Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử

Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-04-22

Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737

Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737

RFA files photos

Đánh dấu 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, một vấn đề lại được đem ra mổ xẻ, đó là có hay không câu chuyện phân biệt đối xử ngược đãi quân dân cán chính VNCH sau khi miền Bắc thống nhất đất nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Công dân hạng hai trên đất nước mình

Sau khi chiến tranh Quốc-Cộng kết thúc vào ngày 30/4/1975, quân dân cán chính của chế độ VNCH chịu nhiều thống khổ và bị phân biệt đối xử. Tình trạng này chỉ được cải thiện vào cuối thập niên 1980 khi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành đổi mới.

Theo nhà báo Lê Phú Khải, nguyên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) tại Đồng bằng sông Cửu Long thì dùng các từ “ngược đãi” “phân biệt đối xử” là chưa chuẩn xác, vì thực tế nó ghê gớm và kinh khủng hơn thế rất nhiều. Từ Saigon ông Lê Phú Khải nhận định:

“ Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước.”

Trong khoảng một thập niên kể từ ngày 30/4/1975,  nếu nói quân dân cán chính VNCH và gia đình của họ trở thành công dân hạng hai ngay trên đất nước mình thì cũng có nhiều phần đúng. Bởi vì chính sách của Đảng Cộng sản đã thay đổi tận gốc nền tảng xã hội ở Nam Việt Nam, quyền tư hữu đất đai không còn, các đợt cải tạo công thương nghiệp tư doanh đã quốc hữu hóa đồng loạt khối doanh nghiệp tư nhân dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Ngoài ra rất nhiều tài sản và nhà ở của sĩ quan cao cấp, viên chức VNCH bị tịch thu với những lý do mơ hồ như có nợ máu với nhân dân, hoặc bị chụp mũ là tư sản.

Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước

nhà báo Lê Phú Khải

Những sai lầm chết người

Ông lê Phú Khải nhận thức từ hiểu biết qua công tác nhà báo của mình, ngay trong những năm đầu khi Miền Nam khởi sự được nếm mùi xã hội chủ nghĩa. Ông nói:

“ Ngoài Hà Nội tôi đã chứng kiến rồi, chứ trong Nam đương nhiên là như thế, người ta nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội không tưởng, cái chủ nghĩa xã hội mà ông Nguyễn Phú Trọng nói là đến cuối thế kỷ này chưa chắc đã hình thành đấy. Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976 cho tới đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, sau đó là đổ mới thì mới bắt đầu có khá lên được.”

Ngay cả những người đã mất cũng bị kỳ thị. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị bỏ hoang mộ bia bị đập phá...

Ngay cả những người đã mất cũng bị kỳ thị. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị bỏ hoang mộ bia bị đập phá…

Nhà báo Lê Phú Khải qua thời gian làm phóng viên, rồi thường trú Đài Tiếng nói VOV ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhớ lại một thời kỳ đảo điên ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Ông nói:

“ Tôi chứng kiến nhiều lắm, ví dụ một ông chủ tiệm giày bị đuổi đi khai hoang ở Tây Ninh, nhưng khi ông thấy “đổi mới” cán bộ bắt đầu đi giày rồi, bắt đầu nhảy đầm rồi thì ông ấy kéo cả gia đình về; bây giờ ông lại có tiệm giày. Hay là ông chủ ô tô chẳng hạn, ông ấy bảo tôi có chiếc xe chở khách họ biến thành công tư hợp doanh, tôi biết công tư hợp doanh sau này dứt khoát sẽ phải trả lại tôi. Vì sao, ông ấy bảo họ đến lấy cái ô tô nhưng phụ tùng chả ông nào lấy, tôi để phụ tùng dưới gầm giường. Tôi biết mấy ông này ở nhà quê ra chẳng biết gì về ô tô, ô tô cũ phải có phụ tùng để sửa chữa. Y rằng sau này phải trả lại ô tô cho chủ cũ. Như vậy nói là ngược đãi là chưa đúng phải nói là đường lối sai lầm dẫn đến những bi kịch, những thảm họa của đất nước.”

Mặc dù hệ thống tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam cố gắng viết lại lịch sử theo quan điểm chính trị chứ không phải những sự thật đã xảy ra, nhưng sự kiện hơn 100.000 sĩ quan và viên chức VNCH bị đưa vào các trại tù khổ sai được gọi một cách mỹ miều là tập trung cải tạo thì không thể nào chối cãi và nói khác đi được. Tất cả những quân cán chính VNCH bị đi cải tạo tập trung sau 30/4/1975 nói chung đều đã bị giam cầm cả chục năm, người ít nhất thì cũng từ 3 năm tới 5 năm.

Ông Nguyễn Ngọc Tiên, cựu Trung úy Quân lực VNCH từng bị tù cải tạo 6 năm và sau khi được thả lại bị thêm 2 năm tù về tội phản động phát biểu từ San Jose Bắc California Hoa Kỳ:

Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976

nhà báo Lê Phú Khải

“ Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ. Chúng tôi không thấy một hình thức nào gọi là muốn đào tạo cho người ta tốt hơn mà giống như hình thức của họ hết.”

Ông Đỗ Mạnh Trường cựu viên chức VNCH đã bị cải tạo tập trung 8 năm và hiện định cư ở  Wesminster Quận Cam California phát biểu:

“Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện, những người ở Miền Nam có gia đình họ ở Miền Bắc vào thăm thì họ cũng khuyên câu đầu tiên là các bác các chú ráng cải tạo cho tốt để được về với gia đình. Nhưng mà sau một thời gian thì những người này không dám nói điều đó nữa, đó là sự ngụy biện hoàn toàn, bởi vì nếu không có áp lực của thế giới thì chắc chắn là tất cả cựu quân nhân dưới danh nghĩa đi tù cải tạo sẽ chẳng còn được mấy người mà về. Xin nhấn mạnh rằng cho đến năm 1979 có một số người được chở vào Thanh Phong Thanh Hóa để biến thành trại viên thay vì phạm nhân theo danh nghĩa họ nói. Họ đã được trả lại đồng hồ được phép đi ra khỏi trại mà không phải có tụi nó dẫn theo thì họ lại được khuyến khích là trong một thời gian ngắn nữa các anh sẽ đưa vợ con các anh ra ngoài này. Thử  hỏi giả sử chính sách đó kéo dài thì thế hệ hay giai cấp có còn hay không hay tất cả con cái chúng ta đã trở thành người Thượng hết chỉ sau một thời gian rất ngắn.”

Trong khi người chủ gia đình theo lệnh Chính quyền đi học tập cải tạo, thực chất là đi tù thì vợ con họ ở nhà trở thành công dân hạng hai, không thể xin việc làm, con cái những người sĩ quan, viên chức VNCH đi cải tạo bị tước đoạt cơ hội vào đại học. Vì chính quyền phân loại các thí sinh thi vào đại học thành 4 nhóm và mỗi nhóm còn chia tới 14 thành phần. Con “ngụy” thời đó gọi là như thế, muốn vào đại học phải có điểm thi nhiều gấp đôi con cán bộ đảng viên mới có thể trúng tuyển, thí sinh đại học thời đó từng chế câu “học tài thi phận” thành “học tài thi lý lịch”. Một sự thật không thể chối cãi là sau khi đất nước thống nhất, đã chẳng có hòa hợp hòa giải gì, mà ngay trong giáo dục cũng đã phân biệt đối xử giữa con cán bộ và con “ngụy quân-ngụy quyền.”

Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ

Ông Nguyễn Ngọc Tiên

Nhà báo Lê Phú Khải nhận định:

“ Không chỉ ở miền Nam mà ở miền Bắc trước kia gia đình trí thức tiểu tư sản, địa chủ tư sản còn bị phân biệt đối xử nữa là sau này ‘giải phóng miền Nam thống nhất đất nước’. Cho nên việc thi vào đại học rồi đối xử không công bằng giữa các thành phần là chuyện hiển nhiên ai cũng thấy… Chuyện phân biệt đối xử lấy giai cấp công nông làm gốc rồi phân biệt đối xử với các giai cấp khác là sai lầm từ gốc rồi, cái này là có thật…mấy ông sử gia chẳng qua là bồi bút thôi, nói để vui lòng bè đảng để thăng quan tiến chức thôi. Chứ bản thân tôi là gia đình toàn cán bộ, thậm chí là cán bộ cao cấp của Đảng, nhưng khi ở Hà Nội ở xóm tôi mấy ông về hay đi xe máy, xe đạp do vậy xã nó phê cho là gia đình tư sản thế là 2 năm trời tôi không được vào đại học. Bản thân tôi đã chịu cái cảnh đó cho nên cái đó là có thật chứ không phải người ta bịa ra.”

Sau chiến thắng 30/4/1975, nếu không bỏ lỡ một thập niên u mê đem chính sách cải tạo năm 1954 ở miền Bắc vào áp dụng ở miền Nam, thì có lẽ Việt Nam đã tiến xa hơn nhiều và nếu đảng Cộng sản thực tâm muốn hòa hợp hòa giải thì đã không có làn sóng vượt biển tìm tự do kéo dài từ giữa năm 1975 đến 1990. Nhiều người đã tìm được bến bờ tự do nhưng hàng trăm ngàn người không may đã vùi thây đáy biển.

40 năm sau khi kết thúc cuộc chiến, ở đâu là nỗi vui mừng của người chiến thắng và ở đâu là tiếng thở dài u uất của người dân Việt.

Dân đổ cá chết ra đường, buộc chính quyền phải đối thoại

Dân đổ cá chết ra đường, buộc chính quyền phải đối thoại

Người dân ở thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đổ cá chết ra đường.

Người dân ở thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đổ cá chết ra đường.

VOA Tiếng Việt

21.04.2015

Hàng trăm người dân ở thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, hôm qua, đã mang hải sản chết ra đổ tại quốc lộ 1, nối hai miền nam – bắc, buộc chính quyền phải đối thoại khẩn.

Hàng trăm chiếc xe ôtô tải đã bị tắc nghẽn nhiều giờ đồng hồ. Các bức ảnh đăng tải trên mạng cho thấy đám đông người dân tụ tập trước cửa cơ quan chính quyền phường Cam Phúc Bắc.

Bà Hoàng Thị Hồng, một người chứng kiến, kể lại với VOA Việt Ngữ:

“Dân người ta nuôi trồng thủy sản ở dưới biển rồi có người làm đất, xúc đất nên giờ dưới biển ô nhiễm đó nên dân người ta đổ cá ra đường. Họ đổ ra đường quốc lộ 1, cản trở giao thông. Thấy kẹt xe lâu lâu đấy.”

Dân người ta nuôi trồng thủy sản ở dưới biển rồi có người làm đất, xúc đất nên giờ dưới biển ô nhiễm đó nên dân người ta đổ cá ra đường.

Bà Hoàng Thị Hồng.

Báo chí trong nước đưa tin, từ cuối năm 2014 cho tới nay, việc múc cát, nạo vét vịnh Cam Ranh khu vực phường Cam Phúc Bắc đã làm ô nhiễm nguồn nước, gây chết thủy hải sản của hơn 100 hộ dân.

Vụ việc ở Khánh Hòa xảy ra vài ngày sau khi người dân ở tỉnh Bình Thuận cũng đổ ra đường để phản đối một nhà máy nhiệt điện do Trung Quốc xây dựng gây ô nhiễm môi trường.

Cuộc biểu tình ôn hòa với sự tham gia của hàng trăm người sau đó đã biến hành bạo lực, làm nhiều người bị thương và gây tắc nghẽn hàng chục km trên quốc lộ 1A.

Các đoạn video trên mạng cho thấy người dân ném gạch, đá và bom xăng vào cảnh sát cơ động, và lực lượng này đã đáp trả bằng lựu đạn khói và hơi cay.

Hồi đầu tháng này, những cuộc xuống đường rầm rộ của người dân Hà Nội và công nhân ở Sài Gòn đã  đẩy chính quyền ở cả nam lẫn bắc vào thế buộc phải thương lượng.

Giới quan sát nhận định rằng các sự kiện cho thấy người dân “đã dần ý thức được quyền lợi bị xâm phạm của mình và bắt đầu đứng dậy phản kháng”.

Có người thậm chí còn lạc quan cho rằng dường như làn sóng “bất tuân dân sự” đã lan tới Việt Nam.

Thắng Cuộ̣c & Thua Bạc

Thắng Cuộ̣c & Thua Bạc

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Với ý thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến trình cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt.

Đỗ Kim Thêm

Tác phẩm Biển San Hô của nhà văn Trần Vũ vừa được khởi đăng trên  Tuần báo Trẻ, số ra ngày 12 tháng 3 năm 2015 – phát hành từ Dallas, Texas – với lời dẫn nhập của chính tác giả:

Cuối thập niên 70 cùng với những ghe vượt biển mong manh còn xuất hiện những thuyền nhiều tầng được Công an Biên phòng hộ tống ra tận cửa biển, do chính nhà nước đứng ra tổ chức dưới tên gọi Vượt biên Bán Chánh thức. Với chính sách bài Hoa, chính quyền muốn triệt tiêu “đội ngũ Hán gian” nhưng trong thực tế là những gia đình Hoa kiều đã sinh sống nhiều thế hệ trong Chợ Lớn và có cả những thanh niên Việt mua khai sinh Tàu để ra đi. Giá trung bình là 12 lượng vàng cho người lớn và 7 lượng vàng cho trẻ em, cùng hai trăm đồng “cụ Hồ” cho thị thực khai sinh ma. Ðóng cho chủ tàu và công an thị xã điểm xuất phát. Chuyến tàu MT-603 khởi đi từ Mỹ Tho đêm 29 rạng 30 tháng 5-1979 chứa 405 thuyền nhân đã đâm vào bãi ngầm Trường Sa bốn ngày sau đó. Ngày 21 tháng 6-1979 khi được Hải quân Phi Luật Tân cứu đưa vào hải đảo Liminangcong, điểm danh còn đúng 285 người. Tôi ở trong số những thiếu niên đi chuyến tàu này, ghi lại dưới dạng tiểu thuyết.

Không ai biết chính xác có bao nhiêu “con thuyền nhiều tầng” đã được công an “hộ tống” ra cửa biển, bao nhiêu người đã vùi thây dưới biển sâu, và bao nhiêu lạng vàng đã nộp cho nhà đương cuộc Hà Nội trong chiến dịch bán bãi thu vàng. Đến nay chỉ có số liệu về lượng vàng thất thu (vì cán bộ thu nhưng không trình) tại vài địa phương:

Hậu Giang, 4.866 lượng; Minh Hải, 48.195 lượng; Bến Tre, 3.789 lượng; Cửu Long, 27.000 lượng; Nghĩa Bình, 27.000 lượng; Phú Khánh, 10.987 lượng; Thuận Hải, 1.220 lượng; An Giang, 1.445 lượng”. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Bán bãi lấy vàng không phải là mẻ thu đầu tiên của bên thắng cuộc. Trước đó đã có nhiều “chiến dịch” tương tự, xin được ghi lại (tóm lược) theo theo thứ tự thời gian:

“Chưa đầy ba năm sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở miền Nam, các nhà doanh nghiệp, với tên gọi mới là “tư sản”, đã phải trải qua hai lần bị “đánh”.

“Chiến dịch X-2”
Vào lúc 7 giờ 30 phút sáng ngày 10-9-1975, Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn họp báo, đưa ra “Bản Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam”, ra lệnh “bắt giữ một số tư sản mại bản có chứng cứ đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường…

Về lý luận, “tư sản mại bản” được chính quyền cách mạng coi là “địch” nên phương thức mà Chiến dịch X-2 tiến hành được xác định rõ là “đánh”…

Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức…

Sau “Chiến dịch X-2”, Thành uỷ nhận định: “Bọn tư sản mại bản bị cô lập rất cao, chúng đã mất hết chỗ dựa về mặt quân sự và chính trị. Lực lượng kinh tế của chúng đã bị sứt mẻ và đang bị tan vỡ dưới sự tiến công của ta”122. Nhằm “giáng tiếp những đòn mới vào giai cấp tư sản”, ngày 22 và 23-9-75, đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới.
Đổi tiền cũng được coi là “chiến dịch” với mật danh “X-3”…

Năm 1976, tình hình tiếp tục khó khăn. Một đợt “đánh tư sản” lại được tiến hành, lần này tập trung hơn vào giới tư sản người Hoa.

Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt” (Sđd, trang 71 – 80).

–  “Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.”(Sđd, trang 71 – 90).

Cũng theo ông Huỳnh Bửu Sơn:

Ngay trong ngày 1-5-1975, Cách mạng đã biết trong kho có số vàng này, nhưng phải khi ông đi học tập về thì mới chính thức bàn giao. Ông Huỳnh Bửu Sơn là một trong hai người nắm giữ chìa khóa kho vàng và trực tiếp giao vàng cho hai người, một người bộ đội tên là Duyệt, một người về sau làm giám đốc ngân hàng Cần Thơ. Kho dự trữ chứa 15,7 tấn vàng, gồm: vàng thoi FRD của Mỹ, vàng thoi Montagu của Nam Phi và vàng thoi Kim Thành, có nguồn gốc là vàng lậu do hải quan bắt tịch thu về đưa cho hãng Kim Thành đúc lại. Ngoài ra còn có các đồng tiền vàng của Mỹ, Double Eagle, mệnh giá 20 USD nhưng được làm từ một lượng vàng trị giá 420 USD; đồng Pesos của Mexico; đồng vàng Napoleon… ” (Sđd, trang 31).

Đó là chưa kể đến hàng chục ngàn cơ sở thương mại bị tịch thu hay công hữu hoá, và không biết bao nhiêu hãng xưởng, nhà cửa mà dân miền Nam đã ký giấy “hiến” cho “cách mạng” với hy vọng (mỏng manh) của đi thay người.

Kẻ bên thua cuộc thì trắng tay là chuyện tất nhiên nhưng người bên thắng cuộc – tuyệt đại đa số – cũng chả “chiếm hữu” được gì ráo. Dân quê ở hậu phương không với tay được đến chiến lợi phẩm, đã đành, các chiến sĩ ngay tại trận tiền cũng không “vơ vét” được của cải chi đáng giá – ngoài mấy cái khung xe đạp vác vai, hay vài “con búp bế nhựa, biết nhắm mắt khi năm ngửa và có thể khóc oe oe, buộc trên ba lô của …anh bộ đội phục viên may mắn” – vẫn theo lời Huy Đức.

Bỏ cái ba lô, cái khung xe đạp, và con búp bê có thể khóc oe oe ra, những chiến sĩ giải phóng quân hoàn toàn trần trụi: không học vấn, không nghề nghiệp, không không một đồng xu dính túi,  và – tất nhiên – không một tấc đất cắm dùi!

“Họ ngơ ngác tìm kế sinh nhai,” Vi Đức Hồi kể lại:

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ tâm sự,  cảnh ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là hình ảnh người chiến sỹ năm xưa cả nước trân trọng, mến mộ:

‘hoan hô anh giải phóng quân
kính chào anh con người đẹp nhất
lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất
sống hiên ngang bất khuất trên đời’

Nay họ đã trở thành đối tượng của đảng, chính quyền địa phương, họ được quy là công thần, gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.”

Đó là hoàn cảnh “hụt hẫng” của những binh sĩ hay sĩ quan phục viên lành lặn, và may mắn. Nói chi đến đám thương binh (“nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng”)  hay những gia đình liệt sĩ.

Năm 1983 ông Nguyễn Vĩnh Rượu nhận được 90 đồng tiền chính sách, hỗ trợ vì gia đình có ba thân nhân là liệt sĩ. Số tiền này, vào thời điểm đó, mua được “gần” ba bao 555 hay Craven A. Tính cho gọn theo “chính sách” thì mỗi mạng người tương đương với một bao thuốc lá.

Ông Rượu gửi hết 90 đồng vào qũy tiết kiệm, loại không kỳ hạn và có lời. Ba mươi hai năm sau, vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, gia đình ông Rượu mang sổ tiết kiệm đến Ngân hàng VietinBank và nhận lại được hơn 20.000 đồng. Tính luôn “cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm,” như nguyên văn lời của ký giả Tấn Tài trong bài báo (“Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt”) trên báo Một Thế Giới, số ra ngày 2 tháng 4 năm 2015.

Bởi vậy không có gì ngạc nhiên là bốn mươi năm sau, sau khi cuộc chiến đã tàn, người ta vẫn còn tiếng kêu cứu thống thiết của những gia đình thương binh hay liệt sĩ ở khắp mọi nơi. Hãy xem hoàn cảnh của bà Hà Thị Thuỷ:

“ 74 tuổi, trú tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng (An Dương, thành phố Hải Phòng)… Thời kỳ chiến tranh, bà là thanh niên xung phong. Bà gặp và kết hôn cùng ông Nguyễn Văn Viền là bộ đội. Ông Viền hy sinh năm 1968, khi con gái vừa mới sinh.

Bản thân bà là người ngoại tỉnh, gia cảnh lại neo đơn không có anh em ruột thịt, bà phải gửi con nhỏ về quê Nam Định cho mẹ già chăm sóc. Bà lăn lộn kiếm tiền gửi về cho mẹ nuôi con gái…

Trước hoàn cảnh khó khăn trên của gia đình thân nhân liệt sĩ, rất mong các cá nhân, nhà hảo tâm quan tâm giúp đỡ gia đình bà Thủy. Mọi sự giúp đỡ xin gửi về bà Hà Thị Thủy hoặc bà Vũ Thị Hải – Trưởng văn phòng đại diện Báo Nông Thôn Ngày Nay tại Hải Phòng – số 31 Điện Biên Phủ, quận Hồng Bàng, ĐT: 0903212789; hoặc Báo Nông Thôn Ngày Nay – 13 Thụy Khuê, Hà Nội, tài khoản 1506311002117, chi nhánh Ngân hàng NNPTNT Tây Hồ, Hà Nội.”

Chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ lẫn nhau khi tha nhân lâm vào cảnh khó khăn. Tôi hy vọng sẽ không ai trù trừ, do dự hay quay lưng với gia đình bà Hà Thị Thủy chỉ vì họ là những người thuộc … bên thắng cuộc.

Người dân Việt Nam không ai thắng ai sau cuộc chiến vừa qua. Tất cả chúng ta đều thua, thua đau, sau một canh bạc bịp bởi những kẻ gian manh. Phải nhận diện rõ được kẻ thù như thế để đánh thẳng vào mặt chúng nó, và đừng …đánh lẫn nhau!

Việt Nam trong 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới

Việt Nam trong 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới

Tổ chức CPJ cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

Tổ chức CPJ cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

21.04.2015

Việt Nam vừa bị tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) đưa tên vào danh sách 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới, nơi truyền thông bị hạn chế nhiều nhất.

Theo CPJ, nhiều chủ đề bị cấm đề cập trên báo chí chính thống như “hoạt động của các nhà bất đồng chính kiến, sự chia rẽ trong nội bộ Đảng Cộng sản hay vấn đề nhân quyền”.

Ngoài ra, tổ chức có trụ sở ở New York còn cho rằng các blogger độc lập viết về các vấn đề nhạy cảm “đối mặt với tình trạng bị sách nhiễu qua các vụ hành hung theo kiểu đường phố, bị bắt bớ bừa bãi, bị theo dõi và bị tống giam”.

Tổ chức thúc đẩy tự do báo chí trên thế giới còn cho rằng Việt Nam đã “chặn nhiều trang web chỉ trích chính phủ” cũng như sử dụng điều luật mơ hồ 258 về tội gọi là “chống phá nhà nước” trong Bộ Luật hình sự để truy tố và tống giam các blogger.

Trong danh sách công bố hôm nay, ngoài Việt Nam (ở vị trí thứ 6) còn có Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Hàn và Cuba.

Trước đây, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bỏ tù nhiều ký giả nhất trên thế giới của CPJ với ít nhất 16 người còn bị giam giữ.

Việt Nam chưa lên tiếng bình luận về phúc trình mới nhất của CPJ, nhưng Hà Nội từng phản bác các báo cáo tương tự là “thiếu khách quan”, và “không phản ánh đúng thực tế ở Việt Nam”.

Nguồn: CPJ, MOFA

Xem thêm: Việt Nam là một trong 10 nước kiểm duyệt báo chí nhiều nhất thế giới (RFA)

Việt Nam là một trong 10 nước có tên trong danh sách bị coi là kiểm duyệt nhiều nhất thế giới.

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.

VOA Tiếng Việt

21.04.2015

Sau khi phải hủy bỏ kế hoạch kỷ niệm ngày 30/4 tại một căn cứ thuỷ quân lục chiến ở Nam California, người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang California giờ đã tìm được một địa điểm mới, nơi họ có thể treo cờ và hát quốc ca Việt Nam Cộng hòa.

Hàng nghìn người đã bỏ chạy khỏi tổ quốc để tới Mỹ, và nhiều người trong số đó ban đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thuỷ quân lục chiến gọi là Camp Pendleton ở miền nam California.

Ông Jason Johnston, phát ngôn viên của căn cứ này, cho biết các quan chức tai trụ sở của lực lượng thuỷ quân lục chiến Mỹ nói rằng lá cờ của miền nam Việt Nam trước đây không thể được treo lên tại các cơ quan liên bang vì chính phủ Mỹ chỉ công nhận chính quyền Việt Nam hiện thời.

Trong chương trình buổi lễ tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên ban tổ chức lễ kỷ niệm 30/4.

Nay thì buổi lễ sẽ được tiến hành tại một trường trung học ở thành phố Garden Grove vào ngày 25/4 tới đây.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của Ban tổ chức sự kiện này cho VOA Việt Ngữ biết thêm chi tiết:

“Ban tổ chức dời địa điểm về trường trung học Bolsa Grande ở thành phố Garden Grove. Đề tài của chương trình đã đổi từ “Hành trình đến tự do và vươn tới” thành “Ngày tưởng niệm quốc hận năm thứ 40”, năm thứ 40 sau chiến tranh Việt Nam, miền nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản và hàng trăm người tị nạn Việt Nam đã rời Việt Nam để tìm đến bến bờ tự do. Chắn chắn trong chương trình buổi lễ đó tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Ban tổ chức cho biết, dự trù sẽ có từ 5.000 tới 10.000 người tham gia lễ kỷ niệm đánh dấu sự kiện mà nhiều người ở Mỹ gốc Việt hiện gọi là “ngày quốc hận”.

Trong khi đó tại Việt Nam, chính quyền sẽ tổ chức diễu binh và diễu hành với sự tham gia của hàng nghìn người tại TP HCM để đánh dấu ngày được gọi là “thống nhất đất nước”.

Ngoài ra, kế hoạch kỷ niệm được đích thân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt còn bao gồm các hoạt động văn hóa và bắn pháo hoa tại nhiều địa điểm ở nơi từng được gọi là ‘Hòn ngọc Viễn Đông”.

Bình luận về các hoạt động rầm rộ này, luật sư Lê Công Định viết trên trang Facebook cá nhân: “Chiến thắng đồng bào ruột thịt mà diễu binh lớn để làm gì, hoà giải dân tộc kiểu này ư? Nói và làm khác xa nhau bởi suy nghĩ không đúng như lời, nó thể hiện ở hành động”.

Nhà bất đồng chính kiến này viết tiếp: “Cứ gợi nhớ quá khứ đau thương bằng những buổi lễ hống hách như vậy, thì trách chi bên kia luôn nhắc đến ngày ấy như ngày quốc hận. Muốn người khác quên thù hận và gác lại quá khứ, thì chính mình phải vượt qua sự cao ngạo của kẻ chiến thắng”.

Chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được,

Blogger Điếu Cày.

​Trong khi đó, nhận định về tiến trình hòa giải dân tộc, blogger Điếu Cày nói với VOA Việt Ngữ từ Mỹ:

“Cái chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy nó đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được, bởi vì hiện nay họ vẫn cho rằng chỉ có họ mới có quyền lãnh đạo đất nước. Như ông Võ Văn Kiệt đã nói, nước Việt Nam là của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều có quyền đóng góp và tham gia điều hành đất nước. Nước Việt Nam không phải của riêng một cá nhân hay tổ chức chính trị nào.”

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm ngoái, tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao vai trò của Việt Kiều tại Mỹ trong mối quan hệ song phương.

Tổng thống Obama nói cộng đồng này là ‘một trong những nguồn sức mạnh lớn giữa hai nước’ và là ‘chất keo dính bền chặt cho quan hệ của bất kỳ hai quốc gia nào’.

Đáp lại, ông Sang cũng ngỏ lời cảm tạ chính phủ Hoa Kỳ về ‘sự chăm sóc hết sức chu đáo’ đối với người Mỹ gốc Việt hàng chục năm qua.

Trong khi hai nhà lãnh đạo phát biểu, bên ngoài Tòa Bạch Ốc, hàng trăm người gốc Việt hô to các khẩu hiệu phản đối tình trạng vi phạm nhân quyền ở trong nước – một vấn đề ông Sang thừa nhận rằng Hà Nội và Washington vẫn còn nhiều điểm khác biệt.

Trả lời VOA Việt Ngữ khi ấy, nhà lãnh đạo Việt Nam bày tỏ mong muốn rằng người Mỹ gốc Việt sẽ làm “cầu nối” nhằm thúc đẩy mối quan hệ Hà Nội – Washington.

LƯƠNG Y NHƯ… TỪ MẪU

LƯƠNG Y NHƯ… TỪ MẪU

image

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhân dân Miền Nam Việt Nam lâm vào một tâm trạng hoang mang tột độ, mịt mù trước tương lai, lo âu cho cuộc sống hằng ngày. Tại Bệnh viện Vĩnh Long, mặc dầu tôi đã không còn trách nhiệm gì nữa mà anh chị em nhân viên cứ bám lấy tôi để dò hỏi, làm như tôi có phép mầu nhiệm gì để giải tỏa được những thắc mắc đang quay cuồng trong trí óc mọi người.

Những người thay thế tôi cố sửa đổi bộ mặt của bệnh viện bằng cách cho sơn vẽ khắp nơi những khẩu hiệu cách mạng mới, mà đắc ý nhất là câu “Lương Y như Từ Mẫu”, không biết lượm được ở đâu, mà cứ nhan nhản khắp nơi, từ ngoài cổng, cầu thang, hành lang cho đến phòng thay áo, nhà tắm…như cố nhét vào đầu óc mọi người để tranh thủ cái độc quyền đạo đức nhân từ mà chỉ riêng người thầy thuốc cách mạng mới xứng đáng với hai chữ lương y.

image

Một hôm, tôi bước vào phòng trực y tá để thăm hỏi, thì thấy anh chị em đang quây quần tán gẫu, lẽ tất nhiên cũng không ngoài đề tài số một là gạo cơm lương bổng sẽ ra sao. Bên cạnh là bàn thờ tổ quốc, một thứ trang trí mới trong tất cả các phòng, bất luận là chuyên môn hay hành chánh, bên trên vẫn là cái câu nhân từ bất hủ đó. Một nữ hộ sinh chỉ vào khẩu hiệu, ngao ngán bảo với tôi: ” Ông Thầy biết không, chúng em bị một phen mừng hụt vì nó đấy “, rồi lấm lét nhìn ra cửa, nói tiếp: “Chiều nay khi mấy chú cán bộ vào kẻ khẩu hiệu, khi ngang tới chữ “Lương y như…” chúng em mừng quá reo lên vì cứ tưởng là lương y như tháng trước, không ngờ nó lại là như…từ mẫu!”.

Thế rồi vì không hiểu duyên nợ nghề nghiệp gắn liền hay đạo đức cách mạng chu đáo lo cho chúng tôi mà các bậc từ mẫu đó, tuy khoác áo lương y nhưng lại cư xử theo tư cách một… cai ngục, đã đeo đẳng mãi chúng tôi trên suốt đoạn đường dài “cải tạo”.

Sau những năm dài da diết trong rừng sâu Sơn La, trên biên giới Hoa Việt, cuối cùng, vì có chiến tranh với Trung cộng, chúng tôi được áp tải về một trại giam gần Hà Nội, một trại giam “kiểu mẫu”, một thứ “cây kiểng” để chế độ trình diễn chính sách khoan hồng nhân đạo với thế giới bên ngoài. Trong cái tủ kính bày hàng đó, lẽ tất nhiên săn sóc sức khỏe cho tù là “ưu tư hàng đầu” của Ban Giám thị và vị lương y phải được đóng vai kép chính.

image

Trại Nam Hà, cách Chùa Hương không xa, được thời cuộc nâng lên hàng danh lam thắng cảnh để cho quan khách ngoại quốc lui tới viếng thăm, từ Hội Ân Xá Quốc Tế, báo chí Tây phương, các nghiệp đoàn cộng sản Pháp cho tới cả “đồng chí” Chandra Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới v.v… Từ trại nhìn ra, cảnh đẹp như tranh, xa xa những núi đá vôi nho nhỏ, đủ hình đủ dạng, nổi lên trên một mặt nước phẳng lì thơ mộng trông như Vịnh Hạ Long. Cái mặt nước phẳng lì hiền hòa đó, không ai ngờ là một thứ hàng rào thiên nhiên vô cùng độc hại, là những đầm sình lầy cát lở đã nuốt sống biết bao là tù nhân trốn trại.

Bệnh xá nằm dưới chân đồi, trước sân có hòn non bộ với Lã Vọng ngồi câu, bên dưới là bể cá vàng lừ đừ lội nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thờ ơ chán ngán, trên mái hiên treo đầy lồng chim đủ màu đủ loại, suốt ngày hót líu lo như để mỉa mai tâm trạng héo hắt tơi bời của chúng tôi.

Tất cả cái thú xa xỉ trưởng giả đó đã được đánh đổi bằng xương thịt của chúng tôi qua sự cắt xén tiền thực phẩm vốn đã vô cùng đói rách. Cá thia vàng, chim hoàng yến, chim họa mi tung tăng bay nhảy, đã được mấy ngàn cặp mắt tù sâu hoắc và phờ phạt vì thiếu ăn, thèm thuồng nhìn qua giá trị của mấy chục gờ ram prôtêin mà vô cùng tiếc rẻ, vì nó đang nằm trong tầm tay mà lại ngoài tầm… bao tử. Cây kiểng trước sân được chăm sóc tỉ mỉ mà mỗi lần gọt tỉa là một dịp cho chúng tôi lượm lá rụng nấu thành một bữa rau để dành giựt nhau, tuy vừa dai vừa đắng nhưng màu đỏ của nước lá dền cũng cho chúng tôi ảo tưởng bổ dưỡng của chất sinh tố B12. Cái quang cảnh thần tiên của bệnh xá đó đã được lên hình trên báo Liên Xô và được tô điểm đến độ mỗi lần thuyết trình cho phái đoàn ngoại quốc, viên giám đốc trại cũng không bao giờ quên luyện giọng một cách thành thực: “Tôi chỉ mơ ước được sống như những trại viên (ý nói từ chúng tôi)”. Tiếc thay!!!

Đến đây tôi mới hiểu tại sao anh em tù Nam Hà gọi cán bộ bằng “Chèo” (phường chèo), trắng trợn đến độ ban giám thị phải gọi lên chỉnh: “Cán bộ thì có nam có nữ, cớ sao các anh lại gọi bằng “chèo đực, chèo cái”, nghe chẳng “văn hóa” tý nào”.

image

Trại có một mật độ chuyên viên y khoa cao nhất thế giới, trong số hai ngàn người (tù) thì có đến hai mươi bác sĩ (cũng tù). Tất cả đều phải lao động khổ sai như nhau, đập đá, đốn củi, ngâm mình dưới nước để kéo cày thay trâu…, trong khi trên bờ đê, cán bộ cầm cái roi dài quất qua quất lại khiến cho tù ở dưới ruộng không hiểu là mình đang còn ở kiếp người hay đã đầu thay qua kiếp khác làm trâu bò.

Phần điều trị được nhường lại cho những người ngoài ngành y tế được lựa chọn theo tiêu chuẩn hạnh kiểm và mức độ hợp tác. Tuy nhiên, bất đắc dĩ bệnh xá phải giữ lại một vài bác sĩ tù để vừa giúp đỡ trong việc chuyên môn, để đọc các tên thuốc bằng ngoại ngữ, vừa để làm kiểng cho phái đoàn ngoại quốc xem, vừa để dạy cho các bác sĩ (không phải y khoa) cách mạng ống nghe, cách bắt mạch v.v…

Người được chọn ở lại bệnh xá là một đồng nghiệp đàn anh, từng tốt nghiệp đại học Paris khi tôi chưa vào trường y khoa, từng giữ nhiều chức vụ điều khiển trong ngành y tế miền Nam, nay đã lớn tuổi được anh em rất nể nang nên tôn làm “đại ca”. Đại ca còn có thêm biệt hiệu nữa là “Vua cháo heo” vì thỉnh thoảng được anh em nuôi heo cho cán bộ, thương tình làm ngơ để cho múc một lon cháo heo (dĩ nhiên là béo bổ hơn cơm tù ) rồi vụt chạy cho cán bộ khỏi thấy. Thế là tối hôm đó được một đêm huy hoàng. Sau khi chiếc khóa sắt nặng nề rột rạt khóa kín cửa chuồng lại, chúng tôi bao quanh đại ca, bên cạnh lon cháo heo bốc khói thơm phức, vừa xem đại ca lim dim đôi mắt thưởng thức từng hạt bo bo cháy khét mà tưởng chừng như ăn trứng caviar, vừa để đại ca kể lại cho đàn em nghe những ngày vàng son còn du học trên đất Pháp, những đêm liên hoan trên đường phố Montmartre Paris…

image

Chỉ huy bệnh xá là một bác sĩ ngành công an, luôn luôn nhìn chúng tôi bằng cặp mắt nghi ngờ đầy mặc cảm, có lẽ đã đọc được trong phiếu lý lịch của chúng tôi một tội danh lạ đời: “Can tội: bác sĩ”. Một hôm tịch thu được hộp dụng cụ tiểu phẫu trong đó có cây kềm Michel giống cái kéo, dùng để gỡ các móc da, bác sĩ loay hoay mãi không biết làm sao, cuối cùng chê: “Kéo với kiết, thế này thì làm sao cắt được, dốt thế!”. Mắt bác sĩ đã quen nhìn những lọ Pénicilline Trung cộng làm bằng một thứ chai đục ngầu, bọt lỗ đỗ, nút lọ được khằn kín bằng sáp như thuốc “cao đơn hoàn tán”, nên khi gặp một lọ Pénicilline bào chế ở miền Nam, rất kinh ngạc vì kỹ thuật sai biệt, và khi thấy trên lọ mấy chữ: “Laboratoires Ténamyd Thủ Đức”, bèn mừng rỡ khoe với chúng tôi: “Thuốc của Đức đấy, xã hội chủ nghĩa anh em ta đấy”.

image

Dưới trướng của vị luơng y này là một ban chuyên môn (không phải y khoa) gồm đủ thành phần. Một anh có hoa tay đục đẽo, chạm trỗ, biến các lon sữa Guigoz thành những hộp thuốc lá, cái lược, cái vòng, tinh vi như những nữ trang thứ thiệt để lương y đem về tặng thân nhân hoặc… đổi chác. Một anh ngành quân cụ lo bảo trì chiếc xe đạp “hữu nghị” mà người cỡi cũng hãnh diện như lái chiếc xe Mercedes vậy. Một họa sĩ có biệt tài biến hóa những gương mặt trong gia đình lương y từ một tấm ảnh nhăn nheo vàng khè thành những chân dung sạch sẽ khôi ngô, và lương y cũng không dấu được sự hài lòng khi thấy khoác lên ông cụ thân sinh chiếc khăn nhiễu, cái áo gấm, trông rất “quan “, còn phu nhân và ái nữ cũng được mặc chiếc áo dài mà ngoài đời họ chưa bao giờ sờ tới. Riêng bản thân lương y, khi đề nghị mặc bộ âu phục cho oai thì lưỡng lự hồi lâu rồi buồn rầu trả lời: “Chớ! không nên, nhỡ trên biết được thì khốn”, nên đành chấp nhận bộ đồng phục công an vậy.

Về phần điều trị, có lẽ Đảng đã sáng suốt thấy rõ sự lúng túng của lương y, nên chỉ thị cho quốc doanh cung cấp dược phẩm dưới hình thức “viên” hết sức đơn giản, hễ đau ở bộ phận nào thì đã có những viên tương ứng: viên gan, viên dạ dày, viên phổi, viên tim, viên xương, viên khớp v.v… Ban đêm nếu có tiếng kêu cứu từ các phòng vọng ra, thê thảm xé nát sự im lặng nặng nề của trại tù về đêm, rồi cứ lặp đi lặp lại mãi như dội qua vách núi, cho đến khi lương y khệnh khạng đến, cho ống nghe qua một khe nhỏ để khám bệnh nhân ở trong phòng rồi hoặc phát cho vài “viên”, hoặc bắt bệnh nhân dán mông đít vào song cửa sắt chích cho một mũi thuốc để chờ tới sáng. Cũng trong hoàn cảnh đó, một Thượng Nghị Sĩ nổi tiếng ở Sài gòn, bị trúng độc vì ăn sắn sống, trộm được lúc ban chiều khi đi lao động, đã phải chờ mãi cho tới sáng hôm sau, khi được đưa ra khỏi phòng thì đã quá trễ.

image

Một buổi chiều nọ, khi đi lao động về, anh em ngạc nhiên chứng kiến một hiện tượng lạ thường: trại được sơn phết lại trắng xóa, trên vách tường lại vẽ thêm những bông hoa màu mè sặc sỡ, có lẽ vì cây cảnh thật đã bị tù bứt lá bẻ hoa không đủ đem lại vẻ vui tươi cho nhà tù. Giữa sân lại có cảnh nhóm chợ trời, cán bộ bày bán thịt tươi, rau sống cho anh em tù nào còn dấu đút được chút tiền còm tung ra mua ăn bồi dưỡng. Những người giàu tưởng tượng cho truyền ngay một câu sấm, không biết có phải của Trạng Trình không:

“Bao giờ tường đá nở hoa,
Nhà tù nhóm chợ thì ta…ra về”

Về đâu chẳng thấy nhưng truớc mắt là phải ráo riết chuẩn bị doanh trại để đón tiếp một phái đoàn ngoại quốc quan trọng, một công tác làm đảo lộn hẳn nếp sống hằng ngày, để được đền bù bằng một chút an ủi mơ hồ là còn được người đời biết tới.

Ngay tối hôm đó, một số nhạc cụ kể cả cây dương cầm nặng nề được hì hục chở về từ Hà Nội để cho ban nhạc tha hồ tập dượt mãi tới khuya . Tiếng nhạc vang lên từ một góc núi làm khuây khỏa trong chốc lát những u uẩn của tù nhân. Thỉnh thoảng một vài bản “nhạc vàng” được chơi lén, tiếng réo rắc của “Diễm Xưa”, “Nắng chiều” gợi lên một nỗi nhớ nhà vô biên, mà lỡ cán bộ có hỏi tới thì anh em đã sẵn câu trả lời: “Nhạc Cuba đấy”, thế là yên.

Căn phòng chật chội hôi hám trong đó hằng mấy trăm mạng người chen lấn giành giựt từng ly, từng phân trên cái tiêu chuẩn hai bàn tay cho mỗi người, nay được thu dọn thành ba mươi chỗ nằm rộng rãi tươm tất, với chiếu hoa mới toanh, chăn len thơm phức, sắp xếp thẳng tắp như trong một quân trường.

image

Một cảnh trong phim Ride The Thunder về trại tù cải tạo Nam Hà.

Từ mờ sáng, ngoài thành phần ở lại để trình diễn, còn tất cả phải lũ lượt kéo nhau thành từng đàn qua các đường mòn khúc khuỷu để vào trốn sâu trong núi. Các anh em bệnh nặng thì được cõng, gánh hoặc khấp khểnh lết đi thật xa để khuất khỏi tầm mắt trong sáng của người ngoại quốc cái hình ảnh vẩn đục thê thảm đó.

Bệnh xá này nhường lại cho những con bệnh mới, không có bệnh nhưng có một thể xác chưa tàn tạ nhờ có thăm nuôi, lúng túng học thuộc lòng những căn bệnh thời đại do “tàn dư Mỹ Ngụy để lại”: sơ gan vì rượu chè, lên máu vì nhậu nhẹt, nghẽn mạch máu vì xì ke, ma túy… Gọn gàng sạch sẽ trong những bộ đồ ngủ mới toanh, trên mỗi đầu giường có chưng thêm một hộp sữa cũng “kiểng” như bệnh nhân, nghĩa là sẽ được thu hồi ngay sau khi phái đoàn ra về.

Ban thể thao, bóng chuyền, bóng bàn, trong đồng phục gọn ghẽ vui mắt, ra sức “tranh thủ” để được bồi dưỡng thêm mấy củ khoai. Từ sáng sớm ban nhạc đã inh ỏi trổi lên những bản nhạc hùng khối cộng sản, gây không khí vui nhộn làm cho quan khách có cảm giác là đi chơi chợ phiên hơn là đi thăm nhà tù.

image

“Ride the Thunder”: Communist re-education camp

Không hiểu là một phần thưởng hay là một cực hình tủi nhục cho những ai được chọn để ngồi ăn một bữa cơm “xoàng” mà trong suốt cuộc hành trình cải tạo họ chưa bao giờ được nếm. Thực đơn, được dán ở cửa, gồm có cơm trắng (một hiếm hoi trên đất Bắc) và thịt lợn, rau muống (một điều lạ trong nhà tù). Bữa cỗ được diễn tiến theo một lịch trình khắt khe: ngồi vào bàn khi phái đoàn rời Hà Nội (8 giờ sáng), cầm đũa khi họ đến cổng trại (10 giờ sáng) để cho bao tử cồn cào tiết chất chua, nước mắt nước mũi chảy dài vì ngỡ ngàng trước mấy món ăn thơm phức béo bổ, cứ thế mà chịu đựng cái cực hình sinh lý đó suốt mấy tiếng đồng hồ, hai tay thì cứ tuyệt vọng vùng vẫy trong một thứ còng vô hình cho đến khi bóng dáng của phái đoàn cứu tinh xuất hiện ở ngưỡng cửa mới được lệnh cho thức ăn vào miệng (1 hoặc 2 giờ trưa).

Phần trình diễn của bệnh xá được mở màn khi phái đoàn đặt chân vào trại. Bác sĩ trưởng, trong bộ áo bờ lu lụng thụng, chiếc nón vải che khuất chân mày, trịnh trọng đặt ống nghe vào bệnh nhân ngồi trước mặt, rồi cứ giữ tư thế đó như một pho tượng sáp cho tới khi phái đoàn đi qua. Lẽ cố nhiên “đại ca” của chúng tôi cũng có mặt tại bệnh xá với một chỉ thị nghiêm khắc: không được nói tiếng ngoại ngữ và cố tránh mặt phái đoàn chừng nào hay chừng đó. Một nhà báo Pháp hỏi đại ca: “Anh biết tiếng Pháp không?”. Vì đã được dặn trước, đại ca phải chờ cho thông dịch viên Bộ Nội vụ dịch xong để chứng tỏ rằng mình không hiểu được câu hỏi, rồi mới trả lời “Không”. Nhà báo hỏi tiếp: “Anh tốt nghiệp ở đâu?”. Câu hỏi bất ngờ này không được ban giám thị cho học tập trước, nhưng cũng vẫn chờ được dịch xong như thường lệ, đại ca mới trả lời: “Y khoa Đại học Paris”. Nhà báo bàng hoàng, ngạc nhiên như khám phá được một điều gì bí ẩn, một cái gì bất thường, tò mò hỏi tiếp thì được biết vợ anh là người Pháp, hiện sinh sống ở Paris, nên mừng rỡ chụp cho một tấm hình rồi ân cần thêm: “Tuần sau vợ con anh sẽ nhận được”, lòng hân hoan phấn khởi vì vừa làm được một nghĩa cử trọng đại.

image

Chưa kịp mừng thì tai họa đến ngay. Sau khi phái đoàn ra về, thì ông bạn già của chúng ta, nạn nhân của lòng vị tha nhân đạo kiểu Tây phương, bị bác sĩ trưởng bệnh xá và ban giám thị gọi lên mắng nhiếc thậm tệ, bắt kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, để rồi, bắt đầu từ hôm sau, hằng ngày phải ra lao động, đập đá, kéo cày, ngâm mình dưới ruộng như hàng ngàn, hàng vạn anh em tù khác. Ngày tôi về, đại ca còn ở lại, tiễn đưa tôi bằng cặp mắt đã hết nước mắt và hẹn tôi ở… kiếp sau!

Dư âm nặng nề của cuộc viếng thăm và vì tấn tuồng đóng vụn, làm cho cơn lôi đình của lương y đã trút hết lên đầu chúng tôi, nay không còn khoác áo Từ Mẫu nữa mà lại đội lốt… Ác Mẫu.

Phương Vũ Võ Tam Anh

Mặc quân phục VNCH đi tuần hành bị cáo buộc “gây rối”

Mặc quân phục VNCH đi tuần hành bị cáo buộc “gây rối”

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Một thanh niên mặc quân phục VNCH đi tuần hành cùng với hàng trăm người vì cây xanh ở Hà Nội bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam với cáo buộc “Gây rối trật tự công cộng”.

Nguyễn Việt Dũng, tức facebooker Dũng Phi Hổ (bên trái, mặc quân phục VNCH) cùng nhóm bạn đi tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội hôm 12/4/2015. (Hình: FB Nguyễn Lân Thắng)

Theo một số trang facebook, gia đình của thanh niên tên Nguyễn Việt Dũng, sinh ngày 19/6/1986, có bút hiệu và trang Facebook là “Dũng Phi Hổ” đã nhận được hôm Thứ Hai 20/4/2015 giấy thông báo “bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự”. Anh bị cáo buộc là “đã có hành vi gây rối trật tự công cộng tại khu vực Hồ Hoàn Kiếm”.

Bản thông báo được công an quận Hoàn Kiếm đề ngày 13/4/2015 gửi cho công an xã Hậu Thành huyện Yên Thành Nghệ An, tức nơi Nguyễn Việt Dũng sống với gia đình cha mẹ, nhưng đến ngày 20/4/2015 gia đình tới công an xã hỏi mới được cho biết.

Ngày Chủ Nhật 12/4/2015, Nguyễn Việt Dũng cùng với 4 bạn khác mặc bộ quần áo đen  trên lưng có hàng chữ viết bằng Anh ngữ “People should not be afraid of their governments. Governments should be afraid of their people” được dịch lại là “Nhân dân đừng sợ nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền phải sợ Nhân dân”. Phía trên ngực áo có logo của quân đội VNCH.

Riêng Nguyễn Việt Dũng thì còn mặc bộ quân phục có gắn các phù hiệu giống như của Lực Lượng Đặc Biệt thuộc quân đội VNCH. Khi cuộc tuần hành chấm dứt, Dũng và nhóm bạn chuẩn bị về thì bị bắt.

Cả nhóm 5 người của Nguyễn Việt Dũng đi biểu tình tuần hành vì cây xanh rất ôn hòa như tất cả những người khác, không thấy có hành động gì gọi là “gây rối trật tự công cộng” như các video clip và hình ảnh phổ biến trên internet qua youtube và các trang mạng xã hội chứng tỏ, khác với sự quy chụp của công an tại quận Hoàn Kiếm.

Lưng áo có hàng chữ với nội dung nói “Nhân dân đừng sợ nhà cầm quyền quyền. Nhà cầm quyền phải sợ Nhân dân”. (Hình: FB)

Theo tin tức trên Facebook Mộc Lan, trừ Nguyễn Việt Dũng bị giam giữ và truy tố, 4 thanh niên khác đã được thả ra vào đêm 14/4/2015. Hiện trang Facebook “Dũng Phi Hổ” đã bị khóa lại, không thể truy cập.

Theo Facebooker Mộc Lan, Nguyễn Việt Dũng là một người học rất giỏi thời trung học, từng đoạt giải ba cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” năm 2004 và năm này đậu vào Đại học Bách Khoa Hà Nội với điểm số 29/30, đứng đầu tỉnh Nghệ An lúc đó.

“Trong thời gian học tập tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, Dũng đã nhìn thấy và tiếp xúc với rất nhiều mặt trái của cuộc sống, cũng như những bất công thối nát của xã hội cộng sản. Qua đó, Dũng cảm nhận sâu sắc được nỗi thống khổ của người dân Việt Nam. Chính những trăn trở về nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản, đã trở thành động lực để Dũng tìm hiểu những lối thoát giúp cho dân bớt khổ.”

Hàng trăm người dân Hà Nội biểu tình tuần hành quan Hồ Gươm ở Hà Nội ngày 12/4/2015. (Hình: FB 6700 người vì 6700 cây xanh)

Facebooker Mộc Lan viết như vậy và cho hay “Sau một thời gian tìm hiểu về các thể chế và pháp luật trên thế giới cũng như trong nước, cách đây hơn 4 năm Dũng chính thức dấn thân vào con đường đấu tranh, và tranh đấu mạnh mẽ hơn trong khoảng thời gian từ 2 năm trở lại đây. Trong hành trình tham gia cùng nhiều người thúc đẩy tự do, dân chủ cho Việt Nam, Nguyễn Viết Dũng đã tìm hiểu về nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, và nhanh chóng nhận ra những ưu điểm, sự văn minh, nhân bản của thể chế Cộng Hòa. Từ đó Dũng khát khao xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng văn minh, nhân bản theo thể chế Cộng Hòa. Để đạt được mục tiêu này, Dũng tập trung đấu tranh đòi Đa đảng, Tam quyền phân lập tại Việt Nam.”

Chính vì thế “Ngày 30/4/2014 lá cờ Việt Nam Cộng Hòa (cờ vàng ba sọc đỏ) lần đầu tiên được treo trên nóc nhà Dũng tại Nghệ An. Ngay sau đó Dũng bị 5 công an đến bắt về đồn. Từ lúc đó trở đi Dũng và gia đình thường xuyên bị sách nhiễu, nhưng Dũng vẫn kiên trì với lí tưởng của mình… Ngày 2/4/2015: Dũng chính thức thông báo trên Facebook về việc thành lập Đảng Cộng Hòa và nhóm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời, Dũng tạm đảm đương trách vụ Chủ tịch lâm thời của Đảng Cộng Hòa. Bên cạnh đó, Dũng cũng là Admin của 2 hai trang Facebook “Đảng Cộng Hòa” và “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”.

Khi có sự tham dự của nhóm Nguyễn Việt Dũng trong cuộc tuần hành vì cây xanh, trên một số trang Facebook  và mạng xã hội đã có nhiều tranh luận với ý kiến khác nhau về sự tham dự của họ.

“Nếu họ cố tình đưa Dũng ra tòa theo điều 245, thì sẽ có hàng chục người có mặt tại hồ Hoàn Kiếm hôm đó ra làm chứng rằng Dũng không có hành vi gây rối trật tự công cộng.” Theo luật sư Nguyễn Văn Đài. (TN)

CỐ ĐÔ HUẾ

CỐ ĐÔ HUẾ

VBS Television Canada đã post một chương trình nói về lich sử và mọi sinh hoạt của Huế.Cố đô Huế rất phong phú.Huế trải qua bao thăng trầm của lịch sử     vẫn bình lặng ít đổi thay như các thành phố khác. Tuy nhiên có một điểm nhỏ làm giảm cái hay của thiên phóng sự, là người dẫn chương trình không phải người Huế nên khán thính giả mất một dịp được nghe lối nói truyền cảm, nhỏ nhẹ và rất dễ thương của giọng Huế chính thống…

Cố Đô Huế 1 http://www.youtube.com/embed/dO_xfFjh4iE

Cố Đô Huế 2 http://www.youtube.com/embed/yYgSr1RIOtA

Cố Đô Huế 3 http://www.youtube.com/embed/-ZTWHpurTeE

Cố Đô Huế 4 http://www.youtube.com/embed/Oz1Z04iN17k

Theo nhau leo rào vào công viên nước tắm “chùa”

Theo nhau leo rào vào công viên nước tắm “chùa”

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Hàng ngàn người đã chen nhau vào tắm “chùa” tại một công viên nước ở Hà Nội, thậm chí còn leo hàng rào sắt, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng cho bản thân.

Thanh niên nam nữ theo nhau trèo hàng rào sắt để vào tắm “chùa”. (Hình: VNExpress)

Nhiều báo ở Việt Nam cho hay buổi sáng ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Tư, 2015, Công viên nước Hồ Tây thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã “mở cửa miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ sáng để tri ân khách hàng nhân kỷ niệm 15 năm thành lập.”

Vì người đến tắm “chùa” quá đông, đến khoảng 9 giờ sáng thì hàng ngàn người đã phải xếp hàng dài đợi tới phiên mình được vào hồ bơi. Thay vì xếp hàng, rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, đã leo hàng rào sắt để vào bên trong, khi thời gian miễn phí đã hết, dù hàng rào sắt có nhiều móc nhọn.

Vì số lượng người quá đông quá sức chứa của hồ, người ta thấy hồ tắm đầy những người đứng san sát với nhau trong nước, không còn chỗ để bơi.

“Đoán trước tình hình, công viên đã nhờ gần 100 người thuộc trật tự phường, dân quân tự vệ để đảm bảo trật tự. Lực lượng bảo vệ của công viên gồm 70 người đã bắc loa thông báo với người dân không trèo rào nguy hiểm, hướng dẫn cho người dân đi theo trật tự. Tuy nhiên, do lượng người quá đông nên tình trạng lộn xộn vẫn diễn ra,” VnExpress kể.

Hàng ngàn người chờ phía ngoài công viên nước Hồ Tây vì cái tin cho tắm miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ ngày Chủ Nhật 19/4/2015. (Hình: VnExpress)

Bất cứ cái gì miễn phí ở Việt Nam cũng dễ dẫn đến cảnh xô đẩy, chen lấn, tranh cướp mà người ta thấy xảy ra hàng năm khi diễn ra các lễ hội theo tin các báo trong nước vẫn đưa. Thậm chí dẫn đến đánh nhau vỡ đầu sứt trán.

Cuối Tháng Mười, 2013, một nhà hàng Nhật Bản ở phố Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, quảng cáo mời ăn sushi miễn phí ngày khai trương 24 Tháng Mười. Họ chỉ mời ăn giới hạn buổi sáng và chiều là 180 người, buổi tối là 280 người nhưng hàng ngàn người đã đến đây, đứng tràn cả xuồng lòng đường.

Những người vào được phía trong thì “chen lấn, xô đẩy chỉ mong giành được phần ăn cho mình. Thậm chí, một số khách sẵn sàng nhảy vào bếp lấy thức ăn trong đó, rồi đứng ăn luôn, không cần phục vụ,” theo bản tin VietNamNet.

VietNamNet nói rằng, “Nhiều người lấy cả khay đồ ăn nhưng chỉ ăn một miếng rồi bỏ, trong khi nhân viên cửa hàng phải ra chợ mua gấp để phục vụ khách. Sự việc đã gây xôn xao trong dư luận. Hành động chen lấn, xô đẩy của những người tham gia sự kiện được xem là thiếu văn hóa và rất đáng xấu hổ.”

Buổi chiều ngày 12 Tháng Chín, 2013, tòa đại sứ Hòa Lan tổ chức phát miễn phí 3,000 áo mưa cho người qua đường tại cửa của UBND quận Ba Đình, Hà nội.

Tuy nhiên, theo báo chí tường thuật “chỉ vài phút sau khi đại diện người Hà Lan có những lời chúc tốt đẹp tới người dân xung quanh, không khí thay đổi nhanh chóng và trở nên hỗn loạn. Mọi người tranh giành nhau, ai cũng cố gắng lấy nhiều nhất những món quà thiện chí về tay mình. Có người còn trèo lên cả sân khấu để cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.”

Hồ tắm nghẹt người, không còn chỗ bơi. (Hình: VnExpress)

Theo VietNamNet, “Có những lúc, diễn giả gần như phải ‘hét’ lên: ‘Đề nghị mọi người không tranh giành, nếu không, chúng tôi sẽ dừng chương trình ngay lập tức!’ Chỉ 35 phút sau khi chương trình bắt đầu, 3,000 chiếc áo mưa đã được lấy sạch. Sự kiện này đã để lại những hình ảnh rất xấu của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.”

Chỉ ít ngày trước đó tức ngày 16 Tháng Mười, 2013, “Anh Vũ Trường Chính (42 tuổi, ngụ quận Phú Nhuận, Sài Gòn – là giám đốc chi nhánh tổng công ty Xây Dựng Miền Nam). Khoảng 9 giờ 15 sáng 16 Tháng Mười, anh đi xe máy về hướng quận 1, mang theo 50 triệu đồng (tiền mệnh giá 500.000 đồng) bỏ vào túi quần bên phải cùng với chiếc ĐTDĐ iPhone 5, đến ngân hàng để nộp vào tài khoản.”

“Trong lúc anh đang chờ đèn đỏ ở giao lộ Bà Huyện Thanh Quan-Võ Văn Tần thì bất ngờ từ phía sau, anh bị 4 thanh niên thò tay móc cọc tiền. Mặc dù vậy, anh Chính vẫn cố gắng quăng xe chạy theo giằng co bọc tiền với tên cướp. Trong lúc hỗn loạn, bọc tiền rớt xuống đường bay tung tóe. Thấy vậy, nhiều người đi đường không giúp đỡ anh còn dừng lại nhặt tiền, lên xe chạy mất. Nạn nhân chỉ gom được 30.5 triệu, còn 19.5 triệu đồng bị người đi đường lấy mất,” theo VietNamNet. (TN)

Tháng Tư từ hai góc nhìn

Tháng Tư từ hai góc nhìn

Người Việt kỷ niệm ngày 30 thang 4

Người Việt kỷ niệm ngày 30 thang 4

Nguyễn Hưng Quốc

18.04.2015

Lại tháng Tư. Lại thấy trên báo chí và các mạng lưới truyền thông xã hội trên internet những bài viết về một trong những biến cố lớn nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại: tháng Tư 1975. Tuy nhiên, năm nay, các bài viết, đặc biệt ở hải ngoại, dường như khác những năm trước. Trước, người ta chỉ tập trung vào sự sụp đổ của chính quyền miền Nam và những hậu quả của nó. Năm nay, bên cạnh cái nhiều người gọi là ngày “đổi đời” ấy, người ta còn tập trung vào một khía cạnh khác: 40 năm người Việt định cư ở nước ngoài.

Thì cả hai đều có quan hệ nhân quả với nhau thôi: Bởi vì chính quyền miền Nam sụp đổ nên mới có hàng triệu người liều mình vượt biên hay vượt biển để ra đi tìm tự do. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh đến khía cạnh sụp đổ, người ta chỉ thấy những bi kịch; khi chú ý đến khía cạnh định cư ở nước ngoài, người ta thấy những khía cạnh tích cực và lạc quan hơn. Cho nên, cùng một biến cố, tuỳ theo góc nhìn, người ta thấy những mảng màu khác hẳn nhau.

Chỉ nhìn vào khía cạnh “thua trận”, sau việc mất chính quyền là nạn độc tài và tàn bạo với cảnh hàng chục ngàn người bị lùa vào các trại lao động cải tạo, cảnh đánh tư sản mại bản, cảnh xua dân chúng vào các khu kinh tế mới đầy khổ ải, cảnh con cái của những người từng làm việc cho chế độ cũ bị kỳ thị ngay cả trong việc học vấn, và cuối cùng, cảnh hàng triệu người bỏ nước ra đi, trong đó có cả hàng trăm ngàn người bị hải tặc hoặc bị đắm tàu bỏ xác ngoài biển khơi. Ngày ấy, nói theo Võ Văn Kiệt, có triệu người vui và triệu người buồn. Nói thế là hơi nhẹ. Bởi đâu phải chỉ “buồn”. Người ta còn đau khổ, thống khổ vì những mất mát không thể bù đắp được. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người gọi đó là ngày quốc hận.

Sau ngày “quốc hận” ấy là những ngày tháng tang thương bi thảm. Về phương diện kinh tế, đời sống mọi người càng ngày càng cùng cực, ngay cả lúa gạo cũng không đủ ăn, phải ăn độn khoai, độn sắn và ăn cả bo bo từ năm này sang năm khác. Về phương diện xã hội, với chính sách hộ khẩu và sổ lương thực, mọi người bị mất cả các quyền tự do cư trú và đi lại. Về phương diện tôn giáo, người ta cũng không được quyền tự do thờ phượng: các nhà tu đào tạo tu sĩ bị đóng cửa, việc đi chùa hay đi nhà thờ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Về phương diện chính trị, tất cả các quyền căn bản của con người, từ quyền tự do tư tưởng đến tự do ngôn luận, từ quyền tự do đi lại đến tự do hội họp, từ quyền tự do biểu tình đến quyền tự do lập đảng phái… tất cả đều bị bóp nghẹt.

Bên cạnh những sự “đổi đời” như thế, có một khía cạnh khác năm nay mới được chú ý nhiều: cộng đồng đông đúc với khoảng trên bốn triệu người Việt sống ở rải rác trên 100 quốc gia khác nhau kể từ sau năm 1975.

Nhìn từ góc độ di dân học, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có mấy đặc điểm nổi bật:

Thứ nhất, trong khi các làn sóng tị nạn trên thế giới phần nhiều có tính chất khu vực, chủ yếu di cư đến một quốc gia láng giềng nào đó (ví dụ từ Iraq chạy sang Saudi Arabia, Jordan hay Turkey; từ Afghanistan chạy sang Pakistan), làn sóng tị nạn của người Việt, ngược lại, có tính chất toàn cầu: sau khi đến một quốc gia láng giềng, họ được phép tái định cư ở một quốc gia thứ ba, hầu hết là các nước Tây phương, vừa xa xăm vừa xa lạ về văn hoá (trong đó, đông nhất là ở Mỹ với gần 2 triệu; kế tiếp là Pháp với khoảng 300.000; Úc và Canada mỗi nơi trên 200.000 người).

Thứ hai, ở các quốc gia ấy, người Việt thường có xu hướng sống tập trung ở các tiểu bang hoặc các thành phố lớn và đông dân nhất.

Thứ ba, mặc dù cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, từ di tản đến vượt biên, từ diện HO đến diện bảo lãnh gia đình, trên căn bản, yếu tố chính trị vẫn là nòng cốt: đó là một cộng đồng tị nạn.

Đặc điểm thứ nhất là một trở ngại cho quá trình hội nhập: từ một nước thuộc loại nghèo khó nhất thế giới đến sống ở một quốc gia thuộc loại tiến bộ và giàu có nhất thế giới với một ngôn ngữ và một văn hoá khác biệt, nhiều người cảm thấy ngỡ ngàng và cần thời gian mới có thể ổn định được cuộc sống. Đặc điểm thứ hai làm xuất hiện những khu phố người Việt, ở đó, người Việt sống tập trung bên cạnh nhau với một bản sắc riêng khác với những người bản xứ hay các cộng đồng di dân khác. Đặc điểm thứ ba làm cho xu hướng chính trị thành một trong những yếu tố chủ đạo hình thành bản sắc của cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại: dù sống ở nước ngoài lâu đến mấy, phần lớn người Việt vẫn đau đáu theo dõi những chuyển biến chính trị ở trong nước và vẫn tha thiết muốn góp phần vào việc cải thiện tình hình ở quê nhà.

Khi nhìn lại 40 năm sống ở hải ngoại, hầu hết các cơ quan truyền thông đều nhấn mạnh đến những thành tựu, từ lãnh vực khoa học, giáo dục đến các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội. Ở đâu cũng có những điểm son rất đáng tự hào.Phần lớn các tờ báo bằng tiếng Việt ở hải ngoại đều dành một số trang để đăng tải các bài viết ca tụng những người thành đạt. Ở đây, tạm gác qua một bên những cá nhân xuất sắc, chúng ta chỉ nhìn cộng đồng người Việt như một tập thể. Với tư cách tập thể, trong quan hệ với Việt Nam, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có hai đóng góp nổi bật nhất.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, số tiền người Việt ở nước ngoài gửi về Việt Nam hằng năm là một nguồn doanh thu quan trọng cho Việt Nam. Chỉ tính qua con đường gửi tiền chính thức, số tiền người Việt gửi về cho thân nhân trong nước vào năm 2009 là 6.2 tỉ Mỹ kim; năm 2010 là 8.1 tỉ; năm 2011 là 9 tỉ và năm 2013 là 11 tỉ biến Việt Nam thành một trong 10 quốc gia nhận kiều hối cao nhất trên thế giới.

Thứ hai, về phương diện chính trị, cộng đồng người Việt ở hải ngoại tồn tại như một lực lượng đối kháng chế độ độc tài trong nước. Cái gọi là “lực lượng” này phần lớn khá tản mác và tự phát, không có lãnh tụ và cũng không có phương hướng hoạt động chung. Tuy nhiên, đóng góp của họ đối với cuộc tranh đấu cho dân chủ ở trong nước không nhỏ. Trong bài “Cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập” đăng trên blog này vào đầu năm 2010, tôi viết: “nếu không có những tiếng nói đối lập ồn ào và gay gắt xuất phát từ, hoặc được khuếch tán bởi, cộng đồng hải ngoại, thì những vụ tham nhũng khủng khiếp ở Việt Nam làm sao có thể phơi bày ra trước công luận? thì những kế hoạch khai thác bauxite ở Tây nguyên làm sao có thể thu hút sự chú ý của quần chúng đông đảo đến như vậy? thì những hành động lấn chiếm vùng biển Việt Nam của Trung Quốc và thái độ nhu nhược của chính phủ Việt Nam làm sao có thể làm nhức nhối nhân tâm đến như vậy? thì những vụ vi phạm nhân quyền thô bạo ở Việt Nam làm sao đến tai thế giới bên ngoài được?”

Hai khía cạnh vừa nêu mâu thuẫn với nhau: Một mặt, về chính trị, cộng đồng người Việt ở hải ngoại phản đối gay gắt chính quyền trong nước; mặt khác, về tài chính, qua việc chuyển tiền về cho thân nhân trong nước, họ góp phần làm cho chính quyền Việt Nam giàu có hơn và có nhiều điều kiện để trấn áp dân chúng hơn.

Nghịch lý ấy ai cũng biết nhưng không phải dễ giải quyết.

Ngư dân Việt bị trọng thương trong vụ đâm va với ‘tàu lạ’

Ngư dân Việt bị trọng thương trong vụ đâm va với ‘tàu lạ’

Ngư dân Việt Nam bị thương trong một vụ đâm va với tàu Trung Quốc hồi năm ngoái.

Ngư dân Việt Nam bị thương trong một vụ đâm va với tàu Trung Quốc hồi năm ngoái.

19.04.2015

Một nhóm ngư dân Quảng Ngãi cho biết họ đã bị một “tàu lạ đâm va mạnh” tại quần đảo Hoàng Sa hôm 16/4, làm nhiều người bị thương, trong đó có một người bị nặng.

Sau vụ việc mà VOA Việt Ngữ không thể kiểm chứng một cách độc lập, tàu cá mang số hiệu QNG – 96011 do ông Huỳnh Văn Nắm làm chủ tàu đã bị “hư hỏng nặng”.

Ngư phủ bị trọng thương sau đó đã được đưa về đảo Lý Sơn rồi được đưa vào đất liền “mổ cấp cứu” hôm 18/4.

Các ngư dân được báo chí trong nước dẫn lời nói rằng “do đêm tối nên mọi người không nhìn thấy được số hiệu của tàu đâm va”. Tin cho hay, đây là lần thứ ba tàu QNG – 96011 bị đâm.

Truyền thông trong nước thời gian qua đưa tin về việc nhiều vụ tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thời gian qua, “không chỉ khai thác trái phép hải sản, mà còn có dấu hiệu đưa phương tiện thăm dò, khiêu khích tàu cá ngư dân Việt Nam”.

Đại tá Lê Tiến Hưng, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng từng cho VOA Việt Ngữ biết, trong năm 2014, có gần 300 lượt tàu cá nước ngoài xâm phạm khu vực biển cách Đà Nẵng khoảng 40 – 50 hải lý. Ông không nói rõ trong số đó có bao nhiêu tàu của Trung Quốc.

Ngoài ra, ông cũng cho hay rằng có 6 trường hợp tàu cá Trung Quốc tông, va, bắt giữ tàu cá Quảng Ngãi và Khánh Hòa trên khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng cũng cho biết lực lượng của ông luôn giữ liên lạc với các ngư dân, phát huy sức mạnh của quần chúng vì họ “là những người hoạt động trên tất cả vùng biển Việt Nam”.

Theo Thanh Niên, VOA

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8

TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP

TRƯỜNG TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 8

(SAU NÀY MANG TÊN LƯƠNG VĂN CAN)

Tác giả: Hồ Công Hưng

Chuẩn bị mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường PTTH LVC

Cách đây đúng 50 năm, Chương trình Phát triển Quận 8 (CTPT) ra đời. Trong phong trào chung tham gia công tác xã hội lúc bây giờ, một nhóm thanh niên, từng có chút kinh nghiêm từ nhiều hội đoàn khác nhau, đã họp lại bàn bạc và đệ trình lên chính phủ một dự án nhằm cải thiện đời sống dân cư ở Quận 8, một quân ven nghèo nhất của thành phố. CTPT bắt đầu hoạt động, chính xác vào ngày 15.8.1965, dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh và Tòa Đô Chính (*). Trong tất cả những công tác cải tiến dân sinh như chỉnh trang các khu nhà ổ chuột, tổ chức dịch vụ ý tế lưu động và vệ sinh công cộng, sửa chữa các con hẻm lầy lội v.v…, CTPT đặt ưu tiên hàng đầu cho việc giáo dục như là một bước cơ bản để nâng cao đời sống người dân. Có thể kể một số việc: lập ký nhi viện (nhà trẻ), mở các lớp dạy nghề và giáo dục tráng niên, xây dựng thêm phòng học để giải tỏa lớp ca 3 tại các trường tiểu học… Đặt biệt là phải cấp bách thành lập cho kỳ được một trường trung học dành riêng cho con em Quận 8. Từ đó, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8, sau này (1974) mang tên Lương Văn Can, được hình thành. Vì thế, với tư cách là một người trong cuộc, xin được có đôi lời về vai trò của tổ chức này (CTPT) trong quá trình tạo dựng nên ngôi trường thân yếu của chúng ta, như góp phần chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập trường (1966-2016) vào năm tới.

  1. Thực trạng xã hội và tình hình giáo dục của Quận 8 lúc mới thành lập

Quận 8 được thành lập năm 1959 là một quận ven đô rất nghèo, tách biệt ra khỏi nội thành bởi hai con kênh Tài Hủ và Kinh Đôi. Ngoại trừ Xóm Củi, tiếp giáp với Quận 5, qua cầu Chà Và, gồm đa số người gốc Hoa có đời sống tương đối khá nhờ kinh doanh thương mại, nghề tiểu thủ công gia đình và xí nghiệp nhỏ, tại các phường còn lại (Hưng Phú, Rạch Ông, Chánh Hưng, Bình An), đa số cư dân sống bằng nghề làm công, buôn thúng bán bưng và nông nghiệp. Khi chiến tranh bắt đầu nổ ra, rất nhiều bà con từ các “vùng xôi đậu” Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công…, rời bỏ ruộng đồng, kéo nhau lên làm ăn sinh sống. Có những gia đình đùm đề chất hết trên chiếc ghe nhỏ, chèo lên neo đậu dọc theo các kinh rạch chằng chịt, rồi sau đó ít lâu tấp vào bờ cất các căn chòi lá tạo nên những khu ổ chuột tạm bợ giữa đám dừa nước, sú, vẹt, ô rô cóc kèn…

Về giáo dục, với dân số khoảng 150.000 người, tuy có nhiều trường tiểu học lớn như Xóm Củi, Hưng Phú, Chánh Hưng, Rạch Ông, mỗi năm có hàng ngàn học sinh hết lớp Đệ Thất (lớp Năm bây giờ), nhưng không có một trường trung học công lập nào, chỉ có một vài lớp tư thục thu nhận chừng vài chục học sinh. Đa số các em không thể chen chân vào các trường trung học trong nội thành, lại không đủ tiền theo học trường tư nên đành bỏ học đi lêu lổng, lượm rác hay may lắm thì vào làm các công việc hợp với trẻ con như gói bánh kẹo, giấy vàng mã… trong các xưởng sản xuất gia đình để có chút tiền phụ giúp cha mẹ.

2.     Chuẩn bị mặt bằng thích hợp cho trường trung học tương lai

Quận 8 lúc đó được biết nhiều vì có công ty Heo (dân địa phương quen gọi là công xi hay lò Heo Chánh Hưng) ở phường Hưng Phú (bây giờ là Phường 8), cũng là nơi nhiều học sinh LVC (sau này) sáng sớm trước giờ đi học, đến kiếm thêm thu nhập bằng các công việc vác heo, cạo lông heo hay bán bánh ú, xôi, cà phê dạo cho công nhân làm việc thâu đêm. Vì có trại Tế Bần ở đường Dương Bá Trạc, chuyên giam giữ các thiếu nhi vô gia cư phạm pháp. Và có những bãi chứa rác của thành phố và nghĩa trang vùi lấp sơ sài dân nghèo chết không có tiền mua đất chôn.

CTPT đã chọn một bãi rác và nghĩa trang như thế tại Khóm 4A phường Chánh Hưng (gây giờ là Phường 4) làm nơi xây dựng trường trung học tương lai. Việc đầu tiên là gửi một đoàn cán bộ đến nắm rõ tình hình gia cư, rồi vận động bà con dời ra sống trong khu nhà lá cất tạm bên đường Chánh Hưng (bây giờ là Phạm Hùng), sau đó thông tin trên các báo cho những gia đình đến cải táng mộ thân nhân trong thời hạn hai tháng. Còn lại hơn 500 ngôi mộ vô thừa nhận được hốt cốt đem chôn trong một ngôi mộ chung. Dĩ nhiên bà con cũng phải thực hiện đầy đủ nghi thức cúng kiến để tạ ơn người chết đã nhường đất cho người sống. Sau đó CTPT nhờ một chiếc xáng của Sở Công chánh nạo vét dòng Kinh Đôi lấy đất bùn san lấp toàn diện tích khu nghĩa trang, xong chờ cho đất khô, chỉnh trang phân lô nhà cho dân (CTPT vận động nhiều tổ chức phi chính phủ giúp vật liệu xây dựng), dành được một mặt bằng rộng hơn cả mẫu nằm trên mặt tiền con đường Chánh Hưng chiến lược (theo bản đồ Canh cải của Chính phủ 1960). Vị trí này tuy không phải là trung tâm của quận, nhưng nằm giữa đồng trống không khí trong lành và thuận tiện cho việc đi lại của học sinh ở cả quận ngoại thành là Bình Chánh (thuộc tỉnh Gia Định) kế cận.

3.     Chuẩn bị nhân sự cho việc điều hành trường và lập Ban Vận động thành lập trường

Trường Trung học Cộng đồng, theo quan niêm của anh em trong CTPT, cần phải được điều hành bởi một đội ngũ thầy cô giáo có tinh thần cộng đồng, nên đã xin Bộ Giáo dục thuyên chuyển một số thầy giáo từng hoạt động xã hội về Bộ Thanh Niên, rồi Bộ Thanh niên bố trí đến Quận 8 để hòa mình vào sinh hoạt và công tác ở địa phương, đồng thời tìm hiểu về quần chúng sau này sẽ là phụ huynh học sinh của trường. Và chủ yếu là tham gia vào Ban Vận động thành lập Trường Trung học, ở Quận 8 (và kế tiếp là Quận 6). Đó là các thầy Uông Đại Bằng, Nguyễn Phúc Khánh, Dương Văn Long, Hồ Công Hưng, Nguyễn Ngọc Thạch, Trần Bá Phẩm, Nguyễn Đức Tuyên, Võ Văn Bé, hai thầy này lần lượt làm hiệu trưởng Trường Trung học Cộng Đồng Quận 6, ra đời sau đó một năm..

Trong mọi công tác cải tiến dân sinh, dù lớn như chính trang các khu nhà ổ chuột hay nhỏ như tráng xi măng một con hẻm, CTPT đều áp dụng phương thức phát triển cộng đồng. Nghĩa là khơi dậy nơi đồng bào địa phương nhận biết nhu cầu cải thiện đời sống cộng đồng, rồi đề cử một Ủy ban gồm những người có uy tín và qua Ủy ban này, cùng nhau góp sức tham gia thực hiện những công việc có ích lợi chung cho cả cộng đồng. Người cán bộ thiện nguyện (còn gọi là tác viên xã hội) chỉ có vai trò chính yếu là làm chất men, chất xúc tác nhằm gây ý thức cho nhân dân, chứ không hề là người ban cho dân bất cứ điều gì. Trong tinh thần đó, sau nhiều lần tìm hiểu và thảo luận với các thân hào nhân sĩ, các thầy cô giáo cũng như các phụ huynh trong quận, CTPT đã thành lập một tổ chức với danh xưng khiêm tốn là Ban Vận động Thành lập Trường Trung học Quận 8.. Một số thành viên của Ban Vận động, sau khi có con em vào trường, đã tham gia Hội Phụ huynh học sinh để cộng tác với Ban Giám hiệu điều hành trường. Vì thế Hội phụ huynh học sinh của trường sau này mang tên “Hội Phụ huynh và Giáo chức” theo kiểu PTA (Parents and Teachers Association) của nhiều nước trên thế giới, vì có sư phối hợp giữa thầy cô và cha mẹ học sinh.

4. Qui chế Trường Đô Thị và Tỉnh hạt ra đời từ một thỏa hiệp với Bộ Giáo Dục.

Thời đó, ở miền nam, chỉ có ba loại trường trung học: Công lập, Bán công và Tư thục. Ban đầu, Ban Vận động Thành lập trường chỉ nghĩ đơn giản là giao đất cho Bộ Giáo dục để mở một trường trung học công lập, theo tinh thần cộng đồng, để con em trong quận được đi học miến phí hoàn toàn. Với lý do mặt bằng xây dựng là của cộng đồng, CTPT sẽ yêu cầu Bộ Giáo dục cho phép trường chỉ nhận học sinh cư ngụ trong Quận 8 và Bình Chánh (theo Tờ Khai Gia đình, một thứ Hộ khẩu) và bổ nhiệm Hiệu trưởng theo đề nghị của mình. Tuy nhiên khi tiếp xúc với các viên chức Bộ Giáo dục, thì được biết: Bộ chưa có dự trù ngân sách cho việc xây cất ngôi trường nào trong phạm vi thành phố. Vả lại, Bộ vừa mới thành lập Trường Trung học Quận 7 năm học 1965-1966 (tức THP Ngô Gia Tự ở phường 15, Quận 8 bây giờ). Muốn xây dựng một trường mới, cần trải qua thủ tục phức tạp, Bộ Giáo dục phải được Bộ Tài chánh đồng ý cấp cho một ngân khoản cần thiết và sau đó tiến hành xây dựng trường qua thủ tục đấu thầu. Như vậy không biết đến bao giờ mới có trường, trong khi đối với CTPT, đây là vấn đề cấp bách không thể tri hoãn..

Sau nhiều lần trao đổi giữa Bộ Giáo dục và CTPT, hai bên đi đến một thỏa hiệp như sau: Địa phương Quận 8 lo xây dựng cơ sở trường ốc và trang bị bàn ghế dụng cụ học tập và trả lương cho nhân viên, còn Bộ Giáo dục chỉ có trách nhiệm cung ứng đầy đủ số giáo chức cần thiết cho việc điều hành và giảng dạy. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục coi thỏa hiệp này là điều quá mới mẻ, nên giao cho Phòng Pháp chế nghiên cứu để đệ trình chính phủ ban hành thành luật. Qui chế Trường Đô thị, Thị xã và Tỉnh hạt ra đời do Sắc lệnh số 168-GD/SL ngày 8.10.1966 và Nghị định số 1297-GD/TC/NĐ ngày 7.6.1967. Nhờ qui chế này mà có thêm rất nhiều trường trung học ở các vùng xa xôi hẻo lánh.

Ngày 20.10.1966, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 khai giảng năm học đầu tiên chỉ do “giấy cho phép” của Bộ Giáo dục. Đến năm sau, khi có qui chế pháp định rồi, Bộ Giáo dục mới thừa nhận Trường. Cũng đầu năm học 1967, Trường còn được Bộ Giáo dục chọn trong số 11 trường trung học toàn miền Nam áp dụng chương trình Tổng hợp (Comprehensive School), nghĩa là được tăng cường thêm các môn kỹ thuật (dành cho nam), kinh doanh (cho nam nữ) và kinh tế gia đình (chỉ cho nữ). Như vậy, cái tên đầy đủ của Trường phải là Trung học Cộng đồng Đô thị Tổng hợp Quận 8.

  1. CTPT tiếp tục giúp trường trong những năm học đầu còn khó khăn.

Trong những năm đầu hoạt động, còn khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện học tập và sinh hoạt, CTPT đã yểm trợ hết mình cho Trường. Dãy nhà ngang gồm 4 phòng học cho 8 lớp (2 lớp đệ Lục và 6 lớp đệ Thất, lớp 7 và 6 ngày nay), văn phòng hiệu trưởng và nhà kho, do thầy Nguyễn Phúc Khánh chỉ đạo xây dựng gấp cho kịp khai giảng năm học đầu tiên, không thể đón nhận 6 lớp mới cho năm học 1967-1968. Vì thế ngay trong năm học đầu, CTPT đã nhờ một kiến trúc sư bạn là Trương Đức Nguyên Trang vẽ qui hoạch tổng thể ngôi trường hoàn chỉnh, để dựa vào đó CTPT vận động tài chánh, cộng với tiền lệ phí hàng tháng của học sinh và do Hội Phụ huynh quản lý, xây dựng dần theo nhu cầu phát triển của trường. Sau Tết Mậu Thân, dãy nhà ngang bị tàn phá, với kinh phí của CTPT, thầy Khánh cũng lo xây cất một nhà chơi (préaud) lớn bằng cột gỗ lợp fibro-ciment trên một phần nền dãy nhà này (bây giờ là nơi làm sân khấu).

Ngoài ra, CTPT còn nhờ một số anh chị du ca xuống trường ngày chủ nhật để tập cho các học sinh ca hát và sinh hoạt tập thể, nhằm mục đích tạo môi trường thân thiện và vui tươi với các em, có thể bù đắp phần nào căn nhà nhỏ hẹp của các em trong những con hẻm sâu tồi tàn. Lâu lâu, nhà trường cần tổ chức cho các lớp đi tham quan hay dã ngoại ở xa, CTPT vận động giúp phương tiện di chuyển và một phần chi phí tổ chức để đở gánh nặng cho phụ huynh. Bởi vì, lúc đó CTPT đã trở nên một tổ chức đủ uy tín để giao dịch với các cơ quan và đoàn thể từ thiện trong nước và nước ngoài, có khả năng giúp đỡ Trường về nhiều phương diện.

Công việc yểm trợ này chấm dứt khi CTPT giải tán vào năm 1971. Năm đó, Trường đã có 38 lớp với trên 1.500 học sinh.

Kết luận: Tinh thần cộng đồng cần được tiếp tục phát huy trong nhà trường

Đầu năm học 1974-1975, Giám đốc Nha Trung học (lúc bấy giờ là ông Phạm Tấn Kiệt) gửi văn bản yêu cầu trường đổi tên Trường, lấy tên một danh nhân với điều kiện không được trùng với tên một trường đã có trước. Hội đồng giáo sư (bây giờ là Hội đồng sư phạm) họp và chọn tên cụ Lương Văn Can trong số các tên khác là Lê Thánh Tôn và Đào Duy Từ. Như vậy, cái tên Trung học Cộng đồng chỉ còn là chuyện của quá khứ, trên 40 năm.

Tuy nhiên, không có quá khứ thì không có hiện tại, lại càng không thể có tương lai. Trong năm 2016 sắp đến, khi mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, dù muốn hay không, chúng ta cũng nhắc đến quá trình đầy khó khăn để hình thành nên ngôi trường ngày nay, cùng với sự đóng góp của rất nhiều người, gồm cả những kẻ chết đã phải di dời nhường đất xây dựng trường. Quá trình thành lập sẽ luôn là thành phần thiết thân, là những trang đầu trong truyền thống của Trường THPT Lương Văn Can. Nhưng điều quan trọng không phải là kể công nhóm người này hay tổ chức kia mà là xác định lại ý hướng ban đầu khi trường được tai nghén, rồi thành hình. Đó là tạo cho các thế hệ trẻ xuất thân từ mái trường này có tinh thần phục vụ cộng đồng vốn là điều kiện thiết yếu để một cộng đồng, dù nhỏ hay lớn, dù ở thời đại nào, được thăng tiến và phát triển bền vững.

Hồ Công Hưng (tháng 01.2015)

_________________________________

(*) Chỉ xin nhắc ở đây một số chức vụ quan trọng: Bác sĩ Hồ Văn Minh, Quản lý CTPTQ8, luật sư Đoàn Thanh Liêm, phụ trách đối ngoại, thầy Hồ Ngọc Nhuận (nguyên giáo chức tư thục, lúc đó là thiếu úy), Quận trưởng và ông Mai Như Mạnh (tốt nghiện Quốc gia Hành chánh) là Phụ tá hành chánh của Quận trưởng.