Gần 4.000 trường hợp cấp cứu do tai nạn giao thông trong hai ngày Tế

 RFA

2024.02.11

Đường phố Hà Nội hôm 5/2/2024, dịp cận Tết Nguyên đán (minh hoạ)

 AFP

Các bệnh viện ở Việt Nam tiếp nhận 3.782 trường hợp tai nạn giao thông trong hai ngày 30 và mùng 1 Tết vừa qua, 1.500 người phải nhập viện điều trị.

Báo Nhà nước dẫn thông tin từ Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết số người nhập viện do tai nạn giao thông dịp Tết năm nay cao hơn so với con số 3.318 ca trong năm ngoái.

Theo số liệu từ Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong hai ngày mùng 1 và mùng 2 Tết, số tai nạn giao thông trên cả nước là 161 vụ khiến 49 người chết và 196 người bị thương.

Dịp Tết cũng là dịp cảnh sát giao thông gia tăng tuần tra phát hiện người có nồng độ cồn trong hơi thở nhưng vẫn điều khiển phương tiện giao thông. Theo thống kê được truyền thông Nhà nước đăng tải, trong ngày mùng 2 Tết (tức 11/2), cảnh sát giao thông trên cả nước đã phát hiện, xử lý hơn 7.800 trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông, trong đó có gần 4.000 tài xế vi phạm nồng độ cồn.

Luật của Việt Nam quy định, người lái xe có nồng độ cồn trong hơi thở vượt 0 sẽ bị phạt và đây là điều gây nhiều tranh cãi và phản đối vì có người cho rằng nhiều khi trong đồ ăn cũng có một chút cồn nhưng không đủ để gây say rượu.

Cũng trong ngày 30 và mùng 1 Tết, các bệnh viện Việt Nam đã phải tiếp nhận 280 trường hợp khám, cấp cứu do pháo nổ, chất nổ, trong đó có 163 trường hợp phải nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong.

Từ năm 1994, Chính phủ Việt Nam đã cấm việc sản xuất, vận chuyển, mua bán và đốt pháo trong dịp Tết vì những lo ngại về an toàn tính mạng. Tuy nhiên, đây là tập tục lâu đời của người dân nên vẫn xảy ra tình trạng người dân đốt pháo và vẫn có trường hợp mua bán và vận chuyển pháo lậu.


 

Vì sao Phan Châu Trinh chưa thành công?- Nguyễn Quang A

Ba’o Tieng Dan

Luật Khoa

Nguyễn Quang A

8-2-2024

  1. Tư tưởng Phan Châu Trinh

Phong trào phát triển đất nước (và dân chủ hóa) do Phan Châu Trinh khởi xướng đầu thế kỷ XX (1905-1907) ở Việt Nam là hết sức toàn diện và đúng đắn. Không những thế, thật đáng ngạc nhiên rằng các tư tưởng chính của ông được thuyết hiện đại hóa mới do Christian Welzel (2013) đúc kết xác nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn trên quy mô toàn cầu. Thuyết hiện đại hóa mới được xem như một trong những lý thuyết toàn diện nhất về dân chủ hóa cho đến nay.

Vậy vì sao phong trào của cụ Phan chưa thành công và công cuộc dân chủ hóa ở Việt Nam sau đó một trăm năm vẫn chưa có kết quả?

Bài này thử tìm hiểu một số nguyên nhân của sự chưa thành công đó dựa vào khung khổ của chính thuyết hiện đại hóa mới.

Tôi từng có hai tiểu luận, “Phan Châu Trinh và thuyết hiện đại hóa mới” (2017) và “Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam” (2019), tóm tắt tư tưởng chính của Phan Châu Trinh về sự phát triển đất nước và dân chủ hóa Việt Nam. Các điểm chính của tư tưởng Phan Châu Trinh có thể được tóm tắt như sau.

  1. Phát triển kinh tế

Phan Châu Trinh, với khẩu hiệu “hậu dân sinh” (mà chúng tôi ở Diễn đàn Xã hội Dân sự cập nhật thành “cải thiện dân sinh”) đã luôn luôn chú tâm để nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế; tạo dựng doanh nghiệp; cổ vũ thương mại, du lịch và buôn bán ở trong nước và với nước ngoài. Không chỉ nêu tư tưởng, cụ Phan cũng tích cực vận động mọi người khởi nghiệp (mà điển hình là công ty Liên Thành 1906 tại Phan Thiết).

  1. Nâng cao dân trí

Phát triển giáo dục là một phần cốt lõi của chủ trương nâng cao dân trí (“Khai dân trí”) của cụ. Không chỉ khởi xướng chủ trương, cụ Phan còn tích cực vận động lập trường (Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 tại Hà Nội và đã giảng dạy ở đó; trường Dục Thanh Học Hiệu năm 1907 ở Phan Thiết). Tuy vậy, nâng cao dân trí không chỉ qua giáo dục chính thức mà còn được thực hiện qua thực hành (và chủ trương thực học của cụ là hết sức quan trọng), qua đọc sách, đọc báo, viết sách, viết báo, việc lập ra các hội đoàn, doanh nghiệp, phát triển kinh tế (như nêu ở điểm 1 ở trên).

  1. Chấn hưng dân khí

“Chấn dân khí,” nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của nhân dân là một chủ trương rất quan trọng của cụ Phan (mà Liên Thành Thư Xã được thành lập năm 1905 tại Phan Thiết để truyền bá sách báo có nội dung yêu nước là một ví dụ).

  1. Vận động

Tổ chức các phong trào xã hội để buộc nhà cầm quyền (Pháp) cải cách.

  1. Chủ trương bất bạo động

Tuyệt đối bất bạo động, chỉ dùng phương pháp ôn hòa để thúc đẩy tất cả các việc trên để đưa nước ta vào nền văn minh mới, đủ sức đương đầu với kẻ thù (cũng bằng phương pháp bất bạo động) để giành độc lập chính trị.

  1. Chủ trương tự chủ

Không bài ngoại, không ỷ ngoại mà phải tự chủ.

Có thể thấy các chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh đã hình thành một cách hoàn chỉnh trong khoảng năm 1905-1907, và đã được bản thân cụ triển khai trên thực tế và cổ vũ, vận động nhân dân làm theo. Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với ngay cả các học giả nghiên cứu về dân chủ hóa nếu xét theo các lý thuyết và thực tiễn dân chủ hóa hiện nay. Cũng hết sức đáng lưu ý rằng cụ Phan đã muốn nhân dân Việt Nam (hay số rất đông trong số họ) thực hiện các chủ trương trên chứ không chỉ một số ít người trở nên giàu có, hiểu biết rộng và có chí khí lớn.

  1. Thuyết hiện đại hoá mới

Lý thuyết hiện đại hóa, do Seymour Martin Lipset (1959) đưa ra, cho rằng “dân chủ là kết quả trực tiếp của sự tăng trưởng kinh tế”, và rằng “một quốc gia càng giàu, thì cơ hội càng lớn là nó sẽ giữ vững nền dân chủ”. Thuyết hiện đại hóa đã có ảnh hưởng lớn đến dân chủ hóa trên thế giới (và vẫn được một số chính trị gia đi theo), tuy sau đó bị nhiều người chỉ trích và sửa đổi, bổ sung.

Tóm lại, hiện đại hóa, theo lý thuyết của Lipset, không dẫn đến dân chủ, nó tạo ra một số điều kiện cần nhưng không đủ cho dân chủ hóa (chẳng hạn các nước rất giàu ở Vùng Vịnh hay Trung Quốc minh chứng rằng sự phát triển kinh tế, sự phát triển khoa học công nghệ, hiện đại hóa không trực tiếp dẫn đến dân chủ). Dù sao đi nữa, lý thuyết hiện đại hóa của Lipset là một đóng góp lớn.

Christian Welzel (2013) tổng kết những nghiên cứu của bản thân ông và nghiên cứu của ông với Ronald Inglehart để phát triển lý thuyết hiện đại hóa mới, mà nội dung chính có thể được tóm tắt như dưới đây.

  1. Các nguồn lực hành động

Theo Welzel, có ba nguồn lực hành động quan trọng nhất là: nguồn lực vật chấtnguồn lực trí tuệ, và nguồn lực kết nối.

Nguồn lực vật chất là các thiết bị, công cụ, tiền bạc… cần cho hành động.

Nguồn lực trí tuệ là sự hiểu biết, kiến thức, thông tin, kỹ năng… cần cho hành động.

Nguồn lực kết nối là các hoạt động, cơ chế tạo ra khả năng liên kết, tiếp xúc, hợp tác, tổ chức để hoạt động. Ví dụ: đô thị hóa, làm việc trong các nhà máy công sở giúp những người lao động liên kết với nhau, phối hợp với nhau, tổ chức lại để hành động; mạng lưới giao thông tốt tạo thuận tiện cho sự đi lại, tập hợp, cũng làm tăng nguồn lực kết nối; sự phát triển của các mạng truyền thông cũng thế. Nguồn lực kết nối có cả khía cạnh thể chế của nó, chẳng hạn, quyền tự do lập hội tăng cường nguồn lực kết nối, ngược lại sự cấm đoán làm giảm các nguồn lực kết nối.

Hiện đại hóa, sự phát triển của công nghệ tạo ra các nguồn lực hành động cho các chủ tư bản, cũng có thể (nhưng không nhất thiết) tạo ra các nguồn lực đó cho quảng đại nhân dân. Nó chỉ tạo ra các nguồn lực hành động cho quảng đại quần chúng khi hiện đại hóa và sự phát triển công nghệ nhắm tới phục vụ con người, bổ sung cho các năng lực con người, hơn là tự động hóa  chỉ nhằm để thay thế lao động con người và giám sát con người (xem Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023]).

Cần lưu ý rằng các nguồn lực hành động của nhân dân (số đông người) cũng là kết quả của những cuộc đấu tranh chứ không phải do hiện đại hóa tự động mang lại. Đấy là một sự khác biệt quan trọng của thuyết hiện đại hóa mới so với thuyết hiện đại hóa ban đầu. Cả ba nguồn lực hành động đều quan trọng nhưng các nguồn lực trí tuệ và kết nối quan trọng hơn nguồn lực vật chất.

Chính trên nền của các nguồn lực hành động này của số đông người dân, công cuộc chấn dân khí mới có thể thành công. Đó là nơi các giá trị giải phóng bước vào và đóng vai trò lớn trên tầng văn hóa, và đây là điểm khác biệt thứ hai.

  1. Các giá trị giải phóng

Các giá trị giải phóng là các giá trị thúc đẩy các quyền tự do của con người.

Các giá trị giải phóng nhấn mạnh bốn khía cạnh về sự tự trị cá nhân, lựa chọn, bình đẳng, và sự lên tiếng, và có thể đo được bằng các cuộc khảo sát.

World Values Surveys đã đo các giá trị này trong khoảng 100 nước chiếm hơn 90% dân số thế giới. Từ năm 1981 đến nay (2024), họ đã khảo sát bảy đợt. Trên cơ sở đó, Welzel đã phát triển Chỉ số các Giá trị Giải phóng (EVI-Emancipative Values Index). Việt Nam đã tham gia vào ba trong bảy đợt khảo sát này trong các năm 2001 (đợt 4), 2006 (đợt 5) và 2020 (đợt 7). Nguyễn Quang A (2017) đã chỉ ra rằng EVI có thể được dùng như một chỉ số về dân khí. Nói cách khác, dân khí có thể đo được cho tất cả các nước trên thế giới và tạo cơ sở để tiến hành những nghiên cứu so sánh.

  1. Các phong trào xã hội

Trên bình diện tâm lý, các giá trị giải phóng trao quyền cho con người. Chúng thúc đẩy người dân thực hiện các quyền tự do phổ quát, tham gia tích cực vào các hoạt động phong trào xã hội, đòi nhà nước phải đáp ứng các quyền và lợi ích chính đáng của họ bằng cách bảo đảm về mặt pháp lý để người dân thực hiện các quyền tự do.

  1. Dân chủ hóa

Không có các phong trào xã hội sẽ không có dân chủ hóa. Chính các phong trào xã hội truyền đạt khát vọng của người dân (các giá trị giải phóng của họ), nhưng bản thân các giá trị giải phóng là động cơ thúc đẩy mạnh nhất trong những động cơ thúc đẩy nhân dân tham gia vào các phong trào xã hội, đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Chính áp lực mạnh của nhân dân buộc các nhà chức trách phải ban hành luật pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Khi các quyền dân sự và chính trị được pháp luật bảo đảm, được thực thi trong thực tế thì chúng ta có nền dân chủ. Nhưng dân chủ chỉ được củng cố và phát triển nếu nhân dân liên tục đấu tranh để tiếp tục cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, tham gia vào các phong trào xã hội, liên tục gây áp lực để buộc những người cầm quyền phải duy trì, nâng cao những quyền đã đạt được, mở rộng các quyền khác của nhân dân. Nói cách khác, dân chủ hóa là một quá trình không bao giờ chấm dứt.

Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới đúc kết thành lý thuyết với hình sau đây:

Hình 1. Tóm tắt tư tưởng Phan Châu Trinh theo thuyết hiện đại hóa mới.

Chúng ta có thể thấy lý thuyết dân chủ hóa toàn diện nhất hiện nay – được công bố năm 2013 – minh họa rất rõ ràng các tư tưởng chính mà Phan Châu Trinh đưa ra hơn một trăm năm trước. Như thế, có thể xem Phan Châu Trinh là nhà cải cách sáng suốt nhất, nhà cách mạng triệt để nhất, người có tầm nhìn xa trông rộng nhất ở Việt Nam trong đầu thế kỷ thứ hai mươi, nếu không muốn nói là đạt tầm vóc của nhiều nhà cải cách có ảnh hưởng lớn trên thế giới thời kỳ đó.  Vậy vì sao cụ Phan chưa thành công và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có dân chủ?

III. Vì sao Phân Châu Trinh chưa thành công?

Có nhiều nguyên nhân cho sự nghiệp chưa thành công của Phan Châu Trinh.

Cụ Phan Châu Trinh đã vượt quá xa tầm hiểu biết của các trí thức, những người yêu nước, và của nhân dân ta cũng như trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó. Chính phải hiểu rõ những khó khăn đó chúng ta mới hiểu tầm vóc vĩ đại của Phan Châu Trinh. Cũng nên lưu ý rằng Phan Châu Trinh trẻ hơn Mahatma Gandhi ba tuổi và hai vị đưa ra phương pháp đấu tranh bất bạo động gần như đồng thời, Phan Châu Trinh năm  1905 và Mahatma Gandhi năm  1906. Tuy vậy, thế giới hình như biết đến Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Dalai Lama, Václav Havel, Thích Nhất Hạnh và Aung San Suu Kyi nhiều hơn Phan Châu Trinh khi nói đến phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Hầu như phần lớn những người yêu nước và trí thức thời đó đã không hiểu cụ và chủ trương các đường lối gần như ngược với đường lối của cụ (từ Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo lực và nhờ nước ngoài, đến Hồ Chí Minh sau đó).

Nhân dân cũng vậy. Cụ chủ trương tuyệt đối bất bạo động, nhưng nhân dân chính quê cụ không kiên trì thực hiện. Phong trào chống sưu cao thuế nặng tháng Ba năm 1908 ban đầu diễn ra một cách ôn hòa nhưng sau đó đã trở nên hết sức bạo lực, vượt ngoài tầm kiểm soát của những người tổ chức (không có Phan Châu Trinh trong số những người tổ chức). Và phong trào đã bị dập tắt trong sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa Pháp. Dù không tham gia tổ chức, cụ Phan, cùng nhiều nhân sĩ khác, đã bị bắt và nhiều người bị kết án tử hình, rồi cụ bị đày ra Côn Đảo. May nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, cụ thoát án nặng và bị quản thúc tại Mỹ Tho rồi đi Pháp (1/4/1911); xem Chu Hảo (2023).

Chính quyền thuộc địa Pháp và triều đình đã đàn áp rất quyết liệt, bắt, bỏ tù, xử tử hình hoặc lưu đày các trí thức yêu nước, kể cả Phan Châu Trinh.

Ngoài những nguyên nhân trên, có lẽ cũng bổ ích để xem xét các nguyên nhân, mà tôi cho là cốt lõi hơn, của sự chưa thành công theo khung khổ của chính tư tưởng của Phan Châu Trinh được lý thuyết hóa trong thuyết hiện đại hóa mới. Đầu tiên, hãy xem xét các điều kiện cần là các nguồn lực hành động, rồi đến dân khí khi đó.

  1. Nguồn lực vật chất

Đáng tiếc, chưa có những nghiên cứu lịch sử về vấn đề này ở Việt Nam, chí ít từ thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX (các nhà nghiên cứu trẻ có thể dựa vào các tài liệu lưu trữ của Pháp may ra có thể dựng lại lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này). Vì thế chúng tôi phải chọn một biến đại diện (proxy variable) là GDP/đầu người tính theo sức mua (PPP) với giá trị đô-la một năm cố định nào đó (để tiện so sánh). Theo Madisson Project, dữ liệu về GDP/đầu người (PPP, theo đô-la 2011) của Việt Nam từ 1820 đến 2018 diễn biến như sau:

Hình 2. GDP/đầu người ở Việt Nam, theo sức mua (PPP) tính bằng đô-la 2011. Nguồn: Maddison Project

Hãy xem so sánh quốc tế với vài nước lân cận trên hình sau:

Hình 3: GDP/đầu người, so sánh quốc tế. Nguồn: Maddison Project.

Chúng ta thấy Nhật Bản vượt hẳn các nước khác trong khu vực trong thế kỷ XIX cho đến hết thế kỷ XX. Hàn Quốc và Đài Loan bắt kịp (và thậm chí vượt Nhật Bản) một cách ngoạn mục trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Cũng nên lưu ý rằng, mức nghèo tuyệt đối (đủ để tồn tại theo sức mua PPP) là 694 đô-la năm 2011. Theo Hình 2 và Hình 3, trong suốt một thế kỷ rưỡi, nguồn lực vật chất của người Việt Nam chỉ hơn mức sinh tồn một chút: mức năm 1975 là $1.132, cho đến đầu thời kỳ Đổi mới năm 1986 đều dưới mức $1.500 (là mức của năm 1987); cho đến năm 1993, mức này vẫn dưới 2.000 đô-la và vào năm 1994 chỉ đạt 2.018 đô-la. Có thể nói cho đến năm 1994, nguồn lực vật chất của người Việt Nam là rất eo hẹp, lo cái ăn là chính chứ lấy đâu thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác.

Hình 3 cho thấy nguồn lực vật chất của người Việt Nam thấp thế nào so với các nước trong khu vực. Vào năm 1986, khi Philippines chuyển sang dân chủ, mức của họ là $3.161/đầu người, gấp hơn 2,1 lần của Việt Nam; Hàn Quốc khi chuyển đổi năm 1987 đạt $9.756/đầu người, còn hơn mức năm 2018 của Việt Nam.

Với trường hợp Đài Loan, khi Tưởng Giới Thạch mất năm 1975, GDP đầu người của họ đạt $5.614. Sau đó, Quốc Dân Đảng độc tài, một đảng Leninist đúng nghĩa, bắt đầu nới lỏng dần chính sách cai trị với việc đưa Lý Đăng Huy – người sinh ra ở Đài Loan – lên làm lãnh đạo cấp cao của đảng. Năm 1986, khi phong trào đối lập “Đảng ngoại” – khi đó vẫn bất hợp pháp – lập ra Dân Tiến Đảng và được chính quyền để yên cho hoạt động, GDP/đầu người của Đài Loan đạt $11.918. Và 14 năm sau, khi ứng cử viên Trần Thủy Biển của Dân Tiến Đảng được bầu làm tổng thống, chấm dứt sự độc quyền của Quốc Dân Đảng, GDP đầu người của Đài Loan đã là $26.787.

Cũng thật đáng lưu ý từ Hình 3 rằng xuất phát điểm của tất cả các nước này vào năm 1820 là gần như nhau: Nhật – $1.321, Đài Loan – $966; Malaysia – $960; Philippines – $931; Thái Lan – $909 và Việt Nam $840.  Đến đầu thế kỷ XX vẫn đại thể như vậy (trừ Nhật Bản)  với GDP/đầu người năm 1913 là $1.159 ở Việt Nam, $1.171 ở Hàn Quốc, $1.286 ở Đài Loan; $1.289 ở Malaysia; $1.341 ở Thái Lan; $1.575 ở Philippines, và $2.431 ở Nhật Bản. Nhưng, từ những năm 1950-1960 trở đi, sự phân kỳ là hết sức rõ rệt do những lựa chọn khác nhau của mỗi nước.

  1. Nguồn lực trí tuệ

Cũng tương tự như nguồn lực vật chất, chúng ta không có dữ liệu lịch sử chi tiết về nguồn lực trí tuệ, mà có thể dựa vào tỷ lệ biết chữ, số người đi học các cấp, thời gian học, số các trường học các loại, chương trình học, số sách báo, số sách báo người dân đọc, số sáng chế, v.v.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống (trước khi Pháp xâm chiếm các vùng lãnh thổ Việt Nam), ngoài các trường công như Quốc Tử Giám (chủ yếu để dạy con cháu nhà vua), có nhiều thầy đồ ở các làng chủ yếu dạy chữ Nho, Khổng giáo. Hệ thống nhà chùa cũng là nơi việc học phật pháp diễn ra.

Tôi cố gắng tìm hiểu xem ngoài chữ Nho, Khổng giáo, Phật giáo và thơ văn ra các trường công, tư và cộng đồng này còn dạy gì khác không, chẳng hạn như toán, thiên văn học, các môn khoa học và kỹ thuật theo cách nhìn hiện nay. Rất ít tư liệu nói về các nội dung đào tạo này.

Theo Dân Việt, ba kỳ tài toán học Việt Nam là Vũ Hữu (1437-1530) có để lại tác phẩm Lập Thành Toán Pháp (立成算法) – cuốn sách toán học cổ nhất Việt Nam; Lương Thế Vinh (1441-1496) là trạng nguyên giỏi toán nhất; và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) nghiên cứu việc làm lịch và dịch các tác phẩm toán Trung Quốc, ông để lại tập sách “Ý Trai toán pháp”. Cả ba vị kỳ tài toán học này đều làm quan to trong các triều đình thời các cụ. Giá mà các cụ không làm quan mà chỉ chăm chú nghiên cứu toán, dạy toán, viết sách toán thì chắc nền toán học Việt Nam đã có thể khác đi, nhưng đáng tiếc mục tiêu học chỉ để làm quan (hay được vua phát hiện ra tài năng và bị bắt làm quan).

Gail Paradise Kelly (2000) cho rằng trong hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, các thầy đồ không chỉ đóng vai trò công cụ của chính quyền – dạy chữ Nho và Khổng giáo cho học sinh và chuẩn bị cho những người trẻ xuất sắc nhất để tiến những bước tiếp trên đường làm quan. Họ còn tạo thành các mạng lưới riêng của mình qua các mối quan hệ học hành để tập hợp phản kháng chính quyền khi cần thiết. Nói cách khác, thầy đồ đã là xương sống của một mạng lưới chính trị.

Hiểu vai trò này của hệ thống giáo dục truyền thống Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống giáo dục của mình. Việc các trí thức Việt Nam xây dựng hệ thống giáo dục riêng, mà điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị coi là nguy hiểm.  Vì thế, Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp giải tán sau chỉ tám tháng tồn tại. Mặc dù vậy, đó vẫn là một áp lực quan trọng buộc chính quyền thực dân phải cải tổ giáo dục, nhất là bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ tại trường, cải cách chế độ thi cử.

Gail Paradise Kelly (2000) cho chúng ta một phân tích khá toàn diện và khá nhiều dữ liệu về hệ thống giáo dục Việt Nam thời kỳ 1906-1939.

Hệ thống giáo dục quốc gia thống nhất chỉ bắt đầu hình thành sau năm 1917 với các nghị định cải cách của Toàn quyền Albert Sarraut. Hệ thống tiểu học 5 năm và sau đó là 5 năm trung học cơ sở và bậc đại học với một trường duy nhất ở Hà Nội (được thành lập từ 1906).

Chỉ xin trích vài dữ liệu năm 1926, năm cụ Phan mất, từ trang 84-85 của Gail Paradise Kelly (2000), Việt Nam có tổng cộng 3.053 trường tiểu học (3 năm) với 153.737 học sinh; 244 trường tiểu học đầy đủ (5 năm) với 65.329 học sinh; 17 trường trung học cơ sở (dạy 10 năm) với 3.656 học sinh, 2 trường cấp hai (secondary school, lycée) với 56 học sinh (năm 1923 lại có 83 học sinh).

Tuy nhiên, đây là vài số liệu rời rạc được trích ở trên và tóm tắt của World Bank 2010 Report (trang 2): “Vào thời kỳ thịnh vượng nhất của Đông Dương bị Pháp xâm chiếm, Việt Nam chỉ có 2.322 trường tiểu học (ba năm) và số học sinh chiếm 2% tổng dân số; 638 trường tiểu học cho 2 năm cuối của giáo dục tiểu học với số học sinh chiếm 0,4% tổng dân số; 16 trường trung học cơ sở (primary colleges cho 4 năm sau bậc tiểu học) chiếm 0,05% tổng dân số và 6 trường trung học phổ thông trong đó có 3 trường nhà nước với số học sinh học trường công chỉ chiếm 0,019% dân số. Toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp chỉ có ba đại học (Luật, Y Dược, Khoa học) tại Hà Nội với 834 sinh viên, trong số đó có 628 sinh viên Việt Nam… Với một hệ thống giáo dục như vậy 95% dân Việt Nam đã mù chữ.”

Hãy so sánh với Nhật Bản đầu thế kỷ XX. Theo ước lượng của Giáo sư Tsujimoto Masashi (2000), tỷ lệ biết chữ của các thành phố lớn của Nhật vào đầu thế kỷ XIX là trên 70%, mức ở vùng nông thôn là khoảng 10 hay 20% hay thấp hơn. Tuy vậy, vào năm 1909 tỷ lệ dự học bắt buộc (6 năm lúc đó) là trên 98%.  Sự khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam thật sự khủng khiếp.

Nói cách khác, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX hoàn toàn không thuận lợi ngay cả cho việc khai dân trí của Phan Châu Trinh, và chính biết rõ điều đó nên cụ đã chủ trương khai dân trí.

  1. Nguồn lực kết nối

Nguồn lực kết nối có thể được phản ánh khá tốt bằng tỷ lệ dân cư đô thị, số người làm trong các nhà máy, công sở (nơi có đông người tụ tập và sự kết nối dễ dàng hơn những người sống ở nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa), mạng lưới giao thông, số người dùng Internet (và cả các chính sách kiểm duyệt Internet), v.v. Hãy xét tỷ lệ dân cư đô thị.

Hình 4. Dân số đô thị 1960-2020, so sánh quốc tế. Nguồn: Tác giả soạn theo dữ liệu của Macrotrends (trích dữ liệu của Ngân hàng Thế giới).

Có thể thấy nguồn lực kết nối của Việt Nam trong giai đoạn từ 1960 cho đến nay luôn luôn thấp hơn các nước trong khu vực. Lưu ý rằng vào năm 1986, khi chuyển đổi sang dân chủ, tỷ lệ dân cư đô thị của Philippines đạt 43,2%, còn tương tự tại Hàn Quốc trong năm 1987 là 68,56%, trong khi đó tỷ lệ hiện nay của Việt Nam cũng chỉ là 38,77%. Đó là chưa kể đến việc tự do tư tưởng và sự kết nối khác và tổ chức kết nối (như các tổ chức xã hội dân sự, các hội thảo, hội họp) mà ở nước ta là thấp hơn các nước được nhắc đến, và hiện nay có thể còn kém thời cụ Phan Châu Trinh.

  1. Dân khí

Đáng tiếc chúng ta không có những số đo lịch sử về dân khí (mà có quan hệ mật thiết với chỉ số các giá trị giải phóng (EVI), xem Nguyễn Quang A (2017), vì các giá trị này mới chỉ được đo từ năm 1981 đến nay trong bảy đợt.

Hãy xem xét EVI của vài nước trong khu vực để chúng ta có thể có chút cơ sở nào đó để mường tượng. Do các giá trị thường được thiết lập trong các năm hình thành (formative years, 0-8 tuổi; và môi trường kinh tế xã hội và nhất là môi trường gia đình, giáo dục ở tuổi trước khi đến trường và trong thời vị thành niên là hết sức quan trọng) và các giá trị của toàn xã hội (tức mức trung bình phổ biến của giá trị nào đó) thay đổi chủ yếu qua sự thay thế các nhóm tuổi, cho nên các giá trị, kể cả dân khí (EVI), thường thay đổi rất chậm.

Hình 5. EVI của một số nước trong khu vực được đo trong bảy đợt khảo sát của World Values Survey. Nguồn: Tác giả soạn dựa vào dữ liệu của World Values Survey.

Có thể thấy xu hướng tăng dài hạn của EVI trong tất cả các nước (chủ yếu do những thay đổi giá trị của các nhóm lứa tuổi [age cohort] trẻ bước vào tuổi trưởng thành và của các nhóm lứa tuổi già chết đi, hay nói cách khác sự thay đổi giá trị giữa các nhóm lứa tuổi). Nhưng, EVI cũng tăng hay giảm trong ngắn hạn do những thay đổi giá trị bên trong nhóm lứa tuổi phản ánh những biến động về những thay đổi về các nguồn lực hoạt động. Do EVI được chuẩn hóa (0 ≤EVI ≤ 1) nên sự thay đổi không nhiều trong thời gian ngắn, và sự chênh lệch 0,05 là rất lớn và thường xảy ra do sự thay thế nhóm lứa tuổi.

Với số điểm dữ liệu ít ỏi (Việt Nam 3 điểm, và Hàn Quốc 7 điểm trong 40 năm qua), khó có thể có những ước lượng lùi về quá khứ, thí dụ lùi lại khoảng một thế hệ quay lại các năm 1960. Nhưng dùng nhiều điểm dữ liệu hơn của các vùng văn hóa (với số điểm dữ liệu của mỗi vùng lên đến hàng trăm), Christian Welzel (2021) và các cộng sự của ông có thể làm việc này và cho chúng ta các ước lượng đáng tin cậy về EVI cho giai đoạn 1960-1980 cùng với EVI thực đo cho giai đoạn 1981-2020, cho chúng ta thấy rõ xu hướng tăng toàn cầu của các giá trị giải phóng trên Hình 6.

Hình 6. Sự thay đổi của EVI của các vùng văn hóa (1960-2000). Nguồn: Hình OA-9 của Christian Welzel (2021).

Việt Nam, dù có thuộc về vùng văn hóa Sinic East (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) hay không, chắc nó nằm giữa vùng Indic East và Sinic East, có thể suy đoán rằng EVI là thấp cỡ 0,3 trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ XX của cụ Phan và lên 0,34 năm 2001, 0,36 năm 2006, và 0,41 năm 2020.

  1. Các phong trào xã hội

Động cơ mạnh nhất, lâu bền nhất để tham gia các hoạt động phong trào xã hội là các giá trị giải phóng, hay dân khí. Ngoài ra, có các động cơ khác như lợi ích, sự bất bình, hận thù và chúng không mạnh như dân khí. Nếu hoạt động phong trào xã hội có động cơ chính là các giá trị giải phóng thì hoạt động đó chủ yếu là bất bạo động và kinh nghiệm thực tế chứng minh nó là phương pháp đấu tranh hiệu quả nhất.

Khi các nguồn lực hành động thấp, dân khí thấp thì quần chúng có thể dễ bị (các nhà hoạt động dân túy và/hay chủ trương bạo lực hoặc những kẻ khiêu khích do chính quyền cài vào) kích động tham gia vào các phong trào xã hội, với các động cơ khác với các giá trị giải phóng. Điều này dễ khiến các phong trào xã hội trở nên bạo động và/hay vượt khỏi tầm kiểm soát của những người chủ trương bất bạo động, và như thế tạo cớ cho nhà cầm quyền đàn áp thẳng tay.

Chiến lược chính của các nhà cầm quyền độc tài để bẻ gãy liên kết giữa các giá trị giải phóng và các hoạt động phong trào xã hội là tuyên truyền và đàn áp, xem Welzel (2013, tr.219). Dân khí càng cao thì tác dụng của sự tuyên truyền và đàn áp càng ít có hiệu quả, trong khi nếu dân trí thấp, kinh tế không phát triển và dân khí thấp thì hiệu quả của tuyên truyền và đàn áp rất cao.

Tóm lại, cho đến khi cụ Phan Châu Trinh mất năm 1926, các nguồn lực hành động của nhân dân tất cả các nước trong khu vực, kể cả dân khí đã rất thấp và chẳng nước nào đã dân chủ hóa thành công trong vòng 60 năm sau đó cả, nói chi đến Việt Nam.

Về phương pháp, ngược với chủ trương bất bạo động của Phan Châu Trinh các nhà cầm quyền ở Việt Nam trong suốt thế kỷ hai mươi đã sử dụng phương pháp bạo động.

Ngược với chủ trương chống bài ngoại và chống ỷ lại vào nước ngoài của Phan Châu Trinh, đáng tiếc tư tưởng bài ngoại và đôi khi ỷ ngoại đã phổ biến theo những thái cực khác nhau và các tàn dư của nó vẫn còn đến ngày nay.

  1. Vài suy ngẫm

Như thế, có thể dễ hiểu là cụ Phan Châu Trinh đã chưa thành công (nhưng dứt khoát không thất bại vì sự nghiệp đó đang và sẽ còn tiếp tục). Và suốt từ đó đến nay, nhất là từ thập niên 1990 khi Đổi mới thực sự bắt đầu, Việt Nam đã ngày càng đi theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh dù nhiều người không muốn thú nhận như thế.

Về nguồn lực vật chất, như Hình 3 cho thấy Việt Nam luôn luôn ở mức thấp nhất cho đến tận ngày nay, so với các nước trong khu vực. Dù ở miền Nam nền kinh tế thị trường được khuyến khích cho đến tận năm 1975 nhưng sau đó chính quyền đã tìm mọi cách hủy diệt nền kinh tế thị trường. Mãi đến năm 1986, do không “đổi mới” thì chết nên chính quyền đã buộc phải trả lại cho dân một phần các quyền kinh doanh của mình. Cuộc Đổi mới thực sự chỉ bắt đầu từ thập niên 1990: cởi trói kinh doanh, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, chú trọng thương mại, coi trọng doanh nhân, hợp tác kinh tế với nước ngoài, v.v. Xét cho cùng là chúng ta làm theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh đề ra gần 100 năm trước và đã mang lại sự phát triển kinh tế ngoạn mục cho Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, xét về tất cả các nguồn lực vật chất, chúng ta vẫn còn yếu khi so sánh với các nước trong khu vực như được phân tích sơ bộ ở trên.

Về nguồn lực trí tuệ, kể từ phong trào xóa mù chữ năm 1945, tỷ lệ biết chữ được cải thiện đáng kể. Ngày nay, tỷ lệ biết chữ của Việt Nam đạt mức 98,85%. Tuy nhiên, nếu tính đến chất lượng giáo dục (đo bằng số năm học ở trường chẳng hạn và tính đến kết quả như số sách được viết, số bằng sáng chế) cũng như đóng góp thực cho trí tuệ nhân loại, cho phát triển kinh tế thì dân trí của chúng ta ngày nay vẫn rất thấp. Chẳng hạn, theo Wikipedia, tính trung bình thì một người ở Việt Nam đọc 0,8 cuốn sách/năm (không tính sách giáo khoa). So với Malaysia thì trung bình một người đọc 10-20 cuốn/năm (2012) và Thái Lan là 5 cuốn/năm.

Hiện nay và mãi mãi trong tương lai chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương khai dân trí của cụ Phan.

Về nguồn lực kết nối, như Hình 4 cho thấy, tỷ lệ đô thị hóa của chúng ta vẫn thấp nhất cho đến tận ngày nay so với các nước được so sánh. Đó là chưa nói đến các thành tố khác của nguồn lực kết nối như sự lập hội, các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức xã hội dân sự không được khuyến khích, các cuộc hội họp cũng bị kiểm soát nên có lẽ lĩnh vực này hiện nay còn kém thời của Phan Châu Trinh.

Về phương pháp bất bạo động của cụ Phan Châu Trinh, có lẽ do người Việt Nam luôn sống trong văn hóa chống ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay nên quá quen với từ ngữ mang tính chiến đấu (chiến sĩ, tấn công, mặt trận, chiến dịch, xung kích, ra quân, tiêu diệt, truy quét, báo thù…) cho đến tận ngày nay. Thậm chí, nhiều nhà lãnh đạo còn “sáng tạo” ra các từ ngữ mới sặc mùi chiến tranh như “tư lệnh ngành”. Các từ ngữ này được báo chí tuyên truyền rộng rãi nên việc chấp nhận phương pháp bất bạo động có thể không dễ. Việc giáo dục cho dân ta về tinh thần và phương pháp bất bạo động vẫn là một nhiệm vụ cam go và phải tích cực làm liên tục.

Chúng ta nên tỉnh táo chú ý đến các dấu ấn văn hóa và lịch sử không hay đó và từ từ thay đổi chúng một cách có chủ ý chứ không phải ngược lại dù vô tình hay cố ý.

Chúng ta còn chưa xét đến các yếu tố ảnh hưởng của quốc tế và địa chính trị mà có thể thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển và dân chủ hóa của Việt Nam. Và liên quan đến vấn đề này là câu hỏi được một số người đưa ra: dựa vào ai? Tất nhiên chúng ta nên tận dụng sự giúp đỡ và sự ủng hộ của tất cả các nước khác, tận dụng tất cả các cơ hội mà thế giới và khu vực tạo ra cho chúng ta, nhưng chúng ta phải dựa vào chính chúng ta. Đấy cũng là một tư tưởng chủ đạo của cụ Phan: “vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử”.

Nói cách khác, nội lực vẫn là chính, chúng ta phải dựa vào chính mình. Nếu các nguồn lực hành động thấp, dân khí không cao thì dù ai đó (một nhà độc tài nhân từ hay một lực lượng quốc tế) có đưa cho chúng ta nền dân chủ thì nền dân chủ đó cũng chỉ là phù du, sớm nở tối tàn. Dân chủ chỉ có thể hình thành qua cuộc đấu tranh liên tục, không biết mệt mỏi của chính người Việt Nam chúng ta để phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và tích cực tham gia vào các phong trào xã hội, tức là liên tục làm theo các tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Tóm lại, Phan Châu Trinh chưa thành công bởi vì người Việt chưa hiểu các ý tưởng của cụ. Thậm chí, các nhà cầm quyền ở Việt Nam đã làm ngược lại tư tưởng của cụ, dùng phương pháp bạo động, vọng ngoại, không chú ý đến việc xây dựng các nguồn lực hành động của nhân dân, thậm chí có những lúc đã hủy hoại chúng (cải tạo công thương, tiêu diệt khu vực kinh tế tư nhân, ngăn sông cấm chợ gây khó khăn cho phát triển kinh tế, cho các nguồn lực vật chất; ngăn cản sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự gây hại cho nguồn lực kết nối; đàn áp các phong trào xã hội). Muốn phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục bổ sung, phát triển thêm, làm phong phú các tư tưởng của Phan Châu Trinh và thực hiện chúng ngay trong hiện nay và tương lai. Chúng ta đang tiếp tục con đường của Phan Châu Trinh. Lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nhưng lịch sử có cho chúng ta những bài học quý giá nếu chúng ta muốn học và phát triển.

  1. Lời cảm ơn

Tác giả cảm ơn nhà thơ Hoàng Hưng, cựu đại sứ Nguyễn Trung và một số bạn trẻ đã góp ý cho vài bản thảo của bài viết này.

_____

Chú thích:

– Daron Acemoglu and Simon Johnson (2023), POWER and PROGRESS, our Thousand-Year Struggle over Technology and Prosperity (TIẾN BỘ và QUYỀN LỰC, cuộc Chiến đấu Ngàn Năm của chúng ta về Công nghệ và sự Thịnh Vượng), PublicAfaire, New York

– Chu Hảo (2023), Phan Châu Trinh trước khi sang Pháp, Viện Phan Châu Trinh.

– Gail Paradise Kelly (2000), Frech Colonial Education: Essays on Vietnam and West Africa, AMS Press, Inc. 2000

– Seymour Martin Lipset (1959), Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy, The American Political Science Review, Volume 53, Issue 1 (1959): 69-105.

– Nguyen Quang A (2019), Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam, Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Vol.5. No.2, June/Aug. 2019, pp.745-763.

– Nguyễn Quang A (2017), Phan Châu Trinh và Thuyết Hiện đại hóa Mới, Tạp chí Dân trí

– Tsujimoto Masashi (2000), Maturing of a Lierate Society, Journal of Japanese Trade & Industies, March-April 2000, pp. 44-48. Truy cập online

– Christian Welzel (2013), Freedom Rising, Oxford University Press 2013 (Bản tiếng Việt 2017)

– Christian Welzel (2021), Why The Future is Democratic, Journal of Democracy, Volume 32, No. 2, April, 2021, pp. 132-144

– World Bank (2010), 2010 World Report: “Education in Vietnam”


 

 Luật sư môi trường tuyệt thực trong tù trong khi Hà Nội bị ô nhiễm không khí trầm trọng

Ba’o Tieng Dan

Thục Quyên

5-2-2024

Ô nhiễm không khí ở Hà Nội tệ đến mức hơn 100 chuyến bay phải chuyển hướng hoặc hoãn cất cánh, hạ cánh vì khói bụi dày đặc, bao trùm thủ đô Việt Nam (1), gây mất an toàn do tầm nhìn kém. Một số chuyến bay phải chuyển hướng đến các sân bay khác như Cát Bi ở Hải Phòng.

Vào lúc 4h30 sáng thứ sáu 2-2-2024, sân bay Nội Bài, Hà Nội tạm dừng đón khách. Các sân bay Thọ Xuân ở Thanh Hóa, Vinh ở Nghệ An và Phú Bài ở Huế cũng bị gián đoạn hoạt động, do khói bụi ô nhiễm. Bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn.

Theo IQAir, trang web giám sát chất lượng không khí, bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn do WHO xác định. Người dân được khuyến cáo đeo khẩu trang khi ra ngoài trời, cũng như tránh các hoạt động ngoài trời như tập thể dục, đóng cửa sổ khi ở trong nhà và chạy máy lọc không khí.

Nguyên nhân gây ô nhiễm trầm trọng ở Hà nội

Ô nhiễm đến từ một số vật liệu xây dựng độc hại, giao thông đông đúc, công nghiệp thép và xi măng, và các nhà máy nhiệt điện đốt than.

Báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới cho biết, gần 35% lượng bụi mịn PM 2.5 đến từ các nhà máy điện và các ngành công nghiệp lớn quanh thành phố. Khoảng 25% đến từ giao thông; có gần 8 triệu chiếc xe được đăng ký ở Hà Nội.

Khí thải amoniac từ chăn nuôi và sử dụng phân bón tạo ra 20% lượng bụi mịn PM 2,5, trong khi 10% đến  từ các sinh hoạt như nấu ăn bằng than củi và khoảng 7% từ việc đốt chất thải nông nghiệp. Việc đốt rác trong và chung quanh thành phố càng làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn.

Mức ô nhiễm cũng tăng trong mùa đông, khi mưa ít và nhiệt độ thấp giữ tầng khí ô nhiễm ở gần mặt đất. Ngoài ra, những cơn gió cuối năm 2023 và đầu năm 2024 được cho là đã mang các chất ô nhiễm từ các siêu đô thị phía nam Trung Quốc xuống Hà Nội.

Theo ước tính của WHO năm 2016, ô nhiễm không khí thường xuyên ở Việt Nam có liên quan đến hơn 60.000 trường hợp người trẻ tử vong mỗi năm.

Lập chương trình đối phó ô nhiễm

Để đối phó tình trạng ô nhiễm ngày càng tồi tệ hơn ở Hà Nội, chính phủ Việt Nam đề ra kế hoạch giảm khí carbon, bằng cách không phát triển các nhà máy điện than mới, đồng thời giảm lượng than từ 50% xuống còn 20% công suất, từ năm 2030.

Hà Nội đang nhận được sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới để thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm ô nhiễm không khí. Tổ chức tài chính quốc tế này đã khuyến nghị các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính, chẳng hạn như chuyển hướng sử dụng năng lượng than, giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Chính phủ Việt Nam cũng đang cố gắng lập chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la (14,25 tỷ euro) từ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) liên chính phủ – do Vương quốc Anh và EU đồng chủ trì, để hướng tới quá trình chuyển đổi xanh: Phát triển năng lượng thủy điện, giảm thải khí nhà kính (bớt sử dụng năng lượng than), giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội gần đây cũng thông báo rằng, họ đang nghiên cứu các chính sách đào tạo nông dân trồng lúa về cách giảm thiểu và tái sử dụng chất thải thay vì đốt chúng.

Nhưng bỏ tù nhà các hoạt động môi trường

Tuy nhiên, chương trình đối phó ô nhiễm môi trường của nhà cầm quyền Việt Nam không thuyết phục. Trong vài năm qua, một số nhà hoạt động và các chuyên gia môi trường bị nhà nước Việt Nam bắt giữ. Hàng loạt tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường đã phải đóng cửa, ngưng hoạt động.

Một trong những nhà hoạt động môi trường tiêu biểu là luật sư Đặng Đình Bách, 46 tuổi. Ông Bách đã bị bắt vào ngày 2-7-2021, sau đó bị kết án 5 năm tù về tội “trốn thuế”. Gia đình ông Bách cho biết, sáng 2-2-2024, tại trại giam số 6, tỉnh Nghệ An, ông bắt đầu tuyệt thực, đòi chính quyền Việt Nam phải thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật, nhằm bảo vệ quyền con người.

Theo tin từ bà Kate Holcome, thuộc Liên minh Luật Môi trường Toàn cầu (ELAW Environmental Law Alliance Worldwide) cho biết, bà Trần phương Thảo, vợ của LS Đặng Đình Bách, đã gửi thư đến các toà Đại sứ tại Việt Nam, các tổ chức bảo vệ môi trường, các bạn và đồng nghiệp của chồng bà trên toàn cầu, loan tin ông Bách bắt đầu tuyệt thực ngày 2-2-2024 để phản đối trại giam không thực thi pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân. Bà Thảo kêu gọi sự giúp sức của mọi người trong cuộc tranh đấu đòi công lý và tự do cho chồng bà và cũng chuyển lời LS Bách đến chính quyền Việt Nam:

“Trên tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền, Việt Nam cần bảo đảm thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người, điều mà bấy lâu nay không được bảo vệ đầy đủ nên tạo ra những bức xúc và bất công trong toàn xã hội. Thực thi pháp luật là yếu tố tiên quyết thể hiện thiện chí của nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”.

Chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la từ JETP của chính phủ Việt Nam hiện đang gặp chống đối dữ dội từ Liên minh bảo vệ Khí hậu Việt Nam (VCDC – Vietnam Climate Defenders Coalition), gồm hàng trăm các tổ chức bảo vệ môi trường toàn cầu (2) vì trong hai năm qua nhiều chuyên gia hoạt động môi trường ở Việt Nam bị bắt giữ. Tổ chức này cho tuyên bố:

“Trong khi các quan chức công khai cam kết làm chậm lại vấn đề biến đổi khí hậu, thì chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục bắt và giam giữ những nhà hoạt động môi trường hàng đầu như LS môi trường Đặng Đình Bách“.

“Chính phủ Việt Nam hoan nghênh tài trợ từ các nỗ lực quốc tế như Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) trị giá 15,5 tỷ đô la, đồng thời bịt miệng các nhà hoạt động. Chính phủ Việt Nam đang cố che giấu điều gì với cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư?“

VCDC nêu lên sự vi phạm của chính phủ Việt Nam về khía cạnh “công bằng” của JETP khi xã hội dân sự ở Việt Nam bị hạn chế nghiêm trọng về khả năng tham gia vào quá trình này. VCDC cũng lên tiếng đòi hỏi sự giám sát của Nhóm Đối tác Quốc tế (G7 và Hoa Kỳ) và các nhà tài chính của JETP.

Để có một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng ở Việt Nam, các nhà chức trách cần:

– Tìm cách trả tự do ngay lập tức cho ông Đặng Đình Bạch, bà Hoàng Thị Minh Hồng và các nhà lãnh đạo xã hội dân sự khác đang bị cầm tù bất công ở Việt Nam.

– Tiến hành thẩm định nghiêm ngặt các mối đe dọa đối với những người bảo vệ môi trường và nhân quyền cũng như các hạn chế đối với hoạt động môi trường và sự tham gia của người dân ở Việt Nam, phù hợp với các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và xã hội của các bên liên quan của JETP, vì chúng liên quan đến việc tài trợ và thực hiện dự án do JETP tài trợ.

– Bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt chính sách “tham gia cộng đồng mà không sợ bị trả thù“ được cam kết bởi các bên liên quan JETP, bao gồm IFC, ADB và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP); và phát triển các quy tắc điều chỉnh cụ thể để chủ động ứng phó với các hành động trả thù nếu chúng xảy ra.

– Yêu cầu việc tài trợ và thực hiện dự án JETP phụ thuộc vào các biện pháp bảo vệ rõ ràng, chống lại sự trả thù và trả đũa đối với những người bảo vệ môi trường và các nhà hoạt động nhân quyền, cùng với các khung chính sách để xã hội dân sự tham gia một cách tự do và an toàn vào việc thiết kế, ra quyết định, giám sát và thực hiện dự án của JETP. 

– Thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho xã hội dân sự, được quy định bởi các tiêu chuẩn và hiệp ước quốc tế nhằm tạo ra và duy trì, về mặt luật pháp và trên thực tế, một môi trường thuận lợi an toàn cho xã hội dân sự tự do hoạt động, bao gồm cải cách luật pháp và chính sách liên quan đến đăng ký và các yêu cầu về thuế đối với dân sự, các hiệp hội xã hội quá nặng nề và không phù hợp với các quyền cơ bản, bao gồm quyền tự do hội họp, lập hội và biểu đạt.

Quá trình chuyển đổi năng lượng xanh sẽ không thành công cho đến khi các chuyên gia bảo vệ môi trường như LS Đặng Đình Bách và các nhà hoạt động môi trường được quyền lên tiếng công khai và tự do dẫn đầu phong trào.

_______

Ghi chú:

(1) https://www.euronews.com/green/2024/02/02/air-pollution-is-so-bad-in-this-asian-capital-that-flights-are-being-diverted-due-to-low-v

(2) https://www.standwithbach-viet.org/


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều tảo mộ

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

06/02/2024

“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả.

Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Nxb: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắc dân bản địa – ở Việt Nam:

“Đối với người Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là người sống từ giã người chết. Lễ này được cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày người chết qua đời.

Mùa gặt hái hoàn tất, mọi người đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mời thầy cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai chăm sóc nữa.

Người Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Đức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar – sắc dân sống ở Đông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Định – cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm… Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.” (Toan Ánh. “Tang Lễ Của Đồng Bào Thượng.” Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn 01 Sept 1963).

Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải  mãi cho đến cuối năm 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.

Cái nắng của những buổi chiều cuối năm thường khiến tôi hay bị nặng lòng, dù ở bất cứ đâu. Nhưng phải trải qua một buổi chợ chiều, chợ tết, ở một làng quê nơi đất lạ thì mới hiểu ra thế nào là nỗi buồn xa xứ.

Dân Việt túm tụm dọc mé sông Tonle Sap, đoạn chảy qua xã Phsar Chhnang (tỉnh Kampong Chhnang) có thể đông đến vài ngàn. Tuy thế, cái đám người trôi sông lạc chợ nhếch nhác, te tua, rách nát này không tạo nổi không khí Tết cho khu chợ cạnh bờ.

May mà vẫn còn vài cái cặp đèn lồng đỏ, năm bẩy cây quất, và mấy chậu cúc vàng của những gia đình gốc Hoa nên hè phố trông cũng đỡ phần ảm đạm. Tôi cứ nhìn mãi một em gái nhỏ, đứng bán đôi cành mai đã héo mà không khỏi cảm thấy có đôi chút bận lòng.

Như mọi người Việt khác ở bến sông này, tôi cũng là kẻ phiêu bạt không nhà nên chả có chỗ để cắm hoa. Muốn biếu em một số tiền nho nhỏ, đủ để sắm sửa một bữa cơm chiều cuối năm tươm tất cho gia đình nhưng đang loay hoay chưa biết cách sao cho tế nhị thì chợt nghe tiếng đồng hương quen thuộc:

  • Sao ông thầy lang thang gì mình ên vậy ? Đi tảo mộ với tụi em nha, gần xịt thôi hà.

Thấy tôi hơi ngần ngừ, bà vợ rụt rè thêm:

  • Dạ, sẵn bữa nay có làm gà với mua được xị rượu để cúng nên mới dám mời ông thầy …

Nghe cách xưng hô thì tôi đoán là họ có con đang theo học ở trường làng Kandal, dưới bến sông. Không ai biết tôi tên gì cả, họ chỉ thấy ông già này thường lui tới ngôi trường này và hay chơi đùa với lũ trẻ con nên gọi tôi bằng “thầy” cho nó tiện việc sổ sách – thế thôi.

Phải nhìn thấy cảnh nuôi gà trên những túp lều nổi tả tơi, và những bữa cơm đạm bạc quanh năm (toàn với khô hay cá vụn nhỏ li ti) của những người suốt đời sống lênh đênh thì mới hiểu được rằng được mời ăn gà là một hân hạnh không thể chối từ – dù tôi chả mặn mà gì với gà và vịt!

May mà từ chợ đến nghĩa địa gần thật, chỉ chừng hơn cây số. Đang là mùa khô, nước rút nên mới lộ ra vài chục tấm mộ bia thô kệch và xấu xí. Chả ai sống qua tuổi sáu mươi. Khi còn tại thế (chắc) họ chưa bao giờ được giáp mặt với một ông nha sĩ, hay bác sĩ – dù chỉ một lần.

Sau khi thắp hương, nhổ cỏ, vun xới mộ phần, mọi người ngồi quanh chuyện trò ăn uống. Dường như ai cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã làm xong chút bổn phận, cuối năm, với kẻ đã khuất.

Khó có thể ngờ rằng được đó là lần tảo mộ cuối cùng của cộng đồng người Việt ở xã Phsar Chhnang. Năm sau, từ Phnom Penh, thông tín viên Sơn Trung ̣(RFA) tường thuật: “Làng nổi của người Việt bị di dời… Theo thông báo của chính quyền tỉnh Kampong Chhnang thì việc di dời sẽ được thực hiện từ ngày 10 tháng 10 và chấm dứt trước ngày 25 tháng 10 năm 2015.”

Tháng 10 thì Á Châu vẫn còn mưa, và mưa tầm tã. Bia mộ vẫn còn chìm sâu dưới nước. Với cái “thông báo” bất ngờ (và bất nhơn) trên thì chắc chắn không ai có cơ hội tạ mả, trước khi tiếp tục trôi xuôi theo kiếp lục bình.

Ở trời Âu, có những kẻ may mắn hơn nên được nằm yên mãi mãi trong những mộ phần và được thăm viếng thường xuyên:

“Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy… Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu…

Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944…

Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan…

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang. Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ ‘hòa giải’ nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.” (Hồ Đắc Túc. “Những Mộ Phần Bên Nhau”. Dân Luận 01/01/201̣9).

Cùng lúc với Hồ Đắc Túc, Ngô Thanh Tú cũng đi tảo mộ ở quê nhà (Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) nhưng với tâm trạng hoàn toàn không thư thái:

“Cứ mỗi bước chúng tôi đi đều phải chịu sự giám sát của ít nhất hai bảo vệ nơi này. Ánh mắt soi mói, những câu hỏi vô duyên, như : chụp hình để làm gì? Có động cơ gì không? làm chúng tôi vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng tôi nói, dường như cái chủ trương truy cùng giết tận còn được áp dụng cho cả người chết. Chế độ này ko chỉ trả thù người chết mà còn sợ họ đội mồ sống dậy nên kiểm soát rất chặt chẽ.”

FB Từ Đức Minh cho biết thêm : “Với bản chất thú tính, bất chấp luân lý và tình người. Người Cộng Sản không cần biết thế nào là nghĩa tử, nghĩa tận. Họ chủ động giáo dục cho đám con trẻ gọi mộ người lính Việt Nam Cộng Hòa là ‘mả ngụy’, ‘mả giặc’. Người ta canh tác rau trên mộ, tưới nước phân dơ bẩn, thả trâu bò lội giẫm đạp lên mộ. Khốn nạn hơn nữa, họ cho người đào giữa ngôi mộ và trồng lên đó những cây to. Mấy năm sau cây lớn làm xập mộ…”

Người đang sống ở Lộc Hưng mà họ còn ủi cho xập nhà, xập cửa thì xá gì đến chuyện mộ bia ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà!


 

Luật gia Đặng Đình Bách tuyệt thực tiếp sức ông Trần Huỳnh Duy Thức đòi quyền lợi

Luật gia Đặng Đình Bách tuyệt thực tiếp sức ông Trần Huỳnh Duy Thức đòi quyền lợi

RFA
2024.02.05

Ông Trần Huỳnh Duy Thức (trái) và ông Đặng Đình Bách

 RFA edited

Ông Đặng Đình Bách, người đang thụ án tù năm năm, tuyên bố tuyệt thực từ ngày 02/02 để tiếp sức bạn tù cùng phòng Trần Huỳnh Duy Thức nhằm đòi quyền lợi của tù nhân, cũng như phản đối việc bị đối xử hà khắc bởi cán bộ Trại giam số 6 (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, người chỉ còn hơn một năm nữa sẽ mãn án tù 16 năm, cũng đã tuyệt thực từ ngày 27/1 để phản đối căng-tin từ chối bán thức ăn cho ông, trong khi ông cùng ba bạn tù khác ở cùng Phân trại 1 không nhận thức ăn của trại giam từ tháng 9/2023.

Trong cuộc thăm gặp ngày 01/2, bà Trần Phương Thảo đã được chồng là luật gia Đặng Đình Bách chia sẻ kế hoạch của ông:

Anh Bách tuyên bố là sẽ bắt đầu tuyệt thực từ ngày 02/2 bởi vì Trại giam số 6 đã không tuân thủ pháp luật, không đảm bảo quyền của tù nhân.”

Bà Thảo ngày 02/02 cho phóng viên Đài Á Châu Tự Do (RFA) biết, mặc dù cán bộ trại giam kiểm soát chặt chẽ cuộc trò chuyện giữa hai người, thế nhưng ông Bách vẫn chia sẻ được lý do vì sao ông lại làm như vậy. Bà thuật lại thông tin nghe từ chồng:

Anh Thức đã nhịn ăn từ ngày 27/01 và hiện nay anh mệt lắm rồi, anh ấy yếu lắm và có những lúc anh ấy không thở được.

Anh Bách khuyên anh Thức dừng tuyệt thực từ hôm nay, anh Bách muốn tiếp sức để có thể thuyết phục được anh Thức dừng tuyệt thực và anh Bách sẽ tiếp sức để vẫn giúp đạt được mục đích.”

Bên cạnh lý do trên, ông Bách cũng muốn phản đối việc trại giam không bảo đảm quyền lợi trong việc gửi thư và gọi điện về nhà, cũng như căng-tin của trại giam không bán rau và hoa quả cho ông.

Ông Bách cho vợ biết trong tháng 12/2023, ông viết hai bức thư gửi về cho gia đình nhưng cho đến nay gia đình vẫn chưa nhận được.

Cuối tháng 1 vừa qua, ông đăng ký gọi điện về cho gia đình nhưng trại giam chỉ cho phép ông gọi về để trao đổi thông tin về sức khoẻ trong khi ông muốn nói những nội dung mà pháp luật không cấm. Do ông không đồng ý nên trại giam đã cắt quyền được gọi điện về nhà.

Bà Thảo cho biết từ tháng 9, ông Bách cùng ba bạn tù chính trị khác trong Phân trại 1 không nhận khẩu phần ăn từ trại giam.

Ông chỉ ăn thức ăn khô từ gia đình gửi vào, và muốn mua thêm rau và trái cây từ căng-tin của trại giam, tuy nhiên căng-tin luôn trả lời không có hàng để bán cho nhóm tù nhân chính trị này. Ông cho rằng đây là sự trù dập của cán bộ trại giam đối với bốn người tù bất khuất luôn phản đối sự đối xử vô nhân đạo của cơ sở giam giữ.

Trại giam còn không cung cấp nước sôi để ông Bách có thể chế biến đồ khô như bột đậu, bún miến khô… mà gia đình gửi vào, buộc ông phải dùng nước lạnh trong điều kiện mùa đông rét mướt ở khu vực miền núi của tỉnh Nghệ An.

Tuyên bố sẽ tuyệt thực đến cùng để đòi quyền lợi, ông Bách nói với vợ:

Nhà nước Việt Nam trên tinh thần xây dựng nhà nước pháp quyền cần đảm bảo thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người điều mà bấy lâu nay tạo ra những bức xúc và bất công trong toàn xã hội nói chung và những người đang bị giam giữ nói riêng.”

Phóng viên không thể liên lạc với Trại giam số 6 qua điện thoại để hỏi về tình hình của ông Bách và ông Thức cũng như kiểm chứng tố cáo của hai ông.

Như đã đưa tin, ông Bách và ông Thức báo với gia đình việc có một nhóm người cầm dao nhảy vào khu giam giữ tù chính trị của Phân trại 1 trong một đêm cuối tháng 8/2023 để đe doạ bốn tù nhân ở đây sau khi họ đòi nhà tù niêm yết công khai khẩu phần ăn của tù nhân.

Ông Bách tố cáo đã bị quản giáo đánh vào đầu, gây thương tích nghiêm trọng khi ông thông báo tin này cho gia đình. Tuy nhiên, trại giam luôn bác bỏ cáo buộc của ông.

Gần đây, đại diện Viện Kiểm sát tỉnh Nghệ An có vào trại làm việc nhưng không gặp ông Bách để làm việc về đơn tố cáo của ông.

Ông Bách nhiều lần tuyệt thực dài ngày để phản đối việc bị đối xử bất công và vô nhân đạo ở Trại giam số 6. Lần gần đây nhất kéo dài một tháng và kết thúc giữa tháng 7/2023.

Không được cấp sổ hồng cho căn hộ trả góp và hệ luỵ

Ngoài việc bị kết án 5 năm tù giam, ông Bách còn bị buộc phải nộp số tiền 1,4 tỷ đồng trong vụ án “trốn thuế” cho các khoản tài trợ của các dự án xã hội thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Phát triển Bền vững (LPSD), nơi ông Bách làm giám đốc.

Trong nhiều tháng qua, Cục Thi hành án dân sự của Hà Nội đã yêu cầu bà Thảo nộp số tiền phạt nói trên. Gần đây, cơ quan này đã yêu cầu chủ toà nhà nơi có căn hộ trả góp của vợ chồng ông Bách bà Thảo không giao sổ hồng cho bà để gây sức ép.

Bà Thảo cho biết gia đình bà không thể đăng ký hộ khẩu thường trú do không có sổ hồng, dẫn đến hậu quả là con trai gần ba tuổi không thể đăng ký học trường công ở khu vực, ngoài ra gia đình bà không thể ký hợp đồng mua nước sạch với giá ưu đãi cho cư dân chung cư mà bị buộc phải trả tiền với giá cao.

Hiện tại, bà nuôi con nhỏ và không có thu nhập gì trong khi phải thăm nuôi chồng ở trại giam.

Phóng viên gọi điện đến Cục thi hành án dân sự của thành phố Hà Nội để hỏi về trường hợp của ông Bách thì người trực điện thoại yêu cầu phóng viên đến trụ sở cơ quan để được làm việc trực tiếp.


 

 Tương lai của đất nước…

Peter Nguyen

Trưa 23 tháng Chạp, người ta thấy một đứa bé ngủ ngon giấc, có lẽ là giấc ngủ rất bình an, gần chợ Gò Vấp, cạnh em có một ổ bánh mì chắc ai đó sợ em đói nên đặt đó, để em ăn khi tỉnh dậy.

Em nằm ngủ ngon lành, giữa một đất nước khi Tết đến xuân về cờ đỏ sao vàng bay phất phới, khẩu hiệu do Dân- vì Dân chăng đầy khắp các ngõ hẻm – Nơi cổng chào tượng đài ngàn tỉ nhiều hơn trường học, bệnh viện.

Và cách đó chỉ vài cây số đường chim bay, nơi có Nhà hát 2 ngàn tỉ đang xây dựng hùng vĩ, nhìn rất vĩ đại, giữa một thành phố có tên hồ chí minh, nơi mà 10m2 đất lên tới cả triệu đô la, đắt nhất hành tinh này.

Em sinh ra và lớn lên ở một đất nước có những người giàu họ sẵn sàng vung hàng ngàn tỉ để cho một trường học ở xứ giàu nhất Châu Âu, nơi, mà tỉ phú vung tiền cả trăm tỉ để đẻ ra một giải thưởng vinh danh các nhà khoa học, mặc dù điều đó chẳng mang lại lợi ích dù là khích lệ cho họ. Nơi, mà cả hệ thống chính trị áp phe để cùng xà xẻo 4 ngàn tỉ thuế Dân, qua một công ty có tên Việt Á.

Em sinh ra nơi mà lãnh đạo suốt ngày miệng thì nói những lời viển vông, hoa mỹ, có cánh để mị Dân – nào là: Không có ai bị bỏ lại phía sau, nhưng chỉ có em thì bị bỏ bên lề đường. Nào là trẻ em là tương lai của đất nước…mà một manh chiếu để nằm cũng không!

Miệng thì họ nói rất hay, nhưng tay thì tìm cách vơ vét, xà xẻo dù cho vét cả giang sơn, cả xương máu đồng bào. Dù cho đem cả Dân tộc này lên đoạn đầu đài thì quan chức, lãnh đạo cũng không chùn tay.

Em nằm đó, em nghĩ gì? Mặt trời có tỏa sáng lên lưng em? Em có nghĩ đã bao giờ đất nước ta có cơ đồ như hôm nay?

Cơ đồ ấy là gì? trẻ em người nghèo thì ngủ ở cầu cống, ở khắp các chợ, khu nhà hoang, ven đường, còn quan chức đảng viên thì ở các khu biệt phủ xa hoa, kín cổng cao tường đi đứng có người đón rước, kẻ hầu người hạ?

Trong khi đó một m2 đất hơn 2,4 tỉ nghĩa là đất nước đó phải phát triển lắm, hệ thống an sinh xã hội đáng ra phải có nguồn lực lớn, tại sao em lại ngủ ở ven đường?

Em phải ngủ ở đó, vì ngân sách đã bị quan tham vơ vét rồi còn đâu. Em phải nằm đó vì đất đai bị xà xẻo, phân lô và tiền cũng chạy vòng vào tay quan chức để gửi ra nước ngoài hết rồi còn đâu. Em nằm ngon giấc, mơ về thiên đường. Còn thiên đường thật thì quan đảng ta đã xây dựng ở trời Âu, ở bờ biển Síp, hay mùa thu sông Seine ở Paris rồi.

Có ai hỏi vì sao đất nước ta nguồn lực xã hội và tài nguyên trời phú như thế mà vẫn nghèo, hệ thống chính trị có lắm ban bệ đủ ban ngành mà nước ta vẫn nghèo?

Thưa chúng ta bộ gì cũng có, hơn hẳn nhiều quốc gia khác cả bộ chính trị và ban tuyên giáo, nhưng lãnh đạo ta thiếu bộ não. Cạnh đó thiếu cả lương tâm…

Chúng ta, hãy nhìn đứa bé này để thấy tương lai của đất nước ta, một tương lai nghèo đói ăn bờ ngủ bụi đang bao trùm lên đất nước ta một ngày không xa.

——-

Ảnh: Đình Bổn.

NHỚ TẾT NGÀY XƯA – Bài của Mạc Van Trang

Nguyễn Xuân Diện

Bài của Mạc Van Trang

Cứ Tết đến, những kỷ niệm Tết xưa từ ngày thơ bé lại hiện về, gợi nhớ nao nao…Xin kể lại cái Tết của nhà mình vào trước cách mạng 1945.

Mình nhớ sâu đậm nhất là cái Tết vào năm 1944 (Giáp Thân) lúc mình 6 tuổi, “tuổi ta” là 7 tuổi. Sau đó là cách mạng 1945, rồi chiến tranh, không bao giờ còn cái Tết như ngày xưa nữa.

Trước Tết chừng một tháng đã thấy không khí rạo rực rồi. Trong nhà thấy ai cũng nói đến Tết. Trẻ con được sắm quần áo mới, không được cả bộ thì cũng được cái áo hay cái quần mới. Rồi cắt tóc hay cạo đầu mới. Mẹ, Dì hai rồi các thím, các chị thì nhuộm lại răng cho đen nhánh. Mình cứ tò mò xem nhuộm răng thế nào. Hoá ra thuốc nhuộm người ta đã quết sẵn vào những miếng lá nón bằng ngón tay trẻ con; buổi tối, các bà, các chị súc miệng, lau răng khô rồi dán thuốc vào răng, sáng hôm sau bóc miếng lá nón ra, răng đen nhánh. Nhưng phải ăn cháo cả ngày, đến hôm sau mới dám ăn cơm, để giữ cho thuốc nhuộm bám chắc. Tài thật, thế mà răng đen bền rất lâu. Cùng với đó là chuẩn bị mua trầu, cau, vỏ, lọ bình vôi cho đầy đủ để Tết ăn trầu cho ấm người, má hồng, môi đỏ…

Trẻ con rất tò mò thấy những người lạ gánh hàng Tết đi bán rong dọc làng, chủ yếu là vàng, hương, trầu, cau, vôi, vỏ, hạt tiêu … Hay nhất là mấy người thợ “rum”, đi nhuộm thuê quần áo, chủ yếu là nhuộm yếm và các thắt lưng. Các bà thì thắt ‘bao tượng” đũi giản dị thôi. Nhưng các chị, các cô thì thích mặc yếm đào, áo mớ ba mớ bảy và thắt lưng ba bốn màu. Các màu ưa nhất là màu xanh lá mạ, màu đỏ tía hay hoa đào, màu vàng, màu mận chín… Chị Vượng còn có bộ dây “xà tích” bằng bạc để đeo cùng với mớ thắt lưng, khi đi, vừa thấy màu sắc thắt tung tẩy, vừa nghe tiếng “xà tích” lanh canh… Ra Tết, Hội làng, các chị, các cô mới thích diện, nhất là nhún cây đu cho thắt lưng rực rỡ tung bay và tiếng “xà tích” leng keng”…

Trước ngày cúng ông Công ông Táo, Bố dẫn mấy anh em đi TẢO MỘ. Bố vác cuốc, anh Trân hơn mình 4 tuổi thì cầm cái cái liềm với mồi rơm giữ lửa, mình cầm mấy thẻ hương. Trời gió rét mà 3 bố con cứ đi chân đất ra cánh đồng.

Bố dẫn đến mộ Ông nội ở bên kia đê, là ngôi mộ xa nhất, rồi giải thích tại sao lại để mộ Ông ở đây…

Mộ Ông cỏ mọc um tùm. Bố lấy cuốc khua khua vào đám cỏ và bảo, có rắn rết thì nó chạy đi. Bố bảo anh Trân lấy liềm cắt cỏ trên mộ. Mộ Ông không xây gạch, không có bia như bây giờ. Mộ chỉ là một mô đất tròn tròn, cao nhô lên và có một cục đá xanh cắm ở bên để đánh dấu. Bố lấy cuốc vạc cỏ ở chung quanh mộ và đánh mấy vầng cỏ đắp vào chỗ lõm trên mộ…

Ngắm ngôi mộ sạch sẽ, tươm tất, mới mẻ, bố mới lấy 3 nén hương, châm mồi lửa thắp lên, cắm trên mộ và khấn vái. Hai anh em cũng làm theo bố. Bố giải thích là mời Ông về ăn Tết với con cháu.

Sau đó về Đống Con Cá rồi Đống Con Phượng sửa sang mộ của Cụ ông, Cụ Bà rồi mộ hai Bà… Tất cả đến 7-8 ngôi mộ.

Xong việc tảo mộ đến DỌN DẸP nhà cửa. Phải lấy cái chổi rơm mới, buộc vào đầu sào để quét mạng nhện trên mái nhà, vách nhà… Rồi lau dọn Bàn thờ gia tiên. Đồ thờ bằng đồng, bằng gỗ phải đem cọ rửa, lau khô và sắp đặt y như cũ… Mâm “ngũ quả” cũng toàn cây nhà lá vườn đơn sơ thôi. Bố chỉ bảo cho các con trai làm từng việc; còn Mẹ và con gái lo các thứ chuẩn bị gói bánh chưng và mâm cỗ cúng tất niên.

Ngày xưa chuẩn bị cho cái Tết từ nửa năm trời. Mấy nhà vào loại trung nông như nhà mình thường hẹn nhau đụng một con lợn, thường chọn con lợn ỷ, được nuôi cẩn thận, gần Tết vỗ béo, cho ăn nhiều cám, ít bèo…Rồi gà phải thiến trước 5-6 tháng; măng, mộc nhĩ phải phơi, cất gác bếp; lá dong gói bánh chưng trồng ngoài vườn, phải chăm sóc trước mấy tháng… Cái mo cau để bó giò xào, giò thủ cũng để sẵn trên gác bếp, đem ngâm nước cho mềm ra…

Trong nhà xong rồi thì dọn dẹp ngoài sân, vườn, cổng ngõ. Tất cả phải gọn gàng, sạch sẽ, kẻo năm mới bà con đến chúc Tết, người ta cười cho, có mà rông cả năm!

Nhà cửa tươm tất rồi, Bố mới dẫn mấy anh em ra bụi tre, chọn cây tre cao, thẳng, làm CÂY NÊU. Cây tre được róc nhẵn nhụi, chỉ để mấy cành lá trên ngọn, trên đó treo một mảnh vải điều, Bố viết mấy chữ Nho, mấy tua sợi xanh, đỏ, tím, vàng, mấy cái chuông, khánh nhỏ. Cây Nêu dựng lên, anh em có vẻ thích lắm: Cây Nêu nhà mình có khi cao nhất nhì trong xóm, và khoái chí thấy tấm vải điều, mấy sợi tua ngũ sắc cùng với cành lá tre bay phất phơ, tiếng chuông khánh kêu leng keng…

Tiết mục hồi hộp nhất là sáng 30 Tết MỔ LỢN. Trong xóm đã nghe tiếng lợn nhà ai kêu “éc ec”… rồi. Nhà mình cũng sắp mổ lợn. Ngày xưa trẻ con xúm đến xem mổ lợn, giã giò, gói bánh chưng… lại được khuyến khích: Này lũ trẻ, phải nhìn cho kỹ, sau này có cái ăn còn biết làm cho ra tấm ra miếng…

Con lợn ỷ chừng 60 cân hơi, mổ ra chắc được hơn 40kg cả xương lẫn thịt, chia 4 phần. Nhà mình đông người ăn “một góc”. Các nhà khác lại chia đôi, tức là ăn “một khoé” (⅛). Mấy đứa trẻ con tranh nhau cái bong bóng lợn. Người lớn phải phân giải: nhà thằng Trân nuôi lợn, lại ăn một góc nên nó được cái bong bóng. Nói vậy, nhưng cả đám trẻ xúm lại đem cái bóng lợn vào bếp, lấy tro nóng nhồi, bóp rồi rửa sạch, thổi phồng lên và ra tung, ném chơi với nhau….

Lạ nhất là món Tiết canh, lòng lợn. Mấy người lớn, “hãm” rồi “đánh” tiết canh thế nào mà nhà ăn một góc lợn được 2 bát, nhà ăn một “khoé” được một bát… Rồi những thứ đậu rang lên giã ra trộn với các thứ lá và tiết để dồi vào bộ lòng lợn. Lòng luộc xong cũng được chia phần như chia thịt.

Bố bỏ thịt vào cái nia, lọc xương ra, bảo để ninh măng. Thịt nạc thăn lọc ra, bảo chú Đạt với anh Vượng (anh cả) giã lấy cái giò nạc; thịt vai, mông thái ra ướp hạt tiêu, nước mắm để gói bánh chưng. Bố đã tính, thái 40 miếng thịt to đều nhau để gói 20 cái bánh chưng; mấy miếng thịt vụn để gói bánh chưng con cho mỗi đứa trẻ một cái.

Bố với anh cả Vượng làm mấy cái giò lụa, giò sỏ, giò xào rồi gói bánh chưng. Xế chiều mới bắc bếp luộc bánh ở góc sân. Trẻ con hồi hộp ngồi vây quanh nồi bánh, vừa sưởi ấm, vừa tiếp củi, vừa nướng ngô, khoai ăn với nhau và háo hức mong ngóng chiếc bánh chưng con.

Trong khi đó Mẹ, Thím Đạt, chị Sen (dưới anh cả Vượng) cùng với chị Vượng thì lo thịt gà, nấu cỗ làm cơm cúng tất niên. Vậy là mâm cúng tất niên chỉ có xôi, gà, thịt ba chỉ luộc và các món nấu, chưa có bánh chưng và các món giò…

Rượu thì cô Kham lấy chồng ở làng Hóp, chuyên nấu rượu, đem cho một vò. Cô Mùi lấy chồng ở Đồn Phao (Phả lại) chuyên làm nước mắm thì đem cho một hũ mắm ngon…

Nhưng bọn trẻ chưa được ăn. Người lớn thì đi gội đầu bằng nước nóng đun với cây Mùi già; trẻ con bị lôi ra góc sân tắm với loại nước thơm đó, rét run cầm cập…

Bố với chú Đạt cúng xong thì trải chiếu ra sân gạch, sắp ba mâm, vì cả nhà mình đã 10 người, cùng với bốn mẹ con thím Nhiên và vợ chồng chú Đạt, lúc đó cùng ở quây quần trên mảnh vườn của Ông Nội để lại. Cỗ 30 Tết cả nhà đông vui, lại có xôi, thịt gà, lòng lợn, thịt lợn luộc, các món xào nấu…Chỉ có Bố, Chú, các anh mới được ăn tiết canh, uống rượu. Nhưng với trẻ con, cỗ Tết thế này cũng ngon ơi là ngon…

Ăn cơm xong thấy anh Vượng, anh Trân lấy vôi ra vẽ ở góc sân một cái cung lắp mũi tên, bắn ra ngoài. Bốn góc sân đều vẽ như vậy. Anh Vượng bảo, các mũi tên chĩa ra bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc để trừ ma quái không dám vào nhà.

Bọn trẻ con chầu chực phải tối lâu lâu, bánh con mới được vớt ra, mỗi đứa một chiếc. Nhưng bánh nóng, nhũn quá, phải ngâm vào nước, nắn cho vuông, treo lên, sáng hôm sau mới được ăn…

Sáng Mùng một cả nhà ai cũng hồi hộp, dậy sớm xem anh Vượng, anh Trân đốt pháo. Có 2 bánh pháo tép, đốt lên nổ đì đẹt, mùi khét khét, thơm thơm, xác pháo màu hoa đào, bay tung tóe trên sân trước cửa nhà. Để thế mới đẹp. Năm mới không được quét sân, quét nhà, hót của đổ đi!

Trẻ con được người lớn lôi ra rửa mặt bằng nước mùi thơm, đun lên pha nóng, mặc quần áo mới, ăn bánh chưng con và sướng nhất được mấy xu mừng tuổi…

Thấy bố đặt bánh chưng và mấy thứ lên bàn thờ, thắp hương khấn vái, rồi bảo anh Trân với mình theo Bố ra lễ Đình làng. Mấy bà thì chuẩn bị đi lễ Chùa…

Lần đầu tiên mình được mặc áo the (chưa có khăn xếp), nhưng được đi guốc theo Bố đi lễ.

Sân Đình cắm đầy cờ Thần, bay phấp phới. Dân làng đã khá đông, chúc tụng nhau râm ran.

Bố giải thích về Thành hoàng làng có hai vị. Đệ nhất Thành hoàng là Tiến sĩ Tuấn Lương, Ngài làm quan đời Lý, khi nhà Trần lên, Ngài chạy về làng, lúc ấy là xóm Trại hẻo lánh bên sông để ở ẩn, rồi mở lớp dạy chữ cho dân làng, bảo ban dân làng mở mang làm ăn… Đệ nhị Thành hoàng là một tướng nhà Trần, đánh quân Tàu xâm lược trên sông Bạch Đằng, tử trận, trôi về bờ sông bên làng, đùn lên thành đống mối. Làng chôn cất Ngài ở Đống Nhất…

Buổi trưa Mồng một Lễ cúng gia tiên mới đúng là Tết, có đủ bánh chưng, giò nạc, giò thủ, giò xào, các món xào, nấu … Cơm cúng là cơm gạo Dự, cơm mới sôi lên ở dưới bếp đã thơm lừng cả nhà. Thường gia đình trung nông trở lên, nhà ai cũng cấy một – hai sào lúa Dự (giống như lúa Tám thơm) để ăn vào những dịp Giỗ, Tết. (Từ khi vào HTX thì giống lúa này tuyệt chủng, vì năng suất thấp).

Mọi người đã bàn đến cỗ cúng trưa Mùng ba hóa vàng, đây cũng là bữa cỗ to, kết thúc “ăn Tết”. Rồi bàn đến “Vào Đám” mùng 6 tháng Giêng, giã bánh dày đi Hội… Thấy các bà, các chị bảo, năm nay Phường Chèo mãi đâu sẽ về diễn Quan Âm Thị Kính. Người thì bảo Quan Âm Thị Kính, năm kia xem rồi. Người khác lại bảo thì xem phường này diễn có hay không? Phường trước, con Thị Màu già quá, nhưng nó hát hay, diễn lẳng ơi là lẳng… Người khác lại bảo, sao bảo diễn vở Trương Viên hay Phạm Tải Ngọc Hoa… Xem ra các bà, các chị thuộc hết các vở chèo, nhưng cứ diễn đi, diễn lại, mỗi phường một khác nhau, vẫn hay…

Rồi con trai, con gái làng này lại đi sang các làng khác xem Hội của nhau. Đúng kiểu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”…

Nay nghĩ lại thấy, đời sống dân làng mình khá đồng đều, nên Tết cả làng rất vui. Làng có chừng 150 gia đình; có ba nhà xứng đáng là Địa chủ (họ giỏi làm ăn nhiều đời, chứ chả dám gây ác với dân làng; chuyện hách dịch thì có); có chừng 7 nhà Phú nông (cũng làm ăn giỏi, căn cơ); chừng 30 nhà Trung nông như nhà mình. Số còn lại ở mức nghèo khác nhau, nhưng ít người bị đói. Năm đói 1945, làng mình chỉ chết đói có hai người; một người già và một anh tên là Ất, mồ côi cả cha lẫn mẹ, đêm đi bẻ trộm ngô mãi bãi sông, về ngã xuống mương nước chết rét…

06/2/2021

M.V.Tr.


 

Tham nhũng từ thượng tầng, lò nào cũng vỡ

Ba’o Nguoi-Viet

February 2, 2024

Thanh Hà

Ngày 31 Tháng Giêng vừa qua, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN đồng ý để ông Trần Tuấn Anh thôi giữ các chức vụ ủy viên Bộ Chính Trị, ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương khóa 13, theo nguyện vọng để nghỉ hưu sớm trước 60 tuổi của ông.

Ông Trần Đức Quận, ủy viên Trung Ương Đảng, bí thư tỉnh Lâm Đồng. (Hình: VNExpress)

Việc ông Trần Tuấn Anh bị kỷ luật mất tất cả các chức vụ cho thấy, chỉ hơn nửa nhiệm kỳ của đại hội đảng khóa 13, đã có đến ba ủy viên Bộ Chính Trị mất chức. Đó là các ông Nguyễn Xuân Phúc (chủ tịch nước), Phạm Bình Minh (phó thủ tướng thường trực), và Trần Tuấn Anh. Và số ủy viên Bộ Chính Trị khóa 13 hiện nay chỉ còn lại 15 người.

Nếu tính gộp số ủy viên trung ương bị kỷ luật trong đó tính cả số ủy viên Bộ Chính Trị như vừa kể thì tổng số thành viên Ban Chấp Hành Trung Ương qua hơn nửa nhiệm kỳ đại hội 13 đã bị kỷ luật là 16 người. Đó là Trần Văn Nam, bí thư Bình Dương; Nguyễn Thành Phong, phó Ban Kinh Tế Trung Ương; Bùi Nhật Quang, bí thư kiêm chủ tịch Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội; Huỳnh Tấn Việt, bí thư Đảng Ủy Khối Các Cơ Quan Trung Ương; Phạm Xuân Thăng, bí thư Hải Dương; Vũ Đức Đam, phó thủ tướng; Chu Ngọc Anh, chủ tịch Hà Nội; Nguyễn Thanh Long, bộ trưởng Bộ Y Tế; Nguyễn Phú Cường, chủ nhiệm Ủy Ban Tài Chính & Ngân Sách Quốc Hội; Điểu K’Re, phó bí thư thường trực Đắk Nông; Lê Đức Thọ, bí thư Bến Tre; Trần Đức Quận, bí thư Lâm Đồng; và Phan Việt Cường, bí thư Quảng Nam.

Đó là các nhân sự do tự tay Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chọn lựa chi tiết, tỉ mỉ theo quy trình khoa học năm bước, bảy bước trên tinh thần, “…kiên quyết không đưa các nhân sự có tham vọng quyền lực, có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực tham gia Ban Chấp Hành Trung Ương.”

Danh sách 16 người bị kỷ luật từ đầu Đại Hội 13 đến nay cho thấy tất cả đều mắc sai phạm từ các nhiệm kỳ đại hội đảng các khóa trước chuyển sang.

Theo báo Dân Trí ngày 30 Tháng Giêng, Bộ Tư Pháp Việt Nam cho biết đã thu hồi được số tài sản tham nhũng cao nhất từ trước tới nay, với hơn 89,000 tỷ đồng, trong đó có trên 20,000 tỷ đồng bị thu hồi từ tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế – tăng gần 4,500 tỷ so với năm 2022.

Điều đó cho thấy, chất lượng nhân sự cũng như kết quả công cuộc “đốt lò” do Trưởng Tiểu Ban Nhân Sự Nguyễn Phú Trọng là tổng chỉ huy rất, rất có vấn đề.

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, có một hiện tượng hết sức bất thường trong việc khởi tố các vụ án tham nhũng ở các địa phương. Đó là “các cặp bài trùng” bí thư Tỉnh Ủy và chủ tịch tỉnh đều bị bắt giam, chỉ khác nhau về thời điểm, nhưng với các tội danh giống “y chang.”

Đó là Bí Thư Trần Văn Nam và Chủ Tịch Trần Thanh Liêm của Bình Dương, Bí Thư Trần Đình Thành và Chủ Tịch Đinh Quốc Thái của Đồng Nai, Bí Thư Trịnh Văn Chiến và Chủ Tịch Nguyễn Đình Xứng của Thanh Hóa, và mới nhất là Bí Thư Trần Đức Quận và Chủ Tịch Trần Văn Hiệp của Lâm Đồng, Bí Thư Nguyễn Nhân Chiến và Chủ Tịch Nguyễn Tử Quỳnh của Bắc Ninh… và có lẽ danh sách sẽ còn dài.

Điều đó nói lên tình trạng hầu hết ban lãnh đạo các tỉnh hiện nay đã hình thành sự liên minh, cấu kết trong vấn đề tham nhũng mang tính tổ chức diễn ra hết sức phổ biến. Đó là sự toa rập có hệ thống, giữa các lãnh đạo trong Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, cụ thể là sự thống nhất giữa bí thư tỉnh ủy và chủ tịch tỉnh, với sự tiếp tay của hệ thống lãnh đạo các sở, ban, ngành cấp dưới trong tỉnh, với một mục tiêu chung là đục khoét ngân sách nhà nước dưới các chiêu bài tham nhũng khác nhau.

Tình trạng vừa kể khiến cho người ta nhớ tới một phát biểu để đời của cựu Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang (2011-2016) phát biểu rằng: “Trước kia chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều con sâu lắm! Nghe mà thấy xấu hổ. Không nhẽ cứ để mãi như vậy, mai kia người ta nói là cả một bầy sâu, tất cả là sâu hết. Thế đâu có được! Một con sâu đã nguy hiểm rồi. Một bầy sâu là chết cái đất nước này!”

Phát biểu của ông Tư Sang trước đây phản ánh rất đúng với những gì đang xảy ra hiện nay, sau hơn 10 năm đảng CSVN nằm dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Thậm chí vấn nạn tham nhũng hiện nay còn lớn hơn nhiều ở mức quy mô và tính liên kết có tổ chức. Đây là một vấn đề hết sức đáng báo động.

Nhà báo Lê Thiếu Nhơn của báo Nông Nghiệp Việt Nam, trong bài viết “Liên minh tham nhũng: Bí thư-Chủ tịch” mới đây đưa ra những nhận xét và những cảnh báo rất đáng lo ngại. Ông đề cập vụ bắt giữ liên tiếp hai quan chức đương nhiệm của tỉnh Lâm Đồng và khởi tố cùng một tội danh. Hai người này có liên quan đến sai phạm trong dự án khu đô thị nghỉ dưỡng Nam Đà Lạt của công ty Sài Gòn-Đại Ninh, do đại gia Nguyễn Cao Trí làm tổng giám đốc.

Theo tác giả Lê Thiếu Nhơn đánh giá: “Nghĩa là người đứng đầu tổ chức đảng và người đứng đầu chính quyền địa phương đã cùng phạm tội, và điều đó báo động về thực trạng đồng liêu tham nhũng. Trường hợp cả bí thư tỉnh ủy và chủ tịch tỉnh sánh bước ra tòa trong một vụ án, dường như không còn mang tính cá biệt.”

Tương tự, liên quan đến những sai phạm của giới chức lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng vừa qua, trong bài viết “Củi tươi Lâm Đồng,” tác giả Phong Lan của trang web Việt Nam Thời Báo xác nhận một cách chua xót: “…các ông Trần Văn Hiệp, chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, Trần Đức Quận, bí thư tỉnh ủy, lúc đó đang nằm trong Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy. Chưa đầy một năm sau mới lộ ra rằng họ ngoài là đồng chí thì đồng thời họ cũng là đồng bọn.”

Hơn thế nữa, tác giả Phong Lan đưa ra nhận xét rất đáng lo ngại: “Đà Lạt-Lâm Đồng vốn là nơi trưởng thành của bà Trương Thị Mai (thường trực Ban Bí Thư kiêm trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương) nên ít nhiều cũng có nhiều gắn bó với lớp quan chức đã cùng bà Mai đi lên từ Tỉnh Đoàn Lâm Đồng. Nếu củi Lâm Đồng tiếp tục bị đốt nhiều hơn nữa, có thể đoán được rằng, trong hai năm tới, lớp đàn em của bà Mai sẽ bị quét sạch. Cuộc chiến ác liệt giữa quân xanh quân đỏ đi tới hồi khốc liệt.”

Trong bài bình luận “Điều gì sẽ đến sau những xáo trộn trong hàng ngũ lãnh đạo đảng” của Tiến Sĩ Zachary Abuza, thuộc National War College, Washington DC, khi bàn về nhân sự kế nhiệm ghế tổng bí thư, ông nhắc đến tên của bà Trương Thị Mai và nhận xét rằng “…Phạm Minh Chính, Tô Lâm, và Trương Thị Mai khó có khả năng là các ứng viên tiếp theo.”

Theo giới thạo tin cho biết, lâu nay, bà Mai được cho là “bà trùm” – là tổng chỉ huy bộ máy chính trị của tỉnh Lâm Đồng. Mới đây, Facebooker Hoàng Dũng viết trên trang Facebook cá nhân: “Liệu Bí Thư Lâm Đồng Trần Đức Quận có khai với anh Tô Lâm chuyện xây nhà, mua nhà cho Thường Trực Ban Bí Thư Trương Thị Mai không?”

Như vậy sau hơn tám năm, cái lò của ông Nguyễn Phú Trọng hầu như lập ra để tự đốt những sai lầm của mình, bây giờ lại đẻ ra tình trạng hình thành liên minh tham nhũng với sự cấu kết của bí thư và chủ tịch tỉnh, và sự tiếp tay của hệ thống lãnh đạo cấp dưới.

Đây là một vấn đề cực kỳ nguy hiểm, nếu để kéo dài nó sẽ phá nát chế độ trong một ngày không xa. [đ.d.]


 

Cứ như “bác” dạy thì đảng… liệt rồi!-Đồng Phụng Việt

Ba’o Tieng Dan

Blog RFA

Đồng Phụng Việt

2-2-2024

Những người lính quân đội đứng gác trước một tấm biển ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia tại Hà Nội nơi diễn ra Đại hội Đảng CSVN 13 hôm 26/1/2021. Nguồn: AFP

Đảng CSVN đang làm nhiều chuyện để kỷ niệm 94 năm ngày thành lập tổ chức chính trị này (3/2/1930 – 3/2/2024). Theo thông lệ, toàn đảng CSVN đồng thanh tụng ca truyền thống, công lao và sự ưu việt của họ.

Một trong những bài tụng ca kiểu này vừa được giới thiệu trên báo điện tử VietNamNet do bà Vũ Thị Kim Yến – Thạc sĩ đang làm việc tại Phòng Sưu tầm, Kiểm kê, Tư liệu thuộc Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch – viết.

Bà Yến khẳng định: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác” (1). Tuy nhiên đó không phải là ý tưởng của bà Yến. Đó là “bác” dạy. Lời “bác” dạy được bà Yến trích nguyên văn: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên” và ngoài điều đó, bà Yến còn trích dẫn nhiều lời dạy khác của “bác”. Chẳng hạn, “trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo” là “vi trùng rất độc”!

Cứ nhìn vào thực tế hoạt động của đảng CSVN trong vài thập niên gần đây, tự nhiên sẽ thấy, dù không ngừng “học tập và làm theo” đủ thứ như “tư tưởng, đạo đức, tác phong” của “bác”  nhưng đảng của bà Yến vẫn bị nhiễm độc toàn thân và kết quả phiên họp bất thường do Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) đảng khóa 13 vừa tổ chức hôm 31/1/2024 chính là ví dụ mới nhất về tình trạng vô phương cứu vãn. Cứ căn cứ vào lời “bác” dạy thì sức mạnh của đảng không chỉ suy giảm mà đã… toàn thân bất toại!

***

Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa 13 bắt đầu chỉ đạo, điều hành hoạt động cả của đảng CSVN lẫn chính quyền Việt Nam từ cuối tháng 1/2021. Đến cuối tháng 1 năm nay là tròn hai năm. Trong hai năm ấy, tổ chức này tổ chức 13 phiên họp và gần một nửa (5/13) là những phiên họp bất thường. Mục tiêu chính của cả năm phiên họp bất thường là để loại trừ một số thành viên trong BCH TƯ đảng, trong đó có cả những thành viên đang đảm nhận vai trò Ủy viên Bộ Chính trị (Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Bình Minh, Trần Tuấn Anh).

Nếu tính gộp, BCH TƯ đảng khóa 13 đã loại trừ tổng cộng 16 đồng chí mà trước đó đảng CSVN từng khẳng định là “tinh hoa” của cả đảng lẫn của… dân tộc và đã được lựa chọn, cân nhắc kỹ càng.

Ngoài ba người được BCH TƯ đảng khóa 13 tín nhiệm bầu vào Bộ Chính trị rồi… nhất trí loại trừ như vừa kể, 13 người còn lại cũng đã được… nhất trí để loại trừ là: Trần Văn Nam (Bí thư Bình Dương), Chu Ngọc Anh (Chủ tịch Hà Nội), Nguyễn Thanh Long (Bộ trưởng Y tế), Nguyễn Thành Phong (Phó Ban Kinh tế của BCH TƯ), Bùi Nhật Quang (Bí thư kiêm Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Huỳnh Tấn Việt (Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương), Phạm Xuân Thăng (bí thư Hải Dương), Vũ Đức Đam (Phó Thủ tướng), Nguyễn Phú Cường (Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội), Điểu K’Re (Phó Bí thư Thường trực Đắk Nông), Lê Đức Thọ (Bí thư Bến Tre), Trần Đức Quận (Bí thư Lâm Đồng), Phan Việt Cường (Bí thư Quảng Nam).

Cũng cần lưu ý là, ngoài năm phiên họp bất thường mà mục đích chỉ là tụ tập để… nhất trí loại bỏ, còn 4/8 phiên họp chính thức cũng có tiết mục… nhất trí loại bỏ một số thành viên chính thức đang tại nhiệm là các phiên thứ ba (5/7/2021 – 8/7/2021), phiên thứ sáu (3/10/2022 – 9/10/2022), phiên thứ bảy (15/5/2023 – 17/5/2023), phiên thứ tám (2/10/2023 – 8/10/2023). Nếu cộng cả bốn phiên họp chính thức với năm phiên họp bất thường thì  có tới 9/13 dịp tụ tập của BCH TƯ đảng khóa 13 là để loại bỏ… “tinh hoa”!

Đảng CSVN là tổ chức độc quyền lựa chọn 16 Ủy viên BCH TƯ khóa 13 đã bị… loại bỏ và độc quyền sắp đặt 16 cá nhân này vào những vị trí lãnh đạo cả đảng lẫn bộ máy công quyền, bất kể 16 cá nhân này đều có những dấu hiệu rõ ràng đã làm trái với điều “bác” dạy. Thế thì tại sao sau đó, đảng CSVN lại lôi 16 cá nhân này ra xử lý kỷ luật vì… đã từng hành xử…  “trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo”? Làm như thế có khác gì tự giác nhận thêm “vi trùng rất độc” khi đã thề sẽ… nỗ lực điều trị tận gốc?

***

Khoan bàn đến các sai phạm, chỉ xem cách BCH TƯ đảng khóa 13 loại bỏ ông Trần Tuấn Anh và ông Phan Việt Cường qua phiên họp bất thường vừa được tổ chức cách nay vài ngày ắt sẽ thấy, dù vẫn bi bô về “học tập và làm theo” mọi thứ từ “bác” nhưng xét cho đến cùng, “bác” cũng chỉ được đảng CSVN dùng như pháp sư dùng… “bùa”. Nếu BCH TƯ đảng khóa 13 chấp nhận cho ông Trần Tuấn Anh và ông Phan Việt Cường “thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu” thì chẳng khác gì công nhận các thành viên trong BCH TƯ đảng khóa 13 từ Tổng Bí thư trở xuống… thua xa hai ông này trong việc  “học tập và làm theo” mọi thứ từ “bác”. Tại sao chỉ có hai ông này tự giác nhận “trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để xảy ra nhiều vi phạm, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự, xử lý kỷ luật đảng, hành chính” và… tự xử bằng cách xin từ bỏ các chức vụ, nghỉ hẳn, còn Tổng bí thư và toàn bộ những thành viên còn lại trong BCH TƯ đảng khóa 13 vẫn bình chân như vại?

Chẳng lẽ từ Tổng Bí thư trở xuống không có bất kỳ ai phải chịu trách nhiệm khi lựa chọn, sắp đặt rồi xử lý kỷ luật 16 Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13, trong đó có ba kiêm nhiệm vai trò Ủy viên Bộ Chính trị và đang đảm nhận nhiều trọng trách khác nhau, từ Chủ tịch Nhà nước, Phó Thủ tướng, đến Bộ trưởng, Bí thư một tỉnh, Chủ tịch một thành phố?… Khi toàn bộ thành viên của BCH TƯ đảng khóa 13 nhất trí cho ông Trần Tuấn Anh và ông Phan Việt Cường “thôi giữ chức” với lý do như đã công bố (2) thì có khác gì xác định hai ông này… tử tế hơn, xứng đáng hơn… ông Nguyễn Phú Trọng và các ông khác vì chỉ có hai ông này mới nghiêm chỉnh “học và làm theo” mọi thứ từ “bác”, thành ra chỉ có họ mới biết nhận “trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để xảy ra nhiều vi phạm, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự, xử lý kỷ luật đảng, hành chính”?

Dẫn ý “bác”, xác định “trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo” là “vi trùng rất độc” chính là minh định đảng đã nhiễm trùng từ đầu trở xuống!

Tương tự, dùng những ý của “bác” như “sức mạnh vô địch của đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên” để ca tụng việc xử lý kỷ luật chẳng khác gì xỏ xiên, đảng đã… liệt rồi!

Tham khảo

(1) https://vietnamnet.vn/suc-manh-vo-dich-cua-dang-la-o-tinh-than-ky-luat-tu-giac-2245721.html

(2) https://dantri.com.vn/xa-hoi/hai-can-bo-cap-cao-thoi-giu-chuc-uy-vien-bo-chinh-tri-uy-vien-trung-uong-20240130193833544.htm


 

Bắt người trước Tết Nguyên Đán

Tác Giả: Đàn Chim Việt

31/01/2024

Ông Phạm Văn Chờ bị áp giải đi

Ngày 30-1, Công an tỉnh Hưng Yên, Cơ quan An ninh điều tra tỉnh Hưng Yên đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Phạm Văn Chờ (sinh năm 1964, trú thôn Hướng Đạo, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự. Quyết định đã được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh phê duyệt.

Theo cơ quan điều tra thì, trong 3 năm từ 2020-2023 Phạm Văn Chờ đã quản lý và sử dụng tài khoản facebook “Chờ Phạm Văn” và “Nguyễn Minh Tân” phát livestream đăng tải, chia sẻ nhiều video clip “bôi nhọ Đảng, Nhà nước và xúc phạm lãnh tụ”, “nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ”.

Việt Nam đang giam giữ hàng trăm tù nhân lương tâm, trong đó có những người chỉ vì đăng bài trên Facebook.


 

 Tây Nguyên, miền đất bất yên-Tưởng Năng Tiến

Ba’o Tieng Dan

Tưởng Năng Tiến

1-2-2024

Về binh nghiệp của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Wikipedia tiếng Việt có ghi nhận sự kiện sau: “Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách. Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Lê Văn Duyệt bèn xin lệnh chém này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên”.

Sao mà ổng “dẹp loạn” lẹ làng, gọn gàng, dễ dàng dữ vậy cà? Nó dễ tới cỡ khiến cho hậu thế hả hê và (lắm kẻ) không khỏi ngỡ ngàng, cùng với ít nhiều … nghi ngại! Tôi thuộc loại đa nghi nên muốn tìm hiểu xem Wikipedia đã lấy sử liệu từ đâu về cái vụ “chém chết viên quan nhiễu hại” này?

Đọc Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu (Quyển II) thì thấy có chi tiết hơi khang khác: “Năm Mậu Thìn thứ VII (1808) … lại sai Lê Văn Duyệt đánh giặc mọi. Lúc ấy mọi khổ vì Phó quản cơ Lê Quốc Huy nhiễu hại quá, cho nên làm phản, Duyệt xét được việc ấy, bắt Quốc Huy tâu xin chém, quân mọi liền ra đầu hàng”.

Như thế, rất có thể là do “lỗi thằng đánh máy” nên Wikipedia đã ghi sai là “dân mới nổi dậy”. Chắc là “dân mọi nổi dậy” mới đúng!

Vũ Man Tạp Lục Thư của Ôn Khê Nguyễn Tấn (bản do Nguyễn Đức Cung sưu tầm, khảo cứu, phiên âm và chú thích) cũng ghi chép gần như thế nhưng bằng thứ ngôn từ văn minh và nền nã hơn nhiều:

Công cuộc bình định Cao nguyên của tiền nhân đã không hề đơn giản: Tả quân Lê Văn Duyệt, người được tín nhiệm nhất; người đã dùng uy lực thu phục được các bộ lạc Thượng hung dữ nhất, vào tháng Giêng năm Mậu Thìn, 1808, đã chém đầu Phó quản cơ Lê Quốc Huy khi ông này sách nhiễu quá đáng khiến người Thượng nổi loạn”.

Tôi chưa có dịp được xem Vũ Man Tạp Lục Thư và chỉ được đọc đoạn văn thượng dẫn trong một status ngắn (“Chém Đầu Viên Quan Sách Nhiễu Khiến Người Thượng Nổi Loạn”) của nhà báo Trương Huy San, xuất hiện nơi trang Facebook của ông vào hôm 26/09/2023.

Bên dưới status này là đôi ba lời bình rất … đắt:

– Yen Vu: “Rối loạn Tây nguyên xét cho cùng, cũng do người Kinh gây ra hết … em nói thật”.

– Hoàng Phi: “Tây Nguyên bất ổn mấy năm nay không biết đem ông nào ra chém đây”?

Nếu học được theo gương trị an của Triều Nguyễn, Hà Nội (chắc chắn) cũng đã phải chém ít nhất vài chục quan chức của họ ở Tây Nguyên. Hãy xem lại đôi ba sự việc nghiêm trọng, đã làm xáo trộn đời sống ở vùng đất này, từ hai thập niên qua.

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin, Việt Nam đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dak Lak. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lạng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk – đã lắc đầu quầy quậy:

Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây. Không, tuyệt đối là không có…” (“There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not…” – theo như tường thuật của AFP, vào ngày 6-9-2002, “Demonstrators Arrested in Vietnam’s Central Highlands”.)

Tưởng ai xa lạ, chớ ông Lạng này thì tôi đã có lần nhìn thấy hình trên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23-3-2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn, về những biến động xảy ra ở Đắk Lắk – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lạng cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ (thản nhiên) tương tự: “Ðấy chẳng qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!

Cái được ông Nguyễn Văn Lạng mô tả là “những vụ cãi vã giản dị… giữa hai ngôi làng”, theo nhiều nguồn tin đáng tin cậy khác, gồm “nhiều ngàn nông dân đã sử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của đảng Cộng sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai. (Nguyên văn: “Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use”, theo như tường thuật của Mark Mc Donald “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones”, trên San Jose Mercury News, hôm 26-2-2001).

Sau đó, ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã sử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào “những vụ cãi vã giản dị” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Tuy thế, ông Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đắk Lắk không bị xử tử, xử chém (hay khiển trách gì ráo) mà còn được báo chí quốc doanh vinh danh là vị lãnh đạo “xử lý bạo loạn bản lĩnh” nữa cơ. Bởi thế, vài năm sau, máu lại đổ ở Tây Nguyên vào Lễ Phục Sinh (hôm 10 và 11-4-2004) nên thường được gọi là cuộc Thảm Sát Phục Sinh.

Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam, ông Lê Dũng (tất nhiên) lại chối: “Việt Nam cực lực bác bỏ tin của tổ chức Human Rights Watch nói rằng một số người biểu tình đã bị ‘đánh đến chết’ ngày 10-4 ở đường Phan Chu Trinh, bên ngoài Buôn Ma Thuột trong các cuộc biểu tình cuối tuần qua”.

Cứ chối hết, chối liền, chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối đây đẩy, chối nằng nặc, chối bai bải, chối quầy quậy, chối tuốt luốt … là kể như huề cả làng thôi! Tuy “huề” thiệt nhưng không “huề” luôn, và cũng chẳng “huề” lâu.

Đến năm 2011 thì xảy ra biến cố khác, với sự tham dự của bảy ngàn người dân bản địa H’mong, ở huyện Mường Nhé – tỉnh Điện Biên. Hậu quả được Wikipedia ghi nhận như sau: “Vào thời điểm vụ biểu tình xảy ra, theo hãng thông tấn DPA của Đức, đã có ít nhất 40 người biểu tình được cho là thủ lĩnh của người H’Mông ở Điện Biên đã bị công an bắt, trong đó có ít nhất 3 em nhỏ đã chết.

Trong khi đó, Trung tâm Phân tích Chính sách Công (CPPA) tại Washington DC ngày 9 tháng 5 năm 2011 ra thông cáo báo chí cho rằng, đã có ít nhất 63 người chết và hơn 1.000 người H’Mông chạy thoát vào rừng trong khoảng thời gian từ ngày 30 tháng 4 năm 2011 đến ngày 9 tháng 5 năm 2011 – khi vụ biểu tình kết thúc. Tuy nhiên, về phía công an giám sát vụ việc, đã không có thương vong hay bạo lực gì được gây ra bởi các người dân/ công an trong suốt thời gian vụ biểu tình diễn ra”.

Về sự kiện này, trang Bauxite Việt Nam có nhận xét ngắn gọn nhưng vô cùng chính xác (tôi tiếc là không nhớ được nguyên văn) là … nếu thay thế hai từ Điện Biên bằng Tây Nguyên thì kịch bản xảy ra giống nhau y hệt!

Chớ nào có khác gì đâu. Tây Bắc hay Tây Nguyên thì cũng chừng đó vấn đề thôi: Đất đai, tôn giáo, chủng tộc … Cả ba đều bị nhũng nhiễu, lũng đoạn tới cùng, và bị áp chế dã man, tàn bạo. Ở đâu giới quan chức cũng đều được dung dưỡng, bao che để tiếp tục lộng quyền (thay vì xét xử) nên bi kịch của Tây Nguyên (nói riêng) và Cao Nguyên (nói chung) e sẽ còn dài – nếu chế độ toàn trị hiện hành vẫn còn tồn tại.