Cộng sản và tôi

Cộng sản và tôi

– Tin nổi bật, Buôn chuyện

VRNs (15.04.2015) – Thanh Hóa – Tôi là một trong số hàng chục triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam. Câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây chưa thể nào vạch trần hết tội ác của chủ nghĩa rừng rú này; nhưng cũng sẽ góp một phần nhỏ để những ai còn ngây thơ mù quáng đi theo nó sớm nhận ra và từ bỏ còn đường tăm tối được thêu dệt nên bằng những dối trá và tội ác.

Tôi sinh năm 1971, năm nay bước vào tuổi 44. Tuy chỉ mới độ tuổi này nhưng tôi đã từng nghe bố tôi kể lại và cũng đã phải trực tiếp chứng kiến cảnh gia đình tôi suốt 4 đời là nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản.

Bắt đầu là bà nội của tôi: Bà tôi sinh năm 1890. (Không biết ông nội tôi mất từ bao giờ). Một tay bà phải vất vả nuôi một đàn con. Trong nạn đói năm 1945 các con của bà tôi nhiều người đã phải chết vì đói. Đến năm 1949 người con trai lớn của bà đã hăng hái gia nhập vào quân đội và tử trận tại Điện Biên Phủ năm 1954. Sau nhiều năm không nhận được tin tức gì của bác tôi nên bà tôi buồn đau héo hon khổ sở. Mãi tới khoảng năm 1973 gia mới nhận được một mãnh giấy thông báo rằng bác tôi đã hy sinh.

150411003

Trong khoảng thời từ năm 1954-1975, giai đoạn xảy ra cuộc nội chiến tại Việt Nam, dưới sự tuyên truyền của Cộng Sản những người thân của tôi lại tiếp tục như con thiêu thân lao vào cuộc chiến “xâm lược miền Nam” và làm công cụ cho việc bành trướng chủ nghĩa hung tàn cộng sản một cách vô điều kiện. Năm 1967, khi mà máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. Quê tôi nằm ngay cạnh một nhà máy xay là nơi tập trung một lượng thóc gạo khá lớn để cung ứng cho chiến trường miền Nam, nơi đây có một cây cầu là nút giao thông quan trọng; vậy nên đã phải hứng chịu không biết bao nhiêu là bom đạn. Lúc đó tôi chưa được sinh ra, nhưng khi lớn lên chỉ nhìn những dãy hố bom chi chít và những hầm pháo còn lại trên đồng làng; tôi cũng nhận ra được một phần nào những đau thương trong quá khứ.

Theo bố tôi kể lại thì vào giai đoạn đó ở nông thôn miền Bắc mọi sinh hoạt của đời sống đều nằm dưới sự điều hành của hợp tác xã (HTX). Vào năm 1967 người vợ đầu của bố tôi bị HTX điều vào khu vực máy bay Mỹ thường ném bom, để vừa lao động sản xuất vừa phụ giúp bộ đội đắp hầm pháo và tiếp đạn. Rồi một mảnh bom đã cắt ngang cuộc đời bà ở độ tuổi 35, để lại sau lưng 2 đứa con thơ cho chồng. Bố tôi cui cút một tay nuôi 2 con nhỏ một bà mẹ già. Vừa đau buồn bởi cảnh chia ly bất ngờ vừa lam lũ với cảnh “đùm cơm vạt áo, đùm cháo lá khoai”. Bố tôi lâm bệnh hen suyễn từ đó. Rồi tình cờ ông gặp mẹ tôi.

Mẹ tôi là một người phụ nữ cũng gặp nhiều đắng cay trong cuộc sống, bà đã 3 lần tiễn đưa người thân vào quân ngũ mà không còn gặp lại. Hai người em trai của bà và một người chồng mới cưới. Cả 3 đều ngã xuống trong mặt trận phía Nam. Mười năm trông ngóng tin chồng trong vô vọng. Ai cũng tin rằng chồng bà đã chết tại chiến trường; nhưng mãi vẫn không có giấy báo tử. Họ hàng bên chồng bà khuyên bà nên đi bước nữa. Bà nấn ná mãi rồi mới quyết định khăn gói về sống chung với bố tôi. Cảnh “rổ rá cạp lại”, tưởng rằng sẽ san sẻ gánh nặng cho nhau, nào ngờ giông bão cuộc đời lại ập xuống những mãnh đời rách nát như họ.

Bố tôi kể lại: Ngay sau khi mẹ tôi khăn gói về sống cùng ông vào năm 1970, đêm nào cũng vậy, cứ 8 giờ tối là dân quân xã lại khua trống tập trung lực lượng kéo tới túp lều tranh nho nhỏ mà bà và bố mẹ cùng các anh chị tôi đang sống. Dân quân trói mẹ tôi đưa ra điếm làng xét tội vì lý do “không chung thủy với chồng là bộ đội”. Có hôm thì họ lại trói bố tôi thay vì mẹ tôi. Họ đưa ông ra điếm làng xét xử tội “cướp vợ bộ đội”. Cảnh tượng kinh hoàng đó đập vào mắt bà nội và các anh chị tôi làm họ vô cùng sợ hãi. Không phải chỉ một hai lần mà kéo dài hàng tháng. Nhưng không thế lực nào chia cắt được tình cảm của hai người. Cũng có lúc mẹ tôi phải tạm lánh về quê ngoại. Rồi tin vui đã tới với cả gia đình. Mẹ tôi có mang tôi sau nhiều thử thách. Lúc này mẹ tôi tiếp tục về sống chung với bố tôi. Biết bà đang mang thai nên bọn người man rợ kia cũng đỡ bớt phần nào những hành động côn đồ ác thú. Nhưng nhà cầmquyền Cộng Sản không cấp khẩu cho mẹ tôi và không cho gia đình tôi vào HTX. Nhà 5 miệng ăn, không nguồn thu nhập, Mẹ tôi phải băng rừng vượt núi kiếm miếng ăn. Cuộc sống vất vả là vậy.

Những tưởng rằng Cộng Sản sẽ buông tha, nào ngờ năm 1974 khi anh trai tôi mới 17 tuổi, cộng sản lại bắt anh tôi làm đơn “tình nguyện” đi bộ đội và rồi anh tôi đi mãi chẳng trở về. Khi gia đình tôi nhận được tin báo tử anh tôi; một lần nữa nước mắt bố mẹ tôi lại lăn dài trên gò má, những giọt nước mắt khổ đau chảy trên đầu tôi thấm sâu vào trong trái tim bé bỏng của tôi, khi tôi mới lên 4 tuổi.

Vào thời gian đó bên nhà chồng cũ của mẹ tôi cũng nhận được tờ giấy báo tử muộn màng về người chồng của mẹ tôi đã tử trận từ năm 1968. Bao năm chắt chiu vất vả dành dụm bố mẹ tôi mua được một con bê nhỏ, lúc này nhà nước quyết định nhập khẩu cho mẹ tôi và cho gia đình tôi vào HTX với điều kiện phải công hữu con bê cho họ.

Trải qua nhiều sóng gió, cuộc sống tuy không đầy đủ nhưng cũng đã tạm yên thân, bố mẹ tôi sinh thêm cho tôi một cô em gái. Những tưởng rồi cuộc sống sẽ êm trôi theo năm tháng, với những gì người Cộng Sản đã tuyên truyền, nào ngờ sự thật không hề như vậy. Với một hoàn cảnh xuất thân nhiều bất hạnh nên cuộc đời tôi dường như không lối thoát bởi những gánh nặng nợ nần. Tôi còn nhớ vào khoảng những năm từ 1980 tới 1988, vì bố tôi bệnh tật không thể lao động được, gánh nặng gia đình chất chồng hết trên vai mẹ tôi. Mẹ vừa lo thuốc men cho chồng vừa nuôi hai anh em chúng tôi ăn học (lúc này chị gái tôi đã lấy chồng). Những sào ruộng nhận khoán của HTX không thể đủ ăn, Mẹ phải chạy vạy buôn bán bằng quang gánh, đi bộ tới các cửa hàng mua dầu hỏa và muối (do các nhân viên cửa hàng bán lậu), rồi gánh bộ hàng trăm km lên các vùng cao để bán hoặc đổi lấy sắn về nuôi chúng tôi. Cũng nhiều lần mẹ bị đại diện nhà nước thu trắng gánh hàng vì lý do buôn lậu. Đã khó lại càng khó thêm. Hàng vụ thu hoạch lượng thóc không đủ để trả nợ lại (vì lúc đó muốn vay được 10 kg thóc thì tới mùa phải trả gấp đôi, thậm chí gấp ba). Vì thế gia đình tôi không đủ thóc giao nạp cho HTX. Vụ này sang vụ khác, HTX tính lãi mẹ đẻ lãi con với lãi xuất 50% /vụ; không những thế mỗi năm lại còn phải nuôi lợn nộp nghĩa vụ 50 kg lợn hơi. Người còn không có để ăn thì lấy gì nuôi được 50 kg lợn?! Vậy nên gia đình tôi lại còn phải mắc nợ thêm khoản kg lợn hơi quy thành thóc. Cứ 1 kg lợn hơi quy thành 10 kg thóc. Như vậy hàng năm gia đình tôi phải mắc nợ 500 kg thóc. Có lần đoàn thu sản vào xiết nợ. Họ thấy trong nhà không có gì đáng giá, phát hiện trong chuồng có một con lợn khoảng 8 kg họ nhảy vào bắt bỏ bì và xách đi. Cả gia đình tôi chỉ biết nhìn theo trong nước mắt.

Tôi vẫn cứ thế lớn lên theo quy luật của Đấng tạo hóa. Tháng 9 năm 1990 tôi nhập ngũ hết 2 năm 6 tháng nghĩa vụ quân sự. Tháng 3 năm 1993 tôi trở về địa phương và kết hôn khi tuổi mới 22. Khi lập gia đình, đương nhiên tôi phải kế thừa một món nợ khổng lồ là 10 tấn thóc. Một số lượng mà khiến tôi không khả năng thanh toán. Sau khi đã chuyển đổi mô hình quản lý ruộng đất từ HTX sang cho Ủy Ban Nhân Dân, và giao ruộng xuống từng hộ gia đình tính theo đầu người tại thời điểm, gia đình tôi có 4 khẩu lẽ ra phải được giao 4 suất ruộng, nhưng vì còn mắc nợ cũ nên chỉ được nhận 1/2 diện tích theo tiêu chuẩn. 1/2 diện tích còn lại phải làm dưới dạng thuê đất với đóng góp cao hơn. Vì thấy quá thiệt thòi nên gia đình cố gắng vay mượn khắp nơi với lãi xuất 5%/tháng trả nợ 10 tấn thóc với giá 3000 đ/10 kg để được nhận ruộng bình thường.

Kể từ đó gia đình tôi không còn mắc nợ nhà nước, nhưng nợ tư nhân lại quá nhiều. Chúng tôi dốc hết sức để kéo cày trả nợ. Vào độ tuổi 35 tôi đã mắc nhiều bệnh tật do lao động quá sức. Tôi không làm lụng được như trước, nợ nần vẫn chồng chất, nên sinh ra rượu chè. Tôi mở một lớp học nho nhỏ phụ đạo cho mấy cháu học sinh lớp 9 trong làng để lấy tiền uống rượu.

Rồi một hôm như là định mệnh, tôi gặp một tín hữu của đạo Tin Lành; người đó tặng tôi vài cuốn sách nhỏ trong lúc tôi vẫn còn say. Tôi cầm sách trên tay mà chẳng biết sách gì. Khi tỉnh rượu tôi mang ra đọc và thấy những gì viết trong sách như đang nhảy múa mời gọi tôi theo Chúa Jesus. Tôi tìm tới gặp người đã tặng sách cho tôi. Từ đó tôi trở thành một tín hữu Tin Lành. Tôi từ bỏ rượu và sốt sắng ra đi nói về Chúa cho những người xung quanh. Nhờ vậy qua tôi cả gia đình tôi và nhiều người trong vùng đã tự nguyện đi theo Thiên Chúa.

Thình lình vào năm 2003 lực lượng nhà nước thông qua Mặt trận tổ quốc và công an ra tay đàn áp những người theo đạo Tin Lành ở quê tôi. Họ ép buộc người dân phải viết cam kết không theo đạo, nếu ai đã theo thì nhà nước bắt viết giấy bỏ đạo, chỉ còn lại gia đình tôi quyết giữ đức tin tới cùng. Thế là cứ mỗi ngày Chủ nhật các đầy tớ của dân lại tới canh cổng nhà tôi không cho ai ra vào, quyết ngăn không cho tôi đi thờ phượng Chúa. Nhiều lần họ bắt tôi ra hội trường thôn để tập trung đấu tố. Họ xuyên tạc vu cáo tôi là phản động. Những người “bạn của dân” không cho tôi quyền giải thích. Mỗi khi tôi đứng lên xin ý kiến phản biện thì liền có những bàn tay “nhân ái” tặng cho tôi một cái vả rồi nhấn đầu tôi xuống. Cả bố mẹ và vợ con tôi cũng không ngoại lệ. Họ liên tục bị nhà cầm quyền sách nhiễu đánh đập. Nhà nước tẩy chay hàng hóa mà vợ tôi buôn bán, cấm đoán không cho người mua bán quan hệ với gia đình tôi.

Vào đêm 30/4 năm 2004 khi mà dân làng tập trung tham gia buổi lễ ăn mừng 29 năm cướp trọn miền Nam, lúc mọi người đang ngất ngây trong chiến thắng, cán bộ cấp xã và công an huyện bỗng dưng đưa đề tài gia đình tôi theo đạo Tin Lành tức là theo Mỹ làm phản động ra để kích động quần chúng. Vậy là thình lình gia đình tôi bị cắt điện và nhận hàng loạt những gạch đá ném vào, rồi sau đó là một đoàn quân ô hợp hàng 100 người kéo vào. Họ đánh đập mọi thành viên trong gia đình, đập phá tài sản, bẻ gãy thánh giá, tháo gỡ bảng 10 điều răn rồi đập nát, đổ phân lợn xuông giếng nước, lấy hết thiết bị điện trong nhà. Sau khi họ bỏ đi để lại cho gia đình tôi một cảnh tan hoang với những con người đầy thương tích. Đêm đó vợ tôi phải đưa tôi đi lánh nạn. Ngày hôm sau ở nhà: Mặt trận tổ quốc lại lập đoàn tới “hỏi thăm” rồi yêu cầu bố tôi làm cam kết bỏ đạo thì họ sẽ cho người tới mắc lại điện và thôi không tấn công gia đình tôi nữa. Bố tôi không đồng ý nên họ uy hiếp rằng tôi sẽ bị đánh chết bất cứ khi nào và ở đâu, còn bố mẹ tôi sẽ chết mà không có chỗ chôn, các con tôi sẽ thất học…

Mặc những lời hăm dọa của những con người thất đức. Bố tôi vẫn không chấp nhận hợp tác. Trong thời gian lánh nạn tạm thời, tôi đã viết một lá đơn gửi tới các cấp cầm quyền từ địa phương, tới trung ương. Sau một tuần tôi mới trở về, đêm hôm đó là đêm 7/5/2004. Vẫn như lần trước đoàn quân vô đạo lại kéo tới đánh đập tôi tơi tả, máu me đầm đìa. Tôi lại phải tạm thời lánh nạn. Mấy ngày sau, Công an tỉnh Thanh hóa thông qua công an xã Quảng Yên, triệu tập tôi tới hội trường UBND xã để “làm việc”. Một mình tôi ngồi giữa hàng trăm công an các cấp và nhiều ban ngành trong xã, bên ngoài cổng UB có khoảng 20 tên đầu gấu cởi trần tay cầm gậy lăm lăm uy hiếp. Tại đây họ bắt tôi phải ký vào một biên bản thừa nhận rằng sự việc xảy ra tại gia đình tôi chỉ là do mâu thuẫn cá nhân không liên quan tới nhà nước. Ngay lập tức tôi phản ứng lại, tay công an làm việc với tôi chỉ tay ra phía cổng nói: Ký hay không tùy anh thôi, nhưng chúng tôi không dám bảo đảm an toàn cho anh khi ra khỏi đây! (Thú thật rằng tôi cũng thấy sợ hãi nên tặc lưỡi ký đại cho xong). Sau khi tôi đã ký vào biên bản đó thì buổi làm việc kết thúc với một lời đe dọa của trưởng công an xã rằng: Nếu mày không bỏ đạo thì con mày đi học chỉ cần tắm trong nước miếng của con thiên hạ cũng đủ chết. Tôi trả lời rằng: Tùy các anh thôi, cuộc sống gia đình tôi nằm trong tay Chúa, Ngài sẽ bảo vệ chúng tôi theo cách của Ngài.

Đúng như lời của trưởng công an xã Nguyễn Viết Đồng đã nói. Kể từ hôm đó đứa con trai lớn của tôi mới 10 tuổi đang học lớp 5, tới trường học liên tục bị bạn bè chế nhiễu, đánh đập và nhổ nước miếng vào người, vào mặt mà giáo viên vẫn làm ngơ.

Tuy vậy cháu vẫn cố gắng chịu đựng để vượt qua, vì cháu đã có chút nhận thức về hoàn cảnh thực tại của gia đình nên chấp nhận lặng yên. Đứa con gái nhỏ của tôi mới 6 tuổi còn đang học lớp 1 cùng phải chịu cùng hoàn cảnh như anh nó.

Nó tới trường học mà khi nào về cũng khóc vì bị các bạn véo, đánh, không ai thèm chơi với nó. Vậy là nó cứ thui thủi một mình một xó.

Và cũng vì vậy mà nó trở nên một đứa trẻ tự kỷ. Cũng từ năm đó con bé không lớn thêm được chút nào. Thương các con nhưng chẳng biết phải làm sao. Gia đình tôi cắn răng chịu đựng và phó mặc cho Thiên Chúa. Cũng có vài lần đưa con bé đi khám bệnh nhưng do không có tiền đi tuyến trên, gia đình tôi chỉ đưa bé tới bệnh viện huyện khám qua loa và nhận được câu trả lời là cháu vẫn bình thường.

(Nào ngờ mãi tới năm 2014 thấy con đã 16 tuổi mà vẫn chỉ như đưa trẻ lên 5, tôi quyết định đưa cháu ra Hà Nội khám lần nữa; thì than ôi tôi choáng váng khi bác sĩ cho biết rằng con bé bị liệt tuyến yên đã 10 năm nên không còn khả năng chữa trị). Mặc dù sống giữa chông gai và gông xiềng Cộng sản nhưng tôi luôn vững tin vào Thiên Chúa. Tôi tiếp tục bước đi giữa những gian nan và thử thách. Tôi tiếp tục đi nhiều nơi để chia sẻ niềm tin về Thiên Chúa. Không ít lần tôi bị đón đường và bị công an Cộng Sản bắt bớ đánh đập. Rồi tôi được Chúa thương nên cho tôi cơ hội được tham gia vào các khóa học thần học.

Tôi trở thành mục sư của một hội thánh nhỏ ở quê hương Thanh Hóa. Chỉ đơn thuần vì lý do tín ngưỡng mà tôi liên tiếp bị những người “bạn của dân” tìm mọi cách đàn áp. Rồi ngày 15/1/2011 tôi bị bắt và bị kết án 2 năm tù giam và 2 năm quản chế theo điều 88 quái gở. (Khi kết án tôi, tay chủ tọa phiên tòa còn lớn tiếng nói rằng: Những thân nhân của tôi đã ngã xuống vì chế độ nay sẽ rất xấu hổ vì tôi). Tuy nhiên tôi tin rằng những người thân của tôi đã đổ máu xương cho chế độ này nếu thực sự có linh thiêng thì họ sẽ rất tự hào về tôi.

Bởi tôi đã tiếp tục bước đi trên con đường tranh đấu cho một nền tụ do dân chủ thật sự.

Tôi tin chắc một điều, vong linh của những người đã ngã xuống sẽ vô cùng đau đớn khi mà những kẻ ngồi trên những chiếc ngai được xây bằng máu xương đồng bào lại tráo trở đảo lộn trắng đen.

Tôi bỏ lại phía sau lưng mình ba đứa con thơ, cùng bố mẹ già và hội thánh thân thương cho người vợ hiền gánh vác.

Hết 2 năm tù oan nghiệt, tôi trở lại gia đình cùng với vợ con bước tiếp chặng đường đầy những chông gai nhưng tràn đầy hy vọng. Tôi vừa phải chia tay người chị gái thân kính và người cha già mẫu mực. Họ đã vĩnh viễn ra đi về nước Chúa. Trước lúc xuôi tay bố tôi còn gắng dặn dò tôi thêm lần nữa: Con hãy cố lên đừng bao giờ bỏ cuộc, ngày cáo chung của Cộng sản đã gần rồi.

Mục sư Nguyễn Trung Tôn

ĐT: 01628387716
Email: nguyentrungtonth@gmail.com

Thạnh Hóa, một Tiên Lãng thứ hai tại miền Nam

Thạnh Hóa, một Tiên Lãng thứ hai tại miền Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-04-15

04152015-thanh-hoa-duplica-of-tienlang.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can

Gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can

RFA screen cap.

Your browser does not support the audio element.

Một vụ cưỡng chế dẫn tới bạo động đã xảy ra vào ngày 14 tháng 4 tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An khiến người ta liên tưởng đến trường hợp của gia đình Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng Hải Phòng.

Khi bị dồn đến đường cùng

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 14 tháng 4 hàng trăm cán bộ thuộc lực lượng cưỡng chế của Công an Huyện Thạnh Hóa đã tập trung bao vây gia đình của Mai Thị Kim Hương và chồng là Nguyễn Trung Can, gia đình bà Phùng Thị Ly cùng một số hộ dân khác để thi hành quyết định cưỡng chế lấy đất xây dựng bờ kè thị trấn Thạnh Hóa. Đây là lần thứ hai chính quyền Huyện Thạnh Hóa trưng thu đất của người dân trong cùng khu vực. Lần thứ nhất diễn ra vào năm 1999 lấy đất xây dựng khu thương mại đã giải tỏa hàng trăm hộ dân và lần này lại xảy ra khiến người dân chống đối quyết liệt với vũ khí tự tạo của mình.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn con của ông bà Nguyễn Trung Can và Mai Thị Kim Hương vừa được thả ra vào sáng hôm nay kể lại:

-Cháu tên là Nguyễn Mai Trung Tuấn, cháu nay 15 tuổi học lớp 9. Cháu nghỉ học ngày hôm qua để cùng với gia đình bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia đình. Cháu xin nghỉ học bữa nay là để trả lời phần truyền thông cho mọi người biết là Việt Nam không có nhân quyền và hiện tại Việt Nam đang đàn áp và đánh đập người dân.

Khi mà nó ập vào nhà cháu thì nhà cháu đã tuyên bố với lực lượng là hãy dừng lại cưỡng chế nếu không thì gia đình cháu sẽ dùng biện pháp bom gas và bom xăng để chống lại lực lượng cưỡng chế bảo vệ phần đất và quyền lợi chính đáng của mình.

” Trong quá trình bắt tụi nó đấm đá rất là dã man. Khi đưa về đồn nó đánh đến nỗi bà ngoại cháu trọng thương và ông ngoại cháu bị dập phổi hiện thời còn phải nằm trong bệnh viện.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn”

Khi nó ập vào thì cháu dùng chai xăng cháu đập xuống đất cho nó phựt lửa để tự vệ cho gia đình và để cho lực lượng lui ra không tiến sâu vào phần đất của gia đình khi đó hoảng loạn và nó ập vào bắt gia đình cháu luôn. Trong quá trình bắt tụi nó đấm đá rất là dã man. Khi đưa về đồn nó đánh đến nỗi bà ngoại cháu trọng thương và ông ngoại cháu bị dập phổi hiện thời còn phải nằm trong bệnh viện.

Theo nhiều tờ báo trong nước tường thuật thì ít nhất 20 người trong lực lượng cưỡng chế đã bị thương do bom xăng và axit, trong đó nghiêm trọng nhất là Trung tá Nguyễn Văn Thủy, trưởng công an huyện Thạnh Hóa bị tạt axit vào lưng phải cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy. Phía người dân đã có hơn 10 người bị bắt giữ và tình trạng các gia đình khác sáng ngày hôm nay, 15 tháng 4 kéo tới Công an huyện Thạnh Hóa đòi thả người đã diễn ra.

Theo nguồn tin của báo chí thì công trình bờ kè thị trấn Thạnh Hóa do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trương và giao cho tỉnh Long An thực hiện việc thương lượng bồi thường giải phóng mặt bằng. Khi được hỏi việc di dời và đền bù giải tỏa có hợp lý hay không, cô Dương Thị Bích Thủy con của bà Phùng Thị Ly cho biết:

Công an và an ninh bao vây khu nhà bà Mai Thị Kim Hương

Công an và an ninh bao vây khu nhà bà Mai Thị Kim Hương

-Vào năm 1999 là giai đoạn đầu giải tỏa cho khu thương mại cho tới năm 2009 là giai đoạn II giải tỏa để xây bờ kè. Hồi trước nhà con cũng bị mấy ông này cưỡng chế một lần trong giai đoạn I rồi gia đình con dọn về gần nhà của ông ngoại con là ông Phùng Văn Lâm rồi bây giờ lại bị giai đoạn II nữa, nói chung là bị hai lần.

” Vào năm 1999 là giai đoạn đầu giải tỏa cho khu thương mại cho tới năm 2009 là giai đoạn II giải tỏa để xây bờ kè. Hồi trước nhà con cũng bị mấy ông này cưỡng chế một lần trong giai đoạn I rồi gia đình con dọn về gần nhà của ông ngoại con là ông Phùng Văn Lâm rồi bây giờ lại bị giai đoạn II nữa

cô Dương Thị Bích Thủy”

Trong một thời gian ngắn phải di dời hai lần đã gây bức xúc cho các hộ dân thiếu may mắn. Bên cạnh sự khó khăn ấy là giá cả đền bù không cân xứng đã dẫn tới những chống đối quyết liệt từ người dân bị cưỡng chế.

Đền bù kiểu bóc lột

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Trung Can không đồng ý với giá đền bù bất hợp lý được con ông là Nguyễn Mai Trung Tuấn kể lại:

-Hiện tại giá đất tại chợ là 23 triệu mét vuông, gia đình cháu là trước mặt chợ nhưng họ chỉ đền 300 ngàn một mét vuông thôi, tổng cộng số đất gia đình cháu có là 120 mét vuông, đó là cái thứ nhứt còn cái thứ hai là gia đình cháu 50 mét đầu phần đất của gia đình cháu tiếp giáp vào khu thương mãi chợ chứ không phải tiếp giáp vào đê bao chống lũ trên cơ sở đó nên gia đình cháu mới chống trả lại lực lượng cưỡng chế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Chị Dương Thị Bích Thủy con của bà Phùng  Thị  Ly hiện vẫn còn bị giam giữ cho biết gia đình đang rất nóng lòng về tình trạng của mẹ:

-Tại vì nó nhốt mỗi người một phòng riêng biệt cho nên bây giờ cũng không biết như thế nào. Tối hôm qua cả gia đình con có tới đồn để mà yêu cầu thả người vì một số người đã được thả tại sao mẹ con không phạm tội gì hết lại không được thả? Mấy ông đó không trả lời được lý do rồi mấy ổng cũng không nói cho biết tình trạng sức khỏe người nhà của cháu trong đó như thế nào, mấy ổng không trả lời được, họ nói theo quy định họ không trả lời được cho nên gia đình rất là rối rắm không biết trong đó như thế nào. Cả đêm qua gia đình ngủ trước cổng công an huyện

” Hiện tại giá đất tại chợ là 23 triệu mét vuông, gia đình cháu là trước mặt chợ nhưng họ chỉ đền 300 ngàn một mét vuông thôi, tổng cộng số đất gia đình cháu có là 120 mét vuông

Nguyễn Mai Trung Tuấn”

Cha của bà Ly nay đã lớn tuổi cũng lo lắng cho con mình qua lời nhắn cảm động:

-Bây giờ trường hợp mấy chú giúp đỡ cho gia đình chúng tôi. Nó đuổi mà không bồi thường nhà cửa từ năm rưỡi nay sống màn trời chiếu đất vì vậy nhờ mấy chú can thiệp giúp đỡ cho chúng tôi.

Khi được hỏi nhà cửa đã bị phá nát mẹ và cậu bị giam, những người trong gia đình không còn chỗ trú thân thì phải làm sao, Chị Thủy cho biết:

-Đêm hôm tụi con ngủ trước cổng công an huyện Thạnh Hóa thì bây giờ cứ vậy ở đó chừng nào thả người thôi. Bây giờ mọi người tự túc ở đậu nhà của dì chứ đâu có nhà cửa gì đâu mà ở chú!

Ông Nguyễn Văn Tạo, chủ tịch UBND Huyện Thanh Hóa cho biết sáng hôm nay 15 tháng 4 Tỉnh Long An sẽ họp báo thông tin cụ thể cho người dân biết sự việc xảy ra. Tuy nhiên cuộc họp báo ấy chưa thấy diễn ra mà người thân của những gia đình bị bắt đã tập trung trước cổng Công an Huyện Thạnh Hóa đòi thả người với những tiếng hô liên tục gây chú ý cho hàng ngàn người dân trong khu vực.

Trước bản án nặng nể do chống người thi hành công vụ gây thương tích nghiêm trọng ba gia đình nạn nhân mất đất sẽ lâm vào cảnh khốn cùng và có thể kết thúc trong vòng tù tội. Dư luận đặt câu hỏi về giải pháp công bằng cho người dân trong các dự án của nhà nước đã và đang gây ly tán cho hàng ngàn gia đình trên khắp nước vẫn không có câu trả lời thỏa đáng. Vụ án Tiên Lãng của ngày hôm qua không làm cho người dân sợ hãi và Thạnh Hóa hôm nay cũng vậy, nó sẽ kéo theo những vụ tương tự khác nếu nhà nước không có một quyết sách công bằng hơn trong việc định mức đền bù giải tỏa.

Mỗi năm có thêm 12.000 người nghiện ma tuý

Mỗi năm có thêm 12.000 người nghiện ma tuý

Đánh giá việc phòng chống ma tuý chưa được quan tâm đúng mức, lãnh đạo Bộ Công an cho biết trong số người nghiện gia tăng có cả học sinh, người mẫu, vận động viên…

Ngày 14/4, tại buổi tổng kết về phòng chống ma tuý giai đoạn 2011-2015, thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương cho biết, mục tiêu kéo giảm người nghiện và địa phương có tệ nạn ma tuý được đề ra, đã không đạt. “Đây là vấn đề đáng báo động. Ngoài số người nghiện tăng nhanh thì thành phần chất ma tuý và người nghiện cũng trở nên đa dạng. Trong đó có cả học sinh, sinh viên, người mẫu, vận động viên…”, thứ trưởng Vương nêu.

thutruong-1572-1429001510.jpg
Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương nói về việc phòng chống ma tuý. Ảnh: Quốc Thắng.

Năm 2010, số người nghiện có hồ sơ quản lý là hơn 143.000 người, song đến năm 2014 đã hơn 200.000 người (tăng khoảng 12.000 người nghiện mỗi năm). Theo ông Vương, nguyên nhân của tình trạng này là do việc phòng chống ma tuý chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều nơi còn ỷ vào lực lượng chuyên trách, hiệu quả công tác tuyên truyền chưa  rõ rệt.

“Bà con ở những địa bàn xa vẫn chưa hiểu hết tác hại của ma tuý. Họ còn chưa thông thạo cả tiếng phổ thông thì làm sao biết vi phạm điều gì trong bộ luật hình sự”, thứ trưởng Bộ Công an nói và đề nghị đưa việc tuyên truyền về tác hại ma tuý ngang bằng với tuyên tryền về an toàn giao thông.

Bà Trương Thị Mai – Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội – cho rằng tình trạng nghiện ma tuý trong độ tuổi thanh niên gây nguy hiểm cho xã hội và cho cả lực lượng chuyên trách đang đảm nhiệm công việc này. Bà cũng hoài nghi số người nghiện thống kê được.

“Theo báo cáo hiện nay có khoảng hơn 200 nghìn người nghiện nhưng theo tôi thì có thể còn hơn. Số liệu tăng hơn 60 nghìn người nghiện sau 5 năm chỉ là con số rà soát, thực tế có thể lại khác”, bà Mai nói.

Quốc Thắng

Nhiều lô hàng tôm VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị từ chối

Nhiều lô hàng tôm VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị từ chối

RFA

13-04-2015

Khâu chuẩn bị tôm xuất khẩu trên một dây chuyền chế biến tại Nhà máy chế biến thủy sản Kim Anh ở tỉnh Sóc Trăng, ngày 21 tháng 2 năm 2004.

Khâu chuẩn bị tôm xuất khẩu trên một dây chuyền chế biến tại Nhà máy chế biến thủy sản Kim Anh ở tỉnh Sóc Trăng, ngày 21 tháng 2 năm 2004.

AFP

Trích dẫn tin từ Hiệp Hội Chế Biến Và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam VASEP, báo chí Việt Nam đưa tin cho biết một số lô hàng tôm Việt bị Hoa Kỳ từ chối về nhiễm kháng sinh.

Con số được VASEP đưa ra cho thấy tình đến hết tháng Hai năm nay, Cở Quan Quản Lý Thực Phẩm Và Dược Phẩm Mỹ đã từ chối nhập khẩu 107 lo tôm của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. VASEP nói rõ dư lượng kháng sinh là nguyên nhân chính khiến tình trạng hàng bị từ chối xảy ra.

Các bản tin chúng tôi có được viết rằng đây không phải lần đầu tiên chuyện tôm Việt Nam bị Hoa Kỳ từ chối, VASEP đã nhiều lần kêu gọi các doanh nghiệp phải thật thận trọng để đừng gặp khó khăn khi đưa tôm vào thị trường Mỹ, là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch trên 1 tỷ dollars/năm, tức chiếm 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của quốc gia.

Phim “Ride the Thunder” và nữ tài-tữ Kiều Chinh

Phim “Ride the Thunder” và nữ tài-tữ Kiều Chinh

…”Chúng ta ở đây hôm nay để nói lên sự thật về cuộc chiến Việt Nam.”

alt

Tác giả, Executive Producer phim Richard Botkin và  Co-producer Kiều Chinh tại nơi quay phim.

Tháng Tư 2015, kỷ niệm 40 Năm ngày Sàigòn và miền Nam sụp đổ. Nhân dịp tưởng niệm Tháng Tư Đen, Ride the Thunder Productions và Koster Film, LLC, sẽ trình chiếu ra mắt phim “Ride the Thunder” của đạo diễn Fred Koster vào ngày 27 tháng Ba, 2015 tại Regency Theatres, số 6721 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683.

Truyện phim dựa theo cuốn sách cùng tên, “Ride the Thunder, A Vietnam War Story of Honor and Triumph” của tác giả Richard Botkin. Đây là cuốn phim đầu tiên thể hiện được danh dự và chiến thắng đích thực của các chiến sĩ VNCH và đồng minh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Câu chuyện chính được kể là đôi bạn chiến đấu Việt-Mỹ: Thiếu tá Lê Ba Bình, tiểu đoàn trưỡng Tiểu đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến VNCH và Đại uý John Ripley, cố vấn Mỹ. Cũng là lần đầu tại Hoa Kỳ, cuốn phim có sự tham gia của nữ diễn viên Kiều Chinh như một Co-Producer.

alt
Đạo diễn Fred Koster và các diễn viên Eric St. John, Joseph Hiếu, Pierre Cuong Nguyễn.

Sau đây là câu chuyện về cuốn phim và cuộc phỏng vấn Kiều Chinh dành cho Việt Báo.
Từ một chiến tích có thật nhìn lại cả cuộc chiến

Trận chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” có tên tiếng Anh là Eastern Offensive, vì diễn ra đúng vào tuần lễ Phục sinh 1972. Từ giữa trưa ngày Thứ Năm 30 tháng Ba, sau những trận mưa pháo kích cả vào khu dân cư để gây hoảng loạn, hơn 30.000 quân chính qui Bắc Việt được 200 chiến xa T54 và PT-76 mở đường, tiến chiếm vùng địa đầu Quảng Trị .

Chỉ trong ba ngày, 10 trên 12 căn cứ VNCH trong vùng -hầu hết không được trang bị vũ khí chống tăng- bị tràn ngập. Sau khi tàn phá phía Bắc sông Cam Lộ-Cửa Việt, chiến xa và đại quân Bắc Việt nhắm thẳng vào tỉnh lỵ Đông Hà, nơi chỉ còn tiểu đoàn 3-Sói Biển Thuỷ Quân Lục Chiến VNCH với 735 chiến sĩ đồn trú tại căn cứ Alpha 2, do Thiếu Tá Lê Bá Bình làm tiểu đoàn trưởng, đại uý John Ripley cố vấn tiểu đoàn, thêm mấy sĩ quan Mỹ giúp liên lạc yểm trợ do Trung Tá Gerry Turley vừa được uỷ quyền chỉ huy vào giờ thứ 25.

Chỉ cần băng qua cây cầu dài 200 thước bắc qua sông Cửa Việt, chiến xa cộng sản sẽ tràn ngập tỉnh lỵ Đông Hà và thẳng tiến chiếm Huế. Cách duy nhất để chặn đường qua sông của xe tăng cộng sản là phải phá huỷ ngay cây cầu. Trung Tá Gerry Turley gọi điện cấp báo, xin phép.

Lệnh cấp trên từ hậu cứ buộc phải giữ cây cầu. Nhưng xe tăng cộng sản đã xuất hiện. Không thể chần chừ. Bât chấp hậu quả, John Ripley – Lê Bá Bình, cố vấn Mỹ và tiểu đoàn trưởng Sói Biển, được tăng cường thêm một trợ thủ là Jim Smock, tình nguyện nhận lệnh thi hành “mission impossible”.

Cầu Đông Hà là một khối bê tông cốt thép kiên cố, dưới gầm cầu dày đặc xích sắt và kẽm gai đề phòng đặc công phá hoại. Để tới được mục tiêu, bộ ba của Alpha 2 phải bắn hạ một xe tăng T54.

Ripley là người duy nhất từng được huấn luyện về chất nổ tại US Army’s Ranger School, phải lãnh phần nặng nhất. Từ chân cầu, anh đu mình lên gầm cầu giữa kẽm gai, nhận 500 ký thuốc nổ do đồng đội chuyển theo, rồi tiếâp tục đánh đu với tử thần suốt 4 tiếng đồng hồ.

alt

Đôi bạn chiến đấu Việt Mỹ Lê Bá Bình – John Ripley trong phim và ảnh thật ngoài đời.

Chất nổ được gài đúng vị trí. Bộ ba Alpha 2 về căn cứ an toàn. Đúng Chủ Nhật Lễ Phục Sinh, ngày 2 tháng Tư năm 1972, một tiếng nổ rung chuyển cả vùng. Cầu Đông Hà bị phá hủy, chiến xa cộng sản bị chặn lại bên sông.

Diễn tiến sau đó là quân lực VNCH đã từng bước dành lại chiến thắng và tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Trung tá Lê Bá Bình lại có dịp đứng bên cổ thành. Trở về Hoa Kỳ, Đại uý John Ripley nhận nhiều huy chương cao quí và sau này trở thành một đại tá hồi hưu, Giám Đốc Viện Bảo Tàng và Quân Sử TQLC/HK. Chiếân công phá nổ cầu Đông Hà đã đi vào quân sử Hoa Kỳ, được dựng thành mô hình ba chiều để huấn luyện Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ.

Nhưng rồi, mọi chiến thắng có thật của các chiến sĩ Việt-Mỹ bị xoá bỏ. Số phận cuộc chiến tranh Việt Nam được Hoa Thịnh Đốn quyết định theo kiểu các chính khách phản chiến. Sau tháng Tư 1975, miền Nam sụp đổ, Trung tá Lê Bá Bình là một trong hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam bị cộng sản cầm tù. Sống sót sau 9 năm tù đầy, Lê Bá Bình và gia đình mới tới được nước Mỹ theo diện H.O., định cư tại miền Bắc Cali.

Phải mất đến 30 năm sau, đại tá John Ripley mới có dịp được trao cho người bạn chiến đấu năm xưa của ông huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc, do Tổng Thống Bush ký tặng để vinh danh Trung tá Lêâ Bá Bình, trong một họp mặt trang trọng tại Thủ Đô Hoa Kỳ nhân dịp Lễ Độc Lập July 4, 2005.

alt
Richard Botkin và Kiều Chinh phát biểu trước giờ quay phim.

Và từ sách tới phim
Hình ảnh đôi bạn chiến đấu Lê Bá Bình-John Ripley và câu chuyện về chiến công của họ khiến tác giả Richard Botkin xúc động, thấy cần phải tim hiểu.

Là một cựu Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC), và hiện là Senior Vice President của tổ hợp tài chính Morgan Stanley, Richard đã bỏ ra 5 năm nghiên cứu về cuộc chiến, phỏng vấn hàng trăm nhân vật liên quan, và cũng đã 4 lần đến tận Việt Nam để quan sát thực địa của trận chiến tại Đông Hà, Quảng Trị, Ái Tử, Khe Sanh. Kết quả là sách “Ride the Thunder” được ấn hành năm 2009, với hơn 700 trang sách, kể lại câu chuyện về chiến công tại Đông Hà, và qua đó, nhìn lại toàn bộ sự thật về chiến tranh Việt Nam.

Trong tiến trình từ sách tới phim, cũng chính tác giả Richard Botkin đảm đương phần vụ của Executive Producer. Phim được viết kịch bản và thực hiện bởi Fred Koster, một đạo diễn từng làm nhiều phim nổi tiếng về người thật, việc thật. Đặc biệt, công việc sản xuất phim còn có sự tham gia của co-producer Kiều Chinh.

Là diễn viên gốc Việt được coi như một “legendary actress” trong suốt 40 năm gắn bó với Hollywood, Kiều Chinh cũng từng là Executive-Producer của phim “Người Tình Không Chân Dung / Warriors, Who are You”, cuốn phim đạt giải phim chiến tranh hay nhất tại Đại Hội Điện Ảnh Châu Á 1973.

Một ngày đầu tháng 5 năm 2014, trên set quay phim tại Kualoa Fishponds, Hawaii, toàn bộ ê kíp làm phim ngồi bên nhau. Không phải chuyện tiền bạc, danh tiếng hay tên tuổi. Exec. Producer Richard Botkin nói lời mở đầu, “Chúng ta ở đây hôm nay để nói lên sự thật về cuộc chiến Việt Nam.

Mục đích và lý do của cuốn phim giản dị chỉ là kể ra những sự thật nào đã diễn ra tại đó.” Tiếp theo, Co-producer Kiều Chinh nói lời chúc lành và cầu nguyện bình an cho từng người, từng ngày trong thời gian quay phim ở đây. Sau đó Đạo diễn Fred Koster chính thức bắt đầu lệnh “Action” -khởi diễn, bấm máy thu hình.

Và sách “Ride the Thunder” thành cuốn phim đánh dấu 40 lần Tháng Tư 1975-2015.
Chuyện “Ride the Thunder” và co-producer Kiều Chinh.
Kiều Chinh đang sửa soạn bay lên Bắc Cali. Ngay cuối tuần này, Thứ Sáu 13 – 3, đại hội điện ảnh Pacific Film Archive khai diễn tại Berkeley. Và hôm sau, Thứ Bẩy, là Sundance Kabuki Cinemas tại San Francisco. Sẽ phải cùng Trần Hàm xuất hiện ở cả hai nơi, khi phim “Hollow / Đoạt Hồn” được trình chiếu, vì trong phim này có vai diễn được “đặc biệt viết riêng” cho Kiều Chinh, sau vai bà nội thuyền nhân răng đen trong phim “Vượt Sóng / Journey from the Fall” do đạo diễn Trần Hàm thực hiện.

alt

Kiểu Chinh tại Hawaii, 2014.

Tập trung câu chuyện vào phim “Ride the Thunder” sắp ra mắt. Đây là cuốn phim dựng lại một câu chuyện có thật, một chiến công có thật nhưng chưa từng được kể của những chiến sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến Việt – Mỹ và gia đình của họ, trong chiến tranh Việt Nam. Bên cạnh những tài liệu phim ảnh lịch sử giá trị được sử dụng để nhìn lại toàn bộ cuộc chiến, đây là một feature film (phim truyện) dàn dựng công phu.
Hai nhân vật chính trong phim diễn xuất bởi tài tử gốc Việt Joseph Hiếu trong vai Thiếu tá tiểu đoàn trưởng Lê Bá Bình và tài tử Hoa Kỳ Eric St. John trong vai Đại uý cố vấn Mỹ John Ripley và nhiều diễn viên Việt Mỹ xuất sắc khác như Roy Mega Tran, Pierre Cuong Nguyen, Steve Son Nguyen, Lynn Tran… Ngoài phần thu hình tại Hollywood, toàn bộ ngoại cảnh phim được thực hiện tại Hawaii.

Ê kíp phim thường trực có từ 60 tới 80 người, làm việc nhiều ngày trong khu vực phim trường mang tên Branscombe Richmond, nổi tiếng tại Hawaii. Sinh hoạt chung của cả ê kíp thân ái như trong tình gia đình.

Hàng ngày, đích thân Executive producer Richard Botkin lo “tiếp viện” cho mọi người cà phê, thức ăn. Bà con người Việt tại Hawaii dành cho đoàn làm phim nhiều cảm tình đặc biệt.

Là một co-producer cùng lo thực hiện phim từ bước đầu, Kiều Chinh đã tham gia tổ chức casting, tuyển chọn diễn viên. Không chỉ các diễn viên chính như Joseph Hiếu, Eric St. John đã diễn xuất tuyệt vời, mà các diễn viên khác, kể cả những người lần đầu đóng phim, cũng xuất sắc trong vai trò của họ.

Nữ diễn viên Lynn Tran, trong vai bà vợ của người tù Lê Bá Bình đã diễn xuất bằng những xúc động thật, nước mắt thật, vượt trên sự chờ đợi.
Được biết, cũng trong thành phần Co-producer Việt, còn có Ly Van Quy, Alan Vo Ford và Joseph Hieu.

alt

Như đã loan báo, phim “Ride the Thunder” chính thưc ra mắt ngày Thứ Sáu 27-3 tại rạp The Regency Westminster. Sau đó, ngày Thứ Bẩy 28-3, cũng tại khu vực này, tổ chức Vietnam Veteran’s of America, sẽ phối hợp cử hành nghi thức mang ý nghĩa nối kết giữa các cựu chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

‘Con bà phước, cái bang’ Galang

‘Con bà phước, cái bang’ Galang

Nguoi-viet.com

Sông Tiền
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Galang vào trưa ngày 1 Tháng Sáu năm 1990 sau đúng 2 tháng rời Việt Nam.

Ðoàn tàu chúng tôi đến trại với 655 thuyền nhân trên hai chuyến tàu định mệnh được nhập chung từ nhiều chiếc ghe vượt biển khác nhau đã đến được đất liền Mã Lai nhưng bị hải quân nước này gom lại và xua đuổi sang Nam Dương.

Hồi tưởng lại chuyến hải trình gian khổ và những ngày tháng bất ổn trong quá trình thanh lọc ở trại tỵ nạn mà cảm thấy thật thấm thía cho hai chữ thuyền nhân.


Cổng vào trại tị nạn Galang. Nơi đây nay đã thành di tích. (Hình: VOA)

Như bao thuyền nhân khác đến trại tỵ nạn sau ngày đóng cửa đảo định mệnh 17 Tháng Ba năm 1989, tất cả chúng tôi đều phải trải qua một quá trình ‘thanh lọc’ để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của mình.

Chúng tôi đến Galang vào thời điểm thuyền nhân trôi tấp vào Mã Lai Á bị dồn đẩy sang Nam Dương ồ ạt nên số lượng thuyền nhân trên đảo từ năm 1989 không quá 3,000 người đã tăng đột biến lên hơn 14,000 trong vòng chưa đầy một năm. Tình trạng quá tải không có chỗ ở cho người tỵ nạn là một chuyện khá nhức đầu cho các nhân viên Cao Ủy và phòng kỹ thuật.

365 người chúng tôi được đưa thẳng vào Galang 2 và sống lây lất vật vạ tạm thời bên trong hội trường của văn phòng Cao Ủy và dọc theo hành lang của phòng xã hội. Nhìn cảnh những người “say sóng” nằm ngồi dọc theo hành lang các văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn và toán JVA được các anh chị thiện nguyện viên của phòng xã hội và gia đình Phật Tử Long Hoa cũng như thanh niên Công Giáo trợ giúp nấu và chia nhau những tô mì gói nóng để đỡ đói qua ngày trong thời gian chờ đợi những nhân viên của phòng kỹ thuật dựng lên các barrack bằng plastic trên các nền barrack cũ của Zone F nó ám ảnh và theo tôi mãi trong những giấc mơ cho đến ngày hôm nay.

Galang, quán trọ trước cổng thiên đường đã không thật sự đến với chúng tôi, những thuyền nhân kém may mắn đã chậm chân đến trại sau cái ngày oan khiên mà Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại áp dụng để ngăn chặn làn sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản ngày càng dâng cao. Sau những ngày dài chờ đợi và mất ngủ chúng tôi được đưa vào sống trong những barrack được lợp bằng plastic mới được dựng lên trong khu Zone F bốn bề gió lộng theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của nó.

Trải tấm chiếu Cao Ủy trên nền xi măng lòi lõm của barrack để xí chỗ xong là chúng tôi phải nghĩ đến việc sinh tồn trong những ngày dài sắp tới. Mỗi thuyền nhân được phát một đôi dép Cao Ủy, một cái mền và một chiếc chiếu, một cái tô, một cái chén và một cái ly bằng nhựa, mỗi 5 người được phát một cái lò xô nấu ăn bằng dầu, một cái can 5 lít đựng dầu hôi. Khẩu phần lương thực nghe đâu đã bị cắt giảm nên hàng tuần chúng tôi mỗi người chỉ được phát 3 gói mì, 2.8 kg gạo, 100 gram đậu xanh, 100 gram đậu nành, 100 gram đường và 100 gram đồ tươi có thể là bí rợ hay rau cải. Mỗi đầu tháng chúng tôi được cấp 9 lon cá mòi loại nhỏ, và 4 lít dầu ăn, có tháng Cao Ủy thay thế bằng ba hộp thịt hộp mà chúng tôi gọi là pa tê, khi thì 3 lon cá mòi loại lớn. Ăn cá mòi và tắm nước suối từ trên rừng chảy xuống được chứa trong những cái hộc được đào sẵn ở dưới hạ nguồn nên đã có rất nhiều người bị ghẻ ngứa, chúng tôi đã phải thức dậy thật sớm để sắp hàng lấy số ở bệnh viện Galang 2 chờ được chích thuốc vào mỗi sáng.

Với sức trẻ của tuổi minor vị thành niên, nhóm con “bà phước” không có thân nhân ở nước ngoài không cách gì chúng tôi có thể tồn tại và sống nổi với khẩu phần lương thực hạn hẹp mà Cao Ủy đã cấp phát thông qua nhà cầm quyền Indo, những người bạn của chúng tôi phải gom lại tìm cách mưu sinh để sống còn trong những ngày dài ở trại.

Có một câu chuyện làm cho tôi còn nhớ mãi là trong những ngày còn say sóng khi mới đến đảo. Tôi có theo chân mấy người bạn đi dạo ngoài chợ Galang 2 tình cờ được gặp lại dì Hai Ngọc Châu là bạn rất thân của mẹ tôi đã vượt biên và đến đảo vào năm 1987. Dì dượng và gia đình các anh chị lẽ ra đã đi định cư từ rất lâu nhưng vì dượng Hai bị bệnh phổi khá nặng nên đã bị các phái đoàn từ chối khi phỏng vấn và còn kẹt lại và đang chờ đi Pháp vào Tháng Tám năm 1990.

Mặc dù gia đình của dì lẽ ra phải đi Mỹ vì dượng Hai là cựu quân nhân của QLVNCH. Dì Hai và các anh chị đã rất thương và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong khoảng thời gian này. Thấy chúng tôi tơi tả không có quần áo mặc dì mua vải nhờ chị Một và chị Bưởi là người con dâu và người quen của dì may đồ cho chúng tôi, lâu lâu dì mua thịt heo rừng và đồ ăn ngoài chợ đem vào tiếp tế cho chúng tôi.

Mặc dù đã sắp đi định cư và đã hứa cho người khác cái thùng phi đựng nước cũng như cái tủ đựng đồ, nhưng vì thấy hoàn cảnh quá thê thảm của chúng tôi mà dì Hai đã trả tiền lại cho người ta để xin lại cho chúng tôi có cái thùng phi đựng nước uống và có tủ để đựng đồ. Thật quý vô cùng những tấm lòng vàng.

“Bún, bún đây, ai ăn bún đổi cá, đổi gạo không? Num bờ chốc tê, Num bờ chốc đo ko tê,” những tiếng rao lanh lảnh ở Galang 1 và Xóm Miên ngày nào vẫn còn âm vang và là động lực mạnh mẽ giúp cho tôi vượt qua hết những khó khăn và vấp ngã sau này khi đã được định cư tại Hoa Kỳ.

Tôi đến với cái nghề bán bún và biết làm ra tiền đầu tiên trong đời từ trại tỵ nạn Galang qua chú Trung và anh Hùng cùng tàu của tôi. Cuộc sống ở trại khổ quá mà không có liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để viện trợ cứu đói, chú Trung và anh Hùng con của chú Tư Xị đã đột phá tìm cách làm quen với anh Nhân chủ lò bún ở gần Suối Zone F Galang 2 để xin lãnh bún đem đi bán dạo vòng quanh các barrack ở Galang 2.

Chú Trung thấy hoàn cảnh anh em con bà phước của chúng tôi thê thảm quá nên chú kêu lại hỏi thăm tụi tôi có chịu đi bán bún không rồi chú hỏi xin ông chủ lò bún cho chúng tôi lãnh bún đi bán ngoài Galang 1. Tôi, Ðức và 3 anh em Ðành, Ðạt và Chín nhận lời, thế là mấy anh em chúng tôi hàng ngày vào sáng sớm thay nhau gánh bún từ Galang 2 đem ra Galang 1 bán và đổi cá, gạo kiếm tiền mưu sinh trên đảo.

Là những công tử bột chưa nếm bụi trần gian, trại tỵ nạn Galang đã nhào nặn cho chúng tôi trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn. Có những ngày mưa gió mà gánh bún thì còn nặng trĩu trên vai, chúng tôi len lỏi qua khỏi khu vực bệnh viện Galang 1 (lúc này đã được trưng dụng làm chỗ ở cho thuyền nhân) đi hoài mà gánh bún thì vẫn chưa vơi chúng tôi bạo gan tìm ra khu xóm Miên (vào cuối năm 1990 đã có gần 1,500 người Cambodia vượt biển đi tỵ nạn) lần đầu tiên món Num Bờ Chốc xuất hiện ở Làng Miên gánh bún ngày hôm đó được mua hết trong vòng 30. Thừa thắng xông lên sau đó anh em chúng tôi tăng số lượng bún lên gấp đôi, hàng ngày gánh ra bán thêm ngoài xóm Miên.

Chúng tôi học thêm tiếng Miên qua chị Hồng đi chung tàu. Chị Hồng là em vợ của chú Y Giang NiekDam là ‘leader’ tàu của chúng tôi, từ đó việc giao tiếp với bà con người Miên được dễ dàng hơn.

Có một câu chuyện bây giờ nghĩ lại rất là tức cười cho sự khờ khạo của tuổi trẻ chúng tôi, vì không quen ai ở ngoài Galang 1 nên chúng tôi cứ gánh hai thùng bún thật nặng đi thẳng ra xóm Miên bán trước, khi qua khỏi Cổng Chùa Quan Âm Tự đến gần khu vực Suối Miên, phần vì hai gánh bún quá nặng phần mệt nên chúng tôi quyết định chui vào một bụi cây ở gần đó giấu một thùng bún và gánh thùng bún còn lại trực chỉ xóm Miên. Trên đường về lại Galang 1 chúng tôi tấp vào lấy cái thùng bún giấu trong bụi cây, cả hai chúng tôi đã cười thật giòn và thật lâu khi nghĩ đến cảnh trở lại chỗ giấu thùng bún mà kiếm không ra vì cắc cớ có ông nào đi ngang tấp vào tè bậy mà thấy thùng bún và vác luôn về thì anh em chúng tôi chắc sẽ khóc bằng tiếng Miên luôn.

Có những người Miên thật tốt bụng khi thấy anh em chúng tôi bận quần áo tả tơi trong lúc vất vả mưu sinh đã kêu lại cho quần áo lành lặn để bận, buôn bán một thời gian thì chúng tôi bắt đầu có những mối tốt, họ đặt bún của chúng tôi hàng ngày để nấu món Bún Cá bán trong làng Miên. Anh em chúng tôi thay nhau mỗi ngày vào buổi chiều gánh bún đi bỏ mối ngoài làng Miên, khi thì 15 kg khi thì 10 kg tùy theo ngày. Thấy chúng tôi làm ăn được người chủ lò bún sinh lòng tham, anh ta tăng giá bún lên và sắm xe đạp chở bún ra ngoài làng Miên giành mối và bán sỉ với giá rẻ hơn. Bất mãn anh em chúng tôi không tiếp tục đi bán bún nữa. Sau này một số anh em trong nhóm con bà phước đã phải đi đánh bắt cá ngoài biển, bán bánh mì, bán cà rem, đào giếng mướn và một vài đứa thì làm nghề báo thư mà chúng tôi gọi đùa là những tay chuyên Bóp Cổ Thiên Hạ.

Galang là một trường đời đầy thử thách đã rèn luyện và huấn nhục chúng tôi được cứng cáp và trưởng thành hơn, từ cách đối nhân xử thế đầy tình người cho đến nhân tình thế thái bạc bẽo của cuộc đời chúng tôi đều được học từ trại Galang, có những bài học rất đắt giá và có những bài học không phải trả tiền mà chúng tôi may mắn được học qua những kinh nghiệm đau thương của bạn bè và chính cá nhân mình.

Trong những năm tháng đầu tiên ở trại tỵ nạn, chúng tôi lam lũ cực nhọc mưu sinh nhưng tinh thần thì rất vui và không có nhiều lo nghĩ cho đến khi bắt đầu có kết quả thanh lọc vào những đợt đầu tiên cho những đồng bào đến trại vào những ngày đầu tiên kể từ sau ngày đóng cửa đảo, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại vì muốn chặn đứng làn sóng thuyền nhân vượt biển tìm tự do nên đã tạo ra rất nhiều chuyện bất công trong vấn đề xác định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân.

Thảm cảnh chèn ép buộc những cô gái Việt phải hiến thân để đánh đổi tấm vé công nhận là tỵ nạn chính trị xảy ra ngày càng nhiều. Nhà cầm quyền Nam Dương có toàn quyền quyết định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân nên vô tình đã tiếp tay cho những nhân vật đang nắm vai trò sinh sát trên đảo lộng hành mặc sức chà đạp nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong khoảng thời gian khủng hoảng này.

Ðã có rất nhiều trường hợp cả gia đình phải tốn rất nhiều tiền để hối lộ các giới chức cầm quyền và họ còn bị bắt ép phải hiến dâng con gái dưới tuổi vị thành niên của họ cho những tên phó hay trưởng đảo cũng như những nhân vật coi về phần an ninh và thanh lọc.

Ðã có nhiều trường hợp lường gạt để lấy tiền của thuyền nhân khi hối lộ với chính quyền địa phương dẫn đến giết người để bịt miệng, vụ án ở Suối Chùa Kim Quang mà hai anh Sáu Koler và Nguyễn Văn Viễn là nạn nhân của những tên sát nhân này.

Bất công và đau khổ dày xéo tâm can của những thuyền nhân Galang, sau khi nhận kết quả rớt thanh lọc, anh Diệp Quang Huy đã gặp luật sư người Phi để tư vấn cho vấn đề khiếu nại của mình, bị tên Phi lùn xúc phạm, anh Diệp Quang Huy đã tẩm dầu tự thiêu ngay trước văn phòng Sơ Vấn Galang 2.

Minor Lưu Thị Hồng Hạnh đã đậu thanh lọc nhưng bị rút giấy đậu vì là minor đã phẫn uất tự thiêu ngay trong barrack của mình. Những thảm trạng của thuyền nhân thật là bi thương đã xảy ra rất nhiều vào thời điểm 1991-1996.

Giá trị của hai chữ tự do đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng đói khát của những ngày lênh đênh trên biển, bằng sự tủi nhục của thân xác phụ nữ Việt trên biển và trong đất liền, bằng sự rẻ khinh và xua đuổi của các quốc gia tạm trú, bằng những nấm mồ hoang lạnh trên các trại tỵ nạn của không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân đã bỏ mình nơi rừng sâu, đảo vắng.

Và hơn hết là bằng sự đấu tranh tuyệt thực biểu tình của hơn 4,500 thuyền nhân tại Galang, hơn 2,000 thuyền nhân tuyệt thực ngất xỉu phài vào cấp cứu tại bệnh viện Galang 2, hơn 20 thanh niên đã đâm bụng tự sát không thành. Anh Phạm Văn Châu đã tự thiêu trong buổi sáng biểu tình và được đưa sang Pinang chết mất xác. Anh Lê Xuân Thọ đã tẩm dầu tự thiêu và đâm bụng chết tại chỗ biểu tình được đồng bào quàn và giữ xác trong quan tài tại chỗ biểu tình cho đến ngày cuối cùng sau khi bị cảnh sát đặc nhiệm của Indo trấn áp.

Cuộc biểu tình suốt 179 ngày đêm của thuyền nhân Galang chống cưỡng bức hồi hương và đòi hỏi công bằng cũng như quyền tự do tỵ nạn chính trị của mình là cuộc biểu tình dài nhất và bi thương nhất trong lịch sử của thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam. Là thuyền nhân vượt biển tìm tự do chúng ta không được phép quên chúng ta là ai và tại sao chúng ta đang ở khắp nơi trên thế giới này.

Galang một trời tâm sự…

Trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín

Trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín

Nguoi-viet.com

Nguyễn Ngọc Dung
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Mùa Xuân đang về, thời tiết lý tưởng, với chồi non, nụ thắm… dễ làm người ta yêu đời hơn.

Ngày dài hơn, nắng vàng của những ngày đầu mùa Xuân làm cho tôi ngồi vào bàn, viết lại một quãng thời gian đầy biến động và thay đổi cho cả gia đình mình. Một công việc đã âm ỉ trong lòng, chưa được viết ra, như một gửi gấm đến các con cháu mình những gì đến với cuộc đời của tôi, và phần nào muốn chia sẻ với các bạn, như một lời tâm tình của một thành viên bé nhỏ trong cái tập thể “vợ những người tù cải tạo” quanh đây.

Phú Quốc – 1970. (Hình: Tác giả cung cấp)

30 Tháng Tư, 1975, lịch sử Việt Nam sang một trang mới. Tôi lấy chồng trong những ngày cuộc chiến cao độ (1970), chàng là một người lính Hải Quân, nay đây mai đó, lúc ở căn cứ hải quân mãi tận Phú Quốc, lúc đi tàu biển, rồi có khi về ngay bộ tư lệnh Hải Quân Sài Gòn và đơn vị cuối cùng, là giang đoàn ở Đồng Tâm, Mỹ Tho.

Tôi đi học, đi làm và không theo chân anh đi các vùng xa xôi như thế. Ngày 27 Tháng Tư, 1975, anh về thăm tôi 1 chút rồi trở về Long An, lúc đó là nơi anh được huy động về tiếp tay với các bạn giữ vùng 4 sông ngòi. Anh và tôi xa nhau, gặp nhau như chuyện thường ngày của các gia đình quân đội – nhất là hải quân – trong thời chiến, nào có biết rằng cũng là lần cuối gặp nhau mang hình ảnh anh trong bộ quần áo tác chiến hải quân.

Chúng tôi mất liên lạc từ đó, vài ngày sau, với lời tuyên bố đầu hàng sáng 30 Tháng Tư, 1975, tôi biết cuộc đời mình sẽ có những thay đổi rất lớn, mà chẳng biết nó sẽ như thế nào. Tôi chờ anh trở về Sài Gòn, chờ anh về nhà, tuy biết là không thể trở về với chiếc tàu, để đón gia đình hai bên và tôi. Về sau này, tôi mới biết, giang đoàn của anh được biệt phái từ Đồng Tâm, tới Nhà Bè, rồi về Long An, nằm trong Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, gồm rất nhiều tàu bè, một mũi nhọn xung kích mạnh mẽ nhất của Hải Quân miền Nam lúc bấy giờ.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 được thành lập để bảo vệ an ninh thủy trình sông Soài Rạp và sông Lòng Tào, và bảo vệ chính phủ rút về miền Tây, khi tình thế xấu.

Bến Bạch Đằng quen thuộc, gần nhà bố mẹ tôi, nay đã chẳng còn một chiếc tàu nào mang lá cờ xưa.

Chiều tối hôm 29 Tháng Tư, 1975, tôi cùng đoàn người gần nhà ra bến Bạch Đằng, mong có một cơ may nào lên được sà lan, tàu buôn hay cả ghe nhỏ để cứ đi vào một bến bờ vô định. Đi như trong giấc ngủ vật vờ, đêm xuống, bờ sông hỗn loạn, hàng kẽm gai kéo ngang, họng súng gờm sẵn sàng nhả đạn. Tên anh cũng chẳng ích gì trong việc xin 1 chỗ cho mình tôi lên tàu hải quân, ai thoát được, cứ lạnh lùng bỏ đi.

Thôi rồi, số phận mình ra sao, anh ở đâu và có an toàn?

Phi trường Tân Sơn Nhất, 4 Tháng Bảy, 1991. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một đêm không ngủ nghe tiếng trực thăng bay liên tục, nhìn những chiến hạm không đèn trên sông Sài Gòn, tôi biết mọi hi vọng ra đi đã bị cắt đứt. Đi qua bộ tư lệnh Hải Quân, qua cầu tàu nơi có khi anh chỉ cho tôi, kia là con tàu anh đang làm việc trên đó, nay chỉ là một quãng sông đen ngòm, đe dọa và nhận chìm mọi hi vọng của chúng tôi.

Ngày qua ngày, qua lời 1 anh lính cận kề với anh ở giang đoàn, anh ta về nhà nhưng không muốn gặp mặt tôi, tôi biết anh đã dẫn đoàn ghe ra cửa biển, đón tàu khác để di tản.

Tôi vẫn phải đi làm, sáng ra phải dự các buổi gọi là “giao ban,” gặp tất cả các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ và ban quân quản bệnh viện. Không khí căm thù bàng bạc suốt buổi, nhiều đe dọa, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, im lặng, vì quanh mình chẳng biết ai là bạn ai là thù.

Bên cạnh đó, những buổi học tập tại chỗ, những bài tự khai thật nặng nề, những câu hỏi mơ hồ khiến câu trả lời nào của chúng tôi cũng không thỏa mãn được họ. Nhất là với tôi, khi tôi khai ông chồng tôi…mất tích… Thì đúng là mất tích chứ sao bây giờ, khi Tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám 1975 không biết anh ở đâu. Họ đâu có chịu cho tôi yên với hai chữ mất tích kia, cái mất tích hàm nhiều ý nghĩa…có thể là đã chết, di tản, vô bưng hoạt động chống lại họ, hay trốn ở đâu. Họ bắt tôi lên họp, chỉ một với một, họ hạch hỏi quanh chữ “mất tích.” Tôi cũng hoang mang lắm, không biết anh sống chết thế nào.

Bức màn sắt đã trùm xuống toàn miền Nam, toàn vùng chỉ là đêm đen giữa ban ngày. Chỉ có một đường radio VOA, BBC để biết tin nước ngoài, được nghe trong sự trốn tránh che giấu. Sáng đi làm, nhìn những lá cờ đỏ trên đường, rùng mình như màu máu đang rút dần ra khỏi cơ thể tôi, ngủ dậy mới thấy đã qua được 1 ngày yên ấm, chưa bị bắt như các người lớn trong bệnh viện, nay ông bác sĩ bệnh viện trưởng, mai ông phụ tá hành chánh, mốt ông điều dưỡng trưởng.

Không khí trong bệnh viện đầy đe dọa, dò xét, ngay cả hộp đồ ăn trưa cũng được bà trưởng phòng về tiếp quản, đổ ra ngoài xem có dấu gì trong đó, hay xem bọn “ngụy” ăn uống cao lương mỹ vị gì.

Đến khoảng Tháng Tám 1975, tôi nhận được 1 điện tín gửi từ Pháp, như sau: sẽ hồi hương, cho biết ý kiến.

Bức điện tín ngắn gọn, mà thật là khó giải quyết. Tôi xin ý hai bên cha mẹ. Bố mẹ anh không biết nên bảo anh về lại Việt Nam hay bảo anh qua Mỹ, được sung sướng cho anh, thì lại khổ cho con dâu mà ông bà rất yêu quý. Bố mẹ tôi bảo anh trở về, thì thương anh bị ở tù khổ cực lắm. Ngay bản thân tôi, cũng chẳng biết sao là đúng. Biết là anh đang rất cần câu trả lời để có quyết định, về hay ở?

Sau cùng, chúng tôi đành đánh điện tín qua: “Tùy ý quyết định.” Những ngày tháng sau đó, tôi sống như một người có tội, tội đẩy anh vào nơi lao lý, biết có ngày về ?

Sau đó các đài phát thanh, VOA, BBC báo tin cho biết sẽ có một chuyến tàu mang tên Việt Nam Thương Tín sẽ đưa một số người muốn hồi hương, khoảng Tháng Mười sẽ trở về. Thuở ấy, sau bức màn sắt là một thế giới khác, bít bùng, mọi tin tức đều không thể đến với người dân. Tôi đi làm, lòng đầy hoang mang, anh có về, nếu anh về, thì có phải ở tù không? Người ở đây, còn vào tù, huống gì người đã đi, nay trở lại, mang theo những câu nghi ngờ về các anh, có phải đã mang về những công việc dọ thám, đánh phá chế độ…

Rồi được tin nghe lén, chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín (VNTT) đã chở người di tản dạo 30 Tháng Tư, 1975, nay được dùng để đưa đoàn người hồi hương. Tôi tự hỏi, liệu có anh trong đó, nếu có thì anh sẽ ra sao. Ngay bản thân tôi ở Sài Gòn, còn bị đe dọa đi kinh tế mới, vì đã được đặt tên là vợ của ngụy quân, tội ác đầy mình, cần phải cải tạo cái đầu tư sản bằng con đường lao động.

Hai bàn tay một Nha Sĩ như tôi, thay vì điêu khắc lên miếng trám cho thật đẹp, thật giống những hình dáng thật của răng, nay có lúc phải cầm cuốc đi trồng dứa (thơm) ở nông trường, cầm cuốc trồng khoai mì sau khi đã cuốc hết sân cỏ xanh mướt tốn công biết bao, ở sân trước bệnh viện Chợ Rẫy nổi tiếng ở Sài Gòn.

Có lần chúng tôi phải đi đào kinh, giẫm chân trên dòng kinh lúp xúp nước, chuyền những miếng đất được các vị bác sĩ, các giáo sư đại học Y Khoa Sài Gòn trao cho, để tạo con kênh dẫn nước phèn vào ruộng. Dòng nước váng lên những phèn, cây nào sống nổi. Sau những lần khổ cực như thế, số bác sĩ quyết chí rời bỏ nước lại càng tăng lên. Họ đã không trọng vọng nhân tài, yêu quí những vị “cứu nhân, độ thế.”

Qua những sự việc hàng ngày như thế, tôi đã có thể hình dung cuộc sống trong tù “cải tạo” của các quân nhân chế độ cũ, và nhất là các anh đã về theo chuyến tàu VNTT sẽ khổ như thế nào.

Lá thư anh gửi từ trại tù Tuy Hòa đã xác định, anh đã trở về.

Tết đầu tiên ở Hoa Kỳ, 1992. (Hình: Tác giả cung cấp)

Tôi lên phòng nhân viên của bệnh viện tôi làm việc, xin điều chỉnh tình trạng chồng mình. Chữ “mất tích” nay đổi thành một địa chỉ lạ hoắc, ở một nơi rừng sâu núi thẳm nào đó miền Trung. Tưởng rằng đã yên cho mình, tưởng rằng không còn cái cảnh gọi lên làm lại lý lịch tôi đã thuộc lòng, với lời nghi ngờ là ông chồng tôi đang ở một nơi nào, đe dọa đến an ninh của chế độ mới.

Bây giờ họ đem chồng tôi để “dụ” tôi vào một công tác mới. Họ hỏi, tôi có muốn đi thăm nuôi anh, có muốn gặp anh? Dĩ nhiên là tôi muốn lắm chứ, nhưng tôi cũng biết dè chừng cái thâm ý của họ.

Đằng sau cái đề nghị ngọt ngào đó, hẳn là sẽ có điều kiện gì đây?

Thì ra, họ muốn tôi làm một thứ “ăng ten” để tìm hiểu về một nhân vật trong bệnh viện mà họ muốn bắt. Tôi tuy còn non trẻ, nhưng cũng đã biết lưu ý kịp thời, để không mắc mưu họ, giữ an toàn cho người ấy và cả cho mình. Cuộc sống bấy giờ, là một sự đối phó, là những cẩn thận và căng thẳng. Rồi cũng qua ngày, tôi tìm quên trong công việc. Trong bệnh viện, ngày ngày có tin người này đi thoát, bạn khác bị bắt. Tôi đã tìm cho mình một hướng đi, dứt khoát ở lại với anh. Chúng tôi chưa có con, tưởng như không có điều chi ràng buộc, nhưng tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, nhất là sự trở về của anh, thì sự dứt khoát kia trở thành một điều không lay chuyển.

Chuyến tàu VNTT về đến hải phận Vũng Tàu từ Tháng Mười, 1975, thế mà chúng tôi chỉ biết đến tin nhau qua vài lá thư, thư đầu tiên từ Tuy Hòa, ngày gửi là Tháng Hai, 1976, thư thứ hai từ Nghệ Tĩnh. Anh đã bị còng tay, giải đi thật xa, đến một nơi nghèo nhất nước, để đói khát, bệnh tật sẽ giết lần mòn nhóm sĩ quan ưu tú của quân đội. Những lá thư được rập khuôn, vài ba chữ hỏi thăm là đã hết, anh chẳng đả động gì đến chuyện đi thăm, sự cô lập trong rừng sâu, sự cô lập với dân quanh vùng và ghê sợ hơn cả là sự cách chia với gia đình.

Anh sống thế nào nhỉ?

Sự chờ đợi mỏi mòn cho đến cuối năm 1978, anh mới báo tin cho tôi đi thăm nuôi. Hai chữ “thăm nuôi” thật giản dị mà đầy ý nghĩa.

Nghĩa là có hai việc trong lần được gặp này: thăm và nuôi. Anh viết thư về, danh sách các thứ “nuôi” dài thậm thượt, với một người gọi là “khảnh ăn” như anh, mà phải liệt kê bao nhiêu món như thế, chắc chắn anh thiếu thốn ghê gớm.

Quãng đường Hà Nội vào Vinh bằng tàu chợ đã là một ám ảnh tôi cho đến bây giờ, xe lửa cho những con buôn đanh đá, cảnh hỗn loạn cho những tay cướp hoạt động, nơi những tay anh chị và đồng bọn hoành hành với những luật chơi riêng của họ. Những chị đi thăm nuôi cứ chết dí, né tránh và chịu đựng. Nói sao cho hết những nhục nhằn chịu đựng trên đường thăm nuôi.

Gia đình, năm 2015. (Hình: Tác giả cung cấp)

Lần đầu tiên gặp lại sau 3 năm xa cách, anh đã trở thành một người khác, cả người sưng phù, khuôn mặt giữ nước trông như mập ra, anh như một người khác trong bộ bà ba đen có lần tôi gửi vào theo đường bưu điện.

Vợ chồng nhìn nhau qua 1 chiếc bàn lớn, xa cách như tội nhân. Chúng tôi tội tình gì nhỉ, muốn nói bao điều, mà chỉ nói bằng ánh mắt. Giờ được thăm loáng cái đã hết, chúng tôi bịn rịn, anh ngay đây mà như một người xa lạ, gặp nhau và chia tay, chỉ yên tâm là chúng tôi vẫn còn sống, ngày mai sẽ ra sao, chẳng ai biết.

Anh quay vào trại, sống kiếp tù đày, tôi trở về lại Hà Nội đợi máy bay vào Sài Gòn. Ra đến Hà Nội mới biết các chuyến bay tạm ngưng vì chiến tranh Tháng Mười Hai, 1978 giữa Việt Nam và Cambodia, tôi kẹt ở lại, tôi đánh điện tín về bệnh viện xin nghỉ, họ không tin, cứ nghĩ tôi đã vượt biên. Sau khi có máy bay trở lại, tôi đi làm và đã bị làm khó dễ không ít với sự việc này. Đất nước đã được rêu rao là “thống nhất,” là hạnh phúc, mà sao vẫn sợ dân mình bỏ nước ra đi?

Cuộc sống ngay cả ngoài tù còn đầy rẫy khó khăn, đói ăn, thiếu mặc, thiếu tự do. Thử hỏi trong tù, nhất là người tù luôn kèm theo bốn chữ Việt Nam Thương Tín, thì khổ thế nào. Bốn chữ ấy có nghĩa là luôn nằm trong sự nghi ngờ của chính quyền, sự thương cảm của bạn bè, sự tiếc nuối có khi tức giận của những người đang tìm đường vượt biên. Riêng tôi, bị nhìn như nguyên nhân chính của sự trở về của anh.

Tôi tự giận mình, quyết định để anh trở về, như đang ở thiên đường mà lại xuống địa ngục. Nhiều khi tôi phải tự tìm ra câu trả lời, là, quyết định lúc nào, là đúng nhất vào lúc ấy, không ân hận và không tiếc gì. Hỏi rằng có ai can đảm như anh, biết trở về là tù đày mà chỉ nghĩ đến một ngày sẽ trở về với gia đình và tôi.

Nhiều bạn anh lúc còn ở Guam, đã ngăn anh trở về, nhưng các bạn mạnh miệng vì họ đang ở trong sự đầy đủ của vợ, con, cha mẹ. Anh tâm sự, có những buổi chiều ở Guam, ngồi ở bãi biển, nhìn đôi chim bay cùng nhau trong nắng xế, nhìn người ta bên cạnh vợ con, tuy chưa biết ngày mai nhưng vẫn ánh lên hạnh phúc vui vầy. Anh đã về vì chẳng có ai trong gia đình anh, gia đình tôi di tản được.

Mãi đến bây giờ, 40 năm sau ngày đau thương ấy, chúng tôi vẫn thấy quyết định quay về là đúng. Chúng tôi hãnh diện khi có người hỏi, có phải anh đã trở về trên chuyến tàu định mệnh, VNTT. Chúng tôi ngẩng cao đầu với niềm tự hào, với sự can đảm khó có của anh, vui với một kết thúc “có hậu” như bây giờ.

Anh ra khỏi tù Tháng Mười, 1982, từ xứ Nghệ Tĩnh rất xa, vào đến miền Nam là cả một lòng thương yêu của dân chúng, họ giúp đỡ, trên đường di chuyển về Sài Gòn. Hai năm sau, chúng tôi có đứa con trai đầu tiên và 3 năm sau, một đứa con trai thứ ra đời khi tôi đã ở tuổi 40. Bạn bè của anh thường lui tới thăm hỏi, nựng nịu hai cháu nhỏ nhất khóa. Chúng tôi muốn sống yên bình, nhưng thấy luôn luôn có những phân biệt, ngăn cản bước tiến của con mình từ phía chính quyền mới. Và năm 1991 bốn người chúng tôi ra đi định cư ở Mỹ trong chương trình H.O., chúng tôi phải làm lại từ đầu, bắt đầu một cuộc đời mới ở một xứ sở mới đã dang tay đón nhận chúng tôi.

Chúng tôi với tuổi thanh xuân, với thời điểm đẹp nhất cho việc tạo dựng một cuộc đời tốt đẹp, lúc ấy, đã bị cướp đi, phải bắt đầu một cuộc đời mới bằng hai bàn tay trắng. Những mất mát ấy, chẳng cách gì lấy lại được. Thật là nhiều thua thiệt, chỉ còn những an ủi là những ngày tháng cuối đời được sống bình an nơi xứ sở này, nơi chúng tôi xin nhận làm quê hương.

Anh đã từ Mỹ, trở về Việt Nam, trải qua 7 năm gian khổ, và 9 năm sau gia đình chúng tôi đã cùng nhau trở lại “thiên đường” tưởng đã đánh mất, sau 19 năm tuổi trẻ, đã qua đi vô ích, tuổi đẹp nhất của một đời người.

Qua những gian khó ban đầu ai cũng phải sống như thế, chúng tôi đã hội nhập được với “dòng chính,” các cháu học hành nên người, cuộc sống không đến nỗi kham khổ.

Để đến bây giờ, chúng tôi vẫn hãnh diện trả lời, “Vâng, chúng tôi là người của chuyến tàu VNTT, con tàu mang tên Định Mệnh, từ Guam trở về Việt Nam Tháng Mười, 1975.”

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Huy Phương/Người Việt

Nhân cuộc phỏng vấn tác giả Trần Văn nhân cuốn sách viết về cựu Trung Tướng Ðặng Văn Quang trên đài SBTN, chúng tôi đã nhận được điện thoại của ông Trần Văn Ðính, thứ nam của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, nhờ chúng tôi viết lại nhiều thông tin trên báo chí chưa rõ hay nói sai, kể lại những ngày cuối cùng của Cụ Trần Văn Hương tại Saigon cũng như câu chuyện liên quan đến Tướng Ðặng Văn Quang. Ông Trần Văn Ðính năm nay đã 87 tuổi, hiện sống tại Nam California, đã là phụ tá đặc biệt cho thân phụ ông trong nhiều năm, từ 1965-1975.

Cụ Trần văn Hương và cháu nội Trần Thủy Vân (1967- 1997)
con gái ông bà Trần Văn Ðính. (Hình gia đình chụp năm 1968)

Hai người con, hai chí hướng

Theo sự trình bày của ông Trần Văn Ðính, ông bà Trần Văn Hương chỉ có hai người con trai.

1. Người con lớn là Trần Văn Dõi, sinh năm 1924 (nhiều người như các ông Hứa Hoành, Huỳnh Văn Lang đã ghi lầm là Trần văn Giỏi – vì Cụ Hương đã có một người em ruột tên Giỏi (1), và nhiều bài khảo cứu dựa theo tài liệu của Mỹ lại không bỏ dấu, mà chỉ ghi là Doi). Khi phong trào kháng chiến nổi lên, đang theo học tại trường “College de Can Tho.” ông Dõi bỏ học theo Việt Minh. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Dõi theo ra Bắc. Năm 1948, ông được gửi theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn và đổi tên là Lưu Vĩnh Châu (lấy họ mẹ), sau này tham gia trận Ðiện Biên Phủ với cấp bậc đại úy Công Binh, là đảng viên cộng sản.

Theo tài liệu, ông Dõi sau khi biết thân phụ mình là phó tổng thống VNCH, đã trình sự việc lên ông Ung Văn Khiêm là tổng trưởng Nội Vụ miền Bắc thời đó. Về phần Cụ Hương cũng đã xác nhận với tình báo Hoa Kỳ về chuyện cụ có một đứa con trai bên kia giới tuyến.

Một thời gian lâu sau khi CS vào Saigon, ông mới được phép đem gia đình (vợ tập kết và hai con, một trai một gái) vào gặp cha, và ít lâu sau dọn về ở với Cụ Trần Văn Hương tại số nhà 216 Phan Thanh Giản (sau này đổi lại Ðiện Biên Phủ). Con trai ông Dõi hiện làm việc tại Saigon và cô con gái hiện sống ở Hungary.

Sau khi Cụ Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ngôi nhà này được chính quyền “cho phép” bán, chia cho gia đình em gái út Cụ Hương và gia đình ông Dõi. Ông Trần Văn Dõi đã qua đời năm 2011 tại quận Tân Bình, Saigon.

2. Người con thứ nhì, là Trần Văn Ðính, sinh năm 1925, chính là người sống với Cụ Trần Văn Hương, làm phụ tá đặc biệt cho Cụ từ năm 1965 cho đến trước ngày bàn giao chức vụ tổng thống cho ông Dương Văn Minh vào ngày 28 tháng 4, 1975.

Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, năm 1955, trước khi Cụ Trần văn Hương theo lời mời của TT Ngô Ðình Diệm ra làm Ðô Trưởng Saigon-Chợ Lớn thì ông Trần Văn Ðính đã tự túc xuất ngoại sang Anh Quốc. Ông đã học và làm việc tại Londre 3 năm, Paris (Pháp) 2 năm và Francfurt (Tây Ðức) 5 năm. Cuối năm 1964, khi Cụ Trần Văn Hương lên làm thủ tướng lần thứ nhất, ông đã được gọi về, như một người thân tín, sống gần gũi, giúp thân phụ làm phụ tá đặc biệt. Ông lập gia đình tại Saigon với một người mà ông đã từng gặp tại Paris 6 năm về trước, ông bà có hai người con, trai là Trần Bảo Danh hiện sống tại Oregon và gái là Trần Thủy Vân trong tấm hình chụp với ông nội trên trang báo này.

Ngày 21 tháng 4, 1975, sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu bàn giao chức vụ tổng thống lại cho Cụ Trần Văn Hương, trước tình hình căng thẳng tại Saigon, Ông Trần Văn Ðính muốn thu xếp cho vợ con rời Việt Nam và ở lại bên cạnh cha, nhưng cuối cùng Cụ Hương không đồng ý đã hối thúc con trai rời Việt Nam cùng với gia đình.

Năm 2005, ông Trần Văn Ðính có về Việt Nam và có gặp anh là Trần Văn Dõi, nhưng ông cho biết anh em xa nhau đã lâu ngày, lại khác chí hướng, không mấy hứng thú để trò chuyện. Hiện nay ông bà Trần Văn Ðính đều đã già, đang sống cô đơn trong một khu mobil home thuộc thành phố Huntington Beach, vì con trai ở xa và cô con gái đã mất năm 1997 vì chứng ung thư máu.

Ông Trần Văn Ðính, 87 tuổi, thứ nam Cụ Trần văn Hương, chụp tại nhà riêng ở Huntington Beach, California. (Hình: Huy Phương)

Túng quẫn nhưng giữ trọn chí khí

Trong tiểu sử của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, không ai nghe nói đến cụ bà đệ nhất phu nhân cũng như trong suốt thời gian Cụ Hương làm việc trong chính phủ VNCH, không ai biết đến bà Trần Văn Hương làm gì ở đâu? Ông Trần Văn Ðính cho chúng tôi biết hai ông bà sống riêng đã nhiều năm một cách tự nhiên, vì không hợp tính, và phần Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không muốn có đàn bà xen vào việc nước. Chỉ trong thời gian cuối cùng ốm đau, bà Trần Văn Hương mới dọn về ở đường Công Lý và mất vào đầu năm 1975.

Chúng ta cũng đã biết trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống cộng sản, Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời tổng thống rời khỏi nước, nhưng Tổng Thống Trần Văn Hương đã khẳng khái trả lời: “Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với dân chúng một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.”

Cụ Trần Văn Hương đã lui về căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây cụ sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời. Theo ông Trần Văn Ðính, đây là căn nhà mà năm 1969, khi rời chức thủ tướng để trao chức vụ này cho ông Trần Thiện Khiêm, không có nhà ở, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cấp cho ông. Tuy mang số 216, đây là một căn nhà nhỏ hẹp, nằm sâu trong hẻm, sau lưng nhà của ông Trần Ngọc Liễng, loại nhà cấp cho các bộ trưởng nhưng vì nhà đã lâu năm, cũ kỹ, xuống cấp, không ở mặt tiền, bị mọi người chê nên mới còn lại. Chính Cụ Hương đã từ chối lời đề nghị cho sửa sang lại vì sợ tốn công quỹ, do đó, ngôi nhà còn yên, sau 1975, không bị CS chiếm như nhưng căn khác, nhưng báo chí CS cho rằng vì lý do nhân đạo nên ngôi nhà này không bị tịch thu.

Theo nguồn tin của CS thì sau năm 1975, Cụ Trần Văn Hương được trợ cấp tem phiếu hạng E dành cho một “cựu tổng thống Ngụy,” nhưng theo lời ông Trần Văn Ðính thì Cụ Hương không có hộ khẩu vì không làm đơn xin “phục hồi” quyền công dân như cụ đã nói: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”

Chính vì thái độ này, mà Cụ bị CS quản chế, không hộ khẩu, làm sao có tem phiếu, ông Ðính nói. Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không bao giờ ra khỏi nhà, ốm đau, không những sống đạm bạc mà còn thiếu thốn. Người chăm sóc tận tình cho Cụ chính là người em rể sống với Cụ. Theo lời một người cháu Cụ kể chuyện với nhà văn Hứa Hoành, đã có lúc Cụ giao cho bà em ra chợ bán một củ sâm Ðại Hàn Cụ còn cất giữ và những bộ đồ vest để lấy tiền mua thức ăn cho cả gia đình. Cụ qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu.

Cụ Trần Văn Hương và một con người khí tiết, yêu nước đã hai lần làm Thủ tướng, phó tổng rồi tổng thống VNCH, đã mất đi trong một hoàn cảnh, gần như bị quên lãng.

*Kỳ Sau: Trần Văn Hương vs. Ðặng Văn Quang

Chú thích:

(1) Người em thứ sáu của Cụ Trần Văn Hương mang họ Lâm, là Lâm Văn Giỏi. Theo lời ông Trần Văn Ðính thì “ông chú này không có khai sinh, nên ông nội lấy khai sinh của người khác cho chú Giỏi đi học.”

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Phượng Vũ

“Ôi ! cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay..”.

(TCS)

“Không ai muốn chết. Thậm chí cả những người muốn tới thiên đường cũng không muốn phải chết để lên được đó. Và cái chết là điểm đến của tất cả chúng ta, không ai có thể trốn thoát…”. Từ ý tưởng trên của Steve Jobs, tôi chợt nhớ đến lời bài thánh ca :”Khi Chúa thương gọi con về, lòng con hân hoan như trong một giấc mơ” (theo ý thánh kinh) nhưng trên thực tế, người ta đã sửa đùa lại: “Khi Chúa thương gọi con về, ngu sao về, ngu sao về?” Nó nói lên 1 thực tế đứng trước cái chết, bản năng sinh tồn trỗi dậy, con người bỗng cảm thấy “Sao mà yêu quá đời này!” nên ai tự tử nhảy xuống sông mà biết bơi, chắc chắn sẽ lo lội lên bờ liền! Ai cũng biết chết là 1 điều chắc chắn sẽ xảy đến cho mỗi người, không ai thoát được và cái chết có thể đến bất chợt, tình cờ như “vết mực nào xóa bỏ không hay”nhưng nguời ta lại cố tình “giả đò ngó lơ” coi như không quen biết nó. Ngày xưa người ta thường tránh nhắc về cái chết, và sợ nói về nó, nhưng trong xả hội văn minh hiện nay, người ta đang nhắc đến nó với luật trợ tử, an tử (như là 1 tin hot). Người ta đòi hỏi phải có 1 cái chết phẩm chất (quality of death). Tin tức phổ biến mới đây cho thấy ở Đức, người ta vừa thông qua luật An Tử để BS có thể giúp nguời bệnh (nhất là những bệnh nhân ung thư hoặc mắc bệnh nan y bất trị gây đau đớn nhiều) có thể chết từ từ và nhẹ nhàng bằng cách cho tiêm thuốc giảm đau tăng liều dần dần để người bệnh bớt đau, bình an rồi từ từ đưa đến cái chết êm đềm. Riêng ở CA đã có 3 dân biểu đệ trình dự luật An Tử. Trước những sự kiện nóng hổi của thời đại hôm nay, chúng ta nghĩ gì về cái chết? và đã chuẩn bị cho mình một cái chết như thế nào chưa? Xin mời các bạn cùng tham dự buổi nói chuyện về “Hành trình cuối đời” của linh mục Nguyễn Thanh Sơn

Tình trạng y tế :

Tinh trạng y tế của Mỹ nói riêng và của thế giới nói chung mỗi ngày một tiến bộ vượt bực . Những phương pháp chẩn bệnh và dự đoán bệnh càng ngày càng tiến triển nhiều như máy MRI ( giá cả vài triệu đô), nhưng bịnh viện nào cũng có thậm chí có BV còn có vài cái, nên chi phí y tế cũng tăng rất cao. Bây giờ bịnh nhân đến phòng mạch BS khám bệnh sẽ được gửi đi lấy test để hổ trợ BS trong việc chẩn đóan bịnh chính xác hơn. Hiện nay người ta có nhiều phương pháp khác nhau để hổ trợ sức khỏe cho con nguời: Trị bệnh, nén bệnh, ngừa bệnh, giữ sức khỏe, dưỡng sinh nhân tạo…diệt bệnh.

Trong thời đại này, đặc biệt tại Hoa Kỳ, số người được sống và chết tự nhiên trong hoàn cảnh an bình ngày càng hiếm. Phần lớn người ta ra đi dần mòn lỡ loét ở viện dưỡng lảo với các thứ bệnh mãn tính hay trong khu đặc biệt ICU (Intensive Care Unit) của bịnh viện, đang khi hồi sinh nhân tạo, hay trên bàn mổ v. v… Riêng ở Mỹ 10% tổng sản lượng quốc gia đổ vào y tế, nhưng phần lớn chi phí khổng lồ này lại dồn về 30 ngày cuối đời ( nó chiếm 90 % tổng số chi y tế).Điều này cho thấy những ngày cuối đời rất quan trọng và nền y tế càng văn minh, người ta càng chú trọng đến giai đoạn này để chuẩn bị cho người bệnh được phục vụ cao nhất , được có thời gian “êm đềm” nhất, trước khi “chia tay cùng đời sống này”! Nó mang 1 ý nghĩa nhân bản sâu sắc kiểu V.N. thường nói “nghĩa tử là nghĩa tận” Nhưng chênh lệch đáng nói là chỉ có 10 % dân số được hưởng sự phục vụ này.

Tư tưởng sai lầm:

– Nhiều người hiểu lầm phúc âm sự sống nghĩa là làm hết sức mình để kéo dài cuộc sống. Chống lại sự chết bằng bất cứ giá nào, dù là chỉ để nằm trên giường thoi thóp. Kiểu Việt Nam mình thường nói “Còn nước, còn tát”, nhưng tát được cái gì? và mục đích tát để làm gì? Cái chết có lẽ là phát minh tốt nhất của sự Sống. Nó là tác nhân thay đổi của cuộc sống. Nó xóa cái cũ để mở đường cho cái mới. Người sống được hết mình luôn sẵn sàng chết bất cứ lúc nào. ( Mark Twain). Quả vậy, tôi biết có những bịnh nhân ung thư can đảm đối diện với cái chết, chờ đợi nó mà không hề sợ hãi hoăc âm thầm tự đi tìm nó (Ca sĩ Q.D)
–– Khi trong nhà có người bệnh, người ta đi cầu khấn đủ nơi, đủ chổ để xin phép lạ chữa lành để tin rằng mình thánh thiện. Thực ra người đạo đức tốt lành không sợ chết. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã kêu gọi mọi người chấp nhận sự chết như là một quy trình tự nhiên “Có sinh có diệt”. Ngài cũng đã từ chối những phương pháp hô hấp và trợ sinh và Ngài đã qua đời an bình tại nhà, không gắn bất cứ ống khí quản hay mổ dưỡng sinh nhân tạo nào. Alfred Adler cũng đã nói: “Cái chết thực sự là lời chúc phúc lớn lao dành cho nhân loại, không có nó không thể có sự tiến bộ. Những người bất tử sẽ không chỉ ngăn trở và làm thối chí người trẻ tuổi, họ còn thiếu đi sự kích thích cần thiết để sáng tạo.” .

Cách nhìn về đau khổ:

– Sống theo nhân phẩm, dùng những ngày cuối đời sống trong an bình, được gặp những người thân yêu. Tâm tình cho hết những điều “không nói được”, những điều làm lòng ta đau đớn, kẻo muộn rồi :

“Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.” (LTH)

Bây giờ là lúc tâm tình cho hết để lòng khỏi “ngậm ngùi”, rồi nhẹ nhàng ra đi bình an.

– Có một số người theo Công Giáo cho rằng chấp nhận đau khổ để “vác thánh giá theo chân Chúa” (ví dụ phải chịu đựng vợ/chồng, con cái. phải chịu đựng ốm đau bệnh tật dày vò…). Không ! điều này không đúng. Ta cần phải tìm cách vượt qua đau khổ, không ai muốn “ôm” thánh giá, “ôm” đau khổ hay đau đớn hết! kể cả Chúa (Ngày xưa ở vườn cây dầu, Chúa cũng đã từng xin Chúa Cha “cho con khỏi uống chén đắng này”).   Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm này: Chúa yêu ta nên mới dựng nên ta, do đó Chúa dựng nên con người để cho con người được sống hạnh phúc chứ đâu phải để chịu đựng khổ đau. Chúng ta đứng ngoài nổi đau đớn nên ta khuyên nhủ dễ dàng vì chúng ta chưa trãi qua những cơn đau đớn, chúng ta chưa “nếm” nó, chưa có kinh nghiệm gì về nó.Nhà thơ N.Du đã từng nói 1 câu vô cùng thấm thía: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”

Đ.G.H Francis mới đây trong cuộc trả lời phỏng vấn về việc ngài có thể bị ám sát, ngài đã trả lời thành thật:

“Chúa là Đấng coi sóc con. Tuy nhiên, nếu ý Chúa muốn con phải chết và họ gây ra cho con một cái gì đó thì con xin Chúa một hồng ân đó là đừng làm cho con bị đau đớn. Vì con là một con người rất nhát sợ khi bị đớn đau về thể lý”.

– Sự chết chính là đau khổ tột đỉnh, cho nên chịu vác thánh giá là chấp nhận sự chết. Chúa Jesus nói “Chịu vác thánh giá là chết với ta” (Tín lý thần học). Cuộc sống là bí ẩn, sự chết là chắc chắn.”Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng sống với Ngài”. Trong bản tuyên ngôn về “tự kết”, Bộ Giáo Lý Đức Tin không những coi việc khước từ những phương pháp kéo dài sự sống vất vưỡng là đúng lương tâm mà còn khuyến cáo là việc lệ thuộc một số phương pháp chữa trị theo khoa học cũng là vô luân.

Những thắc mắc liên quan đến “Hành trình về cõi chết”:

Khi tim bị ngưng đập, con người lập tức đối diện với cái chết, có 3 cách :

– Đi tự nhiên (AND) và Lệnh không hô hấp (DNR) ( 2 cách này tương tự nhau)

– Lệnh hô hấp (CPR)

+ Khi nào cần hô hấp nhân tạo (CPR) máy trợ thở hay mở đường khí quản ?:

– để cho các phương pháp chửa trị có cơ hội giúp bịnh nhân hồi phục

– để có thời giờ chửa bịnh và dự lượng

– để điều quản người hiến cơ phận ( Organ donors)

– để cho gia đình có thời giờ chuẩn bị hay chờ đợi găp người thân ( mua thời gian)

Ngoài ra không phải bất cứ trường hợp nào tim ngưng đập đều cần CPR, với kinh nghiệm tuyên úy trong bịnh viện, cha cho biết CPR không phải nhẹ nhàng giống như trên tivi biểu diễn. Đôi khi rất đau lòng khi nhìn một ông Mỹ to nặng 200 lbs dẫm đạp lên 1 bà cụ VN gấy yếu nhỏ xíu, vì người ta cần phải dùng tới sức mạnh, có khi cần tới cả điện giật để làm cho trái tim như quả bóng xì hơi phải bật lên để đập lại. Có thể cứu được lúc đó, nhưng sẽ chết vài ngày sau, nhất là đối với các cụ già yếu. Có nên phải trả giá sống thêm vài ngày trong hôn mê hay thoi thóp mà thân thể bầm dập, có khi vỡ hết cả lồng ngực, phổi, da bị tím bầm khắp nơi do vỡ mạch máu ?

Nói tới đây tôi chợt nhớ khi làm volunteer cho TT St Alsem, một buổi sáng mọi người trong phòng đang tập thể dục, bỗng nghe 1 tiếng “rầm” ngoài hành lang, 1 ông cụ 80 tuổi đang đi bỗng nhiên bị té và bất tỉnh (ông cụ là thân sinh của ca sĩ Don Hồ). Lập tức 911 được gọi tới, họ làm CPR rồi đưa ông cụ vào nhà thương. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao những nhân viên đi theo xe cứu thương (để làm CPR) luôn là những người trẻ, khỏe mạnh. Tuần sau tôi đại diện TT đến nhà quàn gửi vòng hoa và chia buồn với gia đình. Khi gặp Don Hồ, tôi hỏi thăm về diễn tiến bệnh tình của ông cụ. Don Hồ cho biết:

– Ba em có tỉnh lại nhưng rất yếu, rồi sau đó lại tiếp tục làm CPR thêm mấy lần nữa. Em rất dau lòng khi nhìn cảnh họ làm CPR cho ba, cuối cùng ba em vẫn đi. Nếu em biết như vậy em đã không để ba phải làm CPR để ba đi nhẹ nhàng và bình an thì tốt hơn

Ngay cả việc dùng máy trợ thở hay mở đường khí quản cũng vẫn có những mặt không tốt của nó, nhất là việc bị nhiễm trùng và những phương pháp này thường gây tốn kém rất lón! ( Đó là điều lý giải tại sao 90% ngân sách y tế khổng lồ lại chui vào đây). Có 1 bà cụ khoe với cha tuyên úy là các con bà đã cho áp dụng đủ mọi cách để cứu bà sống lại (bill gửi về giá cả triệu đô). Bà cụ tự hào mạng sống của mình giá cả triêu đô, để bà cụ sống thêm 5,6 tháng nữa. Đó có phải là cái giá đáng phải trả không? chưa kể là tiền chi phí này có thực do các con cụ trả không ? hay phần chắc là do quỹ Medi- Medi trả. Gây hao tốn quá lớn cho ngân sách y tế quốc gia có phải là điều nên làm, nếu thực sự biết nghĩ tới những thành phần khác trong xả hội cũng đang có nhu cầu về y tế. Có nhiều người xài tiền theo kiểu “Của người Bồ tát, của mình lạt buộc”, nghĩa là xài tiền túi của mình thì cân nhắc tiết kiệm tối đa, còn xài tiền của người khác, của công quỹ thì rộng rãi, từ bi như “bồ tát”, nghĩa là xài thoải mái, vô tội vạ vì mình có bỏ ra đồng xu nào đâu!. Tôi nghĩ đây cũng là 1 việc ‘lỗi đức công bằng” nhất là phải tự hỏi mình đã đóng góp bao nhiêu cho đất nước này mà lại muốn nhận quá nhiều như vậy?

+ Khi nào cần đặt ống dinh dưỡng ở mũi hay ở bụng?

– Không có bệnh nặng bất trị

– Có khả năng tiêu dùng dinh dưỡng ( able to process nutrition), nếu thận không có khả năng lọc, người sẽ bị phù to lên

– Không phải ở thời gian cuối đời

Các cụ già hay bị lộn giữa thở và nuốt, đôi khi bị sặc cũng gây chết người. Ngoài ra đặt đường ống qua mũi cũng dễ gây nhiễm trùng khí quản, thường chỉ 2 tuần, đó là chưa kể việc gây khó chịu, vướng víu cho các cụ.

Còn mổ đặt ở bụng thì các cụ già rồi, cái “mớ bòng bong” trong bụng nhiều khi cũng rối tinh. BS mổ xong không biết tìm chỗ nào cho đúng để bỏ ống dinh dưỡng đúng chổ, có khi vì vậy mà lại sinh ra “tai nạn” chết người. Thống kê (2009 – 2010) cho thấy tỷ lệ người sống lâu trong những ngày cuối đời cao hơn, nếu được để yên.

Nhắc tới vụ đặt ống trợ thở và ống dinh dưỡng, tôi lại nhớ đến trường hợp của má tôi. Má tôi bị bệnh đau ở 2 bàn chân, nó gây cho bà khó chịu và đau đớn rất nhiều. Uống thuốc hoài không hết, BS cho biết chỉ còn cách mổ thôi, nhưng bà bị bệnh tiểu đường nên BS cảnh giác là sau khi mổ, tiểu đường có thể gây biến chứng nguy hiểm đến tánh mạng. Các con cố gắng cản ngăn không cho bà mổ, nhưng bà cứ nằng nặc đòi tôi phải gửi tiền về để bà đi mổ. Tôi phải ĐT về nói chuyện với má :

– Con không tiếc tiền gửi về cho má đi mổ, nhưng BS đã cảnh giác má mổ có thể khỏi, nhưng có thể má sẽ đi luôn, má đã suy nghĩ kỹ chuyện này chưa?

– Con ơi! má suy nghĩ kỷ lắm, má già rồi. Nếu Chúa cho sống thì sống mạnh khỏe, còn sống mà đau đớn như vầy má cũng không ham. Con cứ gửi tiền về cho má đi mổ, nếu Chúa thương cho má bình phục thì tốt. Còn không, nếu có chết má cũng chấp nhận, và không tiếc nuối gì nữa.

Trước đó mấy tháng tôi đã mua vé máy bay để mấy mẹ con về VN thăm ngoại vào dịp hè. Tôi muốn các con tôi gắn bó với quê hương, với nguồn cội bằng thực tế và tiếp xúc chứ không bằng hình ảnh hay nghe nói. Thời đó email chưa phổ biến, ĐT vừa đắt vừa khó khăn. Sau khi má mổ tôi gọi ĐT về theo dõi, hỏi thăm từng ngày, thấy tình hình diễn tiến khả quan tốt đẹp tôi cũng mừng. Nghe chị tôi kể lại, má tôi thấy khỏe còn vui vẻ lên kế hoạch khi nào mấy mẹ con tôi về sẽ làm tiệc lớn ăn mừng má mổ thành công. Nghe vậy tôi yên tâm lo chuẩn bị mua sắm hành trang cho mấy mẹ con về VN. Một buổi chiều tôi từ trường về nhận được tờ điện tín với những ký hiệu không thể đọc được, tôi hốt hoảng chạy ra bưu điện : “Má bị hôn mê, sắp chết”. Tôi bàng hoàng, dù đã biết cảnh giác của BS từ trước, tôi quay quắt không biết có nên tự trách mình đã đồng ý cho má đi mổ không?. Tôi gọi ĐT về nhà và được biết chỉ còn 1 hôm nữa là má xuất viện, bỗng dưng tiểu đường gây biến chứng rồi tình hình xấu đi rất nhanh và má rơi vào hôn mê. BS điều trị bó tay và cho chuyển qua BV khác để có phòng săn sóc đặc biệt: tiếp ống dưỡng khí và ống dinh dưỡng. Nhà cần tiền gấp để lo chi phí ở BV mới, tôi phải vội chạy ra nhà băng rút tiền để gửi về nhà. Cả đêm hôm đó tôi gối đầu trên nước mắt trăn trở không biết tôi đã làm đúng hay sai khi chìu theo ý má để má đi mổ? Tôi đã cẩn thận ĐT nói chuyện trực tiếp với má, nghe má trả lời phân tích có lý có tình nên tôi mới chìu theo ý má để má vui. Tôi quan niệm khi ba má ở tuổi già, còn có thể làm được gì cho ông bà vui lòng, tôi luôn làm tối đa, để sau này khỏi ân hận. Tôi biết người già nhu cầu vật chất không cao, ăn uống cũng chẳng được bao nhiêu, nên nhu cầu niềm vui tinh thần là quan trọng nhất nên tôi luôn cố gắng dành thời gian cho ba má. Tôi về VN làm sinh nhật, làm lễ thượng thọ cho ba má, dẫn ba má đi chơi những nơi ba má thích, sau này thì chỉ còn ngồi ăn cơm chung với ba má,lắng nghe ba má tâm tình kể chuyện buồn vui…Tôi làm những chuyện này thấy ba má vui nên lòng cũng vui , vì biết đó là” niềm vui của tuổi già” chứ không phải như có nguời nói “để sau này con cái bắt chước trả hiếu lại như vậy”. Tôi không kỳ vọng để khỏi bị thất vọng về con cái ở xứ Mỹ ( Don’t expect too much from people, the less you expect, the less disappointed you will be ). Sau này tôi nhớ đã đọc được trên Net câu nói nghe đau lòng nhưng thực tế: “Các bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi”

Với ý muốn đem niềm vui và dành thời gian nhiều cho ba má ở tuổi già, nên thời đó tôi về VN “như đi chợ” (có lẽ tôi bị nghèo vì khoản này), nhất là những lúc ba má ốm đau. Bây giờ phải chi má còn tỉnh, tôi sẽ rán bay về! Tôi không thể xin phép nghỉ đi VN bây giờ rồi tháng tới lại đi với các con . Nếu tôi không đi, chúng sẽ bỏ vé máy bay không đi luôn. Tôi ứa nước mắt nhủ thầm : ‘Má ơi, con sắp đem mấy đứa cháu ngoại về thăm má, sao má không chịu đợi tụi con hả má?” nhưng rồi nghĩ lại tôi cũng thấy lòng được an ủi khi nhớ lại lời ba má thường nói với tôi :”Ba má cám ơn con gái đã quan tâm và làm cho ba má vui thỏa hết các nguyện vọng của tuổi già. Bây giờ ba má có chết cũng vui lòng không có gì luyến tiếc. Nếu sau này vì ở xa mà không gặp ba má lúc ra đi thì con cũng không nên áy náy làm gì, ba má hiểu lòng con”. Tối nào tôi cũng ôm ĐT goi về VN nói chuyện với ba, tôi thương ba quá, vì sau khi má đi rồi ba sẽ cô đơn nhiều hơn trong lúc tuổi già xế bóng. Sau hơn 1 tuần tiếp dưỡng khí và dinh dưỡng tình hình má mỗi lúc một tệ hơn, ba tôi kể:

-Tội ngiệp má lắm con ơi! nguời chằng chịt những dây nhợ kim chích khắp nơi, bây giờ lại còn bị phù to lên nữa. Ba còn xót ruột vì mỗi ngày phải tiêu tốn biết là bao nhiêu tiền của con vô trong vụ này

– Ba đừng xót ruột vì tiền, nếu cứu được má con rất sẳn lòng dù có phải đi vay nợ. Ba nhắc chị X hỏi BS kỹ lại xem těnh trạng của má có cňn chút hy vọng gě không?

Hôm sau chị tôi cho biết tình trạng bệnh má, BS chịu thua rồi, rút ống ra thì vài tiếng sau bà sẽ đi. Còn để ống thì không biết đến bao giờ? Có thể bà sẽ ra đi bất chợt lúc nào không biết.

Tôi đau lòng trước tình trạng hiện nay của má, tôi nhớ má đã nói với tôi :”Má chấp nhận chết, không tiếc nuối gì cả”, chắc má không muốn nằm chờ chết dai dẵng khổ sở kiểu này. Đôi khi cần phải tỉnh táo để quyết định, tôi cầu nguyện, suy nghĩ và hôm sau gọi ĐT nói chuyện với ba:

-Ba ơi, tình trạng của má không còn hy vọng gì nữa. Con đề nghị rút ống ra, đem má về nhà, con cháu tụ họp tâm tình nói chuyện với má, đọc kinh cầu nguyện cho má để má ra đi bình an ở nhà, ba thấy sao?

– Ừ ba thấy con nói hợp lý, chứ để má như vầy hoài ba thấy tội quá! bây giờ tay chân má có vài chỗ bị phù, nứt rướm máu.

Nhưng không ngờ đề nghị “rút ống” của tôi bị cô em phản đối quyết liệt : “Như vậy là chị ấy muốn giết má. Chị ấy tiếc tiền nên muốn giết má cho sớm. Giết người là lỗi luật Chúa, là phạm tội…người ta nói “còn nước, còn tát”…” Trời ơi ! tôi nghe kể lại mà tim nhói đau như có ai bóp nghẹt, khi bị gán cho cái tội “muốn giết má” Chúa ơi, nghe sao mà “lòng đau, rạn vỡ”! Ba tôi và chị tôi nghe phạm tội “giết người” thì sợ quá, không dám có ý kiến. Tôi không hề sợ phạm tội giết người, tôi tin Chúa nhân từ thấu hiểu lòng tôi : Tôi không muốn má ra đi bất chợt trong phòng bịnh viện cô đơn lạnh lẽo,với đủ thứ giây nhợ, kim chích chằng chịch, máy móc chung quanh. Ai cũng sợ cái chết, nhưng chết trong khi thân xác mình bị hành hạ và tâm hồn không được bình an thì lại càng đáng sợ hơn. Tôi muốn má được về ngôi nhà thân yêu của mình, nằm nhẹ nhàng bình yên đó nghe con cháu vây quanh nói lời từ biệt, tôi sẽ gọi ĐT về nói chuyện với má, tôi tin má sẽ nghe được lời tôi nói ( có 1 mối giây linh thiêng để người dù hôn mê vẫn nghe được người thân yêu nói với mình, tôi đã có kinh nghiệm này), rồi mọi người cầu nguyện cho má để má ra đi nhẹ nhàng bình an. Nhưng bây giờ tôi không được quyền có ý kiến, tôi chỉ biết im lặng nhẫn nhịn và cầu nguyện.

Vài hôm sau có một Soeur, bạn của cô em đến thăm, nhìn thấy tình trạng của má tôi, bèn nói với cô em: “Sao Chúa đã muốn gọi bà về, không để cho bà ra đi nhẹ nhàng mà còn rán “níu kéo” chi để bà phải chịu đựng khổ sở như vầy! Tội cho bà quá!”. Lúc đó cô em tôi mới ngộ ra và chịu cho rút ống.

Tôi kể lại chuyện này vì có nhiều người đức tin chưa trưởng thành hiếu sai lệch, cứ tưởng là sự sống Chúa ban càng kéo dài càng tốt và chống lại cái chết cho tới cùng. Cha giảng thuyết đã nhấn mạnh : “Tất cả những gì trái với tự nhiên để cắt ngắn sự sống hay để kéo dài sự sống đều là trái với tín lý giáo hội” Bạn thân tôi theo đạo Phật cho rằng nếu đã tới giờ ra đi, mà không đi được thì linh hồn sẽ rất đau khổ, như bị “đọa”, tôi chỉ nhìn thân xác với đủ loại kim, ống, dây nhợ, rồi lỡ loét cũng đủ thấy quá khổ đau rồi.Ngày nay vì lý do nhân đạo và luân lý người ta khuyên không nên kéo dài sự sống, hãy để người bệnh ra đi thuận theo tự nhiên là tốt nhất

Khi nào từ chối những phương pháp trị liệu?

– Khi quá nặng nề, người bệnh bị công kích nhiều, hay bất cân xứng ( tốn quá nhiều tiền)

– Khi cần giảm bớt các triệu chứng đau đớn, khó chịu

– Binh viện làm gì khi sự chết gần kề? – Làm giảm đau và bớt áp lực tâm lý. Hiện nay các trường đại học y khoa ở Mỹ, các BS chuyên khoa về những ngày cuối đời được đào tạo riêng để họ rành về tâm lý, an sinh

+ Khi nào dùng chuyên khoa An Trị (when is Palliative care approriate?).

Khi không còn chữa bệnh được nữa, An Trị trở nên một tiến trình giúp bệnh nhân ra đi một cách an bình và tự nhiên, giúp xoa dịu nỗi đau của bịnh nhân. Chuyên khoa này mới có ở Mỹ khoảng 10 năm nay : Cho bịnh nhân có quyền chọn cách an trị, chọn ưu tiên cho cơ thể và tâm trí thoải mái hơn là chữa bịnh:

– Lúc đầu mới nhập viện: Chữa bịnh – An Trị ; Lúc sau thì ưu tiên đảo ngược : An trị – Chữa bịnh

– Khi sự chết gần kề An trị càng được nâng cao (kill the pain not kill the patient)

+ Khi nào cư trị? (When is hospice approriate?)

Trong vòng 6 tháng của thời kỳ cuối đời tạo một không gian êm đềm giúp bệnh nhân thoải mái tối đa, không sợ hãi, luôn trông cậy. Đây là lúc quan trọng của vai trò tôn giáo để giúp bệnh nhân yên lòng ra đi về thế giới mới. Mục vụ bịnh nhân (Pastoral Care) là “Trung tâm điểm của giáo hội Công Giáo” nhưng còn quá nhiều thiếu sót, nên cần sắp đặt lại ưu tiên cho người bệnh, kẻo đi ngược lại với truyền thống giáo hội. Ngày xưa giờ chót của Chúa, ngài cũng kêu gọi môn đệ hãy thức tỉnh với ngài, hãy ở cùng ta vì lòng ta buồn sầu đau đớn. Đây là lúc nguời bệnh cần sự ủi an và nâng đỡ tinh thần nhiều nhất về phương diện tâm linh.

Người thân có đồng hành với bệnh nhân không? Đây là giai đoạn quan trọng trong đời, người bệnh cần đến sự có mặt, cần đến tình thương của những người thân yêu ở cận kề bên để người bệnh cảm thấy ấm áp với tình thân chung quanh, chứ không phải đợi chết xong rồi lo làm ma chay đình đám, khóc lóc thương tiếc.

Bạn đã để lại “Di chúc y tế” chưa?

Theo thống kê chỉ có 5% dân Mỹ để lại “Di chúc Y Tế”, Việt Nam thì chắc còn ít hơn nữa 1%?

Ai cần để lại “Di chúc y tế?’ Thưa tất cả mọi người, vì không ai biết mình sẽ ra đi lúc nào? ngay cả người trẻ tuổi, cha cho biết hiện nay bịnh viện UCI có tới 8 unit ICU (hơn 1/3 bịnh viện) Những người vào ICU rồi, đa số đều “ra đi không trở lại” và tỷ lệ người trẻ chiếm hơn 70%, cỡ khoảng 50 tuổi là nhiều nhất. Cha cho biết dạo này người trẻ bịnh chết nhiều lắm. Vậy “Di chúc y tế” không phải chỉ cho người già mà cả người trẻ vừa và rất trẻ cũng đều cần như nhau.

Khi được đưa vào bịnh viện câu hỏi đầu tiên là bạn đã có “Di chúc sức khỏe” (Advance Health Care Directive) chưa? Nếu có rồi thì moi việc sẽ tuân theo ý kiến của bạn trong đó mà thi hành ( vì đây là luật) Ở Mỹ mọi thứ đều phải ghi xuống giấy, ký tên rõ ràng chứ không thể nói bằng miệng được. Nếu không có nó bạn sẽ gặp nhiều rắc rối mà bạn không ngờ tới: trước những quyết định quan trọng về điều trị, không biết ai là người có thẩm quyền chính, nhiều phiền phức tranh chấp có thể xảy ra. Ngoài ra bạn còn có thể bị “dụ dỗ” với những cách điều trị mà bạn không hề thich trước đó, hay có thể bạn sẽ bị “cư xử” với những điều mà bạn không hề muốn như trường hợp : con gái duy nhất của danh ca Whitney Houston mới 22 tuổi vừa nhận được gia tài của mẹ để lại khoảng vài chục triệu đô chưa được bao lâu thì cô bị stroke, hôn mê, cô không để lại di chúc y tế, nên tình trạng sức khỏe của cô không ai thay cô quyết định được hết ( kể cả thân nhân của cô ). Vậy bạn hãy khôn ngoan chuẩn bị cho mình một kế hoạch để đến một noi mà chắc chắn bạn sẽ đến và phải đến như một “hẹn hò lần cuối” không từ khước được

Bạn có thể lên http://www.agingwithdiginity.org để order “Five Wishes” (5 nguyện vọng), có bản tiếng Việt và điền vào ngay hôm nay. Năm nguyện vọng là một dụng cụ truyền thông tốt cho bạn và gia đình, bạn bè và bác sĩ để nói về mong muốn của bạn. Nó bảo vệ người thân tránh sự lựa chọn khó khăn khi không biết mong muốn của bạn. Ngoài ra bạn có thể hiến tặng bất kỳ cơ phận thân thể mình như một kỷ niệm để lại cho đời, sau khi bạn đã “chia tay với đời sống này”. Nó độc đáo ở chỗ cho phép bạn nói với những người thân yêu của bạn những điều mà bạn khó nói bằng lời, và giúp cho bạn bày tỏ ý kiến bạn muốn được ghi nhớ hay lễ tưởng niệm ra sao? bạn muốn mặc bộ áo nào ? hoặc bạn có thể nêu tên 1 bài hát, 1 bài thơ… mà bạn yêu thích đặc biệt và muốn được nghe nó trong buổi tiển đưa bạn…vì đây là buổi “hẹn hò lần cuối” của bạn với cuộc đời, hãy để nó diễn ra như ý bạn thích. Lúc này đây bạn có thể tự do bộc lộ tình yêu chất chứa trong tim bạn vì “Tình yêu là thứ duy nhất chúng ta có thể mang theo mình khi ra đi, và nó khiến kết thúc trở thành dễ dàng”

Cầu chúc bạn có một “hẹn hò lần cuối” đẹp như mơ, êm đềm, như ý và lãng mạn :

“Xin vĩnh biệt mọi người.
Tôi ra đi lần cuối không bao giờ trở lại.

Tôi đã choàng vào vòng hoa tươi.
Đã khoác vào chiếc áo tân hôn.
Đây là giờ tôi đến với Người.
Mang theo chỉ có mỗi con tim.”

(T.C. phỏng theo thơ Tagore)

Phượng Vũ

( Buổi nói chuyện của L.M. Nguyễn Thanh Sơn)

Giảng sư trường Y khoa Đại Học UCI, Tiến sĩ Thần Học Luân Lý

Linh mục Trưởng Phòng Tuyên Úy Bịnh viện UCI

Mẹ Nấm được trao giải Người Bảo Vệ Quyền Dân Sự

Mẹ Nấm được trao giải Người Bảo Vệ Quyền Dân Sự

2015-04-10

menam-622.jpg

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Photo: RFA

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là nhân vật được tổ chức Civil Rights Defender trao giải Người Bảo vệ Quyền Dân sự năm nay.

Tổ chức này công bố như vừa nêu vào hôm qua 10/04/2015.

Theo Civil Rights Defenders Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một điều hợp viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam. Bản thân cô được nhiều người trong nước biết đến qua hoạt động sử dụng các công cụ mạng xã hội để tố cáo bất công, nhũng lạm cũng như tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Tôi không muốn con cái tôi phải tranh đấu và làm những điều mà tôi đang phải làm hiện nay.
Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được Civil Rights Defender đánh giá là bất chấp nguy hiểm cho bản thân, cô dấn thân ra ngay tuyến đầu hoạt động nhân quyền tại Việt Nam. Sự sáng tạo và cởi mở của bản thân cô khi khai sinh ra căn cứ mới cho quyền tự do bày tỏ và nói thay cho những người không thể lên tiếng đã tạo ra một nguồn động lực.

Câu nói được chú ý của cô là ‘tôi không muốn con cái tôi phải tranh đấu và làm những điều mà tôi đang phải làm hiện nay’.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hiện đang là một trong những bloggers của Đài Á Châu Tự Do.

7 câu chuyện khó tin nhưng có thật

7 câu chuyện khó tin nhưng có thật

Nguoi-viet.com
Có những trùng hợp khó mà giải thích được bằng lý luận thường tình, mà chỉ có thể mượn hai chữ “số mệnh”. Sau đây là 7 câu chuyện “nghe mà rùng mình” chứng minh điều này.

Bạn có tin vào số mệnh? (Hình minh họa: Getty Images)

1. Đi tảo mộ, cả gia đình bảy người chết đuối

Một gia đình đi tảo mộ thân nhân trong dịp lễ Thanh Minh ở vùng Nam Trung Quốc đã bị chết đuối khi một cô gái 17 tuổi trong nhà rơi xuống hồ nước trong khi rửa tay sau lễ bên phần mộ tổ tiên trong ngày lễ Thanh Minh. Sáu người thân trong nhà nhảy xuống tìm cách cứu cô, chết theo. Chính quyền thành phố cho hay rằng không ai trong số các thân nhân là người bơi giỏi nhưng họ cố tìm cách cứu cô. Cô gái và cả cha mẹ cùng các em, tuổi từ 13 đến 15, đều thiệt mạng.

2. Xe lao xuống sông, mẹ chết, cảnh sát nghe tiếng kêu cứu bí ẩn quanh bé 18 tháng tuổi

Hai mẹ con tới thăm ông bà ngoại ở thành phố Salem và gặp tai nạn trên đường trở về nhà. Chiếc xe chở mẹ con nạn nhân lao vào rào chắn bê tông rồi chệch khỏi cây cầu và lao xuống sông. Người mẹ chết tại chỗ. Chiếc xe lật ngược, bé gái 18 tháng tuổi trong ghế an toàn không chết đuối trong nước. Một ngư dân phát hiện ra chiếc xe và gọi cấp cứu. Cảnh sát cho hay đứa trẻ được tìm thấy trong tư thế treo ngược, khi nước chảy qua xe. Chiếc xe không bị cuốn đi vì nước đã tràn vào bên trong. Sông lạnh tới nỗi ba cảnh sát và bốn nhân viên cứu hộ bị giảm thân nhiệt. Vậy mà bé vẫn sống sót trong nhiệt độ này sau hơn 14 tiếng đồng hồ. Cả bốn nhân viên cứu hộ đều khai rằng họ nghe tiếng một người lớn phát ra từ trong xe, cầu cứu “Help Me!”, dù người mẹ đã chết nhiều giờ trước đó và không có ai khác ở hiện trường.

3. Chết ba con nhỏ, lại sinh ba tương tự

Em Kyle đang trên đường mừng sinh nhật thứ 5 của mình cùng gia đình và hai em gái, bốn tuổi và hai tuổi. Trên đường về, một xe tải tông vào, khiến cả ba trẻ ngồi phía sau chết tại chỗ. Đau khổ, cả cha và mẹ không dám ở gần bất kỳ trẻ em nào vì sợ nghĩ đến những đứa con xấu số. Ba tháng sau, hai vợ chồng quyết định vượt qua quá khứ để hướng về tương lai. Họ thụ tinh nhân tạo. Kết quả hiện lên trong sự bất ngờ: có ba trứng kết tinh thành công, gồm một trai và hai gái. Hai vợ chồng chia sẻ: “Ashley, Elie và Jake không thay thế Kyle, Emma, và Katie. Gia đình chúng tôi luôn nhớ đến và mãi thương yêu Kyle, Emma, và Katie.”

4. Mạng đổi mạng, dù sớm hay muộn

Khi ông Henry Ziegland chia tay người bạn gái, cô này đau buồn và tự vẫn. Anh trai cô giận dữ, tìm đến ông Ziegland và bắn ông trước khi tự vẫn. Không ngờ, ông Ziegland chỉ bị thương nặng và được cứu sống. Viên đạn chỉ xướt qua mặt ông, sau đó bay ghim vào một cây cổ thụ gần đó. Nhiều năm sau đó, ông Ziegland vì một lý do nào đó đã quyết định phải cưa đổ cây này. Cây quá vững chắc, không thể dùng sức người chặt được, ông Ziegland đặt một lượng thuốc nổ nhỏ để phá hủy cây. Đáng tiếc, khi cây nổ, viên đạn cũ văng ra, bắn vào đầu ông Ziegland. Ông chết tại chỗ.

5. Sự trùng hợp kỳ lạ của cặp song sinh

Nhiều cặp song sinh thường có nhiều điểm trùng hợp trong cuộc sống, nhưng với hai anh em ông James, sự trùng hợp này đạt đến mức kinh ngạc. Người mẹ của cặp song sinh không nuôi nổi con, đồng ý cho hai gia đình khác nhận nuôi. Từ đó, giữa hai anh em không hề có bất kỳ liên hệ gì. Cho đến một hôm, một trong hai anh em được ba mẹ nuôi cho biết là có song sinh khi ra đời. Anh James khi đó hơn 40 tuổi, đi tìm người còn lại, và kết quả là: người còn lại cũng được đặt tên là James, cũng theo nghề cảnh sát, cũng giỏi nghề vẽ và làm mộc, cũng cưới vợ có tên Linda, cũng có hai con trai và đặt tên là Allan và Alan, cũng ly dị vợ và cưới vợ mới tên là Betty, cũng nuôi một con chó tên là Toy/

6. Khi sự thật từng là tiểu thuyết

Vào thế kỷ 19, nhà văn nổi tiếng chuyên viết truyện kinh dị Egdar Allan Poe viết một cuốn sách có tên “Tự truyện của Arthur Gordon Pym”. Sách tả về chuyến đi của một chiếc thuyền bị tai nạn nhiều ngày, chỉ còn bốn người sống sót cuối cùng. Ba người quyết định giết và ăn thịt người thủy thủ trẻ có tên Richard Parker. Nhiều năm sau đó, vào 1884, một chiếc thuyền có tên Mignonette bị nạn và được phát hiện với bốn người sống sót cuối cùng. Ba người thủy thủ lớn tuổi hơn đã quyết định giết và ăn thịt người thủy thủ trẻ nhất. Người nạn nhân có tên Richard Parker.

7. Sự kỳ lạ sau bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ

Benjamin Franklin, John Adams, Roger Sherman, Robert Livingston và Thomas Jefferson là năm người có công biên soạn bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Ông Jefferson viết bản nháp, đưa cho ông Adams là người đầu tiên xem qua. Hoa Kỳ tuyên bố độc lập vào ngày 4 Tháng Bảy năm 1776. Cả hai ông Jefferson và Adams cùng qua đời 50 năm sau, vào đúng ngày 4 Tháng Bảy năm 1826.

(T.A.)

Phim VietnAmerica – Câu chuyện của tập thể người Việt tị nạn

Phim VietnAmerica – Câu chuyện của tập thể người Việt tị nạn

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Phim tài liệu VietnAmerica, tiếng nói từ kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của những người Mỹ gốc Việt, dựa vào công trình nghiên cứu trên 10 năm của 20 nhà nghiên cứu và hàng ngàn thiện nguyện viên, sẽ chính thức ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 17 Tháng Năm, 2015 tại Saigon Performing Art Center, 16149 Brookhurst St. Fountain Valley, CA 92708.

VietnAmerica dài 90 phút, được hình thành từ chương trình “500 Lịch Sử Truyền Khẩu” (500 Oral Histories Project) do hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) thực hiện với người đứng đầu là ký giả Triều Giang.

Vietnamerica được thực hiện bởi đạo diễn Scott Edwards và do Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt sản xuất dưới sự điều hành của nhà sản xuất Nancy Bùi, tức nhà báo Triều Giang.

Nhà sản xuất Nancy Bùi, tức nhà báo Triều Giang, cùng poster quảng cáo phim VietnAmerica. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

****

Về lý do đưa đến quyết định thực hiện cuốn phim tài liệu này, bà Nancy cho biết:

“Trong quá trình thực hiện chương trình phỏng vấn 500 nhân vật trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, để tìm hiểu những dữ kiện lịch sử, vẽ lại chân dung người Mỹ gốc Việt, cũng như những kinh nghiệm cá nhân của người được phỏng vấn về cuộc chiến Việt Nam, về hành trình đi tìm tự do, những nỗ lực và đóng góp của họ vào đất nước Hoa Kỳ, chúng tôi có được những video clip nhỏ 5-10 phút và kết quả mang lại từ những clip này rất khả quan, nó đưa được đến với cộng đồng nhiều hơn là bằng sách vở. Nhất là với các cuộc phỏng vấn không chỉ có người trong cuộc khóc, người được phỏng vấn khóc, người phỏng vấn khóc mà cả các em quay phim cũng khóc, vì những câu chuyện quá xúc động.”

“Thế nên chúng tôi nghĩ đến chuyện phải làm phim vì thời buổi này các phương tiện truyền thông phim ảnh quá hiệu quả mình không thể bỏ qua được. Chúng tôi mất gần 2 năm để hoàn tất cuốn phim này, nhân dịp 40 năm người Việt Nam tị nạn đến đây. Riêng phim ‘Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa’ (Master Hoa’s Requiem) thì hoàn thành từ Mùa Thu năm ngoái.” Bà Nancy nói thêm.

“Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa” dài 18 phút, là một phần của phim VietnAmerica, được thực hiện nhằm mục đích đưa vào chương trình giáo dục ở các trường học trung học, đại học tại Hoa Kỳ.

Cũng theo lời bà Nancy, “Phim ngắn ‘Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa’ được gửi đến 18 đại hội điện ảnh và được 11 nơi chọn chiếu, thắng được 2 giải Phim Tài Liệu HayNhất tại Đại hội Điện ảnh Asian On Film và Mùa Thu 2014 và giải Remi Award tại Đại hội Điện ảnh Quốc tế WorldFest ở Houston. Đây là điều chúng tôi không hề mong đợi khi bắt tay làm phim.”

“Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa” cũng sẽ được chiếu tại Đại Hội Điện Ảnh Viet Film Festival 2015, ngày Thứ Sáu, 17 Tháng Tư, lúc 2 giờ trưa.

Với VietnAmerica, người xem sẽ bắt gặp từ trong lòng chiếc phi cơ di tản vội vã, đến chiếc thuyền rách nát, đầy chết chóc trên biển cả, từ chiếc trường đầy máu lửa tại khu rừng Cambodia, đến trại tù đói khổ, nhục nhằn đầy thù hận và tuyệt vọng, những nhân vật trong Vietnamerica, bao gồm Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, kỹ sư Dương Nguyệt Ánh, võ sư Nguyễn Tiến Hóa, ông Trần Tú Thanh, nhạc sĩ Trúc Hồ, nhà văn Dương Thu Hương, bà Khúc Minh Thơ, sẽ chia sẻ những câu chuyện chưa bao giờ được kể lại. Các nhân vật chính này cũng chính là những người được tuyển lựa từ chương trình “500 Lịch Sử Truyền Khẩu” nói trên.

Cũng trong tâm tình của một người luôn suy tư về vấn đề “Nếu chúng ta không kể về lịch sử của chúng ta, thì ai sẽ kể đây?’, bà Nancy nêu ra những khó khăn trong quá trình thực hiện VietnAmerica khi mà các hãng phim đều tấm tắc cho rằng đây là kịch bản hay nhưng “họ bảo chúng tôi đừng đùa, phải về kiếm tiền trước đã rồi mới làm phim được.”

Sau cùng, với sự giúp đỡ của hãng phim Edwards Media, nơi toàn những người trẻ, họ đã có thể thực hiện cuốn phim với chi phí $350,000 và “vừa làm vừa gây quỹ.”

“Nhưng trong 2 năm chúng tôi làm tất cả chỉ kiếm được $200,000. Cuối cùng một người bạn đồng ý cho vay $150,000 để hoàn thành cuốn phim tài liệu này. Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ, tiếp sức thêm của mọi người vào công việc xây dựng và bảo tồn văn hóa người Mỹ gốc Việt.” Ký giả Triều Giang nhắn gửi.

Chia sẻ cảm nghĩ cá nhân về cuốn phim Vietnamerica sắp ra mắt, bà Nancy cho rằng, “Những tưởng mình làm việc quá lâu với những tài liệu này thì tình cảm sẽ trở nên bình thường, không còn nhiều cảm xúc. Vậy mà khi xem phim, tôi cũng không ngăn được xúc động. Hy vọng khán giả cũng cùng niềm cảm thông như tôi, để hiểu về lịch sử của những người từng chịu bao đau thương, khốn khổ, mất hết gia đình, người thân, của cải, ruộng vườn, mất cả đất nước, sang đây bắt đầu cuộc đời bằng những cảnh đầy nước mắt nhưng 40 năm sau cộng đồng của chúng ta đã không muối mặt để có thể nhìn thẳng vào người bản xứ mà nói rằng sự đóng góp của người tị nạn Việt Nam cũng rất đáng tự hào.”

Do Little Saigon tại Quận Cam được xem là thủ phủ người tị nạn Việt Nam, nên VietnAmerica được chọn trình chiếu đầu tiên tại nơi này vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 17 Tháng Năm, 2015 tại Saigon Performing Art Center.

Muốn biết thêm chi tiết, quý vị có thể liên lạc với Mỹ Hương (714) 754-0911, (714) 492-9672.

Liên lạc tác giả: NgocLan@nguoi-viet.com