Các trung tâm sinh hoạt văn học hải ngoại – Trần Doãn Nho

 Trần Doãn Nho

 Quá trình hình thành nền báo chí hải ngoại diễn ra gần như song song với quá trình hình thành các cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, là tiểu bang California.

Phát giải cuộc thi Áo Dài Việt Nam Truyền Thống tại Phước Lộc Thọ, Little Saigon năm 2020. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Từ tháng Năm 1975, khoảng vài ngàn người Việt tị nạn được chuyển đến trại Pendleton (căn cứ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, San Diego, California). Được cư dân địa phương giàu lòng nhân ái giúp đỡ, họ lần lượt đi định cư rải rác trong các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa và các vùng phụ cận. Đến năm 1979, gần 100 cơ sở thương mại của người Việt xuất hiện quanh quanh trên đường Bolsa (Westminster), đường First (Santa Ana) và đường Westminster (Garden Grove),  tạo thành một khu sinh hoạt riêng biệt. Ngày 9 tháng hai năm 1988, Hội đồng thành phố Westminster thông qua Quyết nghị số 58, công nhận khu này là “Little Saigon.”

Ngày 17 tháng Sáu, 1988, thống đốc California, ông George Deukmejian đến cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon, Next Exit” được “California Department of Transportation” (Bộ Công Chánh California) dựng ở hai xa lộ 405 và 22 dẫn vào hai đường Brookhurst và Magnolia. Từ đó, Little Saigon thu hút di dân Việt khắp nơi về định cư, biến vùng đất ngoại ô của khu Bolsa-Garden Grove vốn vắng vẻ và yên tĩnh thành một đô thị phát triển với chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và các cơ sở thương mại, các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các trung tâm ca nhạc… Đó cũng là nơi khởi nghiệp của những chính trị gia người Mỹ gốc Việt tham gia vào dòng chính của nền chính trị Hoa Kỳ qua các chức vụ dân cử như: nghị viên, dân biểu, thị trưởng…[1]

Khánh thành bảng “Little Saigon Next Exit” hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Sáu, 1988, tại thương xá Phước Lộc Thọ. Từ trái, Luật Sư Trần Thái Văn, Giáo Sư Nguyễn Tư Mô và Thống Đốc California George Deukmejian. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Như một điểm quy tụ nhân tâm, Little Saigon đột nhiên trở thành “ngôi nhà” của cộng đồng người Việt tị nạn, không những của cư dân ở đó mà còn của cư dân ở nhiều nơi trên thế giới. Một trong những bản sắc dân tộc riêng được biểu hiện trong văn hóa nghệ thuật. Sau 1975, hầu hết những khuôn mặt trí thức văn hóa cũng như văn nghệ sĩ của miền Nam, sớm hay muộn, đều lần lượt tìm cách thoát ra hải ngoại.[2] Phần lớn trong số đó đều đến, hay tìm cách đến, định cư ở vùng Quận Cam. Đây là nguồn nhân lực tiên phong gây dựng nên nền móng báo chí cũng như văn học nghệ thuật hải ngoại. Các tờ báo, các tạp chí văn học nghệ thuật và các trung tâm băng nhạc lớn, nhỏ đều tọa lạc tại Little Saigon. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các tổng biên tập đầu tiên của ngành truyền thông tiếng Việt tại Little Saigon đều là những cây bút kỳ cựu của VNCH trước năm 1975. Nhận xét về vai trò của những nhà văn này đối với văn học hải ngoại, Trangdai Glassey-Tranguyen viết:

Trong khi ghi nhận nỗ lực, sự hiện diện và đóng góp của tất cả các nhà văn, tôi cho rằng chính những nhà văn đã thành danh (the established and committed writers) – trong đó có nhiều người nay đã qua đời – là những người tạo ra các tác phẩm có ý nghĩa then chốt đối với việc hình thành bản sắc tị nạn Việt Nam (Vietnamese refugee-endity), bởi khả năng của họ nhằm truyền tải những hiện thực đã trải qua và các triển vọng một cách mạnh mẽ nhất.(…) Các nhà văn này kiến tạo một không gian để phản ánh chính những kinh nghiệm và quan điểm riêng của họ, cũng như của đồng hương và cách nhìn của cộng đồng văn hóa của họ về đời sống tại VietnAmerica và trong các cộng đồng di dân khác. Họ chủ động vận dụng tối đa khả năng sáng tác: tự xuất bản, xây dựng các hội đoàn văn chương,thành lập các nhà xuất bản và các chương trình viết lách, xây dựng các cơ sở truyền thông và tạp chí văn học, tiếp tục các sáng tác mà họ đã khởi viết từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và mở ra một cầu nối giữa văn học “tị nạn” của người Mỹ gốc Việt với văn học lai và/hoặc văn học của các thế hệ 1.5 và các thế hệ sinh sau tại Hoa Kỳ.”[3]

Nhà sách Tú Quỳnh, một trong những cửa tiệm của người Việt sớm nhất ở Little Saigon. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghiên cứu văn học ở Úc, chẳng chút đắn đo khi  khẳng định chắc nịch:

Sau năm 1975, không còn hoài nghi gì nữa, California, đặc biệt là Nam California, đã dần dần nổi lên như một trung tâm của nền văn học hải ngoại. Đó là nơi tập trung nhiều người Việt nhất đồng thời cũng là nơi người Việt làm ăn buôn bán tấp nập và thành công nhất. Những cái “nhất” ấy là cơ hội thuận tiện cho việc thương mại hóa văn học bằng tiếng Việt. Hầu hết các tạp chí văn học lớn đều nằm ở Nam California, từ Văn đến Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Khởi Hành, và Thế Kỷ 21. Số lượng các tạp chí tương đối có tầm vóc nằm ngoài California rất hiếm, và trừ Làng Văn ở Canada, đều yểu mệnh, có khi chỉ hoạt động yếu ớt được vài ba năm, kể cả tạp chí Việt ở Úc. Các nhà xuất bản cũng vậy, từ Văn Nghệ đến Thanh Văn, Văn Mới, Văn Khoa, Tân Thư, Đại Nam và Xuân Thu đều nằm ở California. Chỉ có một số ít nhà xuất bản lớn nằm ngoài California như An Tiêm (Pháp), Làng Văn (Canada), Cành Nam (Washington, D.C.),… Nhưng phần lớn đều nhờ đến một trung tâm phát hành chính là Nhà Văn Nghệ ở California. Chính vì thế, trong một thời gian dài, khi nói đến văn học hải ngoại, người ta nghĩ ngay đến California. California trở thành thủ đô của văn học Việt Nam hải ngoại.”[4]

Vùng đất “nhỏ bé” ấy gánh trên mình vai trò của…hai “thủ đô”: thủ đô tị nạn và thủ đô văn học. Thiệt tình!

Thành phố Westminster, nơi có đông đảo người Việt sinh sống. (Hình minh họa: Trà Nhiên/Người Việt)

Cũng chỉ là cách nói tượng trưng. Văn học hải ngoại đâu chỉ Little Saigon (hay Quận Cam) hay Cali(fornia). Các sinh hoạt văn học nghệ thuật còn nằm ở nhiều nơi trong nước Mỹ, ở những thành phố lớn: Boston, Dallas, Houston, San Jose, Washington, DC…; mỗi nơi đều tìm cách xây dựng các “Tiểu Sài Gòn” riêng cho từng địa phương.

Tiếp sức cho những Little Saigon ở Mỹ, còn có Pháp với Paris; Paris không chỉ là một thủ đô văn hóa mà còn là biểu tượng cho tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là nơi quy tụ một số lượng lớn các khuôn mặt trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng của nhiều thế hệ, hoặc đã định cư nhiều thập niên trước 1975, chẳng hạn như Trần Thiện Đạo, Đặng Tiến, hai cây bút thường viết cho tạp chí “Văn”, Sài Gòn (mà tôi biết), hoặc đến tị nạn sau 1975.

Không kém Hoa Kỳ, Pháp là nơi xuất hiện nhiều tài năng văn chương hải ngoại như Đỗ Quỳnh Dao, Đặng Mai Lan, Miêng, Mạch Nha, Mai Ninh, Trần Thị Diệu Tâm và Phan Thị Trọng Tuyến, những nhà văn nữ đem lại cho vườn văn học Việt Nam ở hải ngoại một nét trẻ trung, tươi mát, theo Liễu Trương;[5] hay Trần Vũ, một nhà văn tài hoa và độc đáo. Đó cũng là nơi có đài phát thanh RFI (Radio France International), mà chương trình văn học nghệ thuật do nhà biên khảo Thụy Khuê phụ trách, đã từng là một chiếc cầu nối văn học nghệ thuật trong và ngoài nước khi việc giao lưu trong và ngoài nước hãy còn rất khó khăn do chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền cộng sản. Cũng là nơi của hai tạp chí mạng “Diễn Đàn Forum” và “Ăn Mày Văn Chương,” được điều hành bởi những trí thức vốn là thành phần thiên tả trước 1975, sau trở thành  bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam. Cũng là nơi “Câu lạc bộ Văn hóa Việt Nam Paris” đã được thành lập vào năm 1994, quy tụ rất nhiều nhân sĩ trí thức và văn nghệ sĩ như Trần Văn Cảnh, Hồ Trường An, Trần Thanh Hiệp, Lê Mộng Nguyên, Vũ Quốc Thúc, Từ Thức, Nguyễn Đăng Trúc, Liễu Trương, Phan Thị Trọng Tuyến…

Còn có Úc. So với Hoa Kỳ và Pháp, chỉ trừ vài ba khuôn mặt là thuộc giới văn nghệ sĩ thời VNCH, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, những người sáng tác nổi tiếng tại Úc trong thời gian qua đều cầm bút sau năm 1975. Đó là nơi xuất hiện hai tạp chí thuần túy về văn học đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam tại Úc: Việt (báo giấy 1998-2001, 8 số) và Tiền Vệ (báo mạng 2002-2018), do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ trương.

Điểm đặc biệt là cả hai tạp chí đều nghiêng về các khía cạnh lý thuyết văn học và phổ biến những sáng tác có xu hướng cách tân, gây ảnh hưởng khá lớn lao đối với dòng văn học ở trong và ngoài nước. Tạp chí “Văn Học” tại California đã dành một số đặc biệt (số 41, 6/1989) “giới thiệu những cây bút trẻ ở Úc”: Hoàng Ngọc-Tuấn, Thường Quán, Cao Huy, Cheo Reo và Uyên Nguyên. Úc cũng là nơi cư trú của nhà văn Nam Lê, mà tác phẩm “The Boat” (Thuyền) của ông đoạt gần chục giải thưởng quốc tế, đã là một niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Còn có Canada. Là láng giềng của Hoa Kỳ, Canada là nơi mà sinh hoạt báo chí mọi loại phát triển không thua gì ở Hoa Kỳ, trong đó có một số tạp chí để lại nhiều dấu ấn của văn học hải ngoại như Làng Văn, Trăm Con. Đó là nơi định cư của một số văn nghệ sĩ nổi tiếng như Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chính, Trần C. Trí…; là nơi có Kim Thúy, nhà văn nữ đoạt nhiều giải văn học ở Canada, và cũng là nơi ra đời của “Ngôn Ngữ”, tờ tạp chí văn học giấy duy nhất vẫn còn tồn tại ở hải ngoại cho đến giờ, do Song Thao, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh chủ trương. Đó cũng là nơi thành lập “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do,” một tổ chức y khoa, nhưng lại quan tâm đến văn học nghệ thuật qua các “Giải Thưởng Văn Học” được trao cho các công trình biên khảo, nghiên cứu, nghị luận có giá trị về các lãnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội của những  người Việt tị nạn.

Còn có Đức. Đức là nơi định cư của một số cây bút ra đi từ miền Bắc như Thế Giang, Lê Minh Hà, Phạm Kì Đăng…và nhất là Phạm Thị Hoài, người sáng lập ra tạp chí mạng Talawas lừng danh một thời.

Còn có Ba Lan, nơi xuất phát tạp chí mạng Đàn Chim Việt, hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động.

Và ở nhiều nước Âu Châu khác.  

Trần Doãn Nho

(Tháng Năm, 2026)

From: taberd & Nguyen NThu


 

Vụ ám sát thủ lĩnh băng đảng Úc ở TP HCM: Hai nghi phạm bị cảnh sát Campuchia bắt – theo báo Khmer Times ((BBC)

(BBC)

Cảnh sát Campuchia và hai nghi phạm vụ nổ súng giết người nước ngoài xảy ra hôm 21/5/2026 tại TP HCM

27 tháng 5 2026

Hai nghi phạm trong vụ giết trùm băng đảng Úc ở TP HCM được cho là bị cảnh sát Campuchia bắt giữ tại thành phố biển Sihanoukville.

Theo bài báo đăng trên Khmer Times hôm 27/5, vào đầu giờ chiều ngày 25/5, lực lượng Cảnh sát Hình sự Campuchia phối hợp với Đội Đặc nhiệm Cảnh sát Hình sự tỉnh Sihanoukville đã cùng điều tra và truy bắt hai nghi phạm theo yêu cầu của chính quyền Việt Nam.

Thông tin trên khác với thông tin mà Công an TP HCM cung cấp cho báo chí hôm 26/5.

Báo Campuchia nói gì?

Theo bài viết được đăng vào sáng 27/5 trên tờ Khmer Times, lực lượng cảnh sát Campuchia đã bắt giữ hai người này tại một căn nhà thuê ở thôn 3, xã 2, thành phố Sihanoukville vào lúc vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 25/5.

Hai nghi phạm được xác định là Vaa Vaa, 27 tuổi; và đồng phạm là Tafia Steve, 23 tuổi, đều mang quốc tịch Samoa – một đảo quốc ở khu vực châu Đại Dương.

Hai người này sau đó đã được dẫn độ về Việt Nam.

Hai nghi phạm này trước đó đã bị truy bắt liên quan đến vụ giết người xảy ra vào lúc tối 21/5 tại nhà hàng Cee’s ở phường Bến Thành thuộc TP HCM, trong đó người được xác định “trực tiếp sử dụng súng gây án” là Vaa Vaa.

Tại hiện trường, cảnh sát tìm thấy thi thể của Lemalu Lorenzo Tovia, 25 tuổi; còn Sauni Sam, 27 tuổi, bị thương nặng do trúng đạn. Cả hai đều mang quốc tịch Úc và là thành viên băng đảng Coconut Cartel khét tiếng ở nước này.

Báo Khmer Times cũng đăng ảnh các nhân viên cảnh sát Campuchia chụp chung với hai nghi phạm trước một tấm phông có dòng chữ Khmer: Sở Cảnh sát tỉnh Sihanoukville.

Thông tin trên tờ báo Campuchia khác so với các thông tin được lực lượng công an Việt Nam cung cấp vào ngày 26/5.

Trong buổi cung cấp thông tin về vụ án được đánh giá là “đặc biệt nghiêm trọng” vào sáng 26/5 dưới sự chủ trì của Trung tướng Mai Hoàng – Giám đốc Công an TP HCM – lực lượng công an cho biết hai nghi phạm người Samoa bị công an TP HCM bắt ở biên giới Việt Nam-Campuchia.

Ông Mai Hoàng không hề nhắc đến sự hợp tác hay giúp sức của cảnh sát Campuchia trong vụ việc này.

Từ việc Công an TP HCM bỏ qua thông tin về vai trò của cảnh sát Campuchia, cộng với chi tiết bắt nghi phạm tại “khu vực giáp biên giới Việt Nam-Campuchia” trong buổi cung cấp thông tin hôm 26/5, nhiều người chia sẻ trên mạng rằng công an Việt Nam đã bắt giữ hai nghi phạm này trên lãnh thổ Việt Nam.

Trong khi đó, theo thông tin trên Khmer Times thì cảnh sát Campuchia đã bắt giữ hai người này tại thành phố Sihanoukville, nằm cách cửa khẩu Hà Tiên, An Giang khoảng 150 cây số theo đường bộ và 100 km theo đường chim bay.

Tỉnh Sihanoukville cũng không có biên giới đường bộ với Việt Nam.

Cảnh sát Campuchia khống chế hai nghi phạm người Samoa

Hàng loạt tờ báo ở Việt Nam đều đưa tin rằng các lực lượng của Bộ Công an và công an các địa phương đã “mưu trí, dũng cảm” và “kịp thời bắt giữ đối tượng khi đang lẩn trốn tại khu vực giáp biên giới Việt Nam-Campuchia chỉ chưa đầy 72 giờ đồng hồ sau khi gây án”.

Trong lời cảm ơn, tướng Mai Hoàng “ghi nhận đóng góp, hỗ trợ của các đơn vị nghiệp vụ, công an địa phương và lãnh đạo Bộ Công an; sự chia sẻ, ủng hộ từ cấp ủy, chính quyền địa phương” và “nhân dân”.

Không có bất kỳ thông tin nào nhắc đến sự phối hợp với lực lượng Campuchia, chỉ đề cập đến chuyện hai nghi phạm bị bắt khi đang lẩn trốn tại vùng biên giới Việt Nam-Campuchia.

Cảnh sát Campuchia khống chế hai nghi phạm người Samoa

Hai nghi phạm được áp giải về công an TP HCM, sau đó đã xuất hiện trên kênh VTV1 hôm 26/5, với lời nhận tội và bày tỏ sự hối cải.

Vụ án xảy ra tại TP HCM và hai nạn nhân bị bắn đều mang quốc tịch Úc, trong đó Lemalu Lorenzo Tovia được cho là một thành viên cấp cao của Coconut Cartel, một băng đảng tội phạm khét tiếng ở Úc.

Lorenzo Laemalu Tovia đã bỏ trốn khỏi Úc và được cho là đã điều hành các hoạt động của Coconut Cartel từ Đông Nam Á.

Ban đầu, trong thông báo truy bắt, hai nghi phạm được lực lượng công an xác định mang quốc tịch Úc, trong đó có một Việt kiều.

Truyền thông Úc, trước đó thông tin rằng cảnh sát chống tội phạm có tổ chức của nước này đang điều tra xem vụ nổ súng ở TP HCM có liên quan đến cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra giữa Coconut Cartel và gia tộc Alameddine khét tiếng hay không.

Theo đó, hai mạng lưới tội phạm có tổ chức này đang trong cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát thế giới ngầm ở Sydney.

Gia tộc Alameddine hoạt động ở mạn tây Sydney và bị cáo buộc điều hành hệ thống giao ma túy tận nơi, trong khi Coconut Cartel là nhóm tội phạm nhận tiền để thực hiện các vụ tấn công hoặc bạo lực có tổ chức, theo cảnh sát Úc.

Coconut Cartel đã nhận trách nhiệm về một số vụ tấn công nhằm vào gia tộc này kể từ đó.

Đến nay, các thành viên của Alameddine được cho là đã nhận trách nhiệm về vụ giết người xảy ra tối 21/5 tại TP HCM, theo báo The Sydney Morning Herald.

Báo Campuchia gỡ bài viết

(Phần này được cập nhật vào lúc 20 giờ ngày 27/5, sau khi báo Khmer Times gỡ bài viết)

Sự mâu thuẫn nội dung giữa bài báo của Khmer Times và thông tin do Công an TP HCM cung cấp đã gây ra nhiều tranh luận trên mạng.

Nhiều người cho rằng Công an TP HCM đã thiếu minh bạch khi bỏ qua vai trò của cảnh sát Campuchia và việc hai nghi phạm bị bắt tại Sihanoukville chứ không phải ở vùng biên giới.

Đến khoảng 19 giờ, khi chúng tôi truy cập lại đường dẫn trên tờ Khmer Times thì bài viết không còn nữa. Tuy nhiên, bài đăng chia sẻ lại bài viết này trên trang Facebook chính thức của tờ báo này thì vẫn còn (cập nhật lúc 20 giờ ngày 27/5).

Bên trái là hình chụp màn hình lúc bài viết đang còn trên website báo Khmer Times, hình chụp thứ ba từ trái là lúc bài báo đã bị xóa khỏi website, hình chụp nền đen ở bìa phải cho thấy trang Facebook chính thức của Khmer Times vẫn còn bài đăng chia sẻ (chụp lúc 20 giờ ngày 27/5)

Khmer Times là tờ báo có trụ sở tại Phnom Penh, ra đời vào năm 2014. Trên mạng, tờ báo này hiện có ba ngôn ngữ: tiếng Khmer, tiếng Trung và tiếng Anh. Giới quan sát phương Tây xếp Khmer Times vào nhóm thân chính phủ do Đảng Nhân dân Campuchia lãnh đạo.

Trong một diễn biến liên quan, chiều 27/5, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Văn Được đã chủ trì buổi lễ khen thưởng cho các đơn vị được đánh giá có thành tích xuất sắc trong vụ bắt giữ hai nghi phạm người Samoa.

Tại đây, ông Được đã tặng thư khen và Thành ủy TPHCM quyết định thưởng cho 6 tập thể gồm: Công an TPHCM, Cục Cảnh sát hình sự, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ (Bộ Công an), Cơ quan đại diện Bộ Công an tại Campuchia và Công an tỉnh Tây Ninh.


 

 NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

 NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

Ít ai ngờ rằng một trong những nhà khoa học có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới lại từng bắt đầu từ con số gần như bằng 0.

     Câu chuyện của GS TS Nguyễn Thục Quyên không chỉ là hành trình học thuật xuất sắc, mà còn là minh chứng mạnh mẽ cho ý chí vượt nghịch cảnh và khả năng tự vươn lên phi thường của con người.

     Bà sinh ra tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, trong một gia đình nghèo có 5 anh chị em. Sau năm 1975, cha đi cải tạo, mẹ là giáo viên toán phải đưa các con đi khắp các vùng kinh tế mới như Phước Lâm, Long Điền, Đất Đỏ, Phước Tỉnh rồi Vũng Tàu để mưu sinh. Tuổi thơ của bà gắn liền với những công việc lao động nặng nhọc như gánh nước, kiếm củi, đào khoai, câu cá.

     Mãi đến năm 1986, khi gia đình mở tiệm phở tại Bến Đá, Vũng Tàu, bà mới có điều kiện đi học tại trường Trung học Trần Nguyên Hãn.

     Một bước ngoặt lớn xảy ra vào tháng 7 năm 1991 khi cả gia đình sang Mỹ theo diện tái định cư nhân đạo. Trước khi đi, bà chỉ được học một khóa tiếng Anh cấp tốc vài tháng và gần như không thể sử dụng ngôn ngữ này.

     Những ngày đầu nơi đất khách vô cùng khó khăn, từ việc không hiểu bài giảng, không hòa nhập được với văn hóa, đến việc bị chế giễu và kỳ thị. Có giáo viên từng chê bai khả năng tiếng Anh của bà trước lớp, thậm chí có người còn thẳng thừng bảo bà “hãy cút về nước của mày”.

     Nhưng chính những điều đó lại trở thành động lực để bà quyết tâm thay đổi số phận. Bà lựa chọn một phương pháp học tập cực kỳ khắc nghiệt: cùng lúc theo học tại ba trường trung học ở ba thành phố khác nhau, sáng học một nơi, chiều một nơi, tối một nơi. Mỗi ngày bà đều xem tin tức Mỹ để luyện nghe, đồng thời đăng ký nhiều lớp tiếng Anh dành cho người nước ngoài và tận dụng mọi chương trình dạy miễn phí.

     Sau một năm học ngày học đêm, bà đủ khả năng theo học chính thức tại Santa Monica College. Không chỉ học, bà còn phải làm việc không ngừng để trang trải cuộc sống.

     Từ việc phụ giúp người thân, làm việc vặt trong gia đình, đến làm thêm tại thư viện từ 17 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, đồng thời vay tiền từ chính phủ để tiếp tục việc học. Chính hoàn cảnh khó khăn của gia đình càng khiến bà tự đặt áp lực phải nỗ lực gấp nhiều lần người khác.

     Năm 1995, bà chuyển lên học tại Đại học California, Los Angeles. Tại đây, bà xin làm việc trong phòng thí nghiệm nhưng chỉ được giao rửa dụng cụ. Khi xin tham gia nghiên cứu, bà bị từ chối với lý do “nghiên cứu không dành cho tất cả mọi người”. Một lần nữa, sự coi thường không khiến bà chùn bước, mà trở thành động lực để bà chứng minh năng lực của mình.

     Tháng 12 năm 1997, bà tốt nghiệp đại học. Chỉ một năm sau, bà hoàn thành chương trình thạc sĩ ngành lý hóa và nhận được học bổng tiến sĩ. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh, bà làm việc gần như kiệt sức với cường độ 16 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần, thường xuyên ở lại phòng thí nghiệm đến 2 giờ sáng. Kết quả là vào tháng 6 năm 2001, bà nhận bằng tiến sĩ chỉ sau 3 năm, nhanh hơn nhiều so với mức trung bình 7 đến 8 năm của nhiều nghiên cứu sinh khác.

     Không chỉ hoàn thành chương trình sớm, bà còn công bố 12 bài báo khoa học và tham gia thuyết trình 19 hội thảo quốc tế trong thời gian này. Thành tích đó khiến nhiều người từng coi thường bà phải nhìn lại.

     Sau khi trở thành nhà khoa học, GS TS Nguyễn Thục Quyên tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử hữu cơ và vật liệu nano. Các công trình của bà xoay quanh việc làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc phân tử và hiệu suất của các thiết bị như pin mặt trời hữu cơ, transistor hữu cơ, cảm biến quang điện và đèn LED hữu cơ. Bà cũng nghiên cứu các vật liệu polymer liên hợp và vật liệu sinh học, mở ra ứng dụng trong năng lượng sạch, môi trường và y học như pin nhiên liệu sinh học và thiết bị y sinh tiên tiến.

     Các nghiên cứu của bà được công bố trên nhiều tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như “Nature Materials, Science, Advanced Materials” và nhiều ấn phẩm uy tín khác. Nhờ những đóng góp nổi bật, bà nhiều năm liên tiếp được “Clarivate Analytics” xếp vào danh sách top 1% nhà khoa học có số lượng trích dẫn cao nhất toàn cầu, một thước đo quan trọng về mức độ ảnh hưởng trong giới học thuật quốc tế.

     Khi được hỏi về bí quyết thành công, bà chia sẻ rằng chính những năm tháng nghèo khó, bị coi thường ở Việt Nam và cả khi sang Mỹ đã khiến bà quyết tâm thay đổi cuộc đời. Bà không né tránh khó khăn mà biến những điều tiêu cực thành động lực để vươn lên. Triết lý sống của bà rất rõ ràng: hãy làm điều mình yêu thích, làm việc chăm chỉ, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không để bất kỳ ai cản bước mình.

Bên cạnh giải thưởng là một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới ngành khoa học vật liệu, chị còn nhận nhiều giải thưởng khác như: Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Alexander von Humboldt-Foundation của Đức năm 2015; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ 2010, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Alfred P. Sloan Foundation 2009; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Camille Dreyfus Foundation 2008; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Harold J. Plous Memorial Award and Lectureship 2007.

     Câu chuyện của Nguyễn Thục Quyên là minh chứng rằng xuất phát điểm không quyết định đích đến. Từ một cô gái không biết tiếng Anh, từng bị chế giễu nơi xứ người, bà đã vươn lên trở thành một trong những nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, góp phần tạo ra những công nghệ phục vụ cho tương lai của nhân loại.

(Ánh Dương) 

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.

Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty… sẽ được phong chức linh mục.

Tuan Pham

 Ngày 23 tháng 5 năm 2026, tại Giáo phận Fresno, Cali… một người đàn ông từng sống giữa ánh đèn Hollywood, xe sang và những buổi tiệc xa hoa, sẽ quỳ xuống trước bàn thánh để được phong chức linh mục. Người ấy là Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty, thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng từng mang về cho ông khối tài sản khổng lồ. Nhưng ít ai biết rằng, phía sau nụ cười thành đạt ấy là một khoảng trống mà tiền bạc không thể lấp đầy. 

⸻ Đêm đó ở Los Angeles, trong một buổi tiệc sang trọng đầy ánh đèn và tiếng nhạc, Scott đứng lặng bên ly rượu vang. Chung quanh ông là những ngôi sao điện ảnh, người mẫu, doanh nhân… tất cả đều cười nói vui vẻ. 

Một người bạn vỗ vai ông: — “Scott, anh đang sống giấc mơ của hàng triệu người đó! Nhà đẹp, xe sang, danh tiếng… còn thiếu gì nữa?” Scott im lặng vài giây rồi khẽ đáp:

 — “Thiếu bình an…” Người kia bật cười:

 — “Anh đùa sao? Người ta sẵn sàng đánh đổi cả đời để được như anh.” Scott nhìn xa xăm:

 — “Tôi cũng từng nghĩ vậy… cho đến khi có tất cả.” Đêm ấy, khi trở về căn biệt thự rộng lớn nhưng lạnh lẽo, ông ngồi một mình trong bóng tối rất lâu. Không tiếng nhạc. Không tiếng cười. Chỉ còn sự trống trải đè nặng trong tim. Ông kể rằng chính khoảnh khắc ấy, ký ức tuổi thơ bỗng ùa về. Một cậu bé 10 tuổi ngày nào từng quỳ trong nhà thờ, từng cảm nhận một tiếng gọi rất sâu trong lòng.

 “Con hãy theo Ta…” 

⸻ Sáng hôm sau, Scott đến thăm mẹ. Người mẹ già ngạc nhiên khi thấy con trai ngồi trầm lặng khác thường. 

— “Con ổn không Scott?” Ông nhìn mẹ, đôi mắt đỏ hoe: 

— “Mẹ… nếu một ngày con bỏ hết mọi thứ thì sao?” Bà sững người:

 — “Ý con là gì?” Scott cúi đầu: 

— “Con nghĩ Chúa đã gọi con từ rất lâu rồi… chỉ là con trả lời quá muộn.” Người mẹ lặng im. Rồi bà nắm lấy tay con trai:

 — “Nếu đó là điều làm con bình an… mẹ sẽ cầu nguyện cho con.” ⸻ Ít lâu sau, giới kinh doanh Hollywood chấn động. Scott-Vincent Borba bán xe sang. Rời bỏ công ty. Từ bỏ thế giới hào nhoáng. Và trao phần lớn tài sản của mình cho từ thiện. Nhiều người không tin nổi. Một cộng sự cũ từng gọi cho ông: 

— “Scott, anh điên rồi sao? Anh đang đứng trên đỉnh cao!” Ở đầu dây bên kia, Scott nhẹ giọng: 

— “Không… lần đầu tiên trong đời, tôi mới thật sự biết mình đang đi đâu.” 

“Anh bỏ hàng triệu đô để đổi lấy cuộc sống tu viện nghèo khó?” Scott mỉm cười:

 — “Tiền bạc cho tôi tiện nghi… nhưng không cho tôi ý nghĩa.” 

Ở tuổi 42, ông bước vào chủng viện St. Patrick’s Seminary, Menlo Park, California. Từ một doanh nhân nổi tiếng, ông trở thành một chủng sinh sống đời giản dị như bao người khác. Không còn vest đắt tiền. Không còn tiệc xa hoa. Không còn những cuộc họp triệu đô. Chỉ còn tiếng chuông nhà nguyện, những giờ cầu nguyện lặng lẽ và cuộc sống phục vụ tha nhân. Một người sống gần chủng viện từng hỏi ông:

 — “ Thầy có bao giờ nhớ cuộc sống cũ không?” Scott nhìn cây thánh giá trên tường rồi đáp: 

— “Có chứ… nhưng tôi không nhớ tiền bạc. Tôi chỉ tiếc mình đã không đáp lời Chúa sớm hơn.”

 ⸻ Ngày phong chức đang đến gần. Nhiều người xem hành trình của Scott-Vincent Borba như một phép lạ giữa thời đại mà con người chạy theo danh vọng và vật chất. Một người đàn ông đã có tất cả… nhưng vẫn dám từ bỏ tất cả… để tìm điều mà tiền không mua được: 

Đức tin. Sự bình an. Và ý nghĩa thật sự của cuộc đời. Có lẽ câu nói của ông sẽ còn làm nhiều người suy nghĩ mãi: 

— “Chúa gọi tôi từ năm tôi 10 tuổi… chỉ là tôi trả lời quá muộn.”

Giuse Phạm Sơn liêm

Chủng sinh Scott Borba trong ngày thụ phong phó tế June 21-2025. 

Ảnh EWTN #linhmuc #jesus #ongoithanhhien

 


 

Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Vùng Matabele ở miền nam Zimbabwe là một miền đất khô cằn, đầy gió và im lặng. Nơi đây từng chìm trong tuyệt vọng khi đại dịch HIV/AIDS đạt đến đỉnh điểm tại châu Phi. Nhưng giữa bóng tối ấy, một tia hy vọng đã được khơi lên nhờ trái tim đầy lòng trắc ẩn của nữ tu Ludbirga Schumacher. Chính chị đã thành lập Trung tâm Sketimpilo, mở ra con đường hy vọng cho biết bao người nghèo khổ và bị bỏ rơi.

—–

Trung tâm Sketimpilo, do các Nữ tu Thừa sai Máu Châu Báu điều hành dưới sự quản lý của nữ tu Felistar Dube, CPS, đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng được tái sinh. “Sketimpilo” có nghĩa là “hãy chọn sự sống” – và đó cũng là tinh thần được sống mỗi ngày tại nơi đây.

Trung tâm được thành lập năm 1998 bởi nữ tu Ludbirga Schumacher, người Đức, trong giai đoạn đen tối nhất của Zimbabwe khi HIV/AIDS tàn phá đất nước, để lại phía sau biết bao trẻ mồ côi, người bệnh tật, bị loại trừ và gạt ra bên lề xã hội. Khi ấy, sự kỳ thị còn mạnh hơn lòng cảm thương, và nhiều người đã hoàn toàn mất hy vọng.

Một gốc cây khô lại đâm chồi

Nữ tu Ludbirga nhận ra nhu cầu cấp thiết phải nâng đỡ những trẻ em và người lớn nghèo khổ, dễ bị tổn thương, đang nhiễm bệnh hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Chị quy tụ các nhóm thiện nguyện, đào tạo những người chăm sóc cộng đồng, tổ chức các chuyến thăm viếng tại gia đình và dần khôi phục phẩm giá cho những người từng bị đánh mất giá trị của mình. Chị luôn nhắc nhở họ rằng, dù bị kỳ thị và xa lánh, cuộc đời họ vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Niềm hy vọng dần được hồi sinh. Hình ảnh một gốc cây khô mọc lên những chồi non trở thành biểu tượng của dự án – dấu chỉ rằng ngay giữa đổ vỡ và đau khổ, sự sống vẫn có thể nảy mầm. Hơn hai thập niên sau, nữ tu Felistar vẫn tiếp tục sứ mạng ấy với cùng một lòng can đảm.

Trung tâm của sự phát triển

Sketimpilo không tách trẻ em khỏi cộng đồng của các em, nhưng đem sự trợ giúp đến tận gia đình của những người dễ bị tổn thương. Nhờ sự hỗ trợ của các ân nhân, đặc biệt từ Đức và Tây Ban Nha, trung tâm hiện đóng học phí cho gần 120 trẻ em, hỗ trợ tâm lý và giúp các em không cảm thấy bị bỏ rơi trong đau khổ.

Những hoa trái đã dần xuất hiện. Hai em từng được trung tâm hỗ trợ hiện đã vào đại học – một em học ngành công tác xã hội, em còn lại học ngành phát triển cộng đồng – và nay chính các em quay trở về để phục vụ nơi từng nâng đỡ mình.

Những kỹ năng làm thay đổi cộng đồng

Một trong những sáng kiến nổi bật nhất của trung tâm là chương trình đào tạo kỹ năng thực hành. Mỗi năm, khoảng 60 bạn trẻ được đào tạo về may mặc, nông nghiệp, điện dân dụng, xây dựng và làm bánh.

Những người học xây dựng giúp dựng nhà cho các gia đình khó khăn, còn các học viên ngành điện lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho trường học và nhà dân ở vùng quê.

Một số học viên tốt nghiệp từ Sketimpilo hiện đang làm việc cho các công ty lớn trong nước, kể cả ngành điện lực Zimbabwe, qua đó xây dựng tương lai cho chính họ và cộng đồng của mình.

Đức tin và sự kiên trì

Điều hành một sứ mạng như thế giữa vùng đất đầy khó khăn kinh tế không phải điều dễ dàng. Nguồn nước khan hiếm, tài trợ luôn bấp bênh, và các gia đình đông con chỉ có thể sống tạm nhờ phần lương thực ít ỏi trung tâm phân phát mỗi tháng.

Tuy nhiên, giữa muôn vàn thử thách ấy, nữ tu Felistar vẫn nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động.

“Có những lúc chúng tôi nghĩ mình không thể tiếp tục nữa: không lương, không tiền, không có cả thực phẩm để phân phát,” chị chia sẻ. “Nhưng lời cầu nguyện giúp chúng tôi đứng vững, và niềm tín thác vào Thiên Chúa giúp chúng tôi tiếp tục bước đi.”

Niềm xác tín của chị thật đơn sơ nhưng sâu sắc: Thiên Chúa luôn mở đường cho những ai biết chọn sự sống.

Một nơi âm thầm nhưng tạo ảnh hưởng lớn

Do tình hình kinh tế khó khăn tại Zimbabwe và nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, các nữ tu cố gắng giúp người dân tự lập bằng cách trao cho họ kỹ năng và cơ hội việc làm.

Để duy trì các hoạt động bác ái, Sketimpilo hiện có một số phòng lưu trú, một hội trường nhỏ và dịch vụ nấu ăn. Nguồn thu từ đó được dùng để trả lương nhân viên và duy trì hoạt động của trung tâm.

Dẫu vậy, nhiều khó khăn vẫn còn đó. Các tòa nhà đã cũ kỹ, nhiều nơi được xây từ những ngày đầu năm 1998 và cần được sửa chữa. Chung quanh trung tâm cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở hiện đại hơn, nhưng nhiều người vẫn chọn Sketimpilo bởi sự bình an, tinh thần phục vụ và lòng hiếu khách nơi đây.

“Nhiều người biết rằng đây là nơi của sự chăm sóc,” nữ tu Felistar nói, “và họ đến vì họ cảm thấy an toàn.”

Luôn sống với một mục đích

Hiện nay, nữ tu Felistar là nữ tu duy nhất phục vụ toàn thời gian tại trung tâm. Dù cộng đoàn nhỏ bé, chị vẫn mang trong mình một quyết tâm lớn lao. Chị hy vọng một ngày nào đó Sketimpilo sẽ phát triển thành một trung tâm đào tạo nghề – điều mà giới trẻ trong vùng đang rất cần.

“Chúng tôi cùng nhau làm việc như những nữ tu và những người được phục vụ; tất cả đều là của lễ dâng lên Thiên Chúa,” chị nói trong tâm tình biết ơn. “Tôi cảm ơn các gia đình mà chúng tôi đang hỗ trợ – ngay cả những điều nhỏ bé chúng tôi trao tặng, quý vị luôn trân trọng. Chính lòng biết ơn ấy tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi. Và với các ân nhân, chúng tôi không thể đứng vững nếu thiếu quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho quý vị.”

Công việc của Sketimpilo hiện được nâng đỡ nhờ sự quảng đại của các đối tác như German Friends và Manus Unitas. Nhờ đó, các nữ tu CPS tiếp tục mang đến sự sống, giáo dục và phẩm giá cho những người dễ bị tổn thương nhất.

Nữ tu Christine Masivo, CPS

Nguồn: Vatican News 


 

  73, ai bảo đã già?

Nguoi-Viet

   73, ai bảo đã già?

Ở tuổi 73, hầu như mọi người đều đã tận hưởng những năm tháng nghỉ hưu. Nhưng với bà Dawn Zuidgeest-Craft thì không như vậy. Mùa hè này, bà sẽ bắt đầu chương trình nội trú tại các cơ sở y tế ở vùng Tây Michigan sau khi hoàn thành chương trình trường y, và theo đó, trở thành sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới từ trước đến nay.

“Tôi đang phá vỡ mọi kỷ lục,” bà Zuidgeest-Craft chia sẻ với đài địa phương 13 ABC NewsNow hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm. “Tôi sẽ là sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới, theo những gì chúng tôi có thể tìm hiểu được.”

Đến Tháng Bản này, khi chính thức bắt đầu công việc của một bác sĩ nội trú, bà sẽ bước sang tuổi 73. Nhưng với bà, điều đó hoàn toàn không phải là rào cản. “Có những người không sinh ra để nghỉ hưu, đó không phải là một phần của họ,” bà nói với đài 13 ABC NewsNow. “Và đó chắc chắn là tôi.”

Theo cuộc phỏng vấn, bà Dawn Zuidgeest-Craft không phải là người xa lạ với ngành y. Bà đã dành phần lớn cuộc đời mình trong lĩnh vực này, làm y tá chuyên khoa sơ sinh tại các đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU) ở vùng Tây Michigan trong nhiều thập niên. Sau khi hoàn thành chương trình y tá thực hành sơ sinh, bà bắt đầu làm việc tại vệnh viện Blodgett ở Grand Rapids từ năm 1982.

Nhưng ước mơ trở thành bác sĩ chưa bao giờ tắt trong người phụ nữ này, và cả với người chồng của bà. Vì vậy, ở tuổi 69, bà quyết định thực hiện điều đó. Bà ghi danh nhập học tại một trường y ở vùng Caribe như một phần trong danh sách những điều cần làm trước khi chết của cả hai vợ chồng.

“Đó là một hòn đảo tên Anguilla, nằm đối diện với St. Martin,” bà kể lại. “Cảnh đẹp tuyệt vời. Tôi đã làm bạn với những con cá. Thật tuyệt. Tôi phải vượt qua cùng kỳ thi USMLE, phải hoàn thành cùng số giờ học và cùng số lượng nghiên cứu như tất cả những sinh viên khác.”

Sau giai đoạn học lý thuyết, bà thực hiện các ca lâm sàng tại Chicago, West Virginia, New York và Nam Texas. Dù nhiều người đã gọi bà là “điên rồ”, bà Zuidgeest-Craft không hề nản lòng. Bà cho biết mình muốn dùng tấm bằng y khoa để hành nghề và mang những trải nghiệm, sự khôn ngoan của mình vào công việc chăm sóc bệnh nhân.

“Với tôi, được chăm sóc người khác về mặt y tế là một đặc quyền,” bà chia sẻ. “Nhiều bệnh nhân của tôi sẽ ở độ tuổi xấp xỉ tôi, lớn hơn hoặc nhỏ hơn một chút.”

Bà Zuidgeest-Craft có bốn người con, trong đó có cô Ginger Zee, nhà khí tượng học trưởng đầu tiên là nữ giới tại một mạng truyền hình lớn của Mỹ, hiện đang công tác tại đài ABC.  Tài năng cũng như tinh thần không đầu hàng rõ ràng là di sản chảy trong huyết mạch của cả gia đình.

Trong một đoạn video nhắn gửi đến mẹ mà đài 13 ABC NewsNow thu thập được, cô Ginger Zee đã không giấu được xúc động: “Điều quan trọng nhất mà con muốn mẹ biết là con đã được truyền cảm hứng suốt cả cuộc đời, không chỉ từ những gì mẹ đang làm bây giờ, mà từ chính con người của mẹ mỗi ngày, và tất nhiên cả việc mẹ vẫn theo đuổi ước mơ ở độ tuổi này. Con biết tuổi tác đang là tâm điểm chú ý, và có lẽ mẹ không muốn điều đó, nhưng thật sự rất tuyệt vời khi được chứng kiến. Con hy vọng mọi người đều học được điều gì đó từ câu chuyện này. Điều mà mẹ đã dạy con là không bao giờ được nói ‘không thể’. Đừng để ai nói với bạn rằng điều đó là không thể, vì nó hoàn toàn có thể, và Dawn sẽ làm được. Con hứa đấy. Con yêu mẹ.”

Câu chuyện của bà Dawn Zuidgeest-Craft không chỉ là kỳ tích cá nhân, mà còn là lời nhắc nhở đầy sức mạnh rằng không có giới hạn nào là tuyệt đối. Nếu bạn còn đam mê và quyết tâm, thì chưa bao giờ là quá muộn.

https://www.nguoi-viet.com/…/cu-ba-73-tuoi-sinh-vien…/ 


 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

Dr. Christina Nguyen 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ,và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

10 năm sau, mình tham dự lễ tốt nghiệp của Creighton University School of Medicine với tư cách là một giảng viên, mình mới nhận ra rằng: Hồi đó mình ngây thơ thật.

Vì có những thứ trong nghề Y không ai dạy trong trường lớp. Có những bài học mà phải mất nhiều năm mới hiểu.

Và đây là 7 điều mình ước gì mình biết 10 năm về trước, cũng như một lời nhắn gửi đến các bạn bác sĩ vừa mới tốt nghiệp.

  1. Tấm bằng bác sĩ không phải là đích đến. Nó chỉ là tấm vé bước vào một hành trình khó hơn.

– Ngày tốt nghiệp rất đẹp.

– Gia đình tự hào.

– Bạn bè chúc mừng.

– Ai cũng nói: “Giỏi quá, thành bác sĩ rồi.”

Nhưng thật ra, ngày đó không phải là ngày ta “đã xong.”

Đó là ngày cuộc đời bắt đầu hỏi ta một câu khó hơn: “Bây giờ, bạn sẽ trở thành con người như thế nào khi mang trên mình trách nhiệm này?”

Bởi vì từ giây phút đó trở đi, chữ “bác sĩ” không còn chỉ là một danh xưng.

– Nó là trách nhiệm.

– Là niềm tin người khác đặt vào mình.

– Là những quyết định dù rất nhỏ, nhưng có thể ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của một bệnh nhân.

  1. Trong nghề Y, giỏi thôi chưa đủ. Bền mới quan trọng.

– Trong Y khoa, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người giỏi.

– Ai cũng học rất chăm.

– Ai cũng từng là người nổi bật ở đâu đó.

– Ai cũng từng quen với việc cố thêm một chút, chịu thêm một chút, làm thêm một chút.

Nhưng đi đường dài, thứ giữ chúng ta lại với nghề không chỉ là trí thông minh.

– Mà là sức bền.

– Là khả năng đứng dậy sau một ngày tồi tệ.

– Là khả năng không đánh mất sự tử tế khi bản thân đang mệt mỏi.

– Là khả năng tiếp tục học, tiếp tục sửa, tiếp tục trưởng thành, dù đôi khi bên trong mình cũng đầy hoang mang.

Nghề Y không chỉ cần những người giỏi.

Nghề Y cần những người đủ bền để không trở nên chai sạn.

  1. Đừng đợi đến khi kiệt sức mới học cách chăm sóc bản thân.

10 năm trước, mình từng nghĩ hy sinh sức khỏe là một phần của sự tận tụy.

– Thức khuya là bình thường.

– Ăn vội là bình thường.

– Không tập thể dục là bình thường.

– Mình luôn tự nói: “Mình bận lắm.”

Mình đã từng đi khuyên bệnh nhân ngủ đủ, ăn uống điều độ, vận động thường xuyên, trong khi chính mình thì làm ngược lại.

– Sau này mình mới hiểu:

Một bác sĩ kiệt sức có thể vẫn làm việc, vẫn khám bệnh, vẫn làm xong hồ sơ bệnh án.

Nhưng sự thật là chúng ta không thể chăm sóc người khác lâu dài nếu bản thân mình cứ dần cạn kiệt.

Chăm sóc bản thân không phải là ích kỷ.

Đó là một phần của trách nhiệm nghề nghiệp.

  1. Không phải mạnh mẽ là không đau. Có khi chỉ là giỏi che giấu.

– Trong nghề Y, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người nhìn bên ngoài rất ổn.

– Rất bình tĩnh.

– Rất chuyên nghiệp.

– Rất giỏi tay nghề.

Nhưng đằng sau vẻ ngoài đó, có thể là những đêm mất ngủ.

Những ca bệnh ám ảnh.

Những lần tự nghi ngờ bản thân.

Nếu có lúc bạn thấy mình yếu đuối, điều đó không có nghĩa là bạn không phù hợp với nghề này.

Mà chỉ có nghĩa rằng bạn cũng là một con người.

Và nghề Y, dù cao quý đến đâu, cũng vẫn được làm bởi những con người bằng xương bằng thịt.

  1. Sẽ có những ngày bạn tự hỏi: “Mình có thật sự thuộc về nơi này không?”

– Nhất là nếu bạn là người nhập cư.

– Nếu tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ.

– Nếu bạn không lớn lên trong hệ thống này.

– Nếu bạn phải học không chỉ kiến thức y khoa, mà còn học cả văn hóa giao tiếp, cách kết nối, cách đọc những tín hiệu không ai nói thẳng.

Sẽ có lúc bạn bước vào một căn phòng và thấy mình khác những người khác.

– Khác giọng nói.

– Khác nền tảng.

– Khác trải nghiệm.

– Khác cách người ta nhìn mình.

Nhưng cảm giác “không thuộc về” không phải lúc nào cũng là sự thật.

Đôi khi nó chỉ là dấu hiệu bạn đang bước vào một căn phòng lớn hơn phiên bản cũ của chính mình.

Hãy tin rằng “Mình cũng có quyền có mặt ở đây vì mình xứng đáng.”

  1. Đừng đánh mất bản thân chỉ để trở thành một “bác sĩ tốt.”

– Bạn có thể là bác sĩ, nhưng bạn vẫn là một con người.

– Bạn vẫn cần ngủ.

– Cần nghỉ.

– Cần bạn bè.

– Cần gia đình.

– Cần niềm vui.

– Cần một cuộc đời ngoài bệnh viện.

– Cần những ngày không phải gồng.

Nghề Y là một phần rất lớn của cuộc đời bạn.

Nhưng nó không nên nuốt chửng toàn bộ con người bạn.

Bởi vì một bác sĩ mất đi sự kết nối với chính mình, sớm muộn cũng sẽ khó kết nối sâu sắc với bệnh nhân.

Giữ lại một phần đời sống cho bản thân không làm bạn bớt tận tụy.

Nhưng có thể giúp bạn còn đủ đầy để tiếp tục tận tụy lâu dài.

  1. Thành công không chỉ là match được vào nội trú, tốt nghiệp, hay trở thành bác sĩ chính thức. Thành công là sau tất cả, có khi chỉ là vẫn còn muốn làm điều tử tế.

10 năm nhìn lại, mình nhận ra có rất nhiều cột mốc mình từng tưởng là “đích đến.”

– Tốt nghiệp trường Y.

– Vào nội trú

– Tốt nghiệp nội trú

– Trở thành bác sĩ chính thức

– Làm giảng viên

– Hướng dẫn thế hệ sau.

Mỗi cột mốc đều đáng tự hào.

Nhưng cột mốc quan trọng nhất có lẽ không nằm trên CV.

Mà là:

– Sau những năm tháng áp lực đó, mình có còn giữ được trái tim ấm áp không?

– Mình có còn nhìn bệnh nhân như một con người không?

– Mình có còn nhìn các bạn sinh viên với sự bao dung không?

– Mình có còn nhớ mình đã từng bắt đầu như thế nào không?

Bởi vì cuối cùng, nghề Y không chỉ thử thách kiến thức của mình.

Nó thử thách cả nhân cách, lòng kiên nhẫn, sự tử tế, và khả năng giữ mình không trở nên lạnh lùng sau quá nhiều mệt mỏi.

10 năm trước, mình nghĩ tấm bằng Y khoa là bằng chứng rằng mình đã đi rất xa.

10 năm sau, mình mới hiểu, đi xa không chỉ là có thêm chức danh, thêm kinh nghiệm, hay thêm những dòng trên CV.

Mà đôi khi đi xa là sau tất cả những áp lực, va vấp, mất ngủ, nghi ngờ bản thân, mình vẫn còn giữ được một trái tim đủ mềm để thương người, và một cái lưng đủ thẳng để tiếp tục bước tiếp.

Nhân dịp mùa tốt nghiệp năm nay, mình mến gửi đến các bạn tân bác sĩ hôm nay:

Chúc mừng các bạn. Các bạn không cần phải hoàn hảo ngay từ đầu. Chỉ cần đừng ngừng học, đừng ngừng trưởng thành, và quan trọng nhất là đừng để những thử thách của nghề Y khiến bạn quên mất lý do vì sao mình đã bắt đầu.

Welcome to Medicine!

Bạn nghĩ gì về những chia sẻ này? Hãy chia sẻ cho mình biết nhé.

Nếu bạn có người thân và bạn bè trong ngành Y, hãy chia sẻ bài viết cho họ.

Dr. Christina Nguyễn

Hình: Bs. Sidra Akhter và mình trước khi vào lễ tốt nghiệp. 


 

Thiếu niên được Đức Lêô XIV cầu nguyện đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Thao Teresa

Thiếu niên được Đức Lêô XIV cầu nguyện đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Hôm thứ 3 vừa qua, thiếu niên được đức Giáo hoàng đến thăm, cầu nguyện đã đến Castel Gandolfo, để gặp, cám ơn và báo tin đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Ignacio Gonzálvez, một thiếu niên 15 tuổi, người Tây Ban Nha, người đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư hạch trong dịp đại hội hành hương Năm thánh giới trẻ 2025, đã đến gặp Giáo hoàng Lêô XIV tại Castel Gandolfo hôm thứ 3 vừa qua và báo tin vui: “Con đã khỏi bệnh.”

Năm ngoái, Ignacio Gonzálvez cùng các anh chị em của mình từ Cartagena, Tây Ban Nha, đến Roma, tham dự ngày hành hương giới trẻ, từ ngày 28/7 đến 3/8/2025, nhưng trong thời gian lưu trú ở đây, đã phát bệnh nặng.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Bambino Gesù ở Rome chẩn đoán cậu mắc bệnh u lympho đường hô hấp giai đoạn cuối. Bệnh tình nghiêm trọng đến mức, cậu phải lập tức nhập viện điều trị tại phòng chăm sóc đặc biệt.

Tối thứ Hai, ngày 4/8/2025, sau khi kêu gọi các bạn trẻ cùng hiệp ý cầu nguyện cho Ignacio Gonzálvez, Đức Giáo hoàng Lêô đã bất ngờ tới thăm, động viên, cầu nguyện và chúc lành cho cậu và gia đình. Cuộc gặp kéo dài khoảng nửa tiếng đồng hồ.

Sau đó, trong suốt quá trình cậu điều trị bệnh ung thư, theo gia đình cho biết, Đức Giáo hoàng còn nhiều lần liên lạc động viên và quan tâm tới diễn tiến tình trạng sức khỏe của cậu.

Hôm thứ 3 ngày 12/5 vừa qua, sau nhiều tháng điều trị, Ignacio Gonzálvez đã được xuất viện và đã đến gặp Đức Giáo hoàng tại Castel Gandolfo, để đích thân cảm ơn Đức Giáo hoàng, báo cho ngài biết tin vui, cậu đã hoàn toàn khỏi bệnh và hẹn gặp Đức Giáo hoàng tại Madrid, trong chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng đến Tây Ban Nha từ ngày 6-12/6/2026 sắp tới. Mẹ của Ignacio, bà Carmen Gloria Gonzálvez, chia sẻ rằng gia đình đã sống những tháng ngày thử thách ấy trong đức tin và lời cầu nguyện. Sau nhiều tháng điều trị, các bác sĩ xác nhận khối u đã hoàn toàn biến mất.

https://phailamgi.com/…/thieu-nien-duoc-duc-leo-cau…/


 

Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục

Thao Teresa

Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục

Việc Chúa làm quả là huyền nhiệm. Câu chuyện của thầy phó tế Scott – Vincent Borba là một câu chuyện như thế.

———————

Ngày 23/5/2026 tới đây, phó tế Scott – Vincent Borba, đồng sáng lập hãng elf Cosmetics, sẽ được thụ phong linh mục tại Giáo phận Fresno, California.

Phó tế Scott – Vincent Borba sinh ngày 23/6/1973. Thầy từng là một chuyên viên thẩm mỹ, diễn viên, người mẫu, nhà văn và ca sĩ, và đã từ bỏ sự nghiệp triệu đô của mình để đáp lại tiếng gọi của Chúa để trở thành linh mục.

Trước khi vào chủng viện, phó tế Scott Borba đã dành hơn 20 năm làm việc trong lãnh vực người mẫu, chăm sóc sắc đẹp và đã tạo lập được một sự nghiệp nổi bật khi còn khá trẻ.

Thầy từng là chuyên gia thẩm mỹ cho các ngôi sao, thậm chí còn thực hiện liệu trình chăm sóc da mặt trị giá 7.000 đô la cho nữ diễn viên Mila Kunis – sử dụng các tinh thể siêu nhỏ từ kim cương và hồng ngọc – cho lễ trao giải Quả cầu vàng năm 2011.

Thầy cũng có văn phòng ở Beverly Hills, một biệt thự ven biển không xa nơi làm việc, và một cuộc sống xã hội xa hoa, những bữa tiệc với Paris Hilton, cùng hàng triệu đô la trong tài khoản ngân hàng.

Ngoài ra, trước khi theo đuổi ơn gọi, thầy đang là giám đốc điều hành hãng mỹ phẩm quốc tế elf Cosmetics, với các dòng sản phẩm do chính thầy chế tạo.

Lạ lùng thay, giữa cuộc sống xa hoa, giữa ánh hào quang sân khấu, điều mà biết bao người ước mơ, thì thầy lại cảm thấy trống rỗng.

Có lúc thầy đã than thở với Chúa: “Chúa ơi! Nếu đây là cuộc sống, nơi tất cả những gì bạn làm là làm việc và tiệc tùng, rồi lặp lại điều đó và chết đi, thì đây không phải là cuộc sống mà con nghĩ Ngài đã dành cho con. Nhưng con chỉ có thể thay đổi nếu Ngài giúp con.”

Thế rồi, năm 2019, ở tuổi 46, đáp lại tiếng Chúa gọi, thầy đã bán một lượng lớn sản phẩm và quyên góp số tiền thu được cho từ thiện, đồng thời lên kế hoạch để trở thành một linh mục Công giáo.

Năm 2021, thầy chính thức gia nhập chủng viện St-Patrick và được chịu chức phó tế ngày 21/6/2025 vừa qua.

Câu chuyện thầy trở lại với đời sống đức tin sau bao năm xa lạ, nhất là việc thầy từ bỏ mọi sự để theo đuổi ơn gọi tu trì, đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người và được Wikipia đưa lên thành sự kiện.

https://phailamgi.com/…/trieu-phu-nganh-kinh-doanh-my…/


 

Con chết vì xài thuốc quá liều khi hỏi ChatGPT, cha mẹ kiện OpenAI

Ba’o Nguoi-Viet

May 12, 2026

HOUSTON, Texas (NV) – Một cặp vợ chồng ở Texas kiện công ty OpenAI, chủ sở hữu ứng dụng trí tuệ nhân tạo ChatGPT, sau khi người con trai 19 tuổi chết vì dùng thuốc quá liều năm 2025, cáo buộc rằng ChatGPT đưa ra lời khuyên nguy hiểm về việc dùng các chất gây nghiện. 

Vụ kiện này có thể làm nóng lại cuộc tranh luận về trách nhiệm pháp lý của các công ty trí tuệ nhân tạo khi trí tuệ nhân tạo (AI) được người dùng xem như nguồn tư vấn về y tế, tâm lý và hành vi nguy hiểm. 

(Hình minh họa: Imen Ben Youssef / Hans Lucas / AFP via Getty Images)

Bà Leila Turner-Scott và chồng, Angus Scott, nộp đơn kiện OpenAI tại tòa tiểu bang California buộc công ty và những người tạo ra ChatGPT phải chịu trách nhiệm trong cái chết của người con trai là Sam Nelson, theo CBS News loan tin ngày Thứ Ba, 12 Tháng Năm. Cậu Sam qua đời khi mới 19 tuổi sau khi sử dụng ChatGPT để hỏi thông tin về chất gây nghiện. 

Gia đình cáo buộc nền tảng trí tuệ nhân tạo này đã đưa ra lời khuyên mà họ cho rằng ChatGPT không đủ tư cách để cung cấp, và tuyên bố Sam vẫn còn sống nếu không vì “chương trình bị lỗi” của công cụ này. 

Trọng tâm của đơn kiện là cáo buộc ChatGPT đã nói với Sam rằng việc dùng kratom cùng với Xanax là an toàn. Kratom là một loại thảo dược được dùng trong đồ uống, viên thuốc và nhiều sản phẩm khác. Xanax là thuốc chống lo âu được sử dụng rộng rãi. 

Theo gia đình, lời khuyên của AI đó tạo ra một sự kết hợp chất gây chết người. CBS News cho biết vụ kiện không chỉ nhắm vào một câu trả lời cụ thể, mà còn vào cách thiết kế và vận hành của hệ thống, với lập luận rằng OpenAI có thể áp dụng các giới hạn an toàn mạnh hơn để ngăn các cuộc trao đổi kiểu này. 

Trong cuộc phỏng vấn độc quyền với CBS News, người mẹ cho biết Sam dùng ChatGPT như một công cụ hỗ trợ học tập và tăng năng suất, nhưng không biết con trai dùng công cụ này để xin hướng dẫn về sử dụng các chất gây nghiện. Bà cáo buộc OpenAI “bỏ qua các hàng rào an toàn” và cho rằng công ty có khả năng lập trình chatbot để dừng lại trong các tình huống nguy hiểm, nhưng lại không duy trì hoặc không áp dụng đủ các cơ chế đó. 

Ông Angus Scott, người cha, đặt vấn đề rằng ChatGPT hành động như một bác sĩ trong các trao đổi với Sam, dù công cụ này không có giấy phép để đưa ra lời khuyên y khoa. Ông nói chatbot cung cấp thông tin cho công chúng về an toàn, tương tác thuốc và các vấn đề y tế khác, nhưng nếu không có quy trình an toàn phù hợp và kiểm tra nghiêm ngặt hơn, những thông tin đó có thể được đưa ra theo cách “rất nguy hiểm cho con người.” 

Công ty OpenAI, trong tuyên bố gửi CBS News, gọi đây là “một tình huống đau lòng” và nói công ty chia sẻ với gia đình. Công ty cho biết Sam tương tác với một phiên bản ChatGPT hiện đã được cập nhật và không còn cung cấp cho công chúng. OpenAI cũng nhấn mạnh ChatGPT không phải là sự thay thế cho chăm sóc y tế hoặc sức khỏe tâm thần, và công ty tiếp tục tăng cường cách hệ thống phản hồi trong các tình huống nhạy cảm hoặc cấp tính với sự góp ý từ các chuyên gia sức khỏe tâm thần. 

Theo OpenAI, các hàng rào an toàn hiện nay trong ChatGPT được thiết kế để nhận diện tình trạng đau khổ, giải quyết an toàn các yêu cầu có hại và hướng người dùng đến sự trợ giúp trong đời thực. Công ty nói công việc này vẫn đang tiếp diễn và được cải thiện qua tham vấn với các bác sĩ lâm sàng. OpenAI cũng nói ChatGPT nhiều lần khuyến khích Sam tìm sự trợ giúp chuyên môn, gồm cả việc gọi các đường dây nóng khẩn cấp. 

Vụ kiện đặt ra một câu hỏi pháp lý và đạo đức ngày càng lớn đó là khi người dùng, đặc biệt là thanh thiếu niên hoặc người đang ở trong tình trạng dễ tổn thương, tìm đến chatbot để hỏi về thuốc, ma túy, tự hại hoặc khủng hoảng tâm lý, trách nhiệm của công ty công nghệ dừng ở đâu? 

Các nền tảng AI thường nói chúng không thay thế bác sĩ, luật sư hay chuyên gia trị liệu, nhưng thực tế là người dùng có thể trò chuyện với chúng bằng giọng thân mật, liên tục và riêng tư, khiến ranh giới giữa “thông tin tổng quát” và “lời khuyên cá nhân” trở nên rất mờ nhạt. (MPL) [kn]