Tại sao người Mỹ lương cả trăm ngàn đô la nhưng vẫn khoác lên chiếc áo vài chục đô la

 

 Tại sao người Mỹ lương cả trăm ngàn đô la nhưng vẫn khoác lên chiếc áo vài chục đô la

Người Mỹ không những kiếm tiền giỏi, mà cách tiêu tiền của họ cũng khiến người ta nể phục.

Đa số người Mỹ thường không thể hiện sự giàu có, họ dùng tiền để trang trải cuộc sống của bản thân, chăm sóc người thân và gia đình.

1
Tổng thống Mỹ Obama cùng con gái ăn kem rất giản dị. (Ảnh: Internet)

Bài viết của một người Trung Quốc chuyển đến Mỹ sinh sống, được đăng tải lại trên trang Secret China.

Gia đình Cameron sống ở căn nhà đối diện nhà tôi là một gia đình trung lưu điển hình ở Mỹ. Người chồng Antony là quản lý cấp trung của một công ty tài chính, vợ anh Meryl là giáo viên tiểu học, thu nhập thuộc giai cấp trung lưu. Nhưng mỗi lần nhìn thấy đôi vợ chồng này, tôi luôn nhận thấy cách ăn mặc của họ đều không khác gì người bình thường cả.

Cuối năm 2008, những người ở khu tôi sống muốn tổ chức tiệc mừng năm mới, đây cũng là lần đầu tiên tôi tham gia các hoạt động xã giao, vì thế tôi đặc biệt bỏ 300 USD thuê một bộ lễ phục thương hiệu Prada (một thương hiệu trời trang cao cấp và xa xỉ bậc nhất nước Ý), hy vọng cách này có thể giúp tôi hòa nhập.

Tôi nghĩ hẳn Meryl cũng sẽ thể hiện “thực lực” ẩn giấu của cô ấy ở nơi như vậy. Nhưng tối hôm đó, cô ấy chỉ mặc một bộ lễ phục thương hiệu CK màu xanh nhạt khiến tôi rất bất ngờ. Và Meryl giải thích việc cô ấy chọn hiệu CK là vì nó phù hợp với tầng lớp trung lưu như cô ấy.

Meryl đã dùng một phép ẩn dụ như sau: dù chim trĩ có khoác lên mình một bộ lông sặc sỡ thì nó cũng sẽ không trở thành chim công được.

Thật ra, người Mỹ cũng không phải là không thích các nhãn hiệu đắt tiền, nhưng người tiêu dùng đa số chỉ hạn chế trong một nhóm người nhất định mà thôi, ví dụ như giám đốc công ty, những quý bà trong giới thời trang, minh tinh điện ảnh, vận động viên chuyên nghiệp v.v… Người Mỹ không có cách nói “sĩ diện”, người ta sẽ không vì lòng hư vinh mà tốn nhiều tiền lương mua một đôi giày hiệu LV. Không chỉ người trưởng thành như vậy mà giới trẻ cũng hoàn toàn không quá xem trọng hình thức.

Có một lần tôi gặp con trai Mike của Meryl ở siêu thị, thấy cậu bé đang chăm chú chọn những quần jean giảm giá. Tôi hỏi cậu vì sao không đến cửa hàng chuyên bán để mua những kiểu mới ra, câu trả lời của Mike khiến tôi ấn tượng rất sâu sắc:

“Mẹ cháu không phải là người giàu có gì, dù cho cháu có mặc quần Levis kiểu mới nhất thì cũng sẽ không trở thành “cậu ấm”. Hơn nữa sau 18 tuổi cháu còn phải kiếm tiền tự nuôi bản thân mình nữa, khi đó sẽ càng không có tiền mua đồ hiệu nữa đâu, cho nên như bây giờ rất tốt rồi ạ”.

Thấy Mike thản nhiên mà thỏa mãn như vậy, tôi cũng bắt đầu tiếc số tiền 300 đô mà tôi đã dùng để thuê bộ đồ hiệu Prada kia, thích thể diện quả thật là lãng phí.

Cá tính và phẩm giá

Dần dần tôi nhận ra sở dĩ người Mỹ không quá ham mê hàng hiệu còn có một nguyên nhân khác, đó chính là ở Mỹ thật sự mua hàng hiệu quá dễ dàng, người ta có rất nhiều sự lựa chọn. Có một năm trước Giáng sinh, tôi đi mua sắm ở trung tâm thương mại Macy cùng cô đồng nghiệp Jenny. Bởi vì từ lâu đã nghe nói Jenny thừa hưởng tài sản lớn từ gia đình, bình thường cách tiêu tiền của cô ấy cũng không giống người bình thường, vì thế tôi rất tò mò cô ấy sẽ mua quà đắt tiền gì cho chồng và con trai. Cô ấy nhanh chóng chọn được hai cái khăn quàng cổ cho nam.

Tôi cầm mác giá xem thử, quả thật là không hề rẻ, không hề thua kém nhãn hiệu Burberry nổi tiếng gần đó. Tôi hỏi Jenny: “Giá đã tương đương nhau, sao cô không mua khăn hiệu Burberry cho chồng?”. Jenny nhìn tôi bằng ánh mắt khó hiểu, cô ấy lấy chiếc khăn ra, nói một hồi về màu sắc, hoa văn, kiểu dáng cho đến chất liệu. Cuối cùng, cô ấy hỏi tôi:“Giá thì tương đương nhau, nhưng giá trị thì không hề giống, nếu là cô thì cô sẽ chọn cái nào? Đương nhiên là cái có chất lượng tốt rồi. Tại sao tôi lại phải bỏ tiền ra mua những món hàng có giá nhãn hiệu đắt tận trời như thế làm gì?”. Cô ấy nói khiến tôi không biết nói gì hơn, người Mỹ chú trọng hiện thực, không quan tâm đến hư vinh, điều này thật sự tôi phải học hỏi.

Thật ra, người Mỹ không muốn dùng hàng hiệu để phủ lên người còn do một nguyên nhân sâu xa nữa, đó là từ khi sinh ra, họ đã đặt cái tôi cá nhân cao hơn mọi thứ, họ thích thể hiện cá tính, nổi trội, thích làm cho mình càng không giống với người khác càng tốt. Nếu chọn những món hàng hiệu đó thì hiển nhiên sẽ không thể giúp họ thể hiện được mục đích này.

Tháng 6/2012, công ty của chồng tôi tổ chức một buổi tiệc từ thiện, tôi cũng được mời.

Vì nghe nói 2 nhân vật nổi tiếng lừng lẫy Warren Buffetts và Bill Gates đều có tên trong danh sách khách quý, nên tối hôm đó tôi đã nhân cơ hội hai lần đứng gần để quan sát cẩn thận cách ăn mặc của hai “nhân vật chính” này, tôi nhận ra dù là Buffets hay Bill Gates thì đều chọn những bộ vest đứng đắn, phù hợp.

Warren Buffetts và Bill Gates. (Ảnh minh họa, nguồn: Daniel Acker/Bloomberg)
Warren Buffetts và Bill Gates. (Ảnh minh họa, nguồn: Daniel Acker/Bloomberg)

Tôi kéo tay Sophie là vợ của đồng nghiệp chồng tôi, hỏi cô ấy thương hiệu đồ vest của Buffetts và Bill Gates là gì, kết quả là biên tập thâm niên của tạp chí thời trang này cũng không biết, không tìm được xuất xứ của chúng. Nhưng mà Sophie cũng đã phân tích và giải thích một cách rất có lý: những nhân vật như Buffetts và Bill Gates, hoàn toàn không cần mặc những bộ quần áo thương hiệu nổi tiếng để khẳng định danh tính, họ đều là những người trầm tính trong giới từ thiện, nếu mặc quần áo của thương hiệu Zegna thì lại quá tầm thường rồi.

Cá nhân và gia đình

Càng tìm hiểu về cuộc sống của người Mỹ, tôi càng cảm thấy giá trị quan về tiền bạc của họ không giống người khác. So với những người Trung Quốc thích dùng những thứ xa xỉ thì người Mỹ lại thích dùng tiền để “đầu tư” vào việc thắt chặt tình cảm gia đình và xây dựng nền tảng gia đình.

Tiffany là huấn luyện viên ở phòng tập mà tôi hay tới, trong cuộc sống hằng ngày, cô ấy luôn mặc quần áo rất giản dị, rẻ tiền, vì thế tôi đã tròn mắt há miệng khi cô ấy nói với tôi rằng đã mua cho mỗi người trong nhà một bộ đồ bóng bầu dục có giá 400 đôla để đi xem trận đấu của đội Denver Broncos.

Tôi hỏi: “Tiffany, chẳng lẽ cô không muốn dùng số tiền đó để mua cho mình bộ quần áo và giày mới hay sao?”

Cô ấy chớp chớp đôi mắt xanh cười nói: “So với việc tự làm đẹp cho mình, tôi sẵn sàng dùng tiền để làm điều gì đó cho người thân hơn”. Có rất nhiều người cho rằng quan niệm tình thân của người Mỹ rất mờ nhạt, khái niệm về gia đình cũng không mạnh mẽ. Tuy nhiên, trên thực tế, người Mỹ là những người vô cùng xem trọng tình cảm gia đình.

Sau này, tôi nhận ra rằng dù cho thu nhập có hạn, những người Mỹ trung lưu sống tiết kiệm cũng sẽ không tích góp tiền dùng để mua hàng hiệu cho mình mà sẽ mua mới, thay thế đồ dùng trong gia đình.

Có một lần, cô Lucy giúp việc cho gia đình tôi xin nghỉ, nói là cô ấy đi mua cho gia đình một cái tủ lạnh, tôi hỏi tủ lạnh hiệu gì, Lucy tự hào nói: “Kenmore”. Thương hiệu tủ lạnh này không hề rẻ.

“Đối với tôi, để chồng được sảng khoái uống bia ướp lạnh sau giờ làm, để các con được ăn kem ngon sau giờ tan học là những việc hạnh phúc nhất trên thế gian”. Nhìn nụ cười thật thà chất phác của Lucy, tôi đã quyết định: vài ngày nữa tôi cũng sẽ đổi tủ lạnh tốt cho gia đình mình.

Thế nào mới là hạnh phúc thật sự? Có những người tiêu rất nhiều tiền để mua hàng hiệu mặc lên người, còn người Mỹ lại dùng tiền để trang trải cuộc sống, đầu tư cho người thân và gia đình. Cái nào có giá trị hơn? Câu trả lời của bạn là gì?

Giá rét bao trùm Bắc Mỹ, nhiệt độ xuống âm 50°C với tuyết rơi kỷ lục

Bắc Mỹ đang trải qua giai đoạn thời tiết khắc nghiệt nhất trong năm. Nhiệt độ có những nơi giảm sâu xuống âm 50 độ C , với lượng tuyết rơi kỷ lục.

Bắc Mỹ đang trải qua giai đoạn thời tiết khắc nghiệt nhất trong năm. Nhiệt độ có những nơi giảm sâu xuống âm 50 độ C , với lượng tuyết rơi kỷ lục. Hiện hàng…
 
TAPCHIHOAKY.INFO
 

Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh

Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh

Thưa quý thính giả, nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh là một nghệ sĩ có khả năng hoạt động đa dạng trong số các nghệ sĩ cải lương tài danh định cư tại miền Nam Cali Hoa Kỳ.

RFA

Soạn giả Nguyễn Phương, RFA
2009-06-28

01:16/10:54

 

Xuất thân từ trường Quốc Gia Âm Nhạc

Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh. Hình do soạn giả Nguyễn Phương cung cấp.Photo: RFA

Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh học trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, chuyên khoa cải lương cùng lúc với các nghệ sĩ Kiều Phượng Loan, Tú Trinh. Khi lên năm thứ hai khóa cải lương, Ngọc Đan Thanh đã cùng với các nữ nghệ sĩ Phương Ánh, Tú Trinh được mời làm diễn viên của các Ban cải lương Phương Nam, Ban Thành Công, Ban Mây Tần của Đài Phát Thanh Saigon và Đài Phát Thanh Quân Đội. Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh, Tú Trinh, Phương Ánh, Mộng Tuyền cũng là diễn viên của Ban Kịch Phương Nam, Ban Kịch Thẩm Thúy Hằng, Ban Kịch Sống Túy Hồng, Ban Cải Lương Phụng Hảo, Ban Cải lương Thanh Lịch của Đài Truyền Hình Việt Nam trong những năm từ 1967 đến 1972.

Nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh rất đẹp, nước da bánh ích, nụ cười quyến rũ, đôi mắt long lanh, Ngọc Đan Thanh được đánh giá là nữ diễn viên có một sắc đẹp sắc xảo, rất ăn ảnh khi được thu hình ở Đài Truyền Hình hay khi đóng phim. Giọng ca của Ngọc Đan Thanh được đánh giá là chuẩn mực khi ca các bài bản cổ nhạc dùng trong sân khấu cải lương, âm lượng khoẻ khoắn, lối ca đúng điệu, đúng bài bản như phần lớn các học viên của trường Quốc Gia Âm Nhạc, chưa có bản sắc riêng như các diễn viên Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Mỹ Châu.

Ngọc Đan Thanh trước năm 1975 không đi hát cho các đoàn hát cải lương vì khi cô chưa tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc thì đô thành Saigon xảy ra vụ Tết Mậu Thân. Suốt năm 1968, chiến sự xảy ra nhiều đợt trong đô thành Saigon, Chợ Lớn khiến cho nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng thiết quân luật ban đêm. Do đó nhiều gánh hát không hát được, có gánh hát phải tan rã, có nhiều gánh hát phải kiếm đường đi lưu diễn ở các tỉnh Hậu Giang và miền Trung. Ngay như khi đi lưu diễn, các đoàn hát cũng không diễn được nhiều suất như thời kỳ trước năm 1968, do đó nhiều nghệ sĩ không theo đoàn hát nữa, họ có thu nhập cao khi đi thu thanh ở Đài Phát Thanh, thu dĩa hát hoặc thu hình cho các Ban cải lương ở Đài Truyền Hình Saigon, thu hình các chương trình của Đài Truyền Hình như Chuyện trong nhà ngoài phố.

Diễn viên điện ảnh

Năm 1972, Ngọc Đan Thanh đóng phim Kiếm hiệp tựa đề là Báo Kiếm Rửa Hận Thù, do hãng phim Mỹ Ảnh của ông Trương Dĩ Nhiên sản xuất. Ông Trương Dĩ Nhiên là chủ hãng phim Mỹ Ảnh, kiêm chủ rạp hát bóng Đại Nam và rạp Kinh Thành Chợ Lớn. Đạo diễn và équipe thu hình, thu thanh, chuyên viên ánh sáng đều là người Đài Loan, những người từng thực hiện nhiều bộ phim kiếm hiệp Hồng Kông và Đài Loan.

Diễn viên phim Báo Kiếm Rửa Hận Thù có các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Hoàng Long, Ngọc Đan Thanh, Văn Ngà, Bảo Lâm, Ba Nghĩa, các võ sĩ của võ đường Việt Nam với võ sư Lý Huỳnh. Lúc đó Nguyễn Phương là phụ tá đạo diễn, viết lời thoại cho phim này.( Cốt truyện phim của đạo diễn Đài Loan, thông dịch viên tiếng Quan Thoại là hai sinh viên Á Trần và Á Lâm. Chụp ảnh test và quảng cáo do nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp Á Hùng.)

Tôi còn nhớ một cảnh vai nữ kiếm khách Ngọc Đan Thanh phi thân lên nhánh cây cao cách mặt đất hơn bảy thước. Lúc đó đạo diễn chọn một cây sao rất cao, có nhánh de ra cách mặt đất trên bảy, tám thước. Ngọc Đan Thanh phải lên đứng trên nhánh cây đó nhảy xuống. Hai máy camera quay một lượt, một máy quay phim chạy ngược và một máy quay phim chạy xuôi. Như vậy khi chiếu ra thì máy thu phim ngược sẽ cho thấy hình ảnh nữ kiếm khách nhảy lên cây mặc dù khi thu hình thì Ngọc Đan Thanh nhảy xuống đất.

Đạo diễn nhờ thang máy của Sở Cứu Hỏa đưa Ngọc Đan Thanh lên đứng trên nhánh cây sao đó. Khi xe cứu hỏa kéo thang máy de xa ra thì đạo diễn hô máy quay, Ngọc Đan Thanh rút kiếm ra và phi thân xuống. Ở dưới đất, chỗ cho Ngọc Đan Thanh rớt xuống, đạo diễn để nhiều thùng giấy carton không, bên trên để hai tấm nệm mousse.

Phải nói là nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh rất gan dạ, nếu không thì chỉ cần đứng trên nhánh cây cách mặt đất bảy tám thước, người nào yếu bóng vía thì sẽ run hoặc té xỉu rồi, chớ không thể diễn xuất hiên ngang như Ngọc Đan Thanh.

Các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Hoàng Long, Ngọc Đan Thanh, Văn Ngà được chuyên viên võ thuật Đài Loan và võ sư Lý Huỳnh dạy cho đánh từng lớp, chậm như khi học đánh võ trong tuồng hát bội, đánh chậm nhưng chú trọng điệu bộ và động tác đẹp như đánh võ thiệt. Khi quay phim, họ quay tốc độ chậm, 8 frames một giây, khi chiếu hình 24 frames một giây thì thành ra động tác nhanh như đánh võ thiệt. Ngọc Đan Thanh nhờ có học vũ, múa đẹp nên thành công xuất sắc trong phim này. Ngọc Đan Thanh còn quay thêm hai phim: Phim Xóm Tôi, đạo diễn Lê Dân, và phim Chàng Ngốc Gặp Hên, đạo diễn Lưu Bạch Đàn.

Trên sân khấu kịch nói, cải lương

Sau năm 1975, ở đoàn Kịch Kim Cương, Ngọc Đan Thanh diễn các vai quan trọng trong kịch Dưới Hai Màu Áo, Người Tình Trễ Xe, Về Nguồn, Trở Về Mái Nhà Xưa.

Vì cần tăng cường nghệ sĩ cải lương gốc miền Nam nên nữ nghệ sĩ trẻ đẹp Ngọc Đan Thanh được Sở Văn Hóa điều động về đoàn cải lương Trần Hữu Trang, Ngọc Đan Thanh thủ vai đào chánh, vai Thanh Vân trong tuồng Tình Yêu và Lời Đáp, cùng diễn xuất với các nghệ sĩ Phương Quang, Ngọc Giàu, Thanh Nguyệt, Phú Quý, Minh Châu, Thái Ngân, Công Tài…

Ngọc Đan Thanh diễn xuất sắc vai Thanh Vân trong tuồng Tình Yêu và Lời Đáp, được thu thanh và thu truyền hình trực tiếp trên sân khấu lúc đang diễn. Khán giả nhiệt liệt tán thưởng các vai do Ngọc Đan Thanh, Ngọc Giàu, Thanh Nguyệt, Phương Quang, Minh Châu thủ diễn. Ba tháng sau, bổng nhiên đoàn Trần Hữu Trang thu nhận một nam danh ca và vợ. Ban Quản trị đoàn đã lấy vai tuồng của Ngọc Đan Thanh trao cho người mới về đóng. Họ cho rằng khi đóng vai người nữ cán bộ thì lý lịch người diễn viên phải trong sạch về chính trị. Họ tung tin là Ngọc Đan Thanh có chồng là cựu sĩ quan ngụy, đi tù cải tạo nên không được đóng vai Thanh Vân nữa. Thời kỳ nầy người ta thường lấy lý lịch để làm tình làm tội những kẻ yếu thế. Ngọc Đan Thanh không cần đính chánh là cô có chồng hay không mà cô trả lời bằng cách vượt biên để tìm tự do và công bằng xã hội.

Nên nhớ, chuyện vượt biên bằng đường biển hay đường bộ đều là một cuộc đánh đố với số mạng, chín phần chết, một phần sống. Tuy nhiên người ta muốn được tự do, muốn có công bằng xã hội nên dám đem mạng sống của mình ra đánh đổi. Thà chết giữa biển còn hơn là bị chết dần mòn vì mất tự do, bị ức hiếp, bị đối xử kỳ thị.

Nhiều người vượt biên, định cư tại Montréal nói với Nguyễn Phương là các ông ấy gặp nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh ở trong trại Pulau Bidong.

Khi Nguyễn Phương qua Nam Cali dự sinh nhật Việt Hùng 80 tuổi, 60 năm hành nghề thì tôi gặp Ngọc Đan Thanh. Cô cũng đến chúc mừng Việt Hùng trong lễ đó. Các nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh, Tú Trinh, Kiều Phượng Loan, Thanh Thế, Bửu Truyện, Linh Tuấn, Thùy Dương đều gọi vợ chồng Nguyễn Phương là Ba Má, vì Nguyễn Phương nhiều năm cùng cộng tác và giúp đỡ các con nuôi kể trên trong nhiều đoàn hát, trong các Ban cải lương Đài Phát Thanh và Truyền Hình Saigon.

Ngọc Đan Thanh kể lại từ lúc vượt biên qua định cư ở Hoa kỳ, Ngọc Đan Thanh đã từng là ca sĩ tân nhạc, ca cổ nhạc, hát trích đoạn cải lương, làm MC cho các chương trình văn nghệ và làm chuyên viên chuyển âm phim bộ Hồng Kông, Đài Loan.

Cuộc sống kinh tế, vật chất dồi dào sung túc hơn khi còn ở đoàn Trần Hữu Trang. Về nghề nghiệp và tinh thần thì Ngọc Đan Thanh được thoải mái, hài lòng với công việc phù hợp với khả năng của cô mà lợi nhuận lại cao, cuộc sống ổn định, nhất là được tự do trong đời sống, tự do suy nghĩ, không bị bắt buộc phải nói hay suy nghĩ theo một định hướng của kẻ nào cả.

Thưa quý thính giả, chương trình cổ nhạc xin chấm dứt, Nguyễn Phương xin hẹn vào giờ nầy tuần sau.

Mẹ của tử tù Hồ Duy Hải trước trụ sở của Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan kêu cứu cho con

 

 
 
-0:06
 

 
 

 
 
24,841 Views
 
Hiện Tình Đất Nước

Mẹ của tử tù Hồ Duy Hải trước trụ sở của Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan kêu cứu cho con :'( :'( :'(

Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ của tử tù Hồ Duy Hải người ròng rã 10 năm qua làm tất cả mọi việc để anh Hải có được công bằng và tự do hôm nay đã sang Thái để vận động quốc tế quan tâm đến trường hợp của con bà.

Xin hãy chia sẻ clip này để hỗ trợ tinh thần cho một người mẹ Việt Nam.

Nguồn Grace Bui

Cảm Nghiệm đời mình

Cảm Nghiệm đời mình

Năm nay (2017), chúng tôi lại được có dip thăm Đức Mẹ Fatima – 100 năm và một việc khác được đi qua Roma gặp Đức Giáo Hoàng Phanxico với 5,000 người trong Công Trường và được Đức Giáo Hoàng Phanxico ban phép ….Rất là special….. Xin Tạ ơn Thiên Chúa.

Mười ba năm (13) về trước, vào ngày 24/12/2004 tại Northern Virginia, tôi bị stroke vào nhà thương cấp cứu, ICU/hospital.  Hôm đó, tôi đi công tác ở Vancouver, Canada và Seattle, WA về đến Washington D.C trời xuống -36 độ lạnh.  Lúc tôi đi trời ấm như mùa xuân, lúc về buốt lạnh mùa đông. Từ terminal xe bus đưa tôi ra parking lot, không ngờ xe bus đưa tôi ra lộn parking lot.  Một tiếng rưỡi lội bộ đi tìm xe dưới nhiệt độ 36 trừ độ âm nhưng tôi không có áo lạnh.  Kết quả, tôi bị stroke sau 1-2 với cái shock bất ngờ đó. Một cái stroke rất là nặng tưởng chết, nhưng Chúa và Đức Mẹ đã cứu tôi và cho tôi sống lại một cuộc sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ hơn và được làm nhân chứng cho Chúa.

Biến cố đó, gia đình và người thân và bạn bè đã đến thăm và care cho tôi nhiều lắm.  Bố Mẹ và một số người thân  26 người đã hũy bỏ chuyến đi đến Indonesia/Malaysia/Thailand để chăm sóc cho tôi.  Một ngày rưỡi sau, là biến có Tsunami làm đến 330,000 người đã bỏ mạng ở vùng Indonesia/Malaysia/Thailand, nhưng gia đình tôi đã được Chúa và Đức Mẹ cứu sống và tôi từ dạo đó tôi sống gần gũi Chúa và Đức Mẹ.

Tạ ơn Chúa và Đức Mẹ, tôi bị câm không nói được vài tháng, nhưng rồi trong mội buổi sang, Mai đã cùng tôi cầu nguyện để xin Sáng Danh Chúa,  xin Chúa cho tôi được nói lời ca ngợi Chúa.  Và Chúa đã nhận lời, cho tôi lần đầu tiên bật lại tiếng là Kinh Lạy Cha và Kính Kính Mừng và tôi đã ca ngợi Chúa và Đức Mẹ đọc hết Chuỗi Mân Côi trong buổi sáng đó, và mỗi ngày từ đó về sau. 40 ngày nằm nhà thương như là mầu nhiệm được vào sa mạc 40 ngày với Chúa.

Ba tháng sau khi bị stroke, tôi đã lập ra một đường dây để thông đạt với các Cha, các Soeurs, các Thầy, các Bác và các Anh Chị thân mến….bây giờ gần 13 năm rồi  Ngọc Nga, Lang Thang Chiều Tim, Cha Vũ Tiến Đạt (Linh Xuân Thôn), Kim Hà, Chị  Kim Nga, A Roger Phụng, A Phạm Trung, Tien Khuat và các Cha, các Thầy  các Sơ và Anh Chị Em….)

Xin các Đức Giám Mục, các Cha, Thầy, các Soeurs, các Bác va Bố Mẹ, gia đình, người thân và tất cả mọi người cho chúng con/tôi được cám ơn, nhầm ngày kỷ niệm 13 năm tôi bị stroke, tận đáy lòng chúng tôi…một tình yêu mà Thiên Chúa cho kết hiệp.
 

Xin chúc các Đức Giám Mục, các Cha, các Thầy, các Soeurs, các Bác và các Anh Chị một Mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng Ân  Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

Bảo Trọng,

Thụ & Mai

Tại sao ở Việt Nam có nhiều tiền mà vẫn muốn sang Mỹ để làm việc

From:   Giấc Mơ Mỹ

Có nhiều tiền bạn sẽ chọn làm vua ở Việt Nam hay định cư ở Mỹ

Không dùng những bài học tư tưởng chính trị để giáo dục người dân yêu nước; cũng không dùng súng ống và tay sai để cưỡng ép người dân yêu nước. Trái lại,…
TAPCHIHOAKY.INFO

NS Ngọc Đan Thanh bị đột quỵ

(NLĐO) Nghệ sĩ Tú Trinh từ Mỹ gọi về cho biết, nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh bị đột quỵ, vẫn còn hôn mê dù đã được cấp cứu tại một bệnh viện tại quận Cam – miền Nam…
NLD.COM.VN
Dang Tuong

Cùng cầu nguyện cho cô được bình an. Cô Ngọc Đan Thanh là một nghệ sĩ đa tài của miền Nam, từ cải lương đến phim ảnh, từ ca kịch đến xướng ngôn viên, cô đều có chỗ đứng trong lòng khán giả.

Đặc biệt, với xuất thân từ QLVNCH cô Ngọc Đan Thanh là một trong những nghệ sĩ chống cộng hàng đầu hải ngoại. Cô là người dẫn chương trình cho nhiều kỳ Đại nhạc hội ASIA, đại nhạc hội Cảm ơn anh, Theo vận nước nổi trôi, các phim tài liệu về chiến tranh và tỵ nạn của đài truyền hình SBTN. Cô đã truyền ngọn lửa đấu tranh yêu nước cho nhiều thế hệ Việt Nam qua giọng đọc hào hùng, bi tráng nhưng đầy tình cảm.

Cầu mong cô sớm tĩnh lại và bình phục để tiếp tục phục vụ cho người hâm mộ ở khắp nơi trên thế giới.

Ad vô cùng hụt hẫng vì mới vừa xem cuộc trò chuyện của cô trên chương trình Jimmy Show mà giờ nghe tin cô đột quỵ bất tĩnh và đang nằm trong một bệnh viện ở quận Cam, California, Mỹ. 

 

Cảnh sát viên đập bể mặt ao đóng băng cứu bé trai 8 tuổi ở dưới

 

Cảnh sát viên đập bể mặt ao đóng băng cứu bé trai 8 tuổi ở dưới

Cảnh sát viên Aaron Thompson. (Hình: AP Photos/Alex Cabrero)

NEW HARMONY, Utah (NV) – Một cảnh sát viên bỏ hết súng đạn và áo giáp lặn xuống một cái ao đông đá cứu một bé trai 8 tuổi bị chìm ở dưới trong ngày Giáng Sinh và từ chối nhận mình là anh hùng.

Theo đài truyền hình NBC, cảnh sát viên Aaron Thompson, thuộc Sở Cảnh Sát Washington County, Utah, có mặt tại cái ao ở thành phố New Harmony, sau khi bạn của em bé cầu cứu vào chiều Thứ Hai, các giới chức cho biết.

Đứa bé, mà cảnh sát không cho biết tên, đang chạy theo con chó trên mặt ao đông đá, bất ngờ đá sụp xuống, làm em lọt xuống dưới nước lạnh.

Cảnh sát không cho biết tình trạng của em ra sao.

Trong khi đó, ông Thompson bị trầy, bầm tay, và cơ thể bị giảm nhiệt, nhưng đi làm ngày hôm sau.

“Mình không bao giờ biết chính xác chuyện gì sẽ xảy ra,” cảnh sát viên Thompson, một thợ lặn cấp cứu được huấn luyện và là cựu thành viên nhóm thợ lặn của sở cảnh sát, nói với báo giới hôm Thứ Ba. “Tôi chỉ thấy là tôi phải cứu em bé đó.”

Ông Thompson kể ông bước lên mặt nước đông đá vài bước, và bắt đầu dùng tay đập cho bể một cái lỗ để ông có thể chui xuống, nhưng “đá ngày càng dày thêm và tôi không thể làm gì được với tay và nắm đấm.”

“Thế là tôi nhảy lên nhảy xuống, dùng sức nặng của thân hình” và cuối cùng nó bể, ông kể.

Rồi ông lặn xuống dưới đáy ao xem nó lạnh ra sao, và có nhìn thấy gì không.

Mọi chuyện khả quan, hy vọng tìm được em bé.

“Tôi tìm khắp các chỗ mà băng đá bể, nhưng thực ra em lại nằm ở dưới chỗ chưa bể,” ông kể.

Nước lạnh cao tới cổ, nhưng ông vẫn cố gắng bước, hy vọng đụng vào đứa bé ở dưới.

Ông cho rằng, đứa bé ở trong nước lạnh khoảng 30 phút.

“Nhiệt độ của nước là một yếu tố vô cùng quan trọng,” ông nói. “Chúng tôi thật sự hy vọng cho em bé.”

Khi được hỏi có cảm thấy mình là anh hùng không, ông Thompson nói còn có các nhân viên cấp cứu khác nữa sẵn sàng nhảy xuống nước. Ông chỉ tình cờ là người đầu tiên đến nơi.

“Không phải tôi, mà là chúng tôi,” ông nói, và đề cập đến những người khác như nhân viên y tế, trực thăng, và một nhân chứng chỉ cho ông hướng đứa bé bị lọt xuống ao, cũng như những người khác nhanh chóng có mặt tại hiện trường.

“Đó là câu chuyện thật ở đây,” cảnh sát viên Thompson nói. “Tôi chỉ là người lặn xuống nước.” (Đ.D.)   

Cậu bé mang chăn tới nghĩa trang ngủ ngon lành bên bia mộ bố

Cậu bé mang chăn tới nghĩa trang ngủ ngon lành bên bia mộ bố

Trong chuyến thăm mộ bố lần đầu tiên, hai cậu bé mang theo một chiếc chăn và ngủ lại vì như thế ‘con có thể cảm nhận được bố bên cạnh’.

Không chỉ là một Thượng sĩ quân đội tận tâm với nghề, anh Alfred David Brazel (37 tuổi) còn là một người chồng, người cha hết mực quan tâm tới gia đình. Anh và vợ là Kait Brazel có với nhau hai đứa con kháu khỉnh là Mason (8 tuổi) và Mylan (5 tuổi).

Gia đình của anh Alfred David Brazel.

Cứ ngỡ rằng cuộc sống gia đình của họ sẽ mãi luôn hạnh phúc như vậy nhưng ông trời lại nhẫn tâm cướp đi mạng sống của ông bố hai con. Ngày 10/2/2017, trong một lần làm nhiệm vụ tại For Campbell, Kentucky (Mỹ), anh Alfred bất ngờ nhận được hung tin anh bị ung thư trực tràng giai đoạn 4 và khối u đã di căn vào gan. Tới ngày 31/7/2017, anh Alfred qua đời trong sự tiếc nuối của mọi người.

Ba mẹ con trong tang lễ của anh Alfred.

Anh được chôn cất tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington, Virginia, M��. Ngày 20/11 vừa qua, 2 cậu bé Mason và Mylan lần đầu tiên được viếng mộ bố kể từ sau ngày chôn cất. Họ phải mất 24 tiếng để tới nghĩa trang và trong suốt quãng đường đi, chị Kait khóc không ngừng.

Nó khiến tôi có cảm giác như anh ấy vẫn có thể trở về nhà. Là một gia đình quân đội, chúng tôi phải thường xuyên sống xa nhau, vì vậy chuyến đi lần này mang lại cho tôi cảm xúc như thể anh ấy vẫn sẽ về nhà”, chị Kait nghẹn ngào.

Trong chuyến thăm này, hai cậu bé mang theo một cái chăn. Chị Kait nói: “Mylan nói như thế thì con mới có thể cảm nhận được bố bên cạnh và con muốn được ngủ trưa cùng bố. Trong khi Mylan đánh một giấc ngon lành thì Mason vẫn kiên trì cầu nguyện bên cạnh. Hai đứa trẻ đã dành thời gian cho bố và tôi chỉ đứng phía sau nhìn thôi”.

Lúc tới thăm mộ bố, hai cậu bé còn mang theo một chiếc chăn.

Mylan nằm ngủ ngon lành còn Mason đang cầu nguyện bên cạnh.

Theo lời chị Kait kể, lúc mới tới nơi, hai cậu con trai của chị liên tục chia sẻ những thành tích mà chúng đạt được ở trường với bố. Mylan khoe bố về bộ đồng phục và dây đai trong lớp học võ và chuyện cậu nhóc chiến thắng được ổ bánh kem trong dịp Halloween vừa rồi. Còn Mason lại nói với bố về chiếc cup trong cuộc thi bơi mà cậu đã đạt được. Không chỉ vậy, hai đứa trẻ còn thi nhau kể với bố về mọi chuyện trong cuộc sống thường ngày.

Kết thúc chuyến viếng thăm, chị Kait nói hai con ra xe để trở về nhà nhưng khi đang bước đi Mylan bỗng chạy quay lại, ôm chặt lấy bia mộ của anh Alfred. Cậu bé nói: “Đợi đã, con phải quay lại và ôm bố cái nữa“. Nói rồi cậu bé liền vòng tay ôm thật chặt tấm bia đá lạnh lẽo đó.

Lúc ra vềMylan còn chạy quay lại ôm chặt lấy tấm bia đá mộ phần của bố.

Tôi tin chắc rằng các con sẽ nhớ về anh ấy mãi mãi. Anh ấy đã dạy cho Mason phải tự tin và luôn có mục tiêu nhất định. Và giờ Mason cũng dạy Mylan như vậy, con thường nói: “Đây là cách bố sẽ làm”, chị Kait chia sẻ.

Hà Phương (Theo Abcnews)

From: Do Tan Hung & Nguyễn Kim Bằng

GS Lâm Văn Bé: Người Tị Nạn và Việt Kiều

 

GS Lâm Văn Bé: Người Tị Nạn và Việt Kiều

 

 

Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng Sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ nầy mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác những danh từ nầy thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng  trường hợp .


Người tị nạn.

Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng Sản đã gọi  tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy. Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vựơt biển, vượt biên  để xin tị nạn ở các xứ tự do, cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là  những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bểcặn bả xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sửa cặn » . Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ  trưởng Y tế còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam : Những người di tản đáng bị chặt đầu.

Nhưng chẳng bao lâu, Cộng Sản hiện nguyên hình là bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng Sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, bọn đĩ điếm được cộng sản « nâng cấp» lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bốViệt Kiều là những  khúc ruột  ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng Sản. «Kiều» chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tỉnh từ cho những danh từ như «kiều dân» là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, «kiều bào» là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là «Việt kiều yêu nước».

Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một  quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng Sản có gian ý là muốn «tóm thâu» cái khối chất xám nầy là «con dân» của họ, còn đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về luật quốc tịch xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phéptừ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia của ông cha họ đã định cư, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa phép làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.
Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản. Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 , «Người VN định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch VN. Sau 5 năm từ khi luật nầy có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ VN tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch»

Sau 5 năm,  chỉ có khoảng 6000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.
Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN  giải thích «rộng rãi» theo luật rừng. Chính bà Nguyễn Thị Bình, người lãnh tụ của Phong Trào Giải Phóng Miền Nam còn sống sót, đã ví von : Việt Nam có một rừng luật  và áp dụng luật rừng. 

Và cho đến đầu năm 2014, chính phủ VN vẫn còn khư khư giữ quan niệm cha chú nầy với người Việt tị nạn. Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài đã nhắn nhủ cho phái đoàn «Việt Kiều yêu nước» về quê ăn Tết, ông nhắc lại lời của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau : «Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị. Có bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản ... Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, coi cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai. (Xuân quê hương 2014 – danlambao 3/2/2014).

Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng Sản, họ không phải là Việt kiều mà là người Mỹ, người Canadiens, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ cộng sản.

Việt Kiều và Nghị Quyết 36.

Không người Việt tị nạn nào ngu xuẩn tự xưng mình là Việt kiều, nếu có, đó là những Việt kiều yêu nước. Tưởng cần biết  qua lai lịch của những Việt kiều yêu nước nầy.

Đa số những Việt Kiều nầy là những  sinh viên xuất ngoại du học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nhờ học bổng của Plan Colombo hay các quốc gia  Âu Mỹ. Từ cuối năm 1970, một số con em của những người có thế lực, nhà giàu cũng được xuất ngoại tự túc. Những sinh viên có học bổng sau khi hết học bổng không chịu về nước vì sợ đi quân dịch, nên tìm cách ở lại tại các quốc gia đã du học một cách bất hợp pháp. Phương thức thông thường là kết hôn với người dân sở tại để có quốc tịch, và để biện minh cho hành động hèn nhát, họ chạy theo các phong trào sinh viên phản chiến ở Pháp, Mỹ, Canada để  chống chiến tranh Việt Nam mà theo họ là do Mỹ và chế độ quân phiệt miền Nam chủ động. Họ được cộng sản lợi dụng để tuyên truyền và được phong danh hiệu là Việt kiều yêu nước. Sau 1975, nhiều đám sinh viên phản chiến phản quốc nầy từ Nhựt, Âu châu, Mỹ chạy sang Canada xin tị nạn cùng lúc với thân nhân của họ vừa di tản đến. Họ trương cờ đỏ sao vàng ở những tụ điểm của họ, một số xin về nước để lấy uy với bạn bè, nhưng chính phủ cộng sản lạnh lùng với họ, có khi còn bắt họ bởi lẽ cộng sản dư biết những Việt kiều yêu nước nầy chỉ là bọn hèn, theo đóm ăn tàn.

Từ cuối thập niên 1990 xuất hiện thêm một số Việt kiều yêu nước già, nguyên gốc là HO, có học và vô học, vì không hội nhập được vào xã hội định cư nên đi đi về về Việt Nam để sống với tiền xã hội của quốc gia định cư, một số  khác thất nghiệp muốn về VN để kiếm việc, làm ăn buôn bán. Để đạt được ý định, họ lập công với cộng sản bằng những mưu chước hèn hạ, phản bội lại đồng hương và đồng đội họ, xâm nhập vào các hội đoàn, cơ quan ngôn luận để quấy phá.  Nghị Quyết 36  nhờ sự tiếp tay của những Việt Kiều trở cờ phản bội nầy.

Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường  những  tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị.  Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại về nước và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị

Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm :
– Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
– Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
-Thu góp tiền bạc và chất xám
– Biện pháp đối với các thành phần chống lại chánh phủ và Đảng ở hải ngoại
– Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất  gian xảo, trịch thượng . Làm sao CS có khả năng và uy tín giúp người Việt hải ngoại trong cuộc sinh sống trong khi họ đã đẩy đa số người dân trong nước đến chổ bần cùng và mất cả đạo lý, và càng tệ hại hơn, họ xuất cảng tệ trạng ăn cắp tràn lan tại những nơi mà cán bộ của họ đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điễn, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu : Cảnh cáo Ăn cắp vặt,  No dogs, no Vietnamese.

Họ nói giúp người tị nạn đoàn kết với nhau, nhưng thực sự họ đưa công an và Việt kiều yêu nước xâm nhập các đoàn thể để gây đố kỵ, đánh phá nhau. Chuyện thu góp tài sản thì quá rõ, từ việc gởi tiền đến Việt kiều du lịch mang về  nước tiêu xài cung cấp cho cộng sản 12% GDP, duy chỉ có chuyện thu góp chất xám là một cuộc thảm bại .

Một số tác hại của NQ 36 đã thấy rõ trong một số công tác chiến lược như sau :
 Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền

Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân  mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng cộng sản.  Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống cộng.

Trong đại hội «Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36 và công tác đối với người Việt nước ngoài » ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Huy đã có chỉ thị rõ rệt «…Cần sớm có quy chế về việc dạy  tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…»

– Xâm nhập các cơ quan truyền thông

Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn để mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ haitừ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012  ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài  đã nói rõ chương trình hành động : «Tăng cường công tác thông tin đối ngoại , tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triễn lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động từ thiện, du lịch, sinh hoạt khoa học, sinh hoạt các nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại…» 

Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels (Bộ Trưởng Thông tin Tuyên truyển của Đức Quốc Xã) : Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu  người ta không tin, lần lần người ta bán tin bán nghi sau cùng người ta tin là sự thật.  Internet  và báo chí là những phương tiện hữu hiệu  dể chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi  lực lượng chống cộng. để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba  và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều – Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong  công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

Nhưng Cộng Sản có hai bộ mặt chồng chéo nhau :  dịu ngọt và bạo lực.
Tạp chí Cộng Sản gần đây đã viết :  «…Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm  thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẻ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta …» (TCCS. Phát huy vai trò của Cộng đồng  http://tapchicongsan.orgvn ngày 28/05/2013)

Chánh sách vừa  chiêu dụ vừa  khủng bố của Cộng Sản đã có tác dụng phần nào  trên các vùng đất có người Việt định cư ở Bắc Âu và Đông Âu, nơi có đông đảo người lao động xuát khẩu, di dân bất hợp pháp  và du sinh.  Trong thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36 : « … Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực các thế lực thù địch…». Mười ba cộng đồng cộng sản nầy là : 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều lao động xuất khẩu (Hàn Quốc, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ – ( chú thích : tại Thụy Sĩ còn có một cộng đồng chống Cộng của người Việt tị nạn). Các chủ tịch các cộng đồng nầy là người cộng sản, chỉ làm bù nhìn, việc điều khiển Cộng Đồng do sứ quán hay tòa lãnh sự đảm nhiệm theo quyết định Q12 năm 2008 (Mobiliser les Vietnamiens à l’étranger, p.50).

Ngày 18 tháng 8 , 2014, Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc «mạn đàm» tại Praha (Tiệp Khắc) qui tụ những nhân vật cao cấp của Bộ Chính Trị từ trong nước và các đại sứ, đại diện 14 cộng đồng người Việt ở Đông Âu, Bắc Âu , kể cả Thụy Sĩ, Anh, Bỉ để «trao đổi công tác xây dựng tổ chức, vận động quần chúng, lôi cuốn giới trẻ tham gia và phát huy các sinh hoạt cộng đồng »

– Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện

Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn  gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy,  Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm « phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống ». Từ mươi năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của  Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ  gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

Người Việt  ở hải ngoại

Ngoài ra, chúng ta thường có thói quen gọi chúng ta thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại (diaspora) mà Cộng Sản gọi là người Việt nước ngoài. Nếu từ ngữ nầy đúng với tất cả các sắc tộc khác nhưng đối với người Việt, có khi không đúng hẳn bởi lẽ trong số người Việt hải ngoại lại có thêm những người không phải là người tị nạn. Đó là những người xuất khẩu lao động, di dân kinh tế hợp pháp và bất hợp pháp, các du học sinh thân cộng hay theo Cộng. Hiểu như vậy, sự chính xác của từ ngữ sử dụng cần phân biệt theo nội dung và hoàn cảnh.

Bảng 1-   Tổng số người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại

Quốc gia Số người Nguồn
Hoa Kỳ 1 548 450 US Census 2010
Úc    233 390 Census Explorer 2011
Canada    220 420 Canada Census 2011
Pháp    200 000 Các nhà biên khảo ở Pháp
Đức    125 000 Wikipedia và một số nguồn liệu
Anh      65 000 UK Census 2011& phỏng định
Tây/Bắc Âu    100 000 Các nguồn từ địa phương
Tổng cộng 2 492 260  

Nguồn: Lâm Vĩnh Bình. Giá Tự Do
Bảng 2– Số người Việt xuất khẩu lao động, du sinh, định cư 
hợp pháp  và bất hợp pháp tại hải ngoại (Việt Kiều)

Đông Âu Số người   Á Châu Số người
Nga  46 000   Đài Loan 180 000
Tiệp Khắc  50 000   Hàn Quốc 120 000
Ba Lan  20 000   Mã Lai    85 000
UKraine  10 000   Trung Quốc   30 000
Slovakia    5 000   Nhựt   38 000
Áo    5 000   Cambốt  600 000
Hungary    4 000   Thái Lan  100 000
Azerbeijan  10 000      
Trung Đông  10 000   Lào   20 000
Angola  40 000   Bangladesh   27 000
Cộng 200 000   Cộng 1 200 000
                               Tổng cộng : 1 400 000

 Nguồn :
– Người Việt ờ nước ngoài  www.vietkieu.info;
– Wikipedia,
– Migration Policy Institute.
– World Facts Book

Chú thích :  

Bảng thống kê trên, tuy xuất xứ từ các cơ quan thẩm quyền nhưng chỉ là những con số ước lượng gồm có :
 –  700 000 người Việt ở Cambốt, Thái Lan và Lào là người Việt đã  sống lâu đời nhiều thế hệ tại các quốc gia nầy, đại đa số đã nhập tịch.  Về người Việt ở Cambot, số thống kê chỉ là phỏng định vì quốc gia nầy không có thống kê. TheoWikipedia, và World Facts Book, người Cambốt gốc Việt chiếm 5% dân số tức khoảng 600 000 người. Bertrand Didier trong bài Vietnamiens au Cambodgevà  Annuska Derks trong A picture of the Vietnamese in Cambodia trình bày chi tiết các giai đoạn di cư, định cư, diện mạo của người Việt ở Cambốt  (có thể đọc online).

Migration Policy Institute thiết lập  thống kê người di dân VN (immigrants) vào tháng 9 năm 2013 dựa vào ước lượng của United Nations Population Division công bố một con số thấp hơn chỉ gồm người di cư xuất khẩu lao động : Cambot : 37 000, Lào : 11 000, Thái Lan : 6000.

–  700 000 người ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Nhựt, Trung Quốc, Đông Âu , Nga, Bangladesh, Trung Đông và Phi Châu. Dân số VN tại các quốc gia nầy thuộc nhiều diện khác nhau :

– một số là cư dân hợp pháp phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai và những du học sinh tại các quốc gia Đông Âu, Nga, được nhập tịch tại các quốc gia nầy

–  một số là người xuất khẩu lao động và cư dân bất hợp pháp.

Như vậy tổng số người Việt ở hải ngoại là :
       – Người tị nạn Cộng sản : 2.500 000 người (số tròn) Bảng 1
       – Người Việt di cư kinh tế, xuất khẩu lao động, du học sinh, định cư bất hợp pháp :    1 400 000 người  Bảng 2 
Tổng cộng số người Việt ở hải ngoại : 3 900 000 người. 
Một cách dễ nhớ : 4 triệu người.

Nguồn : Lâm Vĩnh Bình, Giá Tự Do

Về tổng số người Việt ở hải ngoại, thống kê của nhiều người viết, ngay cả những nhà nghiên cứu khoa bảng thường có khuynh hướng khuếch đại con số, bởi lẽ thay vì sử dụng thống kê chính thức của các quốc gia sở tại, họ lại sử dụng những thống kê của Cục Người Việt nước ngoài của Cộng Sản mà bản chất là gian dối, thiếu chính xác. Đan kể như luận án tiến sĩ : Mobiliser les Vietnamiens de l’étranger : enjeux, stratégies et effets d’un nationalisme transnational của Christophe Vigne do Institut de recherche sur l’Asie du Sud-Est contemporaine (IRASEC) xuất bản năm 2012 cho biết là người Việt ở hải ngoại là 4.3 triệu người trong đó người Việt ở Mỹ là 2.2 triệu (thay vì 1.5 triệu) và ở Canada là 250 000 (thay vì 220 000).  «Le RSVN estime à environ 4.3 M le nombre de Vietnamiens résidents à l’étranger. La communauté vietnamienne des États-Unis est de loin la plus nombreuse avec 2.2M de personnes. Environ 250 000 Viet Kieu vivent au Canada, 120 000 en Allemagne et 60 000 en Russie…(p. 13).

Kết luận

Chúng tôi vừa phân tích hai từ ngữ người tị nạn và Việt kiều để phân biệt hoàn cảnh lúc ra đi và vị trí chính trị đối với chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khi phải nhắc đến một từ ngữ  khác có chữ kiều là kiều hối (mà cộng sản dùng thay cho danh từ ngoại tệ), cái biên giới giữa người tị nạn và Việt Kiều như không còn nữa bởi cả hai đều dùng kiều hối để nuôi dưỡng và củng cố chế độ trong nước.

Thật vậy, kể từ khi Clinton bắt tay với VN năm 1995, người Việt tị nạn về nước ào ạt vì đủ thứ lý do, thăm gia đình, du lịch, du hí… Thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù, và  trên đất mới, sau đó cũng không bao lâu,  họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ  công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì ? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN để chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim kiều hối chỉ trong hai thángNgoài raviệc gởi tiền về VN triền miên từ 40 năm nay để nói là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số kiều hối khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân cộng ?

Theo Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Central Institute for Economic Management  CIEM), « tính từ năm 1991 đến 2013, lượng kiều hốigởi về hơn 90 tỷ mỹ kim, là chiếc phao cứu tinh cho nhiều doanh nghiệp và là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Số tiền trên không kể đến 28% «kiều hối chui» không qua đường dây chính thức và những khoản tiền tiêu khi Việt kiều về thăm nhà. Chỉ năm 2013, số kiều hối gởi về là 11 tỷ. Mỹ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất (57% trong tổng số  kiều hối chính thức), kế đó là Úc (khoảng 9%), Canada (8%), Đức (6%), Pháp (4%) . Kiều hối là nguồn vốn thứ hai tại VN sau FDI (chú thích của người viết : Foreign Direct Investment là tiền ngoại quốc đem vào VN đầu tư) giúp tăng tiết kiệm, đầu tư, giảm nợ, cải tiến bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giúp ổn định tỉ giá, cán cân thanh toán và tăng dự trử ngoại hối . Tóm lại, kiều hối dùng để trả sinh hoạt hằng ngày, đầu tư vào sản xuất kinh doanh và trả nợ».    (Cứu tinh của nền kinh tế VN /Alan Phan – ngày 18/12/2014.)

Thông tin trên phát xuất từ một cơ quan kinh tế chiến lược đầu não của cộng sản đã cho thấy không phải là nhóm Việt kiều Đông Âu, hay nói chung những Việt kiều thân Cộng đã gởi tiền về nước để nuôi chế độ mà chính đa số làngười tị nạn. Chỉ tại  5 quốc gia có đông đảo người tị nạn,  đặc biệt là Hoa Kỳ, đã  đóng góp hàng năm cho cộng sản VN 84% ngoại tệ. Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng  tài trợ cho Việt Cộng. Giải quyết cái phi lý nầy phải là chuyện số một phải làm, tuy đã muộn màng lắm rồi, trước khi nói đến những chuyện tranh đấu khác.
 
Lâm Văn Bé
01/2015

Phụ nữ bị bắn chết, chồng cũ định tự tử nhưng sống sót

 

Phụ nữ bị bắn chết, chồng cũ định tự tử nhưng sống sót

(Hình minh họa: City of Bellflower)

BELLFLOWER, California (NV) – Một phụ nữ bị bắn chết và người chồng cũ, kẻ bị giới hữu trách coi là nghi can, bị thương trong vụ nổ súng hôm Thứ Hai ở thành phố Bellflower, vùng Nam California, gần Long Beach, và các điều tra viên vẫn còn đang tìm hiểu sự việc.

Vụ nổ súng xảy ra vào lúc khoảng 3 giờ 15  ở khu nhà trên đường Rosecrans Avenue, theo một phát ngôn viên sở cảnh sát, Guillermina Saldana, bản tin của tờ báo Long Beach Press Telegram cho biết.

Khi cảnh sát tới hiện trường thì thấy một phụ nữ bị trúng đạn vào ngực và chết tại chỗ.

Giới chức công lực cũng tìm thấy một người đàn ông bị vết đạn vào ngực, có vẻ là tự mình gây ra. Ông ta được đưa vào bệnh viện và chưa biết rõ tình trạng sức khỏe.

Điều tra sơ khởi cho thấy hai người từng là vợ chồng với nhau nhưng nay đã ly dị, theo cảnh sát viên Charles Moore, cho tờ LB Press Telegram hay.

Cảnh sát biết rằng người chồng cũ đến nhà kiếm nạn nhân, và trong khi nói chuyện, ông ta rút khẩu súng lục bắn chết bà này. Sau đó ông ta quay súng tự bắn mình. Hiện chưa rõ chuyện gì xảy ra trước khi súng nổ.

Hai người có hai đứa con, một con trai 6 tuổi và một con gái 8 tuổi. Cả hai đứa nhỏ đều ở trong nhà khi có nổ súng. (V.Giang)