Sasamoto Tsuneko tinh tế chiếc váy mỗi ngày, ngay cả móng tay và nước hoa cũng phải phù hợp tâm trạng.

Bà luôn mỉm cười và nói: “May mắn thay, tôi có thể trông giống như 26 tuổi.”,/-

Tieu su ba`Sasamoto Tsuneko (Sinh 01-09-1914 mat 15 -08-2022)

 https://en.wikipedia.org/wiki/Tsuneko_Sasamoto

Nguồn Internet

  From: ctkd-k & turtlelan7 & NguyenNThu


 

Tình người bạc bẽo – Câu chuyện cảm động đầy ý nghĩα nhân văn sâu sắc – Truyen ngan

 Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Học rα trường đi làm đã bốn năm nhưng tôi vẫn chưα yêu αi. Bố thì chẳng nói gì nhưng mẹ thí thoảng vẫn nhắc tôi chuyện chồng con

– 26 tuổi rồi con cũng nên lo chuyện chồng con đi chứ, cùng lứα với con chúng có giα đình con cái rồi đó.

– Từ từ chuyện đó đã mẹ ạ

– Từ cái gì, chúng tôi không sống mãi được bên cô đâu nhé.

Thời giαn sαu tôi đưα một chàng trαi làm cùng cơ quαn về rα mắt bố mẹ. Ăn xong ngồi uống nước mẹ tôi hỏi

– Thế quê cháu ở đâu, bố mẹ còn khỏe không

– Dạ cháu quê tỉnh bên bác ạ. Bố mẹ cháu đã quα ᵭờι chỉ còn αnh chị thôi. Các αnh chị cháu cũng làm nông cả

Nghe αnh nói vậy bố mẹ tôi có vẻ hụt hẫng. Anh về rồi bố mẹ gọi tôi lại bàn ngồi rồi bảo

– Con có yêu nó lắm không, nhìn bề ngoài thì cũng được. Ở cơ quαn nó là người thế nào

– Dạ αnh ấy làm việc rất chăm chỉ là người hiền lành luôn được giám đốc tin tưởng. Vì giα cảnh nên αnh ấy rụt rè trong chuyện yêu đương.

– Bố mẹ cũng không muốn cαn thiệρ quá vào chuyện tương lαi củα con. Con hãy tìm hiểu xem xét cho tương lαi củα mình.

Thời gíαn sαu thì chúng tôi làm đám cưới và thuê nhà ở gần cơ quαn. Thứ 7 chủ nhật không bận thì vợ chồng lại về ăn cơm cùng bố mẹ. Mỗi lần về αnh thường bảo

– Bố mẹ cứ nghỉ đi để vợ chồng con lo bữα cho

Chắc vất vả tự lo từ bé nên αnh nấu ăn rất ngon, có lần chị dâu với αnh trαi cùng các cháu về thấy vậy bảo với tôi

– Cô lấy được người chồng như thế sướng quá còn gì. Chả bù cho αnh cô

Rồi chúng tôi cũng có con. Mẹ lên được một tuần chăm mẹ con tôi, một hôm αnh bảo

– Mẹ ạ, con cảm ơn mẹ nên chăm vợ con con. Nhưng ở nhà còn bố mẹ về lo cho bố đi trên này mọi việc con lo được. Mẹ về rồi αnh vất vả lo cho mẹ con tôi chu toàn.

Bạn bè tôi αi cũng bảo tôi lấy được người chồng thật tốt.Tôi thấy mình thật hạnh ρhúc. Cuộc sống hạnh ρhúc cứ thế êm đềm trôi đi đến khi con gáι tôi được 4 tuổi thì αnh ρhải chuyển sαng một bộ ρhận mới hằng ngày không làm cùng ngôi nhà cơ quαn với tôi.

Vài tháng sαu thấy αnh đi về thất thường. Có hôm chờ cơm tối tôi gọi αnh bảo có việc bận mãi khuyα αnh mới về, tắm rửα rồi đi ngủ ngαy. Cả tháng trời αnh chả đụng chạm tới người tôi hỏi thì αnh bảo mệt

Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi rα. Tôi ρhát hiện αnh ngoại tình. Tôi bảo sẽ thα thứ cho αnh, với điều kiện αnh ρhải cắt hẳn quαп Һệ với người ρhụ nữ đó vì con tôi cần có bố. Được một thời giαn αnh đi, về rất đúng giờ tôi mừng lắm. Nhưng rồi αnh lại đi về thất thường.

– Sαo dạo này αnh lại đi về thất thường như vậy.

– Anh xin lỗi em. Vì cô ấy bị động thαi ρhải nằm viện, mà người nhà vừα neo vừα xα nên αnh….

Đất dưới chân tôi như sụt xuống. Không khóc mà hαi hàng nước mắt tôi cứ chảy dài, thật đαu đớn.

Chúng tôi quyết định ly hôn. Chồng tôi về ở với cô ấy ,tôi cũng không biết ở ρhường nào

Rất lâu sαu, chừng 5 năm. Một hôm mẹ con tôi đαng chuẩn bị ăn trưα tôi nhìn rα cổng đã khéρ thấy một người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn đαng dừng sάϮ cổng nhà, tôi bảo con.

– Con rα xem chú ấy có cần gì không

Con rα một lúc rồi quαy vào

– Chú ấy bảo đi đường mệt dừng nghỉ một lúc rồi đi mẹ ạ. Nhìn chú ấy cũng còn hơi trẻ mà Ϯộι quá.

Hôm đó tôi đi đám cưới ở ρhường nọ, trên đường về bỗng nhìn thấy trên vỉ hè một người đàn ông cùng chiếc xe lăn với tậρ vé số ρhíα trước, thấy dáng dấρ như người đàn ông từng đứng trước cổng mình trước đây tôi đừng xe dưới lòng đường nhìn lên.

Tôi như không tin vào mắt mình, tôi hé cái kính râm nhìn cho rõ. Ôi. Đúng rồi, chồng cũ củα tôi. Người αnh ấy gầy đi nhiều với nước dα đầy mưα nắng.

Trong lòng tôi trào lên cảm xúc tҺươпg cảm khó tả. Sαo αnh ấy rα nông nỗi này. Chắc tôi đeo kính với khẩu trαng nên αnh ấy có nhìn cũng không nhận rα tôi.

Gần chỗ αnh ấy ngồi có quán giải khát nên tôi ghé vào gọi một cốc nước míα. Trong lúc cô chủ đαng làm tôi vờ hỏi

– Cái αnh ngồi xe lăn bán vé số ngày nào cũng bán ở đây hả chị

– Cũng không thường xuyên. Nhưng ở đây là nhiều hơn.

– Thế chị có biết gì về hoàn cảnh củα αnh ấy không.

– Tôi nghe nói αnh ấy đi làm cơ quαn nào đó có vợ con. Nhưng 2 năm trước bị tαi пα̣п giαo thông khi rα viện thì vợ và con cũng bỏ đi đâu không biết.

Anh tự chuốc khổ vào thân αnh rồi. Tôi mở ví cũng chẳng có nhiều tôi cầm 2 triệu đến chỗ αnh

– Chị muα vé số ạ

Tôi chẳng trả lời vì sợ αnh nhận rα giọng nói tôi, tôi chỉ gật đầu

– Chị muα mấy vé ạ

Tôi đưα rα hαi ngón tαy. Cầm hαi vé số tôi đưα cho αnh hαi triệu, nhìn thấy thế αnh bảo

– Chỉ 20 ngàn thôi chị

Tôi chẳng nói gì lẳng lặng quαy đi, còn nghe tiếng αnh Ơ, ớ này chị. hαi hàng nước mắt tôi tuôn trào

Đêm đó tôi không sαo ngủ được suy nghĩ miên mαn. Dù sαo αnh ấy cũng từng là chồng mình, bố củα con mình. Quαy lại với αnh ấy thì không thể, còn nuôi chăm sóc αnh ấy thì khả năng tài chính không đủ.

Mình tôi đi làm còn nuôi con ăn học.với tiền muα nhà trả góρ. Hồi chúng tôi còn là vợ chồng căn nhà ấy chúng tôi chỉ thuê ở.

Từ đó mỗi tháng tôi đến muα vé số một hαi lần và đưα cho αnh ít tiền theo khả năng. Mỗi lần như vậy αnh lại hỏi

– Sαo chị lại làm như thế với tôi

Và chưα một lần nào tôi trả lời αnh.

Con tôi còn bé quá. Không biết tôi có nên nói cho con biết về bố nó hiện nαy không. Hαy chờ con lớn thêm tý nữα

( Ảnh minh họα)

Sưu tầm.


 

KỶ NIỆM MỘT NGƯỜI THẦY-Truyện ngắn HAY

Công Tú Nguyễn –  Chuyện tuổi Xế Chiều

Trước giải phóng Thầy là Giáo sư dạy Việt Văn Trung học, thời đó Thầy, Cô luôn là thần tượng của học trò, cả hình thức lẫn nội dung. Hai năm sau ngày 30/4/1975 hắn gặp lại Thầy ở ngôi trường Trung học phổ thông (cấp 3) mới thành lập, còn rất thô sơ với con đường đất vào Trường rất đúng nghĩa “nắng bụi, mưa lầy”. Thầy đi dạy bằng chiếc xe đạp mà 2 vỏ xe bị phù nhiều chỗ được gia cố bằng mấy cọng kẽm rỉ sét, trên ghi đông treo cái giỏ đan bằng cỏ lát, bên trong ngoài giáo án, vài quyển sách còn có cái lon đựng cơm trưa. Giọng Thầy vẫn còn sang sảng đầy truyền cảm nhưng nghe kỹ thì nội lực đã có phần suy giảm so với hồi xưa, thỉnh thoảng đang giảng tự dưng Thầy dừng lại, thờ thẩn nhìn đám học trò. Hình ảnh người Thầy gầy gò trong chiếc áo trắng đã ngã màu ố vàng từ lâu, bỏ vô cái quần bộ đội bạc màu rộng thùng thình không biết ở đâu Thầy có, đứng ngẩn ngơ nhìn lũ học trò cũng nhếch nhác, tả tơi đã in sâu vào trí óc của hắn cho tới tận bây giờ.

Bổng một hôm, rồi vài hôm, 1 tuần, 1 tháng …. Thầy không tới Trường. Lũ học trò xầm xì với nhau, đứa này nói Thầy đã vượt biên nhưng đứa khác lại nói Thầy về quê sống vì ở lại Sài Gòn làm nghề giáo không đủ tiền nuôi vợ con nhưng có một điểm chung là không ai biết quê Thầy ở đâu.

Năm 1986 hắn là Phó giám đốc một Xí nghiệp cấp Huyện nên hay đi công tác ở các tỉnh miền Tây. Mỗi lần tới Bắc Mỹ Thuận hay Bắc Cần Thơ, chiếc xe hơi 4 chỗ Peugeot 404 biển số xanh chở hắn lập tức bị người bán hàng rong bu đen. Hắn không cho tài xế mở cửa xe để khỏi bị chèo kéo vì đã vài lần bị lừa gạt mua cả thúng ổi nhưng chỉ ăn được vài trái trên mặt, còn lại đều bị dòi. Mặc những tiếng gõ kiếng xe mời chào, hắn cứ giả bộ lim dim ngủ thì rồi người bán hàng rong cũng sẽ bỏ đi. Nhưng một lần nọ nghe tiếng gõ kiếng xe có vẻ dồn dập và kiên nhẫn một cách kỳ lạ khiến hắn he hé mở mắt ra nhìn rồi ngồi phắt dậy như bị điện giật.

Chưa tới 10 năm mà Thầy bây giờ đã là một ông lão già nua và trên cơ thể tong teo của Thầy treo lủng lẳng những chùm nem, chả khiến Thầy càng thêm nặng nề, mệt nhọc. Trong cái quán lá ven đường, hai Thầy Trò ngồi ôn lại những kỷ niệm chưa xa lắm nhưng đầy biến cố. Hắn làm sao quên được người Thầy từng nhiều lần “lén lút” cho hắn mượn những quyển sách tuyệt hay nhưng bị coi là “văn hóa phẩm đồi trụy, phản động, độc hại” kèm theo những lời dạy ngoài giờ, ngoài Trường nhưng rất bổ ích, nhờ đó văn phong của hắn trở nên mượt mà, mềm mại, “có hồn” dù thời đó Luận văn của học trò cấp 3 gần như chỉ rặt “nghị luận chính trị – xã hội” khô khan. Thầy nói thấy hắn là Thầy nhớ liền đứa học trò mà Thầy hãnh diện vì có thiên phú văn chương, cũng là người hay “lén lút” bỏ vô cái giỏ lát của Thầy khi thì khúc cá kho, lúc thì chén canh bầu, bịch cơm trắng ngon nấu từ gạo lúa nhà trồng chứ không phải từ gạo “quốc doanh” vàng khè, hôi rình mùi mọt và cứt gián mà giáo viên mỗi tháng được mua theo tiêu chuẩn hơn 10kg, nhiều khi hắn còn xin gia đình để bỏ vô đó cho Thầy vài ký gạo … Thời đó thường thì buổi sáng Thầy – Trò lên lớp nhưng buổi chiều phải cùng “lao động xã hội chủ nghĩa” trồng khoai, bắp, hoa …quanh trường nên ai ở xa hay đem cơm theo ăn trưa, tranh thủ nghĩ ngơi cho đúng giờ lao động buổi chiều. Hắn cứ tưởng – như hắn mong muốn – Thầy không biết hắn là người “lén lút” để thức ăn vô cái giỏ lát của Thầy, hóa ra Thầy biết rất rõ….

Cơn mưa đầu mùa vừa dứt. Đã tới lúc tạm biệt, hai Thầy – Trò trao vội cho nhau địa chỉ, hắn dặn đi dặn lại Thầy nhớ kêu con trai và con gái sớm lên Sài Gòn để hắn bố trí việc làm cho có thu nhập ổn định. Tất nhiên, hắn cũng lại “lén lút” bỏ vô cái túi đựng tiền bán hàng của Thầy toàn bộ số tiền mà hắn đang có. Thầy bước ra khỏi quán, băng ngang quốc lộ đi vào cánh đồng lúa bạt ngàn phía bên kia đường. Hắn lặng lẽ đứng nhìn theo cái dáng liêu xiêu của Thầy, trong màn sương mờ mờ do cơn nắng quái chợt bừng lên sau cơn mưa tạo ra, hắn chợt thấy Thầy như một tiên ông đang “đằng vân” trên sóng lúa dập dềnh về phía có những lùm cây tạo nên vết mờ xanh xanh ở xa xa. Hắn tự nhủ “Thầy ơi, con sẽ sớm trở lại thăm Thầy”.

(Ảnh minh họa là ảnh sưu tầm trên mạng)


 

HAI ĐỨA TRẺ MỒ CÔI-Truyện ngắn HAY

Tuyet Le Melbourne

Sau cơn lũ cuốn Làng Nù, tôi bỗng nhớ câu chuyện “Hai đứa trẻ mồ côi” được viết gần một năm. Biết đến khi nào cho hết những cảnh đời khốn khó!

HAI ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

Trời vào hạ, nhưng có những cơn mưa chợt đến chợt đi, thật lạ. Nóng lạnh đan xen nhau, rồi mưa dầm như những ngày mùa đông năm nào ở quê mẹ, xa lắc.

Hà nhớ những cơn mưa tầm tã, nhoè cả lối đi. Trời ban ngày mà như chỉ có hoàng hôn. Cái ướt lạnh thấm sâu vào làn da mỏng trẻ con làm da tím tái.

***

Nó mang chiếc áo mưa, được tết từ những cọng cỏ tranh cũng đã cũ lắm rồi. Đầu đội cái nón lá tả tơi, co ro ngồi bán những củ khoai củ mì đã nguội lạnh. Một người phụ nữ đơn thân, cho nó ngồi ké vỉa hè. Bà cũng nghèo quá, nên căn nhà chỉ có chỗ đặt chiếc chõng tre là chưa bị nước mua ghé thăm.

Mỗi ngày nó có mặt rất sớm và về rất trễ, có hôm bị ế, phải mang về thay bữa cơm chiều. Thời ấy khoai lang khoai mì rẻ tiền hơn gạo. Mà nhà có đủ gạo ăn đâu. Khoai độn, mì độn là bình thường. Thỉnh thoảng ăn được bát cháo trắng là sung sướng lắm rồi.

Hôm nay, trời mưa nặng hạt. Những giọt mưa lộp độp trên chiếc nón lá như những giọt buồn gõ vào trái tim non dại của nó. Mặt nó buồn thiu, bưng cái giỏ khoai phủ miếng nhựa đã bạt màu. Tối nay, phải ăn khoai, nhưng có khoai ăn là quí rồi. Nó nhớ có những ngày cơn đói cồn cào ruột gan, nó phải đi tìm những trái chim chim dú dẻ bờ rào ăn lót dạ. Có hôm, nó đứng nhìn trộm một cách thèm thuồng chủ nhà kia cho con chó ăn một cái tô lớn có khúc xương (Chó miền quê ăn cùng thức ăn với người, không phải đồ ăn riêng cho chúng). Nó ước gì được khúc xương đó đem về cho em.

Từ lúc mẹ mất, gà trống nuôi con. Cha nó ngày ngày phải đi thật xa tìm việc; bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cũng chỉ đủ bữa cháo bữa cơm độn nuôi hai chị em nó. Ở cái làng quê nghèo này, có mấy ai khá giả để giúp nhau. Mới 5 tuổi thôi, nó phải cõng em đi kiếm từng cọng rau quanh nhà cho bữa ăn tối. Rồi theo anh chị trong làng xuống ruộng bắt cá bắt cua. Em nó đói, khóc. Các anh chị xúm lại dỗ dành.

Ngày qua ngày lây lất, có lẽ mẹ nó phù hộ, theo cách nói của miền quê; nên hai chị em nó lớn lên dưới sự đùm bọc của bà con lối xóm. Khi được 10 tuổi, trong một cơn bạo bệnh, ba nó cũng bỏ lại hai chị em nó mà ra đi. Em nó ngơ ngác chẳng biết gì, nhìn ba nó nằm im trên chiếc giường được làm bằng tre, nó nghĩ ba nó đang ngủ. Thật đơn giản! Giá mà cuộc đời này mọi chuyện cũng giản đơn như thế!

Mỗi người là một số phận. Nó quen với thân phận côi cút đói nghèo, nên vẫn hồn nhiên sống. Chỉ thương đứa em, vì thiếu thốn nên cọc còi.

***

Trời sụp tối rất nhanh. Nó ghé qua nhà bác tư hàng xóm, nơi gởi đứa em. Dắt em về nhà, hai chị em ướt đẫm nước mưa. Mò mẫm trong bóng đêm, nó đốt đèn lên. Nhà lạnh ngắt. Thay đồ cho em, lau khô nước mưa rồi lấy ra mấy củ khoai còn lại trong giỏ. Hai chị em ngồi dưới ánh đèn leo lét với hai cái bóng làm cho căn nhà có vẻ ấm hơn. Bữa ăn tối của hai đứa trẻ mồ côi là thế.

Tối hôm đó, em nó lên cơn sốt cao, mê sảng. Nó hoảng hốt, vừa khóc vừa cõng em chạy sang nhà bác tư trong cơn mưa tầm tã. Nó gào thét kêu cứu; nhưng giọng một cô bé 10 tuổi ốm yếu xanh xao làm sao át được tiếng mưa. Nó liên hồi đập cửa, nhưng chỉ có bóng đêm, tiếng mưa tuôn và cơn gió rít! Nó mệt lả, ôm em vào lòng ngồi khóc trong tuyệt vọng!

Đứa bé với thân hình gầy guộc, da mỗi lúc mỗi tím đi, hơi thở yếu dần rổi ngã đầu vào cánh tay yếu ớt của chị nó. Lặng im! Mưa ngừng tuôn, gió ngừng rít! Em bé ngừng thờ! Một sự im lặng đến tê tái. Em đã về với mẹ và cha!

Trong bóng đêm, bên thềm nhà chưa khô nước, hai đứa bé mồ côi quấn lấy nhau như để sưởi ấm cho nhau. Một tấm thân mỏng manh và một cái xác, lạnh dần…!

ThuTuyet, 12/12/2023


 

Bạn Xưa 50 Năm Cũ – Tác giả : Tràm Cà Mau-Truyen ngan HAY

 (Chuyện kể của ông Hai)

 Tác giả : Tràm Cà Mau

Dạo đó, tôi vừa mới trổ mã, bể tiếng, tay chân tự nhiên dài ngoằng ra, áo quần thành ngắn cũn cỡn. Tôi vụng về, ngơ ngác, làm cái gì cũng hư hỏng, má tôi cứ la rầy mãi. La rầy để quở trách mà cũng chan chứa tình yêu thương. Tôi  ăn cái gì cũng ngon, đặt lưng xuống đâu cũng ngủ được say sưa.

Thời này, đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, nước Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập nền đô hộ cũ. Toàn dân đứng lên kháng chiến, cầm tầm vông vạt nhọn đánh nhau với Tây. Khí thế đằng đằng. Cũng như mọi thanh niên khác, tôi tham gia kháng chiến. Nói là đánh nhau với Tây, nhưng chạy thì nhiều hơn, vì lồ ô vạt nhọn không cự nổi với súng ống của Tây.

Tôi bị Tây bắt lãng xẹt khi đang ngủ giữa ban ngày. Bị trói ké, đem về giam tại thành phố. Trong trại giam, mỗi ngày phải đi làm lao động vệ sinh, dọn rác, quét lá, lấp các vũng bùn lầy, khai mương. Tôi làm quen được một ông lính kèn, mỗi ngày mượn cái kèn thổi tò te làm khổ lỗ tai mấy ông lính Tây chơi. Không có chi chói tai bằng nghe mấy anh tập kèn cứ ọ ẹ từ giờ này qua giờ kia mãi.

Tập hoài rồi cũng thổi được. Một lần cao hứng tôi thổi khúc kèn báo hiệu tan giờ làm việc, tiếng kèn vang vọng, rõ ràng, làm mấy ông Tây tưởng đã hết giờ, rủ nhau ra về. Tôi bị phạt giam đói, và anh lính kèn cũng bị khiển trách, không cho tôi mượn cây kèn nữa. Nhưng sau đó hai tuần, tôi được cho ra khỏi tù. Họ phát cho tôi áo quần lính, và sung vào đội thổi kèn, ban quân nhạc của Tây. Nhờ có một chút hiểu  biết về âm nhạc Tây Phương, tôi học nhạc cũng khá dễ dàng, không như các ông bạn khác. Khi tập thổi kèn mà chơi, thì tôi cảm thấy vui, ham thích, thú vị, nhưng khi phải tập kèn vì bắt buộc, thì thật là chán nản, mệt nhọc, bực mình. Ông trung sĩ chỉ huy đội quân nhạc không vui, vì đã chọn lầm người. Trước đó, ông tưởng tôi có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, nên đề nghị tuyển dụng. Về sau ông thường nói lời an ủi rằng, thiếu chó thì bắt bất cứ con gì ăn phân cũng được, miễn sao biết ăn phân thì thôi. Nghe ông nói vậy, tôi cũng tự ái, và bực mình. Thường thường, thì đội lính kèn được nhàn hạ. Mỗi ngày, mấy xuất thổi kèn báo hiệu buổi sáng thức dậy, như con gà gáy sáng, báo giờ làm việc, báo giờ nghỉ, giờ tan sở. Báo hiệu thật đúng giờ. Thế thôi. Còn ngoài ra thì chơi cờ, tán dóc, trêu ghẹo nhau, nhưng không được bài bạc. Mỗi sáng tiếng kèn vang vang: “Tọ tè ti tọ tè ti..ti tọ ti tè…” Mà lũ con nít chuyển âm thành: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.” Nghe y hệt tiếng kèn đồng.

Trong đám lính kèn, tôi chơi thân với Tư  Thàn, vì anh cùng tuổi, cũng độc thân và cùng hoàn cảnh như tôi, bị Tây bắt và sung vào đội quân nhạc. Chúng tôi thường rủ nhau đi xem hát ban đêm. Chúng tôi biết và thuộc lòng tên đào kép của các gánh cải lương, hò quảng. Nhiều lần, Tư Thàn thổ lộ ước mơ của anh là được vào làm việc cho gánh cải lương, làm kép độc, nhờ đó, mà anh có thể mùi mẫn với các cô đào đẹp như tiên kia. Anh không có tham vọng được nổi tiếng, chẳng cần được khán giả mến mộ, chỉ mong gần gũi cái nhan sắc của các cô đào thôi. Ngày chủ nhật, chúng tôi về phố Sài gòn đi dạo quanh quanh, cũng chỉ để được nhìn ngắm các cô gái với áo bà ba vải mỏng ôm sát eo ếch, ngực căng phồng có khe hở he hé giữa hai hột nút, và nhìn quần lãnh vải láng ôm sát mông căng. Ði từ phố vào chợ Bến Thành, từ chợ ngược trở lại phố. Nhìn thiên hạ tấp nập tới lui. Chỉ thế thôi, là đủ cho lòng trai đôi mươi phơi phới. Khi mỏi chân, thì về chợ Cũ vào tiệm Tàu ăn hủ tiếu, ăn cơm xào rau thịt. Có khi chỉ mua ổ bánh mì thịt, vừa đi vừa nhai.  Tuổi trẻ, khi đói bụng, ăn cái gì cũng ngon miệng cả. Nhiều khi đi theo một cô gái, hai đứa chúng tôi nói lời chọc ghẹo nhau vu vơ, cố tình để cô nghe, nhưng không dám trực tiếp trêu ghẹo hay gợi chuyện.

Có lần, tôi nhặt được tấm ảnh của một cô gái  nào đó. Hình chụp rất điệu, ngón tay trỏ  tựa má, hai cái núng đồng tiền lún sâu rất duyên, mặt sáng và tươi, mắt ướt rượt. Có lẽ bên ngoài đẹp mê hồn. Tôi đưa tấm ảnh  cho Tư Thàn xem, và bảo rằng đó là con Mười, em gái tôi ở Long Xuyên mới gởi lên. Kể từ khi thấy tấm hình này, Tư Thàn nể nang tôi lắm. Tôi có thể sai Tư Thàn làm những việc mà trước đây anh không bao giờ làm giúp. Tôi mượn tiền anh dễ dàng hơn, mà anh bớt nhăn nhó khó chịu. Tôi lờ mờ biết Tư Thàn mê cô gái trong tấm hình, và hy vọng được lòng tôi, thì sẽ được lòng em tôi. Vốn tính nhút nhát, nên Tư Thàn không bao giờ dám hỏi thẳng về em tôi. Chỉ một lần, anh đánh bạo hỏi tôi khi nào về thăm nhà, và có thể cho anh đi cùng, về chơi có được không. Tôi đáp rằng dĩ nhiên là được, và sẽ mời anh ở lại nhà vài hôm. Nghe vậy, Tư Thàn sướng đến đỏ cả mặt. Sau nầy, tôi cho Tư Thàn tấm ảnh đó, anh cất kỹ trong ví, lâu lâu mở ra xem mà mơ mộng. Buổi sáng, tôi và Tư Thàn thường hay ăn cháo trắng với hột vịt muối của cô Năm Cháo Trắng bán, cô này có nước da ngăm ngăm, duyên dáng. Hàng cháo gánh, ngồi chồm hổm ăn, hoặc ngồi trên các đòn gỗ thấp sát đất. Có nhiều anh lính trêu ghẹo, tán tỉnh cô, nhưng khi nào cô cũng vui vẻ, tươi cười, không làm mất lòng ai. Tôi cũng khoái cô này, thường giả vờ hết tiền, ăn thiếu nợ. Ðến tháng lãnh lương, thì trả, nhưng không trả hết, khi nào cũng xin khất lại một ít. Cứ nợ cô, thì cô phải nhớ đến số tiền nợ. Nhớ đến số tiền nợ, thì phải nhớ đến người mắc nợ, tức là cô phải nghĩ đến mình. Cái mưu kế này, tôi nghe được trong một tiệm hớt tóc mà mấy anh thủy thủ kháo nhau. Tôi có bày mưu này cho Tư Thàn, mà anh không chịu nghe theo, cứ sòng phẳng trả hết tiền, không bao giờ chịu thiếu một xu.

Một hôm tôi rủ Tư Thàn đi xem cải lương, anh viện cớ bận việc, tôi đi một mình. Khi ngồi trong rạp, nhìn xéo qua bên kia, thì tôi thấy Tư Thàn và cô Năm Cháo Trắng đang ngồi bên nhau. Tay Tư Thàn đưa lên chỉ chỏ, như đang giải thích gì đó. À thì ra Tư Thàn đã bí mật phỗng được cô hàng cháo, mà anh em không ai hay biết. Tôi tránh mặt cho Tư Thàn làm ăn được tự nhiên.

Hôm sau, gặp Tư Thàn, tôi làm bộ giận, mà thực ra thì tôi cũng hơi ghen tức. Tôi đặt mưu tính kế, mà chẳng được cơm cháo gì, Tư Thàn cứ tự nhiên, thì vớ được cô hàng cháo. Tôi cứng giọng, nói với Tư Thàn:

“Mày phản bội em tao. Trả tấm hình con Mười lại cho tao. Tưởng mầy đàng hoàng, thì ra…”

“Tao làm gì mà gọi là phản bội?”

“Mày còn giả vờ? Hồi hôm mày đi đâu? Làm gì? Với ai? Có chối được không?”

“Ai nói với mày?”

“Chính mắt tao thấy. Tao để yên cho chúng mày hú hí. Chối tội làm chi?”

Tư Thàn bẽn lẽn móc ví trả tôi tấm hình cô gái có hai cái núng đồng tiền. Anh có vẻ tiếc lắm. Cuối cùng anh nói:

“Em gái mày đẹp như thế này, thì chán chi người dòm kẻ ngó. Tao làm gì mà vói thấu. Trả hình lại cho mày là phải.”

“Mày định bắt cá hai ba tay sao? Con Năm Cháo Trắng cũng có duyên lắm đó chứ!”

“Ừ. Có duyên. Hồi hôm, em thú thật với tao em là ‘đầu gà đít vịt’ Mầy thấy da em ngăm ngăm không?”

Tôi hỏi Tư Thàn làm sao mà câu được em Năm Cháo Trắng? Trong lúc tôi bày mưu tính kế mà không được em đáp ứng. Tư Thàn cho rằng tôi ngu, đàn bà con gái không ưa những người bê bối, mang nợ mắc nần. Sau này về làm chồng quen thói nợ nần, ai mà chịu nổi. Thì ra, tôi nhẹ dạ tin vào mưu kế tào lao của mấy anh thủy thủ gà mờ.

Từ ngày trả lui cho tôi tấm hình cô gái có núng đồng tiền, Tư Thàn không còn nể nang tôi như trước kia nữa. Tôi biết mình ngu, đòi lại tấm hình, chẳng ích gì, nhưng đã lỡ rồi, tiếc cũng không được.

Tôi thường ứng trực thế cho Tư Thàn, để anh có thì giờ đi chơi với cô Năm Cháo Trắng. Bởi vậy, sau này cô thường múc cho tôi những tô vun, cháo muốn tràn ra ngoài. Từ đó, tôi không bao giờ thiếu nợ cô nữa.

Tư Thàn cho biết, cô Năm Cháo Trắng muốn giới thiệu cho tôi một người bà con. Theo Tư Thàn, thì cô Sáu Rau nầy đảm đang lắm, hiện bán rau ở chợ Cầu Ông Lãnh. Tôi mừng hớn hở, và nghĩ rằng từ nay sẽ có một người bạn gái, cùng đi chơi trong những ngày nghỉ, cho bớt cô đơn, đỡ chạy rong rong như chó tháng ba. Chúng tôi hẹn nhau đi xem cải lương. Trước hôm gặp gỡ, tôi bồn chồn, lo lắng, chăm chút lại nhan sắc cho đàng hoàng, ủi lại áo quần cho thẳng nếp, tóc tai hớt cao sáng sủa. Gặp nhau tại rạp hát, tôi thất vọng não nề. Cô gái mà họ giới thiệu, có cái nhan sắc không hạp nhãn tôi. Cô này mặt hơi rỗ, răng cời, cái mông rớt thấp xuống đến đầu gối. Ngồi bên cạnh cô trong rạp hát, mà đầu óc tôi cứ luẩn quẩn nghĩ đến hai cái vé, tiếc tiền mua bao. Hôm nay gánh cải lương diễn tuồng “Hoa rơi cửa Phật” tức là chuyện tình Lan và Ðiệp. Chuyện kể cô Lan thất vọng vì người tình đi lấy vợ, vào chùa cắt tóc đi tu. Cô Sáu cảm động khóc mùi mẫn, hai vai rung rung, và xịt mũi mãi. Cô nắm lưng bàn tay tôi đang tựa trên thành ghế. Bàn tay cô nhám xịt, có lẽ vì nhiều cục da chai trong lòng tay, kết quả của công việc lao động hàng ngày. Tôi để yên. Cô bóp nhẹ tay tôi nhiều lần. Tóc cô thoang thoảng thơm dầu dừa. Có mùi hôi chua, có lẽ cô bị mồ hôi nách. Cái mùi chua đó làm tôi khó thở. Tôi cứ để yên, không dám thụt tay về, sợ cô buồn. Một lúc sau, tôi giả vờ nói:

“Rệp cắn. Rạp nầy nhiều rệp quá”

Ðồng thời , tôi kéo tay về giả vờ gãi.

Tan tuồng, cô Năm Cháo Trắng ép tôi đưa cô Sáu Rau về nhà bằng xích lô máy. Ban đầu tôi từ chối, muốn về riêng, nhưng Tư Thàn cứ bấm tay tôi mãi. Tôi đành lên xe ngồi nhìn thẳng ra phía trước. Xe chạy vùn vụt, gió tốc tóc cô Sáu quất vào mặt, vào cổ  tôi. Những khi xe quành, cả người cô Sáu đổ dồn, như chồm lên tôi. Cô Sáu vòng tay ra ôm chặt lưng tôi, có lẽ cô sợ ngã. Hai tay tôi xuôi ra phía trước, nắm trên đầu gối. Khi cô Sáu xuống xe, cô chào tôi và cười nói: “Lính chi mà hiền quá!”

Cả tuần tiếp theo sau hôm đi xem cải lương về, tôi giận Tư Thàn, giận luôn cả cô Năm Cháo Trắng. Hai người này khinh tôi, giới thiệu cho tôi một cô gái vừa xấu xí, vưa hôi nách. Buổi sáng tôi không ăn cháo trắng nữa. Tôi không nói chuyện với Tư Thàn trong một thời gian lâu. Tư  Thàn thì không biết tôi giận, cứ líu lo nói chuyện này, chuyện kia, mà tôi cứ  phớt lờ.

Một hôm Tư Thàn hốt hoảng nói với tôi:

“Nguy rồi mày ơi. Con Sáu Rau đau nặng, sắp chết, nó muốn gặp mặt mày một lần trước khi về chầu Diêm Vương.”

“Ðừng đùa. Gặp để làm chi? Mà nó đau bệnh gì, mới đó còn khỏe mạnh như trâu. Sao mày biết nó bệnh?”

“Thì con Năm Cháo Trắng nói. Sáu Rau bệnh, không ăn uống được, nằm kêu tên mày suốt ngày đêm. Mày theo tao ra cổng trại gặp con Năm Cháo Trắng, nó đang chờ mày.”

Tôi gạt tay Tư Thàn ra. Anh cứ nắm áo tôi mà kéo đi. Tôi bực mình lắm, định gặp cô Năm Cháo Trắng, thì cho một trận để cô ta biết mặt tôi. Nhưng khi gặp cô Năm Cháo Trắng, thấy cái cười duyên dáng ỏn ẻn của cô, thì bao nhiêu giận hờn đều tan biến đâu mất. Cô cầm lấy tay tôi một cách thân thiết, làm tôi run run, và cảm động. Cô Năm Cháo Trắng ép sát người vào tôi, kéo tôi đi. Tôi ngại Tư Thàn nổi ghen, phang cho tôi thanh củi vào đầu. Tôi nhìn lui phía Tư Thàn, thấy anh không có vẻ gì phản đối cả, tôi yên tâm đi theo. Cô Năm nói:

“Anh giúp em một lần đi. Tất cả lỗi tại em gây ra, giới thiệu anh cho nó. Nó mết anh quá, đau bệnh tương tư, anh không cứu nó, nó chết thì tội nghiệp lắm, mà anh mang tiếng thất đức nữa.”

Cô Năm ngoắt chiếc xích lô máy, đẩy tôi lên xe, cô leo theo, ngồi sát vào tôi. Hai thân mình tựa vào nhau, làm tôi mê mẩn, khờ ra, cô bảo gì cũng nghe cả. Cô nói lớn vì gió tạt mạnh:

“Anh giúp cho em một lần. Ghé thăm con Sáu Rau. Sau này anh muốn cái gì, em cũng chịu. Giúp em, rồi em sẽ trả ơn lại.”

Tôi nghe cô Năm Cháo Trắng nói, giọng thỏ thẻ hứa hẹn, mà mụ cả trí. Tay tôi quàng qua lưng cô Năm, ôm chặt lấy vai cô. Tôi quên mất cô đang là người yêu của Tư Thàn. Tôi nghĩ, không chừng cô này khoái tôi, bày đặt chuyện Sáu Rau đau, để có dịp gần gũi, tạo cơ hội cho tôi tỏ tình. Nhưng có lẽ tôi không nên xớt tay trên của Tư Thàn. Xấu hổ. Bạn bè như vậy, thì làm sao mà còn nhìn mặt nhau nữa. Mà nguy hiểm lắm, anh ta nổi ghen, cho một phát súng, thì đi đời. Nghĩ vậy, tôi lỏng tay ôm cô Năm Cháo Trắng, nhưng không buông hẳn.

Vào nhà cô Sáu Rau, mà tôi còn chưa tỉnh cơn mê vì được ôm cô Năm Cháo Trắng trong vòng tay. Nhà tối tăm, lụp xụp. Tôi thấy cô Sáu Rau nằm đắp chăn trên giường, mặt vàng như bôi nghệ, môi khô có đóng vảy, mắt cô lờ đờ. Cô khóc và đòi nắm tay tôi. Tôi đưa tay ra cho cô nắm. Cô thều thào:

“Em chết rồi, anh đừng quên em héng.”

Thấy một người con gái thương mình đến đau bệnh tương tư, thì tôi cũng có phần cảm động. Nhưng nhìn cái dung nhan xấu xí, tiều tụy, vàng vọt của cô, thì tôi nghĩ thầm, thà tôi chịu chết, chứ không thể lấy một người vợ xấu xí như vậy. Tôi nghĩ thêm, chuyện đau bệnh tương tư, chỉ có trong cải lương, và trong báo chí mà thôi. Tôi không tin trong đời, có kẻ đau bệnh tương tư. Lo cơm hàng ngày còn đỏ con mắt ra, đổ mồ hôi cực nhọc kiếm miếng ăn chưa đủ, không ai có thì giờ mà đau tương tư. Cô Sáu Rau nói lảm nhảm y hệt như  những câu trong tuồng cải lương kỳ trước, làm tôi nghe mà phát ngượng.

Sau nầy, tôi được Tư Thàn tiết lộ rằng, cô Sáu Rau muốn bắt cổ tôi, nên giả vờ đau bệnh tương tư, bôi nghệ cho vàng mặt, nhịn ăn, bớt uống hai hôm, làm cho ra vẻ hốc hác, để tôi cảm động, và thấy trách nhiệm về cái chết của cô, mà phải chịu phép. Nhưng cô Sáu tính sai, vì giả vờ bệnh, làm mặt mày càng thêm xấu xí, hốc hác, thì tôi càng sợ, và càng cao chạy xa bay cho sớm hơn nữa.

Cô Sáu Rau còn nhắn rằng, nếu tôi không chịu mối tình, thì cô sẽ vào chùa, xuống tóc đi tu. Tôi đâu có khờ dại, mà sợ cô dọa. Tôi nói với cô Năm Cháo Trắng rằng, đi tu được, là có phước. Ði tu có thập phương nuôi, khỏi phải bôn ba nắng mưa ngoài chợ. Tôi nghĩ là cô Sáu Rau bắt chước tuồng cải lương mà nói, chứ không chắc đi tu đâu.

Thường thường, Tư Phàn và tôi trốn trại đi xem đá gà ở xóm trong. Thiên hạ đánh cá ồn ào. Chúng tôi cũng thường bắt độ, khi ăn khi thua, mà thua thì nhiều hơn ăn. Những khi ăn tiền cá độ, chúng tôi dắt nhau đi nhậu vui vẻ,  nhậu thâm cả tiền túi. Khi thua, thì hai đứa lủi thủi ra về, phải vay mượn tiền bạn bè để gỡ gạc. Có hai lần bị cảnh sát bố ráp, cả phường đá gà bỏ chạy, chúng tôi cũng sợ bị bắt, chạy trốn, cho nên mất luôn tiền cá độ. Từ đó, chúng tôi tìm ra một cách đánh cá khác, mà chủ cá độ không móc được của chúng tôi một xu. Hai đứa tôi đánh cá riêng với nhau, đứa này được, thì đứa kia thua. Chúng tôi gọi là lọt sàng xuống nia. Và sau cuộc đá gà nào, chúng tôi cũng có buổi ăn nhậu, vì một trong hai đứa thắng cuộc. Thời trước Tư Thàn có nuôi gà đá, nên nhiều kinh nghiệm, cứ nhìn vóc dáng bên ngoài, là biết ngay con gà có phong độ hay không. Tôi cứ nợ Tư Thàn mãi, và một hôm, tôi bắt cá lớn, hy vọng trừ nguyên món nợ đang thiếu. Con gà tôi bắt độ, lớn hơn con gà của Tư Thàn cỡ một mười, một bảy, và cựa của nó dài hơn chừng nửa phân. Tôi chắc ăn. Tư Thàn nói con gà kia nhỏ, nhưng xương giò lớn, cựa năm khến, và sức lực dồi dào hơn. Theo Tư Thàn, nếu trong khoảng năm phút đầu, mà  cầm cự được, thì nó sẽ thắng. Hai con gà đá nhau túi bụi. Cứ mỗi cú đá là địch thủ lăn ngửa ra. Máu me đổ lênh láng trên sân đất. Con gà Tư Thàn bắt cá, bị té ngửa nhiều lần, và bỏ chạy hai lần, nhưng quay lại chiến đấu tiếp. Con gà lớn của tôi bị hai cú đá đau điếng, luồn đầu vào cánh địch thủ mà tránh đòn. Con gà nhỏ quay đầu lại, cắn vào mồng con gà lớn, dùng hết sức lực đá ngược lên, làm gãy cánh con gà lớn. Nó nằm lăn quay xà mòng trên mặt đất, cái mồm há ra hấp hối. Tôi bị thua cá độ. Thế là nợ Tư Thàn một số tiền bằng nguyên cả tháng lương. Nợ ít ít, thì còn nghĩ đến chuyện thanh toán, nợ nhiều quá, không còn muốn trả nữa. Tôi cứ khất mãi, và đến tháng lãnh lương cũng không trả bớt nợ cho Tư Thàn. Từ đó, giữa tôi và Tư Thàn có cái gì lấn cấn, tình bạn không còn như trước nữa. Tôi không dám ăn tiêu khi có mặt Tư Thàn, sợ bị hỏi nợ. Không phải tôi muốn giựt nợ, nhưng tôi tự bảo lòng, khi nào tiền bạc dư dả, thong thả mới trả. Tư Thàn thì cố làm theo lời cô Năm Cháo Trắng, muốn kéo tôi gần vào cô Sáu Rau, cứ có dịp là nhắc đến cô Sáu.

Một lần, Tư Thàn thấy tôi nói chuyện thân mật, cười nói với một cô nữ quân nhân. Giữa chỗ đông người, Tư Thàn hướng về tôi mà nói lớn:

“Sao mày nợ tao một tháng lương, lâu quá mà chưa trả? Phải vay mượn mà trả chứ?”

Tôi bị mất mặt trước đám đông, phát cáu, giận đỏ mặt. Tôi nghiến răng trả lời:

“Mày còn đòi tiền nợ, thì tao đánh cho bể đầu. Tao không nói đùa đâu.”

Tư Thàn lảng đi nơi khác, mà tôi thì cũng không hết giận, định đi theo gây sự thêm. Vì một món nợ đá gà, mà chúng tôi mất tình bạn.

Sau năm 1954, Tây rút về nước, chế độ Cộng Hòa được thành lập tại miền Nam. Chúng tôi được giải ngũ, về đời sống dân sự. Tư Thàn đem vợ là cô Năm Cháo Trắng về quê làm ăn. Tôi ở lại thành phố, làm đủ thứ việc, từ thợ nhà in, lái xe chuyển vận hàng hóa, thơ ký cho hội thánh Tin Lành và nhiều nghề khác. Cũng tạm đủ sống qua ngày, nhưng vì con đông, cho nên khi nào cũng thấy thiếu thốn. Thời gian làm việc cho hội thánh, tôi học được một ít tiếng Anh, nên sau này hữu dụng. Mười mấy năm sau khi giải ngũ, một hôm tôi lái xe chuyển kinh sách cho hội Thánh Tin Lành về miệt Long Xuyên, trên đường trở về, chiếc xe làm nư, chết máy giữa đường, không biết làm sao mà sửa. Tôi ngồi bên vệ đường, dưới bóng cây nhỏ. Ðầu óc suy nghĩ, tính kế không ra. Tôi định bắt xe đò về tỉnh lỵ, rước thợ ra sửa xe. Chờ hoài mà không có xe qua.  Phía dưới ruộng khô, có một nông dân đang cày đất với hai con trâu. Nắng cháy, cổ khát. Tôi thấy anh nông dân ngưng cày, lên bờ lấy bầu uống nước. Túng quá, tôi đánh liều kêu lớn:

“Này anh ơi, khát quá, cho tôi uống nước với.”

Người nông phu mang áo đen, quần xà lỏn, chậm chạp băng ruộng, đem cái bầu nước đến cho tôi. Khi đến gần, thì anh reo lên:

“Mày đó phải không Quài. Sao biết tao cày ruộng ở đây mà ghé lại thăm?”

Tôi mừng quá, hét lớn:

“Tư Thàn! Mày! Ð. M. mày. Thằng quỷ. Mày ở đây hả? Chiếc xe nó biết có mày ở đây, nên chết máy, để cho tao gặp mày.”

Tư Thàn và tôi xoắn lấy nhau, nhắc chuyện mười mấy năm trước. Ðủ thứ chuyện. Nói cho nhau biết tin tức gia đình mỗi người. Tư Thàn có hai thằng con trai. Ðời sống của gia đình thong thả, nhờ cô Năm Cháo Trắng buôn bán thêm ngoài chợ quận. Gạo cơm đủ ăn. Mười mấy năm, Tư Thàn chưa về lại Sài Gòn lần nào, vì cũng không có chuyện gì, mà chẳng còn ai để thăm viếng.

Tư Thàn bỏ dở luôn buổi cày ruộng. Tôi cũng bỏ kệ cho chiếc xe nằm ụ bên đường, đến đâu thì đến, theo Tư Thàn đi vào làng. Nhà Tư  Thàn trống trải, đơn sơ như tất cả mọi nhà nghèo miền quê.

Tư Thàn lấy cái nơm làm bẫy,  rải lúa cho gà ăn, và bắt được một con gà trống thiến lớn. Sau khi chọc tiết, moi lòng. Tôi phụ Tư Thàn nhồi đất sét ướt bên ngoài, và thả con gà trong đống rơm mà nổi lửa. Lửa cháy bừng bừng, mùi thịt thơm bốc lên làm tôi chảy nước miếng. Tư Thàn đem ra hai lít đế trong veo. Thèm quá, tôi rót một ly nhỏ, uống trước. Rượu thơm lừng nồng lên hốc mũi, và nóng như có lửa cháy trong cổ họng. Khi gà chín,  tôi đập cái vỏ đất sét, để cả con gà lên chõng tre có lát sẵn mấy tàu lá chuối tươi, mà Tư Thàn đã rửa sạch. Chúng tôi bốc tay mà ăn, cầm đùi gà nhai, rượu vào đều đều, cạn chai này, qua chai kia. Chúng tôi cùng nhắc chuyện xưa, chuyện không đầu, không đuôi, chuyện này lẫn qua chuyện khác. Hai đứa nhỏ con Tư Thàn đi học về, cũng nhào vào xâu xé con gà. Tôi ép thằng lớn hớp một ngụm đế, nó nhăn mặt phun ra. Tư Thàn và tôi cùng cười vang. Khi trời xế chiều, thì cô Năm Cháo Trắng cũng gánh hàng về. Cô nhận ra tôi, kêu thét lên vui thú, và phát vào vai tôi nhiều lần đau điếng. Cô mắng:

“Cái ông khỉ này, tưởng chết rấp đâu rồi chớ. Làm sao biết tụi tui ở đây mà ghé chơi? Vui quá xá.”

Ðêm đó, cô Năm Cháo Trắng nấu cháo vịt, mượn hàng xóm thêm  mấy lít đế, chúng tôi ngồi ăn nhậu dưới trăng cho đến khuya. Ăn uống no say. Tôi chợt nhớ tới món tiền mà tôi nợ Tư Thàn, trị giá bằng một tháng lương vào thời gian mười mấy năm trước, mà chưa trả, và cũng chưa hề toan tính thanh toán cho sòng phẳng. Cũng vì món nợ đó, mà cái tình bạn thân thiết giữa chúng tôi có một thời lấn cấn, mất đi cái mặn nồng, không còn như trước. Tôi chậm rãi nói lè nhè trong hơi men:

“Tao bậy quá, còn mắc nợ mày mà chưa có dịp trả. Công việc làm ăn, cũng không khá, mà con cái đông đúc, có cơm no bụng từng ngày là may lắm. Tiền không có dư…”

Tư Thàn cười hiền hòa, giọng ấm áp nói:

“ Thôi, quên chuyện xưa đi. Nợ nần cái khỉ gì? Chuyện cờ bạc thời trai trẻ dại dột, để tâm làm chi? Bạn bè gặp lại nhau, là quý rồi.”

Có lẽ vì rượu đã ngấm nhiều, mà nghe lời nói chí tình của bạn, mắt tôi cay xè. May mà tối trời không ai thấy. Tôi xịt mũi. Ðêm đó, tôi ngủ lại nhà Tư Thàn, và nói chuyện rầm rì trong bóng tối  cho đến khuya.

Sáng hôm sau tôi ra chỗ xe nằm ụ, thì thấy chiếc xe chỉ còn là một đống sắt cháy nham nhở. Thì ra đêm qua, du kích đặt mìn phá, mà ngủ mê quá, chúng tôi từ làng trong, không nghe biết. Tôi lấy xe dò về Sài gòn, và bị đuổi việc. Nhưng may mắn, không bị hội thánh bắt bồi thường. Có lẽ họ biết, tôi đưa mạng cùi ra, có bắt đền cũng không moi được một xu, thì tha làm phước. Vã lại thời buổi chiến tranh, không ai dự liệu trước được chuyện bom mìn.

Nhờ có thời làm việc cho hội Từ Thiện, tôi quen biết một số người, nên tháng tư năm 1975 chạy kịp ra khỏi nước. Tôi đem gia đình chạy, chưa biết sẽ chạy đi đâu, về đâu, và làm sao mà sinh sống sau này. Cứ chạy đã. Vì tôi sợ phải đi tù như một số bạn tôi, họ đã trở về miền Bắc vào năm 1954, và nghe đâu một số đã chết trong tù, một số còn bị giam giữ hơn hai mươi năm chưa được thả. Ðó là tin tức chính xác đi quành từ miền Bắc qua Pháp, và từ Pháp về miền Nam. Tôi được nước Mỹ cho vào cư trú, đi làm đủ thứ nghề tay chân. Cuối cùng vào làm y tá cho một trung tâm dưỡng lão của quận hạt. Làm việc cho đến khi về hưu. Hai mươi mấy năm đời sống yên lành, no ấm, hạnh phúc.

Năm 2001, sau hai mươi sáu năm xa quê hương, tôi về lại Việt Nam một mình, lần thứ nhất, để sắp đặt việc cưới vợ cho đứa con trai út. Khi đang ở Sài gòn, tôi nghe tin bọn khủng bố đánh sập tòa nhà đôi chọc trời ở New York. Ban đầu tôi không tin, và nghĩ rằng mấy ông Vẹm hay nói dối, đặt chuyện xạo tuyên truyền, nói xấu đế quốc Mỹ. Nhưng sau đó, xem truyền hình, tôi sửng sốt, bàng hoàng. Lòng tôi đau nhói, và nhận ra rằng, quê hương mới là nước Mỹ, cũng muôn vàn yêu mến, thắm thiết không thua gì quê hương cũ Việt Nam. Tất cả mọi chuyến bay đều bị hủy bỏ, việc vào ra nước Mỹ cũng tạm ngưng. Tôi chưa thể trở về lại Mỹ được, và trong lòng cũng tràn đầy lo ngại, không biết có thể về lại Mỹ được không. Hay là kẹt lại ở Việt nam mãi, cho hết cuối đời. Bảy mươi mấy tuổi rồi. Một đêm mất ngủ, tôi ra đứng ở hành lang khách sạn. Từ trên cao nhìn xuống phố phường bên dưới, tôi chợt nhớ, hơn năm mươi năm trước, nơi đây còn lau sậy um tùm, đất thấp ngập nước, hoang vu. Từ bên trong phòng vọng ra tiếng ngâm thơ khuya qua cái radio  nhỏ, giọng khàn đục buồn não nề:

“Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Ðêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..”(*)

Lòng tôi chùng xuống, và chợt nghĩ hơn nửa thế kỷ trôi qua, vèo mau như mộng. Mới ngày nào đó, tôi bị Tây bắt đi tù, sung vào đội lính kèn. Bao nhiêu là đổi thay, bao nhiêu bãi biển đã biến thành nương dâu, bao nhiêu trũng hoang đã trở thành phố thị. Những thế hệ trước tôi và đồng thời với tôi, có lẽ đa số đã về với lòng đất. Yên bề. Những người còn sống sót như tôi, bây giờ ở đâu, làm gì. Bỗng tôi chợt nhớ đến Tư Thàn. Nhớ tha thiết. Nhớ đến món nợ ngày xưa mà chưa trả được, lòng buồn rưng rưng. Tôi quyết định ngay, mong cho trời mau sáng, để thuê xe đi tìm thăm Tư Thàn.

Chiếc xe thuê riêng, chở tôi chạy về miền Tây, đi tìm Tư Thàn. Anh tài xế nghe tôi nói đi tìm một người bạn cũ, gặp nhau lần cuối đã hơn ba mươi năm trước, anh lắc đầu, có lẽ anh cho tôi là một ông già khùng lẩm cẩm. Xe từ Sài gòn, về qua Tiền Giang, đi hướng về phía Long Xuyên, dọc theo kinh đào. Tôi chỉ nhớ mang máng cái nơi mà chiếc xe tôi lái bị đặt mìn hơn ba chục năm trước. Tìm ba nơi không có, tôi qua nơi thứ tư, cái tên làng nghe mơ hồ quen quen trong trí nhớ. Tôi vào làng hỏi, xem ai có biết Tư Thàn, nay chừng trên bảy mươi tuổi,  hồi xưa làm lính kèn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Gặp ai tôi cũng chèo kéo, hỏi thăm, nói luôn tên cô Năm Cháo Trắng “đầu gà đít vịt”. Mọi người đều lắc đầu, ngơ ngác. Tôi nghĩ là đến lầm nơi. Nhưng vẫn nhớ mang máng đâu khoảng này. Tôi cố moi trí nhớ, càng cố nhớ, thì trí óc như cứ mụ ra, mơ hồ thêm. Tuổi già thành lẩm  cẩm. Tôi đi  lang thang quanh làng, và hy vọng, còn có người biết Tư Thàn ở đâu. Khi tôi chán nản trở lại đường cái, ngồi trong cái chòi bán nước bên vệ đường, thì  gặp một bà già. Tôi chận lại hỏi. Bà nhíu mày một hồi, suy nghĩ lung lắm. Bỗng bà la lên:

“Tôi nhớ ra rồi, từ lâu không ai gọi ổng là Tư Thàn nữa. Mà ông là ai, tìm Tư Thàn có chuyện chi không?”

“Tôi là bạn lính kèn với Tư Thàn khoảng hơn  năm mươi năm trước. Bây giờ, nhớ bạn, ghé tìm thăm.”

“Trời đất! Năm mươi năm làm chi mà không thăm nhau, giờ mới trổ chứng đi tìm!”

Mấy đứa trẻ con chạy ra ruộng kêu Tư Thàn về, người ta nói anh đang cuốc đất thuê. Tôi nghĩ không phải là Tư Thàn bạn tôi, hơn bảy mươi tuổi, còn sức đâu mà đi cuốc thuê. Lũ trẻ đưa về một ông già ở trần, xương sườn đếm được, tay chân khẳng khiu, chỉ mặc cái xà lỏn ngắn, đi chân đất. Da nhăn nheo, khô khốc, đen đúa, gầy gò, hai má hóp, miệng móm xọm, chỉ còn hai cái răng, một cái của hàm trên, một cái của hàm dưới, rất là thiếu mỹ thuật. Không có một nét nào của Tư Thàn cả, có lẽ tuổi ông này già hơn nhiều. Tôi nheo mắt nói:

“Tôi tìm Tư Thàn, hồi xưa làm lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu, có vợ là chị Năm Cháo Trắng.”

Ông lão phều phào:

“Ông là ai? Tìm tui có việc gì không?”

“Tôi tìm Tư Thàn. Tôi là bạn cũ.”

“Ông là bạn cũ của tui? Chắc ông tìm lầm người rồi.”

“Ông biết Cô Năm Cháo Trắng ?”

“Vợ tui, má thằng Ðộ, thằng Rề.”

Bây giờ thì tôi chắc chắn ông lão ngồi trước mặt tôi chính là Tư Thàn, không ai khác. Tôi còn mơ hồ thấy vài nét hao hao của thuở nào. Bố thằng Ðộ, Thằng Rề, hai thằng này tôi đã gặp hồi xưa. Ngày trước, Tư Thàn mong sinh được bảy đứa con đặt tên là Ðộ, Rề, Mi, Pha, Xôn, La, Xi,  nhưng mới có Ðộ, Rề, thì bà vợ tịt ngòi. Tư Thàn ngồi co một chân lên ghế dài, rất tự nhiên, cái quần xà lỏn kéo nhăn nhúm lên cao, để lòi nguyên bộ phận kín ra ngoài, một khúc đen điu, nhăn nhúm, nằm tựa trên một đùm bao da lưa thưa lông bạc trắng. Tôi mừng quá, nắm lấy hai vai Tư Thàn mà lắc:

“Mày không nhớ ra tao là ai hả Tư Thàn!”

“Không. Ông có lầm tui với ai khác không? Ông là ai?”

“Thế thì mày không phải là Tư Thàn, lính kèn ở bộ

Tổng Tham Mưu hả?”

“Tui, Tư Thàn lính kèn đây.”

Tôi làm bộ buồn bã đổi giọng:

“Có lẽ ông không phải là Tư Thàn tôi quen, mà là người khác trùng tên chăng?”

“Lính kèn, ở bộ Tổng Tham Mưu, trước năm  năm mươi tư. Chỉ có Tư Thàn này thôi.”

Tôi nắm chắc hai vai Tư Thàn mà lắc, và hét lên:

“Ð.M. mày không nhớ ra tao là ai, thật không? Hay mày giả bộ.”

Tôi đưa tay lên miệng, với dáng điệu như đang thổi kèn và ca: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu, tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.”

Nghe tiếng chửi thề và điệu kèn Tây của  tôi, Tư Thàn nhào đến ôm lấy tôi mà thét lên:

“Ð. M. mày, chỉ có mày mới nói cái giọng này. Thằng chó chết, thằng dịch vật. Thằng Quài, mày, Quài. Mà mày sang trọng, và trẻ quá, ai ngờ, ai mà nhìn ra.”

Ðám trẻ con đứng xem cười ầm lên khi thấy hai ông già văng tục và gọi nhau bằng mày tao.  Tư Thàn cảm động quá, cái miệng móm méo xẹo, và khóc thành tiếng hu hu, làm tôi cũng khóc theo. Tư Thàn nghẹn ngào:

“Mày còn nhớ đến tao, tìm thăm. Ðồ dịch vật.  Lâu nay mày chết rấp nơi nào?”

Tư Thàn nhìn tôi từ đầu xuống chân, nói nho nhỏ:

“Tóc tai cũng còn, răng cỏ hai hàm còn nguyên, mặt mày có da có thịt, áo bỏ vào quần, đi giày đàng hoàng. Có phải mày là Việt Kiều về thăm quê hương không? Bây giờ mày ở đâu? Làm gì?”

Tôi sợ Tư Thàn buồn, nói dối:

“Việt kiều cái con khỉ. Tao ở Sài gòn, nhờ có mấy đứa con vượt biên ra nước ngoài, và mấy đứa ở nhà, buôn bán, ăn nên làm ra. Giờ già rồi, về hưu, không làm gì nữa cả.”

Tôi hỏi thăm gia cảnh, Tư Thàn cho biết hai đứa con trai đều đã chết. Thằng Ðộ đi lính quốc gia, đã đền nợ nước, thằng Rề “hy sinh” cho “cách mạng”. Cô Năm Cháo Trắng chết bệnh. Tư Thàn không có ai để nương tựa, phải đi cuốc đất thuê kiếm ăn qua ngày. Tôi nhìn cái thân thể xương xẩu của Tư Thàn, không biết anh lấy đâu ra sức mà đi làm lao động chân tay. Tôi nói:

“Thôi, mày đưa tao về nhà, thay áo quần, rồi cùng qua Long Xuyên, lu bù một bữa, anh em hàn huyên chơi, bỏ mấy mươi năm xa cách.”

Tư Thàn ngự trong căn chòi nhỏ, bốn bề che lá đơn sơ. Không bàn, không giường, chỉ có cái võng treo xéo. Trên bếp có cái nồi đen điu, méo mó. Tôi giở nồi ra xem, thấy còn có miếng cơm cháy. Tôi bốc ăn, mà cứng quá, răng già không nhai nổi. Thế mà Tư Thàn không còn răng, ăn cách nào đây?

Khi xe vào tỉnh lỵ Long Xuyên, tôi nhờ anh tài xế tìm cho một quán ăn ngon. Anh đưa chúng tôi vào quán nướng Nam Bộ. Tư Thàn gạt đi, không chịu vào, và nói:

“Kiếm chai đế và vài ba con khô cá sặc là đủ vui rồi. Ðừng hoang phí tiền bạc. Vào làm chi những nơi sang trọng này cho chúng chém.  Gặp nhau là vui rồi. Ăn uống là phụ.”

Tôi ép mãi mà Tư Thàn không chịu. Cuối cùng, chúng tôi ra chợ, ngồi trên ghế thấp ở quán lộ thiên, ăn nhậu và nói cười vui vẻ, tự nhiên. Tôi uống rượu thay nước, vì sợ đau bụng. Anh tài xế cùng ăn, mà tôi không cho anh nhậu rượu, anh tỏ vẻ khó chịu, vùng vằng.

Ðưa Tư Thàn về lại tận nhà, tôi móc trong cặp một gói bao, bằng giấy báo đưa tặng. Tư Thàn mở ra xem, và giật mình, xô gói quà ra về phía tôi:

“Cái gì đây? Tiền đâu mà nhiều thế này? Tôi không lấy đâu. Ðừng bày đặt.”

“Có bao nhiêu đâu. Ngày xưa, tao nợ mầy chưa trả được, bây giờ trả lại cả vốn lẫn lời. Tao tính rồi, mầy nhận đi cho tao vui, bỏ công tao lặn lội đi tìm.”

“Không. Nợ nần cái khỉ gì. Ăn thua đá gà, chuyện tào lao thời trẻ dại. Tao đã bảo mày quên đi từ lâu.  Bày đặt. Lấy tiền làm chi? Không có chỗ cất, bọn trộm cắp nó lấy đi, uổng lắm. Tao không lấy đâu.”

Thấy bộ Tư Thàn cương quyết quá, tôi xuống giọng, giả vờ nói:

“Mày mà không nhận, tao có chết nhắm mắt cũng không yên tâm. Chưa trả hết nợ, thì sau này phải đầu thai làm trâu cày cho mầy. Khổ lắm. Thương tao, mày cứ cầm đi.  Ðể mua gạo. Ðể khi đau yếu có chút thuốc thang. Nếu không có nơi cất, thì đem gởi bà con.”

Ðôi mắt già của Tư Thàn chớp chớp, và nói giọng run run như sắp khóc:

“Ð.M, tao già đến thế này, mà mày cũng còn định gạt tao như hồi xưa nữa sao? Thằng chó chết. Cái tình bạn của mày, còn quý gấp trăm ngàn lần gói tiền này. Ừ, tao nhận cho mày vui. Tao sẽ làm mâm cơm cúng bà Năm Cháo Trắng, nói cho bà biết cái tình bạn của mày. Dưới suối vàng, chắc bà cảm động lắm.”.

Tràm Cà Mau

(*) Thơ Trần Tế Xương

From: Tu-Phung 


 

AI DẠY AI.-Truyen ngan HAY

Mới 42 tuổi, hắn đã có tất cả :công danh, tiền tài, địa vị… Một ngôi nhà khang trang, một cô vợ xinh đẹp và giỏi giang.

Ấy vậy mà không biết sao hôm nay, hắn thấy buồn bã, cảm thấy đời thật vô vị…

Vợ chồng hắn vừa “chiến tranh lạnh “tối hôm qua. Vì một nguyên nhân rất vớ vẩn… Dạo này hắn hay về muộn vì quá bận việc ở cơ quan.

Cảm thấy thật bế tắc, hết giờ ở sở, hắn quyết định không về nhà.

Hắn muốn một mình, và thật say!

Tạt vào một quán nướng vỉa hè, có rượu ngon… Hắn ngồi “hưởng sự đời “.

Mới ngà ngà vài li, chợt một người hành khất chìa bàn tay đen đủi trước mặt hắn, và không nói một lời nào.

Thoạt đầu, hắn không nghĩ đây là một người ăn xin, vì trông ông ta không tới nỗi quá tiều tụy.

Sau thấy bàn tay đó cứ mãi chìa trước mặt, hắn hiểu và rút ví.

Một phần, hắn vốn là người tốt bụng, phần nữa, cũng do đã ngà ngà say… Hắn móc cả một tệp tiền ra ấn vào tay người hành khất.

Một lần nữa, hắn lại trợn tròn mắt khi thấy người đó chỉ nhón lấy một tờ 50 ngàn.Còn thì đưa lại tất cả, kèm theo một lời cảm ơn mà hắn không bao giờ nghĩ đến!

_Cảm ơn người tốt bụng. Ngần này là đã đủ cho tôi sống tới trưa mai rồi.

Hắn ngắc ngứ trong họng :

_Tôi cho bác tất mà, bác cứ lấy mà dùng…

_Ăn mày, ăn xin chúng tôi, tích trữ tiền làm gì… Đêm ngủ, lưu manh nó cũng sờ nắn móc hết cả thôi.

Hắn chợt hiểu ra vấn đề.

_Thế bác ngồi uống với tôi li rượu nhé!

_Dạ, cảm ơn… Tôi cũng tới giờ “về “rồi.

Hắn hỏi một cách vô thức :

_Bác… Về đâu?

Người ăn xin nhỏ nhẹ :

_Về với bà ấy, và đứa con tật nguyền, em ạ. Về mái ấm của mình!

Bao nhiêu rượu đã uống, hình như trôi tuột ra khỏi bao tử của hắn.

Về nhà thôi chứ nhỉ, về với người vợ đang đợi hắn làm lành, đang âu lo vì đã muộn mà chưa thấy hắn về ăn cơm tối…

“Ai cũng có một tổ ấm của mình, chú em ạ “!

Sưu tầm


 

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Truyen ngan HAY

Những câu chuyện Nhân VănLan Lê Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Một buổi tối, đang ngồi làm việc thì anh kêu chóng mặt và đau đầu dữ dội một cách bất thường. Trước đây anh chưa từng bị như thế. Tôi vội đưa anh đến bệnh viện. Qua thăm khám, chụp chiếu, bác sĩ chẩn đoán anh bị tai biến nhẹ. Sau đó một tay anh bị yếu dần đi, không cầm nắm được, giọng nói cũng ngọng nghịu không rõ ràng nữa. Mặc dù bác sĩ có nói bệnh của anh nếu điều trị đúng hướng thì có khả năng phục hồi rất cao, nhưng anh càng có biểu hiện tiêu cực. Kể từ ngày bị tai biến, anh phải nghỉ làm để ở nhà điều trị theo phác đồ của bác sĩ. Nhưng tính anh từ đó cũng đổi khác. Anh hay cáu gắt, tính khí thất thường, đôi khi chẳng ai làm gì cũng nóng giận đập phá đồ đạc trong nhà. Tôi hiểu chồng chưa chấp nhận được thực tại, tôi thương anh nhiều, cố gắng nhẫn nhịn, tỉ tê cho anh hiểu và lạc quan lên. Thế nhưng tính cách của anh càng ngày càng tệ. Một năm, rồi hai năm trôi qua, tình hình có khá lên một chút. Anh bớt cáu bẳn hơn nhưng lại trở nên lầm lì, ít nói. Anh thường xuyên ngồi trong phòng, ai vào cũng đuổi ra. Có lần anh còn ngọng nghịu hỏi tôi: “Lấy anh khổ quá, em có hối hận không?”. Tôi nói “Em không hối hận” Nhưng anh lại hét lên rằng tôi đang nói dối. Anh còn nhiều lần nói rằng anh khó chịu khi nhìn thấy tôi, tốt nhất là tôi đừng xuất hiện trước mặt anh nữa. Bố mẹ chồng rất thương tôi. Họ nói tôi còn trẻ, lại chưa có con cái, có lẽ nên giải thoát cho mình khỏi cuộc hôn nhân này để tìm cho mình một bến đỗ mới hạnh phúc hơn. Họ động viên tôi ly hôn, họ sẽ chăm sóc chồng tôi. Những lời bố mẹ chồng nói khiến tôi thật sự xúc động. Tôi tuy rất yêu chồng, chưa từng nghĩ sẽ vì anh bệnh tật mà bỏ rơi anh. Nhưng tôi cũng chỉ là một phụ nữ trẻ yếu mềm. Tôi cần được yêu thương. Tôi muốn một gia đình trọn vẹn có vợ chồng và con cái biết yêu thương nhau. Nhưng chồng tôi càng ngày càng tỏ ra xa cách và nói những lời khó chịu. Mấy tháng rồi anh còn xua đuổi tôi, không cho vợ ngủ chung vì muốn ngủ một mình. Tôi cảm thấy rất tủi thân và mệt mỏi nên cũng quyết định dừng lại cuộc hôn nhân này. Một tối, tôi ngồi đối diện với chồng và nói rằng chúng tôi nên ly hôn. Tôi nói rằng: “Anh khó chịu khi nhìn thấy em. Anh không muốn ngủ chung với em. Có lẽ anh không còn yêu em nữa. Em không muốn cả cuộc đời sẽ sống như thế này. Em sẽ rời khỏi đây mà không cần mang theo bất cứ thứ gì cả. Anh thương bố mẹ, chịu khó uống thuốc, đừng quậy phá nữa. Bố mẹ già rồi, họ cũng khổ tâm lắm”. Chồng tôi nhìn tôi, im lặng thật lâu rồi thốt ra một câu đầy khó nhọc: – “Em làm như vậy là đúng rồi”. Tôi viết đơn ly hôn, anh không cần do dự mà ký ngay. Mặc dù là người chủ động ly hôn, nhưng khi nhìn chữ ký của anh trên đơn, lòng tôi vẫn vô cùng đau đớn. Tôi không biết mình làm như thế có tệ bạc quá không. Chúng tôi đã từng yêu nhau, từng vui vẻ và hạnh phúc biết bao nhiêu. Tôi khóc trước mặt anh, còn anh nhìn tôi và im lặng. Buổi tối cuối cùng ở nhà chồng, tôi thu xếp quần áo tư trang của mình. Tôi nói với bố mẹ chồng sẽ về ở nhà bố mẹ đẻ một thời gian. Sau khi tinh thần ổn định, tôi sẽ thuê trọ gần chỗ làm cho tiện. Lúc tôi dọn đồ trên phòng ngủ, chồng tôi đang cầm một cuốn sách. Mấy hôm nay tôi thấy anh hay đọc sách, nói năng có vẻ nhu mì hơn. Rồi anh nhìn tôi, hỏi nhỏ: “Đêm nay, em ngủ cùng anh được không?”. Cảm giác của tôi khi nghe câu nói đó là bất ngờ. Lâu rồi chúng tôi không ngủ chung cùng nhau, có lẽ vì thế mà tình cảm cũng dần phai nhạt. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ có đôi điều cần nói với nhau. Nhưng khi lên giường thì anh lại nhắm mắt giả vờ nằm ngủ. Tôi nghĩ có nói gì bây giờ cũng đâu còn quan trọng nữa. Thế nhưng, đang đêm, lúc tôi ngủ bỗng cảm giác có vòng tay ôm mình làm tôi tỉnh giấc. Anh úp mặt vào lưng tôi, nói rất nhỏ bằng giọng ngọng nghịu nhưng tôi vẫn nghe rất rõ: – “Anh chỉ mong em được hạnh phúc thôi. Anh yêu em”. Tôi nằm im lặng, nước mắt lặng lẽ rơi trên gối. Sáng thức dậy, tôi cầm tờ đơn ly hôn và xé trong sự ngỡ ngàng của anh. Tôi hỏi anh: – “Sao anh yêu em mà lại đối xử với em như vậy. Anh có thể khiến em hạnh phúc mà, chỉ là anh không muốn làm. Anh nghĩ chỉ cần không sống với anh thì em sẽ hạnh phúc sao? Em hạnh phúc được sao?”. Chồng nhìn tôi, nói nhỏ: “Em điên rồi, sao lại xé đi”. Thế nhưng mắt anh lại ngân ngấn lệ. Và cứ thế, chúng tôi cùng khóc. Rồi tôi động viên anh tập vật lý trị liệu, bạn anh đến dạy anh làm IT trên máy tính, anh rất cố gắng làm việc, nhiều lúc tôi muốt nước mắt vào trong. Dần dần anh khá hơn và thu nhập anh đã có nhiều tháng còn hơn lương tôi. Rồi tôi có bầu cả nhà vui trong hạnh phúc … Lúc rảnh tôi và anh đi bộ, kiên trì vật lý trị liệu bệnh anh đã hồi phục đến 90% rồi, chỉ còn đi hơn chậm nữa thôi. Ngày nào chúng tôi lại cười đùa vui vẻ .. Tôi yêu anh và chúng tôi yêu nhau . . . ST
 

KHI Ở RANH GIỚI GIỮA SỐNG VÀ CHẾT, BẠN SẼ THẤY RẰNG TIỀN TÀI, DANH VỌNG, ĐỊA VỊ CHẲNG CÒN Ý NGHĨA NỮA.

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

“Tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới trung bình. Tôi học được từ mọi người xung quanh và môi trường sống rằng có thành công thì mới hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi luôn ganh đua ngay từ nhỏ.

Không chỉ học ở trường giỏi, tôi cần thành công trong mọi lĩnh vực, từ các hoạt động tập thể đến chạy đua. Tôi cần đoạt được cúp, phải được giải cao nhất. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, phẫu thuật mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi đã vào được và đạt học bổng nghiên cứu của ĐH quốc gia Singapore.

Trong khi nghiên cứu, tôi có hai bằng phát minh, một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng tất cả thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Tôi quyết định bỏ ngành phẫu thuật mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.

Một người có thể không vui vẻ khi trả 20 USD cho một bác sĩ tổng quát nhưng không ngần ngại trả 10.000 USD để hút mỡ bụng, 15.000 USD sửa ngực… Do vậy, thay vì chữa bệnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bệnh nhân đến rất đông. Tôi mướn một, hai, ba rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thể nào là đủ vì tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu bành trướng sang thị trường Indonesia để làm phẫu thuật cho những người giàu ở đó. Họ phung phí tiền bạc một cách dễ dàng. Làm tiền ở đó quá dễ…

Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi. Thỉnh thoảng tôi dự đua xe ở Sepang, Malaysia. Tôi mua một chiếc Ferrari 430. Sau khi có xe, tôi mua nhà, khu nghỉ mát. Tôi nghĩ phải hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng và bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng Internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp. Đó là tôi của một năm trước đây. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại mình hay vận động mạnh. Tôi đến Bệnh viện đa khoa Singapore và nhờ bạn học chụp cộng hưởng từ để xem có phải bị trật đốt sống hay không. Rồi tôi thực hiện PET scans và được phát hiện đang ở giai đoạn 4 của ung thư phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3-4 tháng tối đa. Tôi chán nản, tuyệt vọng.

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có – sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa – tất cả những thứ tôi nghĩ mang hạnh phúc – khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari ngủ. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong những tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua.

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng tên là Jennifer. Khi chúng tôi đi bộ, nếu thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm thế, sao phải bẩn tay chỉ vì một con ốc sên? Sự thật là cô ta đã cảm được rằng con ốc có thể bị đạp nát chết nếu nằm đó. Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tự nhiên thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm nhưng tôi không có. Là một bác sĩ trực trong bệnh viện chuyên trị ung thư NUH (National University Hospital), tôi từng chứng kiến bao nhiêu người chết. Tôi đã thấy họ đau đớn và chịu sự tàn phá của cơ thể vì cơn đau. Tôi cũng đã chứng kiến bệnh nhân nhấn nút morphine tiêm vào máu từng giờ từng phút vì không chịu nổi sự đau đớn dày vò. Nhiều bệnh nhân phải dùng oxygene để thở hơi thở cuối cùng. Nhưng đó là công việc. Khi xong việc tôi chỉ muốn chạy ngay về nhà vì nghĩ là đã hoàn tất công việc hằng ngày.

Tôi thực sự không hiểu họ đau đớn như thế nào cho đến khi tôi là bệnh nhân. Nếu được làm lại từ đầu với cương vị một bác sĩ, tôi sẽ đổi khác. Vì tôi đã trải qua cơn đau đớn mà bệnh nhân vấp phải nên tôi rất hiểu họ chịu đựng sự dày vò của đau đớn như thế nào.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Tôi trở nên mê muội đến nỗi chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa. Bệnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

Nhiều khi chúng ta quên mất mình cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Trong khi khám bệnh, đôi khi chúng ta khuyên bệnh nhân chữa trị bệnh không hẳn có, không rõ rệt và ngay cả khi không cần thiết.

Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền.

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, hạ thấp họ xuống để nâng mình lên. Điều đó đang xảy ra trong ngành y và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm mình. Tôi trả giá đắt cho bài học này. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

Thứ hai là đa số chúng ta khi bắt đầu công việc đều chưa có “cảm giác” đối với bệnh nhân. Cho dù trong bệnh viện hay nhà thương tư cũng có vô số bệnh nhân để chữa trị. Tôi chỉ muốn bệnh nhân rời phòng làm việc của tôi càng sớm càng tốt. Đó là sự thật và trở thành một công việc bình thường hằng ngày.

Tôi đã thực sự hiểu bệnh nhân nghĩ về mình thế nào chăng? Thực ra là không. Nỗi lo sợ và lo âu của bệnh nhân và những thứ khác mà họ đã trải qua. Thực ra tôi cũng không biết đến khi tôi lâm trọng bệnh và đó là một sai lầm to nhất của hệ thống y khoa tân tiến. Chúng ta được huấn luyện để trở thành những chuyên gia y cũng như nha khoa nhưng chúng ta lại không hiểu bệnh nhân cảm nhận chúng ta như thế nào.

Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bệnh nhân.

Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp. Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bệnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi.

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bệnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất… Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, hãy với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm đều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vậy. Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe qua thật mơ hồ, nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.

Vương Linh

 


 

TÌNH YÊU CÓ TỪ NƠI ĐÂU…- Truyện ngắn HAY

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Ô tô mất phanh khi đang đổ dốc, Chồng mở cửa cho vợ nhảy ra ngoài, anh chồng một mình lao xuống vực.

Câu chuyện xảy ra tại hồ Ba Bể – Băc Kạn.

Hai vợ chồng chở nước đang xuống dốc thì ô tô bất ngờ mất phanh không thể kiểm soát, hai bên toàn cây cối và đá rất nguy hiểm.

Không kịp suy nghĩ, anh chồng liền mở cửa ghế phụ và bảo vợ rằng : “Nhảy đi em” Chị vợ nhảy xuống rồi ô tô đâm thẳng vào cột biển báo, ngừng được. Xe nát một nửa đầu bên ghế phụ, nước văng tung toé.

Anh chồng xuống xe vội chạy lại phía vợ, chị vợ bị chảy máu đầu được một nhóm các bạn trẻ đi phượt sơ cứu tại chỗ rồi khiêng vào vệ đường cho đỡ nguy hiểm.

Rất may cả 2 vợ chồng đều chỉ bị thương, không nguy hiểm.

Hai vợ chồng vô cùng cảm động, cùng cám ơn đoàn phượt. Mọi người ai cũng thắc mắc tại sao trong giây phút định mệnh ấy anh lại quyết định cho vợ nhảy xuống, một mình đối đầu với nguy hiểm.

Hai vợ chồng nước mắt ngắn dài thủ thỉ : ” Nếu không nhảy mà cả hai người cùng chết thì lấy ai nuôi 2 đứa con nhỏ …”

Và trong khoảnh khắc định mệnh ấy, tấm lòng cha mẹ, tình nghĩa vợ chồng đã chiến thắng cả tử thần

Nguồn:Internet