BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

Patrick Lew Hayashi – PLB–Công Giáo Rôma

Nội dung do AI tạo

BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

(Nguyễn Bình Phương)

Một số người khi rời khỏi cuộc đời không để lại phía sau chỉ một khoảng trống, mà để lại một cách sống khiến người ở lại phải suy nghĩ. Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, một học giả xuất thân từ truyền thống Nho học và đã gặp gỡ Đức Kitô, là một con người như thế. Có lẽ điều đẹp nhất nơi thầy không nằm ở chỗ thầy đã biết bao nhiêu, mà ở chỗ những điều đã học cuối cùng đã trở thành một phong thái sống.

Một người xuất thân từ truyền thống Nho học, khi gặp Đức Kitô, không nhất thiết phải vứt bỏ tất cả những gì mình đã nhận được từ cha ông. Trái lại, nơi một tâm hồn đã được chuẩn bị bởi Nho học, Tin Mừng có thể được đón nhận không như một thứ xa lạ, mà như một ánh sáng mới soi vào những khát vọng sâu xa vốn đã có trong lòng người.

Nho gia nói đến người quân tử biết kính Trời, tu thân, trọng nghĩa, giữ mình và sống có trách nhiệm với tha nhân. Kitô giáo nói đến con người biết phó thác nơi Thiên Chúa, sống trong sự thật và yêu thương tha nhân. Hai bên dĩ nhiên không phải là một, và không thể giản lược Công giáo vào Nho giáo. Nhưng nơi một con người cụ thể, những giá trị nhân bản có thể gặp nhau, đối thoại với nhau và cùng hướng con người về một đời sống cao hơn chính mình.

Có lẽ vì thế mà nơi thầy Nguyễn Khắc Dương, người ta dễ nhận ra dáng dấp của một bậc quân tử hiếm hoi còn sót lại trong thời đại AI, nhưng là một quân tử đã đi qua cửa ngõ của Tin Mừng.

Không phải thứ quân tử của danh vọng, mà là quân tử của sự tự chủ. Không phải cái cao ngạo của người có học, mà là sự khiêm nhường của người càng biết nhiều càng ý thức mình còn nhỏ bé trước chân lý. Không phải sự cứng cỏi của một người luôn muốn bảo vệ cái tôi, mà là sự bình thản của người đã học được cách đặt mình xuống.

Một người từng học triết ở Sorbonne có thể trở thành một học giả. Nhưng một người có thể sống giản dị, khiêm cung và gần gũi đến mức nhiều người nhớ về thầy trước hết như một người cha tinh thần, đó lại là một chuyện khác. Bởi tri thức, nếu chỉ làm con người biết nhiều hơn, vẫn chưa đủ. Tri thức chỉ thật sự trở nên cao quý khi nó làm con người biết sống tốt hơn.

Có lẽ đây mới là điểm sâu nhất nơi cuộc đời thầy: tri thức cuối cùng không làm con người trở nên lớn hơn người khác, mà làm người ta nhỏ lại trước sự thật.

Càng hiểu biết, càng biết mình không phải là trung tâm của vũ trụ. Càng học nhiều, càng phải học cách lắng nghe. Càng đi xa trên con đường tư tưởng, càng nhận ra rằng có những câu hỏi mà lý trí có thể mở ra nhưng không thể tự mình khép lại.

Và ở đó, triết học gặp đức tin.

Không phải bằng một cuộc tranh luận thắng thua, mà bằng một đời người.

Thầy Nguyễn Khắc Dương đã sống giữa nhiều thế giới: giữa Đông và Tây, giữa Nho học và Kitô giáo, giữa triết học và đời sống, giữa giảng đường và đời sống tu trì, giữa một thế kỷ đầy biến động và một tâm hồn ngày càng đi vào thinh lặng. Chính vì đã đi qua nhiều thế giới ấy mà thầy trở thành một nhịp cầu tự nhiên giữa những con người vốn dễ nghĩ rằng mình thuộc về những thế giới khác nhau.

Có một điều rất đẹp trong truyền thống Nho gia: người quân tử không chỉ lo thành đạt, mà lo thành nhân. Và có lẽ Kitô giáo cũng đặt trước con người một câu hỏi tương tự, nhưng ở một chiều kích sâu hơn: con người sẽ trở thành ai trước mặt Thiên Chúa?

Nếu vậy, cuộc đời thầy Nguyễn Khắc Dương có thể được đọc như một hành trình rất dài của một con người đi tìm chân lý, nhưng cuối cùng nhận ra rằng chân lý không chỉ là điều để hiểu, mà còn là điều để sống.

Ngày 28 tháng 9 năm 2026, sau hơn một thế kỷ hiện diện giữa cuộc đời, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương đã trở về với Chúa. Thầy vừa bước sang tuổi 102 được mấy ngày.

Một thế kỷ đủ dài để chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, của Giáo hội, của học thuật và của chính những hệ tư tưởng từng tưởng như sẽ tồn tại mãi mãi. Nhưng cuối cùng, những thứ ấy rồi cũng đi qua. Chức danh rồi cũng qua, học vị rồi cũng qua, một thời đại rồi cũng qua.

Điều còn lại là một con người.

Một người đã mang trong mình hồn cốt của một gia đình Nho học, bước qua triết học Tây phương, gặp Đức Kitô và sống phần đời còn lại trong âm thầm kiếm tìm Thiên Chúa.

Bởi thế, gọi thầy là một học giả có lẽ vẫn chưa đủ. Gọi thầy là một người Công giáo cũng chưa đủ. Có lẽ phải gọi thầy bằng một chữ rất cũ mà thời nay chúng ta ít dùng: quân tử.

Không phải quân tử của bảng vàng, áo mũ hay danh phận, mà là quân tử của tu thân, trọng nghĩa, kính Trời và sống tử tế giữa cõi nhân gian.

Và khi chữ “quân tử” ấy được soi sáng bởi Tin Mừng, nó không còn chỉ là lý tưởng của một nền đạo học, mà trở thành một lời mời gọi con người sống đẹp trước mặt Thiên Chúa.

Thầy đã đi qua cõi nhân gian như thế.

Âm thầm, Thanh bạch, Khiêm nhường.

Để rồi khi thầy rời cõi nhân gian, điều khiến người ta nhớ không chỉ là một học giả uyên bác, một giáo sư của nhiều vị giám mục và của cả một thời đại, hay một con người đã sống hơn một thế kỷ. Người ta nhớ một bậc quân tử đã đi qua những biến động của thời cuộc mà vẫn giữ được cốt cách của mình.

Và có lẽ đó cũng là câu hỏi thầy để lại cho những người còn ở lại: sau cùng, một đời người được đo bằng những gì mình đã sở hữu, hay bằng con người mà mình đã trở thành?

(Facebook Nguyễn Bình Phương) 


 

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Thanh Nguyen

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương

của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Trong bài thơ SỞ NGUYỆN, Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương viết:

“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi”

Đọc những vần thơ trên, ta có cảm giác mình bước từ triết lý Trung Hoa sang triết lý nhà Phật và cuối cùng là triết lý Ki-tô giáo. Từ “tấm thân đất chở với trời che”, ta nghe vọng về triết lý vũ trụ quen thuộc “cha trời-mẹ đất”, trời cho mưa xuống và đất nảy mầm, con người như một hữu thể hình thành từ tương tác âm-dương. Qua “nhịp ngựa xe”, “trần sắc mười phương đau đớn thấy”, “thế âm bốn cõi xót xa nghe” hình như là tiếng ai oán đau lòng của nhà Phật, nơi vẫn quan niệm “đời là bể khổ”. Sang “cát bụi hoàn nguyên thể, nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, ta nhớ về mầu nhiệm sáng tạo từ bùn đất trong sáng thế ký -hởi người hảy nhớ mình là bụi tro và mai ngày sẽ trở về tro bui” và  ý nghĩa dấn thân một cách vô vị lợi của kiếp nhân sinh nơi Ki-tô giáo “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, để rồi tìm được sự cứu độ nơi “cây khổ giá” , qua sự chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria, mà sau này thầy diễn tả một cách rõ ràng hơn trong bài thơ “Ave Maria”: “Ave Maria, Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc, con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên, và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt, Đâ’ng muôn trùng khấn nhận đời con”.

Cộng đoàn Phụng vụ thân mến,

Người đang nằm giữa chúng ta trong những giây phút ly biệt này được nhiều người yêu mến và kính trọng từ đáy lòng. Người thì gọi thầy là nhà tư tưởng, triết gia, thậm chí là thần học gia. Người khác lại cho rằng thầy là một thầy giáo uyên thâm với những suy tư độc đáo. Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì lại nhìn nơi thầy như là sự kết tinh, hội tụ độc đáo của tư tưởng Đông-Tây, lương duyên tuyệt đẹp giữa tinh hoa của văn hóa như là hoa trái của Hạt giống Ngôi Lời và Đức tin Ki-tô giáo. Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì xem thầy là bậc chân tu, dù thầy không còn khác lên mình áo cà-sa hay tà áo dòng.

Nhưng đối với Thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương, Thầy tự ví mình như một hành giả, một kẻ truy tìm chân lý của đời mình và cho đời mình. Và rồi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, Thầy đã gặp được được Đấng Thầy mong đợi. Tuy nhiên, để đến với chân lý này, Thầy đã phải chấp nhận những cuộc “tử đạo” trong đời thường. Bài đọc thứ nhất trích sách Tông Đồ Công Vụ kể về cách thức Stépano, vị thánh bổn mạng của Thầy, chịu tử đạo. Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn luôn gầy gò, phải bị điệu ra khỏi thành Giesusalem. Nhưng để chọn lựa Đức Ki-tô, trái tim của Thầy có lẽ cũng có lúc đã rướm máu. Như chúng ta đã biết, sinh ra trong một gia đình Nho Giáo nên từ nhỏ, thầy Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí là khinh thường đạo này. Tuy nhiên, vì thi trượt vào trường Quốc Học ở Huế, nên Thầy vào học trường Thiên Hữu, nơi thầy đã có cơ hội tìm hiểu về Đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh và nay là Hà Tĩnh. Việc trở thành người Kitô hữu của thầy đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là mẹ của thầy. Bà mẹ chất vấn thầy rằng: “Ông bà tổ tiên của mày có tội gì, mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?, Tội của mày là tội bất hiếu, tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không sạch được, vậy chỉ một chút nước trên đầu thì sao mà rửa sạch được chứ”. Cứ đặt chúng ta vào hoàn cảnh của thầy, một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau của thầy. Chính thầy cũng biết rằng mẹ hết mực yêu mình. Tình yêu của người mẹ đã làm cho bà có lúc cũng tự vấn: “Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?”. Cũng như Đức Giê-su, thầy đã chọn cách “băng qua giữa họ mà đi”. Băng qua những dị nghị, băng qua những tập tục, băng qua triết lý nhà nho mà cả gia đình đang theo đuổi để đến với Đức Ki-tô. Thầy không dừng lại ở việc vào Đạo, nhưng hành giả của chúng ta đã chọn con đường triệt để qua ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh như Đức Ki-tô đã sống qua các dòng tu như Phan-xi-cô, Biển Đức và Carmel. Ai cũng biết về “niềm vui tu trì” theo cách nói của Giáo hoàng Phan-xi-cô, nhưng ai cũng hiểu đi tu là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính tu trì: nhân đức sạch sẽ như lưỡi gươm đâm vào con tim vì trái tim máu thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu, nó đâm thẳng vào thịt gia khi thân xác nổi loạn với những ước muốn của xác thịt vốn được tạo thành như thế; nhân đức vâng lời như mũ gai đội lên đầu vì con người luôn muốn ngẩng cao đầu với khuynh hướng muốn tự chủ tuyệt đối; nhân đức khó nghèo như giấm chua được đưa lên thập giá vì bản chất con người muốn sở hữu những gì cần thiết cho mình. Với một con người suy nghĩ chẳng giống ai, luôn đi ra ngoài những mô phạm suy tư truyền thống, một hành giả thích lang thang trên dòng đời thì chắc chắn những kỷ luật của dòng tu là những viên đá không dễ dàng đón nhận. Và mỗi lần chọn lựa ra hay vào là một lần trái tim rướm máu. Việc theo Stéphano sống đời tử đạo lớn nhất có lẽ là sau biến cố 1975. Một giáo sư danh tiếng về triết học, văn học của Đà Lạt và Sài gòn từ nay được những người tự mệnh danh là “đỉnh cao của trí tuệ” cho đi “cải tạo”. Hơn bao giờ hết, con người này cảm thấy đói và rét. Một người theo thích ăn phô-ma với bánh mì nóng cùng chút rượu vang đỏ từ nay bị dạ dày kêu gào. Hơn bao giờ hết, chính giai đoạn này, giai đoạn cho thầy hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá đã cắm vào kiếp nhân sinh. Lâu nay, thầy rao giảng về thập giá, nhưng lúc này, thầy mới thật sự sống mầu nhiệm thập giá. Đặc biệt, nơi đây thầy thật sự theo Đức Ki-tô và Stêphanô, không một chút oán thù: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm chẳng biết”. Những ai đã gặp thầy trong giai đoạn này thực sự cảm mến cung cách của hành giả Khắc Dương, một môn đệ của Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Hôm nay suy tư về điều này, ta mới thấy rõ Thập giá đã nở hoa. Chính nơi vùng đất Bình Thuận mà thầy bị tù đày, thì cũng chính mãnh đất này đã ôm ấp thầy những năm tháng cuối đời nhờ sự chăm sóc tận tình của anh em Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô Tôi Tớ. Và mãnh đất cải tạo ngày xưa nay đã mở ra đón nhận thân xác của thầy. Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì con đường ân sủng quan phòng luôn diệu kì gấp bội.

Con đường hành giả đi không chỉ về mặt địa lý, từ miền quê Hương Sơn tới Đức Thọ rồi ra thành phố Vinh; Từ Vinh của miền Bắc vào Nha Trang của miền Nam thời đất nước còn chia cắt; từ đông rồi sang Tây, từ miền quê đến Kinh Thành Ánh Sáng, nhưng là con đường rong ruỗi chọn lựa. Chính thầy đã có lần lý giải về việc “bỏ” gia đình để theo Đạo: “Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống “trên” người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng “đời là bể khổ, nên phải tránh đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người… Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu…”. Ki-tô giáo không phải là “thuốc phiện ru ngủ con người” như ai đó từng nói. Việc tin vào Thiên Chúa Tạo Dựng đã thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo để làm cho thế giới này đẹp hơn; biến cố Đức Ki-tô nhập thể trong xác phàm làm cho con người tôn trọng thân xác, sống trọn vẹn kiếp người hơn; biến cố phục sinh trong thân xác mở ra một hy vọng cho vĩnh cửu rằng sự sống chiến thắng sự chết. Khi Stêphanô nhìn lên trời cao, ngài đã nhìn thấy Đức Ki-tô đứng bên hữu Thiên Chúa. Đây là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ của Ki-tô giáo. Thông thường, ở các triều đình, vua chúa và các quan lại thường ngồi để xét xử. Nhưng Đức Ki-tô đã đứng, đứng như người chủ sẵn sàng thắt lưng để hầu hạ. Thiên Chúa của chúng ta đứng, đứng để đón nhận, đứng để phục vụ con người và hôm nay Ngài đứng để đón Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Để đi đến cửa trời, hành giả thân yêu của chúng ta đã theo một Đức Ki-tô không có nơi gối đầu như những môn đệ đầu tiên mà bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã kể lại. “Chim có tổ, chồn có hang, còn Con Người không có nơi gối đầu”. Quả thực, Đấng sáng tạo muôn loài đã chấp nhận lệ thuộc. Đấng Tòan Năng đã nằm bất động cho thụ tạo đóng đinh. Trên Thập giá, Đức Giê-su đã không có nơi tựa đầu. Ngài gục đầu trao ban Thần Khí. Hay nói đúng hơn, Ngài tựa đầu vào cung lòng của Chúa Cha. “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng không có nơi gối đầu. Thầy không có nhà cao, cửa rộng. Với bộ quần áo nâu giản dị, thầy lang thang đây đó. Hai nơi tạm trú dài nhất là Tu Hội Bác Ái Bình Triệu và Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô tôi tớ. Nhà tạm của thầy là trái tim của những học trò, nhà vĩnh hằng của thầy là cung lòng Thiên Chúa. Khi thời cuộc không cho phép, thầy đi dạy các nhóm tu chui. Thầy đến rồi thầy lại đi. Góc xó nào thầy cũng ngủ được. Thầy như là người cha. Nhiều khi giữ luôn vai trò người mẹ. Điều xem ra nghịch lý là thầy không có nơi gối đầu, nhưng thầy lại là một nhip cầu tìm nơi gối đầu cho người khác. Ai cô đơn thầy nâng đỡ; ai thất tình thầy ủi an; ai túng thiếu thầy cho ít tiền; ai học giỏi thầy cho cuốn sách; ai thất nghiệp thầy giới thiệu việc làm, ai muốn tu trì thầy gửi gắm một nhà dòng phù hợp.

Có lẽ việc không có nơi gối đầu đã giúp thầy thanh thoát, nhẹ bước ra đi đây đó theo chân Đức Ki-tô. Con người này không còn đóng khung trong tu viện để gặp Thiên Chúa nơi mỗi người và mọi người, “giữa chợ đời trưa sớm” như cách viết của thầy. Hành giả này không còn theo chuẩn mực giờ kinh phụng vụ, để có thể gặp Chúa mọi lúc, mọi nơi, vào giờ ta không ngờ, vào nơi ta không nghĩ. Vì thế, khi ta hẹn gặp thầy ở một nhà thờ nào hay một nhà dòng nào thì ta thường thấy thầy đến trước và quỳ ở một góc nguyện đường với tràng hạt trong tay.

Dù dấn thân như Thiên Chúa đã dấn thân trong lịch sử nhân loại để làm cho thế giới này linh thiêng và nhân bản và đáng sống hơn theo kiểu “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, nhưng hành giả của chúng ta tin vào sức mạnh của ân sủng, của Thập giá. Với thầy, tự độ là điều bất khả thể. Khi một con bò rơi xuống giếng, cần phải có ai đó đưa nó lên. Ngay cả sự khôn Ngoan của con người, vốn là ân huệ của Thiên Chúa sáng tạo, cũng có thể lệch lạc vì nó bị chi phối bởi nguyên tội cũng như sự hữu hạn của con người. Vì thế phải cần đến mặc khải thần linh, cần đến cây Thập tự. Chỉ có máu của Con chiên vẹn sạch mới xóa tội trần gian. Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người từ đất lên trời. Chỉ có Đấng vô hạn mới kéo con người ra khỏi hữu hạn. Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới bảo tồn sự sống. Chỉ có Đấng hằng sống mới cho con người được mãi mãi trường tốn. Chỉ có Đấng sống lại trong bản thể người mới cho thân xác con người được phục sinh từ cõi chết. Với thầy, sự dữ đã thực sự đi vào thế gian với muôn màu sắc thái, ví như đam mê tiền bạc thì ghê gớm, nhưng tình yêu của Thiên Chúa lớn lao vô tận. Ở đây ta cũng bắt gặp nghịch lý nội tại nơi con người của thầy. Thầy từ bỏ vật chất và thầy xem “tiền bạc là thánh thể của ma quỷ”, nhưng thầy lại hôn lên tờ dollar, nếu ai đó biếu thầy đồng bạc xanh. Phải kể đến một vài yếu đuối như thế để nói rằng hành giả của chúng ta vẫn rất người. Có lẽ cũng chính điều này mà thầy rất say mê câu nói của Charles Péguy: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con từ bùn đất, xin Ngài đừng mỉm cười khi con sa chút bụi trần”!

Hôm nay chúng ta trả “cát bụi về nguyên thể”, để “lót chân êm khách vỉa hè”, đồng thời trả hồn thiêng về với vòng tay của Đấng Từ Bi đúng vào ngày lễ thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, một vị thánh mà thầy yêu quý. Xin Chúa ẳm Thầy vào lòng. Xin Cha cho hành giả lang thang tìm Cha trên cỏi đời được gặp lại Cha. Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi muôn đời, nhờ lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, như thầy đã viết:

“Ave Maria

Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,

Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu”.


 

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Linh Mục Mi Trầm

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Sinh: ngày 24/9/1925, tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học nổi tiếng. Thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Thầy là em của bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, và anh của GS Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

Thuở nhỏ học tại Trường Thiên Hựu (Providence), Huế.

Giai đoạn 1945–1949, thầy từng tham gia một thời gian trong các hoạt động xã hội và Đội Tuyên truyền Việt Minh Trung Bộ, sau đó trở về dạy học.

Năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chọn thánh Stêphanô làm bổn mạng. Đây là bước ngoặt rất lớn trong cuộc đời tìm kiếm đức tin của thầy.

1950–1954: vào tu học với Dòng Phanxicô tại Vinh, sau đó tiếp tục tu học tại Nha Trang.

Sau một thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự, thầy trở lại đời sống tu trì.

1956–1965: sang Pháp học tập, tiếp tục tu học và học Triết học tại Đại học Sorbonne. Thầy tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Điểm này cần lưu ý: một số nơi gọi thầy là “tiến sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng các nguồn nghiên cứu cho biết thầy không có bằng tiến sĩ; danh xưng “giáo sư” chủ yếu xuất phát từ quá trình giảng dạy và uy tín học thuật.

Những năm giảng dạy tại Đà Lạt

Sau khi trở về Việt Nam cuối năm 1965, thầy giảng dạy tại một số cơ sở Công giáo ở Sài Gòn rồi Viện Đại học Đà Lạt.

Tại đây, thầy từng giữ vai trò Trưởng Ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết, đồng thời được mời giảng tại một số đại học khác. Rất nhiều thế hệ sinh viên, linh mục và tu sĩ từng là học trò của thầy.

Điều đặc biệt là học trò thường gọi ông một cách kính trọng là “Thầy Nguyễn Khắc Dương”, dù về mặt học hàm chính thức ông không phải là giáo sư do Nhà nước phong.

Một cuộc đời tìm kiếm Thiên Chúa

Điểm nổi bật nhất trong cuộc đời thầy không chỉ là chuyện học hành hay giảng dạy, mà là một hành trình dài đi tìm ý nghĩa cuộc đời và chân lý đức tin.

Một nghiên cứu về cuộc đời thầy nhận xét rằng nơi Nguyễn Khắc Dương luôn có một sự thao thức, khao khát và tìm kiếm; cuối cùng, thầy tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của đời mình trong Đức Giêsu Kitô.

Sau năm 1975, cuộc sống của thầy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: có thời gian ở Đà Lạt, làm việc tại Lâm Đồng, tiếp tục giảng dạy và sau này dành nhiều thời gian cho việc viết hồi ký, nghiên cứu và hướng dẫn triết học cho các chủng sinh, tu sinh.

Những năm cuối đời, thầy sống tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ thuộc Giáo phận Phan Thiết.

Qua đời

Ngày 24/9/2026, thầy vừa mừng sinh nhật 102 tuổi.

Đến 20g15 ngày 28/9/2026, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương qua đời, chỉ bốn ngày sau khi bước sang tuổi 102.

Theo Internet


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

Nghề Nail ở Mỹ, ai trong nghề mới hiểu…

Phạm Sơn liêm

Có người hỏi tôi:

– Làm nail ở Mỹ chắc giàu lắm hả? 

Tôi cười.

– Giàu… kinh nghiệm thì có.

 Muốn biết nghề nail là gì, cứ đứng trước cửa tiệm lúc 9 giờ sáng.

 Chủ tiệm cầm ly cà phê chưa kịp uống.

Điện thoại reo.

– Chị ơi…

– Gì em?

– Hôm nay em nghỉ nha.

– Sao vậy?

– Xe em… không chịu nổ.

– Xe hư hả?

– Dạ… em chưa ra xe nữa, nhưng em có linh cảm.

 Chủ tiệm tắt điện thoại.

Thở dài. Mở cửa.

 Mỉm cười đón khách như chưa có chuyện gì xảy ra.

10 giờ.

Khách bước vào.

– Tôi có hẹn.

– Dạ, mời chị.

– Tôi chỉ có ba mươi phút thôi nha.

 Trong đầu chủ tiệm nghĩ:

“Ba mươi phút mà muốn full set, ombré, vẽ hoa, đắp bột, đính đá… chắc phải có phép màu.” 

Ngoài miệng vẫn cười:

– Dạ, tụi em cố gắng.

11 giờ.

 Thợ nhìn lịch.

– Hôm nay đông quá chị.

 12 giờ.

– Chị ơi… em xin về sớm.

– Sao vậy?

– Em mệt.

– Khách còn cả chục người.

– Dạ… em mệt thiệt.

 Thế là chủ tiệm lại xắn tay áo, kéo quần ngồi làm. Có ngày làm tới tối. Đứng lên mới biết… chân mình còn! 

Khách thì đủ hạng.

Có bà dễ thương. Làm xong.

– Cảm ơn em nhiều nha.

Tip hai mươi đô. Người thợ vui cả ngày.

 Nhưng cũng có bà… Làm hai tiếng rưỡi. Đổi màu ba lần.

 Sửa từng ngón.

 Xong đứng dậy. Để lại… Một đồng.

Rồi cười:

– See you next time!

 Người thợ cũng cười. Nhưng trong lòng chỉ muốn hỏi:

“Next time… chị nhớ mang theo cái ví lớn hơn nha!”

 Có ông chồng đưa vợ đi làm nail. Ngồi ghế chờ. Mười phút hỏi:

– Xong chưa?

Ba mươi phút sau.

– Còn bao lâu?

Một tiếng sau.

– Sao lâu dữ vậy?

 Đến khi tính tiền. Ông nhìn hóa đơn. Rồi nhìn bộ móng.

Lẩm bẩm:

– Anh thấy cũng giống hồi nãy mà… Bà vợ liếc một cái.

 Ông im luôn.

 Rồi đến mùa hè. Mùa cưới.

 Mùa prom. Mùa tốt nghiệp.

 Điện thoại reo liên tục.

– Chị còn chỗ không?

– Dạ hết rồi.

– Em làm giúp chị năm người.

– Dạ… hết thật rồi.

– Thôi ráng chen đi.

 Chủ tiệm nhìn lịch kín đặc. Chỉ biết cười trừ.

 Còn chuyện mở tiệm… Đó mới là câu chuyện dài. Hôm nay thấy bạn khai trương.

Tuần sau mình cũng mở.

 Tiệm nào cũng:

“Grand Opening.”

“Tặng quà.”

“Giảm giá.”

“Free design.”

“Free paraffin.”

 Khách thì vui. Chủ tiệm thì hồi hộp.

 Sáu tháng sau…

 Có tiệm đông nghịt. Có tiệm lặng như tờ. 

Có tiệm âm thầm sang bảng hiệu.

 Người ngoài tưởng làm chủ là oai. Người trong nghề mới biết… Làm chủ nhiều khi là người về sau cùng. Tắt đèn cuối cùng. Khóa cửa cuối cùng. Và là người thức khuya nhất để tính xem… Tháng này đủ tiền trả tiền thuê chưa?

 Hai mươi, ba mươi năm trôi qua. Biết bao gia đình người Việt lớn lên từ nghề nail.

 Có người từ đôi bàn tay cầm cây dũa mà nuôi con thành bác sĩ.

Có người nuôi con thành kỹ sư.

Có người trả xong căn nhà đầu tiên.

Có người đón được cha mẹ sang Mỹ đoàn tụ.

 Nghề nail không phải nghề sang.

Nhưng là nghề lương thiện.

Không phải nghề dễ.

 Nhưng là nghề đã cưu mang hàng trăm ngàn người Việt trên đất Mỹ.

Vì vậy, nếu một ngày bạn bước vào tiệm nail, hãy mỉm cười với người thợ.

Có thể họ đã ngồi tám tiếng liên tục.

Có thể lưng họ đang đau.

Có thể tối nay họ còn phải về đón con, nấu cơm, trả hóa đơn.

 Nhưng họ vẫn sẽ hỏi bạn bằng nụ cười quen thuộc:

“Hôm nay mình làm màu gì, chị?”

 Đó không chỉ là một câu hỏi.

 Đó là cách họ tiếp tục mưu sinh, nuôi gia đình và giữ lấy giấc mơ Mỹ bằng chính đôi bàn tay của mình.

 Phạm Sơn liêm


XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Thanh Nguyen

 XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Một cuộc đời dài đã khép lại…

Vào lúc 20g15, thứ Hai, ngày 28/09/2026,

Thầy Stephanô Nguyễn Khắc Dương đã nhẹ nhàng được Chúa gọi về.

Trong giây phút lắng đọng và thương nhớ này, Tu Đoàn chúng con kính xin quý Đức cha, quý Cha, quý Tu sĩ, quý thân nhân, ân nhân và mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện cho Thầy.

Hơn một thế kỷ của một kiếp người, với biết bao năm tháng, vui buồn, hy sinh và phó thác… giờ đây xin được trao lại tất cả trong vòng tay nhân từ của Thiên Chúa.

Thầy đã đi hết một hành trình thật dài.

Xin Thầy bình an trở về Nhà Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Thầy Stephanô được nghỉ yên muôn đời,

và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn Thầy.

Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện


 

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Cang Huynh

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Hôm nay, trong lúc chờ đến lượt khám bệnh, tôi nhìn quanh phòng chờ.

Có những người ở độ tuổi 50, 60, 70, thậm chí 80. Một số người chờ gặp bác sĩ, một số chờ xét nghiệm, và những người khác chờ điều trị. Ai cũng dường như mang trong mình những lo lắng, đau nhức và những cuộc chiến thầm lặng.

Một người phụ nữ ngồi gần đó đang nói về việc già đi khó khăn như thế nào. Bà ấy nói về bệnh tật, đau đớn, thuốc men và tất cả những vấn đề dường như đi kèm với tuổi già.

Tôi lặng lẽ lắng nghe.

Rồi tôi nhìn qua cửa sổ.

Bên ngoài có một cụ bà không chờ gặp bác sĩ. Bà ấy không đến đó để xét nghiệm hay điều trị.

Bà ấy chỉ đơn giản hy vọng ai đó sẽ cho bà vài đồng xu để mua thuốc giảm đau.

Thế mà, bà ấy vẫn mỉm cười.

Khoảnh khắc đó vẫn còn đọng lại trong tôi.

Một số người trong chúng ta may mắn có bác sĩ để tham khảo ý kiến, các xét nghiệm mà chúng ta có đủ khả năng chi trả, thuốc men để uống và người thân chăm sóc. Những người khác lại phải vật lộn để có đủ tiền mua ngay cả những thứ đơn giản như giảm đau.

Và người phụ nữ ấy vẫn mỉm cười.

Điều đó khiến tôi nhận ra rằng có lẽ tuổi già không phải lúc nào cũng là điều khiến chúng ta nặng lòng.

Đôi khi, chính cách chúng ta nhìn nhận tuổi già mới là vấn đề.

Đúng vậy, tuổi già mang đến những thách thức. Hôm nay có thể là huyết áp cao, ngày mai là đường huyết, đầu gối đau nhức, xương khớp mỏi mệt, đau lưng, hoặc một vấn đề sức khỏe bất ngờ.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải chăm sóc bản thân.

Đi khám bác sĩ khi cần thiết.

Uống thuốc khi cần.

Giữ cho cơ thể vận động.

Ăn uống lành mạnh hơn.

Nghỉ ngơi khi cần.

Và đừng bao giờ bỏ qua một vấn đề có thể điều trị được.

Nhưng trong khi chăm sóc cơ thể, chúng ta phải nhớ một điều quan trọng không kém:

HÃY CHĂM SÓC TÂM HỒN CỦA BẠN.

Bởi vì cơ thể có thể già đi nhưng trái tim vẫn có thể trẻ trung.

Có thể ta bước đi chậm hơn, nhưng ta vẫn có thể tận hưởng cuộc hành trình.

Tóc ta có thể bạc đi. Khuôn mặt ta có thể xuất hiện nếp nhăn. Cơ thể ta có thể có thêm vài cơn đau nhức.

Nhưng ta vẫn có thể cười.

Ta vẫn có thể thưởng thức một tách cà phê.

Nghe bài hát yêu thích của mình.

Ngồi bên những người ta yêu thương.

Ngắm hoàng hôn.

Tận hưởng một buổi sáng yên tĩnh.

Nắm tay ai đó.

Và biết ơn vì một ngày mới.

Già đi không có nghĩa là cuộc sống kết thúc.

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là cuộc sống đã thay đổi.

Vì vậy, đừng coi tuổi già là một hình phạt.

Hãy coi đó là một chương mới – một chương xứng đáng được kiên nhẫn, chấp nhận, cười và biết ơn.

Hãy chăm sóc cơ thể mình.

Bảo vệ sự bình yên của bạn.

Nuôi dưỡng tâm hồn bạn.

Và hãy nhớ:

Chừng nào bạn còn sống, vẫn còn điều gì đó để biết ơn.

Và chừng nào bạn còn thở, bạn vẫn còn thời gian để sống một cuộc đời tươi đẹp. 

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Xuyên Sơn – 

September 19, 2023

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Last updated Th9 18, 2023

Từ trước đến nay, có rất nhiều tờ báo cũng như bài viết nhận định về cuộc đời của nhạc sĩ Trúc Phương, có người nói ông sau 1975 có cuộc sống khốn khó, có người viết rằng ông sống quá bi đát, rồi cũng có tờ báo nói rằng khi qua đời ông chẳng còn gì cả …..

Những điều này có đúng là sự thật hay không ? xin mời quý vị xem qua lời tâm tình của những người con nhạc sĩ

Trúc Phương.

*****

Chị Trúc Loan, một người con gái của nhạc sĩ Trúc Phương tâm sự như sau :

Ba tôi sinh năm 1933, tại xã Mỹ hòa, quận Cầu ngang, tỉnh Trà vinh.

Quê nội tôi hiền hòa, chơn chất, nhưng nghèo khó nên ba tôi đã đi lên Sài gòn từ nhỏ. Ông vừa học, vừa làm, và cũng để theo đuổi niềm đam mê âm nhạc của mình.

Ba tôi viết nhạc và nổi tiếng từ rất sớm nhờ dòng nhạc boléro chậm, trữ tình của ông dễ nhớ, dễ nghe.

Ngoài cây đàn guitar thường xuyên bên cạnh, ba tôi còn biết chơi thành thạo các nhạc cụ khác.

Hồi còn nhỏ xíu, có lần theo ba đi Đại nhạc hội, ba tôi còn đàn contrabass trong dàn nhạc nữa, lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì cây đàn quá to này, ba phải đứng mới cầm được nó…

Khi chơi với các con, ba tôi thường lấy cây harmonica ra thổi…

Ba gặp má tôi khi bà còn đang đi học.

Ba cưới ngay khi má chỉ 16 tuổi !

Tôi được sinh ra vào thời điểm ba tôi viết nhạc nhiều nhất.. dù sau đó, tôi còn có thêm 5 đứa em nữa, nhưng ba vẫn luôn cưng tôi nhất nhà.

Ba tôi là một người đàn ông rất yêu gia đình, thương vợ thương con.

Ba tôi cũng là 1 người con, người cháu rất có hiếu.

Ngày xưa, dù nghèo, ở nhà thuê, nhưng ba tôi cũng nuôi bà cố tôi chu đáo. Khi làm có tiền, ba hay mua sắm đồ đạc mang về quê cho bà nội tôi…

Ba tôi hiền lành, chân thật , rất lạc quan và tốt bụng. Có lẽ vì vậy nên ai cũng quý mến.

Tính ba tôi lại rất nghệ sĩ, không vụ lợi, không tính toán nên không có dư.

Gánh nặng cơm áo gạo tiền, má tôi phải gánh vác từ lúc ba tôi phải nhập ngũ..

h2 – Chị Trúc Loan, con gái nhạc sĩ Trúc Phương.

Sống trong thời chiến, lại phải làm lính xa nhà, nên có lẽ ba tôi là người hiểu,  cảm nhận được tâm tình của người lính nên các sáng tác của ông lúc này là luôn dành cho những người lính: 

Kẻ ở miền xa,

Bông cỏ may,

Trên 4 vùng chiến thuật,

Để trả lời 1 câu hỏi,

Đêm trên vùng đất lạ,

Một người đi xa,

Người nhập cuộc…

Hàng trăm bản nhạc của ông, được biết rộng rãi chưa đến 20 bài, theo danh mục cho phép của nhà nước…

Nhạc của ba tôi không vui, không xập xình ồn ào, nhưng âm thầm lắng đọng, lặng lẽ đi vào lòng người nghe bởi cái chân thật, ngọt ngào. Bởi vì khi viết, ba tôi sáng tác với cả tấm lòng, mỗi bài nhạc đều ẩn chứa những lời tự sự, những nỗi buồn…

Đọc bài viết về Trúc Phương trên trang wikipedia, đoạn cuối:

rõ ràng là người viết không biết gì nhiều về ông, gia đình tôi rất bức xúc về điều này. Có những bài viết không chính xác, “tam sao thất bổn”, không khách quan, không đúng về ba tôi.

Trước khi mất khoảng vài tháng, năm 1995, trong 1 bài phỏng vấn, ba tôi có nói chuyện về cuộc sống sau khi vượt biên không thành, bị bắt, năm 1976.

Trở về , căn nhà ở số 301 nguyễn văn Thoại, (nay là Lý thường Kiệt), phường 15, quận 11 bị mất.

Không có nhà ở, không giấy tờ, phải mướn chiếu ngủ ngoài bến xe miền tây vì công an thường xuyên kiểm tra hộ khẩu, không ai dám chứa .. nhưng trong thời điểm đó, ai cũng khó khăn, khổ toàn xã hội , không riêng gì ba tôi, nhưng chưa bao giờ ông phải “đi chân không” hay “khi chết chỉ còn lại đôi dép..” như bài viết nào đó… Những người viết đó có lẽ không biết nhiều về ba tôi, về gia đình tôi, làm cho người đọc bàng hoàng, thương hại, đó là đi ều xúc phạm đến gia đình tôi…

(Trúc Loan)

Và dưới đây là trả lời của nhạc sĩ Trúc Linh, một người con trai của nhạc sĩ Trúc Phương :

Ok, tui không biết Ông Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đích bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

1- Ba tui sanh năm 1933

2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

4- Má tui con nhà giáo, gia đình cũng khá, nhưng nhà ở Bến Tre.

5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

6- Ba tui không phải tự học nhạc,

mà có thầy dạy đàng hoàng.

7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có.

8- Gia đình tui cũng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos 404. Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm.

Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút. Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp.

9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu.

Họ ly dị vào khoảng năm 79.

10- Tác giả Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO.

Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy.

Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá bôi bác gia đình chúng tôi. Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông.

Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật.

Chúng tôi lúc nào cũng quan tâm đến ông.

Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết nhiều chi tiết nhưng đã viết rất nhiều như chính Trung là nhân vật chính. Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc.

Đến nổi MC Việt Dzũng của trung tâm Asia cũng lấy bài viết này làm tài liệu và cũng có lên trên chương trình trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, Ông chỉ còn đôi dép.

MC Việt Dzũng còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông.

Điều này củng không đúng.

Gia đình chúng tôi đã làm đám cho Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu của ai cả.

Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 người đàn bà không đàng hoàng.

Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này.

(TRÚC LINH)

h3 – Anh Trúc Linh, con trai nhạc sĩ Trúc Phương.

Lien Khuc Truc Phuong

– Duy Khanh, Thanh Thuy, Phuong Dung.

ASIA 74 Chiều Làng Em – Hà Thanh Xuân – Nhạc sĩ- Trúc Phương.  


 

TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

 TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Mary Anne Marks, thủ khoa Đại học Harvard năm 2010, từng khiến nhiều người chú ý khi đọc bài diễn văn tốt nghiệp hoàn toàn bằng tiếng Latinh.

Ở thời điểm ấy, trước mắt cô là một tương lai rộng mở với học vấn và những cơ hội mà rất nhiều người mơ ước. Thế nhưng Mary Anne lại chọn một con đường hoàn toàn khác: rời giảng đường để bước vào đời sống thánh hiến.

Chỉ ít tháng sau khi tốt nghiệp Harvard, cô gia nhập Dòng Nữ tu Đa Minh Maria, Mẹ của Thánh Thể tại Ann Arbor, Michigan, Hoa Kỳ và nhận tên dòng là Sơ Maria Veritas, O.P.

Đối với Mary Anne, việc trở thành nữ tu không phải là từ bỏ tri thức hay những thành quả đã đạt được, nhưng là chọn dùng chính những gì mình đã lãnh nhận để dâng hiến cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Từ thủ khoa Harvard đứng trên lễ đài đọc diễn văn bằng tiếng Latinh đến đời sống âm thầm của một nữ tu Đa Minh, hành trình của Sơ Maria Veritas là một câu chuyện đặc biệt về ơn gọi, đức tin và sự lựa chọn dâng hiến.

Xin Chúa gìn giữ Sơ Maria Veritas luôn trung thành, bình an và tràn đầy niềm vui trong đời sống thánh hiến. 


 

Một phụ nữ gốc Việt họ Nguyễn (阮), 44 tuổi, tự xưng là “Phật sống chuyển thế”…

Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến cộng đồng người Việt tại Đài Loan vừa được Cơ quan Di dân Đài Loan công bố. Một phụ nữ gốc Việt họ Nguyễn (阮), 44 tuổi, đã kết hôn và sinh sống tại Đài Loan hơn 20 năm, bị cáo buộc tự xưng là “Phật sống chuyển thế”, lấy danh nghĩa tôn giáo để lôi kéo tín đồ Việt Nam đưa cả con nhỏ sang Đài Loan “tu hành”. Kết quả điều tra cho thấy 4 trẻ em Việt Nam, khoảng 8–14 tuổi, bị bố trí làm việc không lương trong thời gian dài.

Theo CNA và United Daily News, người phụ nữ họ Nguyễn tự nhận có khả năng biết trước tương lai, đồng thời truyền bá những nội dung như “ngày tận thế sắp đến”, “nước sạch có thể chữa bệnh”, “có thể chữa các bệnh nan y” và “lao động theo chỉ dẫn của sư phụ sẽ giúp tiêu trừ nghiệp chướng, tích công đức”. Những thông điệp này được truyền qua Internet để tác động tới một số tín đồ ở Việt Nam.

Cơ quan điều tra cáo buộc một số người sau khi tin vào các nội dung trên đã bán tài sản, rời gia đình, làm visa du lịch cho con nhỏ rồi đưa các em sang Đài Loan với lý do “tu hành”. Sau khi nhập cảnh, một số người tiếp tục ở lại quá thời hạn cho phép.

Tại Đài Loan, bà Nguyễn được cho là vừa làm nông nghiệp vừa kinh doanh dịch vụ ăn uống. Những người đi theo bị đưa tới nông trại và nhà hàng, thực hiện các công việc như thu hoạch nông sản, bán hàng, dọn dẹp, rửa chén và nhiều việc khác nhưng không được trả lương trong thời gian dài. Cơ quan Di dân cho biết hộ chiếu của các nạn nhân còn bị giữ, việc liên lạc với bên ngoài và tự do đi lại bị hạn chế.

Đáng chú ý nhất là tình trạng của các trẻ em. Nhà chức trách cho biết có trẻ phải bắt đầu làm việc từ sáng sớm, trong thời gian dài không được đi học bình thường, thiếu môi trường vui chơi, nghỉ ngơi và phát triển phù hợp với lứa tuổi. Hình ảnh do Cơ quan Di dân cung cấp cho báo chí cho thấy trẻ từng phải làm việc tại khu vực trồng ớt và rửa chén trong cơ sở ăn uống.

Để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, nhóm này còn bị cáo buộc chuyển một số bà mẹ và trẻ nhỏ sang Miêu Lật, Tân Bắc và những địa điểm khác, giao cho các tín đồ khác quản lý và tiếp tục sắp xếp công việc. Theo CNA, những người tham gia được tuyên truyền rằng đây là một phần của quá trình “tu hành”, trong khi số tiền kiếm được được bà Nguyễn nói là mang sang châu Phi và Ấn Độ làm từ thiện.

Vụ việc bắt đầu bị phanh phui vào tháng 2/2026, khi nhiều người cha quốc tịch Việt Nam trực tiếp từ Việt Nam sang Đài Loan tìm đến Đội chuyên cần TP. Đài Trung thuộc Cơ quan Di dân trình báo. Họ cho biết vợ mình bị ảnh hưởng bởi nhóm tôn giáo này, đưa các con rời khỏi gia đình rồi sang Đài Loan. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Di dân báo cáo Viện Kiểm sát Địa phương Chương Hóa để chỉ đạo điều tra.

Chuyên án có sự phối hợp của nhiều đơn vị, gồm Đội chuyên cần Đài Trung, lực lượng thuộc Cơ quan Di dân khu vực miền Trung và miền Bắc, Cảnh sát Chương Hóa – các phân cục Viên Lâm và Bắc Đẩu – cùng lực lượng Tuần duyên. Sau nhiều tháng theo dõi và thu thập chứng cứ, đến tháng 5/2026, lực lượng chức năng đồng loạt khám xét các địa điểm liên quan và giải cứu thành công 4 trẻ em Việt Nam, trong đó có 2 em là anh/chị em ruột.

Sau khi được giải cứu và hoàn tất các thủ tục bảo vệ nạn nhân, 4 trẻ đã được đưa trở về Việt Nam đoàn tụ với gia đình.

Một chi tiết khác được cơ quan điều tra công bố là từ tháng 7/2023, người phụ nữ họ Nguyễn đã bị phía Việt Nam đưa vào danh sách vĩnh viễn không được nhập cảnh do các vấn đề được phía điều tra mô tả là liên quan đến hoạt động tôn giáo/lừa đảo. Do đã có tư cách định cư tại Đài Loan, bà này bị cáo buộc chuyển trọng tâm hoạt động sang Đài Loan và tiếp tục liên hệ, tác động tới tín đồ ở Việt Nam thông qua Internet.

Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan chức năng chuyển tổng cộng 8 người sang xử lý, gồm bà Nguyễn, 4 người bị cáo buộc là đồng phạm và 3 bà mẹ người Việt có liên quan.

Screenshot

 

Bà Emylee Thai ban đầu bị truy tố vi` gian lận Medicare

Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn

Bà Emylee Thai ban đầu bị truy tố vào năm 2022 do liên quan đến một đường dây gian lận y tế quy mô lớn tại một phòng thí nghiệm xét nghiệm di truyền ở khu vực Houston. Các công tố viên liên bang cáo buộc bà đã nộp khoảng 142 triệu USD tiền bồi thường gian lận  Medicare cho các xét nghiệm di truyền không cần thiết về mặt y khoa và nhận về khoảng 95 triệu USD.

Sau khi bị truy tố vào năm 2022, bà được tại ngoại dưới sự giám sát tiền xét xử với điều kiện phải đeo thiết bị theo dõi vị trí GPS. Tuy nhiên, bà đã cắt bỏ thiết bị theo dõi, sử dụng danh tính giả và bỏ trốn khỏi Hoa Kỳ bằng máy bay tư nhân đến Việt Nam. Lệnh bắt giữ liên bang đã được ban hành vào tháng 7 năm 2023, và bà sau đó bị đưa vào danh sách Những đối tượng gian lận bị truy nã gắt gao nhất của FBI với số tiền thưởng 150.000 USD cho thông tin dẫn đến việc bắt giữ.

Chính quyền liên bang đã xác nhận việc bắt giữ bà vào khoảng giữa tháng 9 năm 2026. Mặc dù các thông báo ban đầu của FBI không công bố chi tiết hoạt động cụ thể hoặc vị trí chính xác nơi bà bị tạm giam, cuộc bắt giữ đã kết thúc một cuộc truy nã quốc tế kéo dài nhiều năm. Bà phải đối mặt với các cáo buộc bao gồm âm mưu gian lận chăm sóc sức khỏe, âm mưu lừa đảo chính quyền Hoa Kỳ, trả và nhận tiền hoa hồng bất hợp pháp trong ngành y tế, cùng hành vi tiêu hủy hoặc sửa đổi hồ sơ trong một cuộc điều tra liên bang.

Sau khi bị bắt, Emylee Thai sẽ phải đối mặt với các thủ tục tố tụng tại tòa án liên bang Hoa Kỳ. Do trước đây bà đã vi phạm các điều kiện tại ngoại bằng cách cắt thiết bị theo dõi và bỏ trốn khỏi đất nước, nhiều khả năng bà sẽ tiếp tục bị tạm giam không được bảo lãnh trong thời gian chờ xét xử hoặc tuyên án. Nếu bị kết án về các tội danh gian lận chăm sóc sức khỏe, nhận hoa hồng bất hợp pháp và tiêu hủy hồ sơ, bà đối mặt với án phạt lên đến hàng chục năm tù liên bang cùng với nghĩa vụ bồi thường tài chính bắt buộc. 


 

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI–SN Dung Hiếu

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI –

SN Dung Hiếu

Có những cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng lại để lại dấu ấn cho cả một đời người.

Với vợ chồng em, những lần được gặp Cha Sáng Lập Phêrô Chu Quang Minh chính là những cuộc gặp gỡ như thế.

Nhân ngày giỗ đầu của Cha, lòng em bỗng trở về với những ký ức của hơn mười năm trước. Thời gian có thể cuốn đi nhiều điều, nhưng có những hình ảnh càng đi qua năm tháng lại càng trở nên rõ nét trong tâm hồn. Với em, đó là hình ảnh một người Cha hiền hậu, đơn sơ, gần gũi… và đặc biệt, vô cùng khiêm nhường.

Năm 2013, nhờ người dì từ Úc giới thiệu, vợ chồng em từ Sài Gòn về Cà Mau để tham dự Khóa Căn Bản. Khi ấy, chúng em chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đang đi học một khóa học về hôn nhân gia đình. Nhưng có lẽ chính chúng em cũng không ngờ rằng, chuyến đi ấy đã mở ra một cánh cửa mới trong đời sống của hai vợ chồng.

Và điều đầu tiên bước vào cánh cửa ấy chính là hình ảnh của Cha.

Cha uyên bác nhưng không hề làm người khác cảm thấy xa cách. Cha sâu sắc nhưng không khô khan. Những bài giảng của Cha có thể khiến cả hội trường bật cười, rồi chỉ ít phút sau lại khiến mỗi người lặng đi để nhìn vào chính cuộc đời mình. Cha kể chuyện thật tự nhiên, dí dỏm, nhưng đằng sau mỗi tiếng cười là một bài học khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Nhưng trong tất cả những gì em được nghe và được thấy nơi Cha, có một khoảnh khắc đã đi theo em suốt hơn mười năm qua.

Đó là khi Cha giảng về tình yêu và sự khiêm nhường.

Hôm ấy, Cha đã noi gương Chúa Giêsu, quỳ xuống trước chồng em, nhẹ nhàng cởi giày, rủa chân và hôn lên chân anh để minh họa cho bài giảng.

Em vẫn nhớ cảm giác của mình lúc ấy.

Cả người em như lặng đi.

Trước mắt em là một vị linh mục mà em vô cùng kính trọng. Một người thầy uyên bác. Một người Cha được biết bao gia đình yêu mến. Thế nhưng, Cha lại cúi xuống với một sự tự nhiên, bình an và khiêm nhường đến lạ.

Khoảnh khắc ấy đã nói với em nhiều hơn cả một bài giảng.

Em hiểu rằng, khiêm nhường không phải là tự làm mình nhỏ bé, mà là tình yêu đủ lớn để ta biết cúi xuống vì người khác.

Có lẽ từ giây phút ấy, một điều gì đó trong em đã thực sự thay đổi.

Sau Khóa Căn Bản năm ấy, vợ chồng em cũng dần thay đổi. Chúng em học cách nhìn nhau bằng một ánh mắt khác. Học cách lắng nghe nhiều hơn. Học cách yêu thương không chỉ khi mọi chuyện tốt đẹp, mà cả khi người kia không giống như điều mình mong đợi. Và trong hành trình nuôi dạy con cái, chúng em cũng bắt đầu hiểu rằng, đôi khi con cái không cần những bài học thật dài, mà cần nhìn thấy cha mẹ sống những điều mình muốn dạy con.

Những lần sau được gặp lại Cha tại Đại hội Song Nguyền kỉ niệm 10 năm ở Sài Gòn, rồi Đại hội SN Liên bang 25 năm tại Úc Châu (Sydney 2019), ấn tượng trong em về Cha vẫn không thay đổi.

Cha vẫn vậy.

Vẫn uyên bác.

Vẫn hóm hỉnh.

Vẫn gần gũi.

Và vẫn khiêm nhường đến khiến người khác phải kính phục.

Nhưng có lẽ ký ức khiến em xúc động nhất là trong Đại hội tại Úc Châu. Khi ấy, tất cả các anh chị Song Nguyệ`n cùng quây quần bên Cha, hát bài “Cảm Ơn Cha Chu Quang Minh”.

Đến cuối bài hát, từng người cầm một bông hoa tiến đến, quỳ dưới chân Cha để bày tỏ lòng biết ơn.

Đó chắc hẳn là một khoảnh khắc mà bất cứ ai có mặt hôm ấy cũng khó quên.

Biết bao con người.

Biết bao gia đình.

Biết bao cuộc đời đã nhận được điều gì đó từ hạt giống mà Cha đã gieo.

Vậy mà giữa những lời cảm ơn chân thành ấy, Cha lại nhẹ nhàng nói:

“Đừng cảm ơn tôi. Hãy tạ ơn Đức Chúa Trời. Đừng cảm ơn tôi. Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Đến hôm nay, em vẫn không quên được câu nói ấy.

Có lẽ bởi vì chính trong câu nói ấy, em lại nhìn thấy con người thật của Cha.

Một người đã dành cả cuộc đời để phục vụ biết bao gia đình.

Một người đã đi khắp nơi để chia sẻ, hướng dẫn và nâng đỡ.

Một người đã gieo biết bao hạt giống yêu thương.

Thế nhưng, Cha không nhận công về mình.

Cha trả tất cả về cho Chúa.

“Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Một câu nói đơn sơ.

Nhưng càng sống, em càng thấy câu nói ấy sâu sắc.

Phải chăng, đó chính là đỉnh cao của sự khiêm nhường?

Làm được rất nhiều điều nhưng không coi đó là công lao của mình.

Được rất nhiều người yêu mến nhưng không đặt mình ở trung tâm.

Được mọi người cảm ơn nhưng lại hướng tất cả lòng biết ơn ấy về với Thiên Chúa.

Có lẽ vì thế mà dù Cha đã đi xa, những gì Cha để lại vẫn còn ở đây.

Trong một đôi vợ chồng đang cố gắng hiểu nhau hơn.

Trong một người chồng học cách lắng nghe.

Trong một người vợ học cách nhẫn nhịn.

Trong một gia đình đang cố gắng hàn gắn.

Trong những bậc cha mẹ đang học cách trở thành tấm gương tốt cho con cái. Và trong những thành viên Song Nguyền vẫn đang cùng nhau tiếp tục hành trình mà Cha đã khởi xướng.

Cha ơi!

Đã một năm kể từ ngày Cha về cùng Chúa.

Một năm… không phải là một khoảng thời gian quá dài đối với một cuộc đời, nhưng đủ để chúng con hiểu rằng có những người dù không còn hiện diện trước mắt, vẫn không hề rời khỏi trái tim của những người ở lại.

Chúng con không còn được nghe giọng nói hài hước của Cha.

Không còn được ngồi dưới hội trường để nghe Cha kể chuyện rồi bất chợt bật cười.

Không còn được gặp Cha trong những ngày hội ngộ.

Nhưng chúng con vẫn còn những điều Cha đã gieo vào lòng mình.

Và có lẽ, đó mới là cách một con người tiếp tục sống mãi.

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu của Cha, chúng con cùng nhớ về Cha với lòng biết ơn.

Chúng con tin rằng Cha đã về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Xin Cha, từ nơi quê Trời, vẫn thương đoái nhìn đến chúng con – những gia đình mà Cha đã dành biết bao tâm huyết để yêu thương và phục vụ.

Xin Cha tiếp tục cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

Cho những lúc vợ chồng chúng con mỏi mệt, biết tìm lại tình yêu.

Cho những lúc gia đình gặp giông bão, biết nắm tay nhau.

Cho những lúc chúng con tự hào về chính mình, biết nhớ đến bài học khiêm nhường của Cha.

Và cho chúng con, dù đi đến đâu trên hành trình này, cũng không bao giờ quên rằng:

Tất cả những gì tốt đẹp mình có được đều là một ân sủng.

Cha đã từng nói: “Đừng cảm ơn tôi, hãy tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Hôm nay, chúng con vẫn muốn nói với Cha một lời cảm ơn.

Nhưng xin cho lời cảm ơn ấy không dừng lại ở những đóa hoa hay những giọt nước mắt.

Xin cho lời cảm ơn ấy được tiếp tục bằng cách chúng con sống.

Sống yêu thương hơn.
Sống khiêm nhường hơn.
Sống gần gũi với nhau hơn.
Và tiếp tục cùng nhau giữ gìn ngọn lửa mà Cha đã một đời âm thầm thắp lên.

Cha ơi, chúng con nhớ Cha.

Và trong lời nhớ ấy, chúng con lại cùng Cha cúi đầu:

Tạ ơn Chúa. 

SN Dung Hiếu – Từ CTTTHNGĐ Adeide Úc Châu

Tieu su Cha Sang Lap Chuong Trinh Thang Tien Hon Nhan Gia Dinh ( Cha Phero CHU QUANG MINH)