Vé trận chung kết Argentina – Tây Ban Nha được rao giá 2 triệu US (BBC)

(BBC)

Anh và Pháp sẽ đối đầu trong trận tranh hạng 3 tại sân vận động Miami

Tác giả, Dale Johnson

Vai trò, Phóng viên chuyên về bóng đá

 

18 tháng 7 2026

 

Khoảng 7.000 vé vẫn đang được rao bán trên các nền tảng bán vé của FIFA cho trận tranh hạng 3 World Cup giữa tuyển Anh và Pháp diễn ra vào sáng Chủ nhật, 19/7.

Tính đến 16 giờ chiều ngày 17/7 giờ Việt Nam, trận đấu tại Miami (khởi tranh lúc 4h sáng ngày 19/7) vẫn chưa bán hết vé.

Hiện có 1.246 vé được bán trực tiếp với mức giá 865 USD (khoảng 22,6 triệu đồng) và 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng – được quy đổi theo tỷ giá Vietcombank ngày 18/7, 1 USD = 26.110 đồng)

Ngoài ra, còn 5.864 vé được rao bán trên nền tảng bán lại chính thức của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA). Vé rẻ nhất thuộc hạng 3, có giá gốc 455 USD (khoảng 11,9 triệu đồng), chưa bao gồm phí 15% do FIFA thu.

Tuy nhiên, nhiều vé ở các hạng giá cao đang được rao bán với mức thấp hơn đáng kể so với giá mua ban đầu.

Chẳng hạn, một vé hạng nhất có giá gốc 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng) hiện được rao bán chỉ còn 659 USD (khoảng 17,2 triệu đồng).

Trong khi đó, trận chung kết World Cup giữa đội tuyển Argentina và đội tuyển Tây Ban Nha diễn ra vào rạng sáng 20/7 cũng vẫn chưa bán hết vé, với 32 vé thuộc hạng đắt nhất vẫn còn được bán trực tiếp.

Các vé này có giá từ 29.995 USD (khoảng 783,2 triệu đồng) đến 32.970 USD (khoảng 860,2 triệu đồng). Đây là vé tiêu chuẩn, không phải vé VIP.

Bên cạnh đó, vẫn còn hơn 1.000 vé được rao bán trên nền tảng bán lại của FIFA, trong đó nhiều vé có giá xấp xỉ giá gốc cộng thêm phí của FIFA.

Giá gốc của những vé này là 7.380 USD (khoảng 192,7 triệu đồng), đồng nghĩa với việc nếu mua, người mua sẽ phải trả thêm 1.107 USD (khoảng 28,9 triệu đồng) tiền phí cho FIFA.

Chiếc vé đắt nhất được rao bán lại cho trận chung kết hiện có giá 2 triệu USD (khoảng 52,22 tỷ đồng), chưa kể 300.000 USD (khoảng 7,83 tỷ đồng) phí do FIFA thu.

Mức giá trên thị trường bán lại do chính người dùng tự đặt và không phản ánh trực tiếp số tiền mà người mua thực tế sẵn sàng chi trả.


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC.

*Một vị Tổng thống qua đời và thấy mình đang đứng trước cánh cổng thiên đường, nơi thánh Phêrô chào đón ông một cách lịch sự.

“Chào mừng đến thiên đường, Ngài Tổng thống,” Thánh Peter nói. “Tuy nhiên, trước khi chúng tôi có thể chính thức cho ngài vào, chúng tôi có một vấn đề nhỏ cần giải quyết. Ngài thấy đấy, một chính trị gia thuộc đẳng cấp như ngài đến đây là khá bất thường, và thành thật mà nói, chúng tôi không hoàn toàn chắc chắn phải làm gì với ngài.”

Vị tổng thống nhượng lông mày.

“Vì vậy đây là những gì chúng tôi đã quyết định,” Thánh Peter tiếp tục. “Ngài sẽ trải qua một ngày trên thiên đường và một ngày dưới địa ngục. Sau đó, ngài có thể chọn cho mình nơi ngài muốn gắn bó vĩnh viễn.”

Thánh Peter dẫn ông ta đến thang máy. Cánh cửa đóng lại, và vị tổng thống bắt đầu đi xuống.

Khi cánh cửa thang máy mở, ông ấy bước vào địa ngục – và với sự ngạc nhiên của mình, nơi đây thật đẹp.

Hiện ra trước mắt ông ta là một sân golf xanh mướt, được cắt tỉa hoàn hảo và tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Phía xa là một câu lạc bộ vô cùng sang trọng. Đột nhiên, một nhóm bạn chính trị gia cũ của ông chạy ùa về phía ông ta, cười tươi, và mở rộng vòng tay chào đón.

Họ ôm chầm ông ấy một cách nồng nhiệt và bắt đầu ôn về những ngày tháng xưa tốt đẹp – các chiến dịch tranh cử, các thương vụ béo bở, các đặc quyền đặc lợi, các bữa tiệc tối, các chuyên cơ riêng và tất cả những năm tháng cùng nhau làm giàu trong khi nói ra rã với mọi người dân phải “thắt lưng buộc bụng” của họ.

Họ chơi một vòng gôn. Sau đó, họ đến câu lạc bộ để dùng một bữa tối tuyệt vời: tôm hùm, bít tết, caviar, rượu vang đắt tiền, và tất cả những thứ xa xỉ mà ông ta khó có thể tưởng tượng.

Ngay cả quỷ Satan cũng đến ngồi cùng bàn với họ.

Và đối với sự ngạc nhiên của vị tổng thống, Satan quyến rũ, vui tính, ăn mặc lịch lãm và vô cùng lịch sự. Hắn kể những câu chuyện tuyệt vời, khiến ai cũng cười lớn, và đối xử với vị tổng thống như một vị khách quý.

Vị Tổng thống có khoảng thời gian tuyệt vời đến nỗi ngày trôi qua cũng không để ý. Nhưng cuối cùng cũng lên thang máy trở lại. Cánh cửa đóng lại, và ông ấy được đưa lên thiên đường.

Hai mươi bốn giờ tiếp theo rất khác.

Ông ấy dành cả ngày bồng bềnh từ đám mây này sang đám mây, nghe nhạc đàn hạc, hát thánh ca, cầu nguyện và nhìn các thiên thần lướt qua bầu trời. Vạn sự bình an, tươi sáng, tươi đẹp.

Nhưng thành thật mà nói, hơi nhàm chán.

Cuối cùng, Thánh Peter cũng xuất hiện.

“Thưa ngài Tổng thống”, ông nói, “ngài đã trải qua một ngày dưới địa ngục và một ngày trên thiên đường. Bây giờ ngài có thể đưa ra lựa chọn của mình. Ngài muốn gắn bó sự vĩnh hằng ở nơi nào?”

Vị Tổng thống suy nghĩ một lúc.

“Chà,” ông ấy chậm rãi nói, “thiên đường chắc chắn là rất tuyệt vời. Rất bình yên. Rất sạch sẽ. Nhưng tôi hoàn toàn thành thật… Tôi nghĩ tôi thích địa ngục hơn. ”

Thánh Peter nhún vai và dẫn ông ta trở lại thang máy.

Vị Tổng thống lại đi xuống địa ngục một lần nữa. Cánh cửa thang máy mở ra.

Lần này không có sân gôn.

Không có câu lạc bộ.

Không có tôm hùm.

Không có bạn cũ mặc vest.

Thay vào đó, ông ta nhìn thấy một vùng đất hoang dã vô tận bị bao phủ trong rác. Không khí có mùi kinh khủng. Những người bạn chính trị gia cũ của ông giờ đang mặc đồng phục lao động bẩn thỉu, nhặt rác và nhét vào túi nilon màu đen dưới cái nóng.

Vị Tổng thống nhìn chằm chằm chết lặng vì sốc.

Quỷ Satan bước lại gần ông, mỉm cười và đặt một cánh tay lên vai.

“Tôi không hiểu”, vị tổng thống lắp bắp. “Ngày hôm qua rõ ràng nơi này thật đẹp. Có chơi gôn, ăn tối, âm nhạc, các bạn của tôi… ”

Quỷ Satan cười tươi.

“Bạn của tôi ơi”, hắn nói, “hôm qua chúng tôi đang trong chiến dịch tranh cử nên quảng bá giống như chương trình tranh cử sinh thời của ông”

Sau đó hắn ta chỉ vào thùng rác.

“Còn hôm nay, ngài đã bỏ phiếu xong rồi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Le Canard enchainé.


 

Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh 

 Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, khi đang ở trong tù, cô lại sinh con lần nữa, và đứa trẻ thứ hai có những triệu chứng y hệt.

Ngày 9 tháng 7 năm 1989, Patricia Stallings đang sống giấc mơ của đời mình. Cô có một ngôi nhà mới nhìn ra hồ Wauwanoka, gần St. Louis, một người chồng yêu thương là David, và một đứa con trai ba tháng tuổi, Ryan. Mọi thứ dường như hoàn hảo. “Đó thực sự là khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi,” Patricia sau này kể. “Mọi thứ đều hoàn hảo. Một ngôi nhà mới, một đứa con mới. Sao có thể xảy ra chuyện gì sai được?”

Nhưng mọi thứ đã trở nên tồi tệ đến không tưởng.

Tối thứ Sáu đó, Ryan nôn mửa. Ngày hôm sau trông có vẻ khá hơn, nhưng đến sáng Chủ nhật, bé không thể giữ thức ăn. Việc thở trở nên khó khăn, và bé bắt đầu mệt lả. Lo lắng, Patricia lập tức đưa con đến Bệnh viện Nhi Cardinal Glennon tại St. Louis.

Các bác sĩ phát hiện nồng độ ethylene glycol ,chất chống đông trong máu Ryan. Ai đó đã đầu độc bé.

Patricia và chồng ngay lập tức bị thẩm vấn. Họ bị tách ra, và các thám tử khăng khăng cho rằng một trong hai người phải chịu trách nhiệm. Patricia sững sờ; cô không hề biết chất chống đông đã vào cơ thể con bằng cách nào. Cô yêu Ryan và không bao giờ làm hại con.

Vài tuần sau, vào ngày 31 tháng 8, Patricia được phép thăm Ryan trong thời gian ngắn dưới sự giám sát. Nhưng bốn ngày sau, bé lại ốm, với những triệu chứng y hệt. Các xét nghiệm mới lại phát hiện chất được hiểu nhầm là chất chống đông trong máu bé, và còn tìm thấy dấu vết trong bình sữa mà Patricia đã dùng để cho con bú.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Patricia bị bắt và bị buộc tội cố gắng giết người. Hai ngày sau, Ryan qua đời. Các công tố viên ngay lập tức chuyển tội danh sang giết người cấp độ một, thậm chí cân nhắc đề nghị án tử hình.

Trong lúc đang ở tù, đau đớn trước cái chết của con trai, Patricia phát hiện mình mang thai lần nữa. Tháng 2 năm 1990, cô sinh con trai thứ hai, David Jr. (DJ), nhưng ngay lập tức bé được đưa vào gia đình nhận nuôi do những cáo buộc chống lại cô.

Tháng 1 năm 1991, Patricia bị tuyên có tội giết người, và tháng 3, cô bị tù chung thân không ân xá.

Rồi một điều không thể xảy ra đã xảy ra. Tháng 3 năm 1990, DJ bắt đầu xuất hiện những triệu chứng y hệt Ryan: nôn mửa, khó thở và mệt lả. Bé được đưa gấp đến bệnh viện, và các xét nghiệm đưa ra chẩn đoán kinh ngạc: DJ mắc bệnh acidemia methylmalonic, một bệnh di truyền hiếm gặp có thể giống như triệu chứng ngộ độc chất chống đông.

Acidemia methylmalonica khiến cơ thể tích tụ các chất độc hại, trong đó có axit propionic, mà trong một số xét nghiệm có thể bị nhầm với ethylene glycol. Các xét nghiệm trước đó đã sai.

Luật sư bào chữa của Patricia cố gắng trình bày thông tin mới này trong phiên tòa, nhưng thẩm phán không chấp nhận, coi đó chỉ là trùng hợp. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng được phơi bày khi bác sĩ William Sly, sau khi thấy vụ việc của Patricia trong chương trình Unsolved Mysteries, liên hệ với cơ quan chức năng và thúc đẩy xét nghiệm lại máu của Ryan.

Kết quả mới là chứng cứ không thể chối cãi: Ryan đã chết vì acidemia methylmalonic, không phải do ngộ độc chất chống đông.

Tháng 7 năm 1991, Patricia được thả khỏi tù, và tháng 9, các cáo buộc chống lại cô được hủy bỏ. DJ trở về với cha mẹ. Mặc dù Patricia đã bị giam gần hai năm, cuối cùng sự thật về cái chết của Ryan cũng được hé lộ.

Vụ án này đã phơi bày những sai sót nghiêm trọng trong hệ thống tư pháp và y tế, và cho thấy giả định cùng sự tin tưởng quá mức vào kết quả xét nghiệm có thể dẫn đến những sai lầm thảm khốc. Patricia Stallings không được hệ thống pháp luật cứu giúp; cô được cứu nhờ chẩn đoán bệnh hiếm gặp, một chương trình truyền hình và một nhà khoa học sẵn sàng đặt câu hỏi về những điều mà mọi người đều coi là chắc chắn.

Ngày nay, Patricia sống cuộc sống kín đáo bên gia đình, trong khi DJ, nay đã trưởng thành, vẫn kiểm soát bệnh của mình với điều trị thích hợp. Họ đã mất Ryan, nhưng sự thật đã trả lại tự do cho Patricia.

Vụ án vẫn là lời nhắc nhở rằng, đôi khi, sự khác biệt giữa tội lỗi và vô tội chỉ nằm ở một người dám tự hỏi: “Chúng ta có lẽ đã sai sao?”

Nguồn: Northwestern Pritzker School of Law Center on Wrongful Convictions (“Patricia Stallings”)

My Lan Phạm


 

Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi (Bill Gates.)

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 “Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi, Melinda, trong phán quyết ly hôn, nhưng ly dị cô ấy là sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của tôi.

Nếu tôi có một cơ hội khác, tôi sẽ cưới lại vợ cũ của mình, Melinda Gates. Tôi không quan tâm tôi đã mất bao nhiêu tiền, cô ấy đáng giá hơn bạc vàng với tôi. Tôi vẫn khóc mỗi ngày khi nghĩ về cô ấy, bởi vì tôi không chỉ mất vợ trong cuộc ly dị đó. Tôi đã mất đi người bạn thân nhất của mình và là người duy nhất trên thế giới này thực sự biết tôi và yêu tôi vì chính tôi chứ không phải vì tiền của tôi.

Một trong những điều tuyệt vời nhất mà chúng tôi cùng tạo ra là con cái của chúng tôi và Quỹ Gates.

Chúng tôi vẫn là bạn và chúng tôi vẫn gặp nhau vì lũ trẻ. Nhưng tôi hy vọng cô ấy có thể cưới tôi một lần nữa và lấp đầy khoảng trống này trong trái tim tôi. Cô ấy không thể thay thế được. Tiền không mua được tình yêu và thậm chí, mất thêm 65 tỷ đô la nữa cũng không mua được tình yêu đích thực”.

~Bill Gates.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire 


 

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn.- Truyen ngan HAY

My Lan Pham 

 Ông ấy để lại 4 đô tiền tip cho đơn hàng tạp hóa 47 đô, rồi dán trước cửa một mẩu giấy viết tay:

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn. Cảm ơn vì đã đến.”

Suýt nữa thì tôi đã làm đúng như vậy.

Suýt nữa tôi đã đặt những túi đồ xuống, quay lưng lại và lái xe đến điểm giao tiếp theo.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi vẫn gõ cửa.

Phải mất khá lâu cánh cửa mới mở ra.

Một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đứng ở khung cửa, cơ thể dựa nặng lên chiếc khung tập đi bằng kim loại.

Ông ăn mặc rất chỉnh tề, theo kiểu mà những người thuộc thế hệ trước thường mặc khi chờ đón khách:

một chiếc áo có cổ, quần tây được ủi nếp thẳng.

Đôi tay ông run run, nhưng cằm vẫn ngẩng cao.

“Tôi đã bảo họ cứ để ở ngoài rồi mà,” ông nói.

Không hề khó chịu. Chỉ là mệt mỏi.

Tôi đáp:

“Vâng, cháu biết, thưa bác. Cháu chỉ muốn chắc rằng mọi thứ đã đến đầy đủ thôi.”

Ông nhìn lướt qua tôi xuống những túi giấy trên bậc thềm. Bốn túi.

Ông nhìn chiếc khung tập đi của mình.

Rồi nhìn lại tôi.

Ông không nói gì.

Tôi nói:

“Để cháu mang vào giúp bác nhé.”

Ông lặng lẽ bước sang một bên, không phản đối.

Chỉ như vậy thôi cũng nói lên tất cả.

Phòng khách ngăn nắp theo cái cách của những cuộc đời nhỏ bé nhưng cẩn trọng.

Mọi bề mặt đều sạch sẽ. Không có gì nằm sai chỗ.

Nhưng đồ đạc đã cũ, và tấm thảm đã mòn bạc thành những sợi xám ở những lối đi quen thuộc mà mỗi ngày ông đều bước qua từ ghế ra bếp, vào nhà tắm rồi trở lại.

Tôi mang các túi vào quầy bếp và bắt đầu lấy đồ ra.

Đó là lúc tôi nhìn thấy cuốn sổ nhỏ đặt trên bàn.

Nó kín đặc những cột số viết tay.

Giá từng món đồ được tính đến từng xu.

Có món bị gạch đi rồi viết lại.

Tổng tiền được cộng dồn, rồi gạch bỏ, rồi tính lại từng dòng… cho đến khi ra một con số mà ông có thể chi trả.

Ông đã lên kế hoạch cho đơn hàng này suốt nhiều ngày.

Tôi cố giữ gương mặt bình thản.

Ông đứng ở khung cửa bếp, nhìn tôi đặt hộp sữa vào tủ lạnh.

“Con gái tôi thường đến vào thứ Bảy,” ông nói.

“Giờ nó ở Phoenix rồi. Công việc mới.”

Tôi đáp:

“Xa thật đấy bác.”

Ông khẽ dừng lại.

“Ừ. Nó vẫn gọi điện.”

Trong câu nói ấy không có chút tự thương hại nào.

Và chính điều đó mới đau lòng nhất.

Ông nói như đang đọc bản tin thời tiết. Chỉ là một sự thật đơn giản về thế giới mà ông đang sống.

Tôi kín đáo nhìn quanh căn bếp.

Tủ lạnh vẫn chạy nhưng gần như trống rỗng.

Một thanh bơ.

Hai quả trứng trong khay.

Một lọ cà phê hòa tan nhỏ.

Cánh cửa tủ đựng thức ăn mở hé, những chiếc kệ bên trong cũng gần như trống.

Trên bậu cửa sổ là bảy lọ thuốc kê đơn xếp thành một hàng.

Bảy lọ.

Ông thấy ánh mắt tôi, rồi hơi đứng thẳng hơn.

“Tôi vẫn xoay xở ổn,” ông nói.

Ông là kiểu người đã tự mình xoay xở mọi thứ suốt cả cuộc đời.

Và giờ đây, “xoay xở” có nghĩa là phải chọn xem tháng này sẽ mua loại thuốc nào, loại nào phải cố kéo dài thêm hai tuần nữa.

“Xoay xở” nghĩa là tính toán đơn hàng tạp hóa đến từng xu, rồi dán một mẩu giấy lên cửa để không ai biết ông mất bao lâu mới đi từ phòng ngủ ra đến cửa trước.

Tôi cất đồ xong, không hề vội vàng.

Tôi hỏi:

“Bác từng làm nghề gì vậy?”

Chỉ để cho ông có điều gì đó để nói.

Khuôn mặt ông thay đổi.

“Ba mươi mốt năm làm nghề cơ khí “ông nói.

“Xưởng công đoàn. Việc tốt. Việc nặng.”

Ông gần như mỉm cười.

Ba mươi mốt năm lao động cực nhọc, và giờ đây ông ngồi một mình trong căn nhà với bảy lọ thuốc, chiếc tủ lạnh trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng cho đủ.

Tôi nói với ông là mình sẽ quay lại ngay.

Tôi lái xe vòng qua góc đường đến một trạm xăng có quầy đồ ăn khá ổn.

Tôi mua những gì có thể:

  • một con gà quay nóng còn bọc giấy bạc
  • một hộp súp lớn
  • một túi bánh mì cuộn
  • hai hộp sữa chua
  • một nải chuối

Tôi dùng tiền tip của ông, rồi dùng luôn tiền của chính mình.

Khi quay lại, ông đang ngồi ở bàn bếp, cuốn sổ nhỏ đã được khép lại trước mặt.

Tôi đặt túi đồ xuống và lặng lẽ lấy mọi thứ ra, không giải thích gì.

Ông nhìn tôi rất lâu.

Rồi ông nói:

“Cháu trai…”

Giọng ông nghẹn lại ở từ đó.

Ông dừng một lúc, mím môi rồi cố nói tiếp:

“Cháu không cần phải làm thế đâu.”

Tôi đáp:

“Cháu biết.”

Ông đặt bàn tay phẳng lên mặt bàn và nhìn chằm chằm vào nó.

Những khớp tay đầy sẹo vì hàng chục năm lao động.

Chiếc nhẫn cưới vẫn còn trên ngón tay, mòn mỏng như một sợi dây kim loại.

Tôi rời đi trước khi mọi chuyện trở nên khó khăn hơn cho cả hai.

Ngồi trong xe, tôi nghĩ về những gì xã hội này bắt con người phải chịu đựng.

Chúng ta bắt tay những người như ông trong các buổi diễu hành.

Chúng ta đăng ảnh họ vào ngày Cựu chiến binh.

Chúng ta gọi họ là xương sống của nước Mỹ.

Rồi sau đó, chúng ta để họ cô đơn trong những căn nhà im ắng với những chiếc kệ trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng thành đủ.

Ông đã dùng đôi tay mình xây dựng mọi thứ suốt ba mươi mốt năm.

Ông xứng đáng với nhiều hơn 4 đô tiền tip và một mẩu giấy trên cửa xin thế giới cứ bước qua mà đừng nhìn lại.

Tuần này hãy ghé thăm một ai đó.

Đừng chỉ nhắn tin.

Hãy thật sự xuất hiện.

Theo Story of Life

My Lan Phạm


 

Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh

  Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão: Con trai, con dâu mừng lắm, nghỉ hưu như thế, là điều tôi chẳng ngờ !

Mọi người trong khu phố của chúng tôi đều biết bà Sử sẽ vào viện dưỡng lão. Ngày này, con cái đều lo lắng sự nghiệp, lo cho gia đình, không có nhiều thời gian, người già trong khu phố của chúng tôi cũng có mấy người vào viện dưỡng lão.

Hôm qua tôi gặp bà Sử ở trong xóm ôm chú chó và trò chuyện với hàng xóm, bà nói sắp vào viện dưỡng lão, trong viện dưỡng lão không được phép nuôi chó nên hàng xóm xem có ai nhận nuôi không.

Nhiều người hỏi bà: “Bà có nhà to, có con trai, sao lại muốn vào viện dưỡng lão?”. Nghe vậy, bà Su không khỏi thở dài, khiến ai nấy đều cảm động, bà nói: “Ở tuổi già, những vấn đề có thể giải quyết bằng tiền, hãy cố gắng không làm phiền con cái”.

Dưới đây là câu chuyện được bà Sử kể lại:

“Năm nay tôi đã 73 tuổi, chồng tôi đã mất đã mấy năm. Tôi chỉ có một con trai và nó không sống cùng thành phố với tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những năm cuối đời mình sẽ vào viện dưỡng lão, nhưng bây giờ tôi phải đi.

Vợ chồng tôi đều từng làm việc trong cơ quan nhà nước. Khi còn trẻ, nhiều gia đình ghen tị như gia đình chúng tôi, có công việc tử tế, điều kiện kinh tế tốt và lương hưu cao khi về già. Tôi cũng từng nghĩ như vậy, so với nhiều người già thì điều kiện của tôi đã tốt hơn hầu hết mọi người rồi. Tôi chưa bao giờ lo lắng về tuổi già của mình.

Vợ chồng tôi đã thống nhất từ lâu rằng khi về hưu, tôi sẽ học vẽ, sau đó sẽ cùng nhau đi du lịch, thăm thú sông núi bao la của quê hương.

Con trai tôi sau khi tốt nghiệp đại học đã đi tỉnh khác, để lập nghiệp riêng nên bận rộn nên hiếm khi về nhà. Sau đó, con trai lấy vợ và có con ở đó, gia đình chúng tôi chỉ gặp nhau vào những ngày nghỉ lễ.

Tôi và chồng đều ủng hộ con trai và ủng hộ nó làm những gì nó thích. Vì vậy, mấy năm nay vợ chồng tôi luôn nương tựa vào nhau, nếu có thể tự mình giải quyết việc gì thì cố gắng không làm phiền con trai tôi.

Tôi tưởng vợ chồng tôi có thể ở bên nhau đến già nhưng cuộc sống có nhiều bất ngờ khiến người ta phải bất ngờ. Cách đây một năm, chồng tôi đổ bệnh, tôi gọi xe cấp cứu đưa ông đi bệnh viện ngay, tuy nhiên ông nằm trong phòng ICU hơn nửa tháng vẫn không cứu được.

Nửa tháng sau, bác sĩ nói chúng tôi đưa ông ấy về nhà để hồi phục. Khi chồng tôi ốm, con trai tôi chỉ về ở hơn một tuần, nó phải vội vã quay lại làm việc, con dâu tôi cũng không về vì các cháu nhỏ phải đi học và con dâu tôi phải ở nhà chăm sóc.

Tôi nói với con trai tôi, con bận công việc, mẹ sẽ chăm sóc bố con. Sau khi chồng tôi về nhà, ông ấy gần như rơi vào tình trạng sống thực vật. Ông ấy không thể tự ăn hay nói, ông ấy chỉ nằm đó hàng ngày.

Đôi khi tôi không hiểu tại sao chồng tôi, vốn luôn có sức khỏe tốt, lại đột nhiên rơi vào tình trạng sống thực vật. Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện xảy ra bất ngờ, chỉ trong vài giây, số phận của một người, thậm chí của một gia đình có thể bị thay đổi.

Dù chồng đã bất tỉnh nhưng tôi vẫn mong một ngày nào đó ông ấy sẽ bất ngờ nói chuyện với tôi, tôi cũng mong ông ấy sẽ khỏe lại và cùng tôi đi du lịch. Tuy nhiên, cuối cùng, ông ấy đã “tàn nhẫn bỏ đi” sau hai tháng.

Sau khi ông ấy đi, tôi đặc biệt sợ hãi. Đặc biệt là về đêm, khi tôi sống một mình trong ngôi nhà lớn như vậy, trống trải và tĩnh lặng quá. Im lặng đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng một chiếc kim rơi xuống đất

Tôi không thể chịu đựng được nữa nên gọi điện cho con trai và nói với nó: “Ở nhà một mình, mẹ rất sợ”. Con trai tôi nói sẽ đón tôi về ở đó một thời gian, tôi không còn cách nào khác là phải làm phiền con trai mình.

Tôi thu dọn hành lý và bắt tàu cao tốc đến nhà con trai vào ngày hôm sau. Trước đây, tôi đã đến nhà con trai tôi nhiều lần nhưng chỉ ở trong thời gian ngắn và hầu hết không kéo dài quá một tuần. Lúc đó tôi luôn đi cùng chồng tôi, chúng tôi thường đi dạo, con dâu tôi khá nhiệt tình.

Nhưng lần này đến nhà con trai, tôi luôn cảm thấy có gì đó không ổn, thái độ của con dâu đối với tôi rất lãnh đạm. Con dâu tôi là người rất sạch sẽ, nhà cửa luôn ngăn nắp. Những năm gần đây, con trai bận rộn với sự nghiệp, từ khi có con, con dâu đều ở nhà chăm sóc con cái và quản lý tài chính của công ty.

Ban ngày con trai tôi không có ở nhà nên chỉ có tôi và con dâu. Dù con dâu rất lễ phép và tôn trọng tôi nhưng tôi vẫn cảm thấy không thoải mái. Để giảm bớt sự gượng gạo này, tôi muốn cố gắng hết sức để tìm việc gì đó có thể làm cho bản thân, đồng thời tôi cũng muốn giúp đỡ con dâu và khiến con cảm thấy thoải mái hơn.

Tôi chủ động đi chợ mua những loại rau mà các con trai tôi yêu thích khi còn nhỏ và muốn nấu món gì đó thật ngon cho chúng. Nhưng con dâu tôi nói không cần tôi nấu vì sợ làm tôi mệt.

Ăn tối xong, tôi vội vàng dọn bát đĩa và rửa bát trong bếp. Sau này tôi phát hiện ra rằng mỗi lần tôi rửa bát, con dâu tôi lại rửa lại.

Có lần con dâu nói với tôi: “Mẹ ơi, con thấy nhiều người già ở tuổi mẹ không thích sống cùng con cái, mẹ có thấy thoải mái khi sống ở đây không?”

Tôi vội nói: “Làm quen được mà, ở với các con là tốt rồi”.

Con dâu nói tiếp: “Nghe nói cơ sở vật chất hỗ trợ ở viện dưỡng lão bây giờ rất đầy đủ, người già ở đó thường tổ chức một số hoạt động, có nhiều người cùng tuổi có thể nói chuyện, nhảy múa cùng nhau, rất là tốt. Dì Lữ hàng xóm nhà con, con trai và con gái của bà đã mời bà đến chơi, nhưng dù thế nào đi nữa bà cũng không muốn sống với họ và phải sống trong viện dưỡng lão”.

Tôi chỉ biết “ồ”. Lòng chợt hiểu ra, con dâu đây là đang ám chỉ mình.

Con dâu liền nói tiếp: “Mẹ ơi, căn nhà rộng 130m2 của mẹ bây giờ trị giá hơn 2 triệu (khoảng 6,8 tỷ đồng) phải không?

Chiều hôm đó, con dâu nói chuyện với tôi có vẻ thản nhiên, có lẽ đó là điều mà con dâu tôi đã suy nghĩ từ lâu.

Tôi nhớ rằng khoảng nửa tháng qua tôi đã đến nhà con trai tôi, mặc dù bề ngoài con dâu tôi rất lễ phép với tôi nhưng thực ra trong lòng không chào đón tôi đến sống ở đây lâu dài.

Trên thực tế, điều này có thể hiểu được. Có bao nhiêu người dám khẳng định sẽ sẵn sàng sống với người già? Con dâu tôi khá hiếu thảo, ít nhất vẫn không thẳng tay đuổi tôi ra ngoài, tôi rất biết ơn.

Mấy hôm sau, khi con trai đang ở nhà, tôi nói với con: “Mẹ đột nhiên muốn vào viện dưỡng lão, ở đó có nhiều người già bầu bạn, lại có chương trình dành cho người già. Con đưa mẹ đi xem nhé”.

Con trai và con dâu đưa tôi đi thăm một số viện dưỡng lão từ trung cấp đến cao cấp ở địa phương, cơ sở vật chất hỗ trợ rất tốt, nhân viên rất nhiệt tình. Có rất nhiều người lớn tuổi bằng tuổi tôi ở trong đó và họ đều rất vui vẻ.

Tôi đã chọn một viện dưỡng lão mà tôi hài lòng nhất và ổn định ở đó. Khi chúng tôi trở về, con trai và con dâu rất vui mừng”.

Mấy ngày nay, bà Sử bận rộn sắp xếp việc bán nhà, khi từ nhà con trai về, bà đã đăng ký căn nhà với một công ty bất động sản. Bà ấy nói với chúng tôi có thể bà sẽ không quay lại đây trong tương lai, thậm chí còn tặng chú chó mà bà ấy rất mực thương yêu cho người xứng đáng, sẽ chăm sóc và yêu thương nó.

Bà còn bảo hàng xóm sang nhà chọn đồ, thích gì thì lấy nấy và cho miễn phí. Có người chọn lấy sofa của bà, có người lấy đi vài chậu hoa lan mà bà yêu thích, và còn có những người lấy đi vài thiết bị điện nhỏ. Tôi đã lựa chọn vài cuốn sách hay từ trong chiếc tủ sách lớn của bà.

Khi tôi rời đi, nhìn vào ngôi nhà sang trọng hơn 130m2 của bà, lòng tôi dâng trào cảm xúc: Khi về già, tôi sẽ về hưu ở đâu?


 

180.000 thuyền nhân và lịch sử suýt bị lãng quên

Có rất ít người Việt tại Mỹ nghe nói đến tên thành phố Novato tại miền bắc California. Một người tôi quen bảo rằng cứ tưởng đâu đấy là một thành phố bên Nhật Bản.

Nhưng thành phố này đóng một vai trò quan trọng đối với cộng đồng người Việt tại Mỹ. Trong thời gian ba năm, 1980-1983, có đến 180.000 người tị nạn Đông Nam Á, mà đại đa số là người Việt Nam, đã từng đến một trại trung chuyển tại thành phố này: Hamilton Transit Center.

180.000 thuyền nhân

Con số 180.000 này là những người Việt thế hệ thứ nhất đến Mỹ sau năm 1975. Nếu so sánh với con số trên dưới hai triệu người gốc Việt đang ở Mỹ hiện nay, bao gồm nhiều thế hệ, thì 180.000 người vào thời điểm 1980-1983 là rất đáng kể.

Chiều ngày thứ Tư 24/6 vừa qua, tại thành phố Novato đã diễn ra buổi lễ cắt băng khánh thành bảng lưu niệm trại trung chuyển này.

Hơn 100 người đã tham dự buổi cắt băng khánh thành này, trong đó có khoảng 30 người Việt sống tại Novato và vùng phụ cận. Một số quan chức của thành phố Novato, quận Marin, cùng những người từng có trách nhiệm tại Hamilton Transit Center cũng tới dự.

Chụp lại hình ảnh,Tấm bảng lưu niệm Trung tâm Trung chuyển Hamilton

Ông James Gildea, người từng giữ chức giám đốc điều hành Hamilton Transit Center, cho biết rằng sau năm 1975, có hai sự kiện xảy ra cùng lúc. Tại Đông Nam Á, Chiến tranh Việt Nam kết thúc sau khi quân cộng sản chiếm Sài Gòn.

Tiếp theo đó là đợt sóng thuyền nhân hàng trăm ngàn người chạy khỏi Việt Nam, gây ra một thảm họa mang tầm mức thế giới. Tại California, một sân bay nhỏ là Hamilton ở Novato sắp được đưa ra khỏi biên chế của không quân Hoa Kỳ.

Khu vực Hamilton nằm cách không xa Travis, căn cứ không quân lớn nhất miền Tây Hoa Kỳ, và các đầu mối giao thông quốc tế khác như sân bay San Francisco, cảng Oakland.

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Tuổi già được mất gì?

Khuong Nguyen

 Tuổi già được mất gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn thường cho rằng tuổi già là “tuổi xế chiều,” chỉ toàn thấy mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy cái gì cũng như đồng tiền, phải có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Cái mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp kêu lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa có thể bước hai bậc một lúc, bây giờ phải vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Cái mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước từng là cột trụ, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Khi họp mặt gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện cũ, chuyện xưa” nghe cho vui thôi…

Cái mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một vài chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo; danh bạ nhiều số không còn người nghe máy; “Điện thư” không có hồi âm hay bị gởi trả lại…

Cái mất sau cùng là thời gian. Biết chắc là quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn man mác, không tên.  Mỗi tờ lịch xé đi là một lần thấy giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta “được” những thứ mà tuổi trẻ không có…  Chẳng  hạn:

Ta được thảnh thơi với chính mình; không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn.” Ta được sống thật, nói thật, làm thật.  Mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục, phơi nắng; buổi chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Lúc trẻ thì hay chạy đua theo thiên hạ; lúc già rồi mới biết mình thích chén trà ngon, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: Nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ nhàng, thông thoáng. Tranh hơn thua làm gì nữa, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa Ba Mẹ cũng vậy.”  Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được.”  Bình thản đó phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Lúc trẻ thương bằng chiếm hữu, khi già thương bằng buông thả. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm cho kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò cột trụ, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu sự vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: Hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, người già đừng hỏi mình “Được gì? Mất gì?” Mà hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được hay không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: “Đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được ‘bình yên’ trong lòng.  Đó là cái ‘được’ lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.”

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất đậm nét.

FB Phạm Quốc Hùng 


 

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? – Tác giả: Tuấn Mai

 Tác giả: Tuấn Mai

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống?

 Đằng sau quyết định rời Việt Nam của nhiều người trẻ, có lẽ là những câu chuyện mà không phải ai cũng nhìn thấy.

“Trên chuyến bay trở về Việt Nam sau những ngày sang Mỹ thăm con, đúng vào dịp Quốc khánh nước Mỹ 4.7, tôi cứ nghĩ mãi về một câu hỏi đã theo mình suốt nhiều năm qua:

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? Có lẽ đây cũng là nỗi niềm canh cánh của rất nhiều bậc cha mẹ.

“Ở nhà đâu có khổ. Gia đình ổn định. Công việc cũng có sẵn. Vậy tại sao con vẫn muốn đi?”

Thú thật, đã có lúc tôi cũng nghĩ như vậy.

Trong ký ức của thế hệ chúng tôi, người Việt sang Mỹ chủ yếu để tìm một cuộc sống khá hơn về mặt kinh tế; đi vì miếng cơm manh áo, vì mong có thu nhập tốt hơn để thay đổi cuộc sống của cả gia đình.

Nhưng hơn hai mươi năm trở lại đây, khi chứng kiến con mình và con của nhiều bạn bè lần lượt sang Mỹ học tập, làm việc rồi ở lại, tôi nhận ra mình cần nhìn câu chuyện ấy theo một cách khác. Điều họ tìm kiếm dường như không còn chỉ nằm ở cán cân tài chính. Không ít bạn trẻ ra đi khi phía sau đã có một bệ đỡ rất vững vàng. Có người có công việc đáng mơ ước ở Việt Nam. Có người có sẵn doanh nghiệp gia đình để kế thừa. Nếu ở lại, cuộc sống của họ có lẽ sẽ nhẹ nhàng và êm ấm hơn rất nhiều.

Vậy mà họ vẫn chọn bắt đầu lại từ đầu. Chấp nhận học lại. Chấp nhận làm những công việc bình thường. Chấp nhận sự cô đơn. Chấp nhận những ngày bận rộn đến kiệt sức nơi đất khách.

Là cha mẹ, nhìn con “đầu tắt mặt tối” như vậy, ai chẳng xót. Nhiều lần tôi tự hỏi:

Nếu vẫn phải làm việc quần quật như thế, tại sao con vẫn thấy hạnh phúc?

Sau chuyến đi này, tôi dần hiểu rằng câu trả lời không nằm ở công việc, mà nằm ở cảm giác được tự mình làm chủ cuộc đời.

Có một điểm rất khác ở nhiều người trẻ hôm nay. Các con không chỉ mong có một cuộc sống tốt, mà còn muốn biết nếu một ngày không còn gia đình ở phía sau, mình có thể đi được bao xa bằng chính năng lực của bản thân. Đó không phải là sự nổi loạn. Càng không phải là phủ nhận những gì cha mẹ đã vun vén. Mà đơn giản là khát vọng được tự viết câu chuyện cuộc đời mình.

Ngày đầu tiên tự thuê nhà.

Ngày đầu tiên tự đóng học phí.

Ngày đầu tiên tự giải quyết một khủng hoảng mà không gọi điện về cầu cứu bố mẹ.

Những điều tưởng chừng rất bình thường ấy lại là những cột mốc trưởng thành vô cùng lớn. Một bạn trẻ từng nói với tôi câu nói mà tôi vẫn nhớ mãi:

“Ở VN, con không thiếu điều gì. Nhưng sang Mỹ, lần đầu tiên con thấy mình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc đời của chính mình.”

Tôi nghĩ rất lâu về câu nói ấy. Không phải vì nước Mỹ có phép màu nào. Mà vì một môi trường sống khác có thể khiến con người nhận ra mình làm được nhiều hơn những gì trước đây từng nghĩ. Điều nhiều người trẻ tìm thấy không hẳn là sự giàu có. Đó là cảm giác mỗi thành quả mình có được, dù rất nhỏ, đều là kết quả của sự nỗ lực và tự lập. Cảm giác ấy mang lại một sự tự tin đến từ bên trong, không ai có thể cho, cũng chẳng ai dễ dàng lấy đi.

Dĩ nhiên, nước Mỹ không phải là thiên đường. Ai từng sống ở đó đều hiểu cuộc sống cũng đầy áp lực. Chi phí sinh hoạt đắt đỏ. Công việc căng thẳng. Xa gia đình. Cô đơn. Có những lúc chỉ một cơn ốm cũng đủ khiến người ta thấy mình nhỏ bé và lạc lõng giữa một đất nước rộng lớn. Không ít người từng khóc vì nhớ nhà. Không ít người từng muốn bỏ cuộc. Không có lựa chọn nào chỉ toàn màu hồng.

Nhưng điều khiến tôi suy nghĩ là, dù hiểu rất rõ những khó khăn ấy, rất nhiều người vẫn quyết định ở lại. Không phải vì họ bị nước Mỹ mê hoặc. Mà vì sau những năm tháng tự bươn chải, họ nhận ra mình đã trở thành một con người khác. Tự lập hơn. Điềm tĩnh hơn. Biết chịu trách nhiệm hơn. Và hiểu rõ mình muốn gì hơn. Có lẽ đó mới là điều họ trân trọng nhất.

Sống ở Mỹ một thời gian, tôi cũng hiểu vì sao nhiều người gắn bó với cuộc sống ấy. Không hẳn vì những điều lớn lao. Mà vì những điều rất nhỏ diễn ra mỗi ngày. Một môi trường mà việc đặt câu hỏi được xem là bình thường. Một người lao động chân chính, dù làm nghề gì, cũng cảm thấy mình được tôn trọng. Một cuộc sống mà người ta bớt quan tâm bạn đang sở hữu điều gì, và quan tâm nhiều hơn đến cách bạn đang sống. Những điều ấy nghe có vẻ rất nhỏ. Nhưng khi trở thành một phần của cuộc sống mỗi ngày, chúng lại tạo nên cảm giác bình yên mà nhiều người vẫn âm thầm đi tìm.

Là cha mẹ, điều khó khăn nhất không phải là nhìn con vất vả. Mà là chấp nhận rằng có những bài học con chỉ có thể tự mình trải qua. Chúng ta có thể cho con một nền tảng đủ đầy. Nhưng không thể sống thay cuộc đời của con. Đến một lúc nào đó, tình yêu thương không còn là giữ con ở thật gần. Mà là đủ tin tưởng để con bước đi trên con đường mình đã chọn.

Có thể một ngày nào đó con sẽ trở về.

Cũng có thể con sẽ ở lại.

Điều ấy không còn quan trọng bằng việc con được sống một cuộc đời mà sau này nhìn lại, con không phải tiếc nuối vì đã không dám dấn thân.

Thế hệ trước phần lớn ra đi vì hoàn cảnh. Thế hệ hôm nay, rất nhiều người ra đi vì một lựa chọn. Họ không rời Việt Nam vì ghét quê hương. Họ cũng không đến Mỹ vì tin đó là một miền đất hoàn hảo. Họ chỉ mong tìm được một môi trường phù hợp hơn với những giá trị mà mình theo đuổi; một nơi để thử sức, để trưởng thành và để chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình.

Có lẽ điều những người làm cha, làm mẹ cần nhất lúc này không phải là cố giữ con ở lại bằng mọi giá. Mà là cố gắng hiểu vì sao con muốn bước ra thế giới.

Có lẽ rồi mỗi đứa con sẽ có một lựa chọn khác nhau.Có người trở về. Có người ở lại.

Điều quan trọng không phải là con sống ở đâu. Mà là con có sống tử tế, sống có trách nhiệm và bình yên với lựa chọn của mình hay không.

Nếu câu trả lời là có, thì có lẽ những người làm cha, làm mẹ như chúng ta cũng thấy yên lòng.

Ps: Những người Việt sang các nước khác, chắc cũng vậy!”

Tác giả: Tuấn Mai

From: taberd- & NguyenNThu

NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

 Pham Kỳlam

 NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, ta lang thang trong khuôn viên mái trường, vui cười vô tư và bây giờ đã 50-60-70… năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già!

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Qua một ngày, ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết sẽ còn vui được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống hằng ngày.

Hạnh phúc chỉ là những gì hiện đang ở chung quanh ta, trong tầm tay ta.

Về tiền bạc, ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi ta cũng không thể mang nó theo.

Đồng tiền giúp ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Không trách móc ai làm gì nữa. Họ làm sai với ta thì họ cũng đã bị lương tâm cắn rứt, và theo thời gian họ cũng sẽ biết ăn năn, hối hận.

Vào trong internet , fb. để gửi thư cho bạn bè; để chia sẻ một tin mới, một chuyện vui, một bản nhạc hay, một bài viết có giá trị; hay “chat” với người quen biết. Ta cần trau dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưỡng. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ. Quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có bạn bè. Gặp bạn tri kỷ, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh trầm cảm stress v. v…

Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa!”.

Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu hay người tình của ta. Hãy luôn trân trọng họ.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu dùng  những gì ta cần vì sẽ có lúc ta để lại cho người khác xài.

Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là tiên.

Ăn và ngủ đi đôi với nhau.

Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưỡng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. Thế nhưng sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời rồi.

Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ… mà vui cười thích thú.

Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Ta cần tránh đi những sự cãi vã, tranh giành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cãi vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi của ta, nhất là những người đang đau yếu. Ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để bác sĩ chăm sóc, luôn luôn giữ bình an trong tâm hồn.

Ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít kiêng cữ khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý  trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh… Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp. Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là quy luật ở đời, không ai chống lại được. Khi Tử thần gọi đến thì vui vẻ mà đi. Cốt sao sống thanh thản, không hổ thẹn với lương tâm…

Và cuối cùng  cuộc đời  của một người chỉ là một số không to lớn!!!

 ST fb Nhưng Nguyễn

Bài sưu tầm cũ đăng lại


 

Chris Yên, đạo diễn gốc Việt từ chối $1 triệu của Hollywood-Kalynh Ngô/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) – Với một người có tư duy sáng tạo, thì thật khó để nói chính xác một ý tưởng thường bắt nguồn từ đâu, bởi vì đôi khi nó bất ngờ như từ trên trời rơi xuống. Tuy nhiên, một khi ý tưởng đã hình thành, họ nhìn lại, hiểu ra nguồn gốc cũng như điểm khởi đầu của nó, thì họ quyết tâm bảo vệ bản chất nguyên thủy của ý tưởng đó bằng mọi giá. Cho dù đó là lời mời hấp dẫn trị giá $1 triệu của Hollywood để mang kịch bản phim lên màn ảnh rộng.

“Bầu, Cua, Tôm Cá là của người Việt”

“Nếu muốn bàn về chuyện tiền bạc, chính sản phẩm có phẩm chất cao nhất mới là thứ mang lại giá trị tài chính. Vậy đâu là sản phẩm có phẩm chất cao nhất? Đó chính là sản phẩm chân thực nhất và giàu ý nghĩa nhất,” anh Chris Yên, đạo diễn gốc Việt sinh năm 2000, giải thích về lý do anh từ chối số tiền mà nhà đầu tư muốn đặt vào bộ phim đầu tay của anh – “Bầu, Cua, Tôm Cá” (Fish, Prawn, Crab).

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên, cũng là diễn viên chính trong bộ phim Bầu, Cua, Tôm Cá. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Phần giới thiệu (trailer) dài khoảng hai phút của “Bầu, Cua, Tôm Cá” cho thấy một nhóm “băng đảng” trẻ tuổi gồm hai thanh niên da đen và một thanh niên Châu Á, do Chris thủ vai, đi vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Họ diễn một vở kịch để anh thanh niên Châu Á thừa cơ hội trộm hết tiền trong két sắt của ông chủ. Khi ra cửa, tên trộm còn nhớ lấy theo vài cái bánh để “mừng chiến thắng” với “đồng đội.” Ông chủ, cũng gốc Châu Á, vác cây súng trường chạy ra. Tiếng súng vang lên…

Chris nói, anh đặt một trò chơi dân gian trong ngày Tết của người Việt trong bối cảnh của cuốn phim về tội phạm vì nhân vật chính là một người lớn lên trong nghèo khó, chật vật mưu sinh để chăm sóc em gái của mình.

“Và, điều đó cho thấy rằng ngay cả trong những giai đoạn sóng gió hay khó khăn nhất của cuộc đời, bạn vẫn có thể tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình.”

Theo lời anh, rất nhiều nhà biên kịch có tiếng nói trong ngành đã đọc qua kịch bản này và họ đánh giá rất cao.

“Chúng tôi liên tục họp bàn với nhiều hãng phim, từ các hãng lớn cho đến những đơn vị nhỏ hơn. Trong số đó, có một hãng phim lớn ở Hollywood tỏ ra rất hào hứng với kịch bản và muốn bỏ vốn sản xuất. Khi bàn đến phần sáng tạo, họ hoàn toàn ủng hộ chúng tôi,” đạo diễn Chris Yên kể lại trong cuộc nói chuyện qua Zoom.

Thế nhưng, mọi chuyện lại trở nên khác đi khi chuyển sang quảng cáo. Nhóm đầu tư bắt đầu muốn thay đổi mọi thứ theo góc nhìn thuần túy về lợi nhuận. Có nhiều điều vô lý theo cách nhìn của một đạo diễn sáng tạo như Chris, nhưng hoàn toàn hợp lý vì “hợp túi tiền” theo góc nhìn của người đầu tư.

“Chẳng hạn, họ bàn về thời lượng phim, dự trù ​​ban đầu là 2 tiếng 15 phút, nhưng họ lại muốn cắt bỏ tới 45 phút để rút ngắn xuống còn 1 tiếng 30 phút. Lý do là họ tin rằng phim ngắn hơn sẽ thu hút nhiều khán giả hơn và dễ dàng xếp lịch chiếu tại các rạp hơn. Họ không quan tâm đến phẩm chất nghệ thuật,” Chris nói.

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên (giữa,) cũng là diễn viên chính trong bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá.” (Hình: Chris Yên cung cấp)

Nhưng đó chỉ là một việc nhỏ. Điều làm cho chàng đạo diễn gốc Việt này “tức giận” – theo lời anh – là câu hỏi “liệu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có giống nhau hay có thể thay thế cho nhau hay không?”

Công ty này hiểu Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, họ đã đặt câu hỏi liệu câu chuyện có thể chuyển đổi qua lại giữa hai nền văn hóa hay không. Sau đó họ nói Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ. Hiện tại, quy mô của nó thậm chí còn lớn hơn cả Bollywood của Ấn Độ. Thêm nữa là họ muốn có những tên tuổi lớn, những diễn viên nổi tiếng tham gia bộ phim.

“Do đó, vì không có sẵn những tên tuổi lớn của Việt Nam, họ thà chuyển hướng sang bối cảnh Trung Quốc để có thể đưa các ngôi sao Trung Quốc vào phim,” Chris nói, giọng nói đầy chất điện ảnh của chàng trai gốc Việt vẫn chưa nguôi cơn tức giận.

Chris nói anh là “một người Việt Nam đang kể câu chuyện về dân tộc mình,” và điều đó chính là điều làm nên phẩm chất cao nhất của bộ phim.

Khi nhà đầu tư muốn nhân vật chính là người Trung Quốc và đưa các yếu tố Trung Quốc vào khắp mọi nơi trong kịch bản gốc, anh Chris trả lời không cần suy nghĩ: “Không!”

“Là một người Mỹ gốc Việt đại diện cho văn hóa và cộng đồng của mình, thật vô lý khi làm một bộ phim về người Trung Quốc. Tôi tin rằng rất nhiều người có những tài năng tiềm ẩn. Kỹ năng có thể được đào tạo và kinh nghiệm có thể được tích lũy, thì niềm đam mê lại là thứ bẩm sinh. Có rất nhiều người Việt đang khao khát những cơ hội như thế này, và tôi muốn mang đến cho họ cơ hội đó.”

Số tiền $1 triệu cho một dự án phim dài đầu tay đối với một đạo diễn trẻ như Chris Yên không phải là con số nhỏ. Phim ngắn đầu tiên của anh, “Suburban Story” thực hiện với chi phí chỉ $10,000 và đoạt 15 giải thưởng. Nhưng Chris nói, mục tiêu của anh là đại diện cho người Việt, kể những câu chuyện của mình. Anh không muốn trở thành kẻ bán rẻ lý tưởng của chính mình, “nếu kiên định giữ vững lập trường ngay từ đầu, mọi người sẽ hiểu rằng tôi ở đây là để kể câu chuyện của chính tôi và dân tộc mình.”

Những vùng xám đạo đức

Không phải ngẫu nhiên mà Chris lấy tên là Chris Yên. Tên thật của anh là Chris Nguyễn. Nhưng Chris thích chữ “Yên” nghĩa là “Peace.” An yên, bình yên, đó là điều mà chàng trai gốc Việt sinh năm 2000 này mong muốn.

Mọi chuyện bắt nguồn từ xuất thân và năm tháng trưởng thành của anh. “Là một người Mỹ gốc Việt, tôi đã chứng kiến ​​cảnh cha mẹ mình chật vật mưu sinh tại đất nước này. Họ gặp nhau khi đến Mỹ sau Chiến Tranh Việt Nam. Cả hai nỗ lực xây dựng cuộc sống cũng như xoay xở để tồn tại theo những cách rất khác biệt,” Chris kể lại, khi tôi hỏi “Bầu, Cua, Tôm Cá mang màu sắc gì?”

“Mẹ tôi đi theo con đường truyền thống, bà học đại học và trở thành kỹ sư máy tính. Ngược lại, cha tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với văn hóa và ngôn ngữ mới. Để kiếm sống, ông vướng vào con đường phạm pháp. Ông từng buôn bán ma túy, nghiện cờ bạc, điều hành sòng bạc chui, cho vay nặng lãi, và cả môi giới mại dâm. Ông đang ngồi tù vì nghiện ma túy đá. Tôi chứng kiến ​​tất cả điều đó khi còn nhỏ.”

Cha mẹ và Chris Yên khi mới chào đời. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Chris Yên lớn lên giữa hai lối sống hoàn toàn trái ngược. Điều đó dạy anh từ khi còn rất nhỏ rằng, “luôn tồn tại những vùng xám trong đạo đức.”

Không phải mọi thứ đều chỉ có tốt hay xấu, trắng hay đen. Đôi khi người ta làm điều xấu vì những lý tưởng hoặc lý do chính đáng. Người cha của Chris cũng vậy, “ông làm tất cả những điều đó chỉ vì muốn nuôi nấng tôi nên người. Tôi nghĩ đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện của mình.”

Chris nói anh đặc biệt bị những vùng xám đầy phức tạp trong đạo đức con người cuốn hút. Những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất, chẳng hạn như Bố Già (The Godfather) – đó là câu chuyện về tội phạm, nhưng khán giả vẫn say mê vì họ muốn thấu hiểu lý do đằng sau những hành động đó.

“Câu chuyện của tôi cũng bắt nguồn từ chính tư duy ấy,” Chris giải thích. “Với Bầu, Cua, Tôm Cá, tác phẩm này được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian, đó là những thứ đã gắn liền với tuổi thơ tôi và là hình ảnh phản chiếu chân thực văn hóa Việt Nam mà tôi từng trải nghiệm. Trò chơi này cũng đại diện tuyệt vời cho vùng Bay Area, nơi tôi lớn lên, một vùng đất hội tụ các nền văn hóa đa dạng. Nếu quan sát các hình ảnh trên bàn cờ, bạn sẽ thấy sự kết hợp của đủ loại hải sản và sinh vật biển cùng hiện diện tại đó.”

Trong vùng xám của Chris, anh đặt cha mẹ của mình – những người tị nạn – vào một vùng trên bàn cờ “Bầu, Cua, Tôm Cá.” Nơi đó, họ đánh cược với một đất nước mà họ hoàn toàn không thấu hiểu và phải vật lộn để sinh tồn. “Họ không có thời gian để hoàn thiện bản thân. Họ buộc phải lao ngay vào cuộc mưu sinh, vào công việc để xây dựng cuộc sống cho thế hệ của tôi,” Chris nói.

“Cha mẹ tôi vẫn còn mang nặng những tổn thương tâm lý từ chiến tranh và gặp nhiều bất ổn trong cuộc sống.”

Suốt thời thơ ấu của anh, cha mẹ thường xuyên tranh cãi và gặp rắc rối. Chris thậm chí chẳng nhớ nổi khoảnh khắc nào cả nhà anh từng cùng ngồi ăn tối vui vẻ bên nhau.

Điện ảnh luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Chris Yên. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Tuy nhiên, Chris nhớ, có một khoảng thời gian hiếm hoi, anh thực sự được trọn vẹn ngồi bên cạnh cha mẹ, đó là khi gia đình cùng ngồi trong phòng xem một bộ phim dài hai tiếng đồng hồ. “Chúng tôi có thể ngồi lặng yên và cùng tận hưởng thời gian đó. Từ đó tôi nhận ra rằng nghệ thuật và điện ảnh có sức mạnh kết nối các nền văn hóa. Phim ảnh đã gắn kết chúng tôi lại, giúp xoa dịu những xung đột và xóa nhòa khoảng cách thế hệ. Chính điều đó đã khơi dậy trong tôi niềm đam mê điện ảnh. Tôi khao khát được tạo ra những câu chuyện có thể mang lại sự kết nối tương tự cho mọi người, dù họ là người Việt, người da đen, người Mexico, hay bất kỳ ai khác.”

Những câu chuyện của người Việt tị nạn ở Mỹ cứ như chén cơm của Thạch Sanh, chẳng khi nào vơi. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, tạo thành những vòng tuần hoàn nhiều màu sắc. Giữa những mảng màu đó, có những người tự vươn lên từ những vùng xám để thực hiện mơ ước cho cuộc đời mình. Câu chuyện của đạo diễn Chris Yên, người thẳng thừng từ chối số tiền tài trợ $1 triệu của Hollywood để giữ đúng kịch bản gốc bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá” của mình, là một câu chuyện như thế. [đ.d.]


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California