Hà Nội hãy biết yêu những gì mình có

Hà Nội hãy biết yêu những gì mình có

Đoan Trang

Tôi yêu màu lá xanh mướt của mùa xuân. Nổi trong đám lá xà cừ xanh thẫm, đôi khi lại có màu xanh nõn nà của lá bồ đề, lá sấu. Và khi xuân sang, buổi sáng sớm bước ra đường, lẫn trong khói bụi ô nhiễm, vẫn thấy một mùi thơm mát mà tôi gọi là mùi “hoa cỏ mùa xuân”.

Tôi yêu sắc đỏ rực trời của hoa phượng. Đôi khi tình cờ nhớ đến những ngày ở nước Mỹ, tôi nhớ xứ Cali cũng có hoa phượng, nhưng là phượng tím, jacaranda. Có những đoạn đường, hai bên một màu tím ngát, hoa nhiều hơn lá. Phượng tím cũng đẹp lắm. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn yêu cái màu cháy đỏ nao lòng của phượng hồng Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… những thành phố của Việt Nam mà tôi đã đi qua. Nhớ đến phượng là nhớ đến những câu hát xao xuyến: “Phượng hay bâng khuâng, tưởng chừng như cô đơn”, “xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn, phượng ơi”.

Tôi yêu tiếng ve ngập tràn những con đường lớn, phố nhỏ, những ngõ vắng xôn xao ở Hà Nội. Tôi nhớ những ngày đầu hè rực nắng, tháng 4-5, của một năm nào đó xa xưa lắm rồi, tôi đi lang thang trong một vườn cây đầy nắng ở khu Quảng Bá, Hồ Tây, chìm trong tiếng ve và mơ màng câu hát “rừng chiều nghe lao xao, tiếng lá non gọi gió”.

Hà Nội, trong tim tôi, luôn gắn với cây cỏ, trời mây và thời tiết. Dù có đi đến nơi nào trên thế giới này – Los Angeles rực nắng, Stockholms cổ kính với những mái nhà tròn màu hồng, Budapest và những bức tượng đồng xanh thẫm, v.v. – tôi vẫn luôn nhớ đến Hà Nội và vô vàn hình ảnh thời thơ ấu: những nhà cửa xam xám với cửa sổ xanh xanh, cũ kỹ, bờ tường sứt sẹo, những cây bàng đỏ ối, những ô vườn rập rờn hoa bướm tím hồng, hoa mào gà tía… Tôi nhớ những cây xà cừ râm ran tiếng ve mỗi độ tháng 4, tháng 5 về, và đặc biệt, cứ vào mùa cuối xuân, xà cừ lại rụng lá. Lá xà cừ vàng thắm, bay rợp trời, đẹp như mùa thu Tây phương vậy, dù chẳng có rừng phong…

Chẳng bao giờ tôi chịu nổi cái ý nghĩ một mai đây, Hà Nội sẽ “hiện đại hóa” thành một đô thị như Bangkok hay Manila, toàn màu bê tông và xi măng trắng, nằm trần trùng trục dưới cái nắng nhiệt đới oi ả của Đông Nam Á. Không. Không có bất kỳ một đại dự án, một chủ trương, chính sách, một công trình nào, của bất kỳ kẻ nào, có thể biện hộ cho việc chặt hạ cây xanh ở Hà Nội được. Năm 2009, Giáo sư Mike Douglas (ĐH Hawaii, Mỹ), tại một hội thảo quốc tế ở Hà Nội về “thành phố đáng sống”, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những không gian có giá trị trong đời sống xã hội đô thị như quảng trường, công viên, chợ họp ngoài trời/chợ truyền thống, đường phố và vỉa hè, v.v. những không gian mà ở đó con người gặp gỡ nhau không phải chỉ để mua bán mà để chào hỏi và chuyện trò với nhau.

Ông cho rằng: “Các thành phố hiện nay đang mất đi những không gian công cộng và không gian dân sự, nơi người dân có thể đến và sử dụng mà không cần dành toàn bộ thời gian của mình cho các quan hệ thương mại hay trao đổi hàng hóa, và cũng không gặp trở ngại về những điều họ nói với nhau”.

Và Hà Nội, trong đánh giá của ông Mike Douglas, là một thành phố may mắn còn giữ được những không gian ấy. Chỉ ở Hà Nội, ta mới thấy có chợ cóc, có những hiệu cắt tóc vỉa hè, những quán café dưới bóng cây xanh, nơi người ta ngồi chen chúc, xúm xít, vai kề vai lưng kề lưng, để trò chuyện và “chém gió”. Nghĩa là vẫn còn những không gian công cộng rất đặc thù. Chúng ta không bắt gặp những nơi như thế ở các đô thị “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” như Bangkok hay Manila, thậm chí Los Angeles, Washington DC. Ở đó, chỉ có các quán café máy lạnh, kiểu như Starbucks, McDonalds’, người ta mua mang theo hoặc ghé vào uống một lát rồi đi, chẳng thể nào có thứ văn hóa “trà đá café vỉa hè” như Việt Nam.

Không, không thể để Hà Nội, Sài Gòn, hay bất cứ một thành phố nào ở Việt Nam trở thành thành phố bê tông được, nhất là khi những chính sách phá hoại ấy chỉ do một thiểu số dấm dúi làm ra với nhau, sau đó, khi bị công luận lên tiếng, lại tìm cách câu giờ để bao che cho nhau, đợi đến lúc công luận dần lắng xuống rồi mọi chuyện sẽ “cứt trâu hóa bùn”, như truyền thống lâu nay của lãnh đạo Việt Nam. Truyền thống ấy tạo thành những công thức: “Cần một giải pháp đồng bộ”, dịch sang tiếng Việt nghĩa là “không làm gì cả”. “Sẽ xử lý quyết liệt”, nghĩa là “chẳng ai làm sao cả”, cùng lắm thì một thằng đánh máy nào đó bị xử lý, một đồng chí trưởng/phó phòng nào đó bị kỷ luật Đảng mà thôi.

Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng… rất có thể sẽ chẳng bao giờ trở thành những thành phố hoa lệ hàng đầu thế giới. Nhưng không được như thế thì càng phải biết quý, biết giữ lấy cái gì mình có: hoa cỏ, cây xanh, hồ nước, không gian công cộng… Cũng như chính quyền Hà Nội phải biết yêu và giữ lấy những người dân đã có ý thức cộng đồng, đã xót xa từng cây xà cừ bị chặt bỏ, đã xuống đường giơ cao khẩu hiệu bảo vệ cây xanh, yêu cầu minh bạch, phản đối bạo lực… mà vẫn cố gắng ôn hòa, đi trên vỉa hè, nhặt rác, chịu đựng công an, và không giẫm lên cỏ. Không dễ có những người dân như thế trong một xã hội như Việt Nam đâu.

Và, có lẽ nào chúng ta cứ để một thiểu số bất tài vô hạnh ra những quyết định mang tính chất phá hoại – mà không chỉ phá chúng ta, còn gây hại cho nhiều thế hệ sau này nữa? Điều đáng sợ nhất là, khi lầm lỗi, khi làm sai, khi phạm tội ác mà không phải chịu trách nhiệm gì, kẻ sai, kẻ ác sẽ không có lý do gì để dừng lại.

clip_image002

Một đường phố ở thủ đô Washington D.C.

Đ.T.

Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2015/04/ha-noi-hay-biet-yeu-nhung-gi-minh-co.html

Lãnh đạo Hà Nội chính thức tỏ thái độ đối với việc bảo vệ cây xanh

Lãnh đạo Hà Nội chính thức tỏ thái độ đối với việc bảo vệ cây xanh

nguyentuongthuy

Sau khi việc chặt bừa bãi mang tính tàn sát cây xanh ở Hà Nội bị phát lộ, đã có 4 cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh vào các ngày 22/3 và 29/3, 12/4 và 19/4/2015. Bốn cuộc tuần hành này về cơ bản diễn ra khá suôn sẻ, trừ vụ bắt Trịnh Việt Dũng và 4 người khác ngay sau buổi tuần hành ngày 12/4. Ngoài ra, còn có cuộc đạp xe vì cây xanh ngày 5/4/2015. Tuy nhiên việc tuần hành bảo vệ cây xanh có những dấu hiệu sẽ bị đàn áp ở việc cuộc đạp xe ngày 5/4 bị chia cắt từ Hồ Tây không thể về Hồ Hoàn Kiếm và việc Trịnh Anh Tuấn bị đánh dã man ngày 22/4.

Đến cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh ngày hôm qua 26/4 thì nhà cầm quyền Hà Nội đã ra tay đàn áp quyết liệt. Điều này cho thấy giới lãnh đạo Hà Nội đã chính thức tỏ thái độ về việc bảo vệ cây xanh Hà Nội

Đó là kiểu thi hành pháp luật quái gở ở Việt Nam, đến lúc thấy cần đàn áp thì đàn áp, chẳng có một cơ sở pháp luật nào. Vẫn là bài cổ điển: xe loa ra rả yêu cầu giải tán, cảnh sát, trật tự đô thị, an ninh ngăn chặn, chia cắt, bắt người còn xe bus được điều đến chở người bị bắt để giải tán.

Cẩm nang đàn áp tụ tập đông người: vẫn là Nghị định 38

Nghị định 38/2005/CP ngày 18-3-2005 cấm tụ tập từ 5 người trở lên. Đây là qui định bất khả thi nếu chưa nói đó là văn bản vi hiến. Nghị định này lần đầu tiên được mang ra áp dụng từ cuộc biểu tình ngày 24/7/2011 để cấm các cuộc biểu tình chống Trung Cộng. Và lần này, cái cớ để giải tán cuộc tuần hành cũng không có điều gì khác ngoài qui định cấm tụ tập đông người.

Vấn đề đặt ra là ở Hà Nội cũng như là các tỉnh, những cuộc tụ tập trên 5 người diễn ra hàng triệu mỗi ngày, liệu có giải tán được tất cả không. Buổi sáng dân ven hồ ra tập thể dục có cấm được không? Một gia đình từ 5 người trở lên đi với nhau cũng phải xin phép chăng?

Nhiều người bảo: Tôi ra đây một mình, chỗ nào thích thì đứng, thích đi thì đi, chẳng tụ tập với ai cả nên chẳng biết giải tán như thế nào và giải tán với ai.

Những câu hỏi ấy thắc mắc với công an nhưng đều không có câu câu trả lời. Họ không trả lời nổi nên việc cấm tụ tập từ 5 người trở lên rõ ràng là bất khả thi. Tuy nhiên, nhà cầm quyền muốn giải tán chẳng còn vin được vào văn bản qui phạm pháp luật nào khác.

Tôi bảo mấy cậu công an: “Này, ở Vườn hoa Lý Thái Tổ hôm nay tụ tập đông người lắm, gấp mấy chục lần ở đây, đến đó mà dẹp”. Có cậu im, cũng có cậu nói cùn: cứ biết gặp đâu là dẹp đó. Mọi người lại mách thêm mấy cán bộ công an khác, có tay bí quá nổi khùng lên.

Đi xuôi không được, đi ngược không được nhưng lại yêu cầu … giải tán:

Ở Vườn Hoa Lý Thái Tổ hôm nay diễn ra một cuộc tập nào đó, có tới gần 1 nghìn người, nghe nói giải việt dã gì đó. Nhưng mọi người đều có mặt ở Đài phun nước (Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).

Nòng cốt của cuộc tuần hành hôm nay là dàn 10 chị em phụ nữ mặc áo dài thật đẹp.

Ảnh facebook Tuyen Chi Nguyen

Lần này chỉ khoảng 40, 50 người tham gia tuần hành nhưng đám nhân viên cộng lực chủ yếu để mắt vào số chị em phụ nữ này. Như những lần đàn áp biểu tình chống Trung Cộng trước đây, chính quyền, công an chẳng có lý lẽ gì, chỉ biết huy động cơ bắp, làm náo loạn cả Bờ Hồ đang yên lành của người dân thủ đô..

Những tiếng quát tháo, ra lệnh, tiếng rít lên của còi, của loa điện, tiếng cự lại của người tuần hành inh ỏi cả Bờ Hồ. Người tuần hành phớt lờ những lệnh vô lý của công an.

Một người hỏi cậu công an:

– Thế nào là tuần hành trái phép?

Cậu ta bảo: “Cứ tụ tập trên 5 người là trái pháp luật.

Tôi hỏi:

– Thế khi đảng csvn tụ tập mấy triệu quân để chiếm miền Nam thì có trái pháp luật không?

Khi JB Nguyễn Hữu Vinh bị chõ loa điện vào mặt yêu cầu giải tán. Anh bảo: “Mồm ông thối hoắc mà cứ chõ vào mặt người ta mà nói, ai mà ngửi được. Ông về đánh răng đi”

Muốn quát tháo gì thì quát, doàn người cứ đi trong trật tự. Đi đến đâu, công an tất tả vượt lên chặn trước, bắt quay lại. Đoàn người quay lại, họ lại vượt lên chặn, lại bắt quay lại. Thật không hiểu nổi bọn này thế nào nữa. Hỏi, vậy thì đi đâu? Chẳng đứa nào trả lời, chỉ thấy hô hét, giải tán, giải tán. Giải tán mà đi xuôi không được, đi ngược không được thì giải tán thế nào?

Mỗi khi bị chặn, đoàn tuần hành dồn vào một chỗ, hát to những bài hát. Bài hát được sử dụng nhiều nhất là “Dậy mà đi”

httpv://www.youtube.com/watch?v=AydrBDAg-IQ

Dậy mà đi (clip NTT)

Đàn áp

Giằng co được khoảng 30 phút thì một chiếc xe bus trờ tới, cho thấy sắp bắt người. Khoảng vài phút sau, màn bắt bớ diễn ra. Tất cả áo dài nằm hết ra vỉa hè, tất nhiên, với những cái đầu rỗng nhưng khỏe về cơ bắp, chúng vẫn cưỡng bức được chị em lên xe. Chúng bắt đi 16 người tất cả, kể cả một em bé 4 tuổi. Lần này, chúng không đưa lên trại Lộc Hà nữa mà đưa sang quận Long Biên. Rất nhiều anh em đã sang Long Biên đòi người. Những lần trước bắt chúng tôi sang trại Lộc Hà, thường là đến chiều tối, chúng mới thả ra hết nhưng lần này chúng thả sớm hơn, vào khoảng 3 giờ chiều.

Đàn áp tuần hành. Ảnh fb Hoang Bui

httpv://www.youtube.com/watch?v=k8bs8IMJO98

Công an bắt người (clip NTT)

Cản trở không cho về:

Sau khi bắt người, còn lại vài chục người ngồi, người đứng nói chuyện với nhau, chụp ảnh. Họ lại đến bắt giải tán. Chẳng có lý do gì giải tán chúng tôi. Chúng tôi vừa cãi cự, vừa ngồi ỳ ra đấy. Không làm gì được, họ bỏ đi. Nhưng đến khi chúng tôi di chuyển về hướng Vườn hoa Lý Thái Tổ thì mấy tay, vẻ là sếp, hốt hoảng gọi quân chạy theo. Có lẽ trong số nhận viên làm nhiệm vụ ở đấy, cũng có người chẳng thiết gì cái trò làm dụng công vụ mà họ phải thường xuyên chứng kiến. Tay chỉ huy gọi lạc giọng:

-Các “đồng chí” đâu cả rồi, nhanh lên chứ, để thế này à?

Chúng tôi có làm gì đâu. Chúng tôi đang đi về phía gửi xe.

Thế nhưng họ cứ dàn hàng ngang chặn đầu không cho đi, bắt quay lại. Chắc là sợ chúng tôi tuần hành tiếp. Mà quay lại thì chúng tôi vẫn đi như thế. Mọi người nhau nhao phản đối còn bọn mấy cậu công an chỉ biết kiên quyết chặn lại, chịu cho mọi người mắng mỏ vì biết trả lời sao. Mặc cho họ dàn hàng chặn, chúng tôi cứ vượt lên. Qua 4, 5 lần như thế thì họ chặn được, vì lúc này họ đã tăng cường thêm quân.

Tôi chỉ vào phố Lê Lai đã gần ngay đó, bảo:

-Tôi gửi xe ở Lê Lai. Bây giờ tôi đến lấy xe để về. Các cậu bảo quay lại thì lấy xe thế nào? Ấy vậy mà chúng cứ khăng khăng bắt quay lại. Thật là quái dị. Tôi bực mình kéo bà xã xuống lòng đường băng sang bên kia. Mấy đứa còn chạy theo định bắt tôi lại không cho về nữa cơ chứ.

Qua cách làm việc của công an nhằm giải tán tuần hành cho thấy, chính quyền và công an Hà Nội đã rất lúng túng khi thực hiện ý đồ của họ

Chắc chắn nếu không có sự gây rối của công an thì Bờ Hồ hôm nay sẽ đẹp hơn bởi các tà áo dài bày tỏ tình yêu đối với cây xanh Hà Nội một cách ôn hòa và trật tự

httpv://www.youtube.com/watch?v=14G0o_KvRVE

Công an cản trở quyền đi lại của công dân (clip fb Rita Nguyen)

Không thể cấm được tình yêu cây xanh của người Hà Nội.

Bị bắt vào đồn. Ảnh fb Tuyen Chi Nguyen

Đòi người trước đồn CA Long Biên. Ảnh fb Nguyễn Lân Thắng

Vin vào việc cấm tụ tập đông người, vu cáo cho những người tuần hành ôn hòa gây rối trật tự công cộng, mục đích của nhà cầm quyền Hà Nội là nhằm giải tán cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh. Bằng chứng cho thấy hàng ngày, rất đông người có mặt từng cụm, từng đoàn ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm mà họ không cho là tụ tập đông người. Thái độ của lãnh đạo Hà Nội đã rõ. Họ còn nợ dân, nợ các nhà báo rất nhiều câu hỏi xung quanh việc hạ sát cây xanh. Còn quá nhiều điều vẫn nằm trong vòng bí mật mà dân thì đòi minh bạch.

Ngược lại, với những người bảo vệ cây xanh hà Nội thì chỉ khi nào, nhà cầm quyền Hà Nội đình chỉ việc chặt cây chứ không phải chỉ là tạm dừng và phải minh bạch vụ chặt 6700 cây thì mới thôi phản đối.

Hà Nội 26/4/2015

NTT

P/s: Một số hình ảnh ghi chú chung chung do chưa rõ. Thành thật xin lỗi tác giả.

Phụ lục: .Danh sách bị bắt về đồn công an:

1. Nguyễn Thúy Hạnh (FB Hạnh Liberty)

2. Trần Thị Nga (FB Thuy Nga)

3. Phạm Đoan Trang (FB Doan Trang)

4. Nguyễn Lê Hùng (FB Le Hung)

5. Trương Văn Dũng (FB Truong van Dung)

6. Một người tên Trang

7. Tuyet Anh Jethwa

8. Trần Thị Hài

9. Maria Thuý Nguyễn và 3 con gái

10. Hoàng Trương Phước

11. Nguyễn Thị Gam

12. Nguyễn Thị Hướng

13. FB Thảo Gạo

14. Lê Thị Thanh Hương

15. Nguyễn Thị Phương Anh

16. Bé Đoàn Vĩnh Phúc 4 tuổi

Thượng tá và lính trơn quân lực VNCH

Thượng tá và lính trơn quân lực VNCH

Người Buôn Gió

Thực ra ông là trung tá thì phải, nhưng khi người ta cho ông đi học tập cải tạo họ phong cho thêm một chức để tù cho lâu. Lý do họ muốn ông tù lâu vì ông là sĩ quan giảng dạy môn lịch sử trong trường võ bị.

Ông bị tù gần 10 năm, mặc dù xét ra thì ông chẳng hề cầm súng ngày nào. Ông cũng chẳng dạy cách bắn giết , hành quân, tác chiến gì. Nhưng với những người cộng sản thì một sĩ quan có văn hoá lịch sử nguy hại hơn nhiều một sĩ quan biết tác chiến.

Lúc tôi gặp, ông đã ngoài 70. Tôi chỉ gặp ông một chút buổi tối, ban ngày ông đi làm sớm. Khi tôi đến, ông dẫn tôi đến căn phòng dành cho khách, khăn mặt, bàn chải, nước mọi thứ tươm tất như trong một khách sạn nhỏ.

Ông có mấy người con, họ đều có công việc tươm tất và có gia đình và ở riêng. Hai ông bà già ở với nhau trong một căn nhà gỗ rất đẹp. Cả hai ông bà đều đi làm. Sáng thức dậy tôi thấy tờ giấy trên bàn bà ghi lại những món ăn, cách sử dụng đồ đạc trong nhà. Cách khoá cửa khi đi, chìa khoá để chỗ nào.

Tối hôm thứ nhất, chúng tôi ngồi trò chuyện. Tôi hỏi ông trước kia sao không chạy luôn vào những ngày tháng 4. Ông trả lời nhẹ như không.

– Ừ thì mình nghĩ đất nước thống nhất rồi, cùng là người Việt cả. Việc gì phải chạy đi đâu, đất nước của mình mà. Cùng là anh em dân tộc sao phải bỏ đi đâu.

Tôi bật cười thành tiếng, ít khi tôi thái độ bất nhã thế. Nhưng quả thật câu trả lời của ông thành thật đến mức tôi bất ngờ.

Bà vợ ông lắc đầu ngao ngán nhìn tôi và đưa mắt nhìn ông như có vẻ trách thầm cái ý nghĩ ông lúc đó. Tôi hiểu vì sao bà vây, cái lắc đầu đó là 9 năm ròng rã nuôi con, 9 năm tần tảo đi tiếp tế cho chồng. 9 năm là vợ của một tên sĩ quan nguỵ giữa một xã hội luôn sục sôi sự dè bỉu, nhòm ngó áp chế.

Tôi hỏi sau này sao ông lại đi.

Ông nói.

Khi tù về, vợ con nheo nhóc. Không thể kiếm việc gì để sống, nay trình diện, mai lại kiểm điểm. Muốn xin việc gì cũng chả có nơi nhận. Người ta không nhận mình vì lý lịch đã đành, nhưng còn ác chỗ là xã hội ngày ấy còn chả có việc để mà nhận người.

Vậy là ông xuống thuyền đi một mình, bỏ lại vợ con sau gần 10 năm xa cách, may mắn ra khỏi nhà tù rừng thiêng, nước độc. Nơi mà bao bạn tù của ông đã ngã chết, ông lại dấn mình vào biển cả mông mênh chứa đầy bất trắc. Nhờ may mắn ông được tàu nước ngoài vớt, được định cư tại Bắc Âu rồi miệt mài làm việc đưa vợ con sang đoàn tụ.

Lẽ ra người từng trải như vậy, cá tính phải dữ dội hay chí ít cũng manh mẽ. Đằng này nhìn ông vẫn cứ nhẹ nhàng đến mức nhu mì, đúng ông là một nhà giáo dạy văn hóa chứ chả phải sĩ quan quân đội gì cả.

Tôi ở nhà ông bà hai hôm, tối hôm chia tay, ông sắp cho tôi một lô đồ ăn, áo và ông đưa 200 usd.

Tôi không muốn nhận tiền của ông bà, nghĩ hai ông bà già dậy từ sớm tinh mơ khi tôi còn chưa dậy , chuẩn bị đồ ăn gói gém mang đi làm. Tối mịt mới về, cầm tiền không nỡ mặc dù tiền thì bao giờ cũng cần cả. Ông ” thượng tá ” nói nhỏ chân thành.

– Anh cứ cầm đi, giữ lấy nếu thấy người nào trong nước khổ thì anh cho họ giúp tôi. Tôi già rồi, chẳng làm được gì, nghe tin tức thấy nhiều người bị tù tội, đánh đập thương quá mà không biết làm gì. Anh cầm giúp cho tôi được thấy mình còn có chút ích với đời.

Tôi nắm chặt 200 usd trong lòng bàn tay, quay đi nhìn tivi đang chiếu gì đó với thứ ngôn ngữ lạ hoắc với tôi, cốt để không trào lệ.

Tôi đã từng cố tìm một tên nguỵ ác ôn nào đó trong những cuốn sách mà tôi từng học. Nhưng chưa được. Hầu hết quân nguỵ tôi gặp cứ hiền lành, cả tin, thậm chí là ngây thơ đến mức không nhịn được cười. Năm 2001 tôi đi xe máy qua Phan Thiết, một chuyến đi dọc đất nước bằng xe máy một mình. Khi đến Phan Thiết có một quán lá bên đường quốc lộ, chỗ thưa thớt dân cư. Cái quán lá, vách gỗ xung quanh có vài cây xoài, dưới cây xoài to có một cái phản. Tôi dựng xe, nhảy lên phản nằm ngủ một giấc, cũng chả hỏi han chủ quán câu nào.

Lát sau tỉnh dậy, thấy mấy người đàn ông ngồi ở bàn ghế kế bên nhìn tôi. Một người có vẻ chủ quán gọi tôi ra bàn, rót cho cốc nước đặt trước mặt tôi, ông ta nhìn tôi nói.

Tôi thấy anh đi xe biển 29, biết anh là người Hà Nội. Anh nói xem không nào.?

Tôi trả lời vâng đúng, ông hỏi tôi đi công tác gì vậy.

Tôi trả lời trả công tác gì, tôi đi lang thang. Tôi hỏi ông có chỗ tắm không, ông chỉ cho tôi vòng đằng sau có một chỗ quây liếp, có vại nước Tôi tháo túi buộc sau xe, lấy đồ đi tắm. Nghe loáng thoáng đằng sau tiếng mầy người nói.

– Cha này nhìn tướng dữ, chắc dân giang hồ chi đây.

Tắm xong , tôi ăn bát mỳ và hai quả trứng vịt, quán đơn sơ chỉ có thế. Tôi hỏi ông trước năm 75 làm gì. Ông bảo là lính dù. Hỏi ông có phải đi học tập cải tạo không. Ông bảo đi một năm rưỡi thôi, vì là lính lên đảng và nhà nước khoan hồng cho học ngắn hơn sĩ quan. Khi trả tiền, bất chợt ông hỏi tôi.

– Anh có biết tôi ước mơ gì nhất không.?

Tôi nhìn ông, lắc đầu.

Ông nói vẻ mặt đầy xúc cảm thiết tha.

– Tôi chỉ ước một điều, là tôi có tiền để ra Hà Nội thăm lăng bác được một lần. Tôi là người Việt Nam mà từng này tuổi tôi chưa bao giờ được đi thăm lăng bác. Anh ở ngoài dấy có hay vào thăm bác không.?

Lúc ông nói câu từng này tuổi, ông đập ngực mình thình thịch như rất xót xa.

Tôi bật cười, tôi bảo ông.

– Nếu như ngày ấy, các chú mà cố đánh ra Bắc, có phải bây giờ tha hồ mà thăm lúc nào cũng được không. Cháu chỉ đi thăm một lần, đó là hồi cháu đi bộ đội, đơn vị bắt phải vào thăm. Vì đợt đó trung đội cháu được chọn vào hội trường Ba Đình làm đại diện cho lực lượng quân đội nhân ngày kỷ niệm 15 năm giải phóng đất nước, ngày 30- 4 đấy. Lúc ấy cháu chỉ muốn tranh thủ tạt vào nhà chị cháu ở Ngọc Hà để xin tiền đi xích lô về nhà chơi, nhưng chỉ huy không cho vì bảo thời gian không có.

Ông cựu lính dù lắc đầu chê trách.

Tại sao anh ở ngoài đó mà chỉ đi thăm bác có một lần, tôi ước mơ năm nào tôi cũng đi thăm bác một lần.

Tôi ngạc nhiên trước tấm lòng yêu bác của ông, tôi nhìn kỹ các cơ mặt, ánh mắt của ông đến khi biết chắc rằng ông nói thật lòng. Tôi mới đi.

Cuối cùng tôi cũng gặp được một lính VNCH tay dính đầy máu ở Nam Ca Li. Nguyên nhân tôi lọ mọ tìm nơi bán quần áo lính Mỹ, người ta giới thiệu anh ta cho tôi. Anh ta sành và sưu tầm đồ lính nhiều đến nỗi thỉnh thoảng trung tâm Asia làm chương trình ca nhạc còn mượn đồ anh. Ngoài 60 tuổi, nhưng tóc anh ta dày và đen hơn tôi, cao ráo, nhanh nhẹn, lưng thẳng. Nếu không có tí nếp nhăn trên mặt thì nhìn bề ngoài anh ta chả già hơn được tôi. Nhìn tướng anh ta đi lại, đứng ngồi tôi hỏi anh có phải lính dạng đặc công không, vì dáng của anh là dáng của người có võ thuật.

Anh gật đầu, thì ra anh là lính biệt kích đặc nhiệm, anh chiến đấu cùng luôn với lính Mỹ chứ không phải ở những đơn vị quân VNCH khác. Tôi hỏi anh lúc trước đánh nhau giết nhiều người không. Anh bảo nhiều lắm không nhớ hết. Người ta cứ xông ào ào, mình cứ bắn ào ào, chỉ nhác thấy người gục xuống liên tục, lúc đó ai mà còn đếm được, nhất là ban đêm nữa.

Tôi hỏi anh có áy náy không khi giết nhiều người thế.

Người biệt kích đặc nhiệm mặt thiểu não, nét mặt anh thê thảm, buồn bã, anh lắc đầu như muốn xua đi những hình ảnh cũ trong đầu. Anh nói.

Buồn, đau chứ, họ là con người mà. Sao họ cứ xông thẳng vào súng đang bắn liên thanh thế chứ.

Tôi không hỏi, ngồi hút thuốc nhìn anh đang tự ngắm đôi bàn tay anh, bàn tay có những ngón tay mảnh dẻ. Anh kể tiếp.

– Sáng hôm sau chúng tôi bắt sống được hết, toàn trẻ con mười lăm, mười sáu thôi. Tôi hỏi chúng sao đạn bắn nhiều thế mà cứ lao vào làm gì. Họ bảo tại vì chỉ huy họ nói bọn Mỹ mắt xanh, ban đêm không nhìn thấy gì mà bắn đâu. Mà lúc đó chỉ huy đi đằng sau, quay lại cũng bị chỉ huy bắn chết.

Anh gục đầu một lát, ngẩng lên mắt đỏ hoe.

– Tôi giết toàn trẻ con anh ạ, ngày hôm sau xong rồi đi xem lại, mới biết mình giết toàn trẻ con, có đứa có khi chỉ 14 tuổi thôi, có đứa đã mang AK, dắt lưụ đạn quanh mình, thêm mấy băng đạn lại còn đeo cả mã tấu ở lưng làm gì cơ chứ, người bé tí thế chạy sao nổi mà vác cả đống đồ đi đánh nhau. Nhìn thương lắm, lau nước mắt mà chôn chúng . Toàn trẻ con cũng người Việt, người dân tộc mình cả.

Mấy người lính VNCH tôi gặp làm tôi thấy quân lính VNCH thật kỳ lạ. Ông sĩ quan thì tin là thống nhất đất nước rồi, tất cả đều là anh em, kết cục tù 9 năm cải tạo. Ông lính trơn đi tù về thì ước mơ được ra Hà Nội một lần thăm lăng bác. Còn ông tay đẫm máu nhất té được sang Hoa Kỳ, lẽ ra phải kể lể chiến công của mình thật oai hùng, giết được nhiều tên địch tinh nhuệ thì ông ta lại khóc, thú nhận đau đớn về những người bị mình giết, xót thương cho họ và cho cả ông vì buộc phải xả đạn.

Tôi nhờ người tìm Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Phương Hùng. Nhờ mãi chả ai tìm được, người ta bảo mấy ông đó vợ bỏ, thất nghiệp, không nhà cứ ở lang thang nay chỗ này, mai chỗ khác. Chả biết đâu mà tìm. Muốn gặp mấy vị ấy xem chừng lại khó.

Sai lầm khi “coi thường” thành quả VNCH

Sai lầm khi “coi thường” thành quả VNCH

Việt Nam đã để lỡ mất cơ hội phát huy những thành quả của miền Nam để lại do chìm đắm trong tư tưởng của bên thắng cuộc, theo Tiến sỹ Vũ Minh Khương

Việt Nam đã để mất cơ hội trở thành một cường quốc sau năm 1975 do coi thường các thành quả trong chính sách của Việt Nam Cộng hòa.

Nhận định trên được Tiến sỹ Vũ Minh Khương, từ Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 25/4.

Cũng theo ông Khương, chính thái độ này đã khiến cho Việt Nam “tổn thất một nguồn lực rất lớn”, không khai thác được ý chí dân tộc và “tình cảm giữa người dân hai miền”.

BBC: Ông đánh giá thế nào về các chính sách kinh tế của miền Nam trước năm 1975?

Ông Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ chính quyền miền Nam trước đây đã có những nỗ lực rất lớn trong phát triển kinh tế, dù trong hoàn cảnh chiến tranh rất ác liệt và tâm trí của họ không dành được nhiều cho vấn đề này.

Việc hỗ trợ cho kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và hỗ trợ kinh tế nội địa, theo tôi là những điểm sáng.

Tôi thì không được chứng kiến trực tiếp việc họ thực thi chính sách như thế nào, nhưng sau năm 75, tôi vào làm việc ở TP.HCM thì thấy trình độ quản lý của các cơ sở tiếp quản từ doanh nghiệp miền Nam rất tốt, kể cả từ mặt thiết bị, tính chuyên nghiệp, sổ sách, tính quy hoạch.

Rõ ràng là có dấu ấn của nỗ lực khá tốt trong việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có hiệu quả.

BBC: Sau năm 1975 thì thái độ học hỏi những chính sách, thành quả kinh tế của miền Nam thời bấy giờ từ phía ‘thắng cuộc’ là thế nào, thưa ông?

Ông Vũ Minh Khương: Tôi thấy trong bối cảnh của miền Nam mới giải phóng thì ý thức học hỏi của Việt Nam rất hạn chế vì tâm lý là người chiến thắng. Khi đó miền Bắc nhìn nhận mọi vấn đề ở miền Nam một cách rất coi thường, đánh giá thấp, không trân trọng những gì họ đã làm được.

Đó là một não trạng mà đến nay chúng ta phải rút kinh nghiệm rất là nhiều.

Cái thứ hai là lòng thôi thúc để xây dựng một đất nước hùng cường chưa rõ, vẫn còn bị ảnh hưởng vì chiến thắng.

Bên cạnh đó, chúng ta còn nghĩ rằng vì mình là đồng minh của Liên Xô, cứ học hỏi Liên Xô, là có thể trở thành một quốc gia XHCN thành công rồi. Nỗ lực học hỏi tinh hoa của thế giới còn rất hạn chế.

BBC: Nếu như những người tiếp quản miền Nam nghiêm túc nghiên cứu về những chính sách cũ để từ đó chắt lọc và tiếp tục áp dụng thì theo ông điều đó sẽ tạo ra sự khác biệt gì?

” Tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.

Tiến sỹ Vũ Minh Khương”

Ông Vũ Minh Khương: Tôi cho rằng điều đó sẽ tạo nên sự thần kỳ. Tất cả chúng ta phải thấy xót xa, khắc khoải vì mất đi một thời cơ quý giá vô cùng như thế.

Giá như với ý thức cao, chúng ta có thể tiếp thu những gì ở miền Nam, cái gì dở thì sửa chữa, cái gì tốt thì học hỏi và đặt câu hỏi vì sao họ làm được như thế.

Tôi từng làm việc ở một trung tâm tính toán và thấy tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ ở đó rất cao. Họ tận tình chỉ bảo nhau rất kĩ càng mà tôi là người mới vào, được chỉ dẫn rất rõ.

Hệ thống IBM hiện đại lúc đó còn để lại, duy trì hàng chục năm mà vẫn còn giúp cho miền Bắc rất nhiều, từ xây dựng Thủy điện Sông Đà, tới tuyển sinh và quản lý hoàn toàn hệ thống điện lực ở miền Nam, rất hiệu quả.

Cũng không hề có tham nhũng tiêu cực ở đó, tính chuyên nghiệp rất cao. Đồng lương thì khiêm nhường thôi, nhưng anh em làm việc ở đó gắn bó tình cảm lắm. Sau này thì mọi người ly tán, mỗi người đi một nơi, xuất cảnh ra nước ngoài.

Sau này nghĩ lại tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.

BBC: Từ góc độ của một nhà quan sát, ông có cho rằng đã có sự thay đổi từ phía các nhà làm chính sách trong cách nhìn nhận, nghiên cứu những kinh nghiệm của miền Nam ngày trước chưa?

Ông Vũ Minh Khương: Khi nói về năng lực học hỏi thì thường người ta nhìn ở ba khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là khả năng tiếp thu có tốt hay không, thứ hai là sự khát khao để học hỏi cái mới, và thứ ba là cơ chế khuyến khích, tức là người chịu khó học hỏi vươn lên có được tưởng thưởng hay không.

Ở Việt Nam thì tôi thấy hạn chế nhất là lòng thôi thúc chưa được cao. Thứ hai là cơ chế tưởng thưởng người khát khao học hỏi cũng hạn chế.

Học ở chế độ cũ là một việc, học từ toàn thế giới lại càng quan trọng hơn.

Cán bộ của mình khả năng tiếp thu không yếu. Những anh em cán bộ từ Bắc chuyển vào Nam làm quản lý sau 75 thì cũng cố gắng tiếp thu những cái cũ khá nhiều.

Nếu có cơ chế khuyến khích họ mạnh mẽ khai thác những cái hay của chế độ cũ, bên cạnh đó có những nỗ lực vươn lên, thì tôi cho rằng Việt Nam có thể đạt dược những thành quả lớn hơn nhiều.

Viết cho ngày 30/4: nỗi đau nào lớn hơn?

Viết cho ngày 30/4: nỗi đau nào lớn hơn?

RFA

Nguyễn Vũ Bình, viết từ Hà Nội

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh. Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên. Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi. Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù. Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương. Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác. Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm. Sau 30/4/75, đất nước sạch bóng quân thù, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội….một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 40 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản: Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán; đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng: Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền; kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách ruộng đất diễn ra (sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và không chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam. Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm; cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc….một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau: cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân, đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Vậy thì, nỗi đau nào lớn hơn?

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Nguyễn Hưng Quốc

28.04.2015

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính:  Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

Đánh dấu ngày 30/4: Kẻ khóc, người cười

Đánh dấu ngày 30/4: Kẻ khóc, người cười

Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.

Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.

 

VOA Tiếng Việt

28.04.2015

Hai ngày trước ngày kết thúc Chiến tranh Việt Nam, cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và ở trong nước đón chờ ngày này với hai tâm trạng trái ngược hẳn nhau.

Tại sân vận động của trường trung học Bolsa Grande ở Little Saigon, nơi được coi là thủ đô của người Việt tị nạn, hàng nghìn người hôm 25/4 đã tới dự ngày được đặt tên là Quốc hận.

Trong buổi lễ này, những người tham dự đã đứng chào cờ quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa và hòa giọng vào bản quốc ca của chính quyền Sài Gòn cũ.

Một ngày sau đó, tại San Diego cũng tại California, nhiều người Việt đã tới Viện bảo tàng hàng không mẫu hạm USS Midway ở San Diego để tưởng niệm ngày họ gọi là “Tháng tư đen”.

Mỗi lần 30/4 về, tôi nghĩ lại cái ngày chót, tức là ngày 29/4. Coi như là ngày chót rời khỏi Việt Nam. Buồn là tại vì mình không phải như hồi xưa nữa, cảm giác giống như hồi xưa nữa, coi như mình bị mất nước. Trong lòng tôi cái ngày đó là ngày mất nước, mất chính thể”

Bà Nguyễn Kim Hoa ở California.

Bà Đỗ Thái Kiều, một người Mỹ gốc Việt sang Hoa Kỳ từ năm 16 tuổi đã tham dự sự kiện này. Bà cho biết khi ngày 30/4 đến gần, không khí trong cộng đồng “rất là xúc động và buồn tủi vì có rất nhiều kỷ niệm, nhiều người đã mất bà con họ hàng, bạn bè”.

“Chúng tôi không thích chính quyền cộng sản vì thế chúng tôi phải rời xứ sở để ra đi. Chữ hận, theo tôi nghĩ, không những tôi mà nhiều người ở đây thì thời gian trôi qua thì chữ hận bớt đi. Nhưng mà chúng tôi không bao giờ quên rằng chúng tôi đã mất xứ sở của chúng tôi, và chúng tôi mong một ngày nào đó xứ sở sẽ trở về là một xứ sở dân chủ để giúp cho dân Việt Nam ở Việt Nam có một đời sống khá hơn, độc lập và tự do hơn.”

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của ban tổ chức sự kiện trên, nói với VOA Việt Ngữ rằng lễ tưởng niệm muốn “cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Trong khi đó, cùng chung tâm trạng với bà Kiều, bà Nguyễn Kim Hoa ở California, nói mỗi dịp 30/4 tới, bà cảm thấy “rất là buồn”.

Bà cũng không nghĩ nên coi đó là ngày “thống nhất đất nước” như chính quyền Hà Nội đã nói.

Một cựu quân nhân chào cờ VNCH trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm thứ 40, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, chiều Thứ Bảy, ngày 25 Tháng Tư. (Ảnh: Người Việt)

Một cựu quân nhân chào cờ VNCH trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm thứ 40, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, chiều Thứ Bảy, ngày 25 Tháng Tư. (Ảnh: Người Việt)

“Mỗi lần 30/4 về, tôi nghĩ lại cái ngày chót, tức là ngày 29/4. Coi như là ngày chót rời khỏi Việt Nam. Lúc đó coi như không có còn ai đi nữa ngoài những chiếc trực thăng thôi. Và tôi cùng với mấy người bạn coi như chót nhất rời khỏi Việt Nam. Buồn là tại vì mình không phải như hồi xưa nữa, cảm giác giống như hồi xưa nữa, coi như mình bị mất nước. Trong lòng tôi cái ngày đó là ngày mất nước, mất chính thể”.

Trong khi tại các nước, nhiều người Việt đánh dấu ngày 30/4 trong không khí u buồn thì nhiều buổi lễ tưng bừng với những màn bắn pháo hoa và diễu binh hoành tráng sắp diễn ra tại Việt Nam.

6.000 người sẽ tham gia diễu hành trong lễ kỷ niệm 40 năm mà chính quyền trong nước gọi là thống nhất đất nước tại TP HCM.

Ngoài việc bắn pháo hoa tại nhiều điểm, tối 30/4, chương trình văn hóa nghệ thuật đặc biệt chào mừng lễ với chủ đề “Đất nước trọn niềm vui” sẽ được tổ chức trên trục đường Lê Duẩn, trước cửa Hội trường Thống Nhất với sự tham gia của hơn 4.000 văn nghệ sỹ.

Bà Kiều nói rằng đối với người Mỹ gốc Việt cũng như người Việt ở các xứ sở tự do khác, ngày 30/4 “không phải là ngày chiến thắng, và đó chỉ là quan điểm của chính quyền Việt Nam”.

Bà cũng nói rằng những khác biệt về quan điểm như vậy sẽ “làm cho dân Việt Nam ở hải ngoại và trong nước không gần nhau được”.

CSVN kỷ niệm ‘chiến thắng’ nhưng bất an chưa từng có

CSVN kỷ niệm ‘chiến thắng’ nhưng bất an chưa từng có

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Nhà cầm quyền CSVN sẽ tổ chức một cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” ở Sài Gòn. Tuy ăn mừng “chiến thắng” nhưng chính quyền bất an.

Sơ đồ khu vực chặn xe, cấm ra vào từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 để tổ chức
cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo chí Việt Nam, cuộc diễu binh lớn kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” sẽ diễn ra vào 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4, với sự tham gia của khoảng 6,000 người. Chưa kể có khoảng 1,000 người “bảo vệ an ninh, trật tự” cho việc thực hiện cuộc diễu binh.

Nhà cầm quyền CSVN không cho biết cuộc diễu binh này ngốn hết bao nhiêu tiền nhưng người ta ước đoán ngân sách sẽ phải chi nhiều tỉ đồng, bao gồm cả việc may trang phục và tiền bồi dưỡng.

Thông tin về cuộc diễu binh đã dấy lên một làn sóng chỉ trích vì việc “ăn mừng chiến thắng” sẽ ảnh hưởng hưởng đến “nỗ lực hòa hợp, hòa giải.” Chưa kể chuyện “ăn mừng chiến thắng” diễn ra trong bối cảnh kinh tế suy thoái nghiêm trọng, ngân sách kiệt quệ và trước đó, nhà cầm quyền đã từng cam kết, hạn chế tối đa chi tiêu cho các lễ hội, hội nghị, hội thảo để tiết kiệm.

Tuy nhiên điểm đáng chú ý là dù tổ chức “ăn mừng chiến thắng” rất lớn nhưng có những dấu hiệu cho thấy chế độ hết sức bất an về nhân tâm và an ninh, trật tự xã hội.

Kẹt xe nghiêm trọng ở trung tâm Sài Gòn do chặn xe, ngăn đường. (Hình: Tuổi Trẻ)

Dẫu cuộc diễu binh chỉ diễn ra phía trước Dinh Độc Lập vào sáng 30 tháng 4, song nhà cầm quyền CSVN đã cấm ra vào những khu vực cách địa điểm diễn ra cuộc diễu binh này đến vài cây số và việc chặn xe, ngăn đường được thực hiện từ chiều 24 tháng 4.

Chuyện chặn xe, ngăn đường khiến khu vực trung tâm Sài Gòn náo loạn và sinh hoạt của dân chúng Sài Gòn bị xáo trộn.

Báo chí Việt Nam tường thuật, nhiều người cư ngụ tại những khu vực nằm bên trong “vùng cấm” bị chặn xe, ngăn đường không thể về nhà vì quên mang chứng minh nhân dân, trong khi việc “bảo vệ an ninh, trật tự hết sức nghiêm ngặt.” Những người có việc cần ra vào “vùng cấm” như đi làm, đưa con đến Bệnh Viện Nhi Đồng 2, tiến không được mà lui cũng không xong.

Dù chỉ tường thuật nhưng những phóng sự vừa kể để ngỏ mục bình luận cho độc giả nêu ý kiến. Tất cả các bình luận bên dưới những phóng sự này đều chỉ trích việc chặn xe, cấm đường trên phạm vi quá rộng, trong thời gian quá dài là vô lý, không thể chấp nhận được. Trong số đó có cả những bình luận chỉ trích chuyện “ăn mừng chiến thắng” khi dân chúng đói khổ, trẻ con thiếu chỗ học, bệnh viện thiếu giường nằm là “bất nhân” và “vô nghĩa.”

Đáng lưu ý là bộ phận quản trị trang web của các tờ báo do chính quyền Việt Nam quản lý vẫn cho hiển thị chứ không “đục bỏ” những chỉ trích này.

Không có ý kiến nào tán thành việc tổ chức diễu binh, kỷ niệm “40 năm chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước“

Tờ Tuổi Trẻ dẫn lời ông Nguyễn Thành Chung, giám đốc Sở Giao Thông-Vận Tải Sài Gòn, kêu gọi dân chúng “thông cảm” bởi đây là chuyện “quốc gia.”

Trên mạng xã hội, nhiều người công khai mỉa mai “chiến thắng 30 tháng 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” chỉ khiến Việt Nam lún sâu hơn vào đói nghèo, lạc hậu, bất công. Nhiều người khác bảo rằng, cần phải thừa nhận “cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” là do ngoại bang kích động để “huynh đệ tương tàn” và cũng là lý do khiến Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc sâu hơn, nguy cơ mất nước lớn hơn.

Những ý kiến vừa kể thật ra không mới. Điểm mới nằm ở chỗ càng ngày càng nhiều người tán thành. Đó cũng có thể là lý do xe bị chặn, đường bị ngăn trên phạm vi rộng chưa từng có và chuyện đi lại bị hạn chế trong khoảng thời gian dài cũng chưa từng có khi nhà cầm quyền CSVN tổ chức cuộc diễu binh lớn kỷ niệm sự kiện này. (G.Đ)

Giải phóng đấy, phỏng?

Giải phóng đấy, phỏng?

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Hoan hô giải phóng, hoan hô phỏng..!
Ruột héo gan bầm có biết không?”
(PĐ.)

30 tháng 4, ngày mà Võ Văn Kiệt, một người của “bên thắng cuộc”đã cho rằng đó là: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn!” Hôm nay, nhìn lại đất nước, chắc là số triệu người buồn nhiều hơn số triệu người vui.

Trang báo New York Times ngày 30 tháng 4, 1975.

Đó là ngày mà, người dân miền Nam có nhiều tên gọi: “Ngày Quốc Hận – Ngày Mất Nước – Ngày Đứt Phim – Ngày Tan Hàng – Ngày Miền Nam Sụp Đổ – Ngày Sài Gòn Thất Thủ – Tháng Tư Đen…” “Ngày Đại Hồng Thủy,” “Ngày Đại Họa” và tiếp theo là “Tị nạn và hội nhập,” “Hành Trình Đến Tự Do…” để ngậm ngùi tưởng nhớ.

Bắc Việt gọi ngày này là “Ngày Giải Phóng Miền Nam,” ngày “Thống Nhất Đất Nước” “Đại Thắng Mùa Xuân,” tổ chức ăn mừng, diễn binh, đốt pháo hoa… nhưng không bao giờ tự hỏi, chúng đã đưa đất nước này đi về đâu? Trong những cái tên, tên “Giải Phóng” phải được coi là trơ trẽn nhất, mà một số nhỏ người Việt tị nạn Cộng Sản không ở lại với “giải phóng” chạy sang đây, mà đầu còn đặc, trí chưa thông vẫn còn dùng một cách vô ý thức những câu “trước giải phóng,” “sau giải phóng!” Những người “lính cụ Hồ” luôn luôn mang theo hai chữ “giải phóng” bên mình, họ tự nhận là “giải phóng quân,” “quân đội giải phóng.”

Giải phóng được coi như là làm cho thoát khỏi sự áp bức, giam hãm, như chuyện nước Pháp và Paris bị Đức Quốc Xã chiếm đóng trong 4 năm và thế giới vẫn dùng danh từ “giải phóng Paris,” để nói đến việc De Gaulle tiến vào Paris trong những ngày cuối tháng 8, 1944. Giải phóng như chuyện Tết Mậu Thân ở Huế, quân đội VNCH chiếm lại Huế sau 23 ngày, dân chạy về phía “lính mình,” nơi có ngọn cờ vàng, mừng rỡ ứa nước mắt. Bắc Việt không thể cắt nghĩa hai tiếng “giải phóng” khi lính Việt Cộng vào đến đâu, dân chúng ùn ùn bỏ nhà chạy “giặc” ở đó. Tiếng “giặc” mà người miền Nam dùng ở đây chính là để chỉ những người mang danh “bộ đội giải phóng.”

Sau khi Hiệp Định Geneve 1954 giao miền Bắc cho Cộng Sản, đã có gần một triệu người dân Bắc di cư vào Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV) đã khiếu nại cho rằng việc di cư là do cưỡng bách. Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra, trong số 25,000 người ủy hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả. Sau đó, theo những ghi chép của học giả Đoàn Thêm (*):

– 4 tháng 10, 1956: 3 người liều chết bơi qua sông Bến Hải vào Nam tìm tự do.

– 19 tháng 11, 1956: 19 người dân Nghệ An dùng ghe vượt biển vào Nam.

– 8 tháng 4, 1957: 41 người dùng thuyền vượt tuyến vào Nam.

– 28 tháng 10, 1957: 2 sinh viên vượt tuyến vào Nam.

– 11 tháng 2, 1958: 14 người xuyên qua Lào đến được miền Nam.

Tiêu biểu là câu chuyện một người đã tập kết ra Bắc là nhà văn Vũ Anh Khanh, nhưng ba năm sau, ông thấy rõ bộ mặt của Cộng Sản, muốn trở lại miền Nam, ông bơi qua sông Bến Hải và bị bắn chết giữa dòng. Chúng ta chưa nói đến những người mất xác trên con sông chia cắt hai miền hay chết trước khi qua sông đến được bờ Nam. Chưa thấy có ai khùng điên bơi qua sông Bến Hải qua bờ Bắc để được hưởng độc lập – tự do – hạnh phúc!

Từ tháng 3, 1975, khi nghe tin Bắc Việt sắp giải phóng Huế rồi Đà Nẵng hàng chục nghìn người dân miền Nam đã liều chết lên tàu, ghe, thuyền, và những chiếc “sà lan” không thức ăn, nước uống, chấp nhận cái chết để tránh xa “quân đội giải phóng!” Nhưng tiếc thay, vì quân “giải phóng” lại đuổi kịp, nên không phải ai khi đến được Cam Ranh, Phú Quốc hay Sài Gòn cũng đều có cơ hội được ra đi!

Từ ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm Đội Số 7 ngoài khơi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dùng trực thăng di tản một số người Việt, trong đó có chiến dịch Babylift. Trong tình trạng này ai cũng muốn ra đi, nên cảnh hỗn loạn xảy ra trên những bến tàu, sân bay vì không có đủ phương tiện cho những người đang chen chúc để tìm một chỗ “đứng” để ra đi. Hơn 50,000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn ra đi an toàn trước khi Việt Cộng vào thành phố. Lần này không nghe Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khiếu nại cho rằng việc di tản là do cưỡng bách.

Sau khi Việt Cộng lập chính quyền ở miền Nam, và những biện pháp trả thù, vơ vét xảy ra như chính sách tập trung quân-cán-chính vào trại tù, chính sách đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng “kinh tế mới,” bần cùng hóa nhân dân, kỳ thị, phân biệt “cách mạng” với “phản động” đã xô đẩy người dân miền Nam vượt biên, vượt biển tìm đến các đất nước tự do. Đây là cuộc “bỏ nước” vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849, 228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ. Nhưng sự thật con số này là con số ước tính còn xa sự thật.

“Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3 triệu người).” (Theo Trần Gia Phụng)

Giải thích việc dân chúng miền Nam chạy trốn Cộng Sản trong những ngày Sài Gòn thất thủ, phe chống miền Nam giải thích rằng đó là sự “hoảng loạn” nhưng sao mãi đến 38 năm sau, chỉ riêng năm 2013, đã có gần 800 người Việt vượt biển đến Úc, và trong số này phần lớn là xuất phát từ Nghệ An-Hà Tĩnh, đất “cách mạng,” quê hương của Nguyễn Tất Thành. Mới tuần trước đây hải quân Úc đã đưa trả gần 50 thuyền nhân Việt Nam về nước sau khi chặn bắt được nhóm này ngoài khơi vùng biển phía bắc Úc hồi đầu tháng 4.

Tại sao đất nước đã “được giải phóng” gần 40 năm mà vẫn còn người liều chết ra đi tìm một nơi có tự do và cơm áo.

Trong thời gian bức tường Berlin, được Đông Đức (Cộng Sản) dựng lên từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989, khoảng 5000 người đã tìm cách vượt qua bức tường này để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt khoảng từ 86 đến 200 người.

Từ ngày Nam Bắc Triều Tiên bị chia cắt ở vĩ tuyến 38, đã có hơn 23,000 dân Bắc Hàn đã vượt biên giới đến được Nam Hàn. Những người kém may mắn nếu không bị bắn chết trên đường di tìm tự do thì cũng đang bị giam cầm trong số 200,000 tù nhân ở các trại tù “lao cải.”

Khi Cuba ngã theo Liên Xô, thoạt đầu, từ năm 1980, nước này đã mở cửa, để cho bất cứ ai cũng có thể ra đi với giấy thông hành, gần 125,000 người Cuba đã chạy sang Mỹ. Sau khi Fidel Castro cấm cửa, đã có hàng nghìn người Cuba bằng mọi cách, vượt biển sang Hoa Kỳ, mà con dường ngắn nhất là tới Florida. Chỉ mới năm ngoái, 2014, tuần duyên Hoa Kỳ đã chặn bắt được hơn 2,000 di dân Cuba liều chết mạo hiểm tìm đường vượt biển chạy khỏi chế độ Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản chưa bao giờ là thiên đàng, đem tự do và hạnh phúc lại cho con người, “sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!” Nhà văn Nguyễn Khải trong bài viết “Đi tìm cái tôi đã mất” đã miêu tả rất đúng dân tình miền Bắc sau khi “bộ đội giải phóng” vào Hà Nội tháng 10, 1954:

“Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do thì cái đầu cũng được trưng thu luôn, từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối…”

“Một nửa nước” năm 1954 được đổi lại là “cả nước” năm 1975!

Vậy thì, nói chuyện, ngày 30  tháng 4, 1975 là ngày miền Bắc Cộng Sản “giải phóng miền Nam” là một chuyện hoang tưởng, trơ trẽn. Ai cần ai “giải phóng?”

Tôi xin mượn lời dân gian, nôm na, mách qué để kết luận bài này:

– “Giải phóng gì ông, phỏng giái tôi!”


(*) Ghi lại tài liệu của Viên Linh

Trung Quốc xây 3 phi trường lớn ở Trường Sa

Trung Quốc xây 3 phi trường lớn ở Trường Sa

Nguoi-viet.com

MANILA 26-4 (NV) – Trung Quốc không phải xây một mà tới ba phi trường kích thước đủ cho phi cơ quân sự cỡ lớn lên xuống tại các đảo nhân tạo đang xây dựng ở quần đảo Trường Sa.

Không ảnh chụp ngày 17/4/2015 bãi đá Xu Bi đang được xây dựng một phi trường, so sánh với tấm hình chụp ngày 6/2/2015 hoàn toàn khác hẳn. (Hình: DigitalGlobe)

Theo các tấm không ảnh được tạp chí thời sự chính trị The Diplomat ngày 25/4/2015 phân tích, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ năm ngoái đến nay, Trung Quốc ráo riết tiến hành các kế hoạch xây dựng các căn cứ, doanh trại, cảng biển và cả phi trường tại 7 bãi đá ngầm cướp của Việt Nam năm 1988 hiện đã trở thành các đảo nhân tạo.

Đối chiếu những không ảnh mới nhất của tổ chức Digital Globe chụp từ đầu Tháng Hai đến giữa Tháng Tư 2015, người ta thấy chúng đang biến đổi vô cùng nhanh chóng. Điều này chứng tỏ Bắc Kinh ráo riết thực hiện mưu đồ khống chế nuốt trọn Biển Đông qua các căn cứ hải quân và không quân tầm cỡ lớn đặt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phần phía bắc của đảo nhân tạo Vành Khăn đang tiếp tục được bồi đắp thêm. Hình chụp ngày 13/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Trước các sự phản đối suông của Việt Nam, Phi Luật Tân và các nước khác liên quan tới vấn đề Biển Đông, chế độ Bắc Kinh có dấu hiệu tiến hành thật nhanh việc xây dựng ở các bãi đá ngầm nay là các đảo nhân tạo, đặt các nước khác ở tình trạng đã rồi.

Một số nhà phân tích thời sự quốc tế từng dự báo Trung Quốc sẽ thiết lập vùng nhận diện phòng không tại Biển Đông khi các căn cứ quân sự tại Trường Sa đã hoàn tất.

Phân tích các tấm không ảnh chụp từ vệ tinh vào ngày 17/4/2015 cho thấy chỉ trong khoảng 10 tuần lễ, Trung Quốc đã biến bãi đá Xu Bi (một rạn san hô thuộc cụm đảo Thị Tứ của quần đảo Trường Sa) mà Trung Quốc gọi là Zhubi Jiao (Chử Bích Tiêu) thành một đảo nhân tạo.

Đảo nhân tạo Vành Khăn qua so sánh không ảnh chụp ở các thời điểm 17/2/2015 và 13/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Dựa trên diện tích và hình thể và chiều dài của đảo nhân tạo này đang tiến hành, người ta có thể phỏng định dấu hiệu Trung Quốc xây dựng một phi đạo dài đến 3,300 mét. Nó tương ứng với chiều dài của phi đạo mà Trung Quốc đang xây dựng tại đảo nhân tạo Đá Thập của quần đảo Trường Sa.

Giới chuyên viên quân sự cho rằng một phi đạo dài tới 3,300 mét có thể đủ để cho các phi cơ quân sự chiến đấu cũng như tiếp liệu của không quân và hải quân Trung Quốc lên xuống.

Không ảnh chụp ngày 6/2/2015 chỉ thấy các hoạt động nạo hút cát đá lòng biển bồi đắp ở đá Xu Bi. Nhưng đến ngày 17/4/2015 chụp lại thì thấy diện tích mặt đất của đảo nhân tạo đã lên thành 2.27 km2. Nó chỉ nhỏ hơn đảo nhân tạo Đá Thập phần nào, được xác định khoảng 2.65 km2.

Theo tạp chí The Diplomat, sự khác biệt hoạt động giữa hai đảo nhân tạo vừa nói là đảo nhân tạo Đá Thập có cảng biển khá lớn và phi đạo đang được xây dựng. Chưa thấy cảng biển quân sự nào hiện diện ở đá Xu Bi, nhưng các hoạt động của đoàn tàu nạo hút cá đá ở khu vực phía nam của đảo này gần hoàn tất việc tạo lập một vòng quây kín từ các bãi đá ngầm thiên nhiên. Điều này cho hiểu khu này hình thành dần một cảng biển được bảo vệ bởi rạn đá ngầm thiên nhiên mà hoạt động hút cát đá bồi lấp ở cực nam sẽ tạo ra cầu cảng.

Các không ảnh hoạt động của Trung Quốc tại bãi đá ngầm Vành Khăn (Mischief reef, Trung Quốc gọi là Meiji Jiao hay Mỹ Tế Tiêu) từng được tạp chí an ninh quốc phòng Jane’s Defense đưa tin mấy tuần trước, nay đang là đảo nhân tạo diện tích khoảng 2.42 Km2 dựa trên sự do đạc không ảnh chụp ngày 13/4/2015.

Đảo nhân tạo Đá Thập thay đổi nhanh chóng khi so sánh hai tấm hình chụp ngày 14/2/2015 và ngày 17/4/2015. (Hình: DigitalGlobe)

Vài tháng trước đó chỉ là bãi đá ngầm nay hoàn toàn là đảo nhân tạo với sự hoạt động ngày đêm của đoàn tàu hút cát đá. Không ảnh mới nhất cho thấy sự hiện diện của 28 chiếc xe tải, trộn xi măng hoạt động tại đây bên cạnh hàng chục chiếc xe tải chuyên ngành xây dựng khác cũng có mặt.

Với những gì nhìn thấy, giới chuyên viên cũng cho rằng một phi đạo dài hơn 3,000 mét cũng có thể được xây dựng tại Vành Khăn trong những ngày sắp tới. Các đảo nhân tạo Xu Bi, Vành Khăn, Chữ Thập là ba trong số 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa được Bắc Kinh làm thành đảo nhân tạo mà không ai tin rằng chúng không phải là các căn cứ quân sự.

Cướp của người làm của mình, Bắc Kinh khi bị đả kích đều ngang ngược tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” và muốn làm gì thì làm.

Khi tham dự cuộc họp ASEAN ở thủ đô Mã Lai đang diễn ra, Ngoại trưởng Phi Luật Tân Albert del Rosario báo động với các người đồng cấp của hiệp hội khu vực rằng Trung Quốc “đang củng cố sự kiểm soát thực tế tại Biển Đông.” (TN)

Bị ăn quỵt tiền bôi trơn, ‘đau nhưng không dám kêu’

Bị ăn quỵt tiền bôi trơn, ‘đau nhưng không dám kêu’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- “Bị ăn quỵt tiền bôi trơn: Đau lắm nhưng không dám kêu.”  ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế, VCCI, bình luận, văn hóa “bôi trơn” và tỷ lệ “ăn quỵt” năm qua “đã giảm bớt”.

Thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN Nguyễn Hồng Trường bị tố ăn quỵt tiền bôi trơn của doanh nghiệp. (Hình: GDVN)

Hôm Thứ Sáu 24 tháng 4, 2015, báo điện tử Vietnamnet mở đầu bản tin tường thuật “Lễ công bố kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” mà ông Đậu Anh Tuấn, trưởng ban pháp chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) , phát biểu về tình trạng nhũng nhiễu của quan chức CSVN.

Ông Đậu Anh Tuấn có thái độ lạc quan khi cho rằng nạn nhũng nhiễu vòi vĩnh ăn hối lộ của doanh nghiệp đã giảm, khác với nhận xét của một ông quan thanh tra cao cấp nói “tham nhũng ở Việt Nam ba năm qua ổn định”, nghĩa là không tăng không giảm, vẫn nghiêm trọng.

Theo chi tiết thấy nêu trong bản tin Vietnamnet nhân dịp “Lễ công bố kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” thì tình trạng nhũng nhiễu không biết có  “giảm bớt” như lời ông Tuấn nói không. Chỉ thấy tờ báo mô tả là “Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra”.

Nêu ra các con số thống kê không biết ông dựa vào đâu, mức độ khả tín đến đâu, ông Đậu Anh Tuấn được thuật lại cho hay “năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%.”

Theo ông này “Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị “mất trắng” (đưa hối lộ) với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).”

Nạn doanh nghiệp bị quan chức của chế độ “quỵt tiền bôi trơn” có vẻ ngày càng khá phổ biến. Giữa nhiều kẻ cùng bôi trơn, đám quan chức có thể cầm hết rồi không trả lại tiền hối lộ cho ai dù người ta không được việc.

Ngày 9/11 năm ngoái, tờ Sài Gòn Times đưa ra một số trường hợp doanh nghiệp hối lộ để được thắng thầu, nhưng các số tiền “đi cửa sau” đã mất mà vẫn thua thầu đau đớn, hợp đồng không có.

Những vụ việc như thế “công khai hay không, chỉ là những câu chuyện kéo dài hàng ngày trên báo chí về nỗi khổ của các doanh nghiệp trong quá trình làm ăn. Việc doanh nghiệp bị hành bởi các cán bộ nhà nước biến chất có muôn hình vạn trạng”, Sài Gòn Times viết.

Việt Nam có tự do báo chí hơn nhiều nước khác?

Việt Nam có tự do báo chí hơn nhiều nước khác?

Blogger Phạm Đoan Trang

Blogger Phạm Đoan Trang

Trà Mi-VOA

24.04.2015

Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông Nguyễn Bắc Son ngày 24/4 tuyên bố Việt Nam có nhân quyền và tự do báo chí hơn nhiều nước khác.

Truyền thông nhà nước dẫn phát biểu của ông Nguyễn Bắc Son trước cử tri xã Đại Đồng, (Thạch Thất, Hà Nội) bác bỏ những cáo giác của các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí.

Ông Son nói ‘Đó là họ nói không đúng và nhìn nhận không đầy đủ.’

Người đứng đầu ngành thông tin-truyền thông của Việt Nam khẳng định ‘Thực ra ta có nhân quyền và báo chí ở ta tự do hơn họ rất nhiều.’

Ông Son dẫn chứng ‘hiếm có nước nào có nhiều tờ báo và truyền hình như Việt Nam hiện nay’, ‘các hội, các ngành đều có một tờ báo riêng’ ‘phục vụ nhu cầu độc giả mọi lứa tuổi’ tuy ông thừa nhận ‘báo chí là phương tiện truyền thông của đảng, nhà nước.’

Bình luận của Bộ trưởng Son gây chú ý công luận giữa bối cảnh Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế liệt kê vào danh sách các nước đàn áp tự do báo chí-tự do ngôn luận nghiêm trọng nhất trên thế giới.

Blogger-nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang từng là phóng viên và biên tập viên chuyên trang Tuần Việt Nam của Vietnamnet nay là nhà hoạt động cổ võ cho nhân quyền Việt Nam, phản hồi trước tuyên bố của Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông:

“ Bộ trưởng nói vậy em bật cười, và em nghĩ nhiều nhà báo khác cũng bật cười. Câu nói rằng Việt Nam có tự do báo chí vì Việt Nam có nhiều báo là phép ngụy biện mà nhiều quan chức của chính quyền cộng sản dùng nhiều năm nay rồi. Vấn đề là các tờ báo đó chất lượng thế nào và bản chất hoạt động của báo chí Việt Nam thế nào thì không bao giờ các ông ấy nói đến cả. Có cả ngàn tờ báo mà chỉ có một tổng biên tập. Sự lố bịch và dối trá ấy công khai tồn tại nhiều năm nay rồi.”

Giới hữu trách Việt Nam giải thích do số lượng báo đài trong nước nhiều nên nhà nước cần phải quản lý để hoạt động hiệu quả, ‘đúng tôn chỉ, mục đích.’

Blogger Đoan Trang phản bác quan điểm này:

“Điều này thể hiện một tư duy rất kém về chính sách công, về quản trị đất nước, về chính trị và luật pháp. Em muốn nói họ dốt về chuyện quản lý đất nước, quản trị điều hành. Còn chuyện trấn áp kiểm soát thì họ khá lắm. Quản lý báo chí nên là việc của xã hội, chứ không phải việc của nhà nước. Bao lâu nay báo chí Việt Nam chỉ được kiểm soát bằng nghị quyết, nghị định của đảng. Những chuyện đụng đến chính trị thì bị xử lý, còn chuyện xâm phạm đời tư-vu khống bôi nhọ tràn lan trên mặt báo đâu thấy ai nói gì. Ở đây rõ ràng có vấn đề rất nặng về chuyện luật pháp, hành pháp, cũng như lập pháp.”

Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông Việt Nam chỉ ra Việt Nam nằm trong 20 nước trên thế giới có luật về báo chí để nói rằng Việt Nam ‘tự do báo chí hơn nhiều nước khác.’ Tuy nhiên, giới hoạt động cho rằng các luật báo chí của Việt Nam không nhằm bảo vệ quyền tự do báo chí.

Nhà báo độc lập Đoan Trang:

“Cái họ dùng không phải là luật pháp. Nó là luật rừng thì đúng hơn, đầy mơ hồ. Ở Việt Nam thừa luật về quản lý và siết chặt tự do nhưng thiếu luật tốt để xã hội vận hành được. Những luật họ dùng hoàn toàn nhằm bảo vệ lợi ích của đảng và của công an. Luật về báo chí không bảo vệ tự do báo chí hoặc giúp nhà báo vận hành một cách chuyên nghiệp.”

Tháng 10 năm nay, chính phủ Việt Nam dự kiến trình Quốc hội dự thảo Luật báo chí sửa đổi.

Theo lời Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông, Luật báo chí sửa đổi ‘sẽ là công cụ để công tác quản lý báo chí được thực hiện hiệu quả hơn.’

Ông Son cũng kêu gọi cử tri đóng góp ý kiến thêm ‘để công tác quản lý báo chí được làm tốt hơn.’

Giới hoạt động cho rằng Luật báo chí Việt Nam cần sửa đổi để bảo vệ quyền tự do ngôn luận-tự do báo chí của người dân hơn là bảo vệ ‘công tác quản lý báo chí’ của nhà nước.

Thành viên nồng cốt của Mạng lưới Blogger Việt Nam, Phạm Đoan Trang:

“Thấy một cảm giác rất là khó chịu. Những người với trình độ như vậy vẫn cứ giữ các vị trí như vậy, vẫn cứ phát ngôn các câu nói rất tệ hại thể hiện sự thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng các nhà báo như thế. Cảm thấy bực bội thôi chứ không lo ngại. Kể cả Luật báo chí có siết chặt hơn nữa thì cũng không sao vì thật ra các nhà báo Việt Nam cũng quen với việc đó rồi. Bao lâu nay  họ vẫn bị siết chặt như thế rồi. Để nói Luật báo chí cần phải sửa đổi thế nào cho phù hợp thì họ phải hiểu về báo chí và hiểu về nhân quyền. Trong lực lượng lập pháp của đảng, không có những người như vậy. Họ không có tư duy về nhân quyền hay tự do báo chí.”

Trong tuần này, Ủy ban Bảo vệ Ký giả CPJ công bố phúc trình thường niên tiếp tục liệt kê Việt Nam trong danh sách 10 nước kiểm duyệt báo chí gắt gao nhất trên thế giới.

CPJ nói  Việt Nam là một trong những nhà tù lớn nhất cho giới ký giả, với ít nhất 16 phóng viên đang bị cầm tù.