Chuẩn bị cho ngày chết lúc tuổi già, có nên không?-Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trong “Truyện Kiều” tác giả Nguyễn Du viết: “Thác là thể phách, còn là tinh anh” đó là sau khi chết, phần thể xác, thân thể mình sẽ không còn, sẽ trở thành tro bụi. Nhưng phần hồn, những việc làm tốt, những hy sinh đóng góp cho xã hội, đóng góp cho gia đình vẫn còn tồn tại. Nhưng tồn tại được bao lâu? Tồn tại được 5 năm, 10 năm, hay hơn thế nữa đâu có biết. Nhưng có lẽ 100 năm sau chẳng còn ai biết đến mình đâu?

*****

Có những câu hỏi luôn chờ đợi câu trả lời, lúc nào cũng vẫn mới mẽ đối với con người.

Thực sự tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Khi chết tôi đi về đâu?

Sống trên đời để làm gì?

Tại sao có người sinh ra trong gia đình giàu có và có người sinh ra trong gia đình nghèo khổ?

Có người sinh ra ở nước giàu (như ở Hoa Kỳ, Âu Châu) có người sinh ra ở nước nghèo (như ở Phi Châu)

Có người chết sớm, có người sống lâu?

Có người chết dễ dàng, có người bịnh tật nằm liệt giường vài năm hay vài chục năm, sống nhờ vào con cháu hay nhờ vào người khác.

Con người có linh hồn không?

Sau khi chết, linh hồn con người sẽ đi về đâu?

****

Có người nói, sau khi chết, vất thân xác nơi nào cũng được, bỏ vào thùng rác, đem vứt ngoài biển, bỏ ngoài sông hay bỏ ở đâu đó cũng được. Chết là hết.

Tôi có biết, một gia đình vợ chồng, con và dâu của người bạn, sau khi dự đám cưới, cùng với một cặp vợ chồng khác cũng cùng dự đám cưới trên. Sau khi dự đám cưới xong, hai cặp vợ chồng này đi cùng chiếc xe về nhà, từ đường Westheimer đến Highway 6, quẹo trái thì bị tai nạn nặng.Trong xe có hai vợ chồng chết và hai vợ chồng kia bị thương nặng nhưng cả hai vợ chồng đều sống. Một cặp vợ chồng sống và một cặp vợ chồng chết. Giải thích thế nào?

Tôi đang đọc sách “Muôn Kiếp Nhân Sinh” của Nguyên Phong

 *****

Con người sẽ ra đi về với Chúa bất cứ lúc nào không thể biết trước được. Có người mới sinh ra đã chết, có ngươì sống tới 100 tuổi hay hơn nữa, cũng có người mất ở tuổi đôi mươi hay trung niên 40, 50,60.

Thánh nữ Teresa Hài Đồng Giêsu chết lúc 24 tuổi vì bịnh lao phổi. Thánh nữ mất lúc 7 giờ 30 tối ngày 30-09-1897. Chị là Tiến sĩ Hội thánh.

Thánh Faustina mất lúc 33 tuổi ở Kraków, Ba Lan. Ngài được xem là sứ đồ của “Lòng Chúa thương Xót.”

Thánh Anrê Trần An Dũng Lạc mất năm 44 tuổi, tử đạo ngày 21 tháng 12 năm 1839 tại pháp trường Cầu Giấy, Hà Nội.

Thánh Annê Lê Thị Thành (1781-1841) còn gọi là Bà Đê, mất lúc 60 tuổi. Bà chết năm 1841 lúc đang bị cầm tù.

Thánh Carlo Acutis sinh ngày 03-05-1991 và qua đời năm 2006 khi mới 15 tuổi vì bị bịnh bạch hầu. Được phong thánh ngày 07 tháng 09 năm 2025 vừa qua.

***

Tôi đã mua hai lỗ chôn ở nhà quàn Vĩnh Cửu, đã đóng đủ tiền cho nhà quàn rồi. Hai huyệt ở phía

phải của nhà quàn Vĩnh Cửu, trên đường Dairy Asford, vừa bước vô nhà quàn, nhìn bên phải, hai huyệt (hai lỗ chôn) nằm ở đây.

Nhà quàn cũng cho ta đóng tiền cho ba ngày làm đám tang, nếu bây giờ đóng trước, sau này trong gia đình con cháu khỏi phải lo đóng góp, khỏi lo trả tiền, có thể gây nên sự xung đột tranh cãi trong gia đình, trong các con cháu.

Đạo công giáo luôn nhắc nhở ngày ra đi của chúng ta để chúng ta luôn sống trong tình thương của Thiên Chúa, sống liên kết với Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria.

Trong kinh Kính mừng có câu: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và TRONG GIỜ LÂM TỬ. Amen

Và kinh khác trước khi bắt đầu thánh lễ: “Lậy Chúa con, con xin dâng các lễ Misa, các thầy cả ở khắp tứ phương thiên hạ làm trong ngày hôm nay. Để Chúa con thương đến các kẻ có tội đang mong sinh thì bây giờ và SẼ CHẾT TRONG NGÀY HÔM NAY. Chớ gì máu châu báu Đức Chúa Giêsu là đấng chuộc tội làm cho Chúa con thương đến các kẻ ấy.”

Có nhiều người viết sẵn bài đọc 1, bài đọc 2 và bài Phúc âm, lẫn bài thông báo. Viết sẵn để con cháu theo đó mà làm, không phải lo lắng, bối rối không biết làm gì trước, làm gì sau?

Trong Kinh thánh, tác giả Gioan có viết, mà tôi rất thích: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó.” Gioan (14:1-3)

Phùng Văn Phụng

29/08/2026

Xem thêm:

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ? Tác giả: Norris Le LPN

https://keditim.net/240451-2/


 

Một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard…

Cang Huynh

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

Năm 1971, một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard bước vào khu ổ chuột Moqattam ở Cairo, Ai Cập, và quyết định ở lại đó trong hai thập kỷ.

Sau 40 năm dạy văn học cho học sinh giàu có trong những lớp học tiện nghi, sơ đã từ bỏ cuộc sống nghỉ hưu yên bình. Sơ đặt một câu hỏi đơn giản:

“Những người nghèo nhất ở Ai Cập sống ở đâu?”

Mọi người đều chỉ về phía bãi rác khổng lồ của thành phố, nơi sinh sống của 40.000 người được gọi là Zabaleen. Họ thu gom rác thải của bảy triệu công dân bằng tay không, sống mà không có nước sạch, điện hay trường học.

Khi sơ hỏi liệu sơ có thể sống giữa họ không, người dân địa phương đã rất sốc.

Họ xây cho sơ một căn phòng nhỏ bằng bê tông chỉ có một chiếc giường, một cây Thánh giá và một cuốn Kinh Thánh.

Điều kiện sống thật đau lòng. Các cô gái trẻ sinh con khi mới 12 tuổi, trẻ em chết vì những bệnh nhiễm trùng nhẹ, và đàn ông bị đứt tay hàng ngày vì mảnh kính vỡ mà không có thuốc men cơ bản.

Sơ Emmanuelle không đến để thuyết giáo hay cải đạo ai cả.

Sơ chỉ đơn giản muốn chia sẻ cuộc sống của họ.

Sơ bắt đầu bằng việc băng bó vết thương, viết thư cho các bà mẹ và dạy trẻ em đọc trên những con phố bụi bặm.

Sơ nhanh chóng nhận ra rằng những người thu gom rác không nghèo vì lười biếng, mà vì xã hội đối xử với họ như những người vô hình.

Sơ quyết định dùng tiếng nói của mình để giúp họ xây dựng một tương lai thực sự.

Sơ viết thư khắp châu Âu và tiếp cận các nhà hảo tâm giàu có để tài trợ cho tầm nhìn của mình.

Đến năm 1980, những nỗ lực không ngừng nghỉ của sơ đã được đền đáp. Sơ đã xây dựng một trường tiểu học miễn phí, một phòng khám mở với các loại thuốc căn bản và một trung tâm cung cấp các lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ.

Sơ thậm chí còn hợp tác với một kỹ sư để xây dựng một nhà máy ủ phân biến phân chuồng thành phân bón.

Điều này đã mang lại thu nhập ổn định cho những người thu gom rác.

Khi những người chỉ trích đặt câu hỏi về những phương pháp táo bạo của sơ ở khu ổ chuột, bao gồm cả việc cung cấp các nguồn lực kế hoạch hóa gia đình cho các bé gái, bà vẫn kiên định.

“Tôi đứng về phía người nghèo. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì người nghèo cần.”

Sơ Emmanuelle sống trong khu ổ chuột đó cho đến năm 84 tuổi, chịu đựng những mùa hè nóng như thiêu đốt và những đợt dịch bệnh nghiêm trọng mà không hề than phiền.

Sơ dùng một chiếc xô đơn giản làm nhà vệ sinh và mặc cùng một bộ áo tu màu xám trong nhiều năm.

Danh tiếng của sơ ngày càng tăng sau khi sơ xuất bản sách về người Zabaleen, và sơ đã tận dụng mọi lần xuất hiện trên truyền hình để quyên góp hàng triệu đô la cho thiện nguyện của mình.

Khi dòng tu của sơ cuối cùng triệu hồi sơ về Pháp vào năm 1993, sơ đã dành mười lăm năm tiếp theo để nói chuyện trên các đài phát thanh và tham dự các hội nghị để hỗ trợ các dự án trên khắp tám quốc gia.

Sơ qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào năm 2008, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 100 của mình.

Trở lại Cairo, những người thu gom rác đã tổ chức một buổi lễ cảm động để tưởng nhớ người phụ nữ mà họ gọi là Mẹ Emmanuelle.

Những đứa trẻ từng sống ở bãi rác, nay là bác sĩ, giáo viên và y tá, đã tụ tập để tưởng nhớ sơ.

Câu chuyện của sơ cho thấy rằng không bao giờ là quá muộn để tạo ra sự khác biệt.  Ở độ tuổi mà hầu hết mọi người thường chậm lại, Sơ Emmanuelle đã chọn bắt đầu một chương mới, chứng minh rằng tình yêu không phải là những lời nói hoa mỹ, mà là sự hiện diện và luôn bên cạnh người mình cần.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.


 

Sự trỗi dậy của phong trào Công Giáo chống AI – Vũ Văn An

Vũ Văn An

24/Aug/2026

Việc phản đối AI phát sinh [generative AI] không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. (ảnh: minh họa của Victoria Arruda/EWTN News; hình ảnh nguồn: Sergey Poplev

Jonah McKeown của tạp chí National Catholic Register, ngày 20 tháng 8 năm 2026, cho hay: Giống như nhiều người Công Giáo khác, Eliza Monts rất háo hức đọc hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Leo về trí tuệ nhân tạo (AI) khi thông điệp được mong đợi của ngài, Magnifica Humanitas, được công bố vào tháng Năm.

Là một nhà văn và người sáng tạo nội dung mạng xã hội nổi tiếng sống ở Charleston, Nam Carolina, Monts đã quyết định chắt lọc phân tích của Đức Giáo Hoàng về AI thành một danh sách khách quan về ưu điểm và nhược điểm. Ví dụ, “Tốc độ và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được tăng lên” được liệt kê là một “ưu điểm”, trong khi những tác động tiêu cực của việc lạm dụng AI đối với giáo dục của giới trẻ được xếp vào mục “nhược điểm”.

Nhưng sau khi đọc kỹ thông điệp dài 42,000 từ của Đức Giáo Hoàng, sự phân tích này không hề sát nhau. Monts chỉ đếm được năm ưu điểm — và 37 nhược điểm.

Thao tác này chỉ càng củng cố thêm niềm tin mà Monts đã có về AI.

“Là con người rất quan trọng và khác biệt, bởi vì chúng ta được tạo ra theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, còn robot thì không”, Monts, 27 tuổi, nói với tờ Register trong một cuộc phỏng vấn. “Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào phong trào không muốn thấy con người bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho robot.”

“Phong trào” mà Monts nói đến là một số lượng ngày càng tăng những người Công Giáo đã quyết định không sử dụng AI, đặc biệt là loại “phát sinh”: Kỹ thuật được cho là tạo ra văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc mã máy tính mới bằng cách dựa trên các mẫu thống kê trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ. Hầu hết mọi người đều đã trải nghiệm trí tuệ nhân tạo phát sinh thông qua các “chatbot” như ChatGPT, Claude, Grok và Gemini.

Việc phản đối trí tuệ nhân tạo phát sinh không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. Những mối lo ngại lớn khác, chẳng hạn như tác động môi trường của các trung tâm dữ liệu AI, cũng đang thúc đẩy sự phản kháng.

Nhưng giữa phong trào văn hóa rộng lớn này, những người Công Giáo phản đối AI tự coi mình đang bổ sung một quan điểm dựa trên đức tin độc đáo, một quan điểm tập trung vào việc bảo vệ phẩm giá của con người, được tạo ra theo hình ảnh của Chúa, với sự sáng tạo và trí tuệ được ban tặng bởi Chúa Thánh Thần.

Và mặc dù những người Công Giáo này không nhận được sự lên án mạnh mẽ đối với các chatbot AI từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV như họ mong đợi, họ vẫn tin rằng lập trường của họ đang được ủng hộ.

“Nó không chỉ xảy ra trong một tòa nhà, hay chỉ xảy ra ở một giáo xứ,” Marc Barnes, biên tập viên của tạp chí Công Giáo New Polity, nói về phong trào này. “Điều này đang xảy ra ở khắp mọi nơi, nơi mọi người cảm thấy thật nhàm chán và buồn tẻ khi bạn bè của họ nói chuyện với những người ảo.”

Một Liên minh Đa dạng

Những người Công Giáo phản đối AI đến từ nhiều tầng lớp khác nhau, và lập luận của họ chống lại Kỹ thuật này vừa mang tính triết học vừa mang tính thực tiễn.

Phong trào này bao gồm các nhà báo và nhà tư tưởng có ảnh hưởng, chẳng hạn như Matthew Walther, người sáng lập tạp chí Công Giáo The Lamp, người đã gọi AI là “một điều ác mà tất cả mọi người nên bác bỏ”. Tương tự, Lily Abadal, giáo sư triết học tại Đại học Nam Florida, St. Petersburg, đã cảnh báo rằng “Chúa Thánh Thần không hướng dẫn các xuất lượng” của chatbot.

Các nghệ sĩ thị giác, bị sốc trước sự lan tràn trực tuyến của “sản phẩm rác” do AI tạo ra, đã đặc biệt lên tiếng. Chris Lewis, người sáng lập xưởng nghệ thuật Công Giáo Baritus, đã gọi nghệ thuật AI là “một sự chế nhạo hoặc bắt chước sự sáng tạo đích thực”, trong khi nghệ sĩ thánh Kate Capato đã cảnh báo trong một bài đăng dài trên blog rằng người Công Giáo “phải cảnh giác trước sự xâm nhập của hình ảnh AI vào không gian thánh của chúng ta, và đặc biệt là trong phụng vụ của chúng ta”.

Trong số những tiếng nói này, New Polity, ấn phẩm do Barnes lãnh đạo, đã nổi lên như một điểm tập hợp cho điều gọi là “liên minh chống chatbot”. Ngoài việc dành toàn bộ một số báo gần đây cho những điều xấu xa được cho là liên quan đến AI, ấn phẩm này sẽ tổ chức một sự kiện vào mùa xuân tới tại Pittsburgh nhằm mục đích hình thành một phong trào phản kháng Công Giáo có tổ chức chống lại việc bình thường hóa AI phát sinh.

Một mối đe dọa đến phẩm giá con người

Một số lập luận chống AI đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong văn hóa đại chúng cũng thu hút nhiều người Công Giáo. Ví dụ, các trung tâm dữ liệu tiêu tốn nhiều tài nguyên cần thiết để xử lý AI đang tác động xấu đến môi trường; có nguy cơ sử dụng Kỹ thuật để thay thế chứ không phải tăng cường nhận thức của con người; và có nhiều bằng chứng cho thấy chatbot nguy hiểm đối với trẻ em.

Trong khi tất cả những lập luận đó vẫn đang được tranh luận sôi nổi, mối quan tâm chính đối với người Công Giáo, đặc biệt là việc nói chuyện với một thực thể phi nhân loại theo cách giống con người — ngay cả khi người dùng biết rằng họ không nói chuyện với một người thật — là không tự nhiên, phi lý và không phù hợp với quan điểm Công Giáo về phẩm giá con người.

Barnes, một giáo sư tại trường Cao đẳng Thánh Giuse Thợ ở Steubenville, đã gây xôn xao năm ngoái với một bài luận có tiêu đề ngắn gọn “Chatbot AI là Ác quỷ”, một quan điểm mà ông đã bảo vệ trong nhiều cuộc tranh luận kéo dài nhiều giờ.

Barnes cũng thẳng thừng kêu gọi “xóa bỏ” Magisterium — một sản phẩm AI phổ biến được đào tạo chỉ dựa trên các nguồn Công Giáo và sử dụng giao diện trò chuyện — nhắc lại quan điểm của ông rằng chatbot nói chung là ác quỷ “bởi vì, về mặt thiết kế, chúng liên quan đến con người trong một hành động phi lý”. Ông lập luận rằng chatbot chỉ chọn từ ngữ của chúng thông qua xác suất, và do đó không thể “làm chứng” trực tiếp cho chân lý của đức tin Công Giáo như con người có thể.

Hơn nữa, Barnes cho rằng chatbot làm trầm trọng thêm tình trạng cô đơn và xa lánh vốn đã phổ biến bằng cách khuyến khích kết nối với một thực thể phi nhân bản. Ngược lại, khi một đời sống Công Giáo được sống trọn vẹn trong sự hiệp thông với chính Chúa Kitô và với các tín hữu khác, “Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng trở nên kém hấp dẫn như một phương thuốc cho căn bệnh cô đơn đặc trưng của nền văn hóa chúng ta”, ông tiếp tục.

Trong khi một số người Công Giáo phản đối AI khẳng định với tờ Register rằng họ tin Kỹ thuật mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) làm nền tảng cho AI có thể có những ứng dụng hợp pháp, thì vấn đề giao diện dựa trên trò chuyện — ngay cả khi được sử dụng cho AI “Công Giáo” — vẫn là một điểm vướng mắc nghiêm trọng.

Monts coi thông điệp tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Leo nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới lần thứ 60 — trong đó vị Giáo hoàng mô tả hành vi của chatbot là “lừa dối, đặc biệt là đối với những người dễ bị tổn thương nhất” — là “điểm tựa” của cô trong việc ủng hộ quan điểm của mình về AI dựa trên trò chuyện, vốn rất phù hợp với quan điểm của Barnes.

Trên Substack của mình, Monts thường xuyên đăng bài với các tiêu đề như “Liệu AI có thực sự đáng để bạn hủy hoại trí tuệ của mình?” và “Làm thế nào để loại bỏ AI khỏi cuộc sống của bạn trong 15 phút”. Trong một bài đăng thẳng thắn vào cuối tháng 7, trong đó cô mô tả sự đấu tranh bản thân khi chứng kiến nội dung do AI tạo ra lan tràn, cô đã cầu xin độc giả hãy quan tâm rằng, theo quan điểm của cô, hàng triệu người đang tự nguyện làm giảm đi những món quà trí tuệ và sáng tạo mà Chúa ban cho bằng cách giao phó các hoạt động trí tuệ cho robot.

“Điều đó làm chúng ta đau lòng rất nhiều… nhưng từ góc độ ích kỷ, bạn phải thuyết phục mọi người rằng những mặt tiêu cực lớn hơn những mặt tích cực,” cô nói.

Sự khác biệt trong cách diễn giải

Những người Công Giáo phản đối AI nói với tờ Register rằng họ tin rằng các tiêu chuẩn phân định mà Đức Giáo Hoàng Leo đã nêu ra trong Magnifica Humanitas ủng hộ mạnh mẽ kết luận rằng người Công Giáo không nên sử dụng AI phát sinh. Nhưng cách diễn giải này không phải là phổ quát.

Một trong những đoạn gây tranh cãi gay gắt nhất trong thông điệp là Đoạn 100, trong đó Đức Giáo Hoàng viết rằng “AI có thể là một công cụ có giá trị” mà “đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và có chừng mực.”

Những người Công Giáo hoài nghi về trí tuệ nhân tạo (AI) coi lời kêu gọi kiềm chế của Đức Giáo Hoàng là lý do để không dành cho Kỹ thuật này, và những người tạo ra nó, sự khoan dung. Nhưng những người Công Giáo lạc quan hơn về việc sử dụng AI lại đọc đoạn văn này không phải như một lời khiển trách để từ chối Kỹ thuật mà là như một “mệnh lệnh” – một thách thức đối với người Công Giáo trong việc sử dụng và định hướng Kỹ thuật hướng tới những mục đích tốt đẹp và tích cực.

Matthew Harvey Sanders, người sáng lập Magisterium AI, cho biết sau khi thông điệp được ban hành rằng những lời chỉ trích của Đức Giáo Hoàng Leo chỉ ra kết luận rằng người Công Giáo không nên rút lui khỏi lĩnh vực AI mà thay vào đó nên tham gia vào việc xây dựng các hệ thống AI tốt hơn từ đầu.

Tương tự, Taylor Black, một người Công Giáo giữ chức giám đốc hệ sinh thái AI và đầu tư mạo hiểm của Microsoft, nói với tờ Register rằng ông không coi AI khác biệt so với các Kỹ thuật khác mà người Công Giáo đã “thánh hóa” và sử dụng để giúp truyền bá Tin Mừng trong suốt nhiều thế kỷ.

Trong khi đó, một số người Công Giáo chỉ trích mạnh mẽ AI đã bày tỏ lo ngại rằng hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng còn thiếu sót so với một lệnh cấm toàn diện. Ví dụ, cựu giám đốc điều hành Thung lũng Silicon Ned Desmond đã viết trên First Things rằng Magnifica Humanitas là một “cơ hội bị bỏ lỡ” để nhấn mạnh những nguy hiểm của chatbot.

Và Walther, trong một bài phê bình thẳng thắn trên tờ The New York Times, đã viết rằng ông thấy cách xử lý AI trong thông điệp này “đáng thất vọng vì quá thận trọng và dè dặt” và thậm chí là “ngây thơ”, nói rằng tầm nhìn tích cực rõ ràng của vị Giáo hoàng về AI như một công cụ có mục đích sử dụng đạo đức có nguy cơ bị hiểu nhầm là giấy phép cho phép AI lan tràn.

Nếu không có bất kỳ lệnh cấm nào của Giáo hoàng về việc sử dụng AI, Walther nói rằng những người Công Giáo bình thường nên thể hiện sự hiện diện cá nhân bằng cách sống đức tin của họ và tham gia vào các bí tích, thay vì hình thành bất cứ mối quan hệ nào với một thực thể phi vật chất, phi nhân bản.

Một Phong Trào Phản Văn Hóa

Mặc dù ý nghĩa của Magnifica Humanitas có thể gây tranh cãi, nhưng thông điệp này không phải là hướng dẫn duy nhất của Vatican về AI. Ví dụ, Đức Giáo Hoàng Leo đã kêu gọi rõ ràng việc loại trừ một số cách sử dụng AI nhất định, cảnh cáo các linh mục không nên sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để viết bài giảng và khuyên giới trẻ không nên để AI làm bài tập về nhà hộ mình. Ngài cũng đã cảnh báo mạnh mẽ về việc mô phỏng giọng nói và khuôn mặt con người, và trong thông điệp của ngài, ngài đã bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc và lo ngại về việc sử dụng AI trong chiến tranh.

Về phần mình, Barnes cho biết ông đánh giá cao việc Đức Giáo Hoàng không cấm hoàn toàn người Công Giáo sử dụng AI, mà thay vào đó, với “tốc độ hoàn hảo”, ngài đang kêu gọi các tín hữu quay trở lại những nguyên tắc cơ bản và thúc giục họ trau dồi khả năng phân định của riêng mình. Nếu một sự lên án của Giáo Hoàng đối với AI phát sinh từng diễn ra, Barnes cho biết ông nghi ngờ điều đó sẽ chỉ xảy ra sau rất nhiều cuộc tranh luận, tương tự như cách Giáo Hội đã mất nhiều năm để nghiên cứu và phân định trước khi khẳng định lệnh cấm truyền thống đối với việc kiểm soát sinh sản nhân tạo vào những năm 1960.

Dù điều gì có thể xảy ra tiếp theo, Monts cho biết cô đang tập trung vào việc đáp lại hiện tượng AI không chỉ bằng luận lý và lập luận, mà còn bằng lời cầu nguyện. Cô cũng suy gẫm rằng trong một tương lai có thể xảy ra khi nội dung do AI tạo ra trở nên phổ biến hơn nữa, việc cung cấp ngôn từ và tác phẩm nghệ thuật do con người tạo ra có thể được coi là một “việc làm bác ái tinh thần thứ tám” một cách không chính thức.

Đối với Monts, những ngày đầu của phong trào phản kháng chống lại AI do phần lớn giáo dân dẫn đầu này không khác gì những gì cô đã đọc về những ngày đầu của phong trào bảo vệ sự sống ở Hoa Kỳ. Nhưng cô cũng cảm thấy an ủi trước số lượng ngày càng tăng của những người Công Giáo không chỉ bày tỏ sự hoài nghi về AI phát sinh mà còn đưa ra quyết định đi ngược lại với văn hóa hiện đại là không sử dụng nó.

“Xu hướng đang thay đổi, về mặt thống kê. Mọi người ghét các trung tâm dữ liệu. Họ ghét AI phát sinh. Trong thế giới thế tục rộng lớn hơn của Hoa Kỳ, [mọi người] đang lên tiếng mạnh mẽ về điều đó,” cô nói. Cô nói thêm rằng cô thường nhận được nhiều tin nhắn trực tiếp từ những người Công Giáo cảm ơn cô vì thông điệp chống AI hơn là bày tỏ sự phản đối.

“Tôi phải tự nhắc nhở mình điều đó rất nhiều,” cô nói. “Rằng tôi thực sự không đơn độc.”


 

Giang…VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

Giang…VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

Ở Westminster, California, có những con đường mà chỉ cần chạy xe ngang qua, người Việt đã thấy như mình đang trở về một nơi nào đó rất xa.

Trên đường Bushard, những bảng hiệu tiếng Việt chen nhau giữa những cửa tiệm, nhà hàng, tiệm tóc, chợ và quán ăn.Trong một tiệm phở có cái tên nghe rất Mỹ, Phở Holic. Giang làm việc mỗi ngày.

Giang không phải chủ tiệm.

Cũng chẳng phải người nổi tiếng.

Chỉ là một người đứng phía sau quầy, bưng phở, dọn bàn, tính tiền, đôi khi phụ bếp khi khách đông.

Nhưng Giang có một thứ mà không phải ai cũng có.

Đó là khả năng nhìn người.

Giang từng nói:

— Ở đây, nhìn người ta ăn một tô phở là biết được nhiều chuyện lắm.

Người ta tưởng Giang nói đùa.

Không. Giang nói thật. Bởi mỗi ngày, Giang gặp hàng trăm người Việt.

Có người bước vào quán với bộ quần áo sang trọng, đồng hồ đắt tiền, nói chuyện điện thoại bằng tiếng Anh.

Có người đi chiếc xe cũ, ngồi một mình ở góc bàn, gọi đúng một tô phở nhỏ.

Có những ông già ngồi hàng giờ bên ly trà đá, không ăn gì thêm.

Có những bà cụ đi với con cháu, nhưng cả buổi chẳng nói một câu.

Và cũng có những người cứ mỗi lần bước vào quán là kể lại một chuyện cũ.

Một chuyện đã xảy ra cách đây mấy chục năm.

Như thể thời gian chưa từng trôi.

Có người thành công.

Giang nhớ một ông khách khoảng ngoài sáu mươi. Ông thường đến vào buổi trưa. Áo sơ mi bỏ trong quần, giày bóng, nói chuyện điện thoại toàn tiếng Anh.

Một hôm, ông vừa ngồi xuống đã gọi:

— Cho tôi tô tái nạm. Ít bánh. Nhiều rau.

Giang mang phở ra.

Ông ăn rất chậm. Điện thoại reo.

— Yes, I’m coming tomorrow. The meeting is at nine.

Nói xong, ông tắt máy.

Giang hỏi:

— Chú làm ăn lớn lắm hả chú?

Ông cười:

— Cũng đủ sống.

Một câu trả lời rất Mỹ.

Nhưng sau vài lần gặp, ông mới kể.

Ngày xưa ông đến Mỹ chẳng có gì.

Không tiền.

Không tiếng Anh.

Không nghề nghiệp.

Ban ngày đi làm.

Ban đêm đi học.

Có thời gian ông ngủ ngay trong xe.

Sau này ông mở được công ty. Mua nhà. Con cái học đại học. Bây giờ người ta gọi ông là thành công.

Nhưng một hôm ông nói với Giang:

— Con biết không, cái khó nhất không phải là nghèo. Cái khó nhất là lúc mình có tất cả rồi mà chẳng biết mình đang tìm cái gì nữa.

Giang đứng im.

Ông cúi xuống tô phở.

— Hồi nhỏ, chỉ cần có một tô phở nóng là vui. Bây giờ muốn ăn tô phở như hồi nhỏ cũng không tìm lại được.

Giang nhìn ông. Có lẽ ông không thiếu tiền. Ông chỉ thiếu một thời đã mất.

Có người thất bại Rồi có một người đàn ông khác. Ông thường đến vào buổi chiều.

Một mình. Áo khoác cũ. Tóc bạc. Lúc nào cũng chọn cái bàn sát cửa sổ.

Ông gọi:

— Một tô đặc biệt.

Giang mang ra.

Có lần Giang thấy ông đếm từng tờ tiền trước khi trả.

Không đủ tiền.

Giang nói:

— Thôi chú, lần sau trả cũng được.

Ông lắc đầu.

— Không. Để tôi trả.

Giang không hỏi nữa.

Nhưng một hôm ông tự kể. Ông từng có nhà.

Có vợ.

Có con.

Có công việc tốt.

Rồi làm ăn thất bại.

Nợ nần. Ly dị. Con cái không còn nói chuyện. Nhà bán. Xe bán. Cuối cùng ông thuê một căn phòng nhỏ.

Ông nói:

— Người ta thường hỏi tôi tại sao thất bại.

Ông cười buồn.

— Chẳng ai hỏi tôi đã cô đơn bao lâu.

Giang nghe mà thấy nghẹn.

Bởi thất bại ở Mỹ đôi khi không phải là không có tiền.

Mà là một ngày thức dậy, phát hiện chẳng còn ai gọi mình bằng hai tiếng:

Ba ơi.

Có người sống bằng hoài niệm. Nhưng có những người đến quán không phải để ăn.

Họ đến để nhớ. Một nhóm các ông già thường ngồi với nhau vào sáng Chủ Nhật.

Họ gọi phở. Gọi cà phê. Rồi nói chuyện Việt Nam.

Sài Gòn.

Đà Lạt.

Huế.

Nha Trang.

Những con đường cũ.

Những người bạn không còn gặp.

Những người đã nằm lại ở một nơi nào đó mà họ không thể trở về.

Giang nghe mãi thành quen.

Có ông nói:

— Hồi đó, Sài Gòn đẹp lắm.

Ông khác cãi:

— Đẹp gì mà đẹp. Tao nhớ nhất là cái nóng.

Người thứ ba cười:

— Tao nhớ nhất là mấy cô nữ sinh.

Cả bàn cười vang. Nhưng sau tiếng cười ấy thường là một khoảng im lặng.

Bởi ai cũng biết: Có những thứ chỉ có thể nhớ. Không thể quay lại.

Một ông khách từng nói với Giang:

— Tụi chú không sống bằng hiện tại đâu con.

Giang hỏi:

— Vậy sống bằng gì?

Ông nhìn ra ngoài cửa kính.

— Sống bằng ký ức.

Và có người muốn quên. Nhưng cũng có một nhóm người khác. Họ rất ít khi nói chuyện Việt Nam. Một thanh niên khoảng ngoài ba mươi, sinh ra ở Mỹ.

Một lần Giang hỏi:

— Ba mẹ em người Việt hả?

Anh trả lời:

— Yes.

— Em có nói tiếng Việt không?

— Một chút.

Rồi thôi. Không nói thêm.

Giang không hỏi nữa. Nhưng một lần khác, anh đi cùng cha.

Người cha gọi phở bằng giọng miền Nam rất rõ. Còn người con ngồi đối diện, nhìn điện thoại suốt bữa ăn. Hai cha con gần như không nói chuyện.

Đến lúc tính tiền, người cha đứng lên.

Ông nói:

— Ba đi trước.

Người con đáp:

— Okay.

Chỉ một chữ.

Giang nhìn theo hai người.

Một người mang theo cả Việt Nam trong lòng.

Một người dường như muốn để Việt Nam lại phía sau.

Nhưng Giang nghĩ:

Có những thứ mình muốn quên chưa chắc đã quên được.

Bởi chỉ cần một ngày nghe lại một bài hát cũ… Ngửi thấy mùi nước mắm… Hay bất chợt ăn một tô phở giống tô phở mẹ từng nấu…

Ký ức có thể quay về.

Không cần xin phép.

Mỗi tô phở là một câu chuyện. Giang dần hiểu rằng mình không chỉ bán phở.

Giang đang đứng giữa một dòng người Việt đi qua lịch sử.

Có người rời Việt Nam khi còn trẻ.

Có người vượt biển.

Có người sang Mỹ bằng máy bay.

Có người sinh ra ở Mỹ nhưng vẫn nói tiếng Việt.

Có người giàu lên.

Có người nghèo xuống.

Có người giữ được gia đình.

Có người mất cả gia đình.

Có người muốn con mình nhớ quê hương.

Có người lại sợ con mình nhớ quá nhiều.

Có người kể chuyện Việt Nam suốt ngày.

Có người nghe hai chữ “Việt Nam” là muốn đổi đề tài.

Nhưng cuối cùng… Tất cả đều có lúc ngồi xuống trước một tô phở. Khói phở bay lên. Mùi hành ngò. Mùi thịt bò.

Tiếng muỗng chạm vào thành tô. Một thứ rất bình thường. Nhưng đôi khi, chính những thứ bình thường ấy lại kéo người ta về với những năm tháng tưởng đã mất.

Một buổi tối, quán vắng.

Giang lau bàn. Ngoài đường, xe chạy qua. Ánh đèn neon phản chiếu trên mặt kính.

Một ông cụ bước vào. Ông ngồi xuống chiếc bàn quen thuộc.

Giang hỏi:

— Hôm nay chú ăn gì?

Ông đáp:

— Như cũ.

Giang cười:

— Phở tái nạm?

Ông lắc đầu.

— Không.

Giang ngạc nhiên.

Ông nhìn Giang rồi nói:

— Hôm nay cho chú tô phở giống hồi còn nhỏ.

Giang đứng yên.

— Hồi còn nhỏ chú ăn phở ở đâu?

Ông cụ nhìn ra ngoài.

Rất lâu mới trả lời:

— Ở Sài Gòn. Với má chú.

Giang không hỏi thêm.

Anh quay vào bếp. Nước phở vẫn sôi. Hành vẫn xanh. Bánh phở vẫn trắng. Thịt vẫn mềm.

Mọi thứ chẳng có gì khác.

Chỉ có người ngồi trước tô phở là đã đi qua gần cả một đời người.

Giang đặt tô phở xuống. Ông cụ chắp hai tay trước mặt.

Không ăn ngay. Ông chỉ nhìn.

Rồi nói rất nhỏ:

— Má ơi…

Giang quay đi.

Anh giả vờ bận rộn. Bởi có những lúc, người đứng phục vụ cũng cần giữ cho mình một khoảng im lặng.

Đêm đó, khi đóng cửa quán, Giang đứng ngoài nhìn bảng hiệu. Anh chợt hiểu:

Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.

Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.

Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.

Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.

Người già mang theo quê hương.

Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.

Và những người muốn quên…

cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.

Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.

Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về.

Có người để lại tiền tip.

Có người để lại một câu chuyện.

Có người chẳng để lại gì.

Nhưng Giang biết…

Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.

Và có những câu chuyện…

cả đời họ cũng không thể kể hết.

Phạm Sơn liêm

From: Kristie Phan & KimBang Nguyen


 

TỪ PHẬT GIÁO, KỸ SƯ HÓA HỌC ĐẾN LINH MỤC CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

Cha Adrian Suyanto, sinh năm 1994, là người Indonesia, lớn lên trong một gia đình theo Phật giáo. Thời niên thiếu, ngài học tại Surabaya, Đông Java.

Điều đặc biệt là ngay từ khi còn rất trẻ, Adrian đã bắt đầu tìm hiểu Kitô giáo. Năm 14 tuổi, dù lớn lên trong một gia đình Phật giáo, cậu đã chủ động xin được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và gia nhập Giáo hội Công giáo.

Sau khi hoàn thành bậc phổ thông, Adrian sang Australia du học tại Đại học New South Wales (UNSW), Sydney, theo ngành Kỹ thuật Hóa học.

Chính những năm đại học lại trở thành một bước ngoặt quan trọng trong đời sống đức tin của Adrian. Anh tích cực tham gia hoạt động của Tuyên úy Công giáo tại trường và Catholic Asian Students Society – Hội Sinh viên Công giáo Á Châu.

Sau này Adrian nhớ lại:

“Nhiều người nói rằng họ đánh mất đức tin ở đại học, nhưng với tôi, đó thực sự là nơi tôi gặp Đức Kitô và trưởng thành trong đức tin.”

Tốt nghiệp đại học, Adrian làm việc khoảng hai năm tại Canberra. Nhưng trong lòng anh, lời mời gọi trở thành linh mục ngày càng mạnh mẽ.

Ban đầu Adrian từng không muốn đi tu. Anh cũng mong được kết hôn, có gia đình và sống như bao người khác. Thế nhưng tiếng gọi ấy cứ âm thầm trở lại. Sau thời gian cầu nguyện và phân định với linh hướng, năm 2017, Adrian quyết định bước vào Đại Chủng viện Good Shepherd tại Homebush, Sydney, để bắt đầu hành trình đào tạo linh mục.

Ngày 16/12/2023, ngài được truyền chức phó tế.

Và ngày 11/07/2024, tại Nhà thờ Chính tòa St Mary, Sydney, Đức Tổng Giám mục Anthony Fisher OP đã đặt tay truyền chức linh mục cho Adrian Suyanto, cùng hai tiến chức khác.

Từ một cậu bé lớn lên trong gia đình Phật giáo tại Indonesia, đến một sinh viên kỹ thuật hóa học, rồi một người trẻ dám từ bỏ dự định riêng để đáp lại tiếng Chúa gọi – cuối cùng Adrian đã trở thành linh mục của Tổng Giáo phận Sydney.

Hiện nay, Cha Adrian Suyanto đang phục vụ với tư cách linh mục phó tại Giáo xứ St Anthony of Padua, Austral, Sydney.

Một hành trình thật đẹp để thấy rằng: Thiên Chúa có thể gọi một con người từ những con đường mà chúng ta không thể ngờ tới. Từ một gia đình Phật giáo, ở tuổi 14 Adrian đã mở lòng đón nhận đức tin; và nhiều năm sau, chính người thanh niên ấy lại dâng trọn cuộc đời để đưa Đức Kitô đến với người khác.

Xin cầu nguyện cho Cha Adrian luôn trung thành và nhiệt thành trong sứ vụ linh mục của mình. 

#ConTinChúaƠi #ƠnGọi 


 

XÂY MỘ THẬT TO CHO CHA MẸ, HAY CHỈ ĐỂ GIỮ SĨ DIỆN VỚI THIÊN HẠ?

Có một phong trào ở nhiều vùng quê nghe thì vừa buồn cười, vừa khiến người ta phải suy nghĩ: người sống ở nhà cấp bốn, nhưng người chết lại ở trong “biệt phủ”.

Đi qua một số nghĩa trang, có khi ta bắt gặp những ngôi mộ lát đá bóng loáng, cổng tam quan, mái ngói, rồng chầu, hổ phục… nhìn xa cứ tưởng khu du lịch tâm linh.

Người ta hay nói vui: “Người sống ở tạm, người chết là vĩnh cửu, nên phải đầu tư.”

Nhưng nghĩ kỹ, đôi khi cái gọi là “đầu tư cho người đã khuất” lại là sự sĩ diện của người đang sống.

Có một ông ở quê, cả đời làm ruộng, nuôi ba người con.

Nhà vẫn là căn cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa thì dột, mùa hè nóng như cái lò.

Vợ ông nhiều lần bảo:

“Hay mình sửa lại căn nhà đi ông, khách đến còn có chỗ ngồi.”

Ông xua tay:

“Nhà mình ở tạm thôi bà ạ. Còn mộ các cụ là nơi nằm ngàn thu.”

Thế là ông vay tiền xây một khu lăng mộ rất lớn cho bố mẹ.

Ngày khánh thành, cả làng kéo đến xem.

Người thì xuýt xoa: “Đá này chắc đắt lắm!”

Người khác lại bảo: “Mộ còn đẹp hơn nhà tôi đang ở.”

Ông nghe vậy thì nở mày nở mặt.

Nhưng vài tháng sau, một hôm trời mưa lớn, mái nhà ông dột xuống mâm cơm.

Đứa cháu hỏi:

“Ông ơi, sao mình không sửa nhà?”

Ông im lặng một lúc rồi nói:

“Tiền đâu mà sửa?”

Cả nhà chẳng ai nói thêm câu nào.

Ngoài đồng, khu lăng mộ vẫn sừng sững, còn người sống thì ngồi trong căn nhà dột.

Đáng nói là chuyện này không chỉ xảy ra ở một gia đình.

Nhiều nơi, nghĩa trang còn được chăm chút hơn cả khu dân cư.

Người này xây mộ cao, người kia phải xây cao hơn.

Nhà trước lát đá hoa cương, nhà sau phải tìm đá nguyên khối.

Có người còn nói một câu nghe rất mạnh:

“Sống có thể nghèo, nhưng chết nhất định không được lép vế.”

Thế là cuộc đua sĩ diện bắt đầu.

Có cụ mới ngoài sáu mươi đã đi xem đất nghĩa trang, chọn hướng, chọn vị trí, chẳng khác gì người ta đi mua đất xây biệt thự.

Có người còn xây sẵn mộ từ khi mình vẫn đang khỏe mạnh.

Mỗi ngày đi tập thể dục lại ghé qua lau bụi, ngắm nghía.

Bạn bè hỏi:

“Ông làm sớm thế để làm gì?”

Ông cười:

“Chuẩn bị trước cho chủ động.”

Nghe thì vui, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là một điều đáng suy ngẫm.

Nhiều khi người ta không sống cho mình, mà sống cho ánh mắt của thiên hạ.

Đám cưới phải thật lớn.

Nhà phải thật đẹp.

Con cái phải thành đạt.

Và đến khi cha mẹ mất, khu mộ cũng phải thật hoành tráng.

Sợ nhất là hàng xóm nói:

“Nhà ấy làm ăn kém.”

“Con cái không có hiếu.”

“Không bằng nhà người ta.”

Thế là có gia đình vay tiền, bán tài sản, thậm chí con cái đi làm xa gửi tiền về… chỉ để xây một khu mộ thật lớn.

Trong khi cha mẹ lúc còn sống có khi chẳng được sửa cho căn nhà khỏi dột, chẳng được ăn một bữa ngon, chẳng được con cái thường xuyên hỏi han.

Đó mới là điều đáng nghĩ.

Bởi hiếu thảo không nằm ở việc viên đá granite dày bao nhiêu, ngôi mộ rộng bao nhiêu mét vuông.

Hiếu thảo nằm ở những năm tháng cha mẹ còn sống.

Là khi mẹ đau, con có ở bên không.

Là khi cha già yếu, con có hỏi một câu “Bố hôm nay khỏe không?” không.

Là khi cha mẹ còn sống, anh em có biết nhường nhịn nhau, có biết giữ cho gia đình được hòa thuận hay không.

Ngày xưa, những ngôi mộ đất đơn sơ vẫn được con cháu thắp hương, chăm sóc. Một bó hoa, một nén nhang, một tấm lòng nhớ thương… đôi khi còn quý hơn cả một khu lăng mộ bạc tỷ mà con cháu quanh năm cãi nhau vì tiền.

Một ngôi mộ đẹp không có gì sai.

Tưởng nhớ tổ tiên cũng là điều đáng quý.

Nhưng nếu xây mộ chỉ để hơn nhà hàng xóm, để giữ sĩ diện, để chứng minh mình giàu có, thậm chí phải vay nợ để làm cho bằng người ta, thì có lẽ chúng ta nên dừng lại và tự hỏi:

Người đã khuất thật sự cần một ngôi mộ thật lớn, hay chỉ mong con cháu còn sống biết yêu thương nhau?

Bởi cuối cùng, người chết không mang theo được sự hơn thua.

Còn người sống thì phải trả giá cho những cuộc đua ấy.

Có khi điều đẹp nhất để báo hiếu cha mẹ không phải là xây cho họ một nơi nằm thật nguy nga…

Mà là khi họ còn sống, ta cho họ một mái nhà đủ ấm, một bữa cơm đủ vui, một tuổi già đủ bình yên.

Mộ có thể nhỏ, nhưng lòng hiếu thảo đừng nhỏ.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm Cảm ơn các bác đã quan tâm theo dõi.

Xin chào và hẹn gặp lại!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm 


 

ICE từng âm thầm hợp tác với Iran trục xuất người Iran về nước

Ba’o Nguoi-Viet

August 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Giới chức di trú Mỹ âm thầm hợp tác với Iran để trục xuất người Iran về nước vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, theo hàng trăm email mới được công bố, CBS đưa tin hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tám.

Những email này được giới chức di trú Mỹ gửi cho nhau. Hội Đồng Quốc Gia Người Mỹ Gốc Iran (NIAC) lấy được những email này và công bố hôm Thứ Ba.

Đặc vụ di trú liên bang thi hành lệnh bắt giữ thành viên băng đảng ở Boston, Massachusetts hôm 9 Tháng Sáu. (Hình: ICE)

Theo những email này, hai bên hợp tác với nhau trục xuất hơn 100 người Iran bằng ba chuyến bay khác nhau vào Tháng Chín và Tháng Mười Hai, 2025 và Tháng Giêng, 2026.

Những email này cho thấy giới chức Iran cũng có tiếng nói trong việc trục xuất người Iran nào về nước, và có vẻ Cảnh Sát Di Trú Mỹ (ICE) làm theo một số điểm thay đổi vào phút chót trong danh sách trục xuất mà Iran yêu cầu.

“Theo Tòa Đại Sứ Iran yêu cầu, tôi đưa thêm vài trường hợp vào,” một giới chức ICE, không được nêu tên, viết trong email cuối Tháng Tám năm ngoái, một tháng trước chuyến bay trục xuất đầu tiên. Hơn một tuần sau, người nào đó cùng chức vụ lại điều chỉnh danh sách trục xuất sau khi cho hay họ vừa gặp “Giám đốc tại Tòa Đại Sứ Iran.”

“Iran vừa yêu cầu tôi sửa lại danh sách trước và đẩy nhanh thủ tục trục xuất,” giới chức này viết.

Hợp tác thực hiện những chuyến bay này vẫn là điều ưu tiên hàng đầu bất chấp giới chức ICE thừa nhận trong nội bộ rằng người Iran đang bỏ chạy khỏi đất nước giữa cuộc chiến 12 ngày của Mỹ và Israel với Iran hồi Tháng Sáu, 2025, theo những email này. Chuyến bay đầu tiên cất cánh chỉ vài tháng sau khi Mỹ và Israel đạt thỏa thuận ngưng bắn với Iran.

Sự hợp tác này đi ngược lại thông lệ hàng chục năm của Mỹ là sẵn sàng đón người bất đồng chính kiến, người lưu vong và nhiều người khác từ Iran kể từ khi Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Năm 1979 buộc rất nhiều người Iran bỏ nước ra đi.

Các tổ chức nhân quyền từng kịch liệt lên án trục xuất người Iran về quốc gia mà chính phủ có xu hướng bạo hành phụ nữ, nhóm tôn giáo thiểu số và người bất đồng chính kiến.

Tháng Chín, 2025, giới chức Iran thừa nhận có thể có tới 400 người Iran sẽ bị trục xuất theo thỏa thuận với chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Giới chức Iran cho hay hầu hết những người đó vượt biên bất hợp pháp từ Mexico vào Mỹ và một số người đang gặp vấn đề di trú.

Bộ Nội An (DHS), cơ quan giám sát ICE, chưa trả lời thư của CBS News yêu cầu nhận xét về thông tin này. (Th.Long) [kn]


 

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU – Truyen ngan HAY

Nguyen Quốc

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU

Khi giấc mơ đổi đời biến hôn nhân thành một canh bạc

Trong dân gian từng có câu:

“Bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.”

Một cách ví von cay nghiệt, thô ráp nhưng thường được dùng để nói về một người con gái xinh đẹp, hiền lành lại trao đời mình cho một người đàn ông không xứng đáng.

Ngày nay, câu nói ấy đôi khi xuất hiện trong những cuộc hôn nhân vượt biên giới: một cô gái trẻ chấp nhận lấy một người đàn ông từ Mỹ trở về, dù chưa hiểu rõ tính tình, quá khứ và hoàn cảnh của người ấy. Chỉ cần nghe hai chữ “Việt kiều”, thấy tấm hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc viễn cảnh được bảo lãnh sang Mỹ, nhiều người đã vội tưởng cánh cửa hạnh phúc đang mở ra.

Nhưng không phải con đường nào dẫn đến nước Mỹ cũng dẫn đến thiên đường. Và không phải người nào sống ở Mỹ cũng là người tử tế.

Tấm hộ chiếu không phải giấy chứng nhận nhân cách

Một trong những ngộ nhận nguy hiểm nhất là lấy nơi cư trú để đo phẩm giá con người.

Người sống tại Mỹ có thể thành đạt, lương thiện và có trách nhiệm. Nhưng cũng có thể là người thất nghiệp, nghiện ngập, cờ bạc, bạo hành, mang nợ hoặc đã trải qua nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ. Quốc tịch chỉ xác định quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia; nó không chứng minh người ấy biết yêu thương, chung thủy hay tôn trọng phụ nữ.

Tấm hộ chiếu có thể giúp người ta bước qua cửa khẩu, nhưng không thể bảo đảm người cầm nó có một trái tim tử tế.

Thẻ xanh có thể cho một người quyền cư trú, nhưng không thể trao cho họ phẩm hạnh.

Ngôi nhà ở Mỹ có thể rộng hơn căn nhà ở quê, nhưng nếu bên trong là sự kiểm soát, nhục mạ và bạo hành thì đó vẫn chỉ là một nhà tù được trang trí đẹp đẽ.

Bởi vậy, lấy chồng chỉ vì người ấy “có quốc tịch Mỹ” là đặt cả cuộc đời vào một canh bạc mà phần thua thường thuộc về người phụ nữ.

Khi hôn nhân bị biến thành con đường xuất cảnh

Không thể phủ nhận rằng có những phụ nữ mong muốn kết hôn với Việt kiều để tìm một tương lai ổn định hơn. Đằng sau lựa chọn ấy có thể là hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trách nhiệm với cha mẹ, mong muốn giúp đỡ gia đình hoặc khát vọng thoát khỏi một môi trường sống bế tắc.

Chúng ta có thể hiểu ước mơ ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là phải tô hồng nó.

Khi mục tiêu “đi Mỹ” trở nên lớn hơn mục tiêu tìm một người chồng tốt, hôn nhân rất dễ biến thành một cuộc trao đổi: một bên trao tuổi trẻ và tình cảm; bên kia trao lời hứa bảo lãnh cùng viễn cảnh định cư.

Trong cuộc đổi chác ấy, cả hai có thể bắt đầu bằng sự tính toán. Nhưng người phụ nữ thường là người chịu nhiều rủi ro hơn. Cô phải rời gia đình, bỏ lại bạn bè, bước vào một xã hội xa lạ và phụ thuộc vào người chồng về ngôn ngữ, tiền bạc, phương tiện đi lại cũng như thủ tục pháp lý.

Nếu gặp người tử tế, đó có thể là khởi đầu của một gia đình hạnh phúc. Nếu gặp kẻ lợi dụng, cô gần như bị đặt vào thế cô lập giữa một đất nước rộng lớn mà không biết phải cầu cứu ai.

Cái giá của một quyết định vội vàng khi ấy không chỉ là một cuộc ly hôn. Nó có thể là những năm tháng bị kiểm soát, đánh đập, xúc phạm, cưỡng ép, cô lập hoặc đe dọa bằng hồ sơ di trú.

Hào quang Việt kiều và những chiếc mặt nạ

Có người ở nước ngoài trở về quê với quần áo sang trọng, thuê xe đẹp, tổ chức những bữa tiệc lớn và kể về một cuộc sống giàu có. Nhưng vài tuần xuất hiện ở Việt Nam không đủ để chứng minh cuộc sống thật của họ ở Mỹ.

Chiếc xe có thể là xe thuê. Tiền tiêu trong chuyến về quê có thể là tiền vay. Ngôi nhà trong ảnh có thể không thuộc về họ. Công việc được giới thiệu là “kỹ sư”, “doanh nhân” hoặc “chủ hãng” đôi khi chỉ là câu chuyện được dựng lên để gây ấn tượng.

Đáng sợ hơn, có người cố tình tìm một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm và yếu tiếng Anh vì họ biết cô sẽ dễ phụ thuộc, khó phản kháng và ít hiểu quyền lợi của mình.

Đó không còn là tình yêu. Đó là việc sử dụng ưu thế quốc tịch và kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát.

Tình yêu chân thành không sợ sự kiểm chứng. Một người đàn ông nghiêm túc sẽ không ngăn người phụ nữ tìm hiểu về công việc, tình trạng hôn nhân, tài chính và quá khứ của mình. Anh ta cũng không thúc ép cưới gấp, không dùng lời hứa bảo lãnh để buộc cô phải phục tùng và không xem số tiền gửi về cho gia đình cô như giá mua quyền sở hữu cuộc đời cô.

Nhưng đừng biến người phụ nữ thành bị cáo

Khi một cuộc hôn nhân như thế đổ vỡ, xã hội thường rất nhanh miệng:

“Ham đi Mỹ thì chịu.”

“Tham giàu nên mới khổ.”

“Biết người ta lớn tuổi vẫn lấy.”

Những lời ấy dễ nói, nhưng đôi khi tàn nhẫn hơn chính hoàn cảnh mà người phụ nữ đang phải chịu đựng.

Đúng là mỗi người phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nhưng không phải mọi lựa chọn đều được thực hiện trong điều kiện bình đẳng. Có người thiếu thông tin. Có người bị lừa dối. Có người chịu áp lực từ gia đình. Có người lớn lên trong nghèo khó nên nhìn thấy một lối thoát mà không nhận ra chiếc bẫy nằm phía sau.

Một quyết định thiếu sáng suốt không trao cho bất kỳ người chồng nào quyền đánh đập, sỉ nhục, cưỡng ép hoặc giam cầm vợ mình.

Không ai đáng bị bạo hành chỉ vì từng mơ ước đổi đời.

Không ai mất quyền được bảo vệ chỉ vì đã lựa chọn sai một người.

Và một người phụ nữ từng đặt niềm tin nhầm chỗ không vì thế mà mất đi phẩm giá.

“Bông hoa lài” vẫn là bông hoa lài. Nơi nó từng bị đặt xuống không quyết định giá trị và hương thơm của nó.

Nỗi đau của những người mẹ

Trong nhiều gia đình, chính cha mẹ cũng góp phần thúc đẩy con gái lấy chồng Việt kiều. Họ nghĩ rằng con sang Mỹ sẽ có cuộc sống sung túc rồi gửi tiền về giúp gia đình. Đám cưới đôi khi được xem như ngày cả nhà đổi vận.

Nhưng cha mẹ cần tự hỏi: mình đang gả con cho một con người hay gửi con theo một tấm vé xuất cảnh?

Một người đàn ông có nhà, có xe và có quốc tịch chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho con gái mình. Điều cần tìm hiểu không chỉ là anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là anh ta đối xử với cha mẹ, người vợ cũ, con riêng, đồng nghiệp và những người yếu thế như thế nào.

Đừng vì mong con đổi đời mà đẩy con vào một cuộc đời không lối thoát.

Tiền con gửi về không thể bù được những đêm con khóc một mình nơi đất khách. Căn nhà mới xây ở quê không thể che lấp những vết thương trên thân thể và tâm hồn của con. Niềm tự hào “có con lấy chồng Mỹ” cũng không đáng giá bằng sự bình an của chính người con gái ấy.

Muốn lấy chồng xa, càng phải tỉnh táo

Tình yêu xuyên biên giới không có gì đáng lên án. Rất nhiều gia đình Việt–Mỹ được xây dựng bằng tình yêu chân thành, sự hy sinh và lòng tôn trọng. Điều cần phê phán không phải là việc lấy chồng Việt kiều, mà là tâm lý lấy chồng bằng mọi giá chỉ để được đi Mỹ.

Trước hôn nhân, người phụ nữ cần có quyền và trách nhiệm tìm hiểu:

* Tình trạng hôn nhân thực tế của người ấy.

* Công việc, thu nhập, nơi ở và trách nhiệm tài chính.

* Tiền án, tiền sự hoặc lịch sử bạo hành nếu có.

* Quan hệ với vợ cũ và con riêng.

* Thái độ đối với phụ nữ, tiền bạc và quyền tự do cá nhân.

* Kế hoạch học tập, làm việc và hội nhập của người vợ sau khi sang Mỹ.

* Khả năng tự lập nếu cuộc hôn nhân không diễn ra như mong đợi.

Quan trọng nhất, đừng giao toàn bộ giấy tờ, tiền bạc và tương lai cho người phối ngẫu. Hãy học tiếng Anh, tìm hiểu pháp luật, duy trì liên lạc với gia đình và xây dựng khả năng tự đứng trên đôi chân của mình.

Một tình yêu bắt buộc người phụ nữ phải mù quáng không phải là tình yêu lành mạnh.

Một người đàn ông phản đối việc người vợ tìm hiểu quyền lợi của mình thường không tìm kiếm một người bạn đời; anh ta đang tìm kiếm một người lệ thuộc.

Hạnh phúc không mang quốc tịch

Người phụ nữ Việt Nam không cần một người chồng giàu nhất, sang trọng nhất hay sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực nhất. Điều cô cần là một người biết tôn trọng, biết giữ lời, biết chia sẻ trách nhiệm và không dùng tiền bạc để định giá vợ mình.

Thà sống giản dị bên một người tử tế còn hơn sống trong căn nhà lớn với một kẻ xem vợ như tài sản.

Thà tự mình bước đi chậm rãi còn hơn ngồi trên chiếc xe hào nhoáng chạy thẳng vào bất hạnh.

Thà ở lại quê nhà trong phẩm giá còn hơn sang Mỹ bằng một cuộc hôn nhân khiến mình đánh mất tự do và lòng tự trọng.

Nước Mỹ không có lỗi. Ước mơ đi Mỹ cũng không có lỗi. Nhưng biến hôn nhân thành phương tiện xuất cảnh là một lựa chọn chứa đầy nguy hiểm. Bởi khi người ta bước vào hôn nhân vì một đất nước thay vì một con người, đến lúc giấc mơ địa lý phai màu, họ có thể phải đối diện với sự thật rằng mình chưa từng biết người nằm bên cạnh là ai.

Lời kết: Đừng lấy một tấm hộ chiếu

Xin đừng hỏi người đàn ông ấy có thể đưa con gái mình đến quốc gia nào. Hãy hỏi anh ta có thể đưa cô ấy đến một cuộc đời như thế nào.

Xin đừng nhìn chiếc xe anh ta lái khi về Việt Nam. Hãy nhìn cách anh ta đối xử với người phục vụ, với cha mẹ, với vợ cũ và với những người không thể đem lại lợi ích cho anh ta.

Xin đừng nghe anh ta hứa sẽ cho cô gái những gì. Hãy quan sát những điều anh ta sẵn sàng hy sinh và chịu trách nhiệm.

Và xin nhắn với những cô gái đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân:

Đừng lấy nước Mỹ.

Đừng lấy thẻ xanh.

Đừng lấy những bức ảnh hào nhoáng.

Đừng lấy lời hứa đổi đời.

Hãy lấy một con người có nhân cách.

Bởi hôn nhân không phải chuyến bay một chiều đi tìm miền đất hứa. Đó là hành trình dài giữa hai con người bình đẳng. Nếu không có tình yêu, sự hiểu biết và lòng tôn trọng, dù điểm đến là Hoa Kỳ, cuối con đường vẫn có thể chỉ là cô đơn.

Đừng để một bông hoa lài phải sống cả đời trong nơi không xứng đáng với hương thơm của nó.

Nhưng nếu chẳng may đã đặt nhầm niềm tin, xin cũng đừng cúi đầu chịu đựng. Một bông hoa bị vùi xuống bùn vẫn có quyền vươn lên tìm ánh sáng.

Phẩm giá của người phụ nữ không nằm trong tay người đàn ông đã cưới cô. Phẩm giá ấy thuộc về chính cô và không một cuộc hôn nhân, một tấm hộ chiếu hay một giấc mơ dang dở nào có quyền tước đoạt.

Nói cho cùng, thường thì những thanh niên thành công và ngon lành ở Mỹ thì không rãnh để về Việt Nam cưới vợ đâu… hầu hết là dạng cà lơ phất phơ ở Mỹ.

Còn những đàn ông lớn tuổi thì đa số là bị vợ bỏ nên mới về Việt Nam lấy vợ đưa qua Mỹ rồi bị vợ bỏ tiếp…

Quốc Nguyên

(Người về từ lòng đại dương) 


 

Nữ thực tập sinh gốc Việt, cư dân Texas, tố cáo bị hiếp dâm ở Phú Thọ

Ba’o Nguoi-Viet

August 19, 2026

PHÚ THỌ, Việt Nam (NV) – Hôm 17 Tháng Tám, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ đã khởi tố bị can Nguyễn Minh Hiếu, 23 tuổi, ở phường Từ Liêm, Hà Nội, về tội “hiếp dâm” theo đơn tố giác của cô NTQT., 24 tuổi, quốc tịch Mỹ, xảy ra tại một khu nghỉ dưỡng ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Cơ quan điều tra cấm bị can Hiếu đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh để phục vụ quá trình tố tụng.

Dãy phòng nhà nghỉ SK, trong đó có phòng SK125, nơi cô QT tố giác bị hiếp dâm. (Hình: Phụ Nữ Việt Nam)

Theo báo Phụ Nữ Việt Nam, cô QT tốt nghiệp Đại Học Texas A&M vào Tháng Năm, 2025, và dự trù sẽ tốt nghiệp thạc sĩ vào Tháng Mười Hai tới tại Đại Học St. Thomas, thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Theo lời kể của cô T., cô nhập cảnh Việt Nam hôm 8 Tháng Năm vừa qua để tới Hà Nội tham gia một chương trình thực tập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại LPBank.

Thông qua bạn bè, cô T. quen một nhóm bạn trẻ tại Hà Nội và được họ mời tham gia chuyến nghỉ dưỡng tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Trước chuyến đi, cô được thông báo nhóm có sáu người và không nghe nói có bị can Hiếu tham gia. Chỉ đến khi tập trung xuất phát, cô T. mới biết anh ta cũng có tham gia với đoàn.

Tối 4 Tháng Bảy, tại khu nghỉ dưỡng, cô T. cùng nhóm bạn ăn tối, hát karaoke và được mời uống rượu khá nhiều. Sau đó, cô trở về căn hộ SK125 tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times nghỉ ngơi.

Cũng theo cô T., rạng sáng 5 Tháng Bảy, tại phòng ngủ trên tầng một căn hộ SK125, bị can Nguyễn Minh Hiếu đã dùng sức khống chế cưỡng dâm cô, mặc dù nhiều lần bị cô phản kháng, yêu cầu dừng lại nhưng anh ta không buông tha.

Khi trở về Hà Nội, sức khỏe và tâm lý cô T. bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường như đau rát vùng kín, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn, không thể ăn uống bình thường. Thậm chí, có những lúc cô T. không kiểm soát được cảm xúc và cảm thấy vô cùng cô độc. Tình trạng tâm lý, theo nạn nhân là “nghiêm trọng đến mức phải vào bệnh viện điều trị nội trú.”

Những tổn thương tâm lý khiến cô T. chưa thể trình báo với nhà chức trách ngay sau sự việc.

Sau khi được tư vấn pháp lý và hiểu rõ quyền của mình theo luật pháp Việt Nam, nạn nhân gọi cho cha mình bay từ Mỹ về Việt Nam để làm rõ trắng đen, mặc dù gia đình bị can Hiếu lên tiếng sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để hòa giải.

Hôm 20 Tháng Bảy, cô T. đã đến Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Hà Nội để thông báo sự việc và để được sự hỗ trợ lãnh sự dành cho công dân Mỹ.

Thông báo khởi tố vụ án của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ. (Hình: FB Lê Quốc Vinh)

Sang ngày 21 Tháng Bảy, cô T. đến trình báo với cơ quan Công An Tỉnh Phú Thọ, cùng luật sư cung cấp lời khai, tài liệu và thông tin có liên quan đến sự việc.

“Điều khiến tôi và gia đình càng bất an là trong thời gian tôi nằm viện, người bị tôi tố giác và gia đình họ đã biết chính xác nơi tôi điều trị và tìm đến bệnh viện. Việc họ xuất hiện tại nơi điều trị khiến tôi vô cùng hoảng sợ, khiến tình trạng tâm lý trở nên nghiêm trọng hơn. Sau đó, tôi phải rời khỏi nơi đang điều trị để tìm một chỗ ở mà mình cảm thấy an toàn hơn,” cô T. trình bày trong đơn.

Bộ Công An Việt Nam hiện đang thu thập tài liệu, chứng cứ và phối hợp với Viện Kiểm Sát Tỉnh Phú Thọ để củng cố hồ sơ xử lý theo quy định. Sự việc này mang yếu tố “ngoại giao đặc biệt” vì nạn nhân là công dân Hoa Kỳ.

Được biết, gia đình nạn nhân cũng đã thông báo tới các văn phòng Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ như John Cornyn và Ted Cruz của tiểu bang Texas.

“Giờ đây, tôi không còn đấu tranh chỉ vì bản thân mình nữa. Tôi đấu tranh vì mọi nạn nhân từng bị buộc phải im lặng, bị làm nhục hoặc rơi vào thế yếu thế, bởi lẽ hệ thống [pháp luật Việt Nam] thường xuyên bỏ mặc những người thiếu tiền bạc, quyền lực hay các mối quan hệ.

Những gì tôi đã trải qua thật kinh khủng, nhưng tôi tin rằng Chúa đặt tôi vào hoàn cảnh này đều có lý do. Kinh Thánh dạy chúng ta phải lên tiếng bênh vực những người không thể tự lên tiếng và bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế. Tôi tin Chúa đã ban cho tôi sức mạnh và tiếng nói để tiếp tục hành trình này, không chỉ vì bản thân, mà còn vì những người không có tiếng nói, quyền lực hay tiền bạc để đấu tranh cho công lý tại Việt Nam…,” cô QT bày tỏ với truyền thông. (Tr.N) [kn]


 

Phụ nữ Việt trong ngành nail ở California và câu chuyện phía sau bàn làm móng

Ba’o Nguoi -Viet

August 18, 2026

SACRAMENTO, California (NV) – Cô Trish Nguyễn nhớ quãng thời gian làm móng tay và làm chân tại một tiệm nail ở Westminster, Orange County. Mùi acetone quanh bàn làm việc thường khiến cô chảy nước mắt, nước mũi như bị dị ứng. Đó là mở đầu bài viết “Module 4: Nail Salon Workers: Ethnic Labor Migration” của hai tác giả Tracy Lai và Kim Geron trên trang web Foundations and Futures mới đây.

Foundations and Futures là một cơ quan truyền thông đa dạng, thuộc Đại Học UCLA, chuyên viết về cuộc sống người gốc Châu Á-Thái Bình Dương ở Hoa Kỳ.

Người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng thợ nail tại California, một ngành tạo sinh kế cho nhiều gia đình di dân. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Theo bài báo, những người làm nail là một lực lượng lao động đông đảo, phần lớn là phụ nữ di dân, với những vấn đề kéo dài về tiền lương, sức khỏe tại nơi làm việc, và cách phân loại người lao động.

Từ sinh kế của người tị nạn đến một ngành dịch vụ phổ biến

Đầu thế kỷ 20, làm móng tại tiệm còn là dịch vụ xa xỉ, chủ yếu dành cho phụ nữ khá giả. Sang thập niên 1970, những dụng cụ mới giúp rút ngắn thời gian làm móng tay và chân, cùng lúc nhiều phụ nữ di dân và tị nạn gốc Á bước vào nghề. Trong số đó, phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nổi bật, góp phần đưa nail từ một dịch vụ đắt tiền thành lựa chọn quen thuộc của cả tầng lớp trung lưu lẫn người có thu nhập thấp.

Dấu ấn ấy đặc biệt rõ tại California. Năm 2023, tiểu bang có 127,480 giấy phép hành nghề nail còn hiệu lực, trong khi dữ liệu doanh nghiệp năm 2021 ghi nhận 6,147 tiệm. Gần một nửa thợ nail ở California tập trung tại ba quận hạt Los Angeles, Orange, và San Diego. Riêng Orange County chiếm khoảng 17% lực lượng thợ và 11% số tiệm. Trong lực lượng này, phụ nữ chiếm đa số, phần lớn là người gốc Á Châu và sinh ra bên ngoài nước Mỹ, trong đó người gốc Việt chiếm tỉ lệ rất cao.

Ngành nail tại California chủ yếu gồm những cơ sở nhỏ. Khoảng 69% tiệm có dưới năm nhân viên và thêm 22% có từ năm đến chín người. Quy mô ấy cho thấy nghề nail gắn chặt với sinh kế của nhiều gia đình di dân, đồng thời cũng khiến các chủ tiệm phải xoay xở giữa tiền lương, chi phí bảo hiểm, yêu cầu an toàn, và áp lực cạnh tranh về giá.

Thu nhập vẫn là bài toán khó của thợ nail

Quy mô của ngành nail khá lớn, nhưng thu nhập của người thợ vẫn ở mức thấp. Theo Foundations and Futures, khoảng 78% thợ nail thuộc nhóm lao động lương thấp, được xác định là có thu nhập dưới 2/3 mức lương trung vị (median) của người làm việc toàn thời gian. Trong các ngành nghề nói chung, tỉ lệ này chỉ khoảng 33%. Tiền tip giữ vai trò đáng kể trong thu nhập của thợ, dù trên thực tế nhiều người vẫn có những ngày làm việc mà gần như không nhận được khoản này.

Áp lực thu nhập của thợ lại gắn với sức ép mà các tiệm nhỏ phải chịu. Việc tuân thủ các quy định về lao động, sức khỏe và an toàn có thể làm chi phí kinh doanh tăng, trong khi chủ tiệm vẫn phải cạnh tranh với những cơ sở giữ giá dịch vụ thấp hơn nhờ cắt giảm các khoản chi cần thiết. Chính mối quan hệ giữa giá dịch vụ, tiền công của thợ, và chi phí bảo đảm điều kiện làm việc khiến bài toán sinh kế trong ngành nail trở nên phức tạp hơn nhiều so với tên tuổi của một ngành nghề phổ biến và có giá dịch vụ phải chăng.

Hóa chất và sức khỏe của thợ nail

Mùi acetone mà cô Trish Nguyễn nhớ trong những ngày làm việc tại Westminster chỉ là một phần của môi trường nghề nghiệp trong tiệm nail. Foundations and Futures cho biết thợ thường phải ngồi nhiều giờ để mài, cắt, sơn, và đánh bóng móng trong những không gian thông gió kém, qua đó tiếp xúc thường xuyên với hóa chất. Cơ Quan Quản Lý An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp (OSHA) cũng cảnh báo một số sản phẩm làm móng có chứa acetone, formaldehyde, và các hợp chất methacrylate. Việc tiếp xúc kéo dài có thể gây ngứa mắt, da, mũi và họng, đau đầu, hen suyễn cùng nhiều vấn đề sức khỏe khác.

Thợ nail thường làm việc nhiều giờ trong môi trường tiếp xúc với hóa chất, đặt ra những yêu cầu ngày càng rõ ràng hơn về an toàn sức khỏe và điều kiện lao động. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Một trở ngại khác nằm ở việc thông tin an toàn không phải lúc nào cũng đến được với người thợ bằng ngôn ngữ họ sử dụng thành thạo. Foundations and Futures cho biết nhiều người chưa được huấn luyện đầy đủ về cách ứng phó với hóa chất, trong khi tài liệu hướng dẫn an toàn có thể chưa được dịch sang ngôn ngữ chính của họ. Với một lực lượng lao động có tỉ lệ người sinh ngoài nước Mỹ rất cao, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự bảo vệ trong công việc. California hiện có Chương Trình Công Nhận Tiệm Nail Lành Mạnh (Healthy Nail Salon Recognition Program – HNSR) do Cơ Quan Kiểm Soát Chất Độc Hại California (DTSC) phụ trách. Chương trình cho phép các địa phương công nhận những tiệm nail tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn nhằm giảm mức tiếp xúc với hóa chất và cải thiện điều kiện an toàn cho cả thợ lẫn khách hàng.

W-2 hay 1099 ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người thợ nail

Một vấn đề quan trọng trong ngành nail là người thợ được xếp vào diện nhân viên (employee) hay nhân viên làm việc độc lập (independent contractor). Foundations and Futures cho biết gần 1/3 thợ nail tại California được xếp vào nhóm tự làm chủ, tức là “independent contractor,” cao gấp ba tỉ lệ của lao động trong các ngành khác. Cách phân loại này ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương và các quyền lợi đi kèm.

Theo luật Mỹ, nhân viên được trả lương và khai thuế dạng W-2, còn nhân viên làm việc độc lập được trả lương theo dạng 1099.

Nhân viên (W-2) được bảo vệ về lương tối thiểu, làm thêm giờ, nghỉ bệnh, giờ nghỉ, và bồi thường tai nạn lao động, trong khi nhà thầu độc lập (1099) có ít quyền lợi hơn.

Tại California, từ ngày 1 Tháng Giêng, 2025, cách xác định thợ nail là nhân viên hay nhà thầu độc lập được áp dụng chặt chẽ hơn. Theo Bộ Quan Hệ Lao Động California (DIR), người làm việc tại tiệm nail thường được xem là nhân viên. Chỉ khi chủ tiệm chứng minh người thợ thực sự làm việc độc lập và đáp ứng đủ ba điều kiện của bài kiểm tra ABC, người đó mới có thể được xếp là nhà thầu độc lập. Việc trả tiền theo mẫu 1099 hoặc gọi người thợ là “contractor” chưa đủ để xác định họ là nhà thầu độc lập.

Từ sức khỏe đến tổ chức lao động

Năm 2005, một nhân viên của Asian Health Services ở Oakland nhận thấy nhiều thợ nail Việt Nam có những vấn đề sức khỏe giống nhau. Từ đó, tổ chức này hỗ trợ thành lập Liên Minh Tiệm Nail Lành Mạnh California (California Healthy Nail Salon Collaborative – CHNSC), ban đầu tập trung vào vấn đề hóa chất an toàn và điều kiện làm việc, sau đó mở rộng sang vấn đề tiền lương và quyền lợi lao động.

Các chiến dịch tương tự sau đó lan tới New York, Boston, Seattle, và Minneapolis. Tại New York, giới vận động cho thợ nail góp phần thúc đẩy dự luật “Nail Salon Workers’ Bill of Rights” năm 2015, trong đó đưa ra mức lương hợp pháp, các biện pháp bảo vệ sức khỏe, đường dây báo vi phạm, và yêu cầu cung cấp phiên dịch nội dung kỳ thi cấp phép sang nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt.

Việc thực thi luật cũng tiếp tục được siết chặt. Năm 2024, Bộ Lao Động Mỹ (DOL) buộc chủ ba tiệm nail tại Rhode Island trả $753,500 tiền lương còn thiếu và bồi thường nhân viên, đồng thời chấm dứt hành vi trả đũa người lao động. Những diễn biến này cho thấy vấn đề bảo vệ thợ nail ngày nay bao gồm cả sức khỏe, tiền lương, địa vị việc làm, và quyền lên tiếng tại nơi làm việc.

Một tiệm nail lớn của người Việt ở Orange County (Hình minh họa: Facebook Kim Tran).

Một phần khác của câu chuyện nghề nail

Nghề nail từ lâu là một trong những dấu ấn kinh tế rõ rệt nhất của cộng đồng Việt tại Mỹ. Nghề này tạo sinh kế cho hàng chục ngàn gia đình, mở đường cho nhiều người từ thợ lên chủ và góp phần thay đổi một ngành dịch vụ. Các nghiên cứu lao động bổ sung cho phần ít xuất hiện trong câu chuyện ấy. Đó là mức lương thấp, phơi nhiễm hóa chất, sự phức tạp của W-2 và 1099, cùng khoảng cách giữa luật trên giấy và sự thực thi tại hàng ngàn tiệm nail nhỏ.

Với California, đặc biệt là Orange County, những vấn đề của ngành nail tồn tại ngay trong đời sống cộng đồng. Triển vọng duy trì hoạt động của các tiệm nail luôn gắn chặt với tiền lương, phúc lợi, điều kiện thông gió, mức độ an toàn của hóa chất, và việc xác định địa vị lao động của người thợ. Từ sinh kế của những gia đình tị nạn thuở ban đầu, nghề nail của người Việt ngày nay đã đi một chặng đường dài và tạo nên dấu ấn rõ nét trong đời sống kinh tế địa phương. Chặng đường phía trước sẽ được đo bằng phẩm chất việc làm, sức khỏe, và mức độ bảo đảm quyền lợi cho những người vẫn ngồi bên bàn nail mỗi ngày. (T.C.) [đ.d.]


 

Một danh y vừa qua đời

Lão Ngoan Đồng

 Một danh y vừa qua đời

Đó là Giáo sư Trần Ngọc Ninh, một cựu giáo sư y khoa của Y khoa Đại học Đường Sài Gòn ngày xưa. Ông cũng là một cựu Thuyền Nhân. Ông mới qua đời ngày 16/7/2025 tại Nam California, thọ 103 tuổi [1]. Ông ra đi nhưng đã để lại một di sản đồ sộ mà có lẽ giới bác sĩ và sinh viên ngày nay ít biết tới.

GS Trần Ngọc Ninh sanh ngày 6/11/1923 tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở Ninh Bình. Theo bài viết của BS Ngô Thế Vinh [1], lúc nhỏ thân phụ ông là một giáo viên nghèo, và có lúc gia đình không đủ ăn, nên khi còn đi học, ông viết bài cho các tạp chí y khoa phổ thông như Vui Sống dưới bút danh Kỳ Ngọc để kiếm sống.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh bắt đầu hành trình học vấn tại Trường Bưởi (1939), chuyển từ khoa Toán sang Y khoa. Ông nội trú tại Bệnh viện Hà Nội (1946-1948), hoàn thành luận văn tiến sĩ y khoa năm 1948, và làm bác sĩ tại Bệnh viện Yersin, Hà Nội (1948-1952). Từ 1952-1954, ông du học tại Pháp và Anh, chuyên sâu về phẫu thuật cột sống và nhi khoa.

Sau Hiệp định Genève (1954), ông di cư vào Nam cùng với GS Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu, Đào Đức Hoành, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Cát, giảng dạy tại Y khoa Đại học đường Sài Gòn, trở thành Giáo sư Phẫu thuật Chỉnh hình và Nhi khoa (1961-1967) và Trưởng khoa Phẫu thuật Chỉnh hình, Bệnh viện Bình Dân (1956-1977). Ông từng đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Văn hóa và Xã hội phụ trách Giáo dục (1966-1967), sáng lập SEAMEO (1967), và tham gia các ủy ban văn hóa, giáo dục (1968-1975).

Sau 1975, toàn hệ thống giáo dục bị thay đổi và cũng có tác động đến cá nhân ông. Cuộc sống của ông và đồng nghiệp như GS Phạm Biểu Tâm, GS Hoàng Tiến Bảo, GS Nguyễn Đình Cát phải đi làm bằng xe đạp mỗi ngày đến bệnh viện. Ngoài việc chăm sóc bệnh nhân và giảng dạy sinh viên, các giáo sư còn phải làm thêm các công việc không liên quan đến y khoa, như lau chùi nhà vệ sinh và đổ rác. Ông kể rằng “Tôi không thể quên cảnh Giáo sư Phạm Biểu Tâm, trong khi lau chùi nhà vệ sinh tại Bệnh viện Bình Dân, bị ngã và bị bầm tím. Giáo sư Tâm rất sợ vợ mình lo lắng, nên đã dặn các đồng nghiệp không được thông báo cho bà.”

Sau 1975 GS Trần Ngọc Ninh không được trọng dụng vì quan điểm Y khoa Khoa học của ông không được những người mới đón nhận. Ông kể lại là từng nói với các tân sinh y khoa năm 1977 rằng: 

“Các anh chị là những sinh viên cuối cùng mà tôi sẽ dạy Y khoa Khoa học. Tôi sẽ không dạy nữa. Từ năm sau, tôi chỉ dạy Y khoa Nhân dân. Và các anh chị phải cố gắng theo những gì tôi dạy. Đừng quên rằng các anh chị là những người thừa kế cuối cùng của Y khoa Khoa học.”

Năm 1977, ông vượt biển đến Mã Lai Á, định cư tại Mĩ, thi lại các chứng chỉ y khoa (1978-1980) và hành nghề tại Nam California. Ông tích cực tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, là thành viên Ban Cố vấn (2000) và Hiệu trưởng Viện Việt Học (2003-2008), giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt.

Ông là một danh y, nhưng cũng nổi tiếng như là một nhà văn hoá học. Ông viết nhiều tiểu luận về văn hoá, và sau này tập hợp thành một cuốn sách. Ông còn là một nhà nghiên cứu về Phật học thâm sâu. Mấy mươi năm trước, tôi tìm tòi về văn hoá và đọc được nhiều ý kiến hay của ông.

GS Trần Ngọc Ninh đã sống một cuộc đời trọn vẹn, để lại di sản rực rỡ trong cả y khoa và văn hóa Việt Nam. Không chỉ xuất sắc trong lãnh vực y học, ông còn là một nhà văn hóa uyên thâm, với những tác phẩm sâu sắc về văn hóa, giáo dục, và ngữ pháp tiếng Việt, thể hiện khát vọng xây dựng một Việt Nam hiện đại, hòa bình. Dù trải qua những biến cố lịch sử, ông luôn giữ vững tinh thần trí thức, cống hiến không ngừng nghỉ cho đến tuổi 103. Sự ra đi thanh thản của ông tại Nam California, bên cạnh người vợ quá cố, với bia mộ giản dị mang pháp danh “Orgyen Karma,” là biểu tượng cho một cuộc đời tận tụy vì lí tưởng và nhân văn.

[1] https://vietecologypress.blogspot.com/…/professor-tran…

Những tác phẩm và tiểu luận của GS Trần Ngọc Ninh:

Về Văn hóa

  • Những Vấn đề Văn hóa, Giáo dục và Xã hội (tập hợp các bài phát biểu của Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Bộ trưởng Văn hóa và Xã hội phụ trách Giáo dục, Cộng hòa Việt Nam). Sài Gòn, Việt Nam, 1966.
  • Văn hóa Dân tộc trước những Nhu cầu của Đất nước. Nhà xuất bản Vovinam, Sài Gòn, Việt Nam, 1969.
  • Đức Phật Giữa Chúng Ta. Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn, Việt Nam, 1972.
  • Làm Gì? (Tập Luận đề Tháng Chín). Bút danh Trần Lê. Nhà xuất bản Việt Nam Hải Ngoại, California, 1979.
  • Tuyết Xưa. Tuyển tập các bài viết về các vấn đề văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Khởi Hành, California, 2000.
  • Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh. Những giả thuyết mới về Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh, cũng như mối quan hệ giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Nhà xuất bản Khởi Hành & Viện Việt Học, California, 2004.
  • Cơ Cấu Việt Ngữ. Nhà xuất bản Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973; tái bản bởi Viện Việt Học, California, 2009.
  • Dạy Đọc Dạy Viết Tiếng Việt. Viện Việt Học, California, 2010.
  • Ước Vọng Duy Tân: Văn Hóa, Huyền Thoại, Văn Học Sử. Tuyển tập tác phẩm của Trần Ngọc Ninh. Viện Việt Học, California, 2012.
  • Ngữ Pháp Việt Nam. Viện Việt Học, California, 2017.
  • Ngữ Pháp Tiếng Việt Đầu Tiên.
  • Giới thiệu Ngữ pháp Tiếng Việt cho lứa tuổi từ 5 đến 15. Viện Việt Học, California, 2017.

Về Y học

  • Nhà Thương, Phỏng vấn. Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội, 1946.
  • Thượng Kinh Ký Sự. Éthique Médicale de la Médecine Traditionnelle du Vietnam, d’après les Mémoires d’un Voyage à la Capitale de Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ 18). Isis, Bruxelles, Belgique, 1950.
  • Những Bệnh Cần Cấp Cứu. Nhà xuất bản Gió Việt, Sài Gòn, 1956.
  • Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Nhà xuất bản Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000.
  • Lịch sử hình thành hai Chuyên khoa Y học: Phẫu khoa Chỉnh trực và Phẫu Nhi khoa ở Việt Nam. Nhà xuất bản Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000.
  • Hơn 200 bài nghiên cứu chuyên ngành được đăng trên các tạp chí y khoa tại Việt Nam, Pháp, và Hoa Kỳ.

DANH MỤC BÀI BÁO

Ngoài các sách đã xuất bản và các bài nghiên cứu chuyên ngành trên các tạp chí y khoa Việt Nam và quốc tế, Giáo sư Trần Ngọc Ninh còn viết nhiều bài về các chủ đề văn hóa. Dưới đây là danh sách các bài viết của ông trên ba tạp chí được số hóa: Tình Thương, Bách Khoa, và Thế Kỷ 21, do thủ thư Phạm Lệ Hương của Viện Văn hóa và Văn học Việt Nam (Viện Việt Học) sưu tập.

TÌNH THƯƠNG

  • Y học và Chính trị / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 1 (Tháng 1, 1964), tr. 9–10.
  • Mười lăm năm trước, Kỷ niệm về Triều Sơn / Trần Ngọc [bút danh của Trần Ngọc Ninh]. Tình Thương, Số 1 (Tháng 1, 1964), tr. 46–50.
  • Các vấn đề hiện tại trong Giáo dục Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 3–4 (Tháng 3–4, 1964), tr. 9–11.
  • Tinh thần Đại học; hoặc một bài luận về Khái niệm Đại học / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 5 (Tháng 5, 1964), tr. 6–12.
  • Phỏng vấn các Giáo sư Đại học về các vấn đề Sinh viên — Ngô Thế Vinh & Nguyễn Hữu Ân: Phỏng vấn Giáo sư Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 12 (Tháng 12, 1964), tr. 6–7.
  • Tương lai của Giáo dục Y khoa Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 14 (Mùa Xuân Ất Tỵ, Tháng 1, 1965), tr. IV–VI.
  • Các vấn đề Thanh niên và Sinh viên trong Thời đại chúng ta / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 20 (Tháng 8, 1965), tr. 17–20.

BÁCH KHOA

  • Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 343, tr. 5–14.
  • Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 344, tr. 29–37.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 345, tr. 9–16.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 346, tr. 31–39.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 347, tr. 33–41.
  • Tương Lai của Chúng Ta / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 348, tr. 9–12; 71–77.
  • Viết về Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 349, tr. 39–45.
  • Kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 351, tr. 9–11.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộng đồng (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 351, tr. 23–30.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộngiasing (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 352, tr. 23–27.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộng đồng (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 353, tr. 31–40.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 1 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 368, tr. 31–38.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 2 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 369, tr. 23–31.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 3 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 370, tr. 23–29.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 373, tr. 19–26.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 374, tr. 29–37.
  • Văn hóa và Y học / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 374, tr. 43–50.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 375, tr. 19–22.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 4) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 376, tr. 23–30.
  • Ý nghĩa của Truyện Kiều trong văn hóa dân gian (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 381, tr. 13–22.
  • Ý nghĩa của Truyện Kiều trong văn hóa dân gian (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 382, tr. 23–31.
  • Nguyễn Trãi: Ảo ảnh, Thực tại và Hư không / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 390, tr. 9–15; 82–85.
  • Sống với các Ý thức hệ (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 394, tr. 9–17.
  • Ngôn ngữ học và Cấu trúc Ngôn ngữ Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 395, tr. 21–28.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 395, tr. 29–34.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 396, tr. 39–42.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 4) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 397, tr. 33–40.
  • Thần thoại và Logic Thần thoại trong việc tìm kiếm nguồn gốc dân tộc / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 413, tr. 39–46.
  • Y học và Văn học / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 413, tr. 73–79.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 421–422, tr. 49–54; 113–117.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 423, tr. 29–33.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 424, tr. 31–37.
  • Thảo luận về Cấu trúc và Ngôn ngữ / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 425, tr. 39–44.

THẾ KỶ 21

  • Tưởng nhớ Nhà báo Trần Việt Sơn — Bài nói chuyện của Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, ghi lại bởi Bích Hằng. Thế Kỷ 21, Số 111 (Tháng 7, 1998), tr. 24–31.
  • Vấn đề nghiêm trọng nhất của Thiên niên kỷ sắp tới: Rủi ro và Hứa hẹn (Phần 1–6) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 132–137 (2000).
  • Những Người Rỗng: Một bài thơ của T.S. Eliot (1888–1965) — Dịch và chú thích bởi Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 148 (Tháng 8, 2001), tr. 38–44.
  • Tưởng nhớ Nhà văn Phạm Duy Tốn / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 174 (Tháng 10, 2003), tr. 38–41 & 17.
  • Bốn mươi năm sau / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 175 (Tháng 11, 2003), tr. 15–19.
  • Hồ Xuân Hương và “Đoạn Trường Tân Thanh” (Phần 1–2) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 193 & 196 (2005).
  • Các vấn đề và Thách thức của Thời đại / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 207 (Tháng 7, 2006), tr. 18–23.
  • Tôn vinh một Trí thức Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 215 (Tháng 3, 2007), tr. 23–24.

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Ryan Phan – Chuyện tuổi Xế Chiều

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Có một loại cô đơn rất đặc biệt, một loại cô đơn mà chỉ những người từng chứng kiến mới hiểu hết. Đó không phải là cái cô đơn của người thiếu thốn, đói khổ. Ngược lại là đằng khác. Đó là cái cô đơn của một cụ già ngồi giữa một căn nhà khang trang ở Mỹ, có máy sưởi mùa đông, máy lạnh mùa hè, tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thức ăn, có tivi màn hình lớn, có mọi tiện nghi mà cả một đời ở quê nhà có nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà trong ánh mắt của cụ, người ta vẫn đọc được một nỗi trống vắng mênh mông không gì lấp nổi.

Câu chuyện này lặp đi lặp lại trong biết bao gia đình người Việt trên đất Mỹ, quen thuộc đến mức gần như đã thành một khuôn mẫu. Những người con, sau bao năm vất vả, cuối cùng cũng ổn định, cũng mua được nhà, cũng có công có việc. Và điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến là đón cha mẹ già từ Việt Nam sang, để phụng dưỡng, để báo hiếu, để cha mẹ được hưởng những năm cuối đời trong sung túc. Đó là một tấm lòng đẹp, một ý định hoàn toàn xuất phát từ tình thương. Không ai có thể trách được cái mong muốn ấy.

Nhưng rồi thực tế lại diễn ra theo một cách mà ít ai lường trước.

Buổi sáng, các con đi làm từ sớm, có khi trời còn chưa sáng hẳn. Các cháu thì lên xe bus đến trường, hoặc được chở đi từ tinh mơ. Và thế là căn nhà rộng rãi ấy, chỉ vài phút sau khi mặt trời lên, đã trở nên vắng lặng như tờ. Còn lại một mình cụ già, giữa bốn bức tường đầy đủ tiện nghi, với cả một ngày dài trước mặt không biết phải làm gì cho hết.

Cụ không lái xe được. Ở cái xứ mà không có xe thì gần như không có chân này, điều đó có nghĩa là cụ bị giam lỏng trong chính ngôi nhà của mình. Muốn ra ngoài đi dạo cũng khó, vì đường sá mênh mông, nhà nào biết nhà nấy, vỉa hè nhiều nơi còn chẳng có người đi bộ. Cụ không biết tiếng Anh, nên dù có ra ngoài, gặp người hàng xóm bản xứ cũng chỉ biết gật đầu cười trừ, không thể trò chuyện dù chỉ một câu. Cái tivi thì đầy những kênh mà cụ không hiểu người ta đang nói gì. Cái điện thoại thông minh con cái mua cho thì phức tạp quá, học mãi không thạo.

Và thế là những giờ đồng hồ cứ trôi qua trong im lặng. Cụ ngồi bên cửa sổ nhìn ra con đường vắng, đếm những chiếc xe thi thoảng chạy qua. Cụ đi từ phòng khách xuống bếp, rồi từ bếp lên phòng khách, lặp đi lặp lại. Cụ ngóng đồng hồ, đợi đến giờ con cháu về, bởi đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày căn nhà có tiếng người. Nhưng khi con cháu về đến nơi, sau một ngày làm việc mệt nhoài, ai cũng bơ phờ, cũng vội vàng với cơm nước, bài vở, rồi lại điện thoại, máy tính. Bữa cơm chung, nếu có, cũng trôi qua chóng vánh. Đôi khi cả ngày cụ chỉ nói được vài ba câu, và những câu ấy cũng chỉ là “con ăn cơm chưa”, “cháu đi học về rồi à”.

Điều nghịch lý đến quặn lòng là: khi còn ở Việt Nam, những cụ già ấy thường sống trong những căn nhà đơn sơ hơn nhiều, thiếu thốn tiện nghi hơn nhiều. Nhưng họ lại giàu có ở một thứ mà đồng tiền không mua được. Buổi sáng, mở cửa ra là gặp bà hàng xóm sang mượn củ hành, hỏi thăm đêm qua ngủ có ngon không. Ra đầu ngõ là gặp ông bạn già ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự, kể lại những chuyện từ mấy chục năm trước mà cả hai đều đã nghe đến thuộc lòng nhưng vẫn cười vang. Chiều đến có người rủ đi bộ, đi chùa, đi lễ. Con cháu ở xa nhưng hàng xóm ở gần, và cái tình làng nghĩa xóm ấy đủ để lấp đầy những khoảng trống trong ngày. Ở quê nhà, dù nghèo hơn về vật chất, người già không bao giờ phải cô đơn.

Sang đến Mỹ, mọi thứ đảo ngược. Vật chất thì dư dả, nhưng cái tình người gần gũi kia thì biến mất. Xã hội Mỹ vận hành theo một nhịp điệu khác — mạnh mẽ, hiệu quả, nhưng cũng lạnh lùng và cô lập. Mỗi ngôi nhà là một ốc đảo riêng. Người ta có thể sống cạnh nhau nhiều năm mà không biết tên hàng xóm. Cái sự riêng tư được xem là văn minh ấy, đối với một người trẻ đi làm cả ngày thì không sao, nhưng đối với một cụ già chỉ ở nhà, nó trở thành một nhà tù êm ái, đầy đủ tiện nghi nhưng vẫn là một nhà tù.

Có một câu ngạn ngữ của người châu Phi mà mình rất tâm đắc: nuôi một đứa trẻ cần cả một ngôi làng. Nhưng ít ai nói đến vế còn lại, cái vế cũng đúng không kém: chăm sóc một người già cũng cần cả một ngôi làng. Con người, dù ở tuổi nào, cũng cần một cộng đồng xung quanh mình — cần những gương mặt quen thuộc, những câu chuyện được sẻ chia, cái cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó, mình vẫn còn ý nghĩa với ai đó. Sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, dù quý giá, cũng không thể thay thế được cái nhu cầu sâu xa ấy. Một người già không chỉ cần được cho ăn, được ở trong ấm áp. Họ cần được trò chuyện, được lắng nghe, được cảm thấy mình vẫn còn là một phần của cuộc sống, chứ không phải một món đồ quý được cất kỹ trong một căn phòng đẹp.

Và đây chính là bi kịch âm thầm của lòng hiếu thảo thời hiện đại. Những người con không hề thiếu tình thương. Họ đón cha mẹ sang chính vì thương. Họ làm việc quần quật cũng một phần vì muốn lo cho cha mẹ một cuộc sống tốt hơn. Nhưng cái guồng quay của cuộc sống ở Mỹ khắc nghiệt đến mức cuốn phăng đi thứ mà cha mẹ họ cần nhất: thời gian, và sự hiện diện. Người ta có thể mua cho cha mẹ một căn nhà đẹp, nhưng không mua được cho họ một người bạn già để trò chuyện. Người ta có thể trả tiền cho mọi tiện nghi, nhưng không thể trả tiền để mua lại cái tình làng nghĩa xóm đã bỏ lại ở quê nhà. Lòng hiếu thảo, trong hoàn cảnh ấy, trở thành một điều gì đó vừa đẹp đẽ vừa bất lực.

Đó cũng là lý do vì sao không ít cụ già, sau vài năm sống ở Mỹ trong đầy đủ tiện nghi, cuối cùng lại xin được về Việt Nam. Về để sống những năm tháng cuối đời trong một căn nhà giản dị hơn, thiếu thốn hơn, nhưng có tiếng người, có hàng xóm, có những buổi chiều ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Với nhiều người, cái quyết định rời bỏ sự sung túc để về với sự gần gũi ấy không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Bởi ở cái tuổi gần đất xa trời, người ta hiểu rõ hơn ai hết rằng thứ quý giá nhất không phải là tiện nghi, mà là được sống giữa tình người, được chết ở một nơi mình thuộc về.

Viết những dòng này, mình không có ý trách cứ ai cả. Không trách những người con, bởi họ đã làm điều tốt nhất mà hoàn cảnh cho phép. Cũng không trách nước Mỹ, bởi mỗi xã hội có một cách vận hành riêng. Mình chỉ mong, những ai đang có cha mẹ già sống cùng trên đất khách, hãy thử một lần đặt mình vào vị trí của các cụ. Thử tưởng tượng một ngày dài của mình sẽ ra sao nếu không thể ra khỏi nhà, không nói được với ai một câu trọn vẹn, chỉ ngồi đợi từ sáng đến tối để nghe một tiếng người thân thuộc. Và rồi, biết đâu, giữa cái guồng quay bận rộn kia, ta sẽ cố dành ra thêm vài phút mỗi ngày để ngồi xuống bên cha, bên mẹ, hỏi han vài câu, kể cho các cụ nghe một chuyện nhỏ trong ngày. Đôi khi, món quà lớn nhất mà một người già cần không phải là một căn nhà đầy tiện nghi, mà chỉ đơn giản là vài phút được thấy mình vẫn còn quan trọng với những người mình thương yêu.

Còn bạn, lần gần nhất bạn ngồi xuống trò chuyện thật lâu với cha mẹ hoặc ông bà của mình, không vội vàng, không điện thoại, là khi nào?

Ryan Phan –— in Atlanta, GA.