Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.
Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.
Hôm 27 Tháng Mười, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Thành Phố Đà Nẵng đã khởi tố, bắt giữ bị can Trần Hoàng Vĩnh Tú, 37 tuổi, ở phường Hải Châu, để điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”
Báo Thanh Niên dẫn tin điều tra ban đầu cho hay, do tin tưởng người thân ở Việt Nam, bà LHC, Việt kiều Mỹ, đã nhiều lần chuyển tiền về nhờ bị can Tú, cháu kêu bằng dì, quản lý, gửi tiết kiệm và tìm mua nhà đất để ở khi hồi hương.
Vào Tháng Hai, 2026, bà C. gom hết tiền bạc bán căn nhà cũ và chuyển thêm cho bị can Tú tổng cộng hơn 4.7 tỷ đồng ($182,285) để nhờ mua nhà. Đến đầu Tháng Ba vừa qua, thông qua người quen giới thiệu, bà C. tìm được một căn nhà ưng ý trên đường Trần Xuân Lê, thành phố Đà Nẵng, với giá 4.77 tỷ đồng ($184,644) và nhờ bị can Tú đến đặt cọc để mua. Tuy nhiên, bị can Tú chỉ đặt cọc 70 triệu đồng ($2,709), không thanh toán đủ hết số tiền cọc theo thỏa thuận với người bán nhà, đồng thời cắt đứt liên lạc với bà C.
Vụ án đang được Công An Thành Phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra, làm rõ.
DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT
DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT
Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh
Nhưng ngoài kia còn cả tỷ nỗi buồn
Ta cứ ngỡ có mỗi mình cô quạnh
Nhưng cuộc đời đầy ắp cảnh đau thương.
Có người ước được một đôi chân nhỏ
Để bước đi trên thảm cỏ thật mềm
Có người ước sau đêm dài vò võ
Đôi mắt này họ sẽ thấy bình minh.
Những đứa trẻ chưa một lần gặp mẹ
Chỉ ước ao hai tiếng gọi: Gia Đình
Nếu ta chỉ có một ngày thật tệ
Thì đừng buồn mà hãy cố gắng lên!
Có đôi lúc ta cần ngưng giận dữ
Nhìn thoáng hơn để thấu rõ sự tình
Hãy giữ lấy niềm vui dù rất nhỏ
Giữa bão đời ta chọn sống tự tin.
ST
post by : Hoài Thu
MỖI NĂM MỘT LẦN, CON VOI RỜI ĐÀN ĐI GẦN 160 CÂY SỐ ĐỂ ĐẶT MỘT BÓ HOA XUỐNG CÙNG MỘT CHỖ
Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn
MỖI NĂM MỘT LẦN, CON VOI RỜI ĐÀN ĐI GẦN 160 CÂY SỐ ĐỂ ĐẶT MỘT BÓ HOA XUỐNG CÙNG MỘT CHỖ
Ở châu Phi, một người đàn ông đi ngang một nghĩa trang nhỏ thì thấy một con voi đang lững thững bước vào, vòi cuốn theo một bó hoa.
Anh đứng lại nhìn. Con voi đi thẳng tới một tấm bia, dừng lại, rồi nhẹ nhàng đặt bó hoa xuống.
Anh chụp một tấm ảnh rồi hỏi người dân quanh đó xem chuyện gì đang diễn ra. Câu trả lời anh nhận được nằm ngoài mọi dự đoán.
“Đó là Alice.”
Nhiều năm trước, Alice được cứu về và chữa trị tại một khu bảo tồn. Người chăm sóc nó đã dành hàng tháng trời để giúp nó lấy lại sức. Anh cho nó ăn, ở bên nó, kiên nhẫn chờ cho tới ngày nó đủ khoẻ để trở về rừng.
Alice được thả. Nhưng nó vẫn nhớ.
Khi người chăm sóc ấy ra đi, dân trong vùng kể rằng con voi đã quay lại nghĩa trang, mang theo hoa. Năm sau nó lại tới. Rồi năm sau nữa.
Giờ thì mỗi năm một lần, Alice rời đàn và đi gần 160 cây số để tới đúng chỗ ấy.
Anh đã giúp nó tìm đường về rừng. Còn nó, năm nào cũng tự tìm đường về với anh.
KHI MỌI SỰ TƯỞNG NHƯ KẾT THÚC… NHƯNG TẤT CẢ ĐỀU SỐNG SÓT
KHI MỌI SỰ TƯỞNG NHƯ KẾT THÚC… NHƯNG TẤT CẢ ĐỀU SỐNG SÓT
Năm 1992, tại Granada, Tây Ban Nha, một chiếc máy bay của hãng Aviaco chở 94 hành khách gặp sự cố nghiêm trọng khi hạ cánh. Thân máy bay bị tách làm hai, khiến nhiều người nghĩ rằng một thảm kịch lớn đã xảy ra.
Thế nhưng, điều khiến mọi người kinh ngạc là tất cả hành khách đều sống sót. Chỉ có một người bị thương nặng và sau đó cũng hồi phục.
Trong số những người có mặt trên chuyến bay hôm ấy có linh mục Gonzalo Mazarrasa.
Cha kể rằng trước biến cố này, ngài vừa hoàn tất 30 ngày cầu nguyện với Thánh Giuse, xin sự trợ giúp trong những hoàn cảnh tưởng như không thể.
Thời điểm ấy, cha đang học tại Rôma và sống trong một chủng viện mang tước hiệu Thánh Giuse. Điều đặc biệt hơn nữa: viên phi công điều khiển chiếc máy bay gặp nạn hôm đó lại chính là anh trai của cha.
Sau tai nạn, cha Gonzalo nhìn biến cố ấy như một dấu chỉ đặc biệt và càng thêm xác tín vào lời chuyển cầu của Thánh Giuse.
Một chiếc máy bay bị tách làm hai, 94 hành khách trên khoang, nhưng không một ai thiệt mạng.
Với cha Gonzalo, đó là một biến cố không thể nào quên và là lời nhắc rằng ngay cả khi mọi sự dường như đã đi đến tận cùng, con người vẫn có thể đặt niềm hy vọng nơi Thiên Chúa.
Lạy Thánh Giuse, Đấng bảo trợ trong những hoàn cảnh khó khăn, xin cầu cho chúng con.
THẾ HỆ ĐI MỸ DIỆN HO– HỌ ĐI ĐỂ ” LÀM LẠI CUỘC ĐỜI “
Sih Nguye đã đăng lên – NHỮNG BÀI POST HAY.
THẾ HỆ ĐI MỸ DIỆN HO.
– HỌ KHÔNG ĐI MỸ ĐỂ “ĐỔI ĐỜI ”
– HỌ ĐI ĐỂ ” LÀM LẠI CUỘC ĐỜI “
Nhắc tới Việt kiều Mỹ, nhiều người trẻ bây giờ chỉ thấy nhà cửa, xe cộ, con cái học hành thành đạt.
Nhưng có một thế hệ đặt chân xuống Mỹ khi tuổi đời đã 40, 50, thậm chí lớn hơn.
Tiếng Anh gần như bằng không, nghề nghiệp cũ khó sử dụng, tiền bạc chẳng có bao nhiêu.
Đó là một phần của thế hệ đi Mỹ diện HO.
Điều đầu tiên:
Ít người biết: HO không đơn giản là một “suất đi Mỹ”.
Phía sau nhiều hồ sơ là những năm tháng người cha, người chồng từng đi “học tập cải tạo” sau năm 1975.
Sau này, khi đủ điều kiện, cả gia đình mới có cơ hội sang Mỹ theo chương trình nhân đạo.
Có người chờ cả chục năm mới tới ngày lên máy bay.
Điều thứ hai:
Sang được Mỹ chưa chắc đã sung sướng ngay.
Nhiều người từng có chức vụ, nghề nghiệp, địa vị ở Việt Nam nhưng qua Mỹ phải bắt đầu lại gần như từ con số 0.
Đi học ESL.
Đi làm hãng.
Làm janitor.
Làm nhà hàng.
Làm những công việc chân tay mà trước đó có thể họ chưa từng nghĩ mình sẽ làm.
Không phải vì họ kém.
Mà vì ở một đất nước mới, bằng cấp cũ, ngôn ngữ và kinh nghiệm đôi khi chẳng giúp được bao nhiêu trong những ngày đầu.
Điều thứ ba:
Người hy sinh nhiều nhất đôi khi lại là thế hệ cha mẹ.
Con cái qua Mỹ lúc còn trẻ, học tiếng Anh nhanh, đi học lại, có nghề nghiệp rồi dần hòa nhập.
Còn cha mẹ thì nhiều người cả đời chỉ quanh quẩn đi làm, dành dụm mua nhà và cố cho con học hành.
20–30 năm sau
Nhìn lại, người thành công nhất trong gia đình có thể là những đứa trẻ ngày đó.
Nhưng người trả giá nhiều nhất để có sự thành công ấy lại là cha mẹ.
Điều thứ tư:
Không phải gia đình HO nào qua Mỹ cũng giàu.
Có gia đình làm ăn rất khá.
Có gia đình chỉ đủ sống.
Có người tới lúc nghỉ hưu vẫn ở căn nhà nhỏ, lái chiếc xe cũ và sống cực kỳ tiết kiệm.
Nhưng với nhiều người thuộc thế hệ đó, thành công không nhất thiết phải là triệu phú.
Con cái học hành tới nơi tới chốn.
Có căn nhà để ở.
Không mắc nợ ai.
Tuổi già có Medicare, Social Security.
Gia đình được sống yên ổn.
Vậy là họ đã thấy đáng rồi.
Và có lẽ điều đặc biệt nhất của thế hệ HO là:
Họ sang Mỹ khi tuổi thanh xuân gần như đã qua, nhưng vẫn chấp nhận làm lại từ đầu…
Để thế hệ sau có một điểm xuất phát khác.
Bởi vậy, nếu trong gia đình bạn có cha mẹ hoặc ông bà từng đi Mỹ diện HO, thử một lần ngồi xuống nghe họ kể lại những năm đầu tiên trên đất Mỹ.
Có thể bạn sẽ hiểu rằng căn nhà, tấm bằng Đại học hay cuộc sống hôm nay của thế hệ sau…
Đã từng được đổi bằng rất nhiều năm tháng của thế hệ trước.
Theo mọi người, thế hệ HO có phải là một trong những thế hệ người Việt chịu khó và hy sinh nhiều nhất khi bắt đầu cuộc sống tại Mỹ không?
GIÀ THÌ GIÀ, NHƯNG PHẢI ĐẸP LÃO – CHỈN CHU, TƯƠI TẮN, SỐNG VUI!
GIÀ THÌ GIÀ, NHƯNG PHẢI ĐẸP LÃO – CHỈN CHU, TƯƠI TẮN, SỐNG VUI!
Có một điều đáng suy ngẫm khi con người bước vào tuổi xế chiều: tóc bạc hơn, nếp nhăn nhiều hơn, công việc dần khép lại, con cái cũng có cuộc sống riêng.
Nhiều người bắt đầu buông lơi việc chăm sóc bản thân, tự nhủ: “Già rồi, đẹp cho ai xem nữa?”
Nhưng tuổi già không đáng sợ bằng cảm giác mình không còn giá trị.
Bởi khi một người nghĩ rằng mình không còn đáng để chăm sóc, họ cũng dễ dần đánh mất niềm vui và lòng tự trọng.
Thực ra, khí chất tuổi già không nằm ở việc cố níu kéo tuổi trẻ, mà ở cách ta đối xử với chính mình và sống những năm tháng còn lại.
Điều thứ nhất: Giữ gìn vẻ ngoài chỉn chu.
Ở tuổi này, chẳng cần quần áo đắt tiền hay cố ăn mặc như người trẻ.
Chỉ cần quần áo sạch sẽ, mái tóc gọn gàng, dáng đi đàng hoàng, gương mặt tươi tắn là đã đủ tạo nên vẻ đẹp riêng.
Chăm chút bản thân không phải để người khác ngắm nhìn, mà để tự nhắc mình rằng: Dù tuổi tác có đổi thay, mình vẫn xứng đáng được trân trọng.
Điều thứ hai: Giản dị nhưng đừng xề xòa với chính mình.
Có người cả đời chắt chiu nuôi con, đến khi về già vẫn dành phần tốt nhất cho con cháu, còn mình thì mặc mãi bộ đồ cũ, có món ngon cũng chẳng nỡ ăn.
Tiết kiệm là điều đáng quý, nhưng đừng tiết kiệm đến mức quên mất bản thân.
Giản dị là sống vừa đủ, không chạy theo vật chất; còn xề xòa là không còn quan tâm đến chính mình.
Một bộ quần áo sạch, một bữa cơm tươm tất, một góc nhà gọn gàng đôi khi cũng đủ khiến lòng người vui vẻ hơn.
Đừng đợi có khách mới dọn nhà, cũng đừng đợi ra ngoài mới sửa soạn. Ngay cả khi chỉ có một mình, ta vẫn nên sống tử tế với bản thân.
Điều thứ ba: Giữ nhịp sống chủ động mỗi ngày.
Nghỉ hưu không có nghĩa là nghỉ khỏi cuộc đời. Tuổi già càng cần những việc nhỏ để làm, những niềm vui để chờ đợi.
Đó có thể là tưới cây, pha trà, đi bộ quanh xóm, đọc vài trang sách hay trò chuyện với người bạn cũ.
Việc gì còn tự làm được, hãy cố gắng tự mình thực hiện trong khả năng.
Đừng chỉ ngồi chờ con cháu gọi điện, chờ người thân ghé thăm rồi mới thấy một ngày có ý nghĩa.
Khi tự tạo được niềm vui cho mình, ta sẽ bớt cô đơn và cảm thấy cuộc sống vẫn còn nhiều điều đáng mong đợi.
Điều thứ tư: Yêu thương con cháu nhưng đừng sống phụ thuộc vào chúng.
Càng lớn tuổi, nhiều người càng sợ mình trở thành gánh nặng, sợ con cháu ít quan tâm, sợ những ngày tháng cuối đời phải sống trong cô quạnh.
Nhưng tình thân muốn bền lâu cần có sự thấu hiểu, chứ không thể chỉ dựa vào trách móc hay níu kéo.
Nhớ con thì cứ nói nhớ, mong cháu về thì cứ bày tỏ mong muốn.
Nhưng đừng vì tủi thân mà giận dỗi, cũng đừng lấy những hy sinh ngày trước để buộc con cháu phải đáp đền.
Hãy thương con cháu bằng tấm lòng rộng mở, đồng thời giữ cho mình một cuộc sống riêng.
Khi cha mẹ biết tự chăm sóc bản thân, sống vui vẻ và bình thản, con cái cũng thêm yên lòng.
Điều thứ năm: Buông bớt oán hận để lòng được bình yên.
Đi qua hơn nửa đời người, ai cũng có những chuyện không như ý, những tổn thương khó quên và những lần bị đối xử không công bằng.
Nhưng nếu đã ở tuổi xế chiều mà lòng vẫn nặng trĩu những chuyện từ mấy chục năm trước, thì người mệt mỏi nhất cuối cùng vẫn là chính mình.
Buông bỏ không có nghĩa là quên hết những tổn thương, càng không phải chấp nhận mọi điều sai trái.
Đó là học cách không để chuyện cũ tiếp tục làm khổ mình trong hiện tại.
Bớt một lời hơn thua, bớt một lần trách móc, bớt giữ một mối hận lòng, cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn.
Khi tâm bình thản, ánh mắt cũng dịu dàng, lời nói cũng bao dung và gương mặt tự nhiên thêm phần phúc hậu.
Sau cùng, thanh xuân rồi sẽ qua, sức khỏe cũng không thể mãi như xưa.
Nhưng khí chất của một người không nhất thiết phải phai nhạt theo năm tháng.
Một người tuổi cao vẫn có thể sống chỉn chu, tự chủ, biết yêu thương bản thân, biết nghĩ cho người khác và không để lòng mình mắc kẹt trong những chuyện đã qua.
Đừng cố chống lại thời gian để trông trẻ hơn tuổi thật. Hãy sống sao cho dù tóc đã bạc, bước chân đã chậm, lòng vẫn thanh thản và ánh mắt vẫn có niềm vui.
Bởi tuổi già đáng quý không phải là khi ta còn trẻ trung trong mắt người đời, mà là khi ta vẫn giữ được lòng tự trọng, sự tử tế và bình yên trong chính tâm hồn mình.
Tĩnh Lặng Mỗi Đêm, Cảm ơn bạn già đã dành thời gian lắng nghe những chia sẻ hôm nay. Chúc bạn luôn mạnh khỏe, vui vẻ, sống an yên và lúc nào cũng tươi tắn, yêu đời.
#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm
Nhìn lại hành trình của một nhà Truyền giáo vừa được Chúa gọi về (Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu)
Nói với Tù nhân Lương tâm – Mai Thanh Truyết
Xin nói ngay, đó là vấn đề “giao tiếp” giữa người Việt hải ngoại và những “người tù lương tâm”, hay người tranh đấu trong nước “bị” cộng sản Việt Nam “tống khứ’ ra hải ngoại. Dường như, nhiều người Việt hải ngoại cảm thấy có “cái gì lấn cấn” trong giao tiếp đó? Bài viết xin bàn về vấn đề nầy qua những suy nghĩ chủ quan của người viết.
***
Phải thành thật mà nói, cái “lấn cấn” nêu trên là có thật, nhưng nó không đơn thuần là vấn đề khác quan điểm chính trị, mà nó nằm sâu hơn trong khoảng cách và không gian giữa hai bên thường không cùng đứng trên một “điểm chung” về ký ức, ngôn ngữ và cảm xúc khi giao tiếp với nhau.
Những ngăn cách ở hai đầu cầu
1- Một bên nói bằng “ký ức”, một bên nghe bằng “kinh nghiệm”: Số đông người Việt hải ngoại mang theo những ký ức đau thương về ngày 30/4/1975, về mất nước, mất nhà, về tù cải tạo, vượt biên, chia lìa gia đình, mất mát tài sản. Trong khi đó, một người sinh ra hoặc lớn lên ở Việt Nam sau 1975 có thể nhìn lịch sử qua một hệ thống giáo dục, xã hội và trải nghiệm hoàn toàn khác dưới thể chế “xã hội chủ nghĩa”.
Vì vậy, cùng một chữ như “giải phóng”, “quốc gia”, “cộng sản”, “hòa hợp”, “tự do”, “quê hương” nhưng hai người có thể nghe thấy hai ý nghĩa khác nhau. Không phải họ không hiểu tiếng Việt; nhưng họ không cùng hiểu “ý nghĩa phía sau tiếng Việt” xuyên qua những từ ngữ trên!
2- Có một khoảng cách giữa “người ra đi” và “người ở lại”: Đây có lẽ là điểm chúng ta cùng cảm thấy rõ nhất. Người ra đi thường mang trong mình câu chuyện đã bị đẩy ra khỏi quê hương. Nếu nói về người Việt rời Việt Nam sau 1975, thì có những người ra đi trong hoàn cảnh bị cưỡng bức, có người vượt biên, có người đi diện HO, có người đoàn tụ gia đình, có người ra đi vì lý do kinh tế hoặc nghề nghiệp. Đứng về mặt tâm lý, những người cảm thấy mình bị đẩy khỏi quê hương, chữ “quê hương” sau đó không còn chỉ là một địa danh, mà trở thành một phần căn cước tị nạn.
Ngược lại, người ở lại sau 30/4/1975 hay những người sinh đẻ sau ngày trên có thể mang câu chuyện kể về … một người đã sống trong quê hương đó suốt mấy chục năm. Vì vậy, khi người trong nước nói về Việt Nam hôm nay, họ có thể không chỉ đang nói về một đất nước hiện tại, họ đang chạm vào một Việt Nam mà người kia đã mất.
Đây là lý do một câu nói tưởng như rất bình thường đôi khi lại tạo ra phản ứng rất mạnh.
Người hải ngoại có thể nghĩ: “Anh không hiểu những gì chúng tôi đã trải qua.” Người trong nước có thể nghĩ: “Các anh đã đi rồi, các anh đâu biết chúng tôi đã sống như thế nào sau đó.” Cả hai câu ấy đều là những trải nghiệm cá nhân. Nhưng khi gặp nhau, nếu mỗi bên lấy trải nghiệm riêng của mình làm thước đo duy nhất của lịch sử, chắc chắn cuộc đối thoại rất dễ bị khựng lại.
Đó chính là một khoảng trống kinh nghiệm, một cách ngăn vô tình và vô hình…
3- Cả hai bên thường nói chuyện với một “hình ảnh” chứ không nói với con người trước mặt: Người hải ngoại đôi khi không nhìn người Việt trong nước như một cá nhân cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người trong chế độ”. Ngược lại, người trong nước đôi khi cũng không nhìn người hải ngoại như một người Việt cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người chống cộng”, “người bỏ nước ra đi”, hoặc “người Mỹ gốc Việt”.
Vì vậy, người A không còn nói chuyện với người B, mà người A nói chuyện với một hình ảnh mà mình đã dựng lên về người B.
Và cuộc giao tiếp hay đối thoại bắt đầu bế tắc ngay từ đầu…
4- Làm sao để hai người không đồng ý với nhau vẫn có thể nói chuyện với nhau như những người Việt Nam: Một sự giao tiếp giữa hai bên cần được giải tỏa những ức chế trên. Thông cảm nhau trong đối thoại không nhất thiết có nghĩa là xóa ký ức, cũng không có nghĩa là bắt người này phải tha thứ cho người kia, càng không có nghĩa là viết lại lịch sử để … cùng nghe với nhau.
The bridge doesn’t stop the river from flowing.
It simply gives us a way to cross it.
Nhưng mà là, tôi chấp nhận rằng anh có một lịch sử cá nhân khác tôi, và tôi vẫn muốn nghe anh nói. Từ đó mới có thể đi đến bước thứ hai là anh nghe câu chuyện của tôi, tôi nghe câu chuyện của anh. Từ đó, mới có thể có bước thứ ba: “Chúng ta thử tìm xem, ngoài những điều đã chia cắt chúng ta, còn điều gì thuộc về cả hai.”
Và đây, chính là khái niệm về “Một Nhịp Cầu Cho Tương Lai Việt Nam”, và cây cầu ấy, không nên được xây bằng cách bắt hai đầu cầu phải giống nhau. Nó được xây bằng cách tạo ra một “khoảng giữa”, nơi người đã ra đi và người ở lại có thể bước đến mà không phải từ bỏ ký ức, căn cước hay niềm tin của mình. Và, khoảng giữa cầu, chính là nơi “dung chứa” tuổi trẻ Việt, những Gen Z Việt cùng đi xây một Việt Nam tương lai.
Chiếc cầu Việt Nam tương lai
1- Hòa hợp không phải là “anh phải nghĩ giống tôi”: Câu chuyện Việt Nam đã được tạo ra qua nhiều biến cố lịch sử đau thương, do đó, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh thường có một phản xạ tự nhiên nhưng khác nhau qua cách nhìn. Một người từng trải qua tù đày có quyền nhìn lịch sử khác hơn một người chưa từng trải qua tù đày. Một người đã vượt biển có quyền nhìn năm 1975 khác một người sinh ra năm 1995. Một người lớn lên ở Việt Nam sau 1975 cũng có quyền nhìn đất nước của mình bằng những kinh nghiệm mà người ra đi trước đó không có.
Vì vậy, không có ai cần phải từ bỏ ký ức của mình để bắt đầu đối thoại. Sự việc “Không đồng ý” và “không thể nói chuyện” là hai chuyện khác nhau.
Anh có thể không đồng ý về nguyên nhân của 30/4/1975; không đồng ý về chế độ chính trị; không đồng ý về cách đánh giá lịch sử; không đồng ý về tương lai Việt Nam; nhưng anh vẫn có thể ngồi cùng một bàn với những người bạn ở Việt Nam.
Đó mới là một xã hội trưởng thành. Một cuộc đối thoại tốt không phải là cuộc đối thoại mà cuối cùng cả hai cùng nói: “Bây giờ tôi hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.” Đây có lẽ là một nguyên tắc rất đáng để đặt vào trọng tâm của vấn đề hòa hợp dân tộc.
2- Điều cần thay đổi trước tiên là “tư thế” khi bước vào cuộc đối thoại: Khi bắt đầu cuộc đối thoại giữa hai bên, trong và ngoài nước, những câu mào đầu rất quan trọng. Nếu một bên bước vào với một tâm thế giải thích sự thật lịch sử… có lẽ, phía bên kia, trong tư thế phòng thủ, sẽ nghĩ ngay rằng “bên kia muốn dạy mình, muốn tuyên truyền…’Và câu chuyện trở nên tẽ nhạt, bế tắc.
Ngược lại, nếu hai bên bước vào bằng câu chào hỏi là “Tôi muốn nghe anh đã sống ở Hoa Kỳ hay Việt Nam như thế nào”, chắc chắn bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn. Đây không phải là kỹ thuật ngoại giao, mà là sự tôn trọng kinh nghiệm của một con người.
3- “Đối thoại lịch sử” và “Đối thoại con người”: Đối thoại lịch sử sẽ hỏi: Ai đúng? Ai sai? Ai gây ra điều gì? Ai phải chịu trách nhiệm? Những câu hỏi ấy cần thiết, vì lịch sử không thể bị xóa bỏ. Nhưng nếu chúng ta chỉ bắt đầu bằng những câu hỏi ấy, chúng ta rất dễ quay trở lại cuộc chiến của ký ức. Chiếc cầu quê hương vẫn còn lững lờ chưa nối được hai đầu.
Nhưng nếu đối thoại giữa hai bên, người Việt trong và ngoài nước bắt đầu bằng những câu khác như: Anh đã sống qua những gì? Gia đình anh đã mất những gì? Điều gì làm anh đau nhất? Điều gì anh vẫn còn hy vọng? Anh muốn Việt Nam của con cháu mình sẽ như thế nào? Đến đây, sẽ có một điều rất lạ có thể hiện ra là hai người bất đồng về quá khứ nhưng có thể phát hiện họ có một phần tương đồng rất lớn về tương lai của con cái.
4- “Khoảng giữa” của một chiếc cầu tương lai: Chúng ta đã thấy hai bên bờ của chiếc cầu: Một bên là ký ức lịch sử, còn một bên là hiện tại. Nhưng cây cầu không nhất thiết phải nằm ở giữa lịch sử và hiện tại. Cây cầu phải nằm ở tương lai. Chúng ta có thể cùng nghĩ xem con cháu chúng ta muốn một Việt Nam như thế nào.
Đó chính là bước chuyển từ “lịch sử của chúng ta” sang “tương lai của tất cả chúng ta”. Nhưng có một điều kiện rất quan trọng là chúng ta không được dùng “tương lai” để xóa “quá khứ” đi. Vì quá khứ là một ký ức lịch sử đã hằn sâu trong tâm khảm của người Việt hải ngoại, một giai đoạn lịch sử dân tộc.
Chấp nhận quá khứ, chấp nhận sai lầm trong quản lý … để cùng xây dựng chiếc cầu tương lai cho tuổi trẻ!
Và đó là một cây cầu giúp những con người có những ký ức khác nhau cùng trở lại nhận ra mình vẫn có một phần tương lai chung. Chắc chắn, chiếc cầu nối tương lai sẽ được TUỔi TRẺ Việt thênh thang đón chào.
Câu chuyện tiếp xúc với những “tù nhân lương tâm”
Qua kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều người mang danh là “tù nhân lương tâm” trẻ tại Mỹ, tình thân tương đối “nặng”, đến mời nhau đến nhà ăn cơm, trao đổi trong thân tình. Mà sao, tôi vẫn thấy có một “cái gì” (tôi không biết?) cách xa, ngờ ngợ. Trong câu chuyện, đôi khi tôi cảm nhận được sự dè dặt của họ. Trái lại, tôi rất cởi mở, nhứt là đối với một số tuổi trẻ ở Houston (xin miễn nêu tên). Tại sao họ phải dè dặt như vậy? Sao họ không dám “mở lòng” để cùng nhau nói về chuyện Đất và Nước.
Tôi hỏi ý kiến của AI, và được trả lời như sau: “Thưa anh, sau khi đọc kỹ câu hỏi của anh, tôi nghĩ cái “ngờ ngợ” anh cảm nhận không nhất thiết có nghĩa là họ không tin anh. Có thể chính anh đang chạm vào một lớp tâm lý rất sâu của những người đã từng hoạt động đối kháng trong nước, rồi ra hải ngoại. Tôi xin phân tích, nhưng phải nói rõ: không thể biết động cơ riêng của những bạn trẻ trên ra sao, nếu chính họ chưa nói ra. Vì vậy, dưới đây là những khả năng tâm lý–xã hội có thể giải thích hiện tượng anh quan sát, chứ không phải kết luận về từng người.
- Người từng sống trong môi trường phải “giữ miệng” rất lâu có thể không bỏ thói quen đó ngay. Đây có lẽ là khả năng đầu tiên tôi nghĩ đến. Một người hoạt động trong nước, đặc biệt là người từng bị bắt, bị thẩm vấn, bị quản chế hoặc bị theo dõi, có thể đã hình thành một nguyên tắc sinh tồn là không phải điều gì mình nghĩ cũng nói ra. Không phải với ai cũng nói hết. Các tài liệu về những người mà anh nêu cho thấy họ từng nằm trong nhóm các nhà hoạt động bị bắt, giam hoặc chịu các hạn chế sau khi ra tù. Điều này rất khác với một người như anh, đã sống nhiều năm trong một môi trường mà phát biểu ý kiến chính trị là một quyền bình thường. Cho nên anh có thể bước vào bữa cơm với tâm thế: “Chúng ta là người Việt với nhau, cứ nói chuyện thật lòng.” Còn người đối diện có thể vô thức vẫn có một cái “thắng”: “Nói đến đâu? Nói với ai? Người này thực sự muốn biết điều gì?” Cái thắng ấy có thể tồn tại ngay cả khi họ quý trọng anh.
Còn một điều sâu thẳm hơn là họ có thể chưa biết anh thuộc “ngăn” nào. Đây là điều tôi nghĩ anh nên đặc biệt lưu ý. Anh là một người Việt hải ngoại nhưng không hoàn toàn nằm trong hình ảnh “người Việt hải ngoại” mà một người trẻ từ Việt Nam thường hình dung. Anh có lịch sử, quan điểm, trải nghiệm và cách nhìn riêng. Nhưng họ chưa chắc biết hết điều đó. Trong vài lần gặp đầu tiên, họ có thể tự hỏi: “Ông này muốn tìm hiểu mình thật hay muốn tìm hiểu hoạt động của mình?” “Ông ấy muốn nghe câu chuyện của mình hay muốn biết mình nghĩ gì về cộng đồng hải ngoại?” “Nếu mình nói thật, câu chuyện này sẽ được sử dụng như thế nào?” Không cần phải có sự nghi ngờ cá nhân mới xuất hiện những câu hỏi đó. Chỉ cần quá khứ của họ đã dạy họ phải thận trọng.
- Và tôi nghĩ có một nghịch lý rất thú vị là chính sự cởi mở của anh đôi khi có thể làm họ… dè dặt hơn. Điều này nghe có vẻ ngược đời. Anh nói: “Tôi rất cởi mở.” Nhưng người đối diện chưa chắc đã có cùng tốc độ mở lòng. Anh có thể mở cửa 90% ngay từ đầu. Họ có thể chỉ mở 20%, quan sát một thời gian, rồi mới lên 40%, 60%… Không phải vì họ không thích anh. Mà vì cơ chế tin tưởng của hai người được hình thành trong hai hoàn cảnh khác nhau.
Anh có thể nghĩ: “Tôi đã mở lòng với anh rồi, tại sao anh chưa mở lòng với tôi?” Còn họ có thể nghĩ: “Ông ấy rất cởi mở, nhưng mình cần thời gian để biết sự cởi mở ấy đi đến đâu.” Đây là hai trạng thái tâm lý hoàn toàn có thể cùng tồn tại.
- Tôi còn nghĩ có một “khoảng cách thế hệ” mà anh có thể chưa nhìn thấy. Anh nói rất hay: “Nhứt là đối với tuổi trẻ.” Nhưng chính chữ “tuổi trẻ” có thể là một phần của câu chuyện. Anh thuộc một thế hệ Việt Nam đã trải qua những biến cố lịch sử rất lớn và có một ký ức dài về Việt Nam. Những người anh gặp có thể thuộc một thế hệ khác. Họ có thể không muốn bị đặt vào câu chuyện: “Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản – 1975 – hải ngoại – quốc nội.”
Trong khi đối với anh, những vấn đề đó là một phần tự nhiên của câu chuyện Đất và Nước. Họ có thể muốn nói: “Tôi đấu tranh cho quyền con người.” “Tôi muốn đất nước thay đổi.” “Tôi muốn có tự do.” Nhưng khi câu chuyện chuyển sang “Đất và Nước”, họ có thể cảm thấy mình đang bước vào một vùng lịch sử rất rộng và rất nhạy cảm. Và họ lại dè dặt.
- Một điểm tôi nghĩ rất đáng chú ý: “tù nhân lương tâm” có thể là một căn cước mà họ không muốn mang vào bàn ăn. Tôi không nói họ không tự hào về những gì mình đã làm. Nhưng khi một người đã được cộng đồng hải ngoại biết đến chánh yếu qua danh xưng “tù nhân lương tâm”, thì người khác rất dễ tiếp xúc với họ trước hết như một biểu tượng chính trị. Trong khi họ có thể chỉ muốn được nhìn như một người mẹ, một người cha, một người trẻ, một người Việt Nam, một con người có những vui buồn riêng.
Các tổ chức và truyền thông hải ngoại trong nhiều năm đã dùng danh xưng này trong những chiến dịch vận động và tưởng niệm. Cho nên có thể họ có một nhu cầu rất tự nhiên: “Xin đừng biến tôi thành một biểu tượng. Hãy nói chuyện với tôi như một con người bình thường.”
Nếu đúng như vậy, thì bữa cơm gia đình, chuyện đời thường, chuyện con cái, chuyện quê hương… đôi khi lại là con đường gần nhất để họ mở lòng.
- Và có một lý do khác mà tôi nghĩ anh nên để ý là họ có thể sợ làm anh thất vọng. Điều này không thể biết nếu chưa hỏi họ, nhưng về mặt tâm lý nó hoàn toàn có thể xảy ra. Một người trẻ từ Việt Nam gặp một người lớn tuổi hải ngoại có lịch sử hoạt động lâu dài, có kiến thức và có những quan niệm rất rõ về Việt Nam. Họ có thể nghĩ: “Ông ấy kỳ vọng mình phải nghĩ thế này.” trong khi anh lại không hề có ý đó. Anh chỉ muốn nghe họ nói mà thôi, nhưng họ không biết. Và thế là anh càng muốn họ nói thật, thì họ càng sợ nói sai, và chính điều này làm cho họ càng dè dặt. Đây là một nghịch lý rất đẹp nhưng cũng rất buồn của việc giao tiếp.
Và AI kết luận: Khi gặp một người Việt trẻ hôm nay, anh có thể vô thức đặt họ vào một câu chuyện mà họ không hoàn toàn thuộc về: 1975 – hải ngoại – cộng sản – chống cộng – hòa hợp – Việt Nam. Trong khi một người trẻ có thể đang nghĩ: công việc, lo cho gia đình, nghĩ đến tự do cá nhân, cùng chuẩn bị cho tương lai, v.v.
Cả hai người cùng yêu Việt Nam, nhưng “bản đồ hay lộ trình” trong tâm khảm hoàn toàn khác nhau. Đây có lẽ là điều anh đang gặp ở một số người trẻ mà anh vừa nói.
Có lẽ, AI nghĩ đúng tâm lý của các em tù nhân lương tâm trên. Quý vị thấy thế nào?
Suy nghiệm bản thân
Riêng đối với người viết, sở dĩ những bạn trẻ “tù nhân lương tâm” “sợ” hay “e ngại” tiếp xúc, hay “tâm sự” với người Việt hải ngoại, nhứt là những người đang tranh đấu cho một Việt Nam tương lai.
- Có lẽ, họ sợ vì có mang một định kiến (không dám nói là đúng hay sai) là người Việt hải ngoại “coi” họ tranh đấu trong nước là chỉ mong cầu được “một cái vé máy bay một chiều” đẩy ra ngoại quốc mà thôi!
- Không kể một lý do đời sống khác là việc cả gia đình bước vào một vùng đất lạ, với bao lo âu về cơm áo gạo tiền…Họ không còn đầu óc nào để suy nghĩ thêm về tương lai…đất nước (?)
- Thêm một điểm tế nhị nữa là họ còn có gia đình, cha mẹ, anh em, người thân cật ruột trong nước. Họ e sợ những sinh hoạt tranh đấu (?) ở hải ngoại sẽ ảnh hưởng đến an ninh của người thân.
Qua trên, có lẽ giải thích được phần nào lý do những người tù lương tâm e ngại sự tiếp xúc với người Việt hải ngoại. Riêng người viết, thiết nghĩ, với tư thế của một người ở thế hệ I, đang đi tìm một cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, trong khi họ có thể vẫn đang nhìn tôi như một người của một thế hệ trước. Tôi nhìn thấy tôi đang đứng trong một tư thế hết sức đặc biệt, đặc biệt ở chỗ đứng, một chân trong thế kỷ XX, và một chân trong thế kỷ XXI. Nếu tôi dùng suy nghĩ và ký ức của thế kỷ XX để đặt những câu hỏi về tương lai của các cháu qua thế kỷ XXI, thì thiết nghĩ, cuộc đối thoại có lẽ suôn sẻ hơn, thấm tình dân tộc hơn chăng?
Và có lẽ câu hỏi lớn nhất mà tôi nên đặt cho những người trẻ ấy phải chăng là: “Nếu không phải sống với những gì thế hệ của cha, chú đã sống, thì các cháu muốn xây dựng Việt Nam như thế nào?”
Tôi tin câu hỏi nầy có thể khơi mở được một cánh cửa cho tuổi trẻ mà những câu hỏi về quá khứ chưa mở được. Và có lẽ, tôi vừa hoàn tất phần việc của mình rồi.
Đã đến giờ trao cây đuốc cho người trẻ rồi, đứng sang một bên!
Mai Thanh Truyết
Tiết Thu Houston – 10-2026
Bí quyết sống hoà hợp với người khó tính
Sống với người khó ở, khó tính làm sao sống hoà thuận.
GEMINI trả lời:
Sống chung hoặc làm việc với một người khó tính, khó chiều luôn là một thử thách lớn, dễ khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi, ức chế và căng thẳng. Tuy nhiên, thay vì tìm cách “cảm hóa” hay thay đổi họ—vốn là điều rất khó hoặc bất khả thi—chúng ta có thể thay đổi cách ứng xử để bảo vệ năng lượng bản thân và duy trì sự hòa thuận.
Dưới đây là một số cách hiệu quả để ứng phó và chung sống hòa bình với người khó tính:
1. Thay đổi tư duy và góc nhìn
- Hiểu rằng vấn đề nằm ở họ, không phải ở bạn: Sự khó chịu, phàn xét hay cay nghiệt của họ thường bắt nguồn từ áp lực cá nhân, tính cách lâu năm, hoặc sự bất như ý trong cuộc sống của chính họ, chứ không phải vì bạn dở. Đừng vơ mọi chỉ trích vào lòng hay tự dằn vặt bản thân.
- Hạ kỳ vọng: Đừng kỳ vọng một người khó tính bỗng dưng trở nên dễ chịu, cởi mở hay ngọt ngào. Khi không đặt kỳ vọng quá cao, bạn sẽ bớt thất vọng và dễ dàng mỉm cười cho qua hơn khi họ cằn nhằn.
2. Kỹ thuật giao tiếp và ứng xử
- Giữ vững bình tĩnh (Không “bật” lại ngay lập tức): Khi họ bắt đầu phàn nàn hoặc gây sự, phản ứng bốc đồng hoặc cãi tay đôi chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Sự bình tĩnh và im lặng của bạn chính là “gáo nước lạnh” dập tắt cơn khó ở của họ.
- Lắng nghe nhưng không thấm vào người (Active Listening): Đôi khi họ chỉ muốn xả sự bực dọc hoặc muốn tỏ ra mình quan trọng. Hãy để họ nói hết, gật đầu cho qua chuyện mà không cần phải tranh cãi đúng sai trong những chuyện nhỏ nhặt.
- Đặt ranh giới rõ ràng: Nếu sự khó tính của họ biến thành sự xúc phạm, công kích cá nhân hoặc thao túng tâm lý, bạn cần lịch sự nhưng kiên quyết vạch ranh giới. Ví dụ: “Con sẵn sàng lắng nghe khi bố/mẹ/anh/chị bình tĩnh hơn, nhưng con không tiếp nhận cách nói chuyện nặng lời này.”
3. Chủ động tạo khoảng cách và bảo vệ năng lượng
- Giới hạn thời gian tiếp xúc: Nếu đó là người thân hoặc đồng nghiệp mà bạn bắt buộc phải gặp mỗi ngày, hãy cố gắng thu hẹp thời gian tương tác ở mức cần thiết cho công việc hoặc sinh hoạt chung.
- Tách biệt cảm xúc (Detachment): Hãy xem họ như một “thời tiết xấu” trong ngày. Bạn biết trời đang mưa hoặc gió bão, bạn không ghét cơn bão, bạn chỉ đơn giản là mặc áo mưa hoặc ở trong nhà để không bị ướt. Đừng để cảm xúc của họ chi phối tâm trạng của bạn.
4. Tìm kiếm điểm chung và sự tích cực
- Tập trung vào khía cạnh khác: Hầu hết những người khó tính vẫn có những ưu điểm khác như trách nhiệm, sự cẩn thận hoặc khả năng lo toan. Hãy nhìn vào những điểm tốt đó để dễ bề dung hòa.
- Khen ngợi đúng lúc: Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng những người khó tính thường là những người thiếu sự công nhận hoặc luôn bất an. Đôi khi, một lời công nhận chân thành cho việc họ làm tốt (dù rất nhỏ) có thể làm họ mềm lòng và bớt gai góc đi rất nhiều.
“Tuổi già là thời sung sướng nhất”- Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
BS Đỗ Hồng Ngọc
…Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.
Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan, cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.
Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.
Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cộng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.
Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?
…Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.
Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. Mối lo âu về tài chánh cũng nhẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.
Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược, chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.
Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để được về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ, mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.
Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Người trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.
Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuộc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …
Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…











