Cuộc đời và cái chết rất buồn của một con người chính trực

Cuộc đời và cái chết rất buồn của một con người chính trực
Nguoi-viet.com

Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Mai Thanh Truyết

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày Thứ Ba, 28 tháng 2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Ðài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28 tháng 2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia sẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

ÔB DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Ðà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?).Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Ðảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Ðảng CSVN. Tháng 12, 1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu-Mõ Vẹt xuyên qua Ðồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như ông chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ bộ trưởng Kinh Tế nhưng ông từ chối.

ÔB DQH và Ðảng Cộng Sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ,” Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau “Các ‘toi’ muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Ðừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng.” Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Ðại Học Ðà Lạt), Nguyễn Ðình Long (Nha Hàng Không Dân Sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4, 1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7, 1975, Hà Nội chính thức giải thể Chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Ðịnh… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: “Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Ðảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.” Ðến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ thứ trưởng. Dĩ nhiên là Ðảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Ðảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: “Trong hiện trạng của Ðất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập trung tâm nhi khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các loại vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì… nhân dân (của Ðảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1 tháng 12, 2003 tại Hà Nội: “Hiện Việt Nam có 5.1 triệu người khuyết tật chiếm 6.3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92.3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là: “Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.” Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: “Ðây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn Nhân Chất Ðộc Da Cam/Dioxin Việt Nam ngày 10 tháng 1, 2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội Vụ ngày 17 tháng 12, 2003. Ðây là một hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của hội lúc ban đầu gồm:

– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

– Thượng tướng Ðặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QÐND làm Chủ tịch;

– GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: “Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hóa học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp.” Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hóa học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Ðược biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30 tháng 1, 2004, hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Ðược biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Ðại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoản. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

– Hội Nạn Nhân Chất Da Cam/Dioxin Việt Nam;

– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Ðại Học Hà Nội;

– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

– Những người cùng cảnh ngộ.

Ðây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Ðòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Ðể hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Ðại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Ðại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Ðể tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5, 2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì

“Người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

“Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: “Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Ðến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ðối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Ðất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QÐ-TTg ký ngày 21 tháng 10, 2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3 tháng 3, 2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân Y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Niềm tin vào cái ác

Niềm tin vào cái ác

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn
2015-04-09

Con gái nạn nhân Ngô Thanh Kiều hôn di ảnh cha trong phiên xét xử 4 công an đánh chết anh Kiều

Photo courtesy of phapluatdoisong.com

Your browser does not support the audio element.

Trong cùng một buổi sáng đầu tháng 4, khi ông Lê Đức Hoàn, phó thủ trưởng cơ quan Cảnh sát đều tra TP. Tuy Hoà nhìn nhận “chúng tôi đã sai rồi” trước vành móng ngựa về vụ 4 công an đánh đập, tra tấn và bức tử công dân Ngô Thanh Kiều, thì cũng là lúc ở Hưng Yên lại tái diễn một sự kiện tương tự.

Anh Nguyễn Đức Duân, 34 tuổi, khi bị đưa về phòng tạm giam của công an huyện Khoái Châu (Hưng Yên) đã bất ngờ đột tử, dĩ nhiên, trên người xuất hiện nhiều vết đánh đập. Một kiểu chết mà rất nhiều phòng tạm giam, đồn công an trên toàn cõi Việt Nam vẫn nói mình vô can, bất chấp trong 3 năm (2011 đến 2014) có đến 226 người đã chết tương tự như anh Kiều, anh Duân vậy.

Những công dân chưa bị kết án này, được tìm thấy có nhiều chứng cứ đã bị một hoặc nhiều người đánh đến chết, ở khu vực chính quyền quản lý. Trong trường hợp anh Kiều, giám định viên thi thể cho biết họ không thể đếm hết các vết thương tích trên người của nạn nhân. Điều làm người ta kinh sợ là một bộ mặt khác trong đời sống đã lộ diện: có những nơi đã gây nên tội ác và tin cái ác là cần thiết, người dân chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cất lên tiếng khóc bi phẫn.

Lời của một công an viên đánh chết đồng bào của mình, nói rằng họ chỉ muốn “giải quyết mọi việc cho nhanh”. Cái “nhanh” đó chưa biết đã đem lại được bao nhiêu đáp án đúng của công lý nhưng đã cướp đi mạng sống của con người, thoả mãn những thú tính và gieo rắc sự sợ hãi trong nhân dân về những nhân vật mặc sắc phục, sẳn sàng bóp chết những người cùng màu da, tiếng nói với mình.

Mới đây (ngày 9-4) thông tin quốc tế cho biết, Dzhokhar Tsarnaev, 21 tuổi, sẽ phải ra toà để chịu phán xét về vụ khủng bố trong cuộc đua marathon ở Boston (Mỹ) vào năm 2013. Tsarnaev đã cùng anh mình nổ bom, làm chết 3 người và hàng trăm người bị thương mà mọi chứng cứ nay đã rõ ràng. Thế nhưng toà án và cảnh sát Mỹ đã phải mất đến 2 năm để điều tra và thu thập dữ liệu, để đưa ra toà một kẻ khủng bố còn khoẻ mạnh và xét xử. Trả lời Q.News, văn phòng công tố nói rằng họ đã tận lực cố gắng để “nhanh” đưa vụ này ra toà.

“Nhanh” của chính quyền ở những nơi khác nhau, rõ ràng cũng khác nhau. Có nơi làm tất cả để trình bày về cái ác. Có nơi thì chính nhân viên công quyền giành nhau để vào vai cái ác, thậm chí tin vào cái ác.

Cũng có ý kiến tiếc thương cho thanh niên 21 tuổi Dzhokhar Tsarnaev, với lý luận rằng “người chết thì đã chết rồi, thôi thì hãy dành chút cơ hội cho người còn sống”. Lập luận này cũng được nghe quanh phòng xử án anh Ngô Thanh Kiều, rằng như thế nào chuyện cũng đã “lỡ” rồi, có xử nặng thì cũng không giúp anh Kiều sống lại. Quả đúng vậy, người chết thì đã chết rồi, nhưng cái ác vẫn nhởn nhơ sống và còn được những cơ hội đẹp, như một dẫn chứng mạnh mẽ cho niềm tin vào cái ác.

3 năm và 226 công dân chết trong nhiều khu vực của chính quyền có nhiều không? Và con số này vẫn không dừng lại. Nếu công lý không được lập lại. Nếu sự nguỵ biện và dung dưỡng cho cái ác vẫn còn mạnh mẽ, người dân chỉ còn có thể suy ra rằng đã có những nơi trên đất nước này, như Phú Yên hay Hưng Yên… công an đã trở thành những bộ phận cát cứ hoành hành trên tính mạng con người. Lịch sử nhân loại vẫn ghi lại rằng việc im lặng gieo rắc sự sợ hãi trong tâm lý dân chúng là một phép tính cai trị, đời đời bị nguyền rủa, như bạo chúa Nero (54-68) khi không còn đủ khả năng đồng hành cùng người dân La Mã đi đến tương lai.

Xã hội Việt Nam có quá nhiều ví dụ cho thấy những kẻ phạm tội trong chính quyền, dù trên danh nghĩa là bị kỷ luật, nhưng sau đó lại được chuyển vào những vị trí bù đắp khác, vị trí có thể còn cao hơn, thậm chí thong dong hơn.

Mọi thứ đang đảo lộn. Lẽ phải bị thử thách như với những người cần phải tử đạo. Cái ác có đang là thứ để tin, để chọn, như một cách để khác biệt với đồng loại mong manh của mình?

Ngày xưa, các bậc cha mẹ vẫn mong con mình thành đạt trong đời, để là bác sĩ, kỹ sư… Nhưng thời nay, không ít gia đình chạy vạy cho con mình vào ngành công an như một bước đi vững chắc và an toàn trong đời. Mọi ngành nghề đều bình thường, và là điều công chính đáng tự hào biết mấy trong xã hội an sinh. Nhưng nếu từ những câu chuyện như của anh Kiều, anh Duân… mà công lý và pháp luật không thể thượng tôn, cái ác trở thành một loại niềm tin, dù chỉ là của một phần rất nhỏ trong dân chúng, thì cũng đó là ngày bất hạnh của dân tộc Việt Nam đã điểm.

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

 

Mua lại nước Việt Nam với giá nào?

Mua lại nước Việt Nam với giá nào?
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Nhiều độc giả Người Việt đồng ý với đề nghị “Mua lại nước Việt Nam” từ tay đảng Cộng Sản; để họ trả lại cho dân Việt Nam quyền tự mình lo quản trị đất nước mình. Nếu quý vị thấy ý kiến này vô lý, đặt câu hỏi “Tại sao đất nước của mình, mình lại phải mua lại?” thì xin thông cảm. Chúng ta đã thấy cảnh nhiều chủ nhà phải “mua lại” căn nhà của chính mình. Nhà mình cho họ trú ngụ rồi bị chiếm luôn. Ðuổi không ra. Ðòi, không trả. Thưa kiện, không ai xử. Dùng vũ lực càng không được, vì chúng nó du côn hơn mình! Khi một bọn côn đồ lại nắm cả pháp luật trong tay, thì làm sao được? Giải pháp cuối cùng để mời bọn cướp ra khỏi căn nhà mình, là thí cho chúng nó một số tiền. Bao nhiêu người đã phải làm như thế rồi!

Nhưng có độc giả nêu lên nỗi khó khăn: Kiếm đâu ra tiền mà mua lại nước Việt Nam? Bạn TTNV viết: “Dân đen ở Việt Nam (80%) thì trên răng dưới dế, khố rách áo ôm, vốn liếng chỉ có cái mạng cùi! Quan chức, đại gia thì bận lo ‘hốt nhanh, hốt gọn, hốt sạch’ rồi ôm bọc bạc qua Thụy Sĩ (chưa tới được Panama!) Vậy thì lấy cái gì mà ‘mua lại’ đây?”

Một độc giả khác, ký tên Người Buôn Mộng, đưa ra đề nghị người Việt ở nước ngoài phần lớn khá giả hơn đồng bào trong nước hãy gánh lấy việc góp tiền mua lại nước Việt Nam. Theo Người Buôn Mộng thì “hơn ba triệu người Việt ở hải ngoại sẽ đi quyên góp cho đủ 19 tỉ Mỹ kim, để chia tặng đồng đều cho 19 ma đầu trong Chính Trị Bộ mới được bầu lên” với một số điều kiện để họ trả lại nước Việt Nam cho người Việt Nam.

Con số 19 tỷ đô la có lớn quá không? Bạn Người Buôn Mộng đã tính toán, thấy đủ sức kiếm ra. Vì mỗi năm người Việt ở nước ngoài vẫn đem hàng chục tỷ đô la về trong nước! Nhà báo Vũ Kim Hạnh mới viết trên Facebook của cô rằng, “Dòng kiều hối chảy về Việt Nam từ Mỹ khoảng 7-8 tỷ đô la, thì dòng đô la chảy ra cũng không ít.” Nếu chia 19 tỷ cho ba triệu người Việt ở nước ngoài thì mỗi người chỉ góp trên ba ngàn đô la! Những người yêu nước có của sẽ đóng góp gấp đôi, gấp ba, bù cho những người thiếu tiền! Có thể mua được!

Ðề nghị trả giá 19 tỷ rất thực tế, nhưng chúng ta sẽ không cần đến. Thực ra, có thể mua lại đất nước từ tay đảng Cộng Sản mà không cần phải trả tiền mặt. Nghĩa là có thể mua chịu, mua trả góp, giống như ở các xã hội ổn định người ta vay nợ mua nhà vậy. Vậy có thể mua lại nước Việt Nam theo lối trả góp cho đảng Cộng Sản như thế nào?

Xin quay lại với ý kiến của các nhà kinh tế Ba Lan thời 1980. Họ đề nghị mua lại nước Ba Lan từ tay đảng Cộng Sản, sẽ trả tiền cho tất cả các đảng viên Cộng Sản; không trả riêng cho các lãnh tụ trong Bộ Chính Trị hay Trung Ương Ðảng. Dân Ba Lan hứa sẽ trả cho đảng viên Cộng Sản tất số các lợi nhuận mà họ đang được hưởng và sẽ được hưởng nếu vẫn nắm chính quyền. Nghĩa là, dù mất quyền hành nhưng các đảng viên Cộng Sản vẫn hưởng các lợi lộc, lại được bảo đảm hưởng lâu dài, không lo mất.

Như vậy thì cái giá mua lại nước Việt Nam như thế tính ra thành bao nhiêu tiền? Làm sao biết được là giá đắt hay rẻ? Muốn trả lời thắc mắc này, cần tính toán theo lối các ngân hàng: Những món tiền sẽ trả trong tương lai đều có thể tính ngược lại thành một cái giá tương đương trong hiện tại.

Cách tính toán này, trong môn Tài Chánh Học (Finance) gọi là “hiện giá” (present value). Thí dụ, mình có trong tay một trái khoán (giấy nợ), trên đó viết rằng người cầm giấy này sẽ được trả 105 đồng, trong một năm nữa. Nếu lãi suất trong thị trường đang là 5% một năm, thì người ta sẵn sàng trả 100 đồng để mua cái giấy nợ đó. Giá trị 100 đồng này là “hiện giá” của lời hứa trả tiền trong tương lai, tính toán rất giản dị. Khi dân Việt Nam hứa cho các đảng viên Cộng Sản được hưởng lương bổng suốt đời nếu họ bán lại đất nước cho mình, số tiền trả trong tương lai đó cũng có thể tính thành một “hiện giá.” Ðó là cái giá mua lại nước Việt Nam.

Muốn cho dễ hiểu, quý bạn hãy tưởng tượng có một người hứa trả cho bạn 100 đồng mỗi tháng, mãi mãi không bao giờ ngừng, đời con đời cháu vẫn được hưởng. Dòng tiền nhận được trong tương lai đó tương đương với bao nhiêu tiền trong hiện tại? Nói cách khác, quý vị sẵn sàng trả bao nhiêu tiền để mua lời hứa đó? Cái giá này chính là “Hiện Giá.” Hiện giá lớn hay nhỏ tùy theo quý vị nghĩ mình đáng được hưởng lãi suất bao nhiêu. Lãi suất cao hơn thì hiện giá thấp hơn.

Thí dụ, nếu lãi suất là 1% mỗi tháng (như lãi suất trung bình mà các doanh nghiệp ở Việt Nam phải trả bây giờ) thì Hiện Giá của dòng tiền 100 đồng đều đặn này là 10,000 đồng. Tại sao? Giản dị lắm, nếu quý vị vay ai 10,000 đồng với lãi suất hàng tháng là 1% thì quý vị sẽ phải trả chủ nợ 100 đồng mỗi tháng, tức 1% của 10,000 ngàn. Nếu lãi suất cao hơn, thí dụ 2% mỗi tháng, thì hiện giá của dòng tiền 100 đồng mỗi tháng đó chỉ còn là 5,000 đồng. Vì nếu vay ai 5,000 đồng, với lãi suất 2%, mỗi tháng cũng phải trả 100 đồng!

Thực tế hơn, thử tưởng tượng tình trạng một người vay nợ để mua nhà. Vay một số tiền gọi là P đồng (thí dụ, 250 ngàn đồng); hứa trả góp trong n tháng (thí dụ, 25 năm tức là 300 tháng), với lãi suất r% mỗi tháng (thí dụ 5% một năm, chia cho 12). Có thể tính số tiền trả mỗi tháng là M đồng, theo công thức:

M=P nhân với{{r(1+r) lũy thừa{n}} rồi chia cho {(1+r)lũy thừa {n} trừ 1}}}

Với thí dụ trên đây, ngân hàng đã tính ra số tiền M trả mỗi tháng là 1,454 đồng.

Ngược lại, nếu một người nhận được 1,454 đồng đồng đều đặn trong 300 tháng, trong khi lãi suất là 5% một năm, thì “Hiện Giá” của các món tiền tương lai đó là 250 ngàn đồng. Tính toán giống như cho vay số tiền 250 ngàn đồng với cùng lãi suất 5% và thời gian trả góp là 25 năm. Hiện giá này cũng cao hay thấp tùy theo lãi suất trong thị trường cao hay thấp.

Lãi suất phải tính ra sao? Trong thị trường tài chánh, dù cho vay trực tiếp, hoặc mua bán trái phiếu, lãi suất cao hay thấp tùy thuộc số tiền hy vọng nhận được trong tương lai chịu bất trắc, rủi ro nhiều hay ít. Mối rủi ro càng lớn thì lãi suất càng cao, để bù lại cho nỗi bất trắc người đầu tư phải chấp nhận.

Bây giờ trở lại với câu hỏi dân Việt Nam nên trả cho đảng Cộng Sản bao nhiêu tiền để mua lại nước Việt Nam; để dân mình tự lo việc quản trị nước mình, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, chấm dút tham nhũng, xây dựng lại đạo lý dân tộc và bảo đảm xã hội công bằng? Về phía người bán, đảng Cộng Sản có thể chấp nhận giá cả là bao nhiêu để họ trả lại nước Việt Nam cho dân Việt?

Theo lối các kinh tế gia Ba Lan 30 năm trước, có thể đề nghị cho các đảng viên Cộng Sản, từ Bộ Chính Trị xuống tới các anh chị cán bộ thôn, xã, cam kết cho họ được hưởng tất cả số lương bổng, trợ cấp và quyền lợi về y tế, xã hội, suốt cuộc đời sau này của họ, cho đến khi chết. Tất cả các món tiền đó có thể tính ra thành hiện giá, cho từng đảng viên. Người nắm quyền cao sẽ được hưởng nhiều, cấp thấp sẽ được ít. Nhưng ai cũng có thể tin rằng họ sẽ còn tiền, họ chỉ mất quyền hành sai bảo hoặc bắt giam người khác mà thôi.

Ðổi lại, đảng Cộng Sản sẽ trao trả lại quyền làm chủ đất nước cho hơn 90 triệu người Việt Nam. Dân Việt sẽ bỏ phiếu bầu một Quốc Hội mới, lập chính phủ mới, lo sửa Hiến Pháp và luật lệ để mọi người đều sống trong dân chủ tự do.

Ðộc giả Người Buôn Mộng, ở San Diego, Hoa Kỳ, đã đề nghị diễn tiến việc trao trả quyền hành theo mấy bước sau đây: Thứ nhất, Bộ Chính Trị đồng thanh tuyên bố đảng Cộng Sản Việt Nam là một sai lầm và thảm họa vĩ đại nhất cho nước Việt Nam, sẽ lập tức được giải thể. Thứ hai, quyền “làm chủ, quản trị, và lãnh đạo” nước Việt Nam sẽ được quyết định trong một cuộc bầu cử tự do, phổ thông, do Liên Hiệp Quốc kiểm soát – giống như ở Campuchia hồi năm 1993 vậy.

Ðộc giả TTNV lạc quan, nhắc lại kinh nghiệm dân Tây Ðức “mua lại” Ðông Ðức từ tay đảng Cộng Sản, nhờ thế nước Ðức đã thống nhất. Mai mốt, dân Nam Hàn có thể sẽ mua lại cả Bắc Hàn từ tay gia đình họ Kim.

Tuy nhiên, bài toán trên đây chỉ nói tới tiền bạc, đến giá cả; còn rất nhiều “ẩn số” chưa đề cập tới. Quý vị nào đã trải qua kinh nghiệm “mua lại nhà của chính mình” từ tay các cán bộ chiếm nhà, hoặc quý vị đã sống qua thời kỳ các nước Cộng Sản đổi chủ, xin mời góp thêm ý kiến.

Văn Quang: Những cái chết thầm lặng

Văn Quang: Những cái chết thầm lặng

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Vấn đề tôi nêu ra ở đây thật ra chẳng có gì mới. Đó là những chuyện cũ rích nhưng nó vẫn cứ “đổi mới”. Cách đây chừng 5-7 năm, chuyện thực phẩm bẩn đã rộ lên khiến người dân và khách nước ngoài kinh sợ. Bẵng đi một thời gian, đến nay vấn đề đó lại trở nên nóng hơn bao giờ hết. Mặc dù nhà cầm quyền VN đã cố gắng dẹp tệ nạn này, nhưng chặt đầu này, nó mọc đầu kia. Cái đầu mới lại tinh vi xảo quyệt hơn thủ đoạn cũ, bởi nó chịu “đổi mới”, có “tư duy sáng tạo” còn biện pháp thì cứ cũ mèm nên nó mạnh hơn và nó lại thắng. Các cơ quan có trách nhiệm lại ra sức đuổi theo tiêu diệt nó, nhưng nó chạy như ngựa phi đường xa, còn các quan cứ như cầm đèn chạy trước ô tô. Anh đuổi cứ đuổi, anh ngồi đếm tiền cứ ngồi. Thế thì dân làm sao không chết. Có lẽ chỉ vì cái sự thật kinh hoàng là bệnh ung thư đang lan tràn rất mạnh ở VN trong thời gian vừa qua nên các quan mới nháo nhác đi tìm nguyên nhân phát sinh bệnh. Thật ra đó là thứ bệnh ai cũng biết.

Các công nhân nhập viện tại Trung tâm y tế huyện Chợ Gạo vào ngày 10-3.

Con số người chết vì ung thư ở VN tăng nhanh nhất thế giới
Số liệu mới nhất tại hội thảo “Vì thị trường thực phẩm an toàn” do Hội Tiêu Chuẩn và Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Việt Nam tổ chức tại TP Sài Gòn ngày 26/3 vừa qua cho thấy, hằng năm, Việt Nam có khoảng 200.000 ca ung thư mới, với 75.000 ca tử vong, khiến VN trở thành quốc gia có tỷ lệ ung thư ở mức báo động, con số này có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo.

Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Phòng Chống Ung Thư Việt Nam: Nguyên nhân chủ yếu do các loạihóa chất độchại có trong thức ăn hàng ngày. Điều này làm cho Việt Nam là nước có bệnh nhân ung thư nhiều nhất trên thế giới. Một số quốc gia nhỏ chỉ có mấy triệu người dân thôi. Số người chết vì ung thư ở nước ta chỉ trong mấy chục năm có thể bằng cả một quốc gia bị xóa sổ.

Ung thư vú hiện đang trở thành loại bệnh thường gặp nhất ở nữ giới và được dự báo có xu hướng tiếp tục tăng. Lý do là mỗi ngày họ phải sử dụng những chiếc áo ngực Trung Quốc có chứa đủ thứ hóa chất gây bệnh mà không hề hay biết.

Hàng ngày, người dân phải ăn những loại thực phẩm bị tẩm độc bởi những loại hóa chất độc hại từTrung Quốc. Chỉ tính trong năm 2012 đã có hàng ngàn vụ việc liên quan đến thực phẩm bẩn có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc trong nước bị phát hiện và bắt giữ. Trong đó, hầu hết đều có chứa các chất bảo quản gây nguy cơ mắc bệnh ung thư cho người tiêu dùng: táo, khoai tây, lê…

Người tiêu dùng tẩy chay hàng Trung Quốc và lựa chọn thực phẩm trong nước nhưng cũng chẳng được an toàn hơn khi hàng loạt các thực phẩm, hoa quả trong nước được tẩm ướp và chế biến, bảo quản bằng hóa chất như giá đỗ, chuối, đu đủ, cà chua, mít…

Ngay cả những thứ quà vặt cho trẻ em như bim bim, bánh kẹo hay những thứ đồ chơi cho trẻ như thú nhún, cây thông Noel cũng trở nên nguy hiểm đổi với con người bởi bên trong đó là những loại hóa chất trở thành tác nhân gây ra bệnh ung thư. Chỉ trong vòng 5 năm, số bệnh nhân ung thư tăng gấp ba. Chỉ trong năm 2015, người tiêu dùng trên cả nước có thể đã ăn tới 6 tấn chất cấm trong chăn nuôi.
Từ đó đến nay bệnh ung thư vẫn tiếp tục lan tràn. Tại sao?

Hàng chục tấn chất tạo nạc trôi nổi trên thị trường
Theo báo điện tử Vietnam Net, trong khi con số nhập khẩu chất tạo nạc giữa Bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn (NN&PTNT) và Bộ Y tế đưa ra “vênh” nhau một trời một vực thì nhiều tấn hóa chất nguy hại này vẫn trôi nổi trên thị trường. (Tức là hai bộ mỗi ông nói một phách).

Tại hội nghị trực tuyến về về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, tổ chức vào tháng 10 năm ngoái, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, 9 tháng đầu năm 2015 có tới 68 tấn Salbutamol – chất tạo nạc bị cấm trong chăn nuôi, được nhập khẩu vào Việt Nam.
Bộ trưởng Phát đặt nghi vấn các doanh nghiệp nhập khẩu đã nhập lậu chất này và bán ra thị trường một cách bất chính cho người chăn nuôi sử dụng trộn vào thức ăn để vật nuôi siêu nạc, mau lớn.
Tuy nhiên, ngay sau đó, ông Nguyễn Thanh Phong, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) khẳng định, 9 tháng đầu năm 2015 mới chỉ cho phép nhập 3,5 tấn Salbutamol và chỉ những công ty có số đăng ký các sản phẩm này còn hiệu lực mới được nhập, nhà máy đạt GMP mới được sản xuất.. Việc nhập khẩu Salbutamol được căn cứ trên nhu cầu thực tế. Do đó, không có chuyện Bộ Y tế cho phép nhập khẩu đến 68 tấn Salbutamol như thông tin đã đưa.

Hai bộ đốp chát, bên nói có, bên nói không, anh dân đen ngơ ngác chẳng biết tin ông nào. Kết luận chất tạo nạc vẫn nhởn nhơ giữa thị trường bán cho người cần mua dù đó loại chất cấm, chỉ sử dụng cho việc cữa bệnh điều trị hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhờ làm cho người bệnh thở dễ dàng hơn. Salbutamol và Clenbuterol nếu tồn dư trong thịt sẽ gây nguy hại cho sức khỏe con người khi đưa vào cơ thể. Còn kháng sinh tồn dư trong thực phẩm làm tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc điều trị cho người. Hiện nay, cả 2 chất tạo nạc này đều bị cấm dùng để trộn vào thức ăn cho gia súc, gia cầm. Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cấm sử dụng nhiều năm nay – chất cấm sử dụng trong chăn nuôi. Kết quả giám sát cũng cho thấy, các chất cấm, chất kháng sinh không chỉ bịphát hiện ở thịt lợn mà còn có cả ở thịt gà.

Còn rất nhiều vụ phát hiện chất cấm trên thực phẩm đã bị phanh phui. Ngoài bọn gian thương Tàu tuồn hàng cấm vào VN, chính người Việt cũng nhẫn tâm hại đồng bào mình. Những vụ ngâm tẩm hóa chất độc hại bị phát hiện như thịt trâu tẩm hóa chất độc hại, làm giả thành thịt bò; cà phê làm từ bột đậu nành tẩm hóa chất hương cà phê có khả năng gây ung thư; da heo, mỡ bẩn tẩy trắng bằng hóa chất độc hại; rau tồn dư thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật; heo có chất tạo nạc, uống thuốc an thần. Gần đây, người dân ở Phú Yên sử dụng hóa chất, phẩm màu để nhuộm ruốc theo yêu cầu của thương lái. Việc này đã có từ lâu nhưng chính quyền địa phương và người tiêu dùng nay mới biết!

Tôi chỉ nêu hai thí dụ điển hình đó thôi, bạn đọc có thể hiểu được nỗi nguy rình rập hàng ngày của hầu hết người VN là thế nào.

Như thế người dân ăn gì cũng chết. Còn uống cũng nhiều thứ dễ chết như nhau. Hầu như thức uống nào cũng có thể bị nhuộm xanh nhộm đỏ chứa đầy hóa chất. Thứ mà người dân từ thượng lưu trí thức đến người bình dân ngồi vỉa hè quen dùng hàng ngày là cà phê cũng bị làm giả, bị nhiễm độc nặng. Những hàng quán vỉa hè cũng chứa đầy chất độc, không ai kiểm tra. Người dân vẫn cứ ăn, cứ uống.

Cà phê tẩm hóa chất chế biến ngay giữa TP Vũng Tàu
Sáng 24-3, Đội CSĐT tội phạm về kinh tế Công an TP Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đã bất ngờ kiểm tra cơ sở rang cà phê tại số 268, đường Trương Công Đinh, TP Vũng Tàu và phát hiện một số lượng lớn cà phê, đậu nành và các phụ gia chưa rõ nguồn gốc xuất xứ. Cơ sở rang cà phê trên do ông Nguyễn Văn Hòa (48 tuổi, ngụ TP Vũng Tàu) làm chủ.
Khi cơ quan công an kiểm tra, phát hiện nhiều bao cà phê, đậu nành nằm la liệt ở dưới sàn nhà cáu bẩn, bụi bám đen sì, các dụng cụ dùng để rang cà phê như chảo, muỗng đều đã chuyển màu và nằm dưới sàn nhà. Thùng để chứa bơ bẩn thỉu, dơ dáy, cơ sở bốc mùi khét lẹt. Một số thùng đã qua sử dụng được chất vào bên trong kho của cơ sở trên đều ghi có xuất xứ từ Trung Quốc.
Chủ cơ sở trên cho biết số cà phê trên được ông mua từ các tỉnh như Lâm Đồng, Đắk Lắk; riêng các phụ gia để tẩm ướp thì được mua tại TP Sài Gòn.

Tại nơi sản xuất ra cà phê cũng làm giả
Phóng viên tờ báoNgười Lao Động giả làm chủ cửa hàng,đi mua 50 kg cà phê bột, chúng tôi tới cơ sở rang xay ở phường Hòa Khánh, TPBuôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, nhiều bao cà phê bột đóng sẵn chờ tiêu thụ, ngổn ngang can, lọ đựng hóa chất, nguyên liệu toàn bắp và đậu nành để dưới nền nhà. Theo chủ cơ sở này, mấy ngày qua phải tăng 300% công suất nhưng cũng phải làm tới 29 Tết mới đủ hàng.
Trước đó, cuối tháng 1, Phòng Cảnh sátPhòng chống tội phạm về môi trường của công an tỉnh Đắk Lắk kiểm tra cơ sở chế biến cà phê bột của ông Nguyễn Đình Quang (ngụ xã Hòa Khánh). Xưởng chế biến là ngôi nhà cấp 4 lụp xụp, bụi bặm; nguyên liệu cà phê, bắp, đậu nành và hóa chất để dưới nền xi măng cáu bẩn.
Ông Quang không xuất trình được các giấy tờ liên quan đếnhoạt động sản xuấtcà phê bột nhưng thừa nhận mỗi ngày cung cấp ra thị trường khoảng 100 kg cà phê bột. Cà phê bột của ông Quang chỉ có 10% cà phê, còn lại là bột bắp, đậu nành rang cháy và các loại hóa chất không rõ nguồn gốc.

Theo Hội Bảo vệngười tiêu dùngĐắk Lắk, qua khảo sát 30 cơ sở chế biến thì có 73,3% cơ sở ngoài cà phê còn dùng thêm đậu nành; 46,7% cơ sở dùng thêm bắp; 6,7% dùng thêm đậu đỏ và 4/27 mẫu cà phê không đạt chất lượng. Tuy nhiên, việc khảo sát chỉ tập trung ở các cơ sở có tên tuổi; còn các cơ sở chế biến chui, nhỏ lẻ thì chắc chắn còn nhiều.

Theo bà Nguyễn Thị Lý,chủ quán cà phêBảo Tàng (đường Lê Duẩn,TP Ban Mê Thuột), hiện rất ít người dùngcà phê nguyên chất dù loại cà phê này chỉ hơn cà phê pha sẵn 3.000 đồng/ly. Trung bình mỗi ngày, quán bán hơn 200 ly, trong đó chỉ khoảng 20-30 ly là cà phê nguyên chất xay pha trực tiếp.
Còn theo chủ mộtdoanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hiện sản phẩm cà phê bột của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ xuất khẩu chứ không cạnh tranh nổi ởthị trường nội địa. Nguyên nhân là do sản phẩm cà phê bột của doanh nghiệp có hàm lượng cà phê khoảng 80% nên giá cao hơn, không đắng và sệt so với các loại cà phê mà các quán thường bán.

Bà Nguyễn Thị Phương Lan, Chủ tịch Hội Bảo vệ người tiêu dùng Đắk Lắk, cho rằng cà phê bẩn tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Bột đậu nành, bột bắp cháy đen tẩm hóa chất nếu dùng lâu ngày sẽ rất nguy hại.

Nguy hại tới người khác thì mặc kệ, miễn có thêm tiền là cứ làm. Như thế còn dã man hơn cả trộm cướp. Chính ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cũng cho rằng “Vệ sinh an toàn thực phẩm không chỉ là vấn đề thực thi pháp luật, điều hành của các cấp mà còn là minh chứng của xuống cấp đạo đức xã hội”.
Văn hóa suy đồi, xã hội tham nhũng đầy rẫy là hiện tượng rõ rệt lương tâm đang chết dần. Chẳng cơ quan nào cứu được, xã hội không thay đổi thì đạo đức loạn là đúng.

Sự thật là những cái chết thầm lặng không có tiếng súng kia ngày ngày vẫn âm vang khắp nơi. Chẳng ai quan tâm, còn mải… đếm tiền!

Văn Quang

 01 tháng 4-2016

ĐÁNG TIẾC VÀ ĐÁNG GIẬN !

ĐÁNG TIẾC VÀ ĐÁNG GIẬN !

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA  688

 Hôm nay ngày 7 tháng 4, Hội Thánh kính nhớ Thánh Gioan Lasan, vị sáng lập “Dòng Sư huynh các trường Công Giáo”, còn gọi là “Trường Chúa Kitô”. Ở Việt Nam các Tu Sĩ Dòng Lasan mở thêm Dòng Nữ Lasan, Trước năm 1975, Dòng Nữ Lasan chỉ có ở Việt nam và Thái Lan. Sau năm 1975 các Nữ Tu Dòng Nữ Lasan đến Hoa Kỳ và thiết lập cộng đoàn tại đây. Đây là một Hội dòng chuyên lo việc giáo dục cho thanh thiếu niên, đặc biệt là các trẻ em nghèo. Tên Dòng Lasan được viết từ tên vị sáng lập Dòng người Pháp là Thánh Gioan Lasan ( Jean-Baptiste de La Salle, 1651 – 1719 ). Các Tu Sĩ Dòng Lasan được gọi là Sư Huynh, ở Việt Nam nhiều người vẫn gọi các vị là Frère ( tiếng Pháp, nghĩa là anh, huynh ), vì họ tuy khấn Dòng nhưng không phải là Linh Mục. Lâu lắm mới có một lần được mừng đúng ngày, vì lễ kính Thánh nhân ( 7 tháng 4 ) thường rơi vào Tuần Thánh hoặc Tuần Bát Nhật Phục Sinh.

Thánh Gioan Lasan có ý tưởng mở trường nghĩa thục dạy miễn phí cho trẻ em nghèo nên quy tụ một số bạn đồng ý chí để thành lập những trường như vậy, với tâm nguyện mọi người vừa điều khiển trường, vừa dạy học, vừa sống luôn trong cộng đồng của các em học sinh. Các Tu Sĩ của Dòng Lasan tuy có khấn dòng, nhưng họ không lãnh nhận Chức Thánh nên họ không phải là Phó Tế hoặc Linh Mục, Giám Mục. Dòng Lasan là Dòng Tu Nam đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo không có Linh Mục. Dòng Lasan được cho là tổ chức đầu tiên trên thế giới áp dụng những phương pháp sư phạm hiện đại. Thí dụ, ngay từ thời sơ khai, Gioan Lasan đã có khái niệm đặt lợi ích học sinh lên trên hết, và cấm thầy giáo không được phạt học trò bằng cách đánh đòn.

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, hệ thống trường do Dòng Lasan tổ chức lan rộng trên nhiều tỉnh thảnh Bắc Trung Nam, và đạt được tin cậy của các vị phụ huynh rất cao. Ở Sàigòn nổi tiếng có trường Lasan Taberd ( Quận 1 ) và Lasan Mossard ( Thủ Đức ) với cơ sở hiện đại, quản lý giáo dục và đội ngũ giảng dạy rất có uy tín, nhiều vị học giả, chuyên gia và giới chức cao cấp trong nhiều lãnh vực tốt nghiệp từ trường này ra. Việc được tuyển vào học trong ngôi trường danh tiếng này không dễ dàng chút nào, ngoài khả năng học tập, thành phần học sinh ở đây đều xuất thân từ các gia đình khá giả vì học phí rất cao. Tuy nhiên với loại gia đình trung trung như chúng tôi thì đã có trường Lasan Hiền Vương ( ngã Sáu ), Lasan Đức Minh ( Tân Định ), phẩm chất giảng dạy không kém Taberd, chỉ khác biệt về môi trường sinh hoạt mà thôi, dĩ nhiên học phí ở hai trường này mềm hơn. Tôi được biết them Trường Mù Lasan Hiền Vương được tổ chức để lo cho các em khiếm thị, Trường Dạy Nghề Đức Minh để giúp người lao động nghèo có nghề nghiệp. Cùng với hệ thống trường Dòng Lasan, các trường học khác của cả Công Giáo lẫn Phật Giáo trên cả nước phải đóng cửa bàn giao lại cho Nhà Nước vào năm 1975, đáng kể ở Sàigòn có các trường nổi tiếng: Nguyễn Bá Tòng 1 và 2, Saint Thomas, Lê Bảo Tịnh, Bồ Đề, Cứu Thế… Các trường đại học có uy tín không kém, có khi hơn cả trường công lập, như Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Minh Đức, Viện Đại Học Vạn Hạnh… Ở các tỉnh cũng có những trường nổi tiếng không thua gì Sàigòn, như trường Thánh Tâm ( Đà Nẵng ), trường Thiên Hựu ( Huế ), Trường Bùi Chu ( Dốc Mơ, Gia Kiệm ),… Trước năm 75 hệ thống trường tư thục do Giáo Hội thiết lập dày đặc khắp nơi, gần như bên cạnh một Nhà Thờ, dù ở bất cứ nơi đâu đều có một nhà trường trung học, ít nữa cũng là trường tiểu học. Về phẩm chất của giáo dục trước năm 75 ở miền Nam, đăc biệt là ở các trường Công Giáo ra sao ngày nay không cần phải bàn nữa, mọi người đã từng được nghe và nhận thức được sự thật này

Năm 75 người ta phá vỡ hoàn toàn hệ thống giáo dục ở miền Nam thay vào đó là một nền giáo dục mang danh Xã Hội Chủ Nghĩa mà kết quả là thảm trạng hôm nay.

Những con người được đào tạo ra trong nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa ít nhiều đã bị thấm

nhiễm những điều không tốt của chủ trương Tam Vô ( vô tổ quốc, vô tôn giáo, vô gia đình ), cho dù con người ấy là ai, dấn thân trong đường hướng nào. Thí dụ về bằng cấp, chúng ta than phiền về bằng giả , bằng mua, bằng thật mà lại học giả…

Tôi có người quen học tiến sĩ, hoàn cảnh không mấy khả giả nhưng anh học rất giỏi và sống

đủng đỉnh nhờ vào nghề viết bài thuê cho các vị học giả mong lấy bằng thật, kết quả là các ông tiến sĩ thuê viết luận văn này khi thời cơ đến, leo được lên ghế lãnh đạo, sẽ cho xã hội những sản phẩm ra sao, sẽ điều khiển các học viện, các viện nghiên cứu như thế nào !?!

Chúng ta đã từng được nghe các vị đi du học, du nhiều hơn là học, khi về cũng được kể là đã du học. Hoặc chúng ta cũng được nghe về các vị đi ra nước ngoài, bon chen ghi danh học một chương trình nào đó, về nước vênh vang bịp người khác cái mác tiến sĩ, xem ra thì chỉ là cái giấy chứng nhận có dự khóa vậy thôi. Cái đáng sợ là những tệ hại kiểu như thế không dừng lại ở bất cứ lãnh vực nào của xã hội chúng ta, nó len lỏi cả vào trong Giáo Hội !

Ông Đinh La Thăng, Bí Thư Thành Ủy thành phố, vừa có những phát biểu gây sóng gió trên các phương tiện truyền thông. Ông nói về “khát vọng đưa thành phố này trở lại vị trí số một” ( trang 1 và trang 2 báo Tuổi Trẻ ra ngày thứ tư 30 tháng 3 ), có nghĩa là thành phố này phải tiến lên dành lại danh hiệu “Sàigòn, Hòn ngọc viễn đông” của hơn 40 năm trước. Trước đó, ông có đề cập đến việc phải chấm dứt nạn cướp giật và lang thang ở thành phố này.  Báo Tuổi Trẻ ngay lập tức mở diễn đàn hiến kế để thực hiện ý muốn của vị Bí Thư. Sau khi suy nghĩ rất nhiều, tôi quyết định không hiến kế, vì nghĩ rằng kế của mình có hiến người ta cũng không dám thực hiện. Kế của tôi liên quan đến 3 mảng quan trọng của đời sống: Xã hội – Giáo dục – Y tế:

– Giao cho các tôn giáo quyền tự do làm công tác xã hội từ thiện, chắc chắn sẽ giảm bớt nạn

cướp giật, móc túi, và chấm dứt cảnh sống lang thang cơ nhỡ…

– Trả lại hệ thống giáo dục cho các tôn giáo được tham gia, trở về với cách thức miền Nam đã thực hiện trước năm 75, cộng thêm phần canh tân theo khuynh hướng hiện đại của các nước đang phát triển trong khu vực…

– Mời gọi các tôn giáo mở lại các cơ sở y tế từ phòng khám đến nhà thương, để các y bác sĩ gốc là các nam nữ Tu Sĩ, là Linh Mục có thể tham gia khám, chữa bệnh, đặc biệt chú ý đến người nghèo…

Tôi nghĩ họ không dám thực hiện nhiều điều ấy, vì vừa rồi có một vị giảng viên đại học tâm sự với tôi: “Con mới có like một bài trên facebook nói về việc ‘nuối tiếc một nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa’ thì hôm sau bị gọi lên Phòng Tổ Chức với lời nhắc nhở: lưu ý vấn đề nhạy cảm !”

Không dám nhìn sự thật, còn lâu mới đổi mới ! Thật đáng tiếc và đáng giận !

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

7.4.2016

Trung Quốc bác yêu cầu của Việt Nam, không rút giàn khoan 981

 Trung Quốc bác yêu cầu của Việt Nam, không rút giàn khoan 981

Tàu Trung Quốc xịt vòi rồng, không cho vào tàu Việt Nam tiến gần đến khu vực giàn khoan 981 hoạt động ngày 8/5/2014.

Tàu Trung Quốc xịt vòi rồng, không cho vào tàu Việt Nam tiến gần đến khu vực giàn khoan 981 hoạt động ngày 8/5/2014

08.04.2016

Trung Quốc hôm 8/4 bác yêu cầu lần thứ hai của Việt Nam trong năm đòi Bắc Kinh rút giàn khoan và hủy các kế hoạch thăm dò dầu khí tại các vùng biển chưa phân định rõ chủ quyền ở Biển Đông.

Giàn khoan Hải Dương 981 trị giá 1 tỷ đôla của Bắc Kinh từng là tâm điểm căng thẳng ngoại giao Việt-Trung hồi năm 2014 khi Bắc Kinh kéo vào hoạt động trong vùng biển Hà Nội nói thuộc chủ quyền Việt Nam, khơi mào các cuộc biểu tình bạo động bài Trung trên cả nước, khiến nhiều người bị bắt, bị tuyên án và dẫn tới vài trường hợp người Việt trong và ngoài nước tự thiêu phản đối Trung Quốc.

Việt Nam nói từ tối ngày 3/4, giàn khoan này di chuyển vào khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để tác nghiệp, nơi hai nước Việt-Trung đang đàm phán phân định lãnh hải.

Tại cuộc họp báo hôm qua 7/4, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Hải Bình, tuyên bố ‘Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ kế hoạch khoan giếng và rút ngay giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi khu vực này, không có thêm các hành động đơn phương làm phức tạp thêm tình hình và có những đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định ở Biển Đông’.

Ông Bình nói Việt Nam bảo lưu tất cả các quyền và lợi ích pháp lý đối với khu vực này ‘bằng tất cả các biện pháp hòa bình được luật pháp quốc tế cho phép để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp đó’.

Người phát ngôn cũng cho biết thêm rằng chiều ngày 5/4, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối.

Đáp phản ứng của Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay khẳng định công tác của giàn khoan 981 là hoạt động thăm dò thương mại bình thường nằm trong vùng lãnh hải không có tranh chấp thuộc chủ quyền của Bắc Kinh.

Không nêu đích danh Việt Nam, ông Hồng Lỗi nói ‘Chúng tôi hy vọng bên liên quan có quan điểm khách quan và hợp lý về vấn đề này’.

Hà Nội trong năm nay đã hai lần lên tiếng phản đối hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 ở Biển Đông, lần đầu hồi tháng Giêng, giữa bối cảnh ban lãnh đạo của Việt Nam thay đổi nhân sự mới.

Giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay bị chỉ trích là ‘nhu nhược, yếu ớt’ trước những sự lấn lướt ngày càng ‘hung hăng, ngang ngược’ từ Bắc Kinh, yếu tố góp phần làm gia tăng sự bất mãn và mất niềm tin nơi công chúng vào đảng và nhà nước Việt Nam.

Nhiều người trông chờ hành động kế tiếp của Việt Nam sau khi những yêu cầu và phản đối ngoại giao bị Trung Quốc bác bỏ.

Theo Reuters, AP.

Luật báo chí sửa đổi và tự do ngôn luận

Luật báo chí sửa đổi và tự do ngôn luận

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-08

000_Hkg9064924

Một người dân đang đọc báo đưa thông tin về Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội vào ngày 05 Tháng 10 năm 2013.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Sáng ngày 5 tháng 4 vừa qua, Quốc hội Việt Nam thông qua luật báo chí sửa đổi với 89% số phiếu tán thành. So với bộ luật cũ, luật báo chí sửa đổi có một số điểm mới như giữ nguyên 13 hành vi bị cấm trong bản dự thảo, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận được quy định cụ thể hơn, và đặc biệt là đề xuất “cấm nhà báo viết trái với quan điểm tờ báo trên mạng xã hội” đã không được đưa vào luật.

Với những thay đổi như thế, liệu luật báo chí sửa đổi có được xem là một tiến bộ về quyền tự do báo chí, ngôn luận ở Việt Nam hay không, và với bộ luật mới này, các cơ quan báo chí, nhà báo có được sự bảo vệ mạnh mẽ hay không?

Điểm lùi của Luật báo chí

Rất nhiều điểm mới trong luật báo chí vừa được thông qua sáng ngày 5 tháng 4 được cho là đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp 2013 về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin. Trong lần trả lời báo chí trong nước vào cuối năm ngoái, Thứ trưởng Bộ TT&TT Trương Minh Tuấn cũng từng nhấn mạnh tinh thần của dự luật rất tiến bộ, đáp ứng nhu cầu phát triển của báo chí và nhu cầu xã hội thông tin.

Tuy nhiên, không đồng tình với ý kiến này, blogger Trương Duy Nhất, người từng bị kết tội theo điều 258 và đã trả thẻ nhà báo cho biết, tinh thần tiếp thu của Luật báo chí sửa đổi so với những nội dung của dự thảo không được nhiều lắm. Đặc biệt, ông nêu ra một ví dụ cụ thể mà theo ông, đó là một điều phi lý.

“Ví dụ trước đây là nó không quy định cụ thể như thế, là cơ quan báo chí tiếp nhận, trách nhiệm phản ảnh lại ý kiến của bạn đọc, nhân dân. Nhưng bây giờ lại thòng thêm 1 câu là báo chí chịu trách nhiệm đăng tải trả lời những ý kiến góp ý phản biện của người dân phù hợp với tôn chỉ mục đích của tờ báo. Nghĩa là để ràng buộc một số tờ báo. Mà thế nào là phù hợp với tôn chỉ mục đích? Thì tuỳ theo từng tình huống người ta hiểu pháp luật thế nào thì người ta ứng xử khác nhau. Đó cũng là cách để hạn chế các báo chí đăng tải những phản hồi, ý kiến của người dân. Tôi cho đó là điểm lùi của luật báo chí sửa đổi chứ không phải là tiến bộ.”

Một điều đặc biệt, liên quan đến tôn chỉ của cơ quan báo chí đã được bà Nguyễn Thanh Hải, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đề nghị không đưa vào luật cấm trong dự thảo Luật báo chí sửa đổi, đó là nội dung cấm phóng viên, nhà báo không được sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền trái với tôn chỉ mục đích của cơ quan báo chí.

Tư duy của người soạn luật rất lúng túng trong việc làm thế nào để quản được những luồng mới. Người ta đưa vào nhưng có những cái viết lại không được.
– Nhà báo Trương Duy Nhất

Trước đây, khi trả lời phỏng vấn của báo giới trong nước về các giải pháp khắc phục, hạn chế tác hại của các trang mạng xã hội, mà điển hình là các trang blog nêu quan điểm cá nhân, ông Hà Minh Huệ, Phó chủ tịch thường trực hội nhà báo Việt Nam có đưa ra ý kiến là nên tăng cường vai trò, vị thế của cơ quan báo chí. Nhắc lại điều này, ông Trương Duy Nhất cho biết đó là một cách khống chế các nhà báo “theo luật”.

Tuy nhiên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy đây là quyền tự do ngôn luận của công dân đã được hiến định nên quyết định không thể đưa nội dung này vào Luật báo chí. Với ông Trương Duy Nhất thì ông cho rằng đây là một tín hiệu khả quan.

“Đó cũng là một tín hiệu tốt ít ỏi của luật báo chí sửa đổi.”

Thế nhưng đối với nhà báo Đoàn Vương Thanh, tức Nguyễn Thanh Hà, cựu phóng viên báo TTXVN thì ông không cho rằng Luật báo chí sẽ có một sự thay đổi tích cực.

“Cái gì thay đổi, chứ ở đất nước này nói chung, tôi tin chưa có gì thay đổi cả. luật báo chí cũng thế thôi. Và luật này luật khác, ra vẻ có thay đổi nhưng thực tế vẫn có những điều ràng buộc.”

Những điều ràng buộc mà nhà báo Đoàn Vương Thanh nói đến đã được bà Nguyễn Thanh Hải đề cập đến, đó là “Trường hợp thấy cần thiết phải quản lý những hoạt động trên, cơ quan báo chí có thể quy định nội dung này tại quy chế hoạt động của cơ quan báo chí đó.”

Lúng túng trong cơ chế

000_Hkg10195126-400

Một quầy bán báo lề đường Hà Nội ngày 16 tháng 7 năm 2015. AFP photo

Trong Luật Báo chí sửa đổi 2016 có đưa ra những qui định được cho là các hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí như: xuyên tạc phỉ báng chính quyền nhân dân, gây chia rẽ dân tộc, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm anh hùng dân tộc, tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời tư cá nhân…

Điều này có vẻ như mâu thuẫn với việc không đưa vào luật mới đề xuất cấm nhà báo viết trái với quan điểm của tờ báo mình làm việc trên mạng xã hội. Nói về điều này, nhà báo Trương Duy Nhất cho biết đây chính là điểm thể hiện sự lúng túng trong cơ chế soạn luật của nhà nước Việt Nam.

“Thực ra trong soạn thảo luật báo chí sửa đổi có nhiều lúng túng lắm. Lúng túng của cơ quan soạn luật trước tình thế báo chí, trước xu hướng phát triển báo chí nhiều hình thức mới mẻ như thế, thì nó đụng chạm, nó không kịp được xu thế như, người ta muốn xiết lại, người ta muốn quản lại. Tư duy của người soạn luật rất lúng túng trong việc làm thế nào để quản được những luồng mới. Người ta đưa vào nhưng có những cái viết lại không được.”

Cái gì thay đổi, chứ ở đất nước này nói chung, tôi tin chưa có gì thay đổi cả. luật báo chí cũng thế thôi. Và luật này luật khác, ra vẻ có thay đổi nhưng thực tế vẫn có những điều ràng buộc.
– Nhà báo Đoàn Vương Thanh

Chính vì vậy, mà ông nói rằng:

“Cho nên thực tế để đạt được những đồng lòng, tiếp nhận của anh em báo chí, cơ quan báo chí thì tôi nghĩ không đáp ứng được nhiều lắm. Lâu nay cũng thế, cách làm luật của mình hay theo cách viết lại chứ không phải sửa luật để cho cởi mới, cho báo chí dân chủ hơn đâu.”

Nhận định này cũng tương đồng với ý kiến của nhà báo lão thành Kha Lương Ngãi, cựu phóng Tổng biên tập báo SGGP, ông nói rằng:

“Đại hội đó họ thắng lợi của phe giáo điều, bảo thủ, 4 kiên định. Họ thắng lợi bằng bạo lực, gian lận. Họ quyết giành thắng lợi để họ tiếp tục độc quyền. Sau đại hội đến giờ họ thể hiện cái độc quyền ngày càng tệ hại hơn. Cho nên chúng tôi không muốn nói gì nữa. để xem họ làm thế nào, họ dẫn dắt đất nước này đi đâu. Từ trước giờ tôi cũng có ý kiến này ý kiến kia, cũng rất là tâm huyết, rất là tình cảm yêu thương nhưng bây giờ thấy là không ăn nhằm gì hết, họ không nghe gì cả.”

Và cũng không khác với nhận định của nhà báo tự do Phạm Chí Dũng trong lần trả lời giới truyền thông hải ngoại gần đây cho rằng “Nhưng với tinh thần Luật Báo chí như thế này, nhiều nhà báo nhà nước đã thất vọng, và tất nhiên giới báo chí độc lập càng thất vọng hơn vì tinh thần được coi là « tự do ngôn luận » đối với báo chí chỉ là khái niệm rất mù mờ, không rõ nghĩa.”

Luật báo chí mới sẽ bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm tới.

Một tình trạng đến hồi bất an

Một tình trạng đến hồi bất an

Sao thế nhỉ? Một chế độ hội họp liên miên, hết Đại hội 12 lại đến Quốc hội XIII họp phiên cuối cùng. Chỉ cốt lên ngai xuống ghế. Trong khi đó trong đời sống xã hội, sự hỗn loạn ngày càng tăng, nhìn đâu cũng thấy và nhìn mặt nào cũng trăm thứ chuyện, sục sôi như nước sắp vỡ bờ. Cứ y như một nước vô chính phủ, không còn ai cầm đầu, trong đó những lực lượng trang bị và có chức năng như công an lại đầu têu cho sự tự tung tự tác, muốn kéo đoàn lũ đến đâu thì kéo, đập phá gì cứ tha hồ. Người dân không còn cách nào khác là đành phải “chịu trận” vì công an sở tại đã làm ngơ, nghĩa là đồng lõa. Thế thì rồi đây bạo loạn bùng phát dân sẽ còn biết nhờ cậy ai? Hay là đất nước này chỉ cần mấy ông bà Bộ chính trị, vài trăm ủy viên trung ương và gia đình con cái tính mạng an toàn, không sứt mẻ gì là được, còn lại thân ai nấy lo, chết đâu chịu đấy; luật pháp có được thực thi hay không bất thành vấn đề?

Họp hành bầu bán liên miên mà đất nước cứ bất an, bạo hành cứ nghiễm nhiên thành một “phong tục”, kinh tế cứ lao dần xuống đáy, thực phẩm độc hại cứ tràn lan, rừng cấm cứ tự tiện phá để xây lâu đài, đất đai của dân cứ quy hoạch rồi cưỡng chế thoải mái, công viên ở thành phố vốn đã lấp hết sông hồ trở nên chật cứng vẫn cứ nhất quyết chiếm dụng để xây khách sạn, đâu đâu cũng bừa bãi và ô nhiễm, hễ bước chân ra khỏi ngõ là có thể mất mạng vì đủ thứ lý do lãng xẹt, ngồi trong nhà cũng bị đám chức năng kéo đến phá nhà…

Thì họp với hành để mà làm gì chứ?

Bauxite Việt Nam

“Tổ đặc nhiệm” ngân hàng Techcombank phá nhà dân

Phước Long

(PLO) – Mặc dù tòa án đang thụ lý vụ án, nhưng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vẫn dẫn theo “tổ đặc nhiệm” đến phá nhà dân. Lực lượng công an có mặt lại không xử lý, bỏ mặc tài sản của người dân bị xâm phạm trắng trợn.

clip_image001

Sự việc nói trên diễn ra tại số nhà 756 Quang Trung (phường Phú La, Hà Đông, Hà Nội). Theo ghi nhận của phóng viên, vào khoảng 10h30 sáng ngày 6/4/2016, một số nhân viên ngân hàng Techcombank đã dẫn theo một nhóm người với trang phục gần giống như lực lượng cảnh sát cơ động, trang bị đầy đủ dùi cui, xịt cay, xà beng đến ngôi nhà số 756 để phá cửa khi không có chủ nhân của ngôi nhà này có mặt.

Điều đáng nói, Công an quận Hà Đông và Công an phường Phú La có mặt ngay tại thời điểm đó nhưng lực lượng này chỉ có mặt một lúc rồi cùng nhau lên xe về. Bỏ mặc hiện trường cho nhân viên ngân hàng Techcombank và “tổ đặc nhiệm” tiếp tục phá nhà dân.

Trao đổi với phóng viên, ông Đặng Thế Minh, chủ nhân của ngôi nhà cho biết, đây không phải lần đầu tiên ngân hàng Techcombank dẫn theo “tổ đặc nhiệm” đến gây sức ép, phá nhà.

Trước đó, ngày 20/11/2015, nhân viên ngân hàng Techcombank cũng tổ chức hơn 30 người lạ mặt đến bao vây, dùng vũ lực để chiếm giữ và niêm phong nhà đất cùng toàn bộ tài sản của gia đình tại số 756 Quang Trung. Sự việc trên khiến người dân khu phố vô cùng hoảng loạn và làm tắc nghẽn giao thông trên đường Quang Trung nhiều giờ đồng hồ.

Cũng theo đơn tố cáo của anh Minh, vào hồi 10h ngày 23/12/2015, khi mọi người trong gia đình anh đang họp mặt trong nhà thờ gia đình (liền kề với số 756 Quang Trung) thì bất ngờ có nhiều người lạ mặt xông vào nhà riêng của anh minh.

clip_image002

“Tổ đặc nhiệm” do ngân hàng Techcombank điều động

Nhận được điện thoại của người nhà, anh Minh vội chạy về thì thấy anh Đỗ Quang Tùng là cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cùng nhiều người khác vào nhà mà không đưa ra bất cứ giấy tờ gì.

Theo những hình ảnh của người dân cung cấp, tất cả những người đi theo anh Tùng đều mặc đồng phục dã chiến màu xanh thẫm có chữ S.W.A.T, trang bị dùi cui điện, dùi cui cao su, lá chắn giống như của lực lượng cảnh sát cơ động.

Tiếp đó, anh Tùng và nhiều người khác lớn tiếng đuổi mọi người ra khỏi nhà số 756 Quang Trung (cũng là địa điểm kinh doanh của gia đình anh Minh).

Do nhà đang có giỗ cũng như lo ngại có việc bất ổn xảy đến với người già và trẻ nhỏ trong gia đình nên em trai anh Minh là anh Đặng Đô Thành đã bình tĩnh đề nghị đóng cửa hàng không tiếp khách. Khi anh Thành đang kéo cửa xuống, thì có 4, 5 người đi theo anh Tùng chặn lại, xô đẩy và dùng dùi cui điện, dùi cui cao su hành hung anh.

Bất ngờ bị đánh đau, anh Thành vội lớn tiếng kêu cứu. Thấy vậy, người nhà anh này là anh Đặng Như Cương cùng anh Minh xông vào can ngăn liền bị những người lạ đi cùng anh Tùng hành hung dã man bằng dùi cui. Anh Minh sau đó bị choáng ngất và được đưa vào Bệnh viện Đa khoa quận Hà Đông cấp cứu.

Khi xảy ra sự việc nói trên, tình trạng khu vực này trở nên rất hỗn loạn, có nhiều người tụ tập để xem làm tắc nghẽn giao thông trên đường Quang Trung (quận Hà Đông).

Sau khi hành hung người nhà anh Minh, anh Đỗ Quang Tùng và những người lạ mặt tiếp tục chiếm giữ trong nhà. Đến 10h15, lực lượng Công an phường Phú La nhận được tin báo đã có mặt thì anh Tùng và những người trực tiếp hành hung các anh Thành, anh Cương và Minh đã lên các xe bỏ đi. Ngay sau đó, vụ việc đã được Công an phường Phú La lập biên bản.

clip_image003

Thông báo số 93a/TBTL-TA của TAND quận Hà Đông về việc đang thụ lý vụ án

Theo tìm hiểu của PV, nguyên nhân sự việc là vào ngày 1/12/2010 vợ chồng anh Minh ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam Hợp đồng tín dụng số 10789/HĐTD/TH-TN/TCB-SGO.

Số tiền vay theo Hợp đồng là 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ); thời hạn vay 250 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu; lãi suất 17,5%/năm áp dụng cho đến ngày 31/3/2011.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đã xảy ra tranh chấp. Sau đó, phía Techcombank đã khởi kiện anh Minh tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông. Khi vụ việc tranh chấp đang được tòa án thụ lý thì xảy ra sự việc trên.

Trao đổi về vụ việc này, luật sư Trịnh Xuân Hải (Đoàn luật sư Thái Bình) cho biết: Khi vụ việc tranh chấp đang được tòa án thụ lý giải quyết, nghĩa vụ thanh toán tiền vay của bên vay chưa được tòa án xác định, thì đương sự không được tự ý hành xử trái pháp luật.

Việc làm của Ngân hàng Techcombank không những vượt quyền của tòa án, mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an ninh xã hội, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp của gia đình anh Minh về tinh thần, sức khỏe, nơi cư trú.

Như vậy, với những diễn biến như trên, việc tự ý đưa người đến nhà khách hàng để siết nợ của ngân hàng Techcombank có vi phạm pháp luật hay không? Báo PLVN sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này.

P.L.

Nguồn: P.L.

Nguồn: http://baophapluat.vn/ban-doc/to-dac-nhiem-ngan-hang-techcombank-pha-nha-dan-268937.html

Những vong linh tù cải tạo trại Ba Sao

Những vong linh tù cải tạo trại Ba Sao

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-04-07

 

Tấm bia thờ 626 tù cải tạo miền Nam chết ở Ba Sao, Hà Nam.

Photo by Pham Thanh Nghiên

Your browser does not support the audio element.

Ba Sao, nhà tù lớn ở Nam Hà, miền Bắc Việt Nam, nơi sau 30 tháng Tư 1975 nhiều sĩ quan và công chức miền Nam, mà chế độ mới gọi là tù cải tạo, đã qua đời trong những ngày tháng kham khổ nhọc nhằn nơi đây.

Một cựu tù chính trị Việt Nam hiện sống tại Pháp, đã nhắn với cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên:

Có một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà. Nghe nói tấm bia được đặt trong một ngôi chùa ở miền Bắc. Ngoài tấm bia ra còn có một am thờ những người tù này, được dựng ngay khu đất thuộc trại giam. Người làm tấm bia này là một cựu giám thị nhà tù Ba Sao. Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé.

Chính lời nhắn tha thiết “đi tìm các anh ấy nhé” đã thôi thúc cô Phạm Thanh Nghiên lên đường, tìm kiếm, nhìn thấy rồi trở về với cảm xúc thể hiện qua bài Ba Sao Chi Mộ:

Thực ra thì tôi có thông tin này từ mùa hè năm ngoái khi tôi chưa hết án quản chế. Nhưng vì tôi cần tìm hiểu thêm và sau đó hết án tù nhà, đi lại dễ dàng hơn là tôi đi để tìm hiểu sự thực về thông tin mà người anh đồng tù đã cung cấp cho tôi.

Và thực ra bước đường tìm kiếm cũng không quá là vất vả, tôi cũng đi một vài ngày. Đến bây giờ phải cám ơn Chúa cám ơn Phật vì có lẽ tôi là người may mắn để mà tìm đến địa chỉ ngôi chùa không chính xác. Tôi phải xin lỗi là những thông tin cụ thể hơn thì tôi không thể chia sẻ được vì lý do tế nhị cũng như an toàn an ninh cho những người cung cấp tin cho tôi. Điều này tôi cũng đã viết trong phần một của bài Ba Sao Chi Mộ, ngay cả tên của các nhân vật họ cũng yêu cầu tôi phải thay đổi. Họ sợ đến mức độ như thế nhưng trong sự sợ hãi đó thì họ cũng cứ cho mình thông tin, đấy là điều tôi cho rằng rất là đáng quí.

Một điều nữa là ngay như giới tính của viên giám thị cũng như tên chùa và tấm bia thì tôi cũng nói một cách chung chung thôi. Ngay cả điều này cũng để cho thấy mức độ tế nhị, thậm chí là nghiêm trọng, mà một vài người đánh giá rằng đây là chuyện bí mật. Nhưng những thông tin mà tôi đưa ra trong bài Ba Sao Chi Mộ là có thật.

Và cũng thật khó để có thể diễn tả hết tâm trạng, cô Phạm Thanh Nghiên kể tiếp, khi được chỉ cho thấy một tấm bia khiêm nhường tại một góc khuất trong căn  phòng linh của nhà chùa:

Họ sợ đến mức độ như thế nhưng trong sự sợ hãi đó thì họ cũng cứ cho mình thông tin, đấy là điều tôi cho rằng rất là đáng quí.
– Phạm Thanh Nghiên

Khi bước chân vào nhà linh tôi cũng không tránh được cái cảm giác hơi rờn rợn hơi sợ hãi một chút. Ban đầu thì rất khó tìm vì không có hình ảnh. Trong hình dung của tôi chắc tấm bia rất lớn, tôi cứ tìm kiếm tấm bia như trong trí tưởng tượng của mình thôi, nhưng khi vị sư tìm thấy và chỉ cho tôi, khi tôi ngước mắt lên nhìn thì lập tức hai hàng nước mắt của tôi ứa ra. Một tấm bia không có tên, chỉ có giòng chữ 626 người đã tử vong tại Ba Sao giai đoạn 1975-1988. Phải nói một cảm giác như mình vừa tìm thấy một điều gì rất là thiêng liêng. Như tôi nói trong bài viết, đó là những người tôi khẳng định tất cả đều là quân nhân cán chính từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa chứ không dính dáng gì đến những người cộng sản hay những người dân thường cả.

Tôi cảm tưởng như có một mối giao cảm, một mối dây liên hệ nào đó mang tính tâm linh giữa tôi, một con nhóc sinh sau năm ’75, với những người đã bảo vệ một chế độ mình đã từng hiểu lầm rằng đó là một chế độ xấu xa, chế độ gọi là ngụy. Tôi cảm nhận được sự thiêng liêng và sự ấm áp, nói thật tôi chưa bao giờ trải qua cái cảm giác như thế nên diễn tả bằng lời cũng rất là khó.

Lòng tốt vẫn còn…

Bằng những ngón tay run rẩy lập cập vì xúc động, cô Phạm Thanh Nghiên đã chụp được hình ảnh tấm bia rồi cất giữ nó như một bảo vật. Với cô, chuyện càng khó tin hơn nữa khi biết một trùm cai tù, tức quản giáo hoặc giám thị trại giam Ba Sao, Nam Hà, đã dựng tấm bia và một am thờ những người của bên kia chiến tuyến.

400

Những bình tro cốt của 14 tù cải tạo mang từ Ba Sao về một nhà thờ ở Sài Gòn. Hình do VAF cung cấp.

Theo lời vị trụ trì thuật lại với cô Phạm Thanh Nghiên, cách đây vài năm có một Phật tử đưa một cựu giám thị trại tù Ba Sao đến chùa. Người giám thị này trao cho sư một danh sách gồm 626 người tù đã chết trong trại Ba Sao từ 1975 cho đến 1988, ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong chùa để 626 vong linh này được hương khói tử tế.

Đây không phải ngôi chùa đầu tiên mà họ đến gõ cửa xin đặt bia. Trước đó, các chùa trước đều tìm cách thoái thác vì sợ. Nỗi sợ của những người tu hành là nếu giữ một danh sách toàn “sĩ quan ngụy” và công khai đặt tấm bia thì e chùa sẽ bị lắm phiền phức.

Được hỏi có cách nào liên lạc với người Phật tử và viên cựu giám thị trại giam Ba Sao, vị sư trả lời là rất khó vì sau khi làm xong tấm bia thì người quản giáo không bao giờ trở lại chùa, ngay cả người đưa viên giám thị đến cũng vắng bóng.

Về cái am thờ 626 người đã chết, vị sư cho cô Phạm Thanh Nghiên biết có nghe nói là nằm trong một khu đất thuộc trại giam Ba Sao nhưng chưa bao giờ đến thăm.

Chỉ người giám thị hoặc người Phật tử mới biết chỗ mà đưa tới, khẳng định của sư khiến cô Phạm Thanh Nghiên hiểu ra sự mịt mù của vấn đề. Cô vẫn gắng xin được xem qua danh sách 626 người tù đã chết nhưng sư nói rằng người trông coi sổ sách đi vắng nên hẹn cô hôm khác trở lại:

Lần khác tôi đến chùa thì sư đi vắng, tôi gọi điện thì thầy nhận ra giọng tôi ngay, thầy thông báo rằng rất tiếc vì chùa đã hóa đã đốt đi trong dịp rằm tháng Bảy lễ Vu Lan vì nghĩ rằng để cũng chẳng làm gì cả.

Vị sư báo tin xong thì vội vàng gác máy, để lại một Thanh Nghiên với cảm giác hụt hẫng cùng cực:

Tôi nghĩ rằng dù như thế nào thì vẫn có phần trăm nào đó của sự hướng thiện trong con người của người cai tù này. Mặc dù cái xã hội cái ác được lên ngôi thì cái thiện vẫn cứ nẩy mầm.
– Phạm Thanh Nghiên

Tôi thấy mọi sự trước mắt mình như tối sầm lại bởi vì tôi đã rất là mong chờ đến ngày hẹn để đến lấy danh sách. Chưa bao giờ tôi có cảm giác thất vọng kinh khủng khi đã không hoàn thành cái mục tiêu, cái nhiệm vụ mà mình đặt ra cho chính mình. Đối với họ thì để chẳng làm gì cả nhưng đối với chúng ta thì nó là vô giá. Tôi tin chắc một điều nó sẽ là một bằng chứng lịch sử sau này về những đau thương mà người dân Việt Nam nói chung cũng như những cựu quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng bị bách hại. Nói thật là trong phút chốc đó tôi cảm thấy mọi sự trước mắt mình như sụp đổ.

Khi tôi trấn tĩnh lại thì tôi không tin, tôi không tin rằng cái danh sách ấy đã bị đốt đi. Thời gian tới tôi sẽ vẫn cố gắng để có được cái danh sách đó trong khả năng có thể. Nếu như họ cứ khăng khăng thì tôi không làm cách nào được nhưng tôi vẫn cứ hy vọng.

Con số 626 tù cải tạo miền Nam chết vì bệnh tật, đau khổ và đói khát trong trại tập trung Ba Sao ở Nam Hà trên thực tế có thể cao hơn. Cựu quân nhân miền Nam Nguyễn Đạc Thành, năm 1979 từ trại 9 Yên Bái trên biên giới phía Bắc được chuyển xuống trại tù Nam Hà, gọi là Ba Sao:

Trại Ba Sao chia ra nhiều khu, khu A dành cho cấp tướng, cấp bộ trưởng hay tổng trưởng. Khu B dành cho sĩ quan cấp tá, khu C dành cho tù hình sự.

Trại Ba Sao gọi là khó khăn nhất, hắc ám nhất của công an. Nói tới Ba Sao là người miền Bắc đã rất là sợ. Con số 626 có thể còn hơn nữa chứ không ít hơn đâu bởi vì việc quản lý ăn uống rất khó khăn, không được nấu nướng hay là gì cả cho nên anh em kiệt sức rất nhiều, binh hoạn chết chóc đương nhiên xảy ra. Trại này rất lớn, còn có 3 cái nghĩa địa nữa và con số tù chết có lẽ là hơn số 626 đó rất nhiều.

Họ được chôn ở đâu?

Tuy nhiên, vẫn lời ông Nguyễn Đạc Thành, phần đông tù cải tạo không chết trong trại Nam Hà mà chết tại trại Mễ. Trại Mễ nằm trên một khu vực có tên là Cánh Đồng Mễ, chạy từ Nam Định ra Phủ Lý, nơi những tù bị bịnh từ Ba Sao được chuyển ra mà nếu chết thì được chôn tại đây.

400-1

Danh sách 126 người chết tại trại tập trung Ba Sao. Hình do VAF cung cấp

Năm 2007, sau khi đã định cư tại Hoa Kỳ, ông Nguyễn Đạc Thành sáng lập VAF Sáng Hội Việt Mỹ, vận động chính giới Hoa Kỳ cũng như giới chức Việt Nam để xin về bốc mộ đồng đội chết trong những trại tập trung như Làng Đá, Ba Sao và những nơi khác.

Tôi đã đến Cánh Đồng Mễ và đã thấy cảnh hoang tàn ở đó rồi. Người ta cắt một phần của cánh đồng nghĩa địa này bán cho một công ty hóa chất.

Năm 2009, con của ông trung tá Cao Kim Chẩn chết tại Nam Hà, em Cao Kim Minh, đã ra ngoài Nam Hà để bốc mộ cha. Số mộ của ba em là 49, em gởi cho tôi cái danh sách 126 tù cải tạo tại Cánh Đồng Mễ này. Sau đó tôi lập tức ra Nam Hà, đi tìm cái nghĩa địa trên Cánh Đồng Mễ này.

Song song đó thì tôi được quen biết với con của đại tá cảnh sát Tôn Thất Dẫn. Chị Trinh con của đại tá Dẫn đã đi ra ngoài trại Nam Hà để xin bốc mộ cha, trại đã chỉ ra cái nghĩa địa ở Cán Đồng Mễ.

Cô ấy ra ngoài nghĩa địa thì mới thấy chính quyền địa phương đã cắt một phần nghĩa địa để bán cho công ty hóa chất. Tại đây cô hỏi thì ban giám đốc công ty hóa chất cho biết họ đã bốc tất cả những ngôi mộ trong phần đất của họ, mỗi một hài cốt bỏ vào trong một cái hũ sành.

Cần biết vì có cả mộ thường dân trong nghĩa địa của Cánh Đồng Mễ nên những cái tiểu sành đựng hài cốt tù cải tạo được đánh dấu riêng và được chôn trong một ngôi mộ chung.

Từ Sài Gòn, chia sẻ với Thanh Trúc về việc liên quan, con gái cố đại tá cảnh sát Tôn Thất Dẫn cho biết trong hai mươi mấy cái tiểu sành chị tìm thấy trên Cánh Đồng Mễ và đưa qua xét nghiệm thì 14 cái được xác nhận là hài cốt tù cải tạo, trong đó một cái là hài cốt thân phụ của chị.

Chị Trinh đã xin phép đưa tất cả 14 hũ hài cốt này về Nam, an vị trong một nhà thờ ở Sài Gòn.

Đó là những chi tiết về quân dân cán chính miền Nam đã nằm xuống tại trại tù Ba Sao ở miền Bắc sau năm 1975. Không ai rõ con số 126 người xấu số ở Ba Sao mà VAF Sáng Hội Việt Mỹ thu thập được có nằm trong danh sách 626 người tù tử vong Ba sao mà cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên mong muốn tìm ra hay không.

Tại sao một giám thị Ba Sao lại tìm đến một ngôi chùa để lập bia thờ 626 vong hồn tù cải tạo chết trong trại, cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên nói rằng điểm duy nhất cô có thể lý giải là:

Không có lý do gì để người giám thị làm như vậy cả, chưa kể tính chất nhạy cảm và nguy hiểm nữa. Lý giải bằng tâm linh thì tôi cho rằng có thể có một biến cố nào khiến vị cai tù này làm được cái việc như thế. Tôi nghĩ rằng dù như thế nào thì vẫn có phần trăm nào đó của sự hướng thiện trong con người của người cai tù này. Mặc dù cái xã hội cái ác được lên ngôi thì cái thiện vẫn cứ nẩy mầm.

Trả lời câu hỏi tương tự, cựu tù chính trị Nguyễn Đạc Thành, giám đốc VAF Sáng Hội Việt Mỹ, từng về Việt Nam bốc mộ và cải táng hơn 500 bộ hài cốt tù cải tạo miền Nam từ Nam ra Bắc, nêu thí dụ hiếm hoi về một cán bộ mà ông dấu tên, một người có lòng mà ông và bạn đồng tù không thể quên khi còn ở trại 9 Yên Bái:

Tôi cảm nhận được sự thiêng liêng và sự ấm áp, nói thật tôi chưa bao giờ trải qua cái cảm giác như thế nên diễn tả bằng lời cũng rất là khó.
– Phạm Thanh Nghiên

Trong thời gian ở tù thì rất nhiều quản giáo và nhiều vệ binh rất tàn ác nhưng cũng có một vài vị có lương tâm. Tôi nói thí dụ một cán bộ ở trại 9 đã khóc khi thấy chúng tôi bị giam cầm một cách khắc nghiệt như thế này. Ông đã lén cho chúng tôi đào trộm sắn để ăn để có thể hồi sức lại.

Cái thứ hai nữa là khi mà ông chuyển chúng tôi về trại giam Nam Hà thì ông quay mặt vào tường ông khóc. Tôi nói cái này chắc chắn anh em trong trại 9 không ai phản đối hết, ông đã thương và che chở chúng tôi, chúng tôi đã phục hồi lại được ở trại 9 để về Nam Hà ở tù tiếp.

Theo tôi nghĩ người quản giáo đó đã làm một việc rất nguy hiểm, nếu bị phát giác họ sẽ bị mất việc. Đó là tình cảm của riêng họ đối với anh em tù cải tạo mà thôi, tôi nghĩ là có chứ không phải không có.

Đích xác bao nhiêu người tù cải tạo miền Nam đã bỏ mạng trong trại Ba Sao ở Nam Hà nói riêng là bài toán chưa có đáp số. Chỉ biết thầm lặng cảm ơn những tấm lòng nhân ái từ người quản giáo nào đó ở Ba Sao, của vị sư thầy nào đó ở một ngôi chùa nhỏ ngoài Bắc mà có ngày cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên sẽ đưa quí vị cũng như Thanh Trúc đến như đã hứa.

Xin hãy cùng Thanh Trúc cầu xin mọi điều bình an đến cho những người có trái tim nhân hậu.

Bài văn điểm 10 của HS Đà Nẵng về nghịch cảnh trần gian khiến người ta buộc phải suy ngẫm

Bài văn điểm 10 của HS Đà Nẵng về nghịch cảnh trần gian khiến người ta buộc phải suy ngẫm

“Cô sẽ ghi vào nhật ký đời đi dạy của mình về bài viết này với thật nhiều cảm xúc. Cô cảm ơn em”. Đó là lời chia sẻ rất tình cảm của cô giáo dạy văn Nguyễn Thị Châu dành cho Nguyễn Thị Cúc – học sinh lớp 12/11 – trường THPT Nguyễn Trãi (Đà Nẵng).

bai-van-diem-10-ve-nghich-canh-tran-gian

Bài viết được thực hiện bởi đề bài: “Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng bạo lực gia đình trong xã hội hiện nay”. Trong phần chấm điểm, cô Châu nhận xét: “Bài viết đáp ứng được yêu cầu của đề bài, giàu sự sáng tạo, có nhiều ý sâu sắc, thể hiện sự trưởng thành trong suy nghĩ và nhận thức xã hội. Còn mắc lỗi diễn đạt, chính tả nhưng không nhiều”. Cô giáo Châu đã chấm điểm bài văn được chấm “9+1=10” bởi lý giải: “Bài viết còn mắc lỗi về chính tả nên tôi cho 9 điểm, nhưng lại cộng thêm 1 điểm về sự sáng tạo, độc đáo, mới lạ”. Được biết, đây cũng là điểm 10 đầu tiên cô Châu chấm trong suốt 15 năm dạy học.

Sau đây bài văn của học sinh Nguyễn Thị Cúc được cô giáo Nguyễn Thị Châu – giáo viên dạy Văn trường THPT Nguyễn Trãi (Đà Nẵng) chia sẻ. Bài viết như một sự cảnh tỉnh, và khiến người đọc buộc phải suy ngẫm về những đau đớn giữa cuộc đời này:

“Sao anh lại đánh em thế này… đừng đánh em nữa anh ơi!”

Mới chiều hôm qua đây thôi, trên đường đi học về tôi gặp một cảnh tượng thật đau lòng, một người đàn ông đánh tới tấp vào mặt, lưng một người phụ nữ. Vừa cố chống chọi với cơn khát bạo hành của chồng, chị vừa khóc lóc van xin: “Sao anh lại đánh em thế này… đừng đánh em nữa anh ơi!”. Tôi hơi sững người, nhưng cũng không lấy làm lạ vì đã từng chứng kiến cảnh như thế này nhiều lần. Ấy thế mà lâu nay tôi lại nghe người ta nói rằng: “Gia đình là nơi để yêu thương”.

Đã trôi qua một khoảng thời gian khá dài tôi đã sống, đã làm, đã ra đi… và tìm tòi những minh chứng cho điều mình nghe thấy. Thế rồi, lại đắng lòng biết mấy, khi tôi chợt nhận ra thời gian càng quay nhanh thì tình người cũng dần tan biến. Cuộc sống vô tâm làm nguội lạnh tình cảm trong trái tim mỗi người. Xã hội đổi thay và lòng người cũng dần thay đổi, mọi tính toán thiệt hơn trong cuộc sống làm mất đi những vẻ đẹp tự nhiên vốn có, hạnh phúc thì ít nhưng đắng cay lại nhiều, bao nhiêu mảnh đời bất hạnh vì cuộc sống gia đình không hòa thuận, thậm chí tan vỡ, và những hiểm nguy luôn rình rập… Tôi cười gượng: “Đấy! Một thảm họa hay nghịch cảnh trần gian?” Quá xót xa, tôi căm ghét và lên án những hành động tàn ác này – bạo lực gia đình.

Ở cõi vô thường này mấy ai còn lạ lẫm với khái niệm “bạo lực gia đình”, nó đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong chính cuộc sống của mỗi người chúng ta. Bạo lực gia đình, một cụm từ ngắn gọn, chỉ cho những hành động độc ác, vô nhân tính, vô đạo đức, không còn nhân phẩm của một số người trong xã hội, hành vi đó xảy ra trong phạm vi gia đình, giữa các thành viên với nhau. Không những ở Việt Nam nói riêng mà nó bao gồm cả toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia thuộc Châu Phi. Hằng năm trên thế giới, số người chết và bị thương vì loại tệ nạn này không ngừng tăng lên. Thật đau đớn biết bao cho những điều chúng ta đã thấy. Và tôi nghĩ, có hay không? Ở đâu? Cho tôi xin hai chữ công bằng.

Gần đây, nổi cộm trên các sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng là các vụ thương tâm về bạo hành trẻ nhỏ khiến người xem không ngừng suy nghĩ. Cách đây vài ngày, dư luận người Việt không khỏi xôn xao và cảm thương cho cháu bé 15 tháng tuổi ở TP.HCM bị chính cha mẹ mình đánh chấn thương sọ não. Một sự thật ngỡ ngàng khiến người xem bất bình khi thủ phạm lại quá thản nhiên cho rằng đó là “chuyện bình thường”. Tôi như nghẹn ứ lồng ngực khi nghe người mẹ trả lời câu hỏi của phóng viên nhà báo: “Nó bị té xe mà!”. Một lời nói lạnh lùng tới tận xương tủy, tôi tê buốt thân mình, đấy cũng gọi là mẹ sao? – người mang nặng chín tháng mười ngày, tôi tự hỏi. Hình như là tôi đang khóc, nhưng nước mắt tôi không rơi… là vì tôi đang lo cho số phận, cho tương lai mịt mù của đứa trẻ này.

Cùng trên tuyến đường chạy dọc vào miền Nam yêu quý, quanh năm ruộng đất tốt tươi, cò bay thẳng cánh, vẫn còn hiện lên trên nét mặt của mỗi người dân Hậu Giang thôn quê nghèo một nỗi bang hoàng như cắn xé tâm can khi được ai đó hỏi về chuyện cậu học sinh cấp 1, N.V.T bị cha và mẹ kế đánh gãy xương sườn, nhốt vào chuồng chó 3 ngày không cho ăn. Nói đến đây tôi không còn kìm lòng mình được nữa, sự chua chát phủ lên trong từng hơi thở của mình. Tôi tự hỏi tại sao lại thế? Những người làm cha mẹ đó liệu họ có cảm thấy đớn đau khi hành hạ con cái mình không? Hay vì do em lỡ mang số kiếp con riêng để “đến đây” làm người?

Chuyện của những thiên thần nhỏ chỉ là một nốt trầm trong bản nhạc bạo lực bay bổng, còn những nốt cao luôn vút lên với biết bao bi kịch. Hạnh phúc gia đình vỡ tan, con cái gặp nhiều bất hạnh… Sinh ra với thân phận phụ nữ ai không mong gặp được người chồng yêu thương mình. Cảnh cuộc sống hạnh phúc viên mãn luôn là niềm ước ao của bao cô gái trẻ. Khi tình yêu thăng hoa, niềm vui ấy sẽ dần lớn theo năm tháng nhưng có ngờ đâu nó lại trở thành địa ngục. Tình yêu trên đời vốn là ích kỉ, nhưng sự độc đoán, cổ hủ lại khiến con người ta trở nên vô cảm, một khi sự ghen tuông nổi dậy thì tình yêu đẹp đó dù được xây dựng trong bao nhiêu năm cũng trôi vào tro bụi. Đấy là tình cảnh chung của bao chị em phụ nữ đang phải gánh chịu.

Chuyện chị H. ở Nghệ Tĩnh là một minh chứng nóng lên cho hành vi này. Vì quá ghen tuông theo kiểu mù quáng, người chồng hiền từ đức độ bao nhiêu năm chung sống đã không có cảm giác run sợ khi dùng dao xẻo thịt vợ. Một hành động man rợ đến kẻ điên cũng phải khiếp sợ. Tôi thường nghe mấy anh thi nhân vẫn hay ví von rằng “phụ nữ như đóa phù dung”. Nói đến phụ nữ ai cũng nghĩ ngay đến sự hiền lành, đức độ, mỏng manh và xinh đẹp, đòi hỏi ai có được cũng phải nâng niu và bảo trọng. Nhưng cuộc đời thì nào như tác phẩm văn học, còn lắm những đắng cay, tủi hờn mà biết bao “đóa phù dung” phải chịu.

Hôm qua tôi đọc báo, lang thang trên các dòng tin mạng, tôi thấy tái tê cõi lòng khi đọc tin một chị tên H. ở Nam Định bị chồng đánh đập, hành hạ dã man, dùng kim tiêm đâm vào vùng kín. Người đàn ông vũ phu ấy còn bắt vợ mình ăn phân lợn… bây giờ khuôn mặt chị đã biến dạng qua nhiều đòn tra tấn dã man của chồng. Trước cơ quan chức năng chị chỉ ngậm ngùi khóc trong đớn đau và tức tưởi: “Là vì con, nếu tôi ra đi con tôi ba đứa nheo nhóc làm sao qua cảnh cơ hàn…”. Lại thêm một mảnh đời bất hạnh. Cuộc sống nào cho chị hạnh phúc đây? Con đường nào sẽ mang lại tình yêu và tiếng cười cho chị và các con, vẫn là một ẩn số thật dài…

Tạm gác lại những câu chuyện bạo hành gia đình của nước mình, mới đây trên trang mạng xã hội Facebook có một người đàn ông nickname là Phi Nhi. Người đàn ông này đã đánh đập đứa con 2 tuổi rồi khoe trên trang cá nhân của mình. Sự hận thù người vợ lố lăng đã khiến ông trở nên tàn độc với mọi thứ, kể cả đứa con nhỏ bé. Ông đánh con mọi lúc, mọi nơi có thể. Nhìn cậu bé qua những bức hình với thân mình bầm tím, máu me đầy người… nhưng lại được chính bố mình đăng tải trên mạng mà lòng se xót.

Giấc mơ định cư ở nước ngoài của người Việt Nam

Giấc mơ định cư ở nước ngoài của người Việt Nam

Hòa Ái, phóng viên RFA
2016-04-07

Chiếc tàu Cap Anamur 2 cập cảng Hamburg năm 1986 với 286 thuyền nhân Việt Nam trên tàu.

Photo courtesy of wdr.de

Your browser does not support the audio element.

Kể từ khi chiến tranh kết thúc vào cuối tháng 4 năm 1975 cho đến nay, đa số người dân trong nước vẫn luôn ôm ấp và thực hiện giấc mơ được định cư ở nước ngoài. Mới đây nhất, Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị Chính phủ Việt Nam phải làm cho đất nước thực sự trở thành nơi đáng sống chứ không phải muốn ra đi. Hòa Ái sơ lược các làn sóng di dân của người Việt suốt hơn 4 thập niên qua cũng như tìm hiểu nguyên nhân vì sao giấc mơ này vẫn còn đó dù chính quyền Hà Nội luôn cho rằng Việt Nam độc lập, ổn định và phát triển.

Hiện nay nhiều trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi, một bộ phận cán bộ, công chức về hưu hay đương chức cũng tìm cách cho mình hay con cháu mình định cư ở nước ngoài.
– Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa

Theo số liệu thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho đến cuối năm 1995, có khoảng gần một triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi và ước chừng phân nửa trong số này bị thiệt mạng trên đường vượt biên. Cuộc vượt thoát trốn chạy chế độ cộng sản của người Việt trong 2 thập niên đầu tiên kể từ khi chiến tranh kết thúc đã gây chấn động dư luận thế giới và Hoa Kỳ cũng như các quốc gia Tây Âu dang tay đón nhận những người Việt may mắn còn sống sót trong hành trình tìm tự do của họ. Từ cuộc di dân mang tính lịch sử này dẫn đến nhiều đợt di dân của vài triệu người Việt khác suốt 4 thập niên qua theo chương trình bảo lãnh đoàn tụ gia đình.

Bên cạnh làn sóng di dân vừa nêu, còn có các làn sóng di dân khác của người Việt được dư luận trong và ngoài nước biết đến; bao gồm Chương trình tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích, gọi tắt là Chương trình H.O do Hoa Kỳ bảo trợ khoảng hơn 200 ngàn cựu nhân viên và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bị 3 năm tù trở lên cùng thân nhân. Ngoài ra, có khoảng 100 ngàn trẻ lai có cha là công dân Hoa Kỳ và gia đình sang Mỹ định cư theo chương trình nhân đạo có tên “Chương trình con lai Mỹ”.

Một làn sóng di dân khác nữa của người Việt trong 4 thập niên mà ngày càng có chiều hướng gia tăng mạnh đó là cuộc trốn chạy xin tị nạn của du học sinh và công nhân xuất khẩu lao động khi khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Số liệu không chính thức Đài ACTD thu thập được vào thời điểm đầu thập niên 1990 có khoảng 300 ngàn người sống rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Đông và Tây Đức… Số liệu mới nhất cho thấy nhiều gia đình ở các quốc gia này gồm đủ cả 3 thế hệ, trong đó có gia đình lên đến 80 thành viên.

Sau khi Chính phủ Hà Nội áp dụng chính sách “Đổi mới” vào năm 1986 theo cơ chế “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, xã hội Việt Nam thay đổi thông thoáng hơn trong nhiều lãnh vực, đời sống người dân được thoải mái hơn; thế nhưng vẫn còn có nhiều người Việt muốn định cư ở nước ngoài và họ tìm mọi phương cách ra đi hợp pháp.

Một làn sóng di dân đặc biệt gây chú ý trong dư luận hơn 2 thập niên qua phải kể đến trường hợp hàng trăm ngàn phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc để ra đi có sự đổi đời, nôm na gọi là “Cô dâu Việt”. Và còn một làn sóng di dân âm thầm mà Nhà nước Việt Nam gọi là “hiện tượng chảy máu chất xám” trong các thập niên vẫn là vấn đề nan giải cấp quốc gia như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa phát biểu trong buổi họp Quốc hội mới đây, vào sáng hôm mùng 1 tháng 4, rằng:

Những người vượt biển tìm tự do

Những người vượt biển tìm tự do

“Hiện nay nhiều trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi, một bộ phận cán bộ, công chức về hưu hay đương chức cũng tìm cách cho mình hay con cháu mình định cư ở nước ngoài.”

Tính đến năm 2012, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cho biết có hơn 100 ngàn du học sinh Việt Nam học tập và làm việc ở 49 quốc gia, trong đó có đến 90% du học tự túc và nhiều người trong số họ đã không về nước. Câu hỏi đặt ra là hơn ai hết, họ sẽ có điều kiện sống tốt tại quê nhà nhưng vì sao không trở về mà lại chọn định cư ở nước ngoài? Để trả lời câu hỏi này, Đài RFA tiếp xúc với một số trí thức trẻ, những người quyết định tìm cơ hội ở lại sinh sống và làm việc nơi quốc gia họ đã từng du học, và được họ cho biết không có sự lo lắng nào về đời sống kinh tế nhưng môi trường làm việc ở Việt Nam sẽ rất khó thích nghi, đặc biệt đối với những người làm việc trong lãnh vực khoa học. Từ Anh Quốc, Tiến sĩ An Hà nêu lên quan điểm của mình vì sao không trở về nước:

“Đối với những người nghiên cứu khoa học thuần túy thì việc về nước đúng là lãng phí. Bởi vì nghiên cứu khoa học cần sáng tạo, cần nghĩ điều người khác không dám nghĩ, làm những điều người khác chưa dám làm. Tuy nhiên ở nước mình thì người nghĩ những điều người khác không dám nghĩ và làm những việc người khác không dám làm thì khó lắm. Nói chung guồng máy không hoan nghênh những người dám nghĩ dám làm như thế. Nghiên cứu khoa học thì ở đâu cũng có cái hay và có cái dở nên nói gọi là khác biệt. Không phát huy được trong công việc và suy nghĩ khác cách suy nghĩ thông thường của Việt Nam nên khó hòa hợp và hội nhập, không còn phù hợp với môi trường đó nữa.”

Là người có cơ hội tiếp xúc nhiều với giới trí thức Việt Nam thuộc thành phần di dân của “hiện tượng chảy máu chất xám”, GS. TS. Nguyễn Văn Tuấn, Giảng viên cao cấp tại Đại học New South Wales, ở Úc, nói với Đài ACTD ông nhận được rất nhiều chia sẻ từ giới trí thức cho đến những gia đình trung lưu tại Việt Nam cho biết họ muốn định cư ở nước ngoài vì tương lai tươi sáng hơn cho bản thân cũng như con cháu được sống trong xã hội dân chủ văn minh và pháp quyền. GS. Nguyễn Văn Tuấn kể lại:

“Tựu trung lại hầu như những người tôi tiếp xúc, ai cũng quan tâm về sự tụt hậu của đất nước mình. Họ so sánh với Thái Lan, Hàn Quốc và Singapore… Họ nói ‘từ năm 75, Việt Nam đâu khác các nước đó gì đâu; thế mà chỉ 40 năm qua mình tụt hậu so với họ quá xa, thậm chí hàng trăm năm.’ Và họ cảm thấy tuyệt vọng, bất lực vì không có cách gì để đóng góp giúp đất nước vươn lên.”

Chính phủ Việt Nam vẫn chưa thể tìm ra giải pháp hiệu quả để thu hút người tài trở về nước hay ngăn chặn, làm giảm thành phần trí thức và những gia đình di dân không phải vì tiền mà vì cảm thấy không vui, không an toàn về pháp lý, các quyền tự do dân chủ không bảo đảm đầy đủ và lo sợ đất nước bị lệ thuộc nên phải ra đi.

Đối với tầng lớp người dân có hoàn cảnh nghèo khó thì được ra nước ngoài dù trong thân phận xuất khẩu lao động, làm ô sin hay cô dâu bất đắc dĩ… vẫn là một giấc mơ đổi đời và họ sẵn sàng chớp lấy một khi có cơ hội dù phải đánh đổi bất chấp thứ gì như những đồng bào của họ từng dám liều chết hơn 40 năm trước đây khi đặt chân lên thuyền hướng ra biển cả.

44 sinh viên kiến nghị lên tòa Hà Nội

 44 sinh viên kiến nghị lên tòa Hà Nội

AFP

Nhiều phiên xử công khai của Tòa án Hà Nội ngăn chặn người dân tham dự

44 sinh viên Đại học Luật Hà Nội ký tên yêu cầu Tòa án Hà Nội “chấm dứt ngăn cản người dân dự các phiên tòa công khai”, đơn của các sinh viên viết.

Trong đơn nhắc lại “Điều 15, Bộ luật Tố tụng Dân sự, điều 17 Luật Tố tụng Hành Chính quy định việc xét xử tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do các Bộ luật này quy định”.

“Chúng tôi không thể hiểu nổi là từ lúc nào Tòa án nhân dân Hà Nội lại ra những quy định trái Hiến pháp, trái pháp luật và bắt sinh viên Luật phải tuân theo” – Những sinh viên ký tên vào đơn viết.

Trước đó, một nhóm luật sư tại Hà Nội cũng có yêu cầu này gửi đến Tòa án Hà Nội với nội dung tương tự “những sinh viên luật, cử nhân luật trẻ cần được tham dự các phiên tòa để có thêm tư liệu, thực tế phục vụ quá trình học tập, nâng cao chuyên môn nghề nghiệp.”

Nói với BBC Tiếng Việt qua điện thoại từ Hà Nội, Trương Thị Hà – một trong 44 sinh viên ký tên vào đơn kiến nghị cho biết “muốn mọi việc được giải quyết sớm” và cô “không muốn bình luận gì thêm”.

Trên Facebook cá nhân, luật sư Trần Vũ Hải, một trong những người thuộc nhóm luật sư viết đơn kiến nghị, bình luận về sự việc các sinh viên luật thực hiện: “Một nữ sinh viên luật 22 tuổi đại diện 44 sinh viên luật tại Hà nội đã gửi thư yêu cầu Chánh án Toà án Hà nội chấm dứt hành vi vi hiến của Toà án này và tiếp các sinh viên với tư cách công dân theo luật tiếp công dân. Liệu ông Chánh án lại lẩn tránh với lý do “bận việc”‘và bận ” ứng cử đại biểu Quốc hội”?”

‘Văn bản pháp lý hay’

Luật sư Lê Văn Luân – một luật sư trẻ đang tự ứng cử tại Hà Nội – nói về sự việc này trên trang cá nhân của ông: “Cách học, cảm thụ luật pháp nhanh nhất là nhìn vào cuộc sống, đánh giá chúng và nếu nó sai trái, hãy lên tiếng, đó là cách vận dụng, thấu hiểu luật pháp một cách tốt nhất mà không trường lớp nào dạy được các bạn.”

Trả lời BBC Tiếng Việt, luật sư Lê Văn Luân nói, ông cho rằng việc các sinh viên viết đơn kiến nghị này “Theo tôi là chưa bao giờ có”.

Ông Luân cho rằng đây là “một văn bản pháp lý rất hay”.

“Và đây cũng là cách để các bạn sinh viên bảo vệ chính các bạn và nghề nghiệp của các bạn, và đây cũng là cách để các bạn học.” – Ông Luân nhận định.

AFP

Tại phiên xử blogger Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), nhiều người dân và một dân biểu Đức không được tham dự

Trong thời gian vừa qua, tại nhiều vụ xử công khai tại Tòa án Hà Nội, người dân bị ngăn chặn tham dự.

Gần đây nhất, phiên xử công khai như vụ án Anh Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh, nhiều người dân, gồm cả dân biểu Đức đến cũng bị ngăn chặn và phải đứng bên ngoài phiên tòa.

Những sinh viên luật viết đơn kiến nghị cũng “đề nghị ông chánh án Tòa án nhân dân Hà Nội bố trí sớm nhất một buổi tiếp công dân” để họ phản ánh nội dung yêu cầu.