Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư

Khang Duy Nguyen

 Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn (1954 đến nay).

Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).

Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…

Nói về cõi thơ Phạm Thiên Thư, Hà Thi trong “Phạm Thiên Thư, người thi hoá kinh Phật” đã viết: “Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo!”

Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam VN) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: “Em lễ chùa này”, “Ngày Xưa Hoàng Thị”, “Động Hoa Vàng”, “Gọi Em Là Đoá Hoa Sầu”…

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say…

Sông này chảy một dòng thôi

Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông…

Ta về rũ áo mây trôi

Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan…

Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo như thế, thật là khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Quả là cõi thơ Phạm Thiên Thư đã giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên…

Phải chăng khát vọng kiếm tìm là một yếu tính của tình yêu. Và khi nào còn khát vọng tìm kiếm thì tình yêu vẫn còn nguyên giá trị; vẫn mãi mãi là một tiếng gọi thao thiết trong cõi tâm linh của mỗi con người. Đó cũng là điều ta bắt gặp trong thơ Phạm Thiên Thư, một con người suốt đời đi tìm “bụi đỏ” khiến chúng ta không khỏi thấy se lòng. Để rồi cũng như thi nhân ta cứ mãi:

Tìm xưa quẩn quanh

Ai mang bụi đỏ

Dáng ai nho nhỏ

Trong cõi xa vời.

Tình ơi!… Tình ơi!…

(Ngày xưa Hoàng thị)

Hôm nay nghe tin ông mất,  xin thắp một nén hương lòng kính tiễn người đi thong dong bên trời quên lãng.

Sugar Land, Texas

 7 tháng 5 năm 2026

Nguyễn Duy Khang 


 

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Việt Luận – Viet’s Herald

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng Chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng nước Mỹ, đã lưu ý đến sắc đẹp của cô tiếp viên này.

Vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàn ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình.

Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ.

Thật là quái gở không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám mục già kia.

Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…

Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình?

Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.

Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi:

– Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?

Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời:

– Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II.

Cô gái nói tiếp:

– Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?

Đức Cha trả lời:

– Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?

Cô gái sung sướng nói tiếp:

– Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?

Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi:

– Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?

Cô gái ngước đôi mắt xanh như dò hỏi:

– Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.

Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt:

– Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Jean Cassaigne đã từ chức Giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?

Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…

Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt.

Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.

Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.

Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: Tạ ơn Thiên Chúa.

Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.

Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.

Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng.

Anthony Trung Thành 


CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

 “Tiền không phải của tôi, tôi chỉ tạm thời giữ nó mà thôi.”

 Trong thế giới giải trí nơi nhiều ngôi sao gắn liền với sự xa hoa, Châu Nhuận Phát lại nổi bật theo một cách rất khác: sống giản dị, khiêm nhường và xem tiền bạc chỉ là thứ tạm giữ trước khi trao lại cho đời.

 Nam diễn viên huyền thoại của điện ảnh Hồng Kông từng tuyên bố ông sẽ tặng khoảng 99–100% tài sản của mình cho từ thiện sau khi qua đời. Khối tài sản của ông được ước tính khoảng 700–715 triệu USD (tương đương khoảng 17.000–18.000 tỉ đồng Việt Nam).

 Ông giải thích rất thẳng thắn:

 “This money isn’t something you possess forever. When you’re gone one day, you have to leave it to others to use it. You can’t bring the money in your bank account with you after you die.”

 Tạm dịch:

Tiền không phải thứ ta có thể sở hữu mãi. Khi rời khỏi thế gian, hãy để người khác sử dụng nó. Không ai mang tiền theo sau khi chết.

 

 Sống giản dị dù là siêu sao

 Dù là một trong những ngôi sao lớn nhất châu Á, Chow Yun-fat lại sống rất bình dân.

 Ông thường đi tàu điện, xe buýt, ăn ở quán bình thường và hiếm khi tiêu xài xa xỉ. Nhiều người dân Hong Kong từng bắt gặp ông tự đi dạo phố, leo núi hay chụp ảnh vui vẻ với người hâm mộ. 

Triết lý sống của ông được tóm gọn trong một câu nói nổi tiếng:

 “The money is not mine; I just keep it temporarily.”

 Tiền không phải của tôi – tôi chỉ giữ nó tạm thời.

 

 Chuẩn bị tài sản cho hoạt động từ thiện

 Trong những năm gần đây, Chow Yun-fat bắt đầu bán bớt bất động sản để chuyển tài sản thành tiền mặt phục vụ cho kế hoạch từ thiện lâu dài.

 Một căn hộ cao cấp tại khu Tây Bán Sơn (Hong Kong) vừa được bán khoảng 8 triệu HKD. Căn hộ này được vợ chồng ông mua từ năm 1995 với giá hơn 3 triệu HKD, và sau gần 30 năm giá trị đã tăng đáng kể.

 Ông và vợ dự định thành lập quỹ từ thiện, dùng tài sản của mình hỗ trợ các lĩnh vực như:

 * giáo dục

* y tế

* xóa đói giảm nghèo

 Đối với họ, di sản thật sự không phải là tài sản để lại cho gia đình, mà là những đóng góp cho xã hội.

 

 Bi kịch khiến ông không có con

 Chow Yun-fat kết hôn với Jasmine Tan. Hai người từng mong chờ một đứa con, nhưng năm 1991, bi kịch xảy ra khi em bé không sống được sau khi sinh dù thai kỳ đã gần đủ tháng.

 Sự mất mát này ảnh hưởng rất sâu sắc đến cả hai vợ chồng. Sau đó họ quyết định không cố gắng sinh thêm con, chọn sống bình an bên nhau thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ tổn thương tương tự.

 Một triết lý sống rất giản dị

 Chow Yun-fat từng nói:

 “When we came into this world, we had nothing, and we will leave with nothing.”

 Chúng ta đến thế gian tay trắng, và cũng sẽ rời đi tay trắng.

 Có lẽ chính vì vậy mà ông chọn cách sống khác với nhiều ngôi sao:

Không bám vào tiền bạc, không chạy theo xa hoa, và xem tài sản chỉ là phương tiện để giúp đỡ người khác.

 Sau hàng chục năm nổi tiếng, nhiều người nhận ra rằng:

 Châu Nhuận Phát không chỉ là một minh tinh điện ảnh.

Ông là một người đang “tu đạo bằng chính cuộc đời mình.” ✨

 Theo: Vietgiaitri.com

From: taberd & NguyenNThu

Người đàn ông Việt Nam đoàn tụ với mẹ ruột sau nhiều thập kỷ (BBC)

(BBC)

Sau gần ba thập kỷ, Ike Robin quay lại Việt Nam để gặp mẹ ruột

Tác giả, Marcus Boothe

Vai trò, Phía Tây nước Anh

5 tháng 4 2026

Một người đàn ông được nhận nuôi từ Việt Nam mới đây đã vượt hàng ngàn kilomet trở về gặp mẹ ruột và cho biết hành trình này đã giúp anh hiểu được “mảnh ghép còn thiếu” trong cuộc đời mình.

Ike Robin, 27 tuổi, đến từ thành phố Bath (Anh), được nhận nuôi khi mới sáu tháng tuổi và lớn lên ở thành phố Brighton cùng ba người chị em nuôi từ Trung Quốc.

Ike cho biết anh luôn có những câu hỏi về nguồn gốc và bản sắc của mình, và muốn biết cuộc sống sẽ khác sao nếu anh không được nhận nuôi.

Anh nói mình từng trải qua “hội chứng kẻ mạo danh”, cho biết dù cảm thấy “may mắn” nhưng vẫn có những lúc anh nghĩ rằng “đây lẽ ra không phải cuộc đời của mình”.

Ike sinh ra với hai lỗ thủng nhỏ ở tim và bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng. Anh nói mình mang ơn gia đình nuôi vì đã cứu sống anh.

Hiện đang làm nghề bảo mẫu, Ike cho biết anh luôn biết mình là con nuôi, nhưng những câu hỏi về cội nguồn ngày càng trở nên thôi thúc hơn khi anh lớn lên.

“Khi còn nhỏ, việc được nhận nuôi không có nhiều ý nghĩa với tôi,” anh nói. “Nhưng khi lớn lên, tôi bắt đầu tự hỏi nhiều hơn rằng cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu tôi không được nhận nuôi.”

Ike Robin

Ike đã cùng bạn gái trở về Việt Nam để tìm hiểu về cội nguồn của mình

Cuối năm 2025, anh đã đi khắp Việt Nam cùng bạn gái và cha mẹ nuôi, rồi sau đó gặp lại mẹ ruột của mình lần đầu tiên sau gần ba thập kỷ.

“Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào, vì đó là mẹ tôi, nhưng đồng thời cũng là một người xa lạ,” anh nói.

Khi bà xuất hiện, Ike cho biết anh nhận ra ngay lập tức.

“Tôi lập tức biết đó là mẹ mình,” anh nói. “Như thể là linh cảm ấy.

Bà Kimberley Fuller cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn trong việc định hình bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu

Theo yêu cầu của mẹ ruột, danh tính của bà không được tiết lộ.

Ike dự định chỉ gặp mẹ ruột, nhưng thay vào đó anh còn được anh chị em, họ hàng và cả bà ngoại chào đón.

Nhà trị liệu tâm lý Kimberly Fuller cho biết trải nghiệm của Ike phản ánh những câu hỏi phức tạp về bản sắc mà nhiều người được nhận nuôi xuyên quốc gia phải đối mặt khi trưởng thành.

Bà cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn với “bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu”, đặc biệt khi bước vào tuổi thiếu niên và giai đoạn sau này của cuộc đời.

“Với một số trẻ, các em có thể hòa nhập với gia đình và những người không nhận ra các em được nhận nuôi, và các em có thể che giấu phần đó trong bản sắc của mình.

“Tuy nhiên, nếu là nhận nuôi khác chủng tộc thì ngay từ đầu đã rất khó, vì đã có sự khác biệt sẵn và còn có thêm sự khác biệt rõ ràng về ngoại hình so với gia đình,” bà nói.

Điều đó có thể khiến người khác đặt câu hỏi mà không cân nhắc tới cảm xúc hoặc cách những câu hỏi đó được tiếp nhận ra sao, bà Fuller nói thêm.

Bà giải thích rằng trẻ có thể cảm thấy bị tách rời không chỉ khỏi gia đình ruột mà còn cảm thấy xa rời với văn hóa, ngôn ngữ và những bản sắc bộc lộ ra ngoài.

Bà Fuller cũng cho biết những người được nhận nuôi có thể trải qua những cảm xúc mâu thuẫn, bao gồm sự biết ơn đối với cuộc sống họ có, đồng thời cũng tiếc nuối những gì đã mất.

Gia đình bố mẹ nuôi và bạn gái Ike đã cùng anh trở về để gặp mẹ đẻ

Đối với mẹ nuôi của Ike, cuộc đoàn tụ là một trải nghiệm xúc động và không hề mang tính đe dọa.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình là người mẹ duy nhất của con,” bà Julia Fleming nói. “Bà ấy là mẹ của thằng bé, và tôi cũng là mẹ của nó.”

Bà cho biết gia đình luôn cố gắng giữ cho con cái họ kết nối với nguồn cội và đã ủng hộ việc Ike liên lạc với mẹ ruột từ khi anh lên bảy.

Ike nói rằng cuộc đoàn tụ không phải là dịp để trách móc, mà là để thấu hiểu.

“Thông điệp chính tôi muốn truyền tải là tôi không hề có cảm xúc tiêu cực nào với bà,” anh nói. “Đây có thể là khởi đầu cho một hành trình mới tốt đẹp.”


 

Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart

My Lan Pham 

Cô đã hôn Elvis Presley. Rồi biến mất vào tu viện mãi mãi và người đàn ông yêu cô vẫn đến thăm mỗi dịp Giáng sinh.

Năm 1957, một nữ diễn viên trẻ đến từ Chicago tên là Dolores Hart bước lên phim trường và bước vào vòng tay của Elvis Presley. Cô 19 tuổi. Anh đã là một hiện tượng. Nụ hôn của họ trong bộ phim Loving You trở thành huyền thoại, không chỉ vì sự rung động mà còn vì những gì xảy ra sau đó.

Cô không biến mất. Cô vụt sáng.

Hai bộ phim với Elvis. Where the Boys Are là một hiện tượng văn hóa. Sân khấu Broadway. Một đề cử Tony. Làm việc cùng Montgomery Clift. Giới điện ảnh thì thầm tên cô bên cạnh Grace Kelly. Một hợp đồng hãng phim. Một căn hộ ở Manhattan. Một tương lai rực rỡ đến mức phải đeo kính râm mới nhìn nổi.

Và một người đàn ông tên Don Robinson, người yêu cô với một sự chắc chắn đủ để vạch ra cả một đời.

Rồi năm 1959, kiệt sức sau Broadway, một người bạn khuyên cô đến nghỉ ngơi ở một nơi yên tĩnh. Một tu viện Benedictine nằm giữa những ngọn đồi Connecticut, Regina Laudis Abbey, ở thị trấn Bethlehem.

Cô đến, miễn cưỡng. Ở lại một thời gian ngắn.

“Sau vài giờ,” cô sau này kể lại, “bạn sẽ cảm thấy đây là một nơi đặc biệt.”

Cô quay lại nhiều lần. Mỗi lần rời đi lại khó hơn.

Cô vẫn tiếp tục diễn xuất. Năm 1961, khi quay bộ phim Francis of Assisi tại Rome, cô gặp Pope John XXIII. Một điều gì đó trong cô thay đổi, thứ mà chính cô khi đó cũng chưa thể gọi tên.

Tu viện cứ thế gọi cô quay về.

Don chờ đợi. Hy vọng. Yêu cô.

Trong một trận bão tuyết tại tu viện, khi đang đi lên dốc hướng về một cây thánh giá gỗ, sự rõ ràng đến như tia chớp.

Cô hiểu.

Cô nói sự thật với Don.

Nhiều năm sau, ông kể lại khoảnh khắc đó với sự chân thành trần trụi:

“Đau đớn ư? Đùa sao? Tôi là con người. Tôi yêu cô ấy sâu sắc và đến giờ vẫn vậy.”

Don Robinson là một người Công giáo sùng đạo. Dù tan vỡ, ông vẫn chúc phúc cho lựa chọn của cô.

Năm 1963, ở tuổi 24, Dolores Hart hoàn thành bộ phim cuối cùng, nói lời tạm biệt với New York, lên xe và đến Regina Laudis.

Cô không bao giờ rời đi nữa.

Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart. Năm 2001, cô được bầu làm bề trên của cộng đoàn.

Hollywood vẫn hỏi điều gì đã xảy ra, cô đang chạy trốn điều gì.

Câu trả lời của cô chưa bao giờ thay đổi.

Cô không chạy trốn khỏi điều gì cả.

“Điều tôi khám phá ra là Chúa hiện diện trong mỗi con người bạn sống cùng. Bạn không tìm thấy Ngài tách rời khỏi những người bạn cùng sống và yêu thương.”

Cô không rời bỏ thế giới. Cô trở thành nữ tu đầu tiên được bầu làm thành viên có quyền bỏ phiếu của Academy of Motion Picture Arts and Sciences, vẫn gửi phiếu bầu Oscar mỗi năm từ sau những bức tường tu viện. HBO làm phim tài liệu về cuộc đời cô. Cô đồng viết hồi ký. Cô xây dựng một nhà hát ngoài trời tại tu viện, nơi các nữ tu biểu diễn nhạc kịch mỗi mùa hè.

Còn Don.

Ông không bao giờ kết hôn.

Ông vẫn lái xe đến tu viện mỗi dịp Giáng sinh và Lễ Phục Sinh.

Suốt sáu thập kỷ.

Ông từng nói, không chút cay đắng, với sự từng trải mà chỉ tình yêu thật sự mới dạy được

“Không phải tình yêu nào cũng cần đi đến hôn nhân.”

Sơ Dolores Hart giờ đã 87 tuổi. Bà đã sống tại Regina Laudis hơn 60 năm.

Don vẫn đến thăm hai lần mỗi năm.

Cô đã hôn Elvis Presley khi 19 tuổi. Cô chọn Chúa khi 24 tuổi. Cô đã yêu cả thế giới này và cả một điều gì đó vượt lên trên nó.

Tất cả đều là sự thật. Và không điều nào mâu thuẫn với điều nào.

Đó không phải bi kịch. Không phải bí ẩn.

Đó là một cuộc đời được sống trọn vẹn, chỉ là không phải cuộc đời mà ai cũng mong đợi.

Và chính điều đó khiến nó trở nên phi thường hơn nữa.


 

‘Gangster’ gốc Việt ‘Tony Playboy’ bị ICE bắt chờ trục xuất sau khi ở tù 35 năm

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2026

HOUSTON, Texas (NV) – Cảnh Sát Di Trú (ICE) vừa bắt giữ ông Nguyễn Tống Duy Minh, được biết là “gangster” gốc Việt nổi tiếng với biệt danh “Tony Playboy,” hôm 16 Tháng Tư, sau khi người này mãn hạn tù 35 năm trong bản án 45 năm ở tiểu bang Texas vì tội giết người.

Thông cáo của ICE hôm 28 Tháng Tư cho biết ông Minh đang bị cơ quan này giam giữ chờ làm thủ tục trục xuất.

Ông Nguyễn Tống Duy Minh, “gangster” gốc Việt nổi tiếng với biệt danh “Tony Playboy,” khi bị bắt. (Hình: ICE)

Theo ICE, “Tony Playboy” từng có liên hệ với Nomads, một băng đảng đường phố người Việt, hoạt động tại khu vực Houston. Băng đảng này nổi tiếng với những cuộc chiến giành lãnh địa đầy bạo lực và các vụ đột nhập nhà cư dân.

“Vào năm 1988, ông Minh bắt đầu tự phong mình là thủ lĩnh của một phe phái riêng. Ngay sau đó, một cuộc chiến giành lãnh địa nổ ra xoay quanh vấn đề địa bàn, danh dự, và phụ nữ. Kẻ có biệt danh ‘Tony Playboy’ này dẫn dắt phe nhóm của mình đi thanh trừng các thành viên đối địch trong băng đảng Nomads,” ICE cho biết.

“Ông Minh đến Hoa Kỳ với tư cách thường trú nhân hợp pháp vào năm 1980, nhưng đã đánh đổi thẻ xanh của mình để chọn một cuộc sống bạo lực băng đảng và sát hại hai người ngay trên đất Mỹ,” ông Todd Lyons, quyền giám đốc ICE, được trích lời nói.

Nghi can Nguyễn Tống Duy Minh lúc ở tù. (Hình: ICE)

Vào ngày 30 Tháng Giêng, 1989, ông Minh tham gia một vụ đấu súng tại tiệm bánh mì Givral’s ở khu vực Little Saigon, Houston. Vụ đấu súng này khiến hai người thiệt mạng và ba người khác bị thương.

“Trong khi hầu hết các thành viên băng đảng khác đều bị bắt giữ, thì nghi can trốn thoát được,” ông Todd Lyons cho biết trong thông báo.

Một tập của chương trình America’s Most Wanted tường thuật câu chuyện này cùng hình ảnh của ông Minh vào ngày 14 Tháng Giêng, 1990. Tập phim thu hút chú ý của dư luận đối với vụ án. Sau đó, ông Minh bị bắt giữ vào cuối tháng ở Canada. Một tháng sau, ông bị áp giải từ Toronto về Texas và bị giam giữ tại nhà tù Harris County. Bồi thẩm đoàn sau đó tuyên án ông phạm tội đối với tất cả các cáo buộc chỉ sau vài giờ nghị án.

Tony Playboy” sau khi mãn hạn tù và bị ICE bắt giữ chờ trục xuất. (Hình: ICE)

Nghi phạm bị kết án về tội giết người vào Tháng Năm, 1990, bị tuyên 45 năm tù giam tại nhà tù tiểu bang, mặc dù các công tố viên từng cân nhắc đề nghị mức án tử hình. Các luật sư của nghi can kháng cáo, nhưng tòa kháng án giữ nguyên phán quyết của tòa sơ thẩm vào Tháng Tư, 1991.

Vào đầu những năm 1990, vụ án thanh trừng băng đảng của “Tony Playboy” đóng vai trò như một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đại đa số công chúng về mức độ nghiêm trọng của bạo lực băng đảng trong các cộng đồng tại Mỹ, theo ICE.

Đối với một số người, “Tony Playboy” từng trở thành một biểu tượng tội phạm trong văn hóa đại chúng trong một khoảng thời gian ngắn. Giới chức di trú bắt đầu tiến hành thủ tục trục xuất đối với người này vào năm 1991, và đến năm 1998, Hội Đồng Kháng Cáo Di Trú chính thức ban hành lệnh trục xuất cuối cùng.

Sau hơn ba thập niên trong nhà tù, ông Minh bị ICE tại Houston giam giữ ngay sau khi ông được trả tự do. Và ICE đang làm thủ tục trục xuất ông. (K.L) [đ.d.]


 

 Đừng Đợi Đến Lúc “Hết Đát” Mới Biết Vì Sao Tuổi Già Của Mình Lại Thảm Hại Hơn Người Khác

Trầm Mặc Huơng Lai

 Đừng Đợi Đến Lúc “Hết Đát” Mới Biết Vì Sao Tuổi Già Của Mình Lại Thảm Hại Hơn Người Khác

​Nhiều người Việt bước vào tuổi xế chiều với một tiếng thở dài: “Cả đời hy sinh vì con, sao giờ lại trắng tay, cô độc?”. Câu trả lời nằm ở một nghịch lý đau đớn: Chính sự “tận hiến” không trí tuệ lúc trẻ đã tự đào hố chôn vùi hạnh phúc lúc già. Tuổi già không thảm hại vì thiếu tiền, mà thảm hại vì đã đặt cược toàn bộ cuộc đời vào một canh bạc mà bạn chắc chắn nắm phần thua.

​1. Cái bẫy “Hy sinh đời bố, củng cố đời con” kiểu truyền thống

​Ở Việt Nam, có một kiểu thương con rất… kỳ lạ. Cha mẹ sẵn sàng thắt lưng buộc bụng, không dám ăn miếng ngon, không dám đi du lịch, cày cuốc như trâu ngựa chỉ để tích góp từng đồng mua đất, xây nhà, sắm sửa để dành cho con.

​Sự thật phũ phàng: Bạn dốc cạn túi tiền an dưỡng để “để dành” cho con một bệ phóng hoàn hảo. Nhưng bạn quên mất rằng, tiền bạc không đi kèm giáo dục bản lĩnh sẽ chỉ tạo ra những đứa trẻ không xương sống.

​Hệ lụy: Đến khi về già, trong tay bạn chỉ còn những căn bệnh mãn tính vì lao lực quá độ và một tài khoản ngân hàng trống rỗng. Bạn trở thành kẻ “nghèo khó” ngay trên chính đống tài sản mình đã tạo ra, vì nó đã mang tên người khác.

​2. “Nuôi con như nuôi thực vật” và những đứa trẻ vô cảm

​Khi cha mẹ lo hết, làm hết, dọn sẵn mọi thảm đỏ, họ vô tình biến con cái thành những “cây thực vật” trong lồng kính. Những đứa trẻ này lớn lên với tư duy: Sự hy sinh của cha mẹ là lẽ đương nhiên.

​Tâm lý học hành vi: Khi một thứ gì đó được cho đi quá dễ dàng và liên tục, người nhận sẽ không còn cảm giác biết ơn, mà chỉ còn cảm giác “được quyền thụ hưởng”.

​Kết cục: Con cái bạn không hề vô ơn theo bản năng, chúng chỉ “vô cảm” vì chưa bao giờ phải nỗ lực. Với chúng, việc bạn già yếu, bệnh tật hay thiếu thốn là chuyện của bạn, còn tài sản bạn để lại là trách nhiệm của bạn. Một thế hệ lớn lên với sự no đủ về vật chất nhưng lại khuyết tật về cảm xúc chính là “trái đắng” lớn nhất của đời người.

​3. Đừng để “Lòng tự trọng” bị đánh tráo bởi sự phụ thuộc

​Nhiều bậc cha mẹ tự hào vì để lại cho con cái gia tài kếch xù, để rồi cuối đời phải ngửa tay xin con từng đồng tiền thuốc, nhìn sắc mặt con để ăn bát cơm nguội.

​Thuật nhìn người: Người khôn ngoan biết rằng: Tiền của mình là của mình, tiền của con chưa chắc là của mình.

​Lời cảnh tỉnh: Khi bạn không có tài chính độc lập, tiếng nói của bạn trong gia đình sẽ mất đi sức nặng. Đừng biến mình thành “người thừa” trong ngôi nhà mà mình đã từng đổ mồ hôi sôi nước mắt để xây nên.

​4. Vốn liếng sức khỏe: Khoản đầu tư bị lãng quên

​Trong khi mải mê tích trữ đất đai cho con, cha mẹ Việt thường quên mất “bất động sản” quý giá nhất là chính cơ thể mình.

​Hậu quả: Những ngày tháng tuổi già thảm hại không phải vì không có nhà cao cửa rộng, mà vì bạn phải nằm liệt một chỗ, thở bằng máy và giao phó tính mạng cho những đứa con đang bận rộn với “gia tài” bạn để lại.

​Lời kết: Hãy yêu con bằng trí tuệ, đừng yêu bằng bản năng “vị kỷ”

​Vũ trụ đã mất 13,8 tỷ năm để tạo ra bạn – một cá thể độc lập có ý thức. Bạn sinh ra không phải để làm “công cụ chuyển giao tài sản” cho đời sau.

​Hãy nhớ lấy 3 nguyên tắc vàng để tuổi già không thảm hại:

​Tiền dưỡng già là bất khả xâm phạm: Đó là lòng tự trọng và tự do của bạn. Chỉ cho con cái “cần câu”, đừng cho chúng cả “kho cá” để rồi mình chết đói.

​Dạy con biết ơn qua sự thiếu thốn: Đừng đáp ứng mọi nhu cầu. Hãy để con cái hiểu rằng mỗi miếng cơm chúng ăn đều đổi bằng mồ hôi, để chúng biết trân trọng giá trị của sự lao động.

​Tự yêu lấy mình: Hãy dành tiền để chăm sóc sức khỏe, gặp gỡ bạn bè và sống cho những ước mơ riêng.

​Một người cha, người mẹ già khỏe mạnh, minh mẫn và độc lập về tài chính chính là món quà lớn nhất dành cho con cái. Đừng để lúc “hết đát”, bạn chỉ còn là một gánh nặng bị coi thường trong chính gia đình mình.

#Docviconnguoi #Baihoccuocsong #Suthat #ThuatNhinNguoi #TamLyHoc #NuoiDayCon #TuoiGiaDocLap


 

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2026

Văn Lan/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum-VHM), Garden Grove, vừa tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen vào tối Thứ Năm, 30 Tháng Tư, với nhiều thành phần tham dự.

Mở đầu, ban tổ chức chiếu video “Biển Đêm và Những Nỗi Sợ” (Night Sea and Fears), với những chuyến vượt biển giữa những cơn sóng gào hung bạo nuốt chửng những con người bé nhỏ giữa đại dương tăm tối bao la, do một tác giả trẻ sinh sau 1975 thực hiện.

Đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sau nghi thức khai mạc, các vị đại diện tôn giáo cùng góp phần cầu nguyện cho những hương linh đã khuất.

Ông Châu Thụy, giám đốc VHM, nói: “Trong không khí trang nghiêm, chúng ta cùng hướng về quê hương yêu dấu, thành tâm nguyện cầu cho đất nước sớm đến ngày tự do thoát khỏi ách thống trị Cộng Sản, cùng nhau chia sẻ, khơi dậy và truyền lại ngọn lửa ký ức cho thế hệ trẻ, để các em tiếp tục ghi ơn công đức tiền nhân và nối tiếp gìn giữ di sản tinh thần của người Việt tị nạn nơi hải ngoại.”

Cô Tịnh Như (trái) kể chuyện về bà nội cô trong ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi quyết định đi hay chìm trong đau khổ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Mọi người cùng lắng lòng tưởng niệm quân dân cán chính VNCH chết nơi rừng sâu trong các trại tù “học tập cải tạo” của Cộng Sản, và đồng bào thân yêu bỏ mạng trên đường tìm tự do, với một video có danh sách trên hai bức tường tưởng niệm, do VHM thực hiện để tưởng niệm những người Việt Nam kém may mắn rời bỏ đất nước ra đi từ năm 1975 đến năm 1995, nhưng không đến được bến bờ tự do.

Ứớc tính khoảng 200,000 đến 400,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển, theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Và bức tường thứ hai tưởng niệm các nạn nhân trong các trại tù “học tập cải tạo” của Cộng Sản trên khắp đất nước, với khoảng 165,000 người chết, theo các nghiên cứu học thuật công bố tại Hoa Kỳ và Châu Âu.

Giáo Sư Vũ Bạch Cúc (đứng) kể lại câu chuyện ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong giây phút lắng lòng, mọi người cùng hiệp ý tưởng niệm một nhân cách cao đẹp trong ngành hàng hải VNCH, cố thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng.

Ông Châu Thụy cho biết, vào những ngày cuối Tháng Tư, 1975 định mệnh, giữa lằn ranh sinh tử của hàng ngàn đồng bào, thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng đã đưa con tàu Đại Dương 2 túc trực tại hải phận quốc tế để đón nhận người di tản.

Bằng tấm lòng nhân hậu và tinh thần quả cảm, ông cứu vớt và đưa 2,000 đồng bào từ Việt Nam đến Subic Bay, Philippines, an toàn. Và ông đã đưa tổng cộng 3,000 đồng bào từ Subic Bay sang đảo Guam, để đến các quốc gia tự do.

Thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng sinh ngày 9 Tháng Tám, 1927, và vĩnh viễn ra đi đúng ngày 30 Tháng Tư, 2018, để lại cho hậu thế những dòng thơ, những trang hồi ký thấm đẫm nỗi ưu tư về vận nước, cùng tình hoài hương sâu nặng. VHM cũng trân trọng giới thiệu sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, một người thân trong gia đình của cố thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng.

Em Brandon Nguyễn quyết định trở thành cầu nối giữa thế hệ trẻ và các thế hệ đi trước, nhằm lưu giữ lịch sử của người Việt tị nạn. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Có hai câu hỏi do ban tổ chức nêu ra trong buổi tưởng niệm. Một là “Trong ngày 30 Tháng Tư, 1975, anh chị đã ở đâu? Làm gì?” Và câu hỏi thứ hai là “Sau 51 năm, quý vị mong ước gì?”

Nhiều chuyện kể được thổ lộ qua phát biểu, nói lên những tâm tư của người Việt tị nạn sau 51 năm, nhưng hầu như không có câu trả lời trọn vẹn. Cả không gian buồn u uẩn với nhiều tiếng nấc nghẹn.

Tiến Sĩ Ann Ngọc Trần chia sẻ về chuyến trở lại thăm trại tị nạn ở Malaysia, nơi có những nghĩa trang thuyền nhân. Cô đang làm nghiên cứu về lịch sử của thuyền nhân vì đây cũng là lịch sử của gia đình cô, khi nhiều người muốn tìm hiểu rõ hơn, nhất là những người vượt biển, mà không có trong sách vở ở Mỹ.

Ông Dương Bá Cơ diễn ngâm bài thơ “Nỗi Buồn Tha Hương” của thuyền trưởng Nguyễn Đình Quảng, người đưa được 3,000 người tị nạn đến bến bờ tự do. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Thuyền nhân là câu chuyện rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam, nhất là người Mỹ gốc Việt trẻ, đang lớn lên ở Mỹ rất muốn biết về những đau khổ của ông bà cha mẹ khi vượt biển, có người đi thành công, nhưng cũng có nhiều trường hợp mất tích,” cô tiếp.

Em Brandon Nguyễn, 17 tuổi, sinh tại Mỹ, là cháu nội của một cựu sĩ quan VNCH qua Mỹ vào năm 1995.

Em kể: “Khi còn nhỏ, gia đình giải thích lý do gia đình con có mặt ở tại Mỹ theo diện HO, và con vẫn nghĩ đó là lý do chung cho tất cả người Việt có mặt ở đây, cho đến khi con nghe được hai chữ ‘Boat People.’”

Em tiếp: “Sau đó con hiểu rằng người Việt đến Mỹ bằng nhiều cách khác nhau mà con tin cũng có rất nhiều bạn nhỏ như con cũng không biết điều này. Sau khi may mắn được bác Châu Thụy hướng dẫn cho đi xem VHM, con quyết định trở thành cầu nối giữa thế hệ trẻ và các thế hệ đi trước, nhằm lưu giữ lịch sử của người Việt tị nạn.”

Tiến Sĩ Ann Ngọc Trần chia sẻ về chuyến đi thăm các trại tị nạn ở Malaysia để nghiên cứu về lịch sử thuyền nhân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Em cũng cho biết: “Công việc này sẽ cần sự giúp đỡ của rất nhiều người. Con hy vọng các bạn đi sau sẽ tiếp tục gìn giữ và phát triển công việc này, để tất cả người Việt trẻ đều hiểu rõ nguyên nhân tại sao chúng ta đã có mặt ở Mỹ và một số quốc gia khác.”

Buổi thắp nến tưởng niệm với những ánh nến tựa như anh linh người quá cố trở về, trong một câu chuyện không bao giờ kết thúc sau cuộc chiến Việt Nam. [đ.d.]


 

Tom Nguyễn trở thành thị trưởng gốc Việt đầu tiên và trẻ nhất Garden City

Ba’o Nguoi-Viet

January 9, 2026

GARDEN CITY, Kansas (NV) – Anh Tom Nguyễn, 22 tuổi, vừa được các đồng viện bầu làm thị trưởng thành phố Garden City, Kansas, trong buổi họp hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng, theo thông báo của thành phố.

Như vậy, anh Tom Nguyễn là thị trưởng gốc Việt và gốc Châu Á đầu tiên tại Garden City và là thị trưởng trẻ nhất trong 74 thị trưởng từ ngày thành lập thành phố hồi năm 1883.

Ông Roy Cessna (trái), thị trưởng sắp mãn nhiệm, trao chiếc búa tượng trưng quyền điều khiển buổi họp cho tân Thị Trưởng Tom Nguyễn trong buổi họp Hội Đồng Thành Phố Garden City hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng. (Hình: City of Garden City)

“Thật là một vinh dự cho tôi trở thành thị trưởng gốc Châu Á đầu tiên trong lịch sử thành phố, và cùng là thị trưởng trẻ nhất từ trước tới giờ ở tuổi 22,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi không coi sự kiện này là thành công cá nhân. Tôi coi đây là một sự phản ảnh của cộng đồng, muốn tin vào những người trẻ và những người muốn đưa thành phố này đi lên.”

Vào Tháng Giêng mỗi năm, Hội Đồng Thành Phố Garden City, gồm có năm người, họp bầu chọn thị trưởng mới với nhiệm kỳ một năm.

Trước khi được chọn làm thị trưởng, anh Tom Nguyễn là phó thị trưởng.

Trong phát biểu đầu tiên với vai trò thị trưởng, anh Tom Nguyễn nói năm thành viên HĐTP không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không có sự giúp đỡ của cộng đồng.

Anh kêu gọi cộng đồng hãy “thương” các thành viên HĐTP khi họ phải đưa ra các quyết định dễ dàng và khó khăn, bằng cách đặt câu hỏi, chia sẻ quan tâm, đưa ra ý kiến, và thi thoảng bổ sung các biện pháp, bởi vì “điều đó có thể làm cho các chính sách tốt hơn.”

“Cảm ơn tất cả quý vị chọn tôi với rất nhiều tình cảm,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi nóng lòng được thấy tất cả chúng ta đoàn kết và tiếp tục sống trong tinh thần làm cho Garden City phát triển hơn.”

Anh Tom Nguyễn (thứ năm từ trái) đứng cạnh cha mẹ chụp hình chung với những người ủng hộ anh sau khi được chọn làm thị trưởng Garden City. (Hình: Facebook Tom Nguyen)

“Người dân thấy giá trị và sự xứng đáng của người trẻ và họ sẵn sàng thương tôi, và đó là một niềm vui,” anh Tom Nguyễn nói thêm, theo đài truyền hình 12News.

Vị tân thị trưởng gốc Việt cũng cho biết anh sẵn sàng thực hiện một trong những ước mong của mình trong nhiệm kỳ làm thị trưởng, bao gồm xây thêm 4,000 căn nhà mới trong cộng đồng vào năm 2030.

Anh cũng nói anh sẽ nâng cấp các cơ sở thể thao trong thành phố cho các môn như baseball và softball để có thể phục vụ thế hệ tương lai.

Như đã đề cập ở trên, nhiệm kỳ thị trưởng ở Garden City chỉ có một năm, nhưng anh Tom Nguyễn có thể được chọn tiếp tục giữ chức vụ này nếu HĐTP đồng ý.

Anh Tom Nguyễn tranh cử nghị viên HĐTP Garden City hồi Tháng Mười Một, 2023, sau khi cha mẹ anh trở thành công dân Mỹ hồi Tháng Ba trước đó, và thắng cử, trở thành nghị viên gốc Việt đầu tiên của thành phố.

Nhiệm kỳ nghị viên kéo dài bốn năm.

Theo báo Kansas Reflector hồi Tháng Mười Một, 2023, anh Tom Nguyễn là giám đốc truyền thông nhà thờ Saint Mary ở Garden City và dẫn dắt giới trẻ trong khu vực qua các hoạt động phục vụ cộng đồng dựa trên đức tin. Anh cho biết mục tiêu cuối cùng của là trở thành bác sĩ nhi khoa ở Garden City. Với tư cách là nghị viên lúc đó, anh cho biết sẽ tập trung vào việc giảm chi phí sinh hoạt ở Garden City và tiếp tục quảng bá thành phố này như một trung tâm đa dạng phía Tây Nam Kansas.

Anh nói anh được khuyến khích làm việc trong cơ quan công quyền khi chăm sóc cha mình, từng bị đột quỵ vào Tháng Giêng khi anh đang học đại học ở Massachusetts. Sau khi cha anh ra viện ở Denver, Colorado, anh Tom Nguyễn chuyển về Garden City để ở cùng gia đình và chuyển sang một trường đại học trực tuyến để hoàn thành chương trình đại học. Lúc đó, anh đang học triết học, thần học, và quản trị kinh doanh.

Garden City tọa lạc ở phía Tây tiểu bang Kansas.

Theo thống kê đến năm 2020, thành phố có khoảng 28,000 cư dân. (Đ.D.)


 

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

NHỮNG BÀI POST HAY.

Có những chuyện tình ngỡ chỉ tồn tại trên những thước phim điện ảnh kinh điển, nhưng lại bước ra đời thực với đầy đủ những dư vị từ ngọt ngào nhất đến đắng chát nhất. Đó là câu chuyện của bà Marie-Thérèse Abbey, một người phụ nữ Pháp đã dành cả đời để tìm lại mối tình đầu, để rồi nhận lấy một cái kết không ai có thể ngờ tới ở tuổi 86.

> Từ ly Ricard tại căn cứ NATO đến cuộc chia ly nửa thế kỷ

Câu chuyện bắt đầu vào cuối thập niên 1950, tại căn cứ quân sự NATO ở Fontainebleau, Pháp. Khi đó, Marie-Thérèse là một nữ thư ký song ngữ trẻ trung, thanh lịch. Cô gặp James Abbey, một sĩ quan quân đội Mỹ hào hoa đang đóng quân tại đây.

Giữa những căng thẳng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tình yêu của họ nảy nở một cách giản dị: Ông mời bà uống Coca-Cola – biểu tượng của văn hóa Mỹ; bà mời ông nhấp ly rượu Ricard nồng đượm đặc trưng của nước Pháp. Thế nhưng, lịch sử đã rẽ hướng. Năm 1966, Pháp rút khỏi bộ chỉ huy NATO, các căn cứ đóng cửa. James phải theo đơn vị về nước, Marie-Thérèse ở lại. Những lá thư thưa dần rồi mất liên lạc, mỗi người tự xây dựng tổ ấm riêng ở hai bờ đại dương.

> Cuộc tái ngộ định mệnh sau 60 năm

Tưởng chừng thời gian đã vùi lấp tất cả, nhưng sau khi cả hai đều đã góa bụa ở tuổi xế chiều, định mệnh đã đưa họ tìm thấy nhau qua mạng xã hội vào năm 2022. Ở tuổi ngoài 80, ngọn lửa tình yêu cũ bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Chẳng nề hà khoảng cách, bà Marie-Thérèse quyết định rời bỏ quê hương để sang Alabama (Mỹ) đoàn tụ với James.

Cuối năm 2023, họ chính thức trở thành vợ chồng. Những tưởng đó là cái kết viên mãn cho “mối tình xuyên thế kỷ”, nơi họ sẽ cùng nhau đi nốt đoạn đường đời còn lại. Nhưng định mệnh một lần nữa trêu ngươi: Chỉ vài tháng sau đám cưới, ông James đột ngột qua đời vào tháng 5/2024.

Bi kịch từ lòng người và vòng xoáy pháp lý

Cái chết của người chồng cũng là lúc bà Marie-Thérèse rơi vào một “trận chiến” tàn khốc mà bà không hề chuẩn bị trước. Theo luật bang Alabama, bà có quyền hưởng một phần gia tài, bao gồm căn nhà trị giá khoảng $175.000. Thế nhưng, các con riêng của ông James đã ngay lập tức ra tay để gạt người mẹ kế ra khỏi di sản của cha mình.

Chỉ hai ngày sau tang lễ, họ cắt điện, nước, và thay đổi địa chỉ nhận thư chính thức để bà không thể nhận được các giấy tờ từ sở Di trú. Do nhập cảnh bằng visa du lịch (ESTA) và đã quá hạn 7 tháng trong khi thủ tục xin thẻ xanh chưa hoàn tất, bà Marie-Thérèse trở thành người cư trú bất hợp pháp.

Đỉnh điểm của sự tàn nhẫn diễn ra khi một người con của ông James, vốn là cựu cảnh sát, đã báo tin cho Cơ quan Di trú và Hải quan (ICE).

> Còng tay, xích chân và lệnh trục xuất

Hình ảnh một cụ bà 86 tuổi, đang mặc áo ngủ, bị nhân viên công vụ còng tay và xích chân dẫn đi đã làm rúng động truyền thông nước Pháp. Bà không được phép mang theo thuốc trị bệnh, bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt suốt 2 tuần tại các trại tạm giam ở Alabama và Louisiana.

Bà chia sẻ trong nước mắt trên đài TF1 rằng bà bị đối xử như một tội phạm nguy hiểm. Phải đến khi Lãnh sự quán Pháp can thiệp quyết liệt, bà mới được trả tự do để… bị trục xuất về Pháp với lệnh cấm nhập cảnh vào Mỹ trong nhiều năm.

> Lời kết

Bà Marie-Thérèse hiện đã trở về Pháp, sống tại một viện dưỡng lão. Dù trắng tay về tài sản và mang theo nỗi đau bị đối xử tàn tệ tại nơi bà từng gọi là “quê hương thứ hai”, bà vẫn khẳng định mình không hối hận.

Câu chuyện của bà không chỉ là một bi kịch về di trú hay tranh chấp tài sản, mà còn là một nốt lặng buồn về lòng người. Ở tuổi 86, thay vì một cuộc sống bình yên, bà đã trải qua những cung bậc kinh khủng nhất: từ đỉnh cao hạnh phúc của ngày cưới đến sự lạnh lẽo của xiềng xích ICE. Nhưng sau tất cả, ít nhất bà đã được sống trọn vẹn những tháng ngày cuối cùng bên người mình yêu – một trải nghiệm mà có lẽ, không một quy định pháp lý hay sự nghiệt ngã nào có thể tước đoạt được trong ký ức của bà.

#anhpt_didyouknow

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

St


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN….

8 SÀI GÒN 

Bà ấy không cố gắng làm nên lịch sử – bà chỉ cố gắng sống sót. Năm 1966 trong chiến tranh Việt Nam, một bà mẹ Nam Việt Nam đã nhảy xuống sông gần Qui Nhơn hướng về phía quân đội Sài Gòn. Bà ôm chặt bốn đứa con khi họ băng qua dòng nước sâu, bỏ lại phía sau tất cả nhà cửa ruộng vườn. Ngôi làng của họ bị pháo kích dữ dội, mang theo nỗi sợ hãi kinh hoàng.

Khoảnh khắc được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia Kyoichi Sawada. Ông đã nhìn thấy một cảnh tượng ngoài sức tưởng tượng, một gia đình đang ôm chặt lấy nhau hỗn loạn giữa dòng nước sâu. Bức ảnh cho thấy không vũ khí, không chiến tuyến, chỉ có một người mẹ đang gánh vác cả thế giới của mình cố gắng vượt qua dòng nước và sự bất định. Sau đó, bức ảnh đã giành được giải Ảnh báo chí Thế giới của Năm, trở thành một trong những hình ảnh mạnh mẽ nhất thời điểm đó.

Những điều anh ấy làm tiếp theo còn quan trọng hơn. Thay vì giữ số tiền thưởng, Sawada đi tìm gia đình chạy giặc đó. Khi tìm thấy họ, anh ta đã trao cho họ tất cả mọi thứ – tiền, và bản sao bức ảnh. Với bức ảnh đó đã cho cả thế giới thấy nỗi đau và sợ hãi của họ. Đối với anh ấy, đó không phải vì danh tiếng vì anh ấy muốn làm điều gì đó đánh thức lương tri thế giới.

Nhiều năm sau, năm 1970, Sawada đã thiệt mạng khi vẫn đang tác nghiệp đưa tin về chiến tranh Việt Nam. Câu chuyện của anh ấy nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi bức ảnh nổi tiếng là một cuộc đời thực sự – đầy sợ hãi, tình yêu và sức mạnh mà không bức ảnh nào có thể lột tả trọn vẹn.

CANG HUỲNH

lược dịch từ Échos du temps.