Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần…

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần trước khi trở thành một trong những tác giả bán chạy nhất thế giới. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Ông từng bị trói vào bàn và phải chịu những cú sốc điện. Khi ấy, ông chỉ là một thiếu niên mà “tội lỗi” duy nhất là muốn trở thành nhà văn thay vì luật sư. Cha mẹ ông, vì lo lắng, cho rằng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con trai là dấu hiệu của bệnh tâm thần nên đã đưa ông vào bệnh viện tâm thần tới ba lần.

Thế nhưng nhiều thập kỷ sau, chính người đàn ông ấy đã ngồi trước một tờ giấy trắng và chỉ trong mười bốn ngày đã viết nên một cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người.

Tên ông là Paulo Coelho, và câu chuyện của ông là minh chứng rằng những người chỉ trích chúng ta gay gắt nhất đôi khi lại sai hoàn toàn về tương lai của chúng ta.

Năm 1988, Paulo đã dồn hết tâm huyết vào một câu chuyện ngụ ngôn giản dị kể về hành trình của một chàng chăn cừu trẻ tuổi đi tìm ước mơ của mình qua sa mạc. Ông đặt tên cho cuốn sách ấy là The Alchemist (Nhà Giả Kim).

Ông biết cuốn sách này có điều gì đó rất đặc biệt, nhưng giới xuất bản lúc bấy giờ lại không hề quan tâm.

Nhà xuất bản đầu tiên phát hành cuốn sách đã nhìn nó nằm phủ bụi trên các kệ sách. Doanh số quá thấp nên họ quyết định ngừng phát hành và trả lại bản quyền cho tác giả.

Người ta nói với ông rằng tác phẩm của ông là một thất bại hoàn toàn.

Nhiều người có lẽ đã từ bỏ vào thời điểm đó. Xét cho cùng, những “chuyên gia” đã lên tiếng. Nhưng Paulo đã từng sống sót sau những liệu pháp sốc điện thực sự; một lá thư từ chối không thể khiến ông bỏ cuộc.

Ông tin sâu sắc vào thông điệp cốt lõi của cuốn sách mình:

“Khi bạn thực sự khao khát một điều gì đó, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được nó.”

Ông từ chối từ bỏ.

Paulo tìm được một nhà xuất bản thứ hai sẵn sàng trao cho ông cơ hội. Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra. Thành công không đến nhờ những chiến dịch quảng cáo tốn kém. Cuốn sách phát triển chậm rãi, gần như trong im lặng.

Một người đọc nó, cảm thấy trái tim mình thay đổi và giới thiệu cho một người bạn.

Người bạn ấy lại giới thiệu cho người khác.

Dần dần, những lời truyền miệng nhỏ bé ấy đã trở thành một làn sóng mạnh mẽ.

Cuốn sách đã vượt ra khỏi những con phố của Brazil để đến với mọi ngóc ngách trên thế giới.

Ngày nay, Nhà Giả Kim là một trong những cuốn sách được yêu thích nhất trong lịch sử. Nó đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Người ta có thể bắt gặp cuốn sách này trên bàn làm việc của những nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, cũng như trong ba lô của những sinh viên nghèo không có nhiều tiền.

Nếu Paulo nghe theo cha mẹ mình, có lẽ ông đã sống cả đời như một luật sư bất hạnh.

Nếu ông nghe theo nhà xuất bản đầu tiên, kiệt tác của ông có thể đã biến mất mãi mãi.

Thay vào đó, ông chọn tin vào tiếng nói bên trong mình.

Ông đã cho thế giới thấy rằng thất bại thực sự duy nhất chính là không dám bắt đầu hành trình hoặc bỏ cuộc ngay khi ai đó nói với bạn rằng bạn không thể.

Những khó khăn mà bạn đang trải qua hôm nay không phải là sự trừng phạt.

Chúng chỉ là sự chuẩn bị cho những điều tốt đẹp đang chờ đợi bạn ở phía trước.

Hãy tiếp tục bước đi, vì thế giới vẫn đang chờ được nghe câu chuyện của chính bạn. 


 

Hành trinh đi tìm tự do của một” Boat-people” – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/07/2026

Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.

Mùa hè 2026


 

“Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?”- by Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

 “Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?” 

( Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

Cả một đời người, Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?. 

Lời giới thiệu

Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.

Cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó.”

TVG

Gần đây tôi đọc được một bài viết của một tác giả người Trung Quốc. Đọc xong, trong lòng cứ suy nghĩ mãi. Không phải vì câu chuyện quá buồn, mà bởi nó khiến mình nhận ra một điều rất giản dị: “Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.”

Có lẽ vì thế mà con người cứ mãi đi tìm hạnh phúc, nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hiểu điều đáng quý nhất thường nằm ở những điều rất bình thường.

Năm 3 tuổi, tôi nắm chặt cây kẹo mút trong tay và tin rằng đó là cả thế giới. Chỉ cần có cây kẹo ấy là tôi có thể vui cả ngày, chẳng cần nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

Năm 5 tuổi, tôi mất cả buổi chiều để đuổi theo một con chuồn chuồn. Khi bắt được nó, tôi vui sướng như vừa có được một kho báu. Đối với một đứa trẻ, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như vậy.

Năm 9 tuổi, tôi nằm dưới bóng cây, ngắm ánh nắng len qua từng k lá và tận hưởng một kỳ nghỉ hè bình yên. Khi ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần ngày nào cũng được rong chơi như thế thì cuộc sống đã quá đủ đầy.

Đến năm 13 tuổi, tôi bắt đầu tin rằng một tờ giấy báo trúng tuyển vào trường trung học tốt với hạng cao sẽ quyết định cả tương lai của mình. 

Năm 18 tuổi, tôi lại dốc hết sức lực chỉ để nhận được giấy báo được nhập học từ ngôi trường đại học mà tôi hằng mơ ước. Lúc ấy, tôi tưởng rằng chỉ cần bước chân vào cánh cổng đại học này là cuộc đời sẽ mở ra một trang mới rực rỡ. 

Rồi năm 23 tuổi, khi rời khỏi ghế nhà trường để bước vào xã hội, tôi mới hiểu kiếm được một công việc ổn định mới là điều quan trọng nhất. Những ước mơ tuổi trẻ dần nhường chỗ cho cơm áo gạo tiền, cho những hóa đơn phải thanh toán vào cuối tháng và những áp lực mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới. 

Năm 24 tuổi, trong ngày cưới của mình, nhìn người con gái sắp trở thành vợ, tôi chợt nhớ đến cô bạn năm 16 tuổi mà mình từng thầm yêu thương. Có chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng rồi tôi hiểu mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có người cần được trân trọng. Người đứng trước mặt tôi lúc ấy mới là người quan trọng nhất.

 Hai năm sau, khi đứng ngoài phòng bảo sinh và nghe tiếng khóc đầu tiên của con cất lên, tôi bỗng nhận ra trái tim mình từ nay đã có thêm một nơi để hướng về. Kể từ giây phút ấy, mọi cố gắng của tôi đều chỉ mong con có một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Năm 30 tuổi, những khoản vay mua nhà, mua xe khiến tôi cảm thấy tiền bạc là điều quan trọng nhất. Tôi lao vào công việc, miệt mài kiếm sống và luôn tự nhủ rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.

Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra con người dường như “không bao giờ thấy đủ.”  Có được điều này thì lại mong điều khác ngay. Đạt được mục tiêu này lại tiếp tục chạy theo mục tiêu khác. 

Người xưa từng nói: “Tri túc thường lạc,” nghĩa là “biết đủ thì vui.” Đáng tiếc là khi còn trẻ, rất ít người hiểu được ý nghĩa của bốn chữ ấy.

Năm 38 tuổi, người cha vốn nghiêm khắc và mạnh mẽ cả đời bỗng bắt đầu hỏi ý kiến tôi trước mỗi quyết định. Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra, cha mình đã già thật rồi. Người đàn ông từng dắt tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ giờ đây đã không còn khỏe mạnh như trước. 

Đến năm 45 tuổi, ngồi trong văn phòng với mái tóc lấm tấm bạc, tôi chợt nhớ đến những ước mơ của tuổi đôi mươi. Hóa ra, trên đường mưu sinh, tôi đã vô tình bỏ quên rất nhiều điều từng khiến trái tim mình rung động.

Năm 50 tuổi, nhìn con trai nắm tay người con gái nó yêu bước vào thánh đường, tôi mới hiểu hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ là được nhìn thấy con cái bình an và trưởng thành. Điều từng quan trọng nhất với tôi ngày nào, giờ đây đã trở thành hạnh phúc của con.

Năm 60 tuổi, tôi tiễn cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong khoảnh khắc ấy, những lời quở trách của cha, những tiếng cằn nhằn của mẹ mà trước đây tôi từng thấy phiền lòng lại trở thành ký ức quý giá nhất.

 Người xưa có câu: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.” Chỉ khi mất đi, con người mới hiểu có những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại là món quà vô giá.

 Năm 70 tuổi, người bạn đời của tôi cũng rời đi trước. Con cháu đều đã có cuộc sống riêng, căn nhà bỗng trở nên yên ắng hơn bao giờ hết. Mỗi lần nhìn những cặp vợ chồng già cùng nhau tản bộ, tôi lại nhớ đến bà nhà tôi. Hóa ra, thứ đáng quý nhất không phải là những gì mình sở hữu, mà là người vẫn còn có thể cùng mình đi hết quãng đường còn lại.

 Đến năm 75 tuổi, khi nằm trong bệnh viện và biết thời gian của mình không còn nhiều, tôi gọi điện cho cháu nội trai. Ban đầu tôi định nói thật nhiều điều, muốn dặn nó phải sống thế này, phải lựa chọn thế kia để sau này không hối tiếc. Nhưng khi cuộc gọi được kết nối, tất cả những lời chuẩn bị sẵn đều tan biến. Tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông nhớ con nhiều. Khi nào rảnh thì con về thăm ông nhé.

 Một năm sau, cháu trai trở về. Con trai, con dâu quỳ bên giường bệnh, nước mắt không ngừng rơi. Tôi cảm thấy mí mắt mình ngày càng nặng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy cha mẹ đang đứng trước mặt, vẫn trẻ như ngày nào, vẫn nở nụ cười hiền hậu quen thuộc. Họ dang rộng vòng tay đón tôi. Tôi chạy về phía họ và kỳ lạ thay, càng chạy tôi càng trở lại hình hài của một đứa trẻ ba tuổi. Tôi lại được cha mẹ ôm vào lòng như thuở bé.

 Trước khi rời đi, tôi ngoái đầu nhìn lại. Con trai, con dâu và đứa cháu nội trai vẫn ôm lấy thân xác già nua của tôi mà khóc. Tôi biết rồi nỗi đau ấy cũng sẽ dần nguôi ngoai, bởi vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục, giống như ngày xưa tôi đã từng tiếp tục sống sau khi tiễn cha mẹ mình.

 Đến lúc ấy, tôi mới hiểu rằng cả đời con người luôn đi tìm một điều quan trọng nhất. Nhưng thật ra, điều quan trọng nhất chưa bao giờ là một thứ cố định. Tuổi thơ có niềm vui của tuổi thơ, tuổi trẻ có khát vọng của tuổi trẻ, tuổi trung niên có những gánh vác riêng, còn tuổi già lại chỉ mong những người mình yêu thương vẫn còn ở bên cạnh.

 Có lẽ vì vậy mà người xưa luôn nhắc con cháu phải biết trân trọng hiện tại. Bởi điều hôm nay ta đang xem là bình thường, biết đâu ngày mai lại trở thành điều khiến ta nhớ nhất. Tiền bạc rồi cũng tiêu hết, danh vọng rồi cũng phai nhạt, chỉ có “tình thân, những điều tử tế đã trao đi và những ký ức đẹp đã cùng nhau tạo nên” mới thật sự ở lại trong lòng người khác.

Suy cho cùng, cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó. 

Có như vậy, khi ngoảnh đầu nhìn lại, chúng ta sẽ không phải tiếc nuối vì đã sống quá vội vàng mà quên mất những điều đáng quý nhất đang ở ngay bên cạnh mình.

Tú Uyên

From: NguyenNThu


 

Vé trận chung kết Argentina – Tây Ban Nha được rao giá 2 triệu US (BBC)

(BBC)

Anh và Pháp sẽ đối đầu trong trận tranh hạng 3 tại sân vận động Miami

Tác giả, Dale Johnson

Vai trò, Phóng viên chuyên về bóng đá

18 tháng 7 2026

Khoảng 7.000 vé vẫn đang được rao bán trên các nền tảng bán vé của FIFA cho trận tranh hạng 3 World Cup giữa tuyển Anh và Pháp diễn ra vào sáng Chủ nhật, 19/7.

Tính đến 16 giờ chiều ngày 17/7 giờ Việt Nam, trận đấu tại Miami (khởi tranh lúc 4h sáng ngày 19/7) vẫn chưa bán hết vé.

Hiện có 1.246 vé được bán trực tiếp với mức giá 865 USD (khoảng 22,6 triệu đồng) và 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng – được quy đổi theo tỷ giá Vietcombank ngày 18/7, 1 USD = 26.110 đồng)

Ngoài ra, còn 5.864 vé được rao bán trên nền tảng bán lại chính thức của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA). Vé rẻ nhất thuộc hạng 3, có giá gốc 455 USD (khoảng 11,9 triệu đồng), chưa bao gồm phí 15% do FIFA thu.

Tuy nhiên, nhiều vé ở các hạng giá cao đang được rao bán với mức thấp hơn đáng kể so với giá mua ban đầu.

Chẳng hạn, một vé hạng nhất có giá gốc 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng) hiện được rao bán chỉ còn 659 USD (khoảng 17,2 triệu đồng).

Trong khi đó, trận chung kết World Cup giữa đội tuyển Argentina và đội tuyển Tây Ban Nha diễn ra vào rạng sáng 20/7 cũng vẫn chưa bán hết vé, với 32 vé thuộc hạng đắt nhất vẫn còn được bán trực tiếp.

Các vé này có giá từ 29.995 USD (khoảng 783,2 triệu đồng) đến 32.970 USD (khoảng 860,2 triệu đồng). Đây là vé tiêu chuẩn, không phải vé VIP.

Bên cạnh đó, vẫn còn hơn 1.000 vé được rao bán trên nền tảng bán lại của FIFA, trong đó nhiều vé có giá xấp xỉ giá gốc cộng thêm phí của FIFA.

Giá gốc của những vé này là 7.380 USD (khoảng 192,7 triệu đồng), đồng nghĩa với việc nếu mua, người mua sẽ phải trả thêm 1.107 USD (khoảng 28,9 triệu đồng) tiền phí cho FIFA.

Chiếc vé đắt nhất được rao bán lại cho trận chung kết hiện có giá 2 triệu USD (khoảng 52,22 tỷ đồng), chưa kể 300.000 USD (khoảng 7,83 tỷ đồng) phí do FIFA thu.

Mức giá trên thị trường bán lại do chính người dùng tự đặt và không phản ánh trực tiếp số tiền mà người mua thực tế sẵn sàng chi trả.


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC.

*Một vị Tổng thống qua đời và thấy mình đang đứng trước cánh cổng thiên đường, nơi thánh Phêrô chào đón ông một cách lịch sự.

“Chào mừng đến thiên đường, Ngài Tổng thống,” Thánh Peter nói. “Tuy nhiên, trước khi chúng tôi có thể chính thức cho ngài vào, chúng tôi có một vấn đề nhỏ cần giải quyết. Ngài thấy đấy, một chính trị gia thuộc đẳng cấp như ngài đến đây là khá bất thường, và thành thật mà nói, chúng tôi không hoàn toàn chắc chắn phải làm gì với ngài.”

Vị tổng thống nhượng lông mày.

“Vì vậy đây là những gì chúng tôi đã quyết định,” Thánh Peter tiếp tục. “Ngài sẽ trải qua một ngày trên thiên đường và một ngày dưới địa ngục. Sau đó, ngài có thể chọn cho mình nơi ngài muốn gắn bó vĩnh viễn.”

Thánh Peter dẫn ông ta đến thang máy. Cánh cửa đóng lại, và vị tổng thống bắt đầu đi xuống.

Khi cánh cửa thang máy mở, ông ấy bước vào địa ngục – và với sự ngạc nhiên của mình, nơi đây thật đẹp.

Hiện ra trước mắt ông ta là một sân golf xanh mướt, được cắt tỉa hoàn hảo và tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Phía xa là một câu lạc bộ vô cùng sang trọng. Đột nhiên, một nhóm bạn chính trị gia cũ của ông chạy ùa về phía ông ta, cười tươi, và mở rộng vòng tay chào đón.

Họ ôm chầm ông ấy một cách nồng nhiệt và bắt đầu ôn về những ngày tháng xưa tốt đẹp – các chiến dịch tranh cử, các thương vụ béo bở, các đặc quyền đặc lợi, các bữa tiệc tối, các chuyên cơ riêng và tất cả những năm tháng cùng nhau làm giàu trong khi nói ra rã với mọi người dân phải “thắt lưng buộc bụng” của họ.

Họ chơi một vòng gôn. Sau đó, họ đến câu lạc bộ để dùng một bữa tối tuyệt vời: tôm hùm, bít tết, caviar, rượu vang đắt tiền, và tất cả những thứ xa xỉ mà ông ta khó có thể tưởng tượng.

Ngay cả quỷ Satan cũng đến ngồi cùng bàn với họ.

Và đối với sự ngạc nhiên của vị tổng thống, Satan quyến rũ, vui tính, ăn mặc lịch lãm và vô cùng lịch sự. Hắn kể những câu chuyện tuyệt vời, khiến ai cũng cười lớn, và đối xử với vị tổng thống như một vị khách quý.

Vị Tổng thống có khoảng thời gian tuyệt vời đến nỗi ngày trôi qua cũng không để ý. Nhưng cuối cùng cũng lên thang máy trở lại. Cánh cửa đóng lại, và ông ấy được đưa lên thiên đường.

Hai mươi bốn giờ tiếp theo rất khác.

Ông ấy dành cả ngày bồng bềnh từ đám mây này sang đám mây, nghe nhạc đàn hạc, hát thánh ca, cầu nguyện và nhìn các thiên thần lướt qua bầu trời. Vạn sự bình an, tươi sáng, tươi đẹp.

Nhưng thành thật mà nói, hơi nhàm chán.

Cuối cùng, Thánh Peter cũng xuất hiện.

“Thưa ngài Tổng thống”, ông nói, “ngài đã trải qua một ngày dưới địa ngục và một ngày trên thiên đường. Bây giờ ngài có thể đưa ra lựa chọn của mình. Ngài muốn gắn bó sự vĩnh hằng ở nơi nào?”

Vị Tổng thống suy nghĩ một lúc.

“Chà,” ông ấy chậm rãi nói, “thiên đường chắc chắn là rất tuyệt vời. Rất bình yên. Rất sạch sẽ. Nhưng tôi hoàn toàn thành thật… Tôi nghĩ tôi thích địa ngục hơn. ”

Thánh Peter nhún vai và dẫn ông ta trở lại thang máy.

Vị Tổng thống lại đi xuống địa ngục một lần nữa. Cánh cửa thang máy mở ra.

Lần này không có sân gôn.

Không có câu lạc bộ.

Không có tôm hùm.

Không có bạn cũ mặc vest.

Thay vào đó, ông ta nhìn thấy một vùng đất hoang dã vô tận bị bao phủ trong rác. Không khí có mùi kinh khủng. Những người bạn chính trị gia cũ của ông giờ đang mặc đồng phục lao động bẩn thỉu, nhặt rác và nhét vào túi nilon màu đen dưới cái nóng.

Vị Tổng thống nhìn chằm chằm chết lặng vì sốc.

Quỷ Satan bước lại gần ông, mỉm cười và đặt một cánh tay lên vai.

“Tôi không hiểu”, vị tổng thống lắp bắp. “Ngày hôm qua rõ ràng nơi này thật đẹp. Có chơi gôn, ăn tối, âm nhạc, các bạn của tôi… ”

Quỷ Satan cười tươi.

“Bạn của tôi ơi”, hắn nói, “hôm qua chúng tôi đang trong chiến dịch tranh cử nên quảng bá giống như chương trình tranh cử sinh thời của ông”

Sau đó hắn ta chỉ vào thùng rác.

“Còn hôm nay, ngài đã bỏ phiếu xong rồi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Le Canard enchainé.


 

Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh 

 Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, khi đang ở trong tù, cô lại sinh con lần nữa, và đứa trẻ thứ hai có những triệu chứng y hệt.

Ngày 9 tháng 7 năm 1989, Patricia Stallings đang sống giấc mơ của đời mình. Cô có một ngôi nhà mới nhìn ra hồ Wauwanoka, gần St. Louis, một người chồng yêu thương là David, và một đứa con trai ba tháng tuổi, Ryan. Mọi thứ dường như hoàn hảo. “Đó thực sự là khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi,” Patricia sau này kể. “Mọi thứ đều hoàn hảo. Một ngôi nhà mới, một đứa con mới. Sao có thể xảy ra chuyện gì sai được?”

Nhưng mọi thứ đã trở nên tồi tệ đến không tưởng.

Tối thứ Sáu đó, Ryan nôn mửa. Ngày hôm sau trông có vẻ khá hơn, nhưng đến sáng Chủ nhật, bé không thể giữ thức ăn. Việc thở trở nên khó khăn, và bé bắt đầu mệt lả. Lo lắng, Patricia lập tức đưa con đến Bệnh viện Nhi Cardinal Glennon tại St. Louis.

Các bác sĩ phát hiện nồng độ ethylene glycol ,chất chống đông trong máu Ryan. Ai đó đã đầu độc bé.

Patricia và chồng ngay lập tức bị thẩm vấn. Họ bị tách ra, và các thám tử khăng khăng cho rằng một trong hai người phải chịu trách nhiệm. Patricia sững sờ; cô không hề biết chất chống đông đã vào cơ thể con bằng cách nào. Cô yêu Ryan và không bao giờ làm hại con.

Vài tuần sau, vào ngày 31 tháng 8, Patricia được phép thăm Ryan trong thời gian ngắn dưới sự giám sát. Nhưng bốn ngày sau, bé lại ốm, với những triệu chứng y hệt. Các xét nghiệm mới lại phát hiện chất được hiểu nhầm là chất chống đông trong máu bé, và còn tìm thấy dấu vết trong bình sữa mà Patricia đã dùng để cho con bú.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Patricia bị bắt và bị buộc tội cố gắng giết người. Hai ngày sau, Ryan qua đời. Các công tố viên ngay lập tức chuyển tội danh sang giết người cấp độ một, thậm chí cân nhắc đề nghị án tử hình.

Trong lúc đang ở tù, đau đớn trước cái chết của con trai, Patricia phát hiện mình mang thai lần nữa. Tháng 2 năm 1990, cô sinh con trai thứ hai, David Jr. (DJ), nhưng ngay lập tức bé được đưa vào gia đình nhận nuôi do những cáo buộc chống lại cô.

Tháng 1 năm 1991, Patricia bị tuyên có tội giết người, và tháng 3, cô bị tù chung thân không ân xá.

Rồi một điều không thể xảy ra đã xảy ra. Tháng 3 năm 1990, DJ bắt đầu xuất hiện những triệu chứng y hệt Ryan: nôn mửa, khó thở và mệt lả. Bé được đưa gấp đến bệnh viện, và các xét nghiệm đưa ra chẩn đoán kinh ngạc: DJ mắc bệnh acidemia methylmalonic, một bệnh di truyền hiếm gặp có thể giống như triệu chứng ngộ độc chất chống đông.

Acidemia methylmalonica khiến cơ thể tích tụ các chất độc hại, trong đó có axit propionic, mà trong một số xét nghiệm có thể bị nhầm với ethylene glycol. Các xét nghiệm trước đó đã sai.

Luật sư bào chữa của Patricia cố gắng trình bày thông tin mới này trong phiên tòa, nhưng thẩm phán không chấp nhận, coi đó chỉ là trùng hợp. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng được phơi bày khi bác sĩ William Sly, sau khi thấy vụ việc của Patricia trong chương trình Unsolved Mysteries, liên hệ với cơ quan chức năng và thúc đẩy xét nghiệm lại máu của Ryan.

Kết quả mới là chứng cứ không thể chối cãi: Ryan đã chết vì acidemia methylmalonic, không phải do ngộ độc chất chống đông.

Tháng 7 năm 1991, Patricia được thả khỏi tù, và tháng 9, các cáo buộc chống lại cô được hủy bỏ. DJ trở về với cha mẹ. Mặc dù Patricia đã bị giam gần hai năm, cuối cùng sự thật về cái chết của Ryan cũng được hé lộ.

Vụ án này đã phơi bày những sai sót nghiêm trọng trong hệ thống tư pháp và y tế, và cho thấy giả định cùng sự tin tưởng quá mức vào kết quả xét nghiệm có thể dẫn đến những sai lầm thảm khốc. Patricia Stallings không được hệ thống pháp luật cứu giúp; cô được cứu nhờ chẩn đoán bệnh hiếm gặp, một chương trình truyền hình và một nhà khoa học sẵn sàng đặt câu hỏi về những điều mà mọi người đều coi là chắc chắn.

Ngày nay, Patricia sống cuộc sống kín đáo bên gia đình, trong khi DJ, nay đã trưởng thành, vẫn kiểm soát bệnh của mình với điều trị thích hợp. Họ đã mất Ryan, nhưng sự thật đã trả lại tự do cho Patricia.

Vụ án vẫn là lời nhắc nhở rằng, đôi khi, sự khác biệt giữa tội lỗi và vô tội chỉ nằm ở một người dám tự hỏi: “Chúng ta có lẽ đã sai sao?”

Nguồn: Northwestern Pritzker School of Law Center on Wrongful Convictions (“Patricia Stallings”)

My Lan Phạm


 

Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi (Bill Gates.)

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 “Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi, Melinda, trong phán quyết ly hôn, nhưng ly dị cô ấy là sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của tôi.

Nếu tôi có một cơ hội khác, tôi sẽ cưới lại vợ cũ của mình, Melinda Gates. Tôi không quan tâm tôi đã mất bao nhiêu tiền, cô ấy đáng giá hơn bạc vàng với tôi. Tôi vẫn khóc mỗi ngày khi nghĩ về cô ấy, bởi vì tôi không chỉ mất vợ trong cuộc ly dị đó. Tôi đã mất đi người bạn thân nhất của mình và là người duy nhất trên thế giới này thực sự biết tôi và yêu tôi vì chính tôi chứ không phải vì tiền của tôi.

Một trong những điều tuyệt vời nhất mà chúng tôi cùng tạo ra là con cái của chúng tôi và Quỹ Gates.

Chúng tôi vẫn là bạn và chúng tôi vẫn gặp nhau vì lũ trẻ. Nhưng tôi hy vọng cô ấy có thể cưới tôi một lần nữa và lấp đầy khoảng trống này trong trái tim tôi. Cô ấy không thể thay thế được. Tiền không mua được tình yêu và thậm chí, mất thêm 65 tỷ đô la nữa cũng không mua được tình yêu đích thực”.

~Bill Gates.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire 


 

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn.- Truyen ngan HAY

My Lan Pham 

 Ông ấy để lại 4 đô tiền tip cho đơn hàng tạp hóa 47 đô, rồi dán trước cửa một mẩu giấy viết tay:

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn. Cảm ơn vì đã đến.”

Suýt nữa thì tôi đã làm đúng như vậy.

Suýt nữa tôi đã đặt những túi đồ xuống, quay lưng lại và lái xe đến điểm giao tiếp theo.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi vẫn gõ cửa.

Phải mất khá lâu cánh cửa mới mở ra.

Một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đứng ở khung cửa, cơ thể dựa nặng lên chiếc khung tập đi bằng kim loại.

Ông ăn mặc rất chỉnh tề, theo kiểu mà những người thuộc thế hệ trước thường mặc khi chờ đón khách:

một chiếc áo có cổ, quần tây được ủi nếp thẳng.

Đôi tay ông run run, nhưng cằm vẫn ngẩng cao.

“Tôi đã bảo họ cứ để ở ngoài rồi mà,” ông nói.

Không hề khó chịu. Chỉ là mệt mỏi.

Tôi đáp:

“Vâng, cháu biết, thưa bác. Cháu chỉ muốn chắc rằng mọi thứ đã đến đầy đủ thôi.”

Ông nhìn lướt qua tôi xuống những túi giấy trên bậc thềm. Bốn túi.

Ông nhìn chiếc khung tập đi của mình.

Rồi nhìn lại tôi.

Ông không nói gì.

Tôi nói:

“Để cháu mang vào giúp bác nhé.”

Ông lặng lẽ bước sang một bên, không phản đối.

Chỉ như vậy thôi cũng nói lên tất cả.

Phòng khách ngăn nắp theo cái cách của những cuộc đời nhỏ bé nhưng cẩn trọng.

Mọi bề mặt đều sạch sẽ. Không có gì nằm sai chỗ.

Nhưng đồ đạc đã cũ, và tấm thảm đã mòn bạc thành những sợi xám ở những lối đi quen thuộc mà mỗi ngày ông đều bước qua từ ghế ra bếp, vào nhà tắm rồi trở lại.

Tôi mang các túi vào quầy bếp và bắt đầu lấy đồ ra.

Đó là lúc tôi nhìn thấy cuốn sổ nhỏ đặt trên bàn.

Nó kín đặc những cột số viết tay.

Giá từng món đồ được tính đến từng xu.

Có món bị gạch đi rồi viết lại.

Tổng tiền được cộng dồn, rồi gạch bỏ, rồi tính lại từng dòng… cho đến khi ra một con số mà ông có thể chi trả.

Ông đã lên kế hoạch cho đơn hàng này suốt nhiều ngày.

Tôi cố giữ gương mặt bình thản.

Ông đứng ở khung cửa bếp, nhìn tôi đặt hộp sữa vào tủ lạnh.

“Con gái tôi thường đến vào thứ Bảy,” ông nói.

“Giờ nó ở Phoenix rồi. Công việc mới.”

Tôi đáp:

“Xa thật đấy bác.”

Ông khẽ dừng lại.

“Ừ. Nó vẫn gọi điện.”

Trong câu nói ấy không có chút tự thương hại nào.

Và chính điều đó mới đau lòng nhất.

Ông nói như đang đọc bản tin thời tiết. Chỉ là một sự thật đơn giản về thế giới mà ông đang sống.

Tôi kín đáo nhìn quanh căn bếp.

Tủ lạnh vẫn chạy nhưng gần như trống rỗng.

Một thanh bơ.

Hai quả trứng trong khay.

Một lọ cà phê hòa tan nhỏ.

Cánh cửa tủ đựng thức ăn mở hé, những chiếc kệ bên trong cũng gần như trống.

Trên bậu cửa sổ là bảy lọ thuốc kê đơn xếp thành một hàng.

Bảy lọ.

Ông thấy ánh mắt tôi, rồi hơi đứng thẳng hơn.

“Tôi vẫn xoay xở ổn,” ông nói.

Ông là kiểu người đã tự mình xoay xở mọi thứ suốt cả cuộc đời.

Và giờ đây, “xoay xở” có nghĩa là phải chọn xem tháng này sẽ mua loại thuốc nào, loại nào phải cố kéo dài thêm hai tuần nữa.

“Xoay xở” nghĩa là tính toán đơn hàng tạp hóa đến từng xu, rồi dán một mẩu giấy lên cửa để không ai biết ông mất bao lâu mới đi từ phòng ngủ ra đến cửa trước.

Tôi cất đồ xong, không hề vội vàng.

Tôi hỏi:

“Bác từng làm nghề gì vậy?”

Chỉ để cho ông có điều gì đó để nói.

Khuôn mặt ông thay đổi.

“Ba mươi mốt năm làm nghề cơ khí “ông nói.

“Xưởng công đoàn. Việc tốt. Việc nặng.”

Ông gần như mỉm cười.

Ba mươi mốt năm lao động cực nhọc, và giờ đây ông ngồi một mình trong căn nhà với bảy lọ thuốc, chiếc tủ lạnh trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng cho đủ.

Tôi nói với ông là mình sẽ quay lại ngay.

Tôi lái xe vòng qua góc đường đến một trạm xăng có quầy đồ ăn khá ổn.

Tôi mua những gì có thể:

  • một con gà quay nóng còn bọc giấy bạc
  • một hộp súp lớn
  • một túi bánh mì cuộn
  • hai hộp sữa chua
  • một nải chuối

Tôi dùng tiền tip của ông, rồi dùng luôn tiền của chính mình.

Khi quay lại, ông đang ngồi ở bàn bếp, cuốn sổ nhỏ đã được khép lại trước mặt.

Tôi đặt túi đồ xuống và lặng lẽ lấy mọi thứ ra, không giải thích gì.

Ông nhìn tôi rất lâu.

Rồi ông nói:

“Cháu trai…”

Giọng ông nghẹn lại ở từ đó.

Ông dừng một lúc, mím môi rồi cố nói tiếp:

“Cháu không cần phải làm thế đâu.”

Tôi đáp:

“Cháu biết.”

Ông đặt bàn tay phẳng lên mặt bàn và nhìn chằm chằm vào nó.

Những khớp tay đầy sẹo vì hàng chục năm lao động.

Chiếc nhẫn cưới vẫn còn trên ngón tay, mòn mỏng như một sợi dây kim loại.

Tôi rời đi trước khi mọi chuyện trở nên khó khăn hơn cho cả hai.

Ngồi trong xe, tôi nghĩ về những gì xã hội này bắt con người phải chịu đựng.

Chúng ta bắt tay những người như ông trong các buổi diễu hành.

Chúng ta đăng ảnh họ vào ngày Cựu chiến binh.

Chúng ta gọi họ là xương sống của nước Mỹ.

Rồi sau đó, chúng ta để họ cô đơn trong những căn nhà im ắng với những chiếc kệ trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng thành đủ.

Ông đã dùng đôi tay mình xây dựng mọi thứ suốt ba mươi mốt năm.

Ông xứng đáng với nhiều hơn 4 đô tiền tip và một mẩu giấy trên cửa xin thế giới cứ bước qua mà đừng nhìn lại.

Tuần này hãy ghé thăm một ai đó.

Đừng chỉ nhắn tin.

Hãy thật sự xuất hiện.

Theo Story of Life

My Lan Phạm


 

Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh

  Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão: Con trai, con dâu mừng lắm, nghỉ hưu như thế, là điều tôi chẳng ngờ !

Mọi người trong khu phố của chúng tôi đều biết bà Sử sẽ vào viện dưỡng lão. Ngày này, con cái đều lo lắng sự nghiệp, lo cho gia đình, không có nhiều thời gian, người già trong khu phố của chúng tôi cũng có mấy người vào viện dưỡng lão.

Hôm qua tôi gặp bà Sử ở trong xóm ôm chú chó và trò chuyện với hàng xóm, bà nói sắp vào viện dưỡng lão, trong viện dưỡng lão không được phép nuôi chó nên hàng xóm xem có ai nhận nuôi không.

Nhiều người hỏi bà: “Bà có nhà to, có con trai, sao lại muốn vào viện dưỡng lão?”. Nghe vậy, bà Su không khỏi thở dài, khiến ai nấy đều cảm động, bà nói: “Ở tuổi già, những vấn đề có thể giải quyết bằng tiền, hãy cố gắng không làm phiền con cái”.

Dưới đây là câu chuyện được bà Sử kể lại:

“Năm nay tôi đã 73 tuổi, chồng tôi đã mất đã mấy năm. Tôi chỉ có một con trai và nó không sống cùng thành phố với tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những năm cuối đời mình sẽ vào viện dưỡng lão, nhưng bây giờ tôi phải đi.

Vợ chồng tôi đều từng làm việc trong cơ quan nhà nước. Khi còn trẻ, nhiều gia đình ghen tị như gia đình chúng tôi, có công việc tử tế, điều kiện kinh tế tốt và lương hưu cao khi về già. Tôi cũng từng nghĩ như vậy, so với nhiều người già thì điều kiện của tôi đã tốt hơn hầu hết mọi người rồi. Tôi chưa bao giờ lo lắng về tuổi già của mình.

Vợ chồng tôi đã thống nhất từ lâu rằng khi về hưu, tôi sẽ học vẽ, sau đó sẽ cùng nhau đi du lịch, thăm thú sông núi bao la của quê hương.

Con trai tôi sau khi tốt nghiệp đại học đã đi tỉnh khác, để lập nghiệp riêng nên bận rộn nên hiếm khi về nhà. Sau đó, con trai lấy vợ và có con ở đó, gia đình chúng tôi chỉ gặp nhau vào những ngày nghỉ lễ.

Tôi và chồng đều ủng hộ con trai và ủng hộ nó làm những gì nó thích. Vì vậy, mấy năm nay vợ chồng tôi luôn nương tựa vào nhau, nếu có thể tự mình giải quyết việc gì thì cố gắng không làm phiền con trai tôi.

Tôi tưởng vợ chồng tôi có thể ở bên nhau đến già nhưng cuộc sống có nhiều bất ngờ khiến người ta phải bất ngờ. Cách đây một năm, chồng tôi đổ bệnh, tôi gọi xe cấp cứu đưa ông đi bệnh viện ngay, tuy nhiên ông nằm trong phòng ICU hơn nửa tháng vẫn không cứu được.

Nửa tháng sau, bác sĩ nói chúng tôi đưa ông ấy về nhà để hồi phục. Khi chồng tôi ốm, con trai tôi chỉ về ở hơn một tuần, nó phải vội vã quay lại làm việc, con dâu tôi cũng không về vì các cháu nhỏ phải đi học và con dâu tôi phải ở nhà chăm sóc.

Tôi nói với con trai tôi, con bận công việc, mẹ sẽ chăm sóc bố con. Sau khi chồng tôi về nhà, ông ấy gần như rơi vào tình trạng sống thực vật. Ông ấy không thể tự ăn hay nói, ông ấy chỉ nằm đó hàng ngày.

Đôi khi tôi không hiểu tại sao chồng tôi, vốn luôn có sức khỏe tốt, lại đột nhiên rơi vào tình trạng sống thực vật. Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện xảy ra bất ngờ, chỉ trong vài giây, số phận của một người, thậm chí của một gia đình có thể bị thay đổi.

Dù chồng đã bất tỉnh nhưng tôi vẫn mong một ngày nào đó ông ấy sẽ bất ngờ nói chuyện với tôi, tôi cũng mong ông ấy sẽ khỏe lại và cùng tôi đi du lịch. Tuy nhiên, cuối cùng, ông ấy đã “tàn nhẫn bỏ đi” sau hai tháng.

Sau khi ông ấy đi, tôi đặc biệt sợ hãi. Đặc biệt là về đêm, khi tôi sống một mình trong ngôi nhà lớn như vậy, trống trải và tĩnh lặng quá. Im lặng đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng một chiếc kim rơi xuống đất

Tôi không thể chịu đựng được nữa nên gọi điện cho con trai và nói với nó: “Ở nhà một mình, mẹ rất sợ”. Con trai tôi nói sẽ đón tôi về ở đó một thời gian, tôi không còn cách nào khác là phải làm phiền con trai mình.

Tôi thu dọn hành lý và bắt tàu cao tốc đến nhà con trai vào ngày hôm sau. Trước đây, tôi đã đến nhà con trai tôi nhiều lần nhưng chỉ ở trong thời gian ngắn và hầu hết không kéo dài quá một tuần. Lúc đó tôi luôn đi cùng chồng tôi, chúng tôi thường đi dạo, con dâu tôi khá nhiệt tình.

Nhưng lần này đến nhà con trai, tôi luôn cảm thấy có gì đó không ổn, thái độ của con dâu đối với tôi rất lãnh đạm. Con dâu tôi là người rất sạch sẽ, nhà cửa luôn ngăn nắp. Những năm gần đây, con trai bận rộn với sự nghiệp, từ khi có con, con dâu đều ở nhà chăm sóc con cái và quản lý tài chính của công ty.

Ban ngày con trai tôi không có ở nhà nên chỉ có tôi và con dâu. Dù con dâu rất lễ phép và tôn trọng tôi nhưng tôi vẫn cảm thấy không thoải mái. Để giảm bớt sự gượng gạo này, tôi muốn cố gắng hết sức để tìm việc gì đó có thể làm cho bản thân, đồng thời tôi cũng muốn giúp đỡ con dâu và khiến con cảm thấy thoải mái hơn.

Tôi chủ động đi chợ mua những loại rau mà các con trai tôi yêu thích khi còn nhỏ và muốn nấu món gì đó thật ngon cho chúng. Nhưng con dâu tôi nói không cần tôi nấu vì sợ làm tôi mệt.

Ăn tối xong, tôi vội vàng dọn bát đĩa và rửa bát trong bếp. Sau này tôi phát hiện ra rằng mỗi lần tôi rửa bát, con dâu tôi lại rửa lại.

Có lần con dâu nói với tôi: “Mẹ ơi, con thấy nhiều người già ở tuổi mẹ không thích sống cùng con cái, mẹ có thấy thoải mái khi sống ở đây không?”

Tôi vội nói: “Làm quen được mà, ở với các con là tốt rồi”.

Con dâu nói tiếp: “Nghe nói cơ sở vật chất hỗ trợ ở viện dưỡng lão bây giờ rất đầy đủ, người già ở đó thường tổ chức một số hoạt động, có nhiều người cùng tuổi có thể nói chuyện, nhảy múa cùng nhau, rất là tốt. Dì Lữ hàng xóm nhà con, con trai và con gái của bà đã mời bà đến chơi, nhưng dù thế nào đi nữa bà cũng không muốn sống với họ và phải sống trong viện dưỡng lão”.

Tôi chỉ biết “ồ”. Lòng chợt hiểu ra, con dâu đây là đang ám chỉ mình.

Con dâu liền nói tiếp: “Mẹ ơi, căn nhà rộng 130m2 của mẹ bây giờ trị giá hơn 2 triệu (khoảng 6,8 tỷ đồng) phải không?

Chiều hôm đó, con dâu nói chuyện với tôi có vẻ thản nhiên, có lẽ đó là điều mà con dâu tôi đã suy nghĩ từ lâu.

Tôi nhớ rằng khoảng nửa tháng qua tôi đã đến nhà con trai tôi, mặc dù bề ngoài con dâu tôi rất lễ phép với tôi nhưng thực ra trong lòng không chào đón tôi đến sống ở đây lâu dài.

Trên thực tế, điều này có thể hiểu được. Có bao nhiêu người dám khẳng định sẽ sẵn sàng sống với người già? Con dâu tôi khá hiếu thảo, ít nhất vẫn không thẳng tay đuổi tôi ra ngoài, tôi rất biết ơn.

Mấy hôm sau, khi con trai đang ở nhà, tôi nói với con: “Mẹ đột nhiên muốn vào viện dưỡng lão, ở đó có nhiều người già bầu bạn, lại có chương trình dành cho người già. Con đưa mẹ đi xem nhé”.

Con trai và con dâu đưa tôi đi thăm một số viện dưỡng lão từ trung cấp đến cao cấp ở địa phương, cơ sở vật chất hỗ trợ rất tốt, nhân viên rất nhiệt tình. Có rất nhiều người lớn tuổi bằng tuổi tôi ở trong đó và họ đều rất vui vẻ.

Tôi đã chọn một viện dưỡng lão mà tôi hài lòng nhất và ổn định ở đó. Khi chúng tôi trở về, con trai và con dâu rất vui mừng”.

Mấy ngày nay, bà Sử bận rộn sắp xếp việc bán nhà, khi từ nhà con trai về, bà đã đăng ký căn nhà với một công ty bất động sản. Bà ấy nói với chúng tôi có thể bà sẽ không quay lại đây trong tương lai, thậm chí còn tặng chú chó mà bà ấy rất mực thương yêu cho người xứng đáng, sẽ chăm sóc và yêu thương nó.

Bà còn bảo hàng xóm sang nhà chọn đồ, thích gì thì lấy nấy và cho miễn phí. Có người chọn lấy sofa của bà, có người lấy đi vài chậu hoa lan mà bà yêu thích, và còn có những người lấy đi vài thiết bị điện nhỏ. Tôi đã lựa chọn vài cuốn sách hay từ trong chiếc tủ sách lớn của bà.

Khi tôi rời đi, nhìn vào ngôi nhà sang trọng hơn 130m2 của bà, lòng tôi dâng trào cảm xúc: Khi về già, tôi sẽ về hưu ở đâu?


 

180.000 thuyền nhân và lịch sử suýt bị lãng quên

Có rất ít người Việt tại Mỹ nghe nói đến tên thành phố Novato tại miền bắc California. Một người tôi quen bảo rằng cứ tưởng đâu đấy là một thành phố bên Nhật Bản.

Nhưng thành phố này đóng một vai trò quan trọng đối với cộng đồng người Việt tại Mỹ. Trong thời gian ba năm, 1980-1983, có đến 180.000 người tị nạn Đông Nam Á, mà đại đa số là người Việt Nam, đã từng đến một trại trung chuyển tại thành phố này: Hamilton Transit Center.

180.000 thuyền nhân

Con số 180.000 này là những người Việt thế hệ thứ nhất đến Mỹ sau năm 1975. Nếu so sánh với con số trên dưới hai triệu người gốc Việt đang ở Mỹ hiện nay, bao gồm nhiều thế hệ, thì 180.000 người vào thời điểm 1980-1983 là rất đáng kể.

Chiều ngày thứ Tư 24/6 vừa qua, tại thành phố Novato đã diễn ra buổi lễ cắt băng khánh thành bảng lưu niệm trại trung chuyển này.

Hơn 100 người đã tham dự buổi cắt băng khánh thành này, trong đó có khoảng 30 người Việt sống tại Novato và vùng phụ cận. Một số quan chức của thành phố Novato, quận Marin, cùng những người từng có trách nhiệm tại Hamilton Transit Center cũng tới dự.

Chụp lại hình ảnh,Tấm bảng lưu niệm Trung tâm Trung chuyển Hamilton

Ông James Gildea, người từng giữ chức giám đốc điều hành Hamilton Transit Center, cho biết rằng sau năm 1975, có hai sự kiện xảy ra cùng lúc. Tại Đông Nam Á, Chiến tranh Việt Nam kết thúc sau khi quân cộng sản chiếm Sài Gòn.

Tiếp theo đó là đợt sóng thuyền nhân hàng trăm ngàn người chạy khỏi Việt Nam, gây ra một thảm họa mang tầm mức thế giới. Tại California, một sân bay nhỏ là Hamilton ở Novato sắp được đưa ra khỏi biên chế của không quân Hoa Kỳ.

Khu vực Hamilton nằm cách không xa Travis, căn cứ không quân lớn nhất miền Tây Hoa Kỳ, và các đầu mối giao thông quốc tế khác như sân bay San Francisco, cảng Oakland.

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Tuổi già được mất gì?

Khuong Nguyen

 Tuổi già được mất gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn thường cho rằng tuổi già là “tuổi xế chiều,” chỉ toàn thấy mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy cái gì cũng như đồng tiền, phải có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Cái mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp kêu lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa có thể bước hai bậc một lúc, bây giờ phải vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Cái mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước từng là cột trụ, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Khi họp mặt gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện cũ, chuyện xưa” nghe cho vui thôi…

Cái mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một vài chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo; danh bạ nhiều số không còn người nghe máy; “Điện thư” không có hồi âm hay bị gởi trả lại…

Cái mất sau cùng là thời gian. Biết chắc là quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn man mác, không tên.  Mỗi tờ lịch xé đi là một lần thấy giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta “được” những thứ mà tuổi trẻ không có…  Chẳng  hạn:

Ta được thảnh thơi với chính mình; không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn.” Ta được sống thật, nói thật, làm thật.  Mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục, phơi nắng; buổi chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Lúc trẻ thì hay chạy đua theo thiên hạ; lúc già rồi mới biết mình thích chén trà ngon, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: Nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ nhàng, thông thoáng. Tranh hơn thua làm gì nữa, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa Ba Mẹ cũng vậy.”  Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được.”  Bình thản đó phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Lúc trẻ thương bằng chiếm hữu, khi già thương bằng buông thả. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm cho kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò cột trụ, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu sự vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: Hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, người già đừng hỏi mình “Được gì? Mất gì?” Mà hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được hay không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: “Đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được ‘bình yên’ trong lòng.  Đó là cái ‘được’ lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.”

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất đậm nét.

FB Phạm Quốc Hùng 


 

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? – Tác giả: Tuấn Mai

 Tác giả: Tuấn Mai

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống?

 Đằng sau quyết định rời Việt Nam của nhiều người trẻ, có lẽ là những câu chuyện mà không phải ai cũng nhìn thấy.

“Trên chuyến bay trở về Việt Nam sau những ngày sang Mỹ thăm con, đúng vào dịp Quốc khánh nước Mỹ 4.7, tôi cứ nghĩ mãi về một câu hỏi đã theo mình suốt nhiều năm qua:

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? Có lẽ đây cũng là nỗi niềm canh cánh của rất nhiều bậc cha mẹ.

“Ở nhà đâu có khổ. Gia đình ổn định. Công việc cũng có sẵn. Vậy tại sao con vẫn muốn đi?”

Thú thật, đã có lúc tôi cũng nghĩ như vậy.

Trong ký ức của thế hệ chúng tôi, người Việt sang Mỹ chủ yếu để tìm một cuộc sống khá hơn về mặt kinh tế; đi vì miếng cơm manh áo, vì mong có thu nhập tốt hơn để thay đổi cuộc sống của cả gia đình.

Nhưng hơn hai mươi năm trở lại đây, khi chứng kiến con mình và con của nhiều bạn bè lần lượt sang Mỹ học tập, làm việc rồi ở lại, tôi nhận ra mình cần nhìn câu chuyện ấy theo một cách khác. Điều họ tìm kiếm dường như không còn chỉ nằm ở cán cân tài chính. Không ít bạn trẻ ra đi khi phía sau đã có một bệ đỡ rất vững vàng. Có người có công việc đáng mơ ước ở Việt Nam. Có người có sẵn doanh nghiệp gia đình để kế thừa. Nếu ở lại, cuộc sống của họ có lẽ sẽ nhẹ nhàng và êm ấm hơn rất nhiều.

Vậy mà họ vẫn chọn bắt đầu lại từ đầu. Chấp nhận học lại. Chấp nhận làm những công việc bình thường. Chấp nhận sự cô đơn. Chấp nhận những ngày bận rộn đến kiệt sức nơi đất khách.

Là cha mẹ, nhìn con “đầu tắt mặt tối” như vậy, ai chẳng xót. Nhiều lần tôi tự hỏi:

Nếu vẫn phải làm việc quần quật như thế, tại sao con vẫn thấy hạnh phúc?

Sau chuyến đi này, tôi dần hiểu rằng câu trả lời không nằm ở công việc, mà nằm ở cảm giác được tự mình làm chủ cuộc đời.

Có một điểm rất khác ở nhiều người trẻ hôm nay. Các con không chỉ mong có một cuộc sống tốt, mà còn muốn biết nếu một ngày không còn gia đình ở phía sau, mình có thể đi được bao xa bằng chính năng lực của bản thân. Đó không phải là sự nổi loạn. Càng không phải là phủ nhận những gì cha mẹ đã vun vén. Mà đơn giản là khát vọng được tự viết câu chuyện cuộc đời mình.

Ngày đầu tiên tự thuê nhà.

Ngày đầu tiên tự đóng học phí.

Ngày đầu tiên tự giải quyết một khủng hoảng mà không gọi điện về cầu cứu bố mẹ.

Những điều tưởng chừng rất bình thường ấy lại là những cột mốc trưởng thành vô cùng lớn. Một bạn trẻ từng nói với tôi câu nói mà tôi vẫn nhớ mãi:

“Ở VN, con không thiếu điều gì. Nhưng sang Mỹ, lần đầu tiên con thấy mình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc đời của chính mình.”

Tôi nghĩ rất lâu về câu nói ấy. Không phải vì nước Mỹ có phép màu nào. Mà vì một môi trường sống khác có thể khiến con người nhận ra mình làm được nhiều hơn những gì trước đây từng nghĩ. Điều nhiều người trẻ tìm thấy không hẳn là sự giàu có. Đó là cảm giác mỗi thành quả mình có được, dù rất nhỏ, đều là kết quả của sự nỗ lực và tự lập. Cảm giác ấy mang lại một sự tự tin đến từ bên trong, không ai có thể cho, cũng chẳng ai dễ dàng lấy đi.

Dĩ nhiên, nước Mỹ không phải là thiên đường. Ai từng sống ở đó đều hiểu cuộc sống cũng đầy áp lực. Chi phí sinh hoạt đắt đỏ. Công việc căng thẳng. Xa gia đình. Cô đơn. Có những lúc chỉ một cơn ốm cũng đủ khiến người ta thấy mình nhỏ bé và lạc lõng giữa một đất nước rộng lớn. Không ít người từng khóc vì nhớ nhà. Không ít người từng muốn bỏ cuộc. Không có lựa chọn nào chỉ toàn màu hồng.

Nhưng điều khiến tôi suy nghĩ là, dù hiểu rất rõ những khó khăn ấy, rất nhiều người vẫn quyết định ở lại. Không phải vì họ bị nước Mỹ mê hoặc. Mà vì sau những năm tháng tự bươn chải, họ nhận ra mình đã trở thành một con người khác. Tự lập hơn. Điềm tĩnh hơn. Biết chịu trách nhiệm hơn. Và hiểu rõ mình muốn gì hơn. Có lẽ đó mới là điều họ trân trọng nhất.

Sống ở Mỹ một thời gian, tôi cũng hiểu vì sao nhiều người gắn bó với cuộc sống ấy. Không hẳn vì những điều lớn lao. Mà vì những điều rất nhỏ diễn ra mỗi ngày. Một môi trường mà việc đặt câu hỏi được xem là bình thường. Một người lao động chân chính, dù làm nghề gì, cũng cảm thấy mình được tôn trọng. Một cuộc sống mà người ta bớt quan tâm bạn đang sở hữu điều gì, và quan tâm nhiều hơn đến cách bạn đang sống. Những điều ấy nghe có vẻ rất nhỏ. Nhưng khi trở thành một phần của cuộc sống mỗi ngày, chúng lại tạo nên cảm giác bình yên mà nhiều người vẫn âm thầm đi tìm.

Là cha mẹ, điều khó khăn nhất không phải là nhìn con vất vả. Mà là chấp nhận rằng có những bài học con chỉ có thể tự mình trải qua. Chúng ta có thể cho con một nền tảng đủ đầy. Nhưng không thể sống thay cuộc đời của con. Đến một lúc nào đó, tình yêu thương không còn là giữ con ở thật gần. Mà là đủ tin tưởng để con bước đi trên con đường mình đã chọn.

Có thể một ngày nào đó con sẽ trở về.

Cũng có thể con sẽ ở lại.

Điều ấy không còn quan trọng bằng việc con được sống một cuộc đời mà sau này nhìn lại, con không phải tiếc nuối vì đã không dám dấn thân.

Thế hệ trước phần lớn ra đi vì hoàn cảnh. Thế hệ hôm nay, rất nhiều người ra đi vì một lựa chọn. Họ không rời Việt Nam vì ghét quê hương. Họ cũng không đến Mỹ vì tin đó là một miền đất hoàn hảo. Họ chỉ mong tìm được một môi trường phù hợp hơn với những giá trị mà mình theo đuổi; một nơi để thử sức, để trưởng thành và để chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình.

Có lẽ điều những người làm cha, làm mẹ cần nhất lúc này không phải là cố giữ con ở lại bằng mọi giá. Mà là cố gắng hiểu vì sao con muốn bước ra thế giới.

Có lẽ rồi mỗi đứa con sẽ có một lựa chọn khác nhau.Có người trở về. Có người ở lại.

Điều quan trọng không phải là con sống ở đâu. Mà là con có sống tử tế, sống có trách nhiệm và bình yên với lựa chọn của mình hay không.

Nếu câu trả lời là có, thì có lẽ những người làm cha, làm mẹ như chúng ta cũng thấy yên lòng.

Ps: Những người Việt sang các nước khác, chắc cũng vậy!”

Tác giả: Tuấn Mai

From: taberd- & NguyenNThu