Đạo Cao Đài: Một trường hợp bị đánh cắp căn cước

Đạo Cao Đài: Một trường hợp bị đánh cắp căn cước

  • Cú lừa trắng trợn dài 2 thập niên bắt đầu bị đưa ra ánh sáng

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 2 tháng 3, 2018

http://machsongmedia.com

Chính quyền Việt Nam chọn cách riêng để triệt Đạo Cao Đài: đánh cắp căn cước.  Tại buổi họp với Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế và rồi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 21 tháng 2 vừa qua, các giới chức dự họp đã ngỡ ngàng khi tôi đã phát biểu như vậy.

Đó là buổi họp mà BPSOS sắp xếp cho phái đoàn vận động tự do tôn giáo, gồm những tín hữu hay người am tường về Phật Giáo, Phật Giáo Hoà Hảo, Tin Lành Tây Nguyên, Tin Lành Hmong và Công Giáo. Tôi có mời một tín đồ Cao Đài tham gia phái đoàn, nhưng vào phút chót người ấy không đi được nên tôi phải nói thay.

Trong phần trình bày về Đạo Cao Đài, tôi khởi đầu bằng lời khẳng định rằng Bộ Ngoại Giao và Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, cũng như các tổ chức quốc tế, đều bị qua mặt trong suốt 20 năm qua. Họ lẫn lộn giữa 2 tổ chức khác nhau đại diện cho 2 tôn giáo khác nhau: một đằng là Đạo Cao Đài được sáng lập cách đây gần một thế kỷ và đằng kia là một chi phái do nhà nước Việt Nam dựng lên mới được 20 năm và không được Đạo Cao Đài công nhận.

Đạo Cao Đài, sáng lập năm 1926, được chính quyền Việt Nam Cộng Hoà công nhận tư cách pháp nhân năm 1965, với tầm hoạt động quốc gia và quốc tế và có cơ sở trung ương đặt tại Toà Thánh Tây Ninh.

Sau khi chiếm miền Nam, chế độ Cộng Sản không chấp nhận Đạo Cao Đài. Ngày 20 tháng 7, 1978, Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh công bố “bản án Cao Đài”, cáo buộc rằng Đạo Cao Đài là một tôn giáo phản động, chống đối chính quyền cách mạng. Tiếp theo đó, ngày 13 tháng 12, 1978 Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Tây Ninh ra nghị quyết giải tán cơ cấu hành chánh Đạo Cao Đài, và Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Tây Ninh đã thực hiện nghị quyết này. Các cơ quan lãnh đạo Đạo Cao Đài phải ngưng hoạt động, chỉ để lại Hội Đồng Chưởng Quản dưới Hiệp Thiên Đài để liên lạc với tín đồ và đối phó với chính quyền.

Đại Sứ Lưu Động Sam Brownback và phái đoàn vận động tự do tôn giáo, ngày 21/02/2018 (ảnh HT TVL)

Năm 1996 Tỉnh Uỷ Tây Ninh của Đảng Cộng Sản đề ra kế mới để tiêu diệt Đạo Cao Đài, ghi trong bản Kế Hoạch 01, ngày 27 tháng 5, 1996. Bản kế hoạch này xác định rằng chủ trương của Đảng Cộng Sản là tiêu diệt Đạo Cao Đài bằng cách “khoanh lại trong địa phương Tây Ninh, đến một lúc nào đó sẽ tiêu vong” đã thất bại, cho nên phải thay đổi bằng cách lập ra một chi phái để làm phương tiện xóa Đạo Cao Đài. Ngày 29 tháng 5, 1996 Đảng Bộ Tỉnh Tây Ninh thành lập Ban Chỉ Đạo gồm các viên chức nhà nước để dựng lên một tôn giáo mới với những điều kiện:

  • Xác định tôn giáo Cao đài Tây Ninh là một chi phái
  • Không sử dụng cơ bút
  • Bộ máy giáo hội 2 cấp

Tôn giáo mới này, tạm gọi là Chi Phái Tây Ninh 1997. Tôi không dùng từ “Cao Đài” vì nghĩ rằng tôn giáo mới này không chỉ khác mà còn nghịch lại với Đạo Cao Đài.

Về danh hiệu thì Đạo Cao Đài có tên chính thức là “Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ” (6 chữ), gọi tắt là Đạo Cao Đài (3 chữ). Trong khi đó, chi phái mà nhà nước Cộng Sản dựng lên có danh hiệu là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài Tây Ninh” (10 chữ), gọi tắt là Đạo Cao Đài Tây Ninh (5 chữ). Về luật pháp thì đây là 2 tổ chức khác nhau.

Về tín lý, hai tổ chức có nhiều điểm khác biệt về căn bản. Đạo Cao Đài 1926 có 3 Hội là Hội Nhơn Sanh, Hội Hội Thánh và Thượng Hội, lập nên quyền vạn linh ngang bằng với quyền của Đức Chí Tôn tại thế. Chi Phái Tây Ninh 1997 không có Thượng Hội nên cũng không có quyền vạn linh. Chi Phái Tây Ninh 1997 cũng không có Bàn Trị Sự. Trong Đạo Cao Đài, các Bàn Trị Sự cấu thành “Hội Thánh Em” để thay mặt Hội Thánh (còn được gọi là Hội Thánh Anh) hành đạo nơi địa phương; khi Hội Thánh Anh bị uy hiếp hay bị xóa bỏ thì Hội Thánh Em phải lo khôi phục. Không có Bàn Trị Sự thì Pháp Chánh Truyền của Đạo Cao Đài không được thể hiện ở phần hạ tầng, đến các tín đồ.

Cũng thể hiện tín lý là việc cầu phong chức sắc. Chức sắc của Đạo Cao Đài thì phải được thiên phong, nghĩa là qua thể thức cầu cơ bởi Hiệp Thiên Đài tại Cung Đạo để chấm phái (Thái, Thượng, Ngọc) tương ứng với Nho, Tiên và Phật. Trong khi đó, chức sắc của Chi Phái Tây Ninh 1997 là phàm phong, còn gọi là “banh phong” – nghĩa là dùng 6 trái banh sơn 3 mầu vàng, xanh, đỏ để bắt banh chọn phái cho các chức sắc. Như vậy, mọi chức sắc của Chi Phái Tây Ninh 1997 đều không đủ tiêu chuẩn chức sắc theo Đạo Cao Đài.

Về tổ chức, cơ cấu của Chi Phái Tây Ninh 1997 chỉ có 2 cấp, khác với cơ cấu tổ chức 5 cấp của Đạo Cao Đài. Trong Đạo Cao Đài thì Toà Thánh Tây Ninh đóng vai trò “trung ương” đối với các chi phái. Trong khi đó, Chi Phái Tây Ninh 1997 dù chiếm ngự Tòa Thánh Tây Ninh vẫn không thể xác định tư cách trung ương đối với các chi phái Cao Đài khác.

Về hiến chương, Đạo Cao Đài có đủ hai Hội Thánh Hiệp Thiên Đài lo về Tư Pháp (Điều 8) và Cửu Trùng Đài lo về Hành Pháp (Điều 9). Chi phái Tây Ninh 1997 không có Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài mà chỉ có chức sắc Hiệp Thiên Đài và chức sắc Cửu Trùng Đài; Hội Đồng Chưởng Quản, do người của nhà nước cài cắm, nắm toàn quyền, một mình một chợ.

Về luật đạo, hai bên cũng khác nhau. Trong Đạo Cao Đài, Đạo Luật Mậu Dần (1938), Điều III, Mục 7 ghi: “Nếu như một ai còn đương quyền Đời mà muốn vào hàng phẩm Chức Việc, thì phải từ bỏ quyền Đời đặng để trọn tâm lo tròn trách nhậm Đạo.” Thế nhưng, các chức sắc thành lập và nắm quyền của Chi Phái Tây Ninh 1997 lại tham gia các tổ chức chính quyền và của đảng cộng sản, kể cả các tổ chức chịu trách nhiệm tiêu diệt Đạo Cao Đài:

  • Ông Hồ Ngọc Thơ, Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản, là Phó Chủ Tịch Uỷ ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (Đại hội lần thứ IV nhiệm kỳ 1994 – 1999), đồng thời cũng là Ủy Viên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh Tây Ninh, là tổ chức đã ra “bản án Cao Đài” năm 1978.
  • Ông Nguyễn Thành Tám, Phó Hội Trưởng thường trực Hội Đồng Chưởng Quản, là Ủy Viên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh (Khóa V, nhiệm kỳ 1994 – 1999), tổ chức đã ra “bản án Cao Đài” năm 1978. Năm 1997, Ông Nguyễn Thành Tám là dân biểu Quốc Hội.
  • Bà Huỳnh Thị Nhìn, Ủy Viên Hội Đồng Chưởng Quản, cũng là Ủy Viên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh (Khóa V nhiệm kỳ 1994 – 1999), tổ chức đã ra “bản án Cao Đài” năm 1978.

Về nội quy, tất cả nhân sự hành đạo của Đạo Cao Đài đều phải mặc đạo phục theo qui định. Chi Phái Tây Ninh 1997 lập ra Ban Trật Tự Nội Ô mặc thường phục là vi phạm nội quy của Đạo Cao Đài. Họ là lực lượng do nhà nước cài vào. Trên thực tế chính họ dùng bạo lực để trấn áp người theo Đạo Cao Đài.

Khi tín lý, luật đạo và hiến chương khác nhau thì rõ ràng đó là 2 tôn giáo khác nhau. Khi danh hiệu, nội quy và cơ cấu tổ chức đều khác nhau thì rõ ràng đó là 2 tổ chức khác nhau.

Trên nguyên tắc, khi khác nhau thì mỗi bên sinh hoạt riêng, tôn trọng lẫn nhau. Đằng này Chi Phái Tây Ninh 1997 đã chiếm lĩnh Toà Thánh Tây Ninh và các cơ ngơi của Đạo Cao Đài, và rồi tự giới thiệu với tín đồ, với quần chúng và với quốc tế rằng mình là Đạo Cao Đài. Trong các văn thư, giấy tờ, tài liệu, trang web, chương trình truyền hình… họ đều dùng danh hiệu Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ (6 chữ) mặc dù tên của họ là khác, gồm 10 chữ.

Theo luật pháp Hoa Kỳ, thì đó là đánh cắp căn cước (identity theft), dẫn đến hàng loạt các hệ luỵ về luật pháp như là lạm dụng danh hiệu (trademark), xâm phạm tài sản trí tuệ (intellectual property), chuyển quyền sở hữu tài sản (conversion), cạnh tranh bất công (unfair competition), gây tổn thương vật chất và căng thẳng tinh thần (physical damage và emotional distress)…

Tại buổi họp với Bộ Ngoại Giao và Uỷ Hội về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, để giải thích hiện tượng khá lạ lùng này, tôi đã ví von: Hãy tưởng tượng Đảng Phát-Xít Ý thời Đệ Nhị Thế Chiến dựng lên tổ chức, lấy tên là Catolica (nghe hao hao như Catholic), do người trong đảng cầm đầu với mục đích tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo (Catholic Church). Tín lý của họ không tin rằng Chúa Giê-Su là con của Đức Chúa Trời. Về tổ chức họ không công nhận Giáo Hoàng và nghi thức tấn phong, mà chọn linh mục, giám mục và hồng y bằng cách rút thăm. Họ đã dùng bạo lực để trục xuất các chức sắc của Giáo Hội Công Giáo và chiếm ngự Toà Thánh Vatican. Và rồi họ tự nhận mình là Giáo Hội Công Giáo. Với sự ví von có chút tính khôi hài này, mọi người đã hiểu ngay.

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại Sứ Lưu Động David Saperstein, vị tiền nhiệm của Ông Sam Brownback, đón tiếp phái đoàn của Chi Phái Tây Ninh 1997, tháng 9, 2016 (ảnh của Chi Phái Tây Ninh 1997)

Tôi chỉ ra rằng năm 2016, giới chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đón tiếp phái đoàn của Chi Phái Tây Ninh 1997, đinh ninh đó là thành phần đại diện Đạo Cao Đài. Hàng năm Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng mời chức sắc Chi Phái Tây Ninh 1997 đến dự các buổi khánh tiết mà tưởng rằng họ là chức sắc Đạo Cao Đài. Các giới chức Hoa Kỳ không phải là những người duy nhất đã bị mắc mưu bởi sự đánh cắp căn cước. Các giới chức của Liên Hiệp Quốc và của nhiều quốc gia Phương Tây cũng ngộ nhận như vậy. Và kể cả rất nhiều tín đồ Cao Đài ở trong và ngoài nước cũng lầm lẫn.

Nhưng để phân định trắng đen thì không gì bằng căn cứ vào phán quyết của các chức sắc của Hiệp Thiên Đài, cơ quan tư pháp của Đạo Cao Đài. Ngày 26 tháng 11, 2015, cơ quan Hiệp Thiên Đài đã ra thông báo, có phần ghi:

“Hành vi của Đầu Huynh Đạo Sư Phàm Phong Thượng Tám Thanh là nghịch Thiên, phạm Pháp không phải là chức sắc Thiên Phong của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh nên chúng tôi gọi theo Thế danh Nguyễn Thành Tám không gọi Thánh danh Đầu Sư Thượng Tám Thanh…”

Cũng trong thông báo ấy, các chức sắc Hiệp Thiên Đài khẳng định rằng Chi Phái Tây Ninh 1997 là “bàng môn tả đạo”, không được Đạo Cao Đài công nhận dù chỉ trong tư cách một chi phái.

Lập tức, Ông Nguyễn Thành Tám đã đóng cửa văn phòng Hiệp Thiên Đài và đuổi các chức sắc Hiệp Thiên Đài ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh. Như vậy, cuối năm 2015, nghĩa là chỉ mới đây thôi, tổ chức do nhà nước dựng lên đã hoàn tất việc chiếm lĩnh triệt để Toà Thánh Tây Ninh của Đạo Cao Đài.

Tôi chia sẻ với các giới chức dự phiên họp rằng chính tôi trước đây cũng hiểu lầm rằng chính sách của nhà nước Việt Nam là rượu mới, bình cũ, nghĩa là cài người vào thành phần lãnh đạo của Đạo Cao Đài để rồi lèo lái và lũng đoạn. Nhưng không, chính sách của họ là rượu khác, bình khác: Tổ chức đang chiếm ngự Toà Thánh Tây Ninh của Đạo Cao Đài là một tổ chức hoàn toàn khác, đại diện cho một tôn giáo cũng hoàn toàn khác. Nhưng họ lại đánh cắp căn cước của Đạo Cao Đài.

Tôi chỉ tình cờ khám phá thực tế này cách đây chưa được một năm. Dựa vào một trao đổi ngẫu nhiên với một tín đồ Cao Đài mới ở Việt Nam sang Hoa Kỳ, tôi lục lọi các tài liệu về sự ra đời của Chi Phái Tây Ninh 1997. Rõ ràng, nó khác với Đạo Cao Đài.

Tôi đề nghị với các giới chức Bộ Ngoại Giao và Uỷ Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế là từ nay chính quyền Hoa Kỳ phải phân biệt giữa 2 tổ chức đại diện cho 2 tôn giáo khác nhau, và tích cực tiếp xúc với những thành phần thực sự đại diện Đạo Cao Đài. Họ xin thêm thông tin để từ nay ứng xử cho đúng. Tôi để lại bản thông tin tóm tắt và hứa sẽ gửi thêm thông tin chi tiết và đầy đủ trong vài tuần tới đây. Tôi cũng sẽ phổ biến các thông tin này để mọi người cùng tìm hiểu.

Việt kiều Mỹ sống với nỗi lo bị trục xuất

Việt kiều Mỹ sống với nỗi lo bị trục xuất

Tùng (hàng đầu, đeo kính) đã có nhiều hoạt động giúp đỡ những cựu tù nhân gốc Á hoàn lương.
Bản quyền hình ảnhFB TÙNG NGUYỄN
Tùng (hàng đầu, đeo kính) đã có nhiều hoạt động giúp đỡ những cựu tù nhân gốc Á hoàn lương.

Hôm 28/2, một số người Mỹ gốc Việt và đại diện của các tổ chức Đấu tranh Công lý cho Người Mỹ gốc Á (AAAJ) tuyên bố khởi kiện ICE và Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ vì vi phạm Biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam-Hoa Kỳ.

Lý giải về đơn kiện này, anh Tùng Nguyễn nói với Thùy Linh của BBC: “Chúng tôi muốn tòa phải can thiệp để giải quyết vấn đề về Biên bản ghi nhớ. Phía Việt Nam không nói gì về việc sửa đổi, nhưng Mỹ lại muốn. Và trước khi thông báo có sửa đổi gì thì họ đã bắt và trục xuất người rồi.”

Anh Tùng đến Hoa Kỳ vào năm 1991, khi anh mới chỉ là một cậu bé 13 tuổi. Cha của Tùng, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, từng bị giam trong trại cải tạo ở Việt Nam trước khi gia đình anh đến được chân trời mới ở Hoa Kỳ.

Nhưng cuộc sống mới không dễ dàng, kèm theo đó là những vết thương chiến tranh chưa bao giờ chữa lành, cộng với hành trình vượt biên gian khổ, lẫn những va chạm bất đồng về văn hóa ở vùng đất mới khiến một cậu bé thiếu niên như Tùng không tránh khỏi việc sa ngã.

“Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ, chúng tôi không thể hiểu chuyện gì đang xảy ra lúc đó, giữa Cộng sản và chính quyền Nam Việt Nam. Chúng tôi chỉ biết đi theo cha mẹ để trốn chạy,” Tùng kể lại.

Anh Tùng thường tích cực tham gia các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi cộng đồng

Bản quyền hình ảnhTÙNG NGUYỄNAnh Tùng (trái) thường tích cực tham gia các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi cộng đồng

“Khi đến Mỹ, tất cả mọi thứ đều mới, văn hóa mới, ngôn ngữ mới, và chúng tôi buộc phải làm quen và hòa nhập ngay lập tức. Cha mẹ quá bận rộn để kiếm sống, đâu có ai có thể hiểu được những khó khăn, những vấn đề về tâm lý mà những đứa trẻ như tôi gặp phải?”

Tùng và các em trai phải đi thu lượm nhôm nhựa và làm những việc như lau chùi trường học để phụ giúp gia đình. Nhưng rồi anh sa đà cùng một số bạn bè bắt đầu đi ăn trộm, ăn cắp và các phi vụ trở nên mạo hiểm hơn.

Tháng Tư, 1993, khi Tùng 16 tuổi, trong một mâu thuẫn hiểu lầm, một người bạn của Tùng vô tình đâm chết một người đàn ông. Dù không trực tiếp gây ra cái chết của nạn nhân, Tùng đã cùng thủ phạm đe dọa tấn công nạn nhân, khiến anh vẫn bị tuyên án 25 năm tù giam vì tội giết người và trộm cắp.

Đến 2011, sau 18 năm tù giam, Tùng được thống đốc bang California Jerry Brown ân xá vì lý lịch cải tạo tốt.

Và cũng kể từ đó anh luôn cố gắng nỗ lực làm lại cuộc đời, trở thành một công dân tốt.

Tùng trở thành người đại diện cho những tù nhân người Mỹ gốc Việt khác hoàn lương như anh. Anh tham gia các hoạt động giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng, và tìm kiếm việc làm.

Năm 2013, anh được trao giải Anh hùng Thầm lặng từ Trung tâm Luật Giới Trẻ về những hoạt động cộng đồng mà anh đóng góp.

Dù vậy, theo anh Tùng, cuộc sống của anh Tùng và rất nhiều cựu tù nhân người Việt gốc Mỹ khác vẫn như những ngọn đèn treo trước gió.

Từ 2017, ngày càng có nhiều người bị Cơ quan Kiểm sát Nhập cư và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) bắt giữ và trục xuất về Việt Nam.

Có ít nhất 40 người trong số đó đã đến Hoa Kỳ trước 1995 và đáng lẽ phải được bảo hộ bởi Biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam Hoa Kỳ, ký kết năm 2008, cam kết Hoa Kỳ không được trục xuất những người Việt đến Hoa Kỳ trước năm 1995, kể cả khi người đó có lệnh trục xuất.

Điều này khiến những người như Tùng luôn sống trong lo sợ. Kể từ khi ra tù, thẻ xanh của anh bị thu hồi, và nhận lệnh trục xuất từ 2011, khiến anh trở thành một trong những đối tượng rất có thể bị bắt giữ và trục xuất.

Kiện ICE và Bộ An ninh Nội địa

Tùng và đại diện AAAJ tại buổi tuyên bố khởi kiện ICE và Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ hôm 28/2
Bản quyền hình ảnhAAAJ
Anh Tùng và đại diện AAAJ tại buổi tuyên bố khởi kiện ICE và Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ hôm 28/2

Anh Tùng cho biết bà Phi Nguyễn, giám đốc pháp lý của AAAJ bang Atlanta, kêu gọi các cộng đồng bị ảnh hưởng đâm đơn kiện đại diện tập thể này (class-action lawsuit).

Năm ngoái, Trung tâm Hành động Hỗ trợ Đông Nam Á (SEARAC) phát hiện có khoảng 95 người Mỹ gốc Việt đã bị bắt giữ và bị thẩm vấn để trục xuất về Việt Nam, trong đó có nhiều người đã đến Hoa Kỳ trước 1995.

Anh lo ngại, khi không có giấy tờ hay tài sản, những người bị trục xuất này sẽ khó có thể sinh sống ở Việt Nam.

“Việt Nam vẫn là nước cộng sản, chuyện vi phạm nhân quyền vẫn tồn tại. Tụi tôi bị trục xuất thì tụi tôi không thể tồn tại được,” anh nói.

Bị cộng đồng thờ ơ, bỏ quên

Anh Tùng nói dù ngày càng có nhiều người Việt bị bắt giữ nhưng cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ vẫn rất thờ ơ, hờ hững.

“Tụi tôi bị coi như cỏ rác, như tội đồ. Cộng đồng chỉ muốn ca ngợi những người thành công, chứ không quan tâm đến người từng vi phạm pháp luật.

“Nhưng chúng tôi đã trả giá cho những sai lầm bằng những năm tháng trong tù rồi và tôi đang cố gắng làm một công dân tốt và đóng góp cho cộng đồng,” Tùng nói.

“Người Việt ở đâu cũng vậy, nên thông cảm cho những người như tôi. Tuổi trẻ ai cũng non dại hết, quan trọng là mình đã học được gì từ những lỗi lầm của mình.

Tùng được Trung tâm Luật Giới trẻ ở San Francisco trao giải Anh hùng Thầm lặng vào 2013Bản quyền hình ảnhTÙNG NGUYỄN
Tùng được Trung tâm Luật Giới trẻ ở San Francisco trao giải Anh hùng Thầm lặng vào 2013

“Nếu tôi bị bắt thì tôi phải xa vợ xa con, con tôi lớn lên không có cha, lỡ nó không bình thường lại mắc sai lầm thì khác gì tôi ngày xưa?” anh Tùng nói về hoàn cảnh trớ trêu của mình.

Anh nói anh là một trong những đối tượng dễ bị ICE nhắm vào nhất, nhưng anh nói anh vẫn lựa chọn việc lên tiếng.

“Tôi có thể trốn chạy, sống âm thầm, nhưng tôi vẫn quyết định lên tiếng vì bao nhiêu người, gia đình có thể bị tan vỡ vì vấn đề trục xuất này. Tôi sẽ đứng ra thế mạng, để chia sẻ cảnh báo cho cộng đồng,” anh nói.

Anh Tùng nói anh hiểu rõ những ngày tháng tự do của anh đang thu ngắn dần.

“Tôi mong mọi người đừng trốn tránh nữa, nên đi tìm nhóm hỗ trợ giúp đỡ những người như tôi,” Tùng nói.

Theo Cục Điều tra dân số, hiện có khoảng 1,3 triệu người nhập cư gốc Việt sinh sống tại Hoa Kỳ. Theo đơn khởi kiện, khoảng 8..000 đến 10.000 trong số đó có lệnh trục xuất, có nguy cơ bị bắt giữ.

Kêu gọi hành động khẩn cấp cho nhà hoạt động môi trường phản đối Formosa

RFA
2018-03-02

Hoàng Đức Bình, giữa bên phải, và anh Nguyễn Nam Phong, giữa trái, tại tòa án tỉnh Nghệ An hôm 6/2/2018.

Hoàng Đức Bình, giữa bên phải, và anh Nguyễn Nam Phong, giữa trái, tại tòa án tỉnh Nghệ An hôm 6/2/2018.

 AP
 

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế – Amnesty International hôm 28/2 kêu gọi hành động khẩn cấp cho nhà hoạt động môi trường Hoàng Đức Bình, người phản đối Formosa gây thảm họa biển tại Việt Nam nhưng bị chính phủ Hà Nội kết án tù 14 năm.

Ân Xá Quốc Tế kêu gọi những người quan tâm viết thư ngay đến cho các cấp thẩm quyền Việt Nam về trường hợp anh Hoàng Đức Bình.

Thư gửi trước ngày 10 tháng 4 năm nay đến các vị lãnh đạo cấp cao Việt Nam gồm các ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ Trưởng Công An Tô Lâm, Bộ Trưởng Ngoại giao kiêm phó thủ tướng Phạm Bình Minh.

Nội dung thư yêu cầu trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện nhà hoạt động môi trường Hoàng Đức Bình, hủy bỏ cáo buộc đối với tù nhân lương tâm này vì chỉ thực hiện một cách ôn hòa quyền tự do bày tỏ ý kiến.

Trong khi chờ đợi anh Hoàng Đức Bình được trả tự do, Amnesty cũng kêu gọi chính phủ Việt Nam đảm bảo không có hành vi tra tấn, ngược đãi đối với anh Bình và cho phép người anh được tiếp cận thân nhân, luật sư cũng như được chăm sóc y tế đầy đủ.

Ngoài ra Amnesty cũng yêu cầu ngưng ngay mọi hình thức sách nhiễu, đàn áp, trừng phạt những nhà bảo vệ nhân quyền, giới hoạt động ôn hòa.

Nhà hoạt động môi trường Hoàng Đức Bình bị tòa án huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An kết án 14 năm tù hôm ngày 6 tháng 2 vừa qua, với cáo buộc ‘chống người thi hành công vụ’ và ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm phương hại lợi ích nhà nước’.

Anh Hoàng Đức Bình còn là phó chủ tịch của tổ chức xã hội dân sự độc lập Phong Trào Lao Động Việt chuyên lên tiếng cho quyền lợi của giới công nhân tại Việt Nam.

Trong một số trường hợp anh còn thực hiện các live-stream và viết blog chỉ trích mạnh mẽ biện pháp tàn bạo của công an đối với những người biểu tình chống Formosa gây thảm họa môi trường cho vùng biển miền Trung Việt Nam.

Lực lượng công an bắt anh Hoàng Đức Bình vào ngày 15 tháng 5 năm ngoái khi anh đang đi cùng linh mục Nguyễn Đình Thục, một người ủng hộ tích cực cho các nạn nhân thảm họa môi trường Formosa.

THƯ GỬI CHO NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG: NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Nghe tin anh vừa mất, đột nhiên, em như người tụt rơi xuống hố sâu, hụt hẫng, lao đao, hai tay quờ quạng như muốn níu kéo lấy một điểm tựa nào đó không có thật, và khi không nắm được chỗ nào cả thì hoảng hốt, sợ hãi vô cùng. Mắt em như mờ hẳn đi, không nhìn thấy gì dù màn ảnh của chiếc máy computer dựng ngay trước mặt.

Có thật anh đã ra đi rồi không? Sao lại không gọi em một tiếng nào? Mấy năm nay, tuy em bị cắt liên lạc với anh, nhưng em vẫn theo dõi tin anh qua những người quen, và có một lần, đọc một bài báo của ai đó phỏng vấn anh, em rất mừng vì thấy anh vẫn khỏe. Tết vừa rồi, em lại liều gửi điện thư chúc Tết anh chị dù biết rằng có thể như những lần trước, thư của em lại lọt vào trong thùng rác, hoặc bị lấy mất bởi những chuyên viên rình rập trên mạng. Chuyện này chắc chắn xẩy ra, vì cách đây mấy năm, sau khi các thư em gửi cho anh đều bị trả lại, em liều gọi điện thoại đến anh, để thăm hỏi vài câu ngắn ngủi, thì cũng chỉ được nghe anh nói vắn tắt vài lời: “Anh xin lỗi em, từ nay không liên lạc được với em nữa. Anh bị công an đe dọa: “cấm liên lạc với tên nhà văn phản động kia, kẻo sẽ bị cắt điện thoại”. Em thông cảm cho anh nhé.” Rồi anh cúp máy! Thế thôi! Từ đó đến nay, em không còn nhận điện thư của anh nữa. Em buồn lắm! Không được chuyện trò với anh như trước, em cảm giác chơi vơi cùng tận, vì trong tâm hồn của em, vẫn tràn đầy nhiều kỷ niệm với anh, với người Thầy đáng kính. Em vẫn nhớ ngày em đi Mỹ theo diện H.O.1, anh lập cập chống gậy, nhờ người quen chở anh đi xe gắn máy, đến tận phi trường tiễn em. Khi em bước vào trong hàng rào ngăn cách, anh còn đứng đó và giơ bàn tay gầy ốm vẫy mãi cho đến khi em phải quay lưng đi vào phòng cách ly. Thế là lần cuối cùng gặp anh đấy.

Anh kính mến,

Ngày hôm nay, trong cơn gió lạnh của California, bao nhiêu kỷ niệm tràn về đầy ắp. Em nhớ lại thời gian khi còn trong tù, anh chỉ dẫn cho em từng nốt nhạc vọng cổ, và vì lúc đó anh bệnh nặng quá, nên sự cố gắng dậy bảo của anh làm anh ứa máu, em đã sợ hãi mà ngăn anh lại: “Thôi! Thôi! Anh nghỉ đi! Đừng nói nữa! Máu chẩy ra miệng anh kìa!” Anh lắc đầu, lấy vạt áo tay chùi máu miệng, và nói: “Không ngừng được! Anh phải dậy em bây giờ! Anh không biết lúc nào anh chết, nên phải truyền hết kinh nghiệm cho em, kẻo mai mốt anh chết, thì không có người tiếp tục!” Và cứ thế, bất chấp sức khỏe càng ngày càng sa sút, máu cứ chẩy ra ngoài miệng, anh đã dậy cho em từng câu nhạc Vọng cổ, từng cách viết kịch bản cho một vở tuồng cải lương, cổ nhạc. Vì các đốt ngón tay anh đã bị chất vôi phù lên, cứng ngắc, không sử dụng được, anh đã ngồi xổm trên chiếu, kẹp chiếc bút chì vào giữa ngón chân cái và ngón kế tiểp để vẽ lên các nốt nhạc to bằng quả trứng gà, cũng như các tiết tấu và kết cấu từng câu nhạc, thật công phu vô cùng. Em biết là viết như vậy, anh đau lắm và vất vả lắm, nhưng anh vẫn kiên trì truyền hết kinh nghiệm cho thằng em kém cỏi này và cũng vì biết nỗ lực của người Thầy như anh thật là hiếm có trên đời, nên em đã cố gắng làm vui lòng anh bằng cách sáng tác các bài ca Vọng cổ, cũng như các bài tân nhạc rồi hát cho anh nghe, để thấy anh mỉm cười, mãn nguyện là em mừng. Dĩ nhiên, khả năng của em không đủ để theo kịp sự dậy dỗ của anh, khiến có vài lần anh nhăn mặt, mắng: “Em cứ có cái tật phăng-tê-di! Không chịu theo khuôn phép gì cả! Hòa âm gì kỳ cục thế! Viết lại!” Để sau khi em sửa lại rồi, anh vẫn lắc đầu, thở dài: “Thôi! Cái tật ẩu không bỏ được!” rồi anh lại gật đầu, cười mỉm: “Thế mà lại hay! Mỗi người sáng tác đều có những cái riêng của mình, không ai giống ai.”

Em vẫn nhớ, ngoài những lúc học sáng tác, hòa âm, anh kể cho em nghe những chuyện tình thời trai trẻ của anh, độc đáo và hấp dẫn vô cùng. Ngày anh còn ở trường Thiếu Sinh Quân, tự viết nhạc cho anh em hát, ngày anh đeo lon Trung Úy, rồi Đại Úy.. và những lần anh làm trưởng ban nhạc đi trình diễn bên Pháp… bao nhiêu cô theo, trong đó có một mối tình thật ác liệt của một cô ca sĩ, kịch sĩ nổi tiếng…Rồi đến ngày anh cưới vợ, cô kia đánh ghen ra sao…ảnh hưởng đến quân vụ của anh như thế nào.. Và để trả thù, cô kia đã thuê một nhà văn cũng rất nổi tiếng viết lại chuyện tình của anh đăng báo, hầu làm chậm bước thăng tiến trong đời binh nghiệp của anh.. và cách anh giải quyết mọi chuyện như một giấc mơ.. vừa sáng trí vừa lãng mạn. Em ngồi nghe anh kể chuyện mà mắt cứ mở to, ngưỡng mộ quá chừng.

Rồi em được trả tự do trước anh. Vì không thể quên những tháng ngày được anh chỉ bảo, em vẫn đi thăm anh ở.. các bệnh viện! Bệnh anh càng ngày càng nặng, nên cai tù đành chấp nhận chuyển anh ra bệnh viện ngoài để chữa trị, nhưng họ đổi nơi chữa trị hoài vì ngại rằng nếu để lâu một chỗ, có thể có sơ hở và anh trốn được. Mãi đến năm 1985, anh mới được về nhà. Nhờ đó, mà anh có cơ hội tìm thầy, tìm thuốc để tự trị bệnh mình và đến khi em đi Mỹ vào năm 1990, thì anh đã có thể chống gậy đi lại được, không như ngày ở trong tù, anh chỉ có thể nằm trên một miếng ván nhỏ có gắn bánh xe do anh  em cùng tù làm cho anh, để anh lấy tay đẩy miếng ván trôi đi, y như một người bị què cụt sắp chết. Nhìn hình ảnh đó, anh em đều sa lệ. Còn đâu người hùng năm xưa? Còn đâu hình dáng người nhạc sĩ với cây đàn và những bản nhạc tuyệt vời, hát mãi không chán?

Sau khi đến Mỹ một vài năm, thấy một Trung tâm băng nhạc hồi đó thỉnh thoảng làm các cuốn băng đặc biệt với từng tác giả, em đã liên lạc với trung tâm và gợi ý là nên làm một cuốn băng đặc biêt về anh. Người chủ trung tâm rất mừng vì ông cũng từng là người hâm mộ nhạc Nguyễn Văn Đông, nên ngay sau khi biết được địa chỉ của anh, ông ta đã về Saigon ngay, tiếp xúc với anh và chuẩn bị một chương trình Nhạc Nguyễn Văn Đông với các ca sĩ từng là học trò của anh. Thoạt đầu, anh cũng đồng ý đi Mỹ và anh đã gửi cho em nguyên một tập nhạc của anh sáng tác để tùy nghi trung tâm lựa chọn. Chương trình tiến triển tốt đẹp. Trung Tâm băng nhạc đã làm Visa cho anh sang Mỹ. Nhưng đột nhiên, anh gọi điện thoại cho em và nói rằng anh không đi nữa. Anh nói:  “Anh biết là sau khi về lại Việt Nam thì thế nào anh cũng bị kiểm điểm bởi những thằng nhóc con. Mà anh lớn tuổi rồi, anh không muốn bị gọi lên đồn công an, để trả lời cuộc thẩm vấn bởi mấy tên con nít, không biết gì về âm nhạc cả! Mấy ca sĩ cải lương, tân nhạc gì sang Mỹ về cũng phải gặp công an, “dạ, dạ thưa anh, thưa chị.” Anh không thể làm được chuyện đó, em thông cảm cho anh. Anh cám ơn em đã lo lắng chu tất cho anh, nhưng anh không thể, em ạ!” Vì anh là người có Tư Cách và Nhân Cách lớn, không giống như nhiều người khác nên anh nhất định hy sinh một cơ hội rạng danh mình cũng như tạo được một kỷ niệm lớn, để lại cho hậu thế những thông tin về một người nhạc sĩ lớn, một trong những Bậc Thầy về Âm Nhạc của Việt Nam, người đã được tặng bằng Tiến Sĩ Âm Nhạc tại Pháp.

Với những kỷ niệm như thế, làm sao mà em không khóc được khi nghe tin anh mất? Viết đến anh những giòng chữ này mà mắt em nhòa đi… Nhớ anh, nhớ người Thầy vĩ đại quá chừng.. mà không thể diễn tả hết những tình cảm em dành cho anh, nên càng viết càng luộm thuộm. Vậy, thôi, em xin gửi đến anh lời cầu nguyện cho hương hồn anh sớm tiêu diêu miền cực lạc, nơi không còn bệnh tật, không lo âu, không tù đầy, đau khổ, chỉ có hạnh phúc miên viễn. Còn lại chúng em, “lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều”… mênh mang.

Chu Tất Tiến, 26 tháng 2 năm 2018.

Con trai Thủ Tướng Ba Lan thụ phong Linh Mục

Con trai Thủ Tướng Ba Lan thụ phong Linh Mục

Warsaw, Poland (CNA/EWTN News) – HSNforwardesign

.

Thầy Tymoteusz đã được thụ phong Linh mục. Cha là con trai của Nữ Thủ Tướng Ba Lan Beata Szydlo. Thánh Lễ Mở Tay tại Nhà thờ Thành phố ở Quê nhà, nơi Cha được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Cuối Thánh lễ, vị Linh mục trẻ trao Phép lành đầu tay cho Mẹ mình và Bà quỳ gối lãnh nhận trong sự tự hào.

“Đây là ngày trọng đại cũng như là niềm vui lớn cho Gia đình. Chúng tôi hết sức hạnh phúc và hãnh diện”. Đó là những lời nói đầu tiên của Nữ Thủ Tướng Ba Lan với giới Truyền thông..

Các Nhà báo Ba Lan và Quốc tế có mặt rất đông tại Thánh Lễ đều nhận định : Việc con trai của Vị đứng đầu Chính phủ được phong chức Linh mục là điều vô cùng đặc biệt. Tuy nhiên, trường hợp này không phải chưa xảy ra trong Lịch sử đương đại. Trước đây là trường hợp của Linh mục Paul Adenauer, Ngài là con trai ông Konrad Adenauer, Thủ Tướng Đức trong giai đoạn 1949 -1963. Còn đây là lần đầu một vị Lãnh đạo tại Châu Âu chứng kiến con mình được thụ phong Linh Mục, trong khi mình vẫn còn đương nhiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cha Tymoteusz Szydlo, 25 tuổi, đã lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Nicolas de Bielsko-Biala, miền nam Ba Lan, cách biên giới Séc và Slovakia vài cây số. Ngày hôm sau, Cha đã cử hành Thánh lễ mở tay, tại Thành phố Quê nhà Przecieszyn, thuộc miền Tây đất nước, gần biên giới Đức.

Przecieszyn, 28.05.2017. Ks. Tymoteusz Szyd³o (L) witany przez proboszcza ks. Jacka Przyby³ê (P) przed msz¹ prymicyjn¹ w rodzinnej parafii Matki Bo¿ej Czêstochowskiej w Przecieszynie (woj. ma³opolskie), 28 bm. Tymoteusz Szyd³o, syn premier Beaty Szyd³o, przyj¹³ 27 bm. œwiêcenia kap³añskie. (mr) PAP/Jacek Bednarczyk

Như 12 Linh mục trẻ khác thuộc “Khóa Gioan Phaolô II” được thụ phong ngày hôm ấy ở Giáo phận, Cha Tymoteusz đã được chuẩn bị trong hơn sáu năm tại Đại Chủng viện Tổng Giáo phận Kracow. Trong Thánh lễ đầu tiên, Cha Tymoteusz Szydlo đã cảm tạ sâu sắc hồng ân Chúa : “Lạy Chúa, ngôn ngữ loài người không thể diễn tả lời tạ ơn của con dâng lên Ngài. Do đó, với lòng khiêm tốn, con chỉ có thể xin cho con luôn phục vụ Ngài, Đấng Chí Thánh”.

Polish Prime Minister Beata Szydlo and her husband walk behind their newly ordained son, Father Tymoteusz Szydło.

Cuối Thánh Lễ, vị Linh mục trẻ chúc lành cho rất nhiều Tín hữu đang hiện diện, trong đó có Cha Mẹ và Thân nhân của Cha. Hình ảnh đầy ấn tượng và cảm xúc : Thủ Tướng Ba Lan quỳ gối bên Chồng và lãnh nhận “Phép lành” của con mình.

HSNforwardesign – [CNA/EWTN NEWS]

Anh chị Thụ & Mai gởi

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều Mưa Biên Giới’, qua đời

 

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều Mưa Biên Giới’, qua đời

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (trái) cùng vợ và nhạc sĩ Trần Quốc Bảo chụp trước cửa tiệm Nhiên Hương năm 1996 (Hình: nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cung cấp)

Ngọc Lan/Người Việt

 WESTMINSTER, California (NV) – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả tình khúc nổi tiếng “Chiều Mưa Biên Giới”, vừa qua đời lúc 4 giờ 30 sáng Thứ Hai, ngày 26 Tháng Hai (tức 7 giờ 30 tối 26 Tháng Hai theo giờ Việt Nam) tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi.

Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, chủ nhiệm đặc san Thế Giới Nghệ Sĩ, xác nhận tin trên với phóng viên Người Việt.

“Tôi nhận được tin do ca sĩ Giao Linh từ Sài Gòn gọi sang cho hay. Giao Linh là học trò rất thân với thầy Nguyễn Văn Đông. Chị Giao Linh vào bệnh viện thăm thầy buổi trưa, vừa về vài tiếng thì nghe người nhà của thầy gọi cho biết là thầy qua đời,” nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cho biết.

Cũng theo lời nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, “Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được đưa vào bệnh viện một vài ngày trước do khó thở, và vì những bệnh già chứ không phải bệnh tật gì nặng hết. Thế nên việc ông ra đi đột ngột khiến ai cũng bàng hoàng. Bản thân tôi cũng cảm thấy buồn quá!”

10 phụ nữ Việt liên quan đường dây mại dâm bị bắt ở Đài Loan

10 phụ nữ Việt liên quan đường dây mại dâm bị bắt ở Đài Loan

2018-02-26 
Những người bị cảnh sát Đài Loan bắt giữ sau khi phá đường dây ma tuý ở Đài Bắc

Những người bị cảnh sát Đài Loan bắt giữ sau khi phá đường dây ma tuý ở Đài Bắc

 Courtesy of Sputnik
 

Giới chức Đài Loan vừa bắt giữ 13 người bị tình nghi liên quan đến đường dây mại dâm ở khu vực Đài Bắc, trong đó có 10 phụ nữ mang quốc tịch Việt Nam.

Báo trong nước dẫn tin từ tờ Taiwan News hôm 24/2 cho biết sự việc xảy ra vào hôm 22/2. Ông Chiu Yao-yung, phó ban chuyên trách của Cục Di trú Đài Loan cho hay từ tháng trước, cơ quan này đã có thông tin và theo dõi 1 nhóm lao động người Việt nhập cư trái phép đang hành nghề bán dâm ở Đài Bắc.

Hôm 22/2 vừa qua, nhóm chyên trách đã đột kích chung cư ở quận Trung Sơn, bắt giữ 13 người, gồm 10 phụ nữ Việt Nam và 3 người Đài Loan. Nhóm người Việt này gồm 8 lao động, 1 người nhập cảnh Đài Loan trái phép và 1 người kết hôn với công dân Đài Loan. Tất cả từ 20 – 30 tuổi.

Những người này sẽ bị trục xuất về Việt Nam sau khi kết thúc điều tra.

Kênh truyền hình ANN News của Nhật vừa đưa tin, ngày 22.2 cảnh sát đã bắt giữ du học sinh Lê Minh Hoàng

 
 
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor

 
 
Image may contain: 2 people, text
Image may contain: text
Lê Nguyễn Hương Trà added 3 photos and a video.Follow

 

Kênh truyền hình ANN News của Nhật vừa đưa tin, ngày 22.2 cảnh sát đã bắt giữ du học sinh Lê Minh Hoàng. Theo nhà chức trách, thì Hoàng dùng máy in loại nhỏ đặt trong nhà để làm giả các loại thẻ học sinh. Và với giá 5.000¥/thẻ, Hoàng đã bán ra cho 500 người.

Các loại thẻ giả này hầu hết được mua để đăng ký vào làm việc bán thời gian trong các cửa hàng tiện lợi 24/24 tại Nhật. Tháng 12/2017 Đài NHK làm một phóng sự về tình hình du học sinh Việt Nam, cũng đã báo động về tình trạng trên!

©https://www.nhk.or.jp/gendai/articles/4073/

Tình hình rất là tình hình, tội phạm trong giới du học sinh tại Nhật đang gia tăng. Một con số thống kê cho hay, năm 2016 có 1.208 du học sinh Việt Nam bị khởi tố vì các tội ăn cắp và các tội khác; vượt 8 lần so với 5 năm trước. Hiện nay số sang học tiếng Nhật khoảng 750.000 người, dẫn đầu top và vượt hẳn lượng du học sinh đến từ Trung Quốc!

– Tại Nhật, quy định pháp luật chỉ cho phép du học sinh làm thêm 28h/tuần. Dẫn đến tình trạng buộc các em làm việc quá mức, do phần nhiều ở Việt Nam bị các công ty môi giới du học dụ dỗ và phải vay mượn vượt ngoài khả năng trả nợ. Chưa kể phí mua thẻ, du học sinh còn phải trả cả phí môi giới; nhiều em mới sang chưa rành tiếng Nhật muốn tìm được việc sẽ phải qua các công ty việc làm giới thiệu!

Các phát hiện vi phạm đều bị Nhật trục xuất về nước!

KÝ GIẢ PHẠM ĐOAN TRANG LÀ AI?

Thuong Phan shared Lê Đài Trang‘s post.

 

Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person, guitar, text and outdoor

Lê Đài Trang added 2 new photos.

KÝ GIẢ PHẠM ĐOAN TRANG LÀ AI?

Tại sao họ sợ dân Việt đọc cuốn sách “CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN” của Phạm Đoan Trang.

Xin mời các bạn đọc tiểu sử cuả một nhà tranh đấu hàng đầu cho đất nước!

1. Đoan Trang sinh năm 1978 ở Hà Nội trong một gia đình trí thức. Mang trong mình dòng máu Bắc Kỳ Chính Nghĩa, khác với đa số dân Bắc Kỳ khác – không ai ưa.

2. Đoan Trang là cựu học sinh trường chuyên Hanoi-Amsterdam, một trường hàng đầu của cả nước. Sau đó cô ta học trường Đại Học Ngoại Thương, cũng là một trường top trong nước. Nhưng khác với đám trí thức câm và đui kia, Đoan Trang không nhắm mắt và im lặng để sống.

3. Đoan Trang sau khi ra trường thì làm phóng viên cho nhiều tờ báo và nhà xuất bản trong nước. Trong đó có VNExpress, Vietnamnet và Pháp Luật TPCHM. Ban đầu thì cô ta bình thường, nhưng khi tiếp xúc và va chạm xã hội thì cô ta thấy những vấn đề. Với tư cách là nhà báo, cô ta không thể im lặng được và quyết định lên tiếng. Hậu quả là cô ta bị sa thải, không bớt ngờ gì.

4. Đoan Trang qua Phillipines và tham gia tổ chức VOICE và quyết định thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam. Đó là công việc hiện tại của cô ta với sự trợ giúp của nhiều tổ chức phi chính phủ khác.

5. Đoan Trang qua Mỹ học năm 2014 ở Đại Học Nam California. Sau khi hoàn tất khóa học, cô ta quyết định mạo hiểm trở về để theo đuổi lý tưởng của mình. Khi được hỏi là có hối hận không thì cô ta trả lời không và tự hào về quyết định đó.

6. Đoan Trang khi về tới sân bay thì bị tạm giam nhưng được thả. Sống ở Hà Nội thì luôn bị an ninh theo dõi. Nhưng cô ta vẫn không sợ và quyết làm tới cùng.

7. Đoan Trang khi tham gia bảo vệ môi trường thì bị đánh gãy chân đứt dây chằng và phải phẫu thuật tại Sài Gòn vào năm 2016. Bây giờ vết thương vẫn chưa lành.

8. Đoan Trang luôn bị kiểm soát mỗi khi phái đoàn Phương Tây hay Mỹ đến Hà Nội để thảo luận về nhân quyền. Chính quyền không muốn cô ta lên tiếng.

9. Đoan Trang vô tình đã trở thành một biểu tượng cho quá trình đấu tranh tự do dân chủ ở Việt Nam, một trong số người hiếm được sự tin tưởng của cộng đồng.
10. Và cuối cùng, Đoan Trang vô tình trở thành một biểu tượng cho sự kiên cường của phụ nữ Việt. Cô ta sống vì lý tưởng và sẽ theo đuổi nó đến cùng – khác với đa số cô gái Việt khác.

Với thành tích học tập ưu việt của mình, Đoan Trang hoàn toàn có thể có một cuộc sống khá giả. Nhưng cô ta đã bỏ tất cả để theo đuổi lý tưởng của mình. Bạn có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cô ta. Nhưng bạn không thể không ngưỡng mộ cô gái kiên cường này. Thả tim cho cô ấy.

Hãy như Phạm Đoan Trang.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Tâm tình với chồng Mỹ vợ Việt David và Tuyết Brown

 

Tâm tình với chồng Mỹ vợ Việt David và Tuyết Brown

Trở về sau chuyến trở về Việt Nam mới đây, ông David Brown, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại VN và vợ là bà Tuyết Lê nói thấy ‘xã hội còn bề bộn’ nhưng ‘khá tốt so với 15 năm trước’ trong dịp thăm văn phòng BBC.

“Một số người bạn ngoại quốc của tôi đến Việt Nam thăm thì họ hỏi “Đâu, chỗ nào cộng sản đâu?”, họ nghĩ nước này cũng khá tốt”, bà Tuyết Lê (tên thật là Bạch Tuyết) nói.

“Nếu nói về cuộc sống có tiến bộ không thì người Việt Nam lúc nào cũng cởi mở, muốn hiểu biết về bên ngoài, muốn tìm cơ hội làm việc. Tôi thấy có tiến bộ.”

“Khi tôi nói chuyện với người dân, cái họ lo sợ nhất là hình như đất nước đang ngừng lại một chút trong sự tiến bộ. Khi tôi hỏi họ làm thế nào để tốt hơn, dân Việt Nam đỡ khổ hơn thì họ nói phải có đa đảng. Cái đó tôi hơi ngạc nhiên.”

Ông Brown lại băn khoăn nhiều hơn về vấn đề tham nhũng.

Ông nói ‘Việt Nam đang gặp thách thức’ và ‘sẽ bị hạn chế’ nếu ‘không giải quyết được tham nhũng.’

“Có người hy vọng Tổng Bí thư sẽ có kết quả tốt với chính sách chống tham nhũng của ông”, ông Brown nhận định.

Câu chuyện đến đây chuyển qua chuyện riêng của hai người.

Khi bà Tuyết Lê Brown kể chuyện, ông David Brown thi thoảng nhắc các thông tin còn thiếu bằng tiếng Việt giọng Nam trôi chảy và ngược lại.

Vợ chồng bà thay phiên nhau kể về mối tình dài gần 50 năm của mình và trải nghiệm mới mỗi lần về Việt Nam thời gian gần đây.

Chi tiết nào người này không nhớ, quay qua hỏi thì người kia bổ sung chi tiết.

Trong suốt buổi nói chuyện, cựu nhân viên ngoại giao Mỹ luôn nhìn vợ bằng ánh mắt trìu mến.

Ở tuổi ngoài 60, bà Tuyết Lê dường như vẫn giữ được nguồn năng lượng dồi dào.

Kết hôn năm 17 tuổi rồi qua Hoa Kỳ định cư gần 50, năm nào bà Tuyết Lê Brown cũng về Việt Nam dạy học.

Để trở thành giảng viên môn Tâm bệnh như hôm nay, bà Tuyết Lê đã vượt qua nhiều định kiến của xã hội Mỹ đối với người Việt di tản để vừa nuôi con, vừa làm đủ nghề, rồi học lên cao học.

“Hai năm vừa rồi khi trở về dạy ở Đại học Nhân văn tôi được khen là nói tiếng Việt rất khá rồi, mừng quá”, bà Tuyết Lê nói. Giọng bà sôi nổi, như không có bóng dáng của tuổi tác đi qua.

Còn ông Brown thì nói: “Toàn quốc hết sức vui vẻ vì bóng đá Việt Nam đã được vào chung kết (U23 châu Á). Lúc đó không có tuyết thì sẽ thắng. Ở Việt Nam mọi người đang chuẩn bị ăn Tết, không khí rất vui.”

Ông Brown về hưu đã 20 năm nhưng vẫn làm việc cho một tổ chức phi chính phủ của Viện Hàn lâm Hoa Kỳ.

Ông bà còn tham gia một dự án dạy các em học sinh trung học địa phương các vấn đề môi trường.

Mỗi năm vào mùa đông, ông Brown và bà Tuyết Lê đều trở về Việt Nam gặp bạn bè và ‘tìm hiểu thêm những vấn đề đang xảy ra ở Việt Nam hiện thời’.

“Chúng tôi vẫn nhớ Việt Nam”, ông Brown nói.

Cặp đôi Tuyết Lê-Brown và David Brown là hai khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng mạng, cả ở Mỹ và Việt Nam.

Hai ông bà được biết đến với câu chuyện tình lãng mạn thời chiến tranh Việt Nam.

Đó là khi chàng thanh niên David Brown, 22 tuổi, nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, được cử đến Việt Nam năm 1965 khi chiến tranh bắt đầu leo thang.

Tại đây, ông gặp bà Tuyết Lê, người phụ nữ của đời mình, khi đó mới 17 tuổi, tại Biên Hòa.

“Hồi ấy còn nhỏ lắm, nhưng tôi đã để ý đến David vì đôi mắt xanh, dáng người cao lớn, và vì lối phát âm tiếng Việt rất chuẩn”, bà nhớ lại.

Một lần sau giờ làm, chàng thanh niên David Brown đánh bạo ngỏ ý muốn chở cô Bạch Tuyết về nhà. Cô gái trẻ gật đầu bằng lòng sau vài giây suy nghĩ.

Buổi chiều cô Bạch Tuyết ngồi sau xe gắn máy chàng trai người Mỹ cao lớn đã gắn chặt cuộc đời hai người với nhau.

Nhưng ban đầu không dễ để ‘cưa đổ’ thân phụ cô Bạch Tuyết.

David cuối tuần nào cũng tới nhà Tuyết hầu chuyện thân phụ cô vài tiếng hồng hồ, chủ yếu nói về chính trị. Ông Brown cho biết lúc đó chỉ mong được thấy bóng Tuyết mang trà ra mời.

“Gia đình tôi rất cổ hủ”, bà Tuyết Lê nhớ lại.

“Bố mẹ không cho phép có bạn trai, nhất là bạn trai ngoại quốc. Người ta nghĩ người ngoại quốc chỉ có tinh dục chứ không có tình nghĩa như người Việt Nam. Nếu một cô gái Việt Nam đi với một người ngoại quốc thì sẽ nghĩ cô ấy làm ở bar hay cái gì đấy.”

“Có một số người bạn ba mẹ nói nếu không có tiền thì chúng tôi cho, chứ đừng cho con trong tay người ngoại quốc. Lúc đó có một gia đinh Việt Nam khá có tiền hỏi cưới tôi cho con trai họ.”

“Về sau ba tôi đưa ra ba điều kiện cho David: Phải có gia đình bên Mỹ qua hỏi cưới theo đúng phong tục Việt Nam. Thứ hai David phải theo đạo thiên chúa. Thứ ba nếu có con phải cho con theo đạo thiên chúa.”

“Lúc đó không có email , David gọi điện thoại về Mỹ để xin phép. Lúc đó bố David mới mất một năm trước. Mẹ David đồng ý qua dù với người Mỹ tình trạng lúc đó ở Việt Nam rất kinh khủng.”

“David cũng đồng ý đi học đạo thiên chúa.”

Hôn lễ của hai người được cử hành vào tháng 6/1969, một thời gian ngắn trước khi David Brown được chuyển về lại Hoa Kỳ.

‘Bí quyết hôn nhân’

Trong khi bà Tuyết Lê thường được nhìn nhận là ‘rất Mỹ’ từ phong thái, phục sức đến phát âm tiếng Anh thì ông David lại ‘rất Việt Nam’. Ông nói giọng Sài Gòn không chê vào đâu được.

Ngày Tết, ông thường thích có món thịt kho, dưa muối và bánh Tét.

Bà Tuyết Lê nói có những khác biệt về văn hóa trong đời sống hôn nhân. Chẳng hạn như việc bà phải gửi tiền về giúp gia đình nhưng ông Brown không hiểu điều này.

Cả hai cãi cọ nhiều vì bà Tuyết Lê xem đó là điều hiển nhiên trong văn hóa Việt Nam trong khi ông Brown thấy ‘không hợp lý tý nào’.

Cuối cùng, bà Tuyết Lê chọn cách thuyết phục chồng bằng tự lập.

Bà bán hàng ở một tiệm quần áo đàn ông, rồi sau đó làm ở một tiệm bán vải. Mới vài tuần đã được khen thưởng là nhân viên tốt.

Bà còn vừa chăm con, vừa học thêm để lấy cho xong bằng cao học trong ngành y tế tâm thần.

“Tuyết khiến tôi xấu hổ và đồng ý giúp đỡ gia đình cô ấy”, ông Brown thừa nhận.

“Tuyết có lẽ là người đàn bà Việt Nam tuyệt vời nhất mà tôi gặp, thông minh, tràn đầy sức sống, bướng bỉnh, không cho phép cuộc đời đánh bại mình.”

Ông bà David Brown nay định cư ở thành phố Fresno, California. Ông bà có hai con gái, một người tốt nghiệp Ðại Học Harvard, người kia tốt nghiệp Brown University.

Bà Tuyết Lê-Brown hiện là một Tham Vấn Tâm Lý Lâm Sàng.

Ông David Brown hiện là chuyên gia viết những bài phân tích về chính trị cho các tờ Asia Times, Asia Sentinel, East Asia Forum.

Lúc rảnh, ông vợ nấu ăn, làm vườn, đi chợ.

Trả lời câu hỏi về bí quyết hôn nhân, bà Tuyết Lê nói ‘tình dục phải tốt’, ‘độc lập về tài chính’ và ‘phải nhường nhịn nhau’.

“Tôi thường nhường nhà tôi 60%”, bà Tuyết Lê không quên nhấn mạnh.

 
About this article

 
Ông bà David, Tuyết Lê-Brown nói về một Việt Nam ‘còn bề bộn nhưng tiến bộ hơn’ sau chuyến trở về mới đây.
 
BBC.COM