Sân bay Vình hành xử kiểu như xã hội đen.

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing, car, sky and outdoor
Image may contain: 1 person, standing, car and outdoor
Image may contain: one or more people, car and outdoor
Nga Huy Nguyen

Sân bay Vình hành xử kiểu như xã hội đen.

Đã lâu không về quê bằng máy bay. Hôm nay đang bị cảm cúm may có cái vé thưởng nên tự thưởng cho mình chuyến đi mây về gió. Đến sân bay Vinh thấy mừng vì khang trang sạch sẽ hơn xưa. Ra cổng đang xem có chuyến xe phòng vé nào về Hà Tĩnh không. Họ bảo phải chờ hơn một tiếng nữa cho đủ người về Hà Tĩnh. Có tay cò mồi tắc xi cứ gạ gẫm nhưng mình bảo không vội. Đang lang thang ngó nghiêng thì thấy một chiếc xe 5 chỗ chạy qua và khi nhìn thấy tôi thì lái xe hỏi: Bác về Hà Tĩnh à? Lên xe tui chở về tôi đang về Hà Tĩnh đây. May quá, đang nắng chang nên mình lên xe. Bác tài bảo trông bác quen quen mà lại đứng giữa nắng nên tui chở về, Hình như bác làm y tế thì phải. Xe chưa kịp chạy thì thấy tên cò tắc xi gõ cửa bảo: Nếu chơ người ra thì bị gông xe. Bác tài bảo chắc nó nói đùa chứ chỏ người nhà về thì có làm sao.
Xe vừa đến cổng thì thấy cổng đóng sập lại và vài ba tay bảo vệ mặt mũi hầm hố hò hét bắt dừng lại. Bác tài hỏi tại sao dừng. Thì được trả lời là cứ chờ sẽ biết. Mấy giây sau thấy một tay bảo vệ vác cái gông sắt ra và lao vào gông vào lốp xe. Bác tài xuống xe hỏi tại sao thì vừa lúc tên cò tắc xi lao xe máy tới và lệnh: Gông lại cho tao roi sẽ biết. Bác tài quay sang toi bảo: Bác thông cảm, tui thấy bác quen định chở về nhưng chúng nó ngăn cản thì bác xuống đi phương tiện khác vậy.

Tôi đành xuống xe giữa trời nắng chang chang. Vừa bước qua cổng thì một đoàn cò chạy tới bu lấy làm tôi phát hoảng. May quá lúc đó có cái xe 30 chỗ biển số Hà Tĩnh chạy ra. Tôi vẫy tay thì được mở của. Tôi nhanh chân lên xe chạy thoát và một mình trên xe mát rượi về tận quê.

Trên xe cứ nghĩ lại và áy náy vì mình mà bác tài tốt bụng bị phiền toái, thương cái xe vô tội bị gông cùm.

Vậy đấy, lòng tốt của con người đã bị ngược đãi bới Ban quản lý sân bay Vinh. Hổ thẹn thay cho Cục hàng không nước nhà.

Nhà thơ lãng tử dễ thương Nguyễn Tất Nhiên

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 1 person, smiling, closeup

Mai-Agnetha Pham is with Mai-Agnetha Pham.

Nguồn: FB Lam Son Le

Bài viết giới thiệu văn nghệ sỹ miền nam tự do: Nhà thơ lãng tử dễ thương Nguyễn Tất Nhiên

Đoàn Dự

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, là một nhà thơ được nhiều người Việt Nam yêu thích. 

Đối với các nhà thơ khác thì người ta hâm mộ, còn đối với Nguyễn Tất Nhiên, người ta yêu thích do thơ của Nhiên rất hay, phóng khoáng, có những nét gần như kỳ lạ nhưng lại rất trẻ, rất hồn nhiên, cứ viết là viết, hễ thích là viết và viết rất gần gũi với cuộc sống con người. Ví dụ: “Người từ trăm năm/ Về ngang sông rộng/ Ta ngoắc mòn tay/ Trùng trùng gió lộng/ Thà như giọt mưa/ Vỡ trên tượng đá/ Thà như giọt mưa/ Khô trên tượng đá/ Có còn hơn không…” (Trích: Khúc tình buồn. 
Phạm Duy phổ nhạc và đổi tên thành ‘Thà như giọt mưa’ nhưng xem ra cái tên Khúc tình buồn hay hơn). 

Ôi, tình yêu mà chỉ có “một khúc” thôi – một khúc ngắn ngủi, nhỏ bé, giống như những giọt mưa rơi trên tượng đá, sau đó khô đi và tác giả tự an ủi: “Có còn hơn không”. 
Thật dễ hiểu, dễ gần gũi, vì ai cũng đã từng trải qua thứ tình cảm ấy nên thấy yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Thời trẻ tuổi: Nguyễn Tất Nhiên sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California, Mỹ, hưởng dương 40 tuổi. 
Lúc còn là một học sinh với cái tên khai sinh Nguyễn Hoàng Hải, Nhiên theo học tại trường Trung học Công lập Ngô Quyền – Biên Hòa từ năm lớp 6 (1963) cho tới năm lớp 12 (1970).

Biên Hòa trước 1975 có hai trường trung học lớn, là trường Ngô Quyền (công lập) và trường Khiết Tâm (tư thục, công giáo). Trường Ngô Quyền nay vẫn còn nhưng trường Khiết Tâm đã bị tịch thu ngay sau 30-4 và trở thành trường bán công.

Khi còn là một học sinh Trung học Đệ Nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9), cậu học sinh Nguyễn Hoàng Hải đã làm thơ và thơ rất hay, rất tình cảm, với những ý tưởng đặc biệt nên được bạn bè hâm mộ. Mới học lớp 7 nhưng cậu rủ cậu bạn cùng lớp cũng yêu thơ như mình tên là Đinh Thiên Thọ thành lập thi văn đoàn Tiếng Tâm Tình và khuyến khích bạn bè hợp tác. Các “tác phẩm” cả thơ lẫn văn trong thi văn đoàn đem quay ronéo rồi chuyền tay nhau đọc.

Năm sau, lên lớp 8, mới 14 tuổi (năm 1966), hai “nhà thơ học trò” này chung tiền nhau xuất bản tập thơ đầu tay Nàng thơ trong mắt. 
Gia đình Nguyễn Hoàng Hải có tiệm may âu phục lớn ngay trong trung tâm thành phố, còn gia đình Đinh Thiên Thọ có tiệm tạp hóa cũng rất khá giả, nên tiền in thơ cũng “lo được”.

Đinh Thiên Thọ lấy bút hiệu là Đinh Thiên Phương còn Nguyễn Hoàng Hải lấy bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Như vậy, Đinh Thiên Phương và Hoài Thi Yên Thi là hai nhà thơ “nhí” có tác phẩm xuất bản rất sớm, vào năm 14 tuổi (Đinh Thiên Thọ và Nguyễn Hoàng Hải bằng tuổi nhau).

Trong thời gian này, Hoài Thi Yên Thi (Nguyễn Tất Nhiên) thầm yêu một cô bạn cùng lớp gốc “Bắc kỳ di cư 54” tên là Duyên (Hoài Thi Yên Thi người miền Nam) với những tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng, nhưng không đi đến đâu vì tình yêu thuở học trò thời đó là như vậy, “yêu rất nhiều mà chẳng được bao nhiêu” chứ không như bây giờ. 
Tuy nhiên, dù sao thì cô bạn gái cùng lớp tên Duyên cũng là niềm cảm hứng cho nhà thơ Hoài Thi Yên Thi và sau này “chàng” đổi bút hiệu thành Nguyễn Tất Nhiên, sáng tác khá nhiều bài thơ rất có giá trị: “Khúc tình buồn” 
(Phạm Duy phổ nhạc thành “Thà như giọt mưa”), “Linh mục” 
(Nguyễn Đức Quang phổ nhạc thành “Vì tôi là linh mục”), “Ma sơ” (Phạm Duy phổ nhạc thành “Em hiền như ma sơ”), “Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”,v.v… Người ta tìm được 71 bài đã đăng báo và 3 tập thơ đã xuất bản, trong đó có một tập in ở Mỹ khi Nhiên còn sống.

Tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Tất Nhiên đã bộc lộ từ lúc còn rất ít tuổi. Đầu óc Nhiên được mô tả là lúc nào cũng như mơ mộng, suy nghĩ đâu đâu, không tập trung ngay cả trong khi còn đang đi học. 

Bạn bè thời đó gọi đùa Nhiên là “Hải-ngố” hay “Hải-khùng”. 

Có câu chuyện do bạn bè kể lại là một buổi sáng, Nguyễn Tất Nhiên đứng giữa ngã tư trong thành phố Biên Hòa, hai tay đút túi quần, cặp mắt mơ mộng nhìn lên trời như không biết đó là ngay giữa ngã tư.

Theo lời kể của nhà thơ Thái Thụy Vy, hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà “Hải-khùng” vẫn mặc chiếc áo măng-tô mua ở khu Dân sinh dưới Sài Gòn, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đạp xe đạp đi theo “cô Bắc Kỳ nho nhỏ” tên Duyên.

Giai đoạn từ 1971 trở về sau:
Sự nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên thời gian đầu không mấy thành công, thơ in ronéo tặng cho các nữ sinh chẳng ai buồn đọc.

Hai tập thơ xuất bản, gửi bán trong tiệm sách ở đầu chợ Biên Hòa, để lâu giấy vàng cả ra cũng chẳng ai mua.
Cho đến khi thơ của Nhiên được một giáo sư trong trường Ngô Quyền (trước năm 75 các thầy cô giáo dạy trung học gọi là giáo sư, dạy tiểu học gọi là giáo viên; sau 75 tất cả đều là giáo viên giống như ngoài Bắc), vốn yêu thơ và biết thơ của Nhiên có giá trị nên gửi tới tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn do nhà văn Mai Thảo chủ trương. 
Lúc ấy, hễ có bài đăng trên tạp chí Văn của Trần Phong Giao, tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo hay Bán nguyệt san Thời Nay của Nguyễn Văn Thái v.v… là rất dễ được mọi người chú ý. 
Các nhạc sĩ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang thấy thơ của tác giả Nguyễn Tất Nhiên nào đó đăng trên Sáng Tạo rất hay và có ý lạ nên phổ nhạc, từ đó Nguyễn Tất Nhiên bắt đầu nổi tiếng.

Bị… lính chê!
Đầu năm 1972, Nguyễn Tất Nhiên nhận được giấy gọi nhập ngũ Trường Sĩ quan Thủ Đức, nhưng mới đi trình diện, khám sức khỏe tại Trung tâm Nhập ngũ số 3 đường Tô Hiến Thành thì bị các bác sĩ trong Hội đồng Giám định Y khoa… chê và cho về với lý do “tâm thần không ổn định”.

Đối với anh chàng lãng tử đầu óc luôn luôn để đâu đâu này thì đi lính cũng được, không đi lính cũng được, chẳng sao cả. 
Nhưng đã đi rồi lại bị cho về vì… đầu óc không bình thường thì cũng hơi mắc cỡ với bạn bè. Do đó, chàng bèn nói dóc rằng chính chàng giả bộ tâm thần, đánh lừa được Hội đồng Giám định nên họ cho về. 
Giải thích riết rồi… chính chàng cũng tưởng rằng mình có tài “giả điên” thật, nên bèn lấy làm khoái chí lắm, hễ gặp bạn bè là khoe tới khoe lui hoài.

Thế rồi, sau 1975, ai cũng nghèo, Nguyễn Tất Nhiên may mắn xin được một chân làm nhân viên điều hành trong Hợp tác xã xe lam ở bến xe Tam Hiệp, Biên Hòa, đồng lương tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng đỡ phải chơi không. Ngoài ra, Nhiên cũng có một người anh và một người chị ở bên Pháp làm ăn từ trước rất khá giả, luôn luôn gửi quà (tức các thùng hàng, lúc đó chưa được gửi tiền như bây giờ) về giúp đỡ nên gia đình không đến nỗi nào.

Không phải lo cho chuyện gia đình, buổi tối buồn tình chàng đi học đàn ghi-ta và học sáng tác âm nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa nhưng không thành công. Chàng chẳng sáng tác được bản nhạc nào. Cuối năm 1980, gia đình được bảo lãnh sang Pháp, trong đó có Nhiên. Lúc ấy chàng 28 tuổi.

Ba năm sau, có một cô gái tên Lê Minh Thủy từ bên Mỹ đi du lịch Âu châu, sang Pháp.
Cô này vẫn hâm mộ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, nhất là qua các bài đã được nhạc sĩ Phạm Duy và nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc, bèn tìm đến thăm. 
Họ gặp nhau, yêu nhau rồi ít lâu sau chàng sang Mỹ làm đám cưới với nàng và ở lại với vợ tại Mỹ, sống ở Quận Cam, California.

Năm 1987, theo gợi ý của vợ, chàng gia nhập Hội Nhà Văn Việt Nam tại hải ngoại. Đó là một mối tình đẹp, họ rất yêu nhau và có với nhau hai con trai.

Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy nhà thơ lãng tử Nguyễn Tất Nhiên chết trong chiếc xe hơi của mình đậu dưới bóng cây trong một sân chùa thuộc California, có lẽ do bị trụy tim bất ngờ.

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định

Đây là những câu thơ được coi là “tiền định” trích trong bài “Giữa trần gian tuyệt vọng” làm năm 1972, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 20 tuổi. 
Những câu thơ này được khắc trên mộ bia của chàng. Mộ Nguyễn Tất Nhiên nằm tại Vườn vĩnh cửu trong nghĩa trang Westminster, phía tây Little Saigon, California. 
Rất thường xuyên, các du khách Việt đến thăm khu phố Bolsa – Little Saigon có ghé ngang qua thăm mộ thi sĩ.

Theo lời nhà báo Đoàn Thạch Hãn thì bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên là do nhà thơ Du Tử Lê đặt. Ông Hãn kể rằng theo nhà thơ Phạm Chu Sa, “có lần Nhiên bộc bạch rằng bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên là do Du Tử Lê đặt. 
Nhiên bảo, ngay lần đầu mới gặp, Du Tử Lê đã chê cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. 
Nhiên hỏi Du Tử Lê: 
– “Bạn bè em ai cũng chê. Cái bút hiệu này hơi sến phải không?”

Lê đáp: – ‘Tất nhiên’. 
Du Tử Lê nói thêm: 
– “Họ Nguyễn hả? Ừ thì lấy luôn là NguyễnTất Nhiên đi”.
Thế là cái tên định mệnh đó ra đời, gắn chặt với thi nghiệp của một con người tài hoa bạc mệnh.

Bài thơ dưới đây được xem là cuối cùng của Nguyễn Tất Nhiên:

Tình ơi hỡi tình

Lâu rồi…, không nhớ bao lâu
Tìm nhau trong cõi bạc đầu nhân gian.
Em về, dưới gót trăng tan
Có nghe thiên cổ tiếng ngàn thông đau?

* * *

Lâu rồi…, lâu lắm xa nhau
Còn chăng hư ảnh trong màu thời gian.
Em đi, tóc lộng mây ngàn
Ngàn mây lộng khổ mây bàng bạc theo

Lâu rồi…, không biết bao nhiêu
Nắng mưa trên những tàn xiêu đổ đời.
Hôm em êm ả điệu ngồi,
Sau lưng là những tình ơi hỡi tình..

“Người xưa” lên tiếng:
Trong số những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên để lại, người con gái tên Duyên có một vị trí đặc biệt. Trong “Khúc tình buồn”, Nguyễn Tất Nhiên đã thấy “Người từ trăm năm về qua sông rộng. Ta ngoắc mòn tay (nhưng chỉ thấy) trùng trùng gió lộng”.

Anh yêu người con gái ấy song không thể đến gần, bởi vì người đó cứ xa cách muôn trùng. 
Anh yêu, cuồng nhiệt, bỏng cháy mà không được đáp lại nên điều ước thật… điên: “Thà như giọt mưa/ Vỡ trên tượng đá/ Thà như giọt mưa/ Khô trên tượng đá/ Có còn hơn không”.

Sau này, một người bạn của Nguyễn Tất Nhiên kể lại là đã hỏi tại sao lại “thà như giọt mưa” thì anh trả lời hết sức cắc cớ: “Ai biểu Duyên không yêu tôi thì tôi làm giọt mưa… vỡ trên vai nàng”.

Người con gái xứ Bắc tên Duyên đã đi vào thơ Nguyễn Tất Nhiên là ai? Bóng hồng ấy có sức hút mãnh liệt thế nào khiến nhà thơ đắm say, si tình, điều đó gợi ra trí tò mò của người yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên… 
Chính từ thắc mắc ấy, nhà báo Hà Đình Nguyên đã bỏ công ra truy tìm nguyên mẫu trong hàng chục năm ròng rã từ nhiều nguồn tin, bằng các mối quan hệ và bằng cả cơ duyên.

Trong một lần tâm sự với nhà thơ Lê Minh Quốc, anh thành thật nói rằng mấy chục năm nay đã cố tìm tòi về người đẹp tên Duyên trong các bài thơ nhưng “bó tay”. 
Lê Minh Quốc lục trong trí nhớ và giới thiệu Hà Đình Nguyên tìm gặp nhà báo Lưu Đình Triều, người học cùng trường Ngô Quyền thuở trung học với người đẹp tên Duyên và cả nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ở Biên Hòa, Đồng Nai.

Qua trí nhớ của người bạn của Nguyễn Tất Nhiên, cô gái tên Duyên cũng hé mở. 
Theo Lưu Đình Triều, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải sinh năm 1952, sau mới lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên.

Còn cô Duyên, tên đầy đủ là Bùi Thị Duyên dân “Bắc Kỳ”, gia đình di cư vào Nam năm 54. 
Tình yêu của Hải dành cho Duyên cả trường Ngô Quyền ai cũng biết. Ngoài ra, Duyên còn là nguồn cảm hứng, là nguyên mẫu cho nhiều bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên khi anh ở độ tuổi đôi mươi.

Những tưởng Nguyễn Tất Nhiên sẽ chiếm được trái tim “người đẹp” khi tên cô ngân vang cùng nhạc Phạm Duy trong lòng bao nhiêu người yêu mến. 
Thế nhưng, người đẹp tên Duyên và nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên vẫn đường hai lối rẽ.

Sau này, họ cùng sống ở Mỹ nhưng không biết có cơ hội nào gặp lại nhau không, vì một người ở Michigan, một người ở California.

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi Thị Duyên ngày nào hiện nay vẫn sống tại Michigan, Hoa Kỳ. 
Sau này, qua những người bạn của Nguyễn Tất Nhiên, cô đã nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò: 
– “Tụi này học chung cùng lớp với nhau từ năm đệ Tứ. Nhưng lúc đó tôi ngây thơ, chưa nghĩ gì hết, còn Nguyễn Tất Nhiên nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ mà Nguyễn Tất Nhiên nói là có ba bản đặc biệt. 
Một bản của Nhiên, một bản tặng tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành tập thơ của Nguyễn Tất Nhiên chứ không phải không. Tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ”.

Trong tập thơ Thiên Thai, Nguyễn Tất Nhiên có rất nhiều bài nói về người thiếu nữ tên Duyên và tập thơ này viết bởi nguồn cảm hứng duy nhất đó. “Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một tập thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với Nguyễn Tất Nhiên ngay từ đầu rằng mình là bạn thôi. Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau anh ấy phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp một người bạn như tôi. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm” – người con gái tên Duyên chia sẻ.

Mới hay, tình yêu đơn phương, hay tình dang dở khiến người ta nghĩ đến nhau nhiều. 
Những vần thơ đã sống cùng thời gian, và người con gái tên Duyên thành biểu tượng thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Những bài thơ đã làm cho cái tên Duyên trở nên nổi tiếng và ý nghĩa. Cái ý nghĩa gắn với một tình yêu cuồng si của một tài thơ điên, phận mỏng.

Nguyễn Tất Nhiên yêu và chẳng ngại ngùng khi gọi tên người mình yêu trong thi ca. 
Trong bài “Duyên của tình ta con gái Bắc”, anh viết: “Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc/ Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền/ Nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang/ Nhớ duyên dáng, ngây thơ mà xảo quyệt/ Nếu vì em mà ta phải điên tình/ Cơn giận giữ đã tận cùng mê muội/ Thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài luôn yếu đuối…”

Đoàn Dự ghi chép
Khúc Buồn Tình

Người từ trăm năm
về ngang sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không

mưa ôm tượng đá)……
người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm

ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá

thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

(1970)
Hình ảnh bên dưới là hình Nguyễn Tất Nhiên và Bùi Thị Duyên (Người con gái tên Duyên trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên )

Từ anh thợ sơn đến Bác sĩ chuyên khoa và Huy Chương OAM của Nữ Hoàng

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and eyeglasses
Van Pham

VẺ VANG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN…

********

Từ anh thợ sơn đến Bác sĩ chuyên khoa và Huy Chương OAM của Nữ Hoàng

Từ một cậu bé bỏ học năm lớp 10, lao công đào binh từ chiến trường K, vượt biên qua Úc làm đủ thứ từ thợ sơn, thợ mài, phụ shop, công nhân bưu điện đến trở thành một bác sĩ chuyên khoa, Bác sĩ Hồ Quang Phú- người vừa vinh dự nhận Huy chương OAM của Nữ Hoàng vì sự đóng góp của ông trong lãnh vực Y khoa và cộng đồng, nói về ba người với ba câu nói đơn giản đã ảnh hưởng quan trọng đến cuộc đời ông.

Cộng đồng người Việt Úc Châu vừa vinh dự có thêm một thành viên được trao tặng Huy chương Phục vụ cộng đồng và nhân sinh.

Đó là Bác sĩ Hồ Quang Phú ở Sydney đã được Ngài Toàn Quyền Úc Peter Cosgrove trao tặng huy chương OAM nhân dịp sinh nhật Nữ Hoàng mới đây vì sự đóng góp của ông trong Y khoa.

Để đi từ một người lao động làm những công việc nặng nhọc đến trở thành bác sĩ chuyên khoa sản và hiếm muộn, một người thầy được nhiều sinh viên tại trường Y thuộc đại học Sydney yêu mến là cả một chặng đường dài lý thú.

Với hàng trang là lớp 10 bỏ học giữa chừng khi còn ở Việt Nam, đi nghĩa vụ quân sự chiến trường Campuchia bị đẩy ra trận sau hai tháng quân trường chỉ được bắn đúng ba phát đạn thật, chứng kiến vô số bạn đồng ngũ bị làm bia đỡ đạn bia tập bắn cho lính Pol Pot, Phú đào ngũ.

Phú bị bắt đi lao động cải tạo và những ngày đói vàng mắt vì chỉ ăn bo bo với nước mắm ở Bù Đăng Bù Đốp tưởng phải bỏ mạng vì những cơn sốt rét rừng năm 18 tuổi.

Gia đình gom góp vay mượn cho Phú đi vượt biên. Chuyến đi vượt biên ly kỳ với hai lần bể bánh xe lôi, bị bỏ lại trên đường đi đến điểm hẹn để xuống ghe ra tàu lớn ở Cần Thơ, hai lần bị lạc đoàn, và khi lên được ghe thì lại bị chết máy.

Nhóm ông bị chậm đến một ngày một đêm tính luôn thời gian ghe nhỏ bị chết máy trong lúc chạy đuổi theo tàu lớn thế nhưng cũng lên được tàu.

Vào lúc cậu thanh niên Phú nghĩ mình bỏ về lại Sài gòn để tránh bị bắt tù lao động lần nữa thì một người phụ nữ trong đoàn bị lạc nói Phú đừng về vì “Chồng tôi sẽ không đi nếu như không có tôi”.

Và đúng vậy người chồng trên chuyến tàu lớn đã tìm mọi cách để nấn ná ở lại một ngày một đêm trong tình trạng hai bên hoàn toàn không có một phương tiện gì liên lạc ngoài niềm tin và sự gắn bó vợ chồng đã giúp họ tìm thấy và hợp lại với nhau trên tàu.

Sự gắn bó keo sơn của cặp vợ chồng người tổ chức chuyến đi không chỉ đã giúp họ tìm nhau mà còn giúp cả đoàn vượt biên gần 105 người ra đi trọn vẹn sau một ngày một đêm lạc nhau kẻ trên bờ người trên biển.

Cũng trong một ngày một đêm lạc nhau đi tán loạn trên bến Ninh Kiều, gần như ai cũng đoán ra cái nhóm người lạ mặt không giống dân địa phương đang đi lơ ngơ không biết đường trong khu chợ chồm hổm trên bờ bến Ninh Kiều kia là nhóm người từ Sài Gòn đi vượt biên nhưng đã không ai báo công an để bắt họ; và nếu không có sự mách nước của một người phụ nữ bán hàng thúng ở chợ thì có lẽ chuyến đi vượt biên cậu thanh niên 20 tuổi Phú đã kết thúc ở trại cải tạo.

Chính người phụ nữ vô danh tốt bụng trong ngôi chợ chồm hỗm bằng lòng tốt cho đi không hồi đáp đã giúp nước Úc có một bác sĩ tương lai tài giỏi và một OAM mà cộng đồng người Việt tự hào.

Những hành động và thái độ của những người ông gặp trên đường đời đã gieo trong Phú về lòng tốt và lòng biết ơn.

Giận dữ kẻ khác khi lái xe ở Alabama, một bà lỡ tay bắn vào đầu chồng

Giận dữ kẻ khác khi lái xe ở Alabama, một bà lỡ tay bắn vào đầu chồng

Nguoi-viet.com

Đoạn xa lộ nơi xảy ra tranh chấp ở Alabama. (Hình: WVTM-TV)

BREMEN, Alabama (NV) – Một phụ nữ bị cáo buộc là tìm cách bắn một người khác khi giận dữ về tranh chấp lúc lái xe trên đường ở tiểu bang Alabama, nhưng bà này lại bắn lầm vào đầu ông chồng, theo nguồn tin cảnh sát.

Theo tin của đài truyền hình địa phương WVTM, cuộc tranh chấp trên đường này xảy ra vào khoảng 6 giờ 45 chiều Thứ Bảy, 6 Tháng Bảy, giữa ông Nicholas Cole và bà Erica Cole, với một người đàn ông trong chiếc xe khác, trên xa lộ 69 ở thành phố Dodge City.

Bản tin của đài WVTM nói bà Erica Cole rút súng khi ông chồng và người đàn ông kia đánh nhau. Bà định bắn người đàn ông kia, nhưng một viên đạn lại trúng vào đầu ông chồng của bà, tên Nicholas Cole.

Bà Erica Cole. (Hình: Cullman County Sheriff’s Office via AP)

Bà Erica Cole bị bắt về tội tìm cách giết người, tấn công và có hành động bất cẩn gây nguy hiểm tính mạng, theo nhà chức trách.

Ông Nicholas Cole được nhanh chóng chở vào bệnh viện và hiện được cho biết trong tình trạng sức khỏe ổn định, theo Văn Phòng Cảnh Sát Trưởng Cullman County.

Bà Erica Cole ra tòa lần đầu hôm Chủ Nhật và tiếp tục bị giam với số tiền thế chân ấn định để được tại ngoại hậu tra là $30,000. (V.Giang)

Trúc Hồ viết ca khúc mới ‘Sea of Black’, cảm hứng từ biểu tình Hongkong

Trúc Hồ viết ca khúc mới ‘Sea of Black’, cảm hứng từ biểu tình Hongkong

Nhóm ca nhạc sĩ thực hiện ca khúc “Sea of Black”. (Hình: SBTN.)

HONGKONG 11-7 (NV) .- Báo South China Morning Post (SCMP) phát hành tại Hongkong có bài ký sự về ca khúc “Sea of Black” của nhạc sĩ Trúc Hồ, được các ca sĩ gốc Việt trình bày, lấy cảm hứng từ các cuộc biểu tình của người Hồng Kông chống trục xuất về Hoa Lục.

Bài ký sự của SCMP hôm Thứ Năm 11/7/2019 viết về ca khúc “Sea of Black” (Biển Màu Đen) mà nhạc sĩ Trúc Hồ đã cảm hứng sáng tác khi ông chứng kiến hàng triệu người mặc trang phục màu đen, đổ ra đường biểu tình, chống lại Dự Luật Dẫn Độ cư dân địa phương về Hoa Lục hành tội nếu có gì đụng chạm tới pháp luật.

Bài hát nêu sự song hành giữa Hồng Kông và Việt Nam, một quốc gia tuy đã thống nhất nhưng lại nằm trong sự thống trị độc tài của đảng CSVN làm người dân mất tự do.

Bài ca, lời Anh ngữ, có điệp khúc “freedom, democracy, is all that we need” (tự do, dân chủ, là những điều tất cả chúng ta cần). Không những bài viết trên SCMP nói về chuyến vượt biên đường bộ đi tìm tự do băng ngang Cambodia khi ông Trúc Hồ mới có 16 tuổi, bài viết cũng đề cập tới nhạc sĩ Việt Khang với mấy năm tù tội vì sáng tác mấy ca khúc bầy tỏ lòng yêu nước như “Anh là ai?”, “Việt Nam tôi đâu”.

“Hình ảnh 2 triệu người mặc quần áo đen vùng lên đòi hỏi tự do gây cảm hứng cho tôi lần nữa nên tôi cầm cây đàn guitar bắt đầu viết bài hát.” SCMP dẫn lời ông Trúc Hồ. Hai người con của ông, Lala Trương và Ly-Bach Trương giúp ông hoàn tất ca từ và từ đó họ đặt tên cho ca khúc là “Sea Of Black”. Ca khúc này cũng được SCMP cho lên mạng cùng với bài ký sự để độc giả cùng thưởng thức.

“Tôi muốn các con tôi biết những gì đang diễn ra tại Hồng Kông cũng như hiểu cuộc đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền của người dân tại Việt Nam cũng đang diễn ra”. Ông Trúc Hồ nói.

Lời ca trong nhạc phẩm “Sea of Black” có những từ như “Hong Kong, land of free, land of you, land of me” (Hong Kong, đất của tự do, đất của anh, đất của tôi) và “today Hong Kong, tomorrow Vietnam” (Hôm nay Hồng Kông, ngày mai Việt Nam) kêu gọi sự đoàn kết giữa những người đấu tranh dân chủ tại Hồng Kông và tại Việt Nam.

SCMP cũng dẫn lời tổ chức Freedom House ở Hoa Kỳ xếp nước Việt Nam vào số các quốc gia “không có tự do”, chỉ số tự do trên bảng xếp hạng Việt Nam của Freedom House chỉ được 20/100 điểm. Tổ chức này cũng cho biết chế độ Hà Nội đang giam giữ 244 tù nhân lương tâm trong năm 2018.

Mai Thanh Sơn, một trong những ca sĩ tham gia góp tiếng hát trong bản nhạc nói trên nói rằng anh hy vọng một ngày trong tương lai người dân tại Việt Nam có thể đứng lên như người dân tại Hồng Kông, dù điều này còn đòi hỏi thời gian.

Tuy một số báo tại Việt Nam loan tin cuộc biểu tình ở Hồng Kông chống trục xuất về Hoa Lục, nhưng đồng thời, chế độ Hà Nội cho guồng máy tuyên truyền, một mặt bóp méo cuộc biểu tình đó, một mặt kêu gọi cán bộ đảng viên “cảnh giác chiêu trò kích động từ cuộc biểu tình ở Hong Kong”. (TN)

MIỀN ĐẤT BẠC,

Hieu Vo and Cat Bui shared a post.
Image may contain: one or more people, people sitting, plant, outdoor and nature
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people and outdoor

Duy Linh

MIỀN ĐẤT BẠC,

Thương tặng những gia đình có người thân bỏ mạng trong các trại tù cải tạo.

Mùa thu cũ nhớ ngày xa lặng lẻ.
Tôi viết bài thơ lời tưởng niệm tặng anh.
Ngày ra đi không tiếng trống, không nhạc quân hành.
Thảm cỏ úa, vài chiếc lá xanh làm phúng điếu.

Anh ra đi không mang theo giấc mơ huyền dịu.
Vỏn vẹn chỉ manh áo tù và manh chiếu phủ thân.
Hai chiến hữu đồng tù, còng lưng thương tiếc ân cần.
Cũng kiệt sức trơ dần vì đói khác.

Mé rừng hoang, nơi anh nằm, miền đất bạc.
Sỏi đá khô cằn tan tác thê lương.
Bạn tù khiêng anh quỵ ngã bên đường.
Anh không nặng nhưng hai thân gầy xương khiêng sao nổi.

Sức kiệt đất cằn bốn tay gầy xới vội.
Huyệt không sâu, u uẩn một lối về.
Ngày anh đi, không con cháu, không hôn thê.
Âm thầm cô lẻ nẻo đường quê từ biệt.

Nước mắt hai bạn tù đã đuối mòn cạn kiệt.
Gió vi vu thương tiếc thoảng mênh mang.
Anh ra đi hồn lẻ nhập suối ngàn.
Đâu còn nữa thênh thang đường Tổ Quốc.

Chiều Việt Bắc dòng đời như tất bật.
Khối nhân gian vẫn vờ vật với đời.
Giã biệt anh, người chiến hữu ơi.
Theo sau linh cữu chỉ đất trời gió lộng.

Chuyến viễn du ngàn thu trong tôi anh vẫn sống. /.
(Nguyên Thạch)

Lời cảnh cáo đanh thép dành cho nhà cầm quyền cộng sản VN.

Nguyễn Hữu Vinh and Thi Van Tran shared a post.
Image may contain: 5 people, people standing, suit and outdoor
Nguyễn Văn Đài is with Trần Bang and 97 others.

Lời cảnh cáo đanh thép dành cho nhà cầm quyền cộng sản VN.

Chiều ngày 9.07.2019, sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình trạng nhân quyền và việc nhà cầm quyền cộng sản VN đàn áp các tù nhân lương tâm trong các nhà tù.

Tân Chủ tịch Uỷ Ban nhân quyền của Nghị viện Âu châu Maria Arena nói rằng bà sẽ chống việc Nghị viện Âu châu thông qua EVFTA cho cộng sản VN.
Bà nói:”Theo quan điểm của tôi thì không bao giờ nên dành EVFTA cho CSVN. Tôi sẽ vận động các đồng nghiệp của tôi làm điều này.”

Chúng tôi sẽ có bài tường thuật chi tiết gửi tới quí vị sau khi kết thúc buổi vận động ngày 10.07.2019.

Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa

Image may contain: 1 person, smiling, standing and beard
Kha Ngo Van

Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa

Nói về Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, ngoài cha Giuse Vũ Ngọc Bích, trong số những con người đã ghi lại dấu ấn đậm nét trên bước đường tồn tại và phát triển của Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội phải kể đến Thầy Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn – người tù không án, người tôi tớ Chúa, dám sống cho sự thật, bị bắt vì sự thật và chết cho sự thật.

Thầy Gioakim Nguyễn Tấn Văn sinh ngày 15 tháng 03 năm 1928, tại Ngăm – Giáo, một làng quê nhỏ nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng, thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 17 tháng 10 năm 1944, thầy được nhận vào làm Dự tập sinh Dòng Chúa Cứu Thế và được nhận tên Dòng là Marcel. Ngày 8 tháng 9 năm 1946, lễ sinh nhật Đức Mẹ, thầy được khấn trong Dòng.

Ngày 7 tháng 2 năm 1950, thầy rời nhà Hà Nội tới phục vụ tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Ngược với dòng người đang hoảng loạn di tản vào Nam tránh nạn cộng sản, ngày 14 tháng 9 năm 1954, lễ Suy tôn Thánh giá, thể theo lời kêu gọi của các bề trên, thầy rời Nhà Đà Lạt trở về Hà Nội cùng với hai vị thừa sai Canada là các cha Thomas Côté và Denis Paquette. Trước khi lên máy bay trở lại Miền Bắc và sẽ không bao giờ trở lại, thầy đã quả quyết với những người khuyên thầy đừng trở lại Hà Nội rằng:“Không ai, không gì có thể tước được vũ khí của Tình yêu của tôi. Tôi ra đi để chứng tỏ giữa vùng cộng sản vẫn có người yêu mến Chúa, yêu mến Thiên Chúa nhân lành… Cái chết của tôi sẽ là sự sống của nhiều người. Cái chết của tôi sẽ đánh dấu thời kỳ bắt đầu hòa bình cho Việt Nam” (trích Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).

Lời đanh thép này đã là lời tiên báo con đường thập tự mà thầy sẽ trải qua và điều ấy đã xảy ra sớm hơn những gì thầy dự định: ngày 7 tháng 5 năm 1955, ngày kỷ niệm 26 năm thành lập Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội, Marcel Văn bị bắt khi đứng ra làm chứng cho sự thật. Chuyện kể rằng:

“Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1955, Marcel Văn ra phố mua đồ dùng và nhân tiện lấy chiếc xe Môbilét gửi sửa từ hôm trước. Trên đường phố, Văn nghe thấy một số người bàn qua, tán lại câu chuyện hoàn toàn sai sự thật… về Miền Nam. Những người này cho rằng, ở Miền Nam, dân bị đưa đi làm khổ sai, thanh niên phải đi lính cho đế quốc… Trước những lời lẽ thô bỉ, những luận điệu sai trái này, nghĩ cần phải lên tiếng, Marcel Văn đã ôn tồn và lịch sự xác nhận: “Chính tôi đây, từ trong Nam ra…tôi xác nhận là Chính phủ Miền Nam không hành động như vậy” (theo Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).

Những năm tháng tù đầy đối với thầy là những năm tháng nghiệt ngã: bị tra tấn, biệt giam, đấu tố… bị mua chuộc, dụ dỗ ra nhập “Ủy Ban Liên Lạc Những Người Công giáo Yêu nước” và bị kết 15 năm tù không án, nhưng thầy vẫn kiên trung với sứ mạng và tiếp tục làm chứng cho sự thật. Trong một bức thư viết vội trong tù gửi cha bề trên Dòng, thầy đã viết:

“Nếu con muốn sống, thật quá dễ dàng: con chỉ việc tố giác cha. Chắc cha biết qua về “phong trào tố khổ” của những người “yêu nước”, những người “cách mạng Việt Nam” rồi chứ gì? Ôi! Tinh thần yêu nước! Ôi! Cách mạng! Người ta đã nhân danh ngươi để phạm biết bao tội ác!”

Thầy cũng viết cho cha linh hướng của mình:

“…thời gian qua con đã phải chiến đấu rất nhiều, và chịu đủ mọi khổ hình về tâm não. Kẻ thù dùng nhiều mưu bắt con phải đầu hàng, nhưng chưa bao giờ con lại để mình hèn nhát đến thế. Cũng có thể nói nếu con ham sống, thì ngày nay con không còn bị nhốt trong tù nữa. Nhưng kẻ thù lại không muốn để con chết một cách anh dũng và dễ dàng như thế. Cha hiểu con nói gì rồi. Cha cầu nguyện nhiều cho con, cách riêng cho các tín hữu Bắc Việt” Tù 304 A. (Thư 17.11.1955 gửi cha A. Boucher).

Theo các chứng từ còn để lại, chính quyền thời đó đã dùng mọi biện pháp để thuyết phục thầy “nhận tội”, nhưng thầy đã quả quyết: “Tôi không thú nhận tội ác mà không bao giờ tôi phạm” và sự kiên cường ấy khiến thầy phải trả giá bằng chính mạng sống mình.

Tháng 8 năm 1957, thầy bị chuyển tới trại số 2, Yên Bình, Yên Bái. Suốt hai năm sống tại đây phần lớn thời gian thầy bị biệt giam, không được tiếp tế thăm nuôi. Thầy bị lao phổi nặng.

Ngày 10 tháng 7 năm 1959, thầy đã an nghỉ trong cánh tay Chúa nhân từ, kết thúc một cuộc đời luôn dám sống cho sự thật và đã chết vì can đảm làm chứng cho sự thật. Chút xương tàn của thầy, giờ đây, vẫn còn đang chìm dưới lòng Hồ Thủy điện Thác Bà như một chứng tích tố cáo một thời kỳ lịch sử đầy bất công mà chế độ cộng sản đã gây ra cho đất nước và cho dân tộc.

Cuộc sống, cái chết và tấm gương anh dũng của thầy trong cuộc đấu tranh cho công lý và sự thật đã làm nẩy sinh những tín hữu trung kiên, đang và sẽ mãi là động lực thôi thúc các thế hệ kế tiếp của Nhà Dòng tại Hà Nội tiếp bước thầy trong cuộc đấu tranh, dấn thân cho những con người bị áp bức, bị đẩy ra bên lề.

Thầy đã ra đi, nhưng con người và sự nghiệp đấu tranh cho sự thật vẫn còn đó. Thầy đã ra đi, cái chết, sự khổ nhục trong chốn lao tù đã làm trổ sinh ơn phúc giúp Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội vượt qua được những giai đoạn gian khó nhất trong quá trình hình thành và phát triển suốt 90 năm qua.

Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.

Phụ nữ đói, lấy cắp thực phẩm, được cảnh sát trả tiền giùm, thả cho đi

Phụ nữ đói, lấy cắp thực phẩm, được cảnh sát trả tiền giùm, thả cho đi

Ba cảnh sát viên và người phụ nữ bị cáo buộc tội ăn cắp trong tiệm Whole Foods ở New York. (Hình: Paul Bozymowski)

NEW YORK, New York (NV) – Khi ba cảnh sát viên thuộc Sở Cảnh Sát thành phố New York đến gặp một phụ nữ bị cáo buộc ăn cắp trong tiệm bán thực phẩm Whole Foods ở Manhattan hôm Thứ Năm, 4 Tháng Bảy, họ đã không bắt giữ người này.

Các cảnh sát viên đó, vốn rất cứng rắn với tội phạm trên đường phố New York, nhanh chóng quyết định là sẽ giúp trả tiền thức ăn để bà ta được thả đi, theo bản tin của CNN.

Trước đó, một nhân viên canh gác tiệm đã nhờ ba cảnh sát viên đang đi tuần hãy đến bắt một phụ nữ bị cáo buộc là lấy cắp đồ trong tiệm.

Trung Úy Cảnh Sát Louis Sojo nói ông nhìn thấy mấy hộp thức ăn làm sẵn trong túi xách của người phụ nữ. Và bà này nghẹn ngào thú nhận với ông là quá đói.

“Chúng tôi sẽ trả tiền cho số thực phẩm này,” Trung Úy Sojo nói, khiến gây ngạc nhiên cho nhân viên canh gác và người quanh đó.

Ba cảnh sát viên dẫn người phụ nữ đến một quầy tính tiền và trả khoảng $30 cho số thức ăn này.

“Bà ta rất xúc động. Bà cám ơn chúng tôi. Bà hoàn toàn bất ngờ trước diễn biến của sự việc,” theo lời Trung Úy Sojo hôm Thứ Sáu.

Ông nói thêm rằng: “Khi bạn nhìn vào mặt một người nào đó, và thấy rằng họ cần sự giúp đỡ của bạn, và họ thật sự đói, thì thật khó cho một con người có thể nhẫn tâm bỏ đi trong trường hợp như vậy.”

Một nhân chứng tình cờ đứng gần đó chụp hình sự việc xảy ra.

Người nhân chứng đó, ông Paul Bozymowski, một nhà làm phim tài liệu và là cư dân địa phương, chụp tấm hình và kể lại câu chuyện trên Twitter.

“Nếu tôi là người bị nhân viên canh gác chặn bắt và gọi cảnh sát, thì tôi chắc là sẽ vô cùng lo lắng,” theo ông Bozymowski.

“Nhưng mọi sự thay đổi hoàn toàn chỉ trong tích tắc. Đó là điều làm tôi cảm động hơn cả,” ông nói.

Về phần Trung Úy Sojo, ông nói: “Chúng tôi rất cảm kích về những lời khen gửi tới. Nhưng chúng tôi không làm điều này để có sự chú ý.”

Công ty Whole Foods và tiệm ở Manhattan đã không có lời bình luận gì về việc này. (V.Giang)