Tiễn biệt anh Nguyễn Quốc Nam – Van Huynh Ngoc-Châu

Van Huynh Ngoc-Châu

 Tiễn biệt anh Nguyễn Quốc Nam

Một đời cống hiến cho cộng đồng, một di sản tinh thần để lại

Có những con người khi rời xa cõi tạm không chỉ để lại nỗi tiếc thương cho gia đình và thân hữu, mà còn để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng những người từng đồng hành và trong cả một cộng đồng.

Hôm qua, ngày 04/08/2026, tại nhà thờ Saint-Martin ở L’Isle-Adam, vùng ngoại ô Paris, hơn 300 người đã hiện diện trong thánh lễ an táng để tiễn đưa anh Nguyễn Quốc Nam về nơi an nghỉ cuối cùng trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Sự hiện diện đông đảo ấy không chỉ là một lời tiễn biệt, mà còn là sự ghi nhận dành cho một con người đã sống trọn vẹn với gia đình, với cộng đồng và với những giá trị mà anh luôn trân trọng.

Trong không gian trang nghiêm của thánh đường, hình ảnh lá cờ vàng Việt Nam Cộng Hòa hiện diện trong một góc nhà thờ đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc sâu lắng.

Tôi nhớ đến anh Quốc Nam — không chỉ là một người anh đáng kính trong cộng đồng, mà còn là người đã dành cho tôi sự quan tâm, sự nâng đỡ và một niềm tin mà tôi luôn trân trọng.

Tôi vẫn nhớ thùng cờ vàng với hơn 100 lá cờ anh đã trao tặng. Đó không chỉ là một món quà, mà còn là một sự gửi gắm. Những lá cờ ấy mang theo tình cảm, trách nhiệm và niềm tin của một người đã dành nhiều năm tháng để gìn giữ những điều anh luôn trân quý.

Khi trao thùng cờ ấy cho tôi, anh nói rằng anh rất yên tâm vì đã có người tiếp tục con đường mà anh đã theo đuổi.

Câu nói ấy của anh mãi ở lại trong lòng tôi.

Tôi nhớ một lần trò chuyện với anh khi tôi tâm sự về những khó khăn, những lời chỉ trích và những thử thách tôi gặp phải trong sinh hoạt cộng đồng.

Anh lắng nghe tôi rất bình tĩnh rồi nhẹ nhàng khuyên tôi không cần phải trả lời tất cả mọi điều. Anh nói rằng nếu là anh, anh sẽ không bận tâm đến những điều thị phi, và cứ bình thản tiếp tục đi con đường mình đã chọn.

Tôi nói với anh rằng:

“Anh khác với em. Anh được mọi người tôn trọng vì anh đã gắn bó với cộng đồng lâu năm và được nhiều người biết đến. Còn em là người mới bước vào con đường này nên gặp nhiều khó khăn hơn.”

Anh suy nghĩ một lúc rồi nhẹ nhàng nói rằng tôi đã nhìn nhận đúng.

Lời chia sẻ ấy cho thấy anh không chỉ là một người có kinh nghiệm, mà còn là người biết lắng nghe, thấu hiểu và nâng đỡ những người đang tiếp nối.

Điều khiến tôi xúc động trong ngày hôm nay là tôi gặp lại những người trước đây từng có những khác biệt với tôi. Họ chào hỏi tôi, chia sẻ và nhắc về anh Nam với sự kính trọng. Có những người tôi chưa từng quen biết cũng nói về anh, về nhân cách và những đóng góp của anh.

Tôi nhận ra rằng sự quý trọng dành cho một con người không đến từ lời nói, mà đến từ cả một cuộc đời sống có tình nghĩa và trách nhiệm.

Anh Nguyễn Quốc Nam đã dành nhiều tâm huyết để đóng góp cho cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Pháp. Anh không chỉ cống hiến bằng hành động, mà còn bằng sự kiên định, trách nhiệm và lòng thủy chung với những giá trị tự do, nhân bản mà anh luôn trân trọng.

Khi tôi biết anh, anh đã phải chống chọi với căn bệnh ung thư hơn 5 năm. Dù sức khỏe suy giảm, anh vẫn giữ được tinh thần mạnh mẽ và sự quan tâm dành cho cộng đồng.

Hôm nay, anh đã khép lại hành trình nơi trần thế. Nhưng những gì anh để lại sẽ còn mãi: tình cảm, sự tin tưởng, những việc làm cụ thể và tinh thần trách nhiệm đối với những người ở lại.

Sau thánh lễ, tôi cũng có một trải nghiệm khó quên.

Khi rời nhà thờ, tôi bất ngờ không nhớ mình đã đậu xe ở đâu. Tôi tìm kiếm gần 1 tiếng đồng hồ trong sự lo lắng. May mắn thay, anh Trịnh Nghĩa, một người tôi không quen biết nhiều, đã tận tình chở tôi đi tìm từng khu vực chung quanh.

Trong lúc tưởng như bế tắc và không muốn làm phiền anh Nghĩa lâu hơn, tôi gặp một người cảnh sát trên đường. Sự tận tình và lòng tốt của anh đã giúp tôi tìm lại được chiếc xe.

Trên đường trở về, tôi suy nghĩ rất nhiều về ngày hôm nay. Một ngày tiễn biệt anh Nam, một ngày đầy cảm xúc, nhưng cũng là một ngày tôi nhận được sự giúp đỡ từ người quen biết và cả người xa lạ.

Đối với tôi, đó là một khoảnh khắc thật đặc biệt. Có thể mỗi người có một cách cảm nhận khác nhau, nhưng trong lòng tôi, đó như một sự an ủi nhẹ nhàng, một lời nhắc rằng tình người và sự nâng đỡ vẫn luôn hiện diện quanh ta.

Anh Quốc Nam đã ra đi, nhưng niềm tin anh trao gửi vẫn còn ở lại.

Xin cúi đầu tiễn biệt anh.

Nguyện xin Thiên Chúa đón nhận anh vào Nước Trời, ban cho anh được hưởng bình an đời đời. Xin cho những giá trị tốt đẹp mà anh đã theo đuổi tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa qua những người ở lại.

Vĩnh biệt anh Nguyễn Quốc Nam.

Anh sẽ mãi được nhớ đến bằng sự kính trọng, lòng biết ơn và thương quý.

Ngọc Châu

From: Van Thanh

Đoàn Bảo Châu bị xử khiếm diện 7 năm tù vì cáo buộc ‘chống nhà nước’

Ba’o Nguoi-Viet

August 3, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 3 Tháng Tám, Tòa Án Thành Phố Hà Nội đã xử khiếm diện và tuyên án ông Đoàn Bảo Châu, 58 tuổi, ở Hà Nội, bảy năm tù về tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời nhận định của Hội Đồng Xét Xử cho rằng, hành vi của ông Đoàn Bảo Châu “đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, bức xúc trong nhân dân nên cần hình phạt nghiêm khắc…”

Một trong những clip ông Đoàn Bảo Châu phỏng vấn người thân của tù nhân lương tâm bị cho là “chống phá nhà nước.”  (Hình: Facebook Chau Doan)

Ngoài án tù, tòa còn tuyên “quản chế bị cáo [Châu] năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.”

Để tránh tiếng độc tài, Tòa Án Thành Phố Hà Nội loan báo thêm: “Bị cáo Đoàn Bảo Châu có quyền kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.”

Trước khi xét xử, Tòa Án Thành Phố Hà Nội đã kêu gọi ông Châu ra đầu thú để “hưởng khoan hồng” và “thực hiện quyền tự bào chữa.” Tuy nhiên, không thể hù dọa được ông Châu nên buộc phải xét xử vắng mặt.

Theo cáo trạng, khoảng năm 2007, ông Châu đã tạo lập, quản lý và sử dụng danh khoản Facebook “Chau Doan.”

Từ năm 2016 đến 2021, ông Châu được xác định đã phát trực tiếp năm video trên danh khoản này, nội dung phỏng vấn một số cá nhân “không rõ nhân thân” và một video dài đài BBC phỏng vấn ông được đăng trên kênh YouTube “BBC Tiếng Việt.”

Do đó, Sở Thông Tin và Truyền Thông Hà Nội kết luận, trong sáu video clip “có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân” và “xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.”

Nhà báo tự do Đoàn Bảo Châu. (Hình: Facebook Chau Doan)

Theo báo Tuổi Trẻ, tại cơ quan điều tra, ông Châu khai nhận giọng nói, hình ảnh trong sáu video clip trên là của mình.

Tuy nhiên, ông Châu không thừa nhận mục đích phát trực tiếp và trả lời phỏng vấn trên các video là nhằm “chống nhà nước.” Sau đó, ông Châu bỏ trốn.

Cùng ngày, sau khi biết về việc mình bị kết án bảy năm tù, ông Đoàn Bảo Châu đã viết trên trang Facebook cá nhân: “Trong suốt hai năm điều tra, qua hai bản kết luận giám định và một bản cáo trạng, họ vẫn không xác định được dù chỉ một câu là bịa đặt.” (Tr.N) [kn]


 

ÔNG DƯƠNG VĂN NGỘ NGƯỜI VIẾT THƯ TÌNH XUYÊN HAI THẾ KỶ ĐÃ RA ĐI Ở TUỔI 94

Trần Tố Ngọc

 01/08 ÔNG DƯƠNG VĂN NGỘ

NGƯỜI VIẾT THƯ TÌNH XUYÊN HAI THẾ KỶ ĐÃ RA ĐI Ở TUỔI 94

Ông Dương Văn Ngộ, người muôn năm cũ

Sanh ra trong gia đình lao động nghèo khó và đông anh em, ông Dương Văn Ngộ học hành siêng năng và may mắn được tuyển vào trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký lúc 12 tuổi.

Năm 16 tuổi, ông bắt đầu gắn bó với nghề bưu chính tại ty bưu điện Thị-Nghè. Đến năm 1948, ông trở thành nhân viên chính thức của nhà bưu điện Sài-Gòn khi vừa tròn 18 tuổi. Từ công việc đơn giản nhất như lựa thư để chuyển đi cho đến những việc chuyên môn trong ngành cũng như lần hồi bén duyên với nghề viết thư tay, dịch thư sang tiếng Anh và Pháp cho người đồng hương lẫn khách hàng đến từ rất nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1990, khi đến tuổi hưu trí, ông xin được một chỗ ngồi khiêm tốn ở cuối dãy hành lang tại nhà bưu điện Sài-Gòn để viết thư cho khách bằng ba ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp. Như con ong cần mẫn mang mật ngọt cho đời, ông Ngộ đều đặn làm việc 5 ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ sáu, mỗi ngày từ 8 giờ sáng đến 3 giờ rưỡi chiều. Qua những trang thư, ông là chiếc cầu nối liền những tình thương giữa con người từ những lục địa xa xăm. Ngoài ra, ông cũng kiêm luôn công việc hướng dẫn thông tin cần thiết cho những người lần đầu đặt chân đến nhà bưu điện.

Sở hữu tánh tình hiền hòa và cẩn thận, ông đã chăm chút cho từng chữ, từng câu viết trên mỗi lá thư nên được rất nhiều khách hàng trong nước cũng như ở nước ngoài hết lòng quý trọng cùng sự ngưỡng mộ tuyệt vời. Vì được lớn lên và sống một đời ở mảnh đất này nên ông là một kho tàng kỷ niệm về Sài-Gòn những năm tháng xa xưa, thuở còn thanh bình thịnh trị. Báo chí vẫn nhắc đến ông với nhiều tên gọi mỹ miều như “người viết thư tình xuyên hai thế kỷ”, “người nối thế giới bằng cây bút mực”, “người giữ hồn cho những lá thư tay”, v.v..

Giống như nhiều nơi trên thế giới, do sự phát triển vượt bực của ngành công nghệ thông tin nên cuộc sống ở Sài-Gòn cũng có ít nhiều thay đổi. Nhu cầu viết thư gửi qua đường bưu điện ngày một giảm sút khiến cho số lượng khách hàng cũng thưa thớt dần. Cuối năm 2020, ông giã từ với công việc đã gắn bó suốt 30 năm vì tuổi cao, sức cạn.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông sa sút nhiều vì căn bệnh của tuổi già. Tối 1 tháng 8 năm 2023, trong cơn mệt nhọc vì thở khó, ông mơ màng cất tiếng hỏi:

– Ở đây sao giống Dinh Độc Lập?

– Đây là nhà mình, ba ơi!

Dù không nghe được tiếng trả lời nhưng cô con gái biết được, giây phút đó cũng là sau cùng của một đời người. Ông Ngộ lặng lẽ ra đi trên tay người con gái sau 94 năm góp mặt với cuộc đời.

Mấy mươi năm làm bạn cùng chữ nghĩa, ông đã khép lại một cuộc sống đẹp đẽ và hữu ích. Hình ảnh ông lão ngày ngày trên chiếc xe đạp đến nhà bưu điện Sài-Gòn, không ngại nắng mưa, không nệ hà khó nhọc, vẫn cần mẫn viết giùm những dòng chữ cho khách hàng đã trở thành quen thuộc và khó quên. Nắng lên, chiều xuống, phố xá rực ánh đèn đêm vẫn hối hả với dòng xe, dòng người xuôi ngược. Ngày tháng buông trôi, người Sài-Gòn đã dần khuất bóng, người lìa cõi tạm, kẻ rời bỏ nơi này vì nhiều hoàn cảnh khác nhau. Người muôn năm cũ tản mác muôn phương và mang theo Sài-Gòn cùng những nét đan thanh của một thời hoa mộng.

TV, 02.08.2023

(Bài viết của Anh Tám Vạn)

An Nguyen ST 


 

Từ bỏ tất cả để bắt đầu lại từ con số 0.-Với Albert Schweitzer (1875 – 1965)

 Dấu Ấn Thời Đại 

Bác sĩ Albert Schweitzer: Từ bỏ địa vị— Học lại y khoa sang châu Phi cứu chữa hàng vạn dân nghèo

Bạn sẽ làm gì khi đang ở đỉnh cao của danh vọng, tiền tài và sự ngưỡng mộ ở tuổi 30?

Với Albert Schweitzer (1875 – 1965), câu trả lời là: Từ bỏ tất cả để bắt đầu lại từ con số 0.

Đầu thế kỷ 20, Schweitzer là một thiên tài lừng danh khắp châu Âu. Ông sở hữu 2 tấm bằng Tiến sĩ (Triết học và Thần học), là Giáo sư Đại học danh tiếng và là một nghệ sĩ đại phong cầm (organ) thiên tài có tương lai nhung lụa đón chờ

Nhưng ở tuổi 30, sau khi đọc được lời kêu gọi cứu trợ y tế cho người nghèo tại châu Phi, ông đã đưa ra một quyết định khiến tất cả người thân, bạn bè bấy giờ đều cho là “điên rồ”: Từ bỏ địa vị để đi học lại ngành Y.

7 năm ròng rã trên ghế nhà trường y khoa, ở cái tuổi mà người khác đã ổn định sự nghiệp, ông miệt mài học cách cầm dao mổ, cách chẩn đoán bệnh. Để rồi ở tuổi 38, vị Tiến sĩ ngày nào đã cùng vợ xách vali lên tàu, dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc Lambaréné (Gabon, châu Phi)

Những ngày đầu đặt chân đến vùng đất nghèo khổ ấy, không có bệnh viện, không có kinh phí hỗ trợ, Schweitzer đã:

Tự tay dọn dẹp, cải tạo một chuồng gà cũ để làm phòng khám đầu tiên.

Dùng số tiền tích góp từ các buổi biểu diễn âm nhạc ở châu Âu để tự mua thuốc men, thiết bị.

Đối mặt với hàng loạt căn bệnh t/ử thần bủa vây người dân bản địa như sốt rét, bệnh phong, bệnh ngủ, kiết lỵ…

Suốt hơn 50 năm cống hiến, từ một “phòng khám chuồng gà”, ông đã biến nơi đây thành một quần thể bệnh viện quy mô, cứu sống và chữa trị cho hàng vạn người dân nghèo. Khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1952, ông đã dùng toàn bộ số tiền thưởng 33.000 USD để xây dựng khu điều trị riêng cho các bệnh nhân phong.

Vị bác sĩ vĩ đại ấy qua đời năm 1965 và nằm lại ngay bên cạnh những bệnh nhân mà ông yêu thương giữa rừng già châu Phi. Ông để lại cho thế giới một bài học bất tử về lòng nhân ái và tình yêu thương không biên giới.

Con người chúng ta đôi khi quá bận rộn để tích lũy cho bản thân, nhưng câu chuyện của Albert Schweitzer nhắc nhở ta rằng: Giá trị đích thực của cuộc sống nằm ở sự phụng sự và sẻ chia.

“Ví dụ không phải là cách tốt nhất để gây ảnh hưởng lên người khác. Đó là cách duy nhất.” — Albert Schweitzer

#AlbertSchweitzer #Yduc #LongNhanAi #TruyenCamHung

#BaiHocCuocSong #NguoiTotViecTot


 

NỢ ÂN TÌNH – Tg Phạm Nhật Minh 

 Tg Phạm Nhật Minh 

NỢ ÂN TÌNH LÀ MÓN NỢ KHÓ TRẢ NHẤT ĐỜI NGƯỜI

Có những món nợ cầm giấy tờ đi trả là xong. Có những món nợ chỉ cần đủ tiền thì mọi chuyện khép lại rất nhanh. Người ta vay nhau vài triệu, vài trăm triệu, thậm chí cả một gia tài rồi cũng có ngày thanh toán sạch sẽ. Riêng nợ ân tình thì khác. Càng sống lâu càng thấy nặng lòng. Càng đi nhiều càng hiểu thứ khó trả nhất trên đời chưa bao giờ là tiền bạc, mà là cái nghĩa người khác dành cho mình lúc sa cơ.

Đời người ai cũng từng có lúc khó khăn. Có người khổ vì tiền. Có người khổ vì tình. Có người bên ngoài cười nói bình thường nhưng bên trong nát vụn tới mức chỉ muốn buông xuôi tất cả. Những lúc như thế, thứ cứu một con người nhiều khi không phải vật chất lớn lao, mà chỉ là một bàn tay chìa ra đúng lúc. Một câu nói tử tế. Một ánh mắt tin tưởng. Một người chịu ngồi nghe mình nói hết nỗi lòng giữa lúc ai cũng quay lưng.

Chính những thứ tưởng nhỏ bé ấy lại theo con người ta suốt cả cuộc đời.

Người từng trải thường sống nặng tình hơn nặng tiền. Vì họ hiểu cảm giác lúc bản thân rơi xuống đáy mà vẫn còn người đứng cạnh quý giá tới mức nào. Có những năm tháng đi hết túi vẫn chưa đáng sợ bằng đi hết niềm tin. Có những giai đoạn chỉ cần một người bỏ mặc thôi cũng đủ khiến lòng mình lạnh ngắt. Nên ai từng giúp mình giữa lúc tăm tối, mình nhớ rất lâu. Không cần họ nhắc. Không cần họ đòi. Trong lòng tự khắc ghi.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng chỉ cần mang quà cáp tới biếu, gửi chút tiền gọi là đáp lễ thì xem như tròn nghĩa. Không đơn giản như vậy. Ân tình chưa bao giờ đo bằng giá trị món quà. Có người cho mình cả tuổi trẻ để nuôi mình khôn lớn. Có người hy sinh giấc ngủ, sức khỏe, công việc chỉ để mình có chỗ dựa lúc khó khăn. Những thứ ấy lấy gì cân cho đủ.

Cha mẹ là món nợ ân tình lớn nhất đời người. Lúc còn nhỏ, mình đau một chút thì cha mẹ lo đứng lo ngồi. Mình thiếu ăn thiếu mặc một ngày, cha mẹ mất ngủ cả đêm. Có những người cha đi làm quần quật ngoài trời nắng chang chang, lưng áo ướt đẫm mồ hôi vẫn không dám mua cho mình bộ đồ mới. Có những người mẹ ăn uống dè sẻn từng đồng nhưng sẵn sàng vét sạch tiền trong túi để con có bữa cơm ngon. Họ sống cả đời vì con cái nhưng chưa từng tính toán công lao.

Đến lúc con trưởng thành, kiếm được tiền, nhiều người nghĩ đưa tiền về hàng tháng là đủ. Nhưng thứ cha mẹ cần nhiều khi chỉ là một cuộc gọi hỏi han, một bữa cơm đông đủ, một ngày con cái về nhà ngồi nói chuyện tử tế. Tiền bạc giúp cuộc sống dễ thở hơn, nhưng không khỏa lấp được cảm giác cô đơn trong lòng những người già chỉ mong con cháu quan tâm thật lòng.

Có những người khi cha mẹ còn sống thì vô tâm. Lúc mất rồi mới bật khóc, mới thấy lòng trống rỗng, mới muốn báo hiếu nhưng không còn cơ hội. Đó là món nợ day dứt nhất. Muốn trả cũng không biết trả cho ai.

Tình nghĩa vợ chồng cũng là món nợ khó cân đo. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cưới nhau về sống chung một nhà. Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu để đồng hành với nhau qua năm tháng không hề dễ. Một người chấp nhận ở cạnh mình lúc tay trắng, chịu cùng mình đi qua nghèo khó, chịu nhẫn nhịn tính xấu, chịu gánh vác lúc mình thất bại, người ấy đáng quý vô cùng. Có những người đàn ông lúc chưa có gì thì vợ ở cạnh động viên từng chút. Tới lúc khá giả hơn lại thay lòng. Có những người phụ nữ từng cùng chồng vượt qua những ngày cơ cực nhưng rồi lại bị bỏ quên khi cuộc sống tốt hơn.

Con người ta nhiều khi bạc với người từng cùng mình chịu khổ, nhưng lại hết lòng với những mối quan hệ hào nhoáng ngoài xã hội. Đó là điều đau nhất.

Tình bạn cũng vậy. Lúc vui vẻ thì quanh mình rất đông người. Lúc có tiền, có địa vị, đi đâu cũng có kẻ cười nói thân thiết. Nhưng tới khi thất bại mới biết ai thật lòng. Người dám ở cạnh mình lúc trắng tay mới là người đáng trân trọng. Có những người bạn nhiều năm không gặp, nhưng chỉ cần mình xảy ra chuyện, họ sẵn sàng có mặt. Có người chẳng khá giả gì nhưng vẫn cố giúp mình một khoản lúc túng quẫn. Khoản tiền ấy chưa chắc lớn, nhưng cái tình nằm phía sau mới đáng quý.

Người từng nghèo mới hiểu bát cơm lúc đói ngon tới mức nào. Người từng cô độc mới hiểu một câu động viên đúng lúc ấm lòng ra sao. Nên càng va chạm, con người càng sống chậm lại. Không còn nhìn mọi thứ bằng giá trị vật chất nữa. Họ nhìn bằng lòng người.

Đời này đáng sợ nhất không phải mang nợ tiền, mà là nợ một người đã từng tốt với mình. Tiền còn có giá rõ ràng. Ân tình thì không có con số cụ thể. Có những việc giúp xong là quên, nhưng người được giúp nhớ cả đời. Có những người chỉ vô tình cứu mình một lần nhưng lại thay đổi cả quãng đời phía sau của mình.

Có người từng nói, lúc nghèo khổ mà gặp được người thật lòng giúp đỡ, cảm giác ấy nhớ tới già cũng chưa quên được. Vì khi con người rơi xuống thấp nhất, họ mới thấy rõ ai thật tâm, ai giả tạo. Người đứng cạnh mình lúc huy hoàng chưa chắc quý bằng người ngồi cạnh mình lúc thất bại.

Cuộc sống bây giờ khiến nhiều người sống thực dụng hơn. Quan hệ cũng tính toán hơn. Người ta sợ thiệt, sợ cho đi, sợ sống quá chân thành. Có người giúp ai cũng cân nhắc xem sau này nhận lại được gì. Có người đối tốt với người khác chỉ vì lợi ích. Nên giữa một xã hội nhiều toan tính, gặp được người sống có tình có nghĩa càng hiếm.

Càng lớn càng hiểu, giàu nghèo chưa nói lên giá trị một con người. Thứ đáng quý nhất nằm ở cách họ đối đãi với người từng giúp mình. Có những người thành công rồi quay lưng với ân nhân. Có những người khá giả hơn một chút liền xem thường bạn cũ. Nhưng cũng có người dù đi tới đâu vẫn nhớ người từng nâng đỡ mình những ngày gian khó. Người như thế thường sống bền, sống lâu trong lòng người khác.

Con người sống hơn nhau ở chữ nghĩa. Một người biết nhớ ơn, đi tới đâu cũng được quý trọng. Một người vô ơn, giàu cỡ nào lòng người khác cũng lạnh nhạt. Vì tiền bạc kiếm lại được, còn nhân cách mất rồi rất khó lấy lại.

Nhiều lúc nghĩ cũng buồn. Có những người sống tử tế cả đời nhưng lại gặp toàn bạc bẽo. Giúp người lúc khó khăn, tới khi mình sa cơ thì chẳng ai nhớ tới. Nhưng người sống sâu sắc thường không than trách nhiều. Họ hiểu giúp người là do cái tâm của mình. Chỉ cần bản thân sống không thẹn lòng là được.

Đời người ngắn ngủi lắm. Nay còn gặp nhau, mai chưa chắc còn cơ hội. Có người sáng còn nói cười, chiều đã rời xa mãi mãi. Nên ai còn cha mẹ thì cố dành thời gian nhiều hơn một chút. Ai còn ân nhân bên đời thì cố đối đãi tử tế hơn một chút. Đừng để tới lúc không còn gặp được nữa mới ôm tiếc nuối.

Tiền nợ còn có thể trả dần theo năm tháng. Ân tình nhiều khi mang theo tới hết đời vẫn chưa trả đủ. Vì thứ người khác cho mình đâu chỉ là sự giúp đỡ. Trong đó còn có lòng thương, sự tin tưởng, sự bao dung và cả chân thành.

Có những người bước qua đời mình như cơn gió. Nhưng cũng có những người chỉ cần xuất hiện một lần thôi cũng đủ khiến mình nhớ mãi. Không phải vì họ giàu có hay tài giỏi. Chỉ vì lúc cả thế giới quay lưng, họ vẫn chọn đứng về phía mình.

Người từng đi qua đủ thăng trầm thường sống chậm hơn, trầm hơn, ít khoe khoang hơn. Vì họ hiểu cuộc đời này thứ quý nhất không nằm trong tài khoản, cũng không nằm ở danh tiếng ngoài xã hội. Thứ đáng quý nằm ở những người thật lòng bên cạnh mình lúc khốn khó.

Nợ tiền còn có ngày trả hết.

Nợ ân tình nhiều khi mang theo cả đời vẫn thấy chưa đủ.

Tg Phạm Nhật Minh 

Ngày 26/05/2026 

From: luong bui & KimBằngNguyễn 


 

Người cha gốc Việt kể về cái chết của con trai 5 tuổi vì căn bệnh ‘không triệu chứng’

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

PORTLAND, Oregon (NV) – “Thằng bé gọi cho tôi, kể chuyện đi sở thú, chụp rất nhiều hình, rồi cả nhà đi biển nữa. Bé còn nhặt được mấy vỏ sò định mang về tặng tôi, cứ kể mãi không ngừng về việc mình đã vui như thế nào khi được đi chơi cùng gia đình.”

Anh Việt Vũ, 39 tuổi, kể với nhật báo Người Việt qua điện thoại từ thành phố Portland, tiểu bang Oregon, về lần nói chuyện qua Facetime với cậu con trai năm tuổi Justin Vũ, mà anh không thể ngờ là lần nói chuyện cuối cùng của hai cha con.

Cậu bé Justin Vũ, 5 tuổi, người vừa qua đời vì mắc phải một căn bệnh vô cùng hiếm. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Đó là đêm Thứ Năm, 2 Tháng Bảy. Khoảng một tuần sau đó, ngày 8 Tháng Bảy, bé Justin Vũ qua đời vì mắc phải hội chứng “rò rỉ mao mạch toàn thân” (Systemic Capillary Leak Syndrome – SCLS) hay còn gọi là bệnh Clarkson.

Chuyến đi chơi không trở về

Cuộc nói chuyện giữa anh Việt Vũ với nhật báo Người Việt diễn ra ba ngày sau đám tang của bé Justin Vũ ở Portland.

Không dễ dàng để nói về một nỗi đau quá lớn và quá mới, nhưng người cha vừa mất con nói rằng, “chúng tôi chỉ muốn mọi người biết đến căn bệnh bí ẩn hiếm gặp này. Nếu câu chuyện của con trai tôi có thể giúp ích cho dù chỉ một người thôi, thì tất cả chúng tôi đều sẽ rất hạnh phúc.”

Theo lời anh Việt kể, ngày 28 Tháng Sáu, Justin cùng với mẹ và chị, từ Denver du lịch đến Portland. Vì công việc, anh Việt không cùng đi với vợ và con. Anh Việt Vũ là kỹ thuật viên X quang của một bệnh viện cựu chiến binh (VA) ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado .

“Justin được mẹ dẫn đến Sở Thú Portland, đi biển, ghé thăm các công viên và đến một khu vui chơi trong nhà, toàn là những hoạt động mà bé rất yêu thích,” anh kể lại.

Chuyến du lịch của Justin trôi qua bốn ngày với những niềm vui không đếm được và hứa hẹn sẽ còn nữa. Tối ngày 2 Tháng Bảy, trước khi đi ngủ, bé bị đau bụng, sau đó nôn ói và không ngủ được. Sáng hôm sau, người mẹ đưa bé vào khoa cấp cứu (ER).

“Bệnh viện nghĩ thằng bé bị viêm ruột thừa hoặc có thể là nhiễm trùng, nên đã tiến hành siêu âm và chụp MRI nhưng không phát hiện ra vấn đề gì. Vì vậy, họ đã chuyển con tôi đến một bệnh viện nhi ở Portland,” anh Việt nói.

Đến ngày 4 Tháng Bảy, bé Justin vẫn không khỏe hơn. Huyết áp liên tục giảm, bệnh viện buộc phải chuyển bé vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU). Sau đó cậu bé thở rất khó khăn, và bệnh viện phải tiến hành đặt ống thở cho bé.

“Trước khi Justin bị đưa vào ICU, tôi đã mua vé để bay qua Portland vào sáng 5 Tháng Bảy. Khi tôi đến bệnh viện, thì con tôi đang phải thở bằng máy.”

Bệnh viện cho Justin uống thuốc an thần từ đêm 4 Tháng Bảy khi bé nằm ICU. Bắt đầu từ thời gian đó, cậu bé luôn trong trạng thái ngủ. “Tôi không còn cơ hội trò chuyện với con trai kể từ lần cuối cùng là đêm 2 Tháng Bảy,” anh Việt nói.

Thời điểm đó, thận của Justin đã ngừng hoạt động. Bệnh viện phải cho bé chạy thận và đặt ống dẫn lưu ở cả hai bên phổi và vùng bụng vì cơ thể bé bị tích tụ dịch. Đêm 5 Tháng Bảy, các bác sĩ của bệnh viện cho biết Justin khó qua khỏi.

Cậu bé Justin kiên cường cố gắng bên cạnh cha mẹ, ông bà nội, ngoại của em thêm ba ngày nữa trước khi cơ thể em không còn đủ sức để chống đỡ.

“Khi đó, chúng tôi quyết định để con tôi ra đi ngày 8 Tháng Bảy,” anh Việt nói.

Anh Việt kể, anh và vợ đã nhờ đội ngũ y tế của bệnh viện đưa Justin ra khu vườn trong khuôn viên bệnh viện. Theo lời anh, Justin là một cậu bé năng động, thích không gian ngoài trời.

“Thằng bé có thể chơi đùa cả ngày bên ngoài,” anh nói. “Chúng tôi chọn thực hiện việc này vào đúng giờ đi ngủ thường ngày của con và làm theo đúng thói quen trước khi ngủ của con. Gia đình hai bên thay phiên nhau đọc truyện cho thằng bé nghe. Sau khi đọc truyện xong, chúng tôi bật những bản nhạc mà Justin thích. Rồi gia đình chúng tôi cùng tựa đầu vào giường, nắm lấy tay con lần cuối trước khi tắt máy hỗ trợ sự sống.”

Anh Việt Vũ và con trai 5 tuổi, bé Justin Vũ. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Clarkson, căn bệnh hiếm

Theo lời anh Việt, chưa có bác sĩ nào tại khu ICU, nơi điều trị cho Justin, từng chứng kiến ​​trường hợp như thế trong suốt sự nghiệp của họ. Họ đã phải trải qua nhiều ngày đêm để nghiên cứu và tìm ra một tình trạng có các triệu chứng tương đồng với những gì con trai của anh đang trải qua.

Khi phát hiện ra một căn bệnh là Clarkson, họ đã thử áp dụng hầu hết các loại thuốc và liệu pháp từng được dùng trong những ca bệnh tương tự mà họ tìm thấy trong tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, thông tin về bệnh này rất hạn chế do chỉ có chưa đầy 500 ca được ghi nhận kể từ những năm 60, vì vậy các biện pháp điều trị cũng rất hạn hẹp.

“Bệnh Clarkson không có dấu hiệu báo trước nào,” theo lời anh Việt. “Nó cứ thế xảy ra thôi. Và cũng chẳng ai biết tại sao. Không có dấu hiệu hay triệu chứng gì hết. Điều xảy ra là các mạch máu của người bệnh bị rò rỉ dịch, cụ thể là huyết tương, ra các phần còn lại của cơ thể thay vì giữ lại bên trong, vì các mạch máu không thể giữ lại lượng dịch đó.”

Bên cạnh đó, huyết áp bị tụt giảm, khiến máu không thể đến được các cơ quan còn lại trong cơ thể, và do đó các cơ quan này bắt đầu ngừng hoạt động.

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra căn bệnh SCLS. Theo Tổ Chức Quốc Gia Về Các Bệnh Hiếm Gặp (National Organization for Rare Disorders – NORD), căn bệnh này đặc biệt hiếm ở trẻ em và dường như không có yếu tố di truyền.

“Tất cả xảy ra hoàn toàn bất ngờ,” anh Việt nói.

Cậu bé thân thiện

Theo lời anh, Justin là một cậu bé khỏe mạnh, thậm chí chưa bao giờ phải nhập viện vì căn bệnh gì.

“Thằng bé có nụ cười tỏa sáng. Mỗi khi thằng bé cười, nó có thể làm những người chung quanh phải bật cười theo. Bé thích khám phá thế giới này. Mỗi khi nghe tiếng chim hót hay nhìn thấy con chim nào, bé đều hỏi đó là loài chim gì,” người cha 39 tuổi kể về cậu con trai năm tuổi của mình, người mà anh gọi là “bạn thân của tôi.”

“Thằng bé mê khủng long và cá mập từ lúc mới một tuổi. Bé biết nhiều loại khủng long và nhớ tên chúng còn giỏi hơn cả tôi. Justin rất thích màu xanh dương,” anh Việt nói.

Justin Vũ biết nhiều loại khủng long và nhớ tất cả tên của chúng. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Mỗi ra công viên, nhìn thấy những đứa trẻ khác, Justin đều nói với cha mẹ cậu rằng “chúng ta có những người bạn mới” và chủ động bước đến nói “chào bạn, tên tôi là Justin. Chúng ta chơi với nhau nhé.”

Đám tang của Justin diễn ra ở Portland hôm Thứ Sáu, 24 Tháng Bảy. Tuần sau, cha mẹ của bé sẽ mang bé về Denver.

“Chúng tôi đã hỏa táng Justin và sẽ đưa con trai về Denver để được ở gần gia đình. Chúng tôi đã tổ chức an táng một phần nhỏ tro cốt của con tại Portland để gia đình ở đây đến thăm viếng,” anh Việt nói.

Cuộc nói chuyện với anh Việt Vũ đôi khi đứt quãng vì người cha ấy khó kềm được cảm xúc vừa mất con trai nhỏ. Anh nói vợ của mình vẫn đang cố gắng vượt qua mỗi ngày, “có nhiều ngày rất khó khăn, nhưng cũng có những ngày đỡ hơn. Cô ấy lại đang ở cùng gia đình tại đây, nên có nhiều sự ủng hộ và nhiều người để trò chuyện, giúp đỡ.”

Bên cạnh nỗi đau mất con thì nỗi lo chi phí cũng không phải nhỏ. Anh cho biết hiện tại gia đình chưa nhận được các hóa đơn y tế và cũng không rõ khi nào.

“Vì chúng tôi đang ở khác tiểu bang, tôi cũng không chắc bảo hiểm sẽ chi trả ra sao, nhất là khi con tôi đã phải thở máy suốt bốn ngày và trải qua rất nhiều xét nghiệm cũng như các thủ tục y tế khác. Thế nên… tôi thực sự không biết chi phí sẽ là bao nhiêu, nhưng có vẻ như số tiền sẽ khá lớn,” anh Việt nói.

Một người bạn của gia đình đã tạo trang gofundme, như một món quà gửi đến cậu bé năm tuổi xấu số.

“Những điều bất ngờ có thể ập đến và cuộc sống của bạn có thể thay đổi chỉ trong chớp mắt. Hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bên những người thân yêu và dành thời gian cho họ. Rửa chén hay giặt giũ có thể để sau. Chiếc điện thoại vẫn sẽ ở đó 15 phút nữa thôi. Hãy chơi cùng con của mình khi không có việc gì cấp bách hơn. Hãy tạo ra thật nhiều kỷ niệm vui vẻ cho con và cho chính bạn,” anh Việt nói.

Trước khi kết thúc cuộc nói chuyện, tôi hỏi “anh có cơ hội mang về những vỏ ốc Justin nhặt về cho anh không?” Anh Việt trả lời: “Tôi đang giữ chúng ở đây.” [kn]


 

Michigan: Chồng bắn chết vợ, 6 con, đốt nhà rồi tự tử

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

GRAND HAVEN, Michigan (NV) – Một ông chồng ở Michigan bị cáo buộc bắn chết vợ và sáu đứa con, đốt nhà rồi tự tử, cảnh sát loan báo hôm Thứ Hai, 27 Tháng Bảy, theo ABC News.

Lính cứu hỏa tìm thấy thi thể sáu đứa con, từ 5 tới 15 tuổi, và cha mẹ sau khi tới dập tắt đám cháy tại căn ở Grand Haven Township hôm Thứ Sáu tuần trước, Sở Cảnh Sát Ottawa County (OCSO) cho hay.

Xe cảnh sát Ottawa County, Michigan. (Hình minh họa: Ottawa County Sheriff’s Office)

Cả tám người thiệt mạng vì vết đạn, OCSO cập nhật thông tin hôm Thứ Hai sau khi có kết quả giảo nghiệm tử thi.

Người chồng, ông Kristopher Karolkiewicz, 47 tuổi, chết do tự tử, còn người vợ, bà Amanda Karolkiewicz, 39 tuổi, và sáu đứa con bị sát hại, OCSO xác nhận.

Cảnh sát không nêu danh tánh sáu đứa con, chỉ cho biết bao gồm bốn con trai lần lượt từ 5, 11, 12 và 15 tuổi cùng hai con gái 11 tuổi. Trong đó có bốn đứa trẻ là con ruột, còn hai đứa kia là con nuôi, theo OCSO.

“Đây là bi kịch không thể diễn ra bằng lời mà có lẽ chúng tôi không bao giờ biết rõ chuyện gì xảy ra,” Đại Úy Jake Sparks của OCSO cho hay trong buổi họp báo hôm Thứ Hai. “Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức tìm ra câu trả lời và tưởng niệm các nạn nhân.”

Ban đầu, lính cứu hỏa tới khu vực này vào sáng Thứ Sáu sau khi nhận được tin báo có mùi khói, nhưng không thấy nhà nào bị cháy, ông Sparks cho biết.

Vài tiếng sau, lính cứu hỏa quay lại nơi đó sau khi nhận được tin báo có khói trắng bốc lên tại một căn nhà, và khi tiến vào trong để cố gắng dập tắt đám cháy, họ thấy thi thể tám người ở trong phòng ngủ khác nhau khắp nhà, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang điều tra nguyên nhân vụ cháy nhưng tin rằng đám cháy do cố ý đốt ở nhiều nơi khắp nhà và tầng hầm bị hư hại nặng nề, ông Sparks cho hay. Mấy con thú nuôi của gia đình này, gồm vài con chó và ít nhất một con mèo, cũng chết trong đám cháy, ông cho biết.

“Không còn nghi can nào khác và kết quả điều tra cho thấy đây là vụ giết người rồi tự tử, và phóng hỏa sau khi giết người,” ông Sparks xác nhận trong thông cáo báo chí của OCSO hôm Thứ Hai.

Ông Sparks nói ông tin rằng sự việc có lẽ bắt đầu vào đêm hôm trước. Khẩu súng được sử dụng trong vụ này là súng lục, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang tiếp tục điều tra vụ án này. (Th.Long) [kn]


 

TUỔI GIÀ LÀ MỘT ƠN GỌI, KHÔNG PHẢI LÀ GÁNH NẶNG

Anmai CSsR

Có một sự thật mà con người thường chỉ hiểu khi đã đi qua quá nửa đời mình: tuổi già không phải là phần thừa còn sót lại sau những năm tháng huy hoàng, cũng không phải là căn phòng chật hẹp nơi một người ngồi chờ ngày khép lại cuộc đời. Tuổi già vẫn là một mùa sống, một chặng đường có ý nghĩa, một ơn gọi mà Thiên Chúa trao ban. Nếu tuổi trẻ được mời gọi bước đi, xây dựng, khám phá và cống hiến, thì tuổi già được mời gọi ở lại, gìn giữ, trao truyền và làm chứng. Mỗi tuổi có một vẻ đẹp riêng, mỗi mùa có một sứ mạng riêng. Không thể bắt mùa thu phải rực rỡ như mùa hạ, nhưng cũng không ai có thể phủ nhận vẻ đẹp sâu lắng của những chiếc lá đã đi qua đủ nắng, đủ mưa và đang bình thản trở về với đất.

Thế giới hôm nay tôn thờ tuổi trẻ, sức khỏe, tốc độ và hiệu quả. Người ta quý một người khi người ấy còn làm được nhiều việc, kiếm được nhiều tiền, tạo ra nhiều thành tích, còn có thể đứng ở vị trí quan trọng hay đem lại lợi ích cho người khác. Bởi thế, khi tuổi già đến, khi đôi tay bắt đầu run, bước chân không còn nhanh, trí nhớ đôi lúc lẫn quên, nhiều người bỗng cảm thấy mình trở thành kẻ đứng bên lề. Có người đau không phải chỉ vì bệnh tật, nhưng vì cảm giác mình không còn hữu dụng. Có người buồn không phải vì tóc đã bạc, mà vì con cháu không còn kiên nhẫn ngồi nghe. Có người sống giữa một ngôi nhà đông người nhưng vẫn cô độc, bởi tiếng nói của họ bị xem là chuyện cũ, kinh nghiệm của họ bị coi là lỗi thời, còn sự hiện diện của họ đôi khi bị nhìn như một gánh nặng phải chăm sóc.

Đau hơn nữa là chính người già cũng dễ tin vào cái nhìn ấy. Họ xin lỗi vì phải nhờ con cháu. Họ ngại lên tiếng vì sợ làm phiền. Họ thu mình trong một góc, nghĩ rằng mình ăn thêm một bữa là làm hao tốn gia đình, đi khám thêm một lần là làm con cái vất vả, sống thêm một ngày là khiến người khác thêm nặng gánh. Có những người già chưa chết về thân xác nhưng đã tự xóa mình khỏi đời sống của những người thân. Họ không còn dám ước ao, không dám mong được yêu thương, không dám tin mình vẫn có thể đem lại điều gì tốt đẹp. Đây là một nỗi đau âm thầm mà không loại thuốc nào chữa khỏi, bởi đó là vết thương của một người không còn cảm thấy mình được cần đến.

Nhưng giá trị của một con người chưa bao giờ được đo bằng khả năng sản xuất, sức khỏe hay mức độ hữu dụng. Một em bé chưa làm được gì vẫn được yêu. Một người bệnh không thể lao động vẫn có phẩm giá. Một người già không còn đủ sức phục vụ vẫn là một con người trọn vẹn, vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa, vẫn là một câu chuyện thánh thiêng không ai có quyền coi thường. Tình yêu đích thực không chỉ yêu người khác khi họ khỏe mạnh, vui vẻ và có ích. Tình yêu thật được nhận ra rõ nhất khi ta vẫn ở lại với một người trong lúc họ yếu đuối, chậm chạp, lẫn quên và cần được giúp đỡ. Nếu chỉ yêu nhau khi còn trẻ đẹp và thành đạt, đó chưa chắc là tình yêu; có khi chỉ là một cuộc trao đổi lợi ích được phủ lên bằng những lời ngọt ngào.

Tuổi già là ơn gọi trước hết vì đó là lời mời gọi học cách đón nhận. Suốt phần lớn cuộc đời, con người quen cho đi, làm chủ, quyết định và chăm sóc người khác. Người cha từng là trụ cột gia đình, người mẹ từng lo từng bữa ăn, người linh mục từng phục vụ cộng đoàn, người tu sĩ từng gánh nhiều trách nhiệm. Nhưng rồi có một ngày, họ phải để người khác cầm tay mình, dìu mình đi, chuẩn bị thuốc, đưa đi khám và nhắc những điều tưởng như rất nhỏ. Điều ấy không dễ dàng. Nhận sự giúp đỡ đôi khi còn khó hơn cho đi, bởi nó đụng đến lòng tự trọng và cảm giác tự chủ. Tuy nhiên, biết đón nhận với lòng khiêm nhường cũng là một hình thức trao ban. Khi một người già cho phép con cháu chăm sóc mình, người ấy đang dạy chúng bài học về lòng hiếu thảo, sự kiên nhẫn và tình yêu không tính toán.

Tuổi già cũng là ơn gọi thanh luyện con người khỏi ảo tưởng rằng mình có thể làm chủ mọi sự. Khi còn trẻ, ta dễ tin sức khỏe sẽ ở mãi, kế hoạch nào cũng có thể thực hiện, còn tương lai vẫn nằm trong tay mình. Nhưng tuổi già nhắc con người rằng thân xác có giới hạn, thời gian không chờ đợi và đời sống này không phải là quê hương vĩnh viễn. Những nếp nhăn không phải là dấu vết đáng xấu hổ, nhưng là những đường chữ thời gian viết lên khuôn mặt. Mái tóc bạc không chỉ nói về sự tàn phai, mà còn kể lại biết bao ngày tháng đã được sống, biết bao giông bão đã được vượt qua, biết bao người đã được yêu thương. Có những nếp nhăn được tạo nên bởi nước mắt, nhưng cũng có những nếp nhăn được sinh ra từ những nụ cười. Mỗi dấu vết ấy là một phần lịch sử mà không một lớp son phấn nào có thể thay thế.

Tuổi già là ơn gọi trao truyền ký ức. Một gia đình không có người già giống như một ngôi nhà bị cắt mất gốc rễ. Người trẻ biết mình đang đi đâu khi họ biết mình từ đâu đến. Những câu chuyện ông bà kể, những phong tục gia đình, những bài học về thời khó khăn, những kinh nghiệm của thất bại và lòng trung tín chính là gia sản quý giá hơn nhiều của cải. Tiếc rằng nhiều gia đình hôm nay có đầy đủ tiện nghi nhưng lại nghèo ký ức. Con cháu sống cùng ông bà nhưng không biết ông bà đã trải qua những gì. Mỗi người cầm một chiếc điện thoại, ở trong cùng một căn phòng nhưng thuộc về những thế giới khác nhau. Đến khi ông bà mất đi, người ta mới tiếc rằng đã không hỏi thêm một câu, không ngồi lâu hơn một chút, không ghi lại những chuyện tưởng bình thường nhưng rồi trở thành điều không thể tìm lại.

Người già không chỉ trao lại những câu chuyện đẹp, nhưng còn có thể trao lại những bài học được trả giá bằng nước mắt. Họ đã từng chọn sai, từng thất bại, từng làm người khác tổn thương và từng được thứ tha. Nếu có đủ khiêm tốn để nhìn lại, tuổi già trở thành mùa của sự khôn ngoan. Khôn ngoan không phải là chưa từng sai, nhưng là biết rút ra ánh sáng từ những lầm lạc. Một người già dám nói với con cháu rằng: “Ngày trước ông đã sai ở chỗ này”, “Bà đã từng quá nóng giận”, “Cha đã có lúc bỏ quên gia đình vì công việc”, thì những lời ấy có sức giáo dục hơn nhiều bài giảng. Người trẻ không cần những bậc cao niên tỏ ra hoàn hảo; họ cần những người dám thành thật về cuộc đời mình để giúp thế hệ sau bớt đi vào những con đường đau đớn đã từng trải qua.

Tuổi già còn là ơn gọi cầu nguyện. Khi đôi chân không còn đi được xa, đôi tay không còn làm được nhiều việc, người già vẫn có thể trở thành cột trụ âm thầm bằng lời cầu nguyện. Có những người mẹ già mỗi ngày chỉ ngồi bên cửa sổ lần chuỗi Mân Côi, nhưng chính lời kinh của họ đang nâng đỡ con cháu giữa những cuộc chiến mà họ không hề biết. Có những người cha già không còn đủ sức làm việc, nhưng mỗi sáng vẫn gọi tên từng đứa con trước mặt Chúa. Có những linh mục cao niên không còn đứng giảng trên tòa, nhưng sự trung thành trong những giờ cầu nguyện âm thầm vẫn là một bài giảng không lời cho cộng đoàn. Thế giới có thể không nhìn thấy lời cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa thấy. Người đời có thể cho rằng người già không còn đóng góp, nhưng có thể chính những lời khẩn cầu của họ đang giữ cho một gia đình khỏi tan vỡ, một người con khỏi tuyệt vọng và một cộng đoàn khỏi lạc đường.

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa không bao giờ loại bỏ người già khỏi chương trình của Người. Ông Áp-ra-ham được gọi lên đường khi tuổi đời đã cao. Ông Mô-sê được trao sứ mạng giải thoát dân khi đã đi qua phần lớn cuộc đời. Ông Si-mê-on và bà An-na, giữa tuổi già và đợi chờ, đã nhận ra Hài Nhi Giê-su trong Đền Thờ, trong khi nhiều người trẻ khỏe hơn lại không nhận ra. Thiên Chúa không nhìn tuổi tác theo cách con người thường nhìn. Người không hỏi một người còn chạy nhanh đến đâu, nhưng trái tim người ấy còn sẵn sàng thuộc về Người hay không. Khi con người cho rằng một cuộc đời đã hết thời, Thiên Chúa vẫn có thể mở ra một sứ mạng mới: sứ mạng cầu nguyện, hòa giải, nâng đỡ, làm chứng và chuẩn bị tâm hồn cho cuộc gặp gỡ sau cùng.

Một ơn gọi quan trọng của tuổi già là học cách buông. Buông không có nghĩa là bỏ mặc hay đầu hàng, nhưng là trao lại. Trao lại trách nhiệm cho thế hệ sau, trao lại quyền quyết định, trao lại những công việc mình từng gắn bó. Không ít người già đau khổ vì vẫn muốn kiểm soát mọi sự. Họ không chấp nhận con cháu làm khác mình, không tin người trẻ có thể đảm nhận, không chịu rời khỏi vị trí từng đem lại danh dự. Khi ấy, tuổi già trở thành cay đắng, bởi họ nhìn mọi thay đổi như một sự phản bội. Nhưng người già đẹp nhất là người biết lùi lại mà không oán trách, biết góp ý mà không áp đặt, biết trao kinh nghiệm mà không bắt người khác phải sao chép cuộc đời mình. Họ giống như một cây cổ thụ không giành lấy ánh nắng của những mầm non, nhưng âm thầm che bóng và giữ đất cho những cây nhỏ lớn lên.

Tuổi già cũng là thời gian của hòa giải. Khi những năm tháng còn lại không còn dài, con người được mời gọi thôi nuôi dưỡng những giận hờn cũ. Có những anh em đã không nhìn mặt nhau hàng chục năm chỉ vì một mảnh đất. Có những cha mẹ mang nỗi giận con cái đến tận cuối đời. Có những người già nhớ rất rõ lỗi của người khác nhưng quên rằng chính mình cũng từng cần được tha thứ. Thật buồn khi một người đi qua gần hết cuộc đời mà hành trang mang theo vẫn là oán giận. Không ai biết ngày giờ mình sẽ rời khỏi thế gian, vì thế tuổi già là lời mời gọi thu xếp lại tâm hồn: gọi một cuộc điện thoại, nói một lời xin lỗi, mở lại cánh cửa đã đóng, trả lại cho nhau sự bình an. Một cái nắm tay bên giường bệnh có thể chữa lành điều mà hàng chục năm tranh luận không làm được.

Đối với con cháu, người già không phải là gánh nặng, nhưng là một cơ hội để học làm người. Chăm sóc cha mẹ già có thể khiến ta mất thời gian, mất sức, phải thay đổi kế hoạch và chịu đựng nhiều bất tiện. Có những lúc người già khó tính, lặp lại một câu chuyện nhiều lần, dễ tủi thân, hay trách móc hoặc quên trước quên sau. Nhưng hãy nhớ rằng ngày ta còn nhỏ, cha mẹ cũng từng thức trắng vì ta, nhẫn nại trả lời những câu hỏi lặp đi lặp lại, bón từng thìa cơm và dọn dẹp những điều ta làm bẩn. Hôm nay, khi cha mẹ yếu đi, vòng đời chỉ đang quay trở lại. Điều họ cần không chỉ là tiền bạc hay thuốc men, mà còn là cảm giác mình vẫn thuộc về gia đình, vẫn được lắng nghe, vẫn được tôn trọng.

Đừng để người già phải sống bằng lòng thương hại. Họ cần tình thương, nhưng không muốn bị coi như một món đồ dễ vỡ. Hãy để họ được tham gia vào những quyết định phù hợp, được làm những việc họ còn có thể làm, được nói lên suy nghĩ và được giữ phẩm giá. Đừng nói trước mặt họ như thể họ không hiện diện. Đừng cười khi họ lẫn quên. Đừng cáu gắt khi họ chậm chạp. Một ngày nào đó, chính ta cũng có thể bước chậm như thế, hỏi lại một câu như thế, cần một bàn tay dìu đỡ như thế. Cách ta đối xử với người già hôm nay cũng chính là bài học mà con cái đang học để đối xử với ta ngày mai.

Trong cộng đoàn và xã hội, người cao tuổi không nên bị đẩy ra ngoài lề. Họ không chỉ là đối tượng được chăm sóc, nhưng còn là chủ thể có thể đóng góp. Có người không còn đủ sức làm việc nặng nhưng có thể lắng nghe. Có người không còn đi xa nhưng có thể chỉ dẫn. Có người không còn đứng lớp nhưng có thể đồng hành với người trẻ. Có người chẳng nói được nhiều nhưng sự hiện diện hiền hậu của họ đã đem lại bình an. Đừng đánh giá sự đóng góp chỉ bằng những điều có thể đếm được. Một lời khuyên đúng lúc, một cái nhìn bao dung, một câu chuyện về lòng trung tín đôi khi có sức thay đổi cả một cuộc đời.

Dĩ nhiên, tuổi già không chỉ có vẻ đẹp lãng mạn. Nó có bệnh tật, mất mát, cô đơn và sợ hãi. Có những đêm người già không ngủ được vì đau. Có những sáng thức dậy và nhận ra thêm một người bạn đã ra đi. Có người sống trong nỗi sợ bị bỏ rơi, sợ mất trí nhớ, sợ trở thành gánh nặng, sợ cái chết. Đức tin không phủ nhận những nỗi sợ ấy. Tin vào Chúa không có nghĩa là giả vờ không đau, không buồn. Đức tin giúp người ta mang nỗi đau trong hy vọng, biết rằng thân xác có thể hao mòn nhưng con người bên trong vẫn được đổi mới, biết rằng cái chết không phải là sự xóa bỏ nhưng là cuộc vượt qua.

Tuổi già là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Thiên Chúa. Tuy nhiên, chuẩn bị không có nghĩa là chỉ ngồi chờ chết trong buồn bã. Đó là sống từng ngày còn lại với sự tỉnh thức và biết ơn. Mỗi sáng thức dậy vẫn là một món quà. Mỗi bữa cơm ăn được, mỗi người thân còn bên cạnh, mỗi lời kinh còn đọc được đều đáng để tạ ơn. Người già có thể không còn nhiều năm phía trước, nhưng mỗi ngày của họ vẫn có thể đầy ý nghĩa. Không phải một cuộc đời có giá trị vì dài hay ngắn, nhưng vì từng ngày được sống trong tình yêu.

Có những người già càng lớn tuổi càng trở nên dịu dàng. Sau bao tranh đấu, họ hiểu rằng nhiều điều từng làm mình giận dữ thật ra không đáng. Họ bớt phán xét, bớt tranh hơn thua, bớt muốn chứng minh. Họ nhìn người trẻ vấp ngã bằng ánh mắt cảm thông, bởi chính họ cũng từng đi qua những vụng dại. Họ không còn nói nhiều về thành tích, nhưng kể nhiều hơn về ân sủng. Họ hiểu rằng đời người không phải là câu chuyện ta đã làm được bao nhiêu, nhưng là câu chuyện Thiên Chúa đã thương ta thế nào. Một người già như thế là một cuốn Tin Mừng sống động: không cần nói lớn, nhưng sự bình an trên khuôn mặt họ làm người khác muốn đến gần.

Cũng có những người càng già càng cay đắng, trách móc và khép kín. Điều đó nhắc rằng tuổi tác tự nó không làm con người nên khôn ngoan. Người ta chỉ trưởng thành khi biết để những biến cố thanh luyện mình. Nỗi đau có thể làm ta dịu dàng hơn, nhưng cũng có thể làm ta trở nên cứng cỏi. Cô đơn có thể đưa ta đến với Chúa, nhưng cũng có thể khiến ta thu mình trong oán hờn. Bởi vậy, ơn gọi của tuổi già vẫn đòi hỏi sự đáp trả mỗi ngày: chọn biết ơn thay vì than trách, chọn tha thứ thay vì giữ hận, chọn trao truyền thay vì kiểm soát, chọn cầu nguyện thay vì tuyệt vọng.

Người già không cần phải cố sống như người trẻ để chứng minh mình vẫn có giá trị. Họ không cần chạy theo những gì đã qua. Vẻ đẹp của tuổi già nằm ở sự chín chắn, điềm tĩnh và tự do. Một trái cây chỉ ngọt khi đã chín. Một thứ rượu quý cần thời gian để trở nên đậm đà. Đời người cũng vậy. Có những phẩm chất chỉ xuất hiện sau nhiều năm bị mài giũa: sự kiên nhẫn, lòng bao dung, khả năng phân biệt điều gì thật sự quan trọng. Người già không cần phải xấu hổ vì sự chậm chạp. Có khi chính nhịp sống chậm ấy giúp những người đang chạy quá nhanh biết dừng lại và tự hỏi mình đang đi về đâu.

Mỗi gia đình có người cao tuổi là đang được trao một kho tàng. Kho tàng ấy không sáng lấp lánh như vàng bạc, nhưng chứa đựng ký ức, lời cầu nguyện, kinh nghiệm và căn tính. Xin đừng chờ đến khi chiếc ghế trống mới nhận ra sự hiện diện của ông bà quý giá đến mức nào. Đừng chờ đến khi giọng nói đã im mới nhớ mình chưa từng ngồi nghe. Đừng chờ đến ngày đưa cha mẹ đến nơi an nghỉ mới nói những lời biết ơn mà khi còn sống họ đã khao khát được nghe. Yêu thương người già không cần những điều quá lớn. Đôi khi chỉ là một bữa cơm ngồi đủ mặt, một cuộc gọi không vội vàng, một lần kiên nhẫn nghe lại câu chuyện cũ, một bàn tay nắm lấy bàn tay đã nhăn nheo.

Và với những ai đang bước vào tuổi già, xin đừng nghĩ đời mình đã hết. Khi Thiên Chúa còn cho ta một ngày, Người vẫn còn trao ta một sứ mạng. Có thể sứ mạng ấy không ồn ào, không được ghi nhận, nhưng vẫn quý giá. Một lời chúc lành cho con cháu, một lời kinh cho người đau khổ, một sự bình an giữa gia đình, một kinh nghiệm được trao lại, một lời tha thứ được nói ra — tất cả đều có thể trở thành hoa trái cuối mùa, và nhiều khi chính hoa trái cuối mùa lại ngọt ngào nhất.

Tuổi già không phải là bản án của thời gian, nhưng là lời mời gọi đi vào chiều sâu. Không phải là lúc bị đời bỏ lại, nhưng là lúc học cách trao đời mình trọn vẹn hơn vào tay Thiên Chúa. Không phải là dấu chấm hết của giá trị, nhưng là một cách hiện diện khác: ít làm hơn nhưng yêu sâu hơn, ít nói hơn nhưng cầu nguyện nhiều hơn, bước chậm hơn nhưng nhìn rõ hơn, yếu đuối hơn nhưng tự do hơn. Khi được sống trong đức tin và tình yêu, tuổi già không còn là gánh nặng phải chịu đựng, mà trở thành một ơn gọi được hoàn tất trong bình an.

Lm. Anmai, CSsR


 

KHI TA GIÀ ĐI

Khong Khong

 Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Fb Tinh ca


 

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Kimtrong Lam

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Cháu trai 31 tuổi này tên là Lê Đức Nhân, một du sinh thành công tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành du lịch, cháu đang làm việc cho Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Từ lúc rời VN ra đi tới nay là 10 năm, cuộc sống của cháu là cả một chuỗi phấn đấu không ngừng nghỉ, vì cháu là một du sinh mồ côi cả cha và mẹ từ 11 tuổi.

Nhân quê ở Bình Định. Năm 11 tuổi, cùng một lúc cậu bé phải nhận 3 cái tang. Mẹ cháu đi chợ bán rau, bị tai nạn qua đời vào tháng 4. Vừa 50 ngày mẹ xong thì ba cháu cũng bị tai nạn không qua khỏi. Đến tháng 11 cùng năm, vì sức khoẻ yếu nên ông nội cũng ra đi.

Hai chị gái đi lấy chồng. Cháu được cưu mang bởi chú thím, sau đó là cậu mợ ruột. Tới năm lớp 12, cháu vào ở cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi Hướng Dương, do 1 thày giáo giúp đỡ.

Dù sống đầy khó khăn như vậy, Nhân vẫn học xong trung học và thi đậu đại học SPKT TPHCM.

Người thày giáo đó tên là thày Vinh rất thương cháu. Nên thày tìm đường cho cháu đi du học. Ban đầu lo cho cháu nghỉ học đại học, tập trung học tiếng Nhật. Sau đó tìm học bổng của báo Asahi cho cháu qua Nhật học hành.

Học bổng này chính là học bổng giao báo. Mình từng giới thiệu về học bổng đó cho các cháu con nhà nghèo muốn đi du học ở Nhật.  Mà du sinh nào nhận học bổng thì sẽ vừa học, vừa làm công việc vốn rất vất vả hàng ngày là phải thức khuya dậy sớm trong mọi điều kiện thời tiết nhiều phần khắc nghiệt ở xứ Nhật để đi giao báo theo giờ cam kết trong ngày.

Trong thời gian Nhân mới qua Nhật, người cậu từng cưu mang cháu mất vì đột quỵ. Bà nội cũng qua đời. Hai người chị gái mắc bệnh trọng. Tang tóc và nỗi đau chồng chất lên vai chàng trai trẻ một mình lênh đênh xa xứ.

Nhân khi đó làm việc và học tại Yurigaoka, Kanagawa theo phân công. Cháu thi đậu bằng lái xe máy của Nhật. Mỗi sáng, cháu phải thức dậy vào lúc 1 giờ 30 để ra tiệm báo, lấy báo đi phát đến khoảng 6 giờ sáng về. Chỉ kịp ngả cái lưng nghỉ một tí, đến hơn 8 giờ đã phải rời nhà, đi tàu điện thêm 1 giờ để đến trường. Tan học về nhà, ăn cơm trưa rồi mình lại ra tiệm để phát báo chiều. Hai năm ròng cháu đã vừa làm vừa học như thế. Sau đó cháu chuyển qua làm phụ quán ăn, bán mì, phụ bếp…Một ngày như vậy, Nhân chỉ được ngủ vẻn vẹn 3 giờ. Phải chịu khó làm lụng và học hành, vì gia cảnh không có gì để bấu víu.

Trong suốt thời gian đó, cách duy nhất để Nhân đứng vững là học hành. Chỉ có học vấn mới là cứu cánh duy nhất thay đổi cuộc đời của cậu bé mồ côi ấy. Vì vậy mà 4 năm sau, Lê Đức Nhân đã tốt nghiệp trường Du lịch và Khách sạn JTB. Cháu được nhà trường khen tặng vì chưa từng một ngày nào nghỉ học hay đi trễ.

Ngay sau khi tốt nghiệp, Nhân may mắn tìm được việc làm ở khách sạn tại Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Công việc đúng với chuyên ngành mà Đức Nhân theo học, với mức thu nhập tốt và cơ hội phát triển cao. Báo Đời sống và Pháp luật đã có một bài viết hay về cháu.

Chàng trai ấy cho biết :”không ai có thể lựa chọn hoàn cảnh mình sinh ra, nhưng hoàn toàn có thể chọn cách mình sống và trưởng thành.”

Đọc các thông tin về cháu Nhân thấy rất xúc động. Là vì cháu thật sự là một con người có ý chí, có quyết tâm rất cao. Cháu cũng sống hướng thượng và dám hết mình để chạm tay vào ước mơ. Dù trải qua rất nhiều chia ly, tang tóc, nhưng cháu may mắn vẫn được rất nhiều người thương mến, đặc biệt là gia đình bà con cưu mang cháu và thày Vinh, người thày có tầm nhìn xa trông rộng đã chỉ cho cháu một đường đi tốt cho tương lai.

Mong cháu và gia đình luôn vui khỏe, hạnh phúc.

( Hình từ báo đoisongvaphapluat)

———

Nguyễn Thị Bích Hậu.


 

Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần…

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần trước khi trở thành một trong những tác giả bán chạy nhất thế giới. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Ông từng bị trói vào bàn và phải chịu những cú sốc điện. Khi ấy, ông chỉ là một thiếu niên mà “tội lỗi” duy nhất là muốn trở thành nhà văn thay vì luật sư. Cha mẹ ông, vì lo lắng, cho rằng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con trai là dấu hiệu của bệnh tâm thần nên đã đưa ông vào bệnh viện tâm thần tới ba lần.

Thế nhưng nhiều thập kỷ sau, chính người đàn ông ấy đã ngồi trước một tờ giấy trắng và chỉ trong mười bốn ngày đã viết nên một cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người.

Tên ông là Paulo Coelho, và câu chuyện của ông là minh chứng rằng những người chỉ trích chúng ta gay gắt nhất đôi khi lại sai hoàn toàn về tương lai của chúng ta.

Năm 1988, Paulo đã dồn hết tâm huyết vào một câu chuyện ngụ ngôn giản dị kể về hành trình của một chàng chăn cừu trẻ tuổi đi tìm ước mơ của mình qua sa mạc. Ông đặt tên cho cuốn sách ấy là The Alchemist (Nhà Giả Kim).

Ông biết cuốn sách này có điều gì đó rất đặc biệt, nhưng giới xuất bản lúc bấy giờ lại không hề quan tâm.

Nhà xuất bản đầu tiên phát hành cuốn sách đã nhìn nó nằm phủ bụi trên các kệ sách. Doanh số quá thấp nên họ quyết định ngừng phát hành và trả lại bản quyền cho tác giả.

Người ta nói với ông rằng tác phẩm của ông là một thất bại hoàn toàn.

Nhiều người có lẽ đã từ bỏ vào thời điểm đó. Xét cho cùng, những “chuyên gia” đã lên tiếng. Nhưng Paulo đã từng sống sót sau những liệu pháp sốc điện thực sự; một lá thư từ chối không thể khiến ông bỏ cuộc.

Ông tin sâu sắc vào thông điệp cốt lõi của cuốn sách mình:

“Khi bạn thực sự khao khát một điều gì đó, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được nó.”

Ông từ chối từ bỏ.

Paulo tìm được một nhà xuất bản thứ hai sẵn sàng trao cho ông cơ hội. Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra. Thành công không đến nhờ những chiến dịch quảng cáo tốn kém. Cuốn sách phát triển chậm rãi, gần như trong im lặng.

Một người đọc nó, cảm thấy trái tim mình thay đổi và giới thiệu cho một người bạn.

Người bạn ấy lại giới thiệu cho người khác.

Dần dần, những lời truyền miệng nhỏ bé ấy đã trở thành một làn sóng mạnh mẽ.

Cuốn sách đã vượt ra khỏi những con phố của Brazil để đến với mọi ngóc ngách trên thế giới.

Ngày nay, Nhà Giả Kim là một trong những cuốn sách được yêu thích nhất trong lịch sử. Nó đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Người ta có thể bắt gặp cuốn sách này trên bàn làm việc của những nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, cũng như trong ba lô của những sinh viên nghèo không có nhiều tiền.

Nếu Paulo nghe theo cha mẹ mình, có lẽ ông đã sống cả đời như một luật sư bất hạnh.

Nếu ông nghe theo nhà xuất bản đầu tiên, kiệt tác của ông có thể đã biến mất mãi mãi.

Thay vào đó, ông chọn tin vào tiếng nói bên trong mình.

Ông đã cho thế giới thấy rằng thất bại thực sự duy nhất chính là không dám bắt đầu hành trình hoặc bỏ cuộc ngay khi ai đó nói với bạn rằng bạn không thể.

Những khó khăn mà bạn đang trải qua hôm nay không phải là sự trừng phạt.

Chúng chỉ là sự chuẩn bị cho những điều tốt đẹp đang chờ đợi bạn ở phía trước.

Hãy tiếp tục bước đi, vì thế giới vẫn đang chờ được nghe câu chuyện của chính bạn.