Phóng viên Đức-Stephan Koester: “Kết quả cuộc cách mạng Việt Nam không như chúng tôi mong đợi”

Hòa Ái, phóng viên RFA
2018-04-24
 

Phóng viên Stephan Koester trong ngày lễ chiến thắng tại Sài Gòn tháng 05/1975.

Phóng viên Stephan Koester trong ngày lễ chiến thắng tại Sài Gòn tháng 05/1975.

 Courtesy: Ảnh do Phóng viên Stephan Koester cung cấp

Nhà làm phim tài liệu Stephan Koester là một thành viên thuộc Ủy ban sáng kiến ủng hộ ngành điện ảnh và truyền hình Việt Nam (gọi tắt là IK), do một nhóm trí thức trẻ ở Tây Đức thành lập hỗ trợ về truyền thông cho Chính phủ Hà Nội trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Sau 43 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, ông Stephan Koester chia sẻ với RFA về thời gian 65 ngày ông có mặt ở Sài Gòn trong thời điểm lịch sử cận đại của Việt Nam sang trang.

Trước hết, ông Stephan Koester nói về những ấn tượng mà ông không bao giờ quên trong những giây phút cuối cùng của cuộc chiến diễn ra tại Sài Gòn.

Ông Stephan Koester: Tôi rất ấn tượng về những thanh niên Việt Cộng, bởi vì không thể nhìn thấy họ là những người nghèo nàn, bị đói khát và dơ bẩn vì bước ra từ các trận đánh và khi họ xuất hiện ở thành phố, họ e thẹn và rất lịch sự ít nhất là với chúng tôi, những phóng viên nước ngoài. Tôi cũng rất ấn tượng về những người lính của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi lo sợ binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa có thể chống lại những phóng viên phương Tây và những người Mỹ, bởi vì Hoa Kỳ đã bỏ rơi họ. Là phóng viên, chúng tôi nghĩ rằng tính mạng của mình có thể bị gây hại chỉ trong vòng một phút đồng hồ do họ có vũ khí hạng nặng trong tay. Tuy nhiên, không có gì xảy ra. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã quăng bỏ súng ống và lặng lẽ bỏ đi mất dạng. Cánh phóng viên chúng tôi còn rất trẻ. Chúng tôi nhìn vào mắt nhau, nhìn vào mắt của các thanh niên Việt Cộng và nhìn vào mắt của những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa và cả những người Mỹ với mong muốn chúng tôi có thể là bạn bè và gặp nhau trong một hoàn cảnh khác để cùng nhau uống bia và tâm sự chuyện đời, nhưng chúng tôi không có thời gian và mạnh ai nấy làm công việc của mình. Tất cả mọi người vào thời điểm đó đều có kỷ luật cao mặc dù họ rất bị căng thẳng. Tôi không nhìn thấy người dân đi trên phố tỏ ra sợ hãi các thanh niên Việt Cộng. Tôi đến Sài Gòn vào ngày 26/04. Tôi không thể biết được nhiều hơn vì tôi chỉ lòng vòng chỗ khách sạn Continental Palace và những gì tôi nhìn thấy là một bức tranh hoàn mỹ.

Hòa Ái: Ông đến Sài Gòn để giúp Chính phủ Hà Nội ghi lại những hình ảnh tư liệu lúc bấy giờ. Do đó, ông được có cơ hội gặp gỡ và làm việc trực tiếp với những người Cộng sản Việt Nam mà ông gọi là Việt Cộng sau ngày 30/04. Cảm nhận đầu tiên của ông về họ như thế nào?

Ông Stephan Koester: Bạn hãy tưởng tượng xem, tôi là một sinh viên đến từ Đức, 25 tuổi và tôi biết về Việt Cộng qua hình ảnh tuyên truyền họ chiến đấu vì tự do và chống lại chuyên chế. Đối với giới sinh viên chúng tôi ở Đức, những người Việt Cộng là anh hùng nên với riêng tôi đó là khoảnh khắc lý thú và quan trọng trong đời khi được gặp gỡ với các anh hùng này. Tôi yêu mến họ. Họ trông có vẻ nguy hiểm, nhưng khi nhìn vào mắt họ, tôi có thể cảm nhận được những khó khăn mà họ đã trải qua một tuần trước đó. Tôi được tiếp xúc với nhiều thanh niên ở các quốc gia và nền văn hóa khác nhau, nhưng tôi ngưỡng mộ những trải nghiệm của thanh niên Việt Cộng. Họ rất lịch sự khi trả lời câu hỏi của những người xung quanh. Và đừng quên điều tôi đã nói là nhiều người dân Sài Gòn không lẩn trốn trong nhà, họ đi ra đường mà không sợ hãi những người Việt Cộng. Tôi là phóng viên độc lập thiện nguyện và những gì tôi nhìn thấy tại thời điểm đó thật sự là hoàn hảo. Tôi đã ghi lại được những thước phim về các hình ảnh đẹp của họ ở Sài Gòn.

Tôi là một sinh viên đến từ Đức, 25 tuổi và tôi biết về Việt Cộng qua hình ảnh tuyên truyền họ chiến đấu vì tự do và chống lại chuyên chế. Đối với giới sinh viên chúng tôi ở Đức, những người Việt Cộng là anh hùng nên với riêng tôi đó là khoảnh khắc lý thú và quan trọng trong đời khi được gặp gỡ với các anh hùng này. Tôi yêu mến họ
-Phóng viên Stephan Koester

Hòa Ái: Tôi được biết sự phấn khích của ông về những người Cộng sản Việt Nam bị dần thay đổi và suy nghĩ của ông về cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm của họ cũng thay đổi theo trong thời gian 65 ngày ông ở Sài Gòn. Vì sao như vậy, thưa ông?

Ông Stephan Koester: Tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình sau vài tuần lễ ở Sài Gòn và trong nhiều tháng sau đó. Bởi vì, có quá nhiều thứ lần lượt bị thay đổi. Chúng tôi là những sinh viên người Đức, chúng tôi có ảo tưởng rằng những thành viên trong Mặt trận Giải phóng miền Nam như Bà Ngô Bá Thành, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa  và những giáo sư, sinh viên sẽ góp mặt trong thành phần của chính phủ mới tại Việt Nam. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Không lâu sau ngày 30/04, quân chính quy Bắc Việt từ Hà Nội vào với tư tưởng tôn thờ thần tượng một cách tuyệt đối. Đó không phải là điều tôi trông đợi. Chúng tôi nghĩ là họ theo thuyết chủ nghĩa xã hội nhưng theo một cách tự do chứ không phải rập khuôn.

Theo quan điểm cá của tôi, tôi không thích nhìn thấy trẻ em mặc đồng phục thắt khăn quàng đỏ diễu hành làm cho tôi nhớ đến chế độ Đông Đức, tôi không thích hàng loạt loa phóng thanh hàng ngày lặp đi lặp lại cả trăm lần những điều tuyên truyền. Tôi dần sau đó cảm thấy cuộc cách mạng ở Việt Nam không còn tốt đẹp nữa. Việt Nam thay đổi không như những gì thanh niên Đức mong đợi. Tôi rời Việt Nam trong tâm trạng u sầu với lời cầu chúc tốt nhất cho đất nước này.

Khi về lại Đức, IK muốn tôi lên tiếng tuyên truyền về Việt Nam với truyền thông Đức hay có những buổi nói chuyện với sinh viên Đức, nhưng tôi đã không làm theo ý họ. Tôi đưa tất cả tư liệu phim và hình ảnh ở Việt Nam cho các đồng chí của mình. Tôi đã ẩn mình vì tôi bị chán nản và buồn thảm, không thể nào tiếp tục công việc tuyên truyền cho Hà Nội được nữa. Tôi rất thất vọng với Chính phủ Hà Nội bởi vì họ đã xóa bỏ vai trò của cái gọi là Mặt trận Giải phóng Miền Nam trong chính phủ mới ở Sài Gòn. Bởi vì Mặt trận Giải phóng Miền Nam cởi mở hơn với phương Tây trong khi Hà Nội chỉ cứng nhắc theo quan điểm chính trị giống như Liên Xô và Trung Quốc. Tôi không có nhận xét gì về điều này, nhưng tôi nghĩ rằng họ sẽ không xây dựng Việt Nam theo chiều hướng tự do.

30441774_2155622787789116_8646483473580008956_n.jpg
Phóng viên Stephan Koester trên một chiếc xe tăng Mỹ tại cửa ngõ Sài Gòn ngày 01/05/1975. Courtesy: Ảnh do Phóng viên Stephan Koester cung cấp

Hòa Ái: Tôi cũng được biết ông tiếp tục theo đuổi nghề nghiệp phóng viên và làm phim cho đến tận bây giờ. Có bao giờ ông làm việc liên quan đến những người tị nạn Việt Nam ở Đức trong 4 thập niên qua, hay tình trạng buôn người từ Việt Nam đến Đức trong những năm gần đây hay không?

Ông Stephan Koester: Không. Sau khi rời Việt Nam, tôi chưa bao giờ trở lại. Tôi cũng không làm thêm bất cứ phim nào liên quan đến Việt Nam. Tôi vẫn luôn nghĩ đến cơ hội được làm việc với người Việt về vấn đề tị nạn, nhưng tôi không biết tại sao không có dịp nào cả. Tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ đến Sài Gòn và thăm lại những nơi chốn cũ vì tôi rất yêu thích Việt Nam.

Tôi rất thất vọng với Chính phủ Hà Nội bởi vì họ đã xóa bỏ vai trò của cái gọi là Mặt trận Giải phóng Miền Nam trong chính phủ mới ở Sài Gòn. Bởi vì Mặt trận Giải phóng Miền Nam cởi mở hơn với phương Tây trong khi Hà Nội chỉ cứng nhắc theo quan điểm chính trị giống như Liên Xô và Trung Quốc. Tôi không có nhận xét gì về điều này, nhưng tôi nghĩ rằng họ sẽ không xây dựng Việt Nam theo chiều hướng tự do
-Phóng viên Stephan Koester

Hòa Ái: Ông đã thực hiện một phim tài liệu, với nhan đề “Bản báo cáo thành tích”, để giải bày về sự cay đắng của ông về một lý tưởng bị sụp đổ, được đài truyền hình Đức ZDF phát sóng và được công chiếu tại Liên hoan phim Berlin Biennale 1983. Trong phim này, ông đã nói rằng “sau ngày 30/04/1975 Việt Nam bị chia cắt không phải vì địa lý mà tâm hồn”. Đã 43 năm trôi qua, bây giờ ông nghĩ sao về điều đó?

Ông Stephan Koester: Với sự hiểu biết của tôi thì người ta không thể nào dễ dàng thay đổi mong ước hay quan điểm ý thức hệ của mình. Cho nên tôi nghĩ rằng nhiều người Việt Nam, trong đó những người lớn tuổi vẫn còn bị “chia cắt”. Tôi vẫn không quên những gì tôi chứng kiến ở Sài Gòn và những gì cha mẹ của các thanh niên Việt Nam đã nói với họ lúc đó. Tôi nghĩ rằng người Việt Nam còn bị “chia cắt” và dĩ nhiên vẫn chưa có sự bình yên trong tâm hồn, nhưng tôi nghĩ mỗi người họ cần hàn gắn vết thương lòng và thoát ra khỏi nỗi đau từ cuộc chiến Việt Nam. Tôi không dám có lời nhận xét nào về chiến tranh Việt Nam. Tôi chỉ có thể cầu chúc điều tốt lành nhất cho Việt Nam được độc lập như ông Hồ Chí Minh đã từng nói rằng đất nước phải được độc lập và được xây dựng tốt đẹp trong tương lai.

Hòa Ái: Chân thành cảm ơn ông Stephan Koester dành thời gian cho cuộc trò chuyện này cùng Đài Á Châu Tự Do.

Tham khảo: Phim tài liệu “Bản báo cáo thành tích”  của Stephan Koester (có phụ đề tiếng Việt):

https://www.youtube.com/watch?v=XMGjEE5LW5s&t=524s

Vay 17 tỉ đô la, dùng hơn 11 tỉ đô la để trả nợ.

 
 
Image may contain: 1 person, text

Trương Quang ThiFollow

Vay 17 tỉ đô la, dùng hơn 11 tỉ đô la để trả nợ. 

Cái tít bài báo đã nói lên bản chất của nền kinh tế do Cộng Sản Việt Nam điều hành. 
Thực ra điều hành quốc gia cũng tương tự như điều hành một doanh nghiệp vậy thôi. Khi bạn đã phải đi vay để trả nợ và lãi thì coi như doanh nghiệp của bạn về bản chất là đã phá sản hoàn toàn. Trong trường hợp đó sẽ không có ngân hàng nào tiếp tục cho bạn vay nữa mà chỉ còn đám giang hồ nó mới cho vay, và đương nhiên lãi suất sẽ khác. Tuy nhiên việc nhà cầm quyền cầm cố một quốc gia với hơn 100 triệu công dân thì mọi thứ có khác.

Đầu tiên các chủ nợ sẽ xem xét thể chế đó có quản lý được công dân của họ hay không, có thu thuế tốt hay không. (đương nhiên người ta không cần quan tâm tới việc quản lý bằng súng đạn, dùi cui hay bằng luật pháp). 

Kế đến là người ta xem xét vấn đề tài nguyên mà thể chế đang nắm giữ. 

Tiếp theo sau đó là phương thức mở thị trường cho chủ nợ đến mức nào. Việt Nam hiện nay với hơn trăm triệu dân là thị trường hấp dẫn cho bất cứ nền kinh tế bên ngoài nào. Họ cho vay tiền đồng nghĩa với việc doanh nghiệp của họ được hưởng lợi gì từ nền kinh tế của chúng ta.

Xét cho cùng, việc cái thể chế này nó tồn tại được là bởi dân ngu. Cứ nhìn hành động ùn ùn đi chụp ảnh chân dung tại các nhà mạng thì đủ hiểu trình độ nhận thức của dân chúng ở mức nào. Khi bạn phải trả tiền cho họ để sử dụng dịch vụ. Khi mà họ sẽ phá sản nếu bạn đồng loạt từ chối dịch vụ của họ. Thế nhưng họ vẫn điều khiển bạn chạy như những con rối thì rõ ràng tâm thức của dân chúng ở cái đất nước này rất xứng đáng làm nô lệ.

Đó cũng là lý do mình không lên Facebook nữa. Chẳng có hi vọng gì, không nhìn thấy tí le lói nào thì có lên, có viết cũng là Dã Tràng xe cát mà thôi. Mình không có nhu cầu chơi Facebook, mình không có động cơ ngồi chửi đổng. Mình bỏ công viết hàng ngày là hi vọng truyền được chút cảm hứng cho ai đó dù chỉ một vài người để rồi tạo ra hiệu ứng vệt dầu loang và ngày càng có nhiều người hiểu biết hơn về khái niệm “quyền lực của những người không quyền lực”. 
Thế nhưng sau hơn sáu năm trời miệt mài, nhìn lại xã hội Việt Nam vẫn như một mớ hỗ lốn. Hầu hết công dân, kể cả những người được học hành vẫn chỉ tập trung vào cái máng của mình và gia đình với mong muốn thoả các bản năng. Ăn nhậu, gái gú, cờ bạc, tranh giàng hơn thua, khạt nhổ đái ỉa bậy bạ… mà không hề thay đổi về nhận thức trách nhiệm đối với tổ quốc.

Một dân tộc như vậy dù có tự tin bao nhiêu thì mình vẫn không nhìn thấy tương lai phía trước, bởi những công dân của dân tộc ấy họ đã phó mặc tương lai cho cái thể chế này. 
Quá trình bao nhiêu năm cầm quân mình rút ra được một điều: Không ai có thể khiến người khác trở thành nô lệ trừ khi họ tự nguyện. Dân tộc này đã tự nguyện làm nô lệ.

http://vneconomy.vn/chinh-phu-se-vay-gan-17-ty-usd-tra-no-h…

 

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tàu Cộng

httpv://www.youtube.com/watch?v=uIF57EtN7Lg

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tàu Cộng

“Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Trung Quốc

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tập Cận Bình và bọn lãnh đạo Bắc Kinh còn ghê gớm, tàn độc hơn nhiều và sẽ gây hậu quả khủng khiếp cho nhiều thế hệ kế tiếp bằng cách DIỆT CHỦNG trước, ĐỒNG HÓA sau và bước cuối cùng là xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, không khói súng, không cần dùng đến quân đội, xe tăng, đại pháo mà bằng cách đầu độc dân VN qua những hóa chất và thực phẩm độc hại.

Nay, dân Việt Nam chúng ta đang đứng trước một ĐẠI HỌA là hàng hóa do TQ sản xuất chứa đầy chất độc hóa học tràn ngập thị trường VN, đang đe dọa hủy diệt sinh lực dân tộc ta, biến nước VN thành thị trường tiêu thụ hàng hóa phế thải do TQ sản xuất bị thế giới tẩy chay.

Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, không khói súng, không cần dùng đến quân đội, xe tăng, đại pháo mà bằng cách đầu độc dân VN qua những hóa chất và thực phẩm độc hại.
Những thực phẫm độc hại đã được phát hiện

Cơ quan chức năng đã phát hiện 26 tấn khoai tây có nguồn gốc từ TQ có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp 16 lần cho phép, đội lốt rau củ Đà Lạt được tuồn đi khắp các tỉnh thành trong cả nước. Không chỉ rau củ, cơ quan chức năng còn phát hiện gạo, bún, bánh phở chứa chất cadmium vượt quá tiêu chuẩn ấn định, gây ung thư tuyến tiền liệt, gây ung thư phổi, gây ảnh hưởng nặng nề lên xương, hệ hô hấp, tăng nguy cơ gây dị dạng thai nhi, tràn ngập thị trường Việt.

Rồi đến lợn giả, khô mực giả, bánh tráng giả, cánh gà giả… được bày bán tràn lan, những thực phẩm này được làm từ gelatin và natri oleate. Được biết, hóa chất oleate đã bị cấm sử dụng trong ngành thực phẩm. Chất phụ gia “HƯƠNG LIỆU THỊT BÒ” có thể biến thịt heo thành thịt bò. Để tạo được thịt bò từ 1kg thịt heo, sẽ cần đến 2,5g chất phụ gia nầy.

Đến thực phẩm đóng gói như “mì dưa bắp cải Tongyi”, “mì thịt bò đậu xanh” và “mì sườn heo Jin Mailang” cũng chứa dự lượng huỳnh quang vượt quá giới hạn cho phép. Sữa bò đóng hộp do hãng Hunan Ava Dairy sản xuất có chất aflatoxin gây ung thư gan. Còn “BIA GIẢ” Tsingtao cũng được làm bằng chất hóa học là axit hydrochloric và formaldehyde có mặt tại khắp tỉnh, thành phố tại VN. Được biết, chất Formaldehyde được sử dụng trong việc khử trùng và ướp xác chết, có thể gây ung thư và quái thai. Rồi trái cây nhập từ TQ cũng chưa dư lượng thuốc kích thích thích tăng trưởng, kích mua chính, chất bảo quản…gây bệnh ung thu gan, ung thư dạ dày….

Tình trạng ngộ độc và chết vì ung thư do ăn thực phẩm bẩn ngày càng nghiêm trọng

Nạn thực phẩm bẩn hiện nay đang là mối đe dọa lớn của người tiêu dùng Việt, bởi nó cướp đi hàng trăm sinh mạng hàng trăm ngàn mạng người. Theo thống kê của Bộ Y tế, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 150-200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5.000-7.000 người là nạn nhân.

Giai đoạn 2011–2016, đã ghi nhận bảy bệnh truyền qua thực phẩm làm mắc 4.012.038 ca bệnh với 123 người chết, trung bình mỗi năm có 668.673 ca bệnh và 21 người chết. Cụ thể, trong năm 2015 có 5.552 trường hợp bị ngộ độc, 23 trường hợp tử vong; Năm 2016 có 10.000 người ngộ độc thực phẩm.

Bệnh ung thư mỗi năm có khoảng 70 nghìn người chết và hơn 200 nghìn ca phát hiện mới, trong đó có một phần nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm không an toàn.

Năm 2016 ghi nhận khoảng 10.000 trường hợp ngộ độc thực phẩm (Ảnh internet)
Những trò phù phép thực phẩm bẩn của TQ

Tân Hoa Xã tiết lộ những người bán bắp cải đã tẩm formal để không bị hư hại khi vận chuyển bằng xe tải không có hệ thống lạnh trong mùa hè. Formal rẻ tiền, nhưng gây dị ứng và có nguy cơ gây ung thư rất cao.

Các nhà phù thủy Tàu đã chế ra những món ăn bị tiêm vào những sản phẩm độc hại, ngâm tẩm bằng những dung dịch đáng ngờ, đôi khi bằng nước tiểu súc vật. Thịt heo được tiêm borax, một chất được dùng làm thuốc trừ sâu hay bột giặt để giả làm thịt bò, 16pt;”>hay chích nước bẩn vào để làm tăng trọng lượng là những thủ thuật cổ điển.

Nông dân TQ sử dụng chất tăng trưởng Forchlofenuron kích thích rau quả đẹp, to hơn. Còn trong chăn nuôi, một con gà nuôi 28 ngày thay vì 6 tháng, nuôi một con lợn mất một năm giờ thì còn 3 tháng. Còn rau quả cũng tương tự. Hậu quả là gây thảm họa cho sức khỏe. Vì vậy, một bé gái mới 3 tuổi đã thấy kinh nguyệt.

TQ tuồng hàng sang Việt Nam

Nhìn từ biên giới Việt – Trung, điểm tên một số cửa khẩu biên giới có: Cửa khẩu Lào Cai cho phép người dân đi qua cầu Hồ Kiều là sang tỉnh Vân Nam. Cửa khẩu Móng Cái nằm cách Hà Nội 327 km; Lạng Sơn cách Hà Nội 171 km; Đồng Văn với hệ thống đường sắt từ Hà Nội lên Lạng Sơn. Với vị trí địa lý thuận lợi này, việc tuồn hàng độc, hàng bẩn xuất xứ từ TQ tuồn vào Việt Nam là một thuận lợi lớn, nếu chúng ta không kiểm soát chặt chẽ.

Cánh cửa mở toang, Trung Quốc thoải mái đưa người và hàng hóa dởm vào Việt Nam

Giờ đây, ngành Đường sắt triển khai đoàn tàu chuyên container kết nối giữa Việt Nam – Trung Quốc với mục đích là tăng cường giao thương hai quốc gia. Mới đây, Tổng cục Hải quan còn đề xuất xây cầu sang Trung Quốc để buôn bán thuận lợi. Việc làm này chẳng khác gì chúng ta đang mở toang cánh của đón hàng TQ vào VN?

Chợ đầu mối KIm Biên nơi phân phối hóa chất độc hại của TQ

Tại chợ Kim Biên, tọa lạc tại phường 13, Quận 5 TP. Sài Gòn. Khu chợ có khoảng trên 40 địa điểm, sạp kinh doanh hóa chất bày bán công khai, ngang nhiên bán đầy đủ các loại hóa chất giết người mà không hề bị nghiêm cấm.

Theo điều tra, trung bình mỗi điểm kinh doanh này buôn bán sỉ và lẻ trên dưới 50 mặt hàng các loại, bao gồm các loại hóa chất, thực phẩm, hương liệu các loại…đặc biệt có cả loại hóa chất công nghiệp, thực phẩm vô cùng nguy hiểm như acid.

Không cần công thức pha chế bột bắp + bột đậu nành cháy + hương liệu để làm nên những ly cà phê bẩn, giờ chỉ cần vài giọt “tinh chất cà phê”, người ta có thể biến nước lã thành ly “cà phê” thơm lừng.
Chợ Kim Biên còn còn có cả những hương liệu dùng để sản xuất xì dầu, nước mắm bằng nước lã. Người làm bún, muốn làm bún trắng thì dùng Acid Oxalic. Còn người muốn giữ hoa quả tươi lâu để di chuyển đường xa thì dùng Carbendazim.

Đến sạp hóa chất T.H ở chợ Kim Biên hỏi mua loại bột chế biến mì Quảng sao cho dẻo, lưu trử lâu thì sẽ được giới thiệu một bịch bột có nhãn mác là sản phẩm thay thế hàn the, được sử dụng chế biến chả giò, bún, mì Quãng với giá 145.000 đồng/ bịch. Nếu muốn mua loại tốt thì lấy loại 10 kg, chia nhỏ mỗi bịch 1 kg, có thể dùng cho 100 kg gạo, bảo đảm cọng mì dai, để lâu bao nhiêu cũng được.

Một bác sĩ tại bệnh viện Vĩnh Đức, Điện Bàn ở Quảng Nam, cho biết: “Phần lớn những năm gần đây, các bệnh nhân về “GAN” như xơ gan, ung thư gan đều ở độ tuổi trung niên đều là đàn ông. Từ 10 năm trở lại đây, bệnh nầy xuất hiện rất cao,” ông nói tiếp. “Không có gì nguy hại bằng rượu cất bằng men TQ, cái chết của loại rượu độc nầy là cái CHẾT CHẬM MÀ CHẮC, nó không chết liền như những thứ bệnh khác, nó từ từ biến cơ thể người nghiện rượu nầy thành một ổ bệnh, vô phương cứu chữa.”

Xin đồng bào trong và ngoài nước đừng quên rằng, đây là thủ đoạn tàn độc và bẩn thỉu của TQ cùng với sự đồng lõa của một số quan tham tiếp tay, thực hiện âm mưu làm LIỆT KHÁNG TINH THẦN ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC, đặc biệt nhắm vào tuổi trẻ yêu nước. Hãy đề cao cảnh giác trước chiến lược xâm lược tinh vi của TQ, làm cạn kiệt sinh lực của dân tộc ta trước, diệt chủng là bước tiếp theo và bước cuối cùng là XÓA TÊN NƯỚC VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ THẾ GIỚI giống như dân tộc Tây Tạng và Tân Cương.”

(Tổng hợp)
Link: http://red vn .info/sach-luoc-diet-chung-dan-toc-viet-nam-cua-tau-cong.html 

16 TẤN VÀNG, ÔNG NGUYỄN VĂN THIỆU & MỘ NGUYỄN SINH SẮC 

Huỳnh Phi Long shared a post.
 
 
Image may contain: 1 person, suit and closeup
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: 4 people, people smiling, outdoor
Image may contain: 1 person

Nguyễn Chương

16 TẤN VÀNG, ÔNG NGUYỄN VĂN THIỆU & MỘ NGUYỄN SINH SẮC 

* Ông Nguyễn Văn Thiệu – Tổng thống của thể chế Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam VN – bị sỉ nhục, khích bác là đã tư lợi, cuỗm 16 tấn vàng của Ngân hàng Quốc gia VN đem đi nước ngoài. Hàng loạt báo, đài VN trong nước chửi rủa ông Thiệu không tiếc lời. Nhiều người VN ở hải ngoại cũng hùa theo… báo đài VN trong nước (vậy mới “quái”). Tôi có xem một video trên Youtube, trong đó ông Thiệu giãi bày trước cộng đồng người Việt bên Mỹ rằng ông không tơ hào dù chỉ một lượng vàng trong kho 16 tấn vàng, nhưng vài “vị” khoác đồ lính VNCH cứ xỉa tay kết án ông Thiệu đừng hòng chạy tội.

Tôi nhìn thấy, trong video, khuôn mặt ông Thiệu rất buồn, ông chỉ biết thở dài ngán ngẩm (có lẽ ông không ngờ, ngay trên đất Mỹ, lại nẩy nòi mấy “vị” mặc đồ lính sửng cồ lập “tòa án” hệt như… “tòa án di động” tại VN).

Éo le thay, Tổng thống Thiệu được giải minh bởi chính một tờ báo trong nước: vào năm 2005, báo Tuổi Trẻ TPHCM đăng loạt bài hồ sơ cho biết 16 tấn vàng được để lại hoàn toàn trong ngân khố miền Nam VN vào năm 1975. Nghĩa là ông Thiệu đã phải chịu tiếng oan “cướp công khố” trong suốt 30 năm dài ròng rã (từ 1975 cho đến 2005)!

* Thống đốc Ngân hàng Quốc gia VN, trước khi miền Nam VN cáo chung, là ông Lê Quang Uyển. Ông Uyển làm Thống đốc ở tuổi đời còn trẻ (36 tuổi), được ông Thiệu tín cẩn. Sau 1975 ông phải đi cải tạo. Ông là người biết rõ 16 tấn vàng vẫn còn nằm trong Ngân hàng Quốc gia VN, nhưng ai cho phép một tù nhân có quyền nói nghịch với cỗ máy tuyên truyền lúc bấy giờ là “ông Thiệu cuỗm 16 tấn vàng”.

Theo lời kể từ kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa: 

Trong thời gian ở trong trại, một hôm có đoàn tìm đến ông Uyển. Mới hay có chuyện như sau: khi còn sống ông Phạm Văn Đồng được CT Hồ Chí Minh dặn là “sau này nếu vào Nam thì chú tìm gia đình nào đã chu cấp và chôn cất cụ Nguyễn Sinh Sắc để cảm tạ”. 

Gia đình đó, hóa ra, chính là ông nội của Thống đốc Lê Quang Uyển! Phái đoàn tìm ra ông Uyển trong trại cải tạo, hỏi han, sau khi biết ông Uyển thân cận với Tổng thống Thiệu, đoàn bỏ đi …

* Cũng từ lời kể của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa: 

Ông Cung “Củ Đậu”, lính dù mũ đỏ, lúc làm quận trưởng quận Châu Thành tại Cao Lãnh, một hôm nhận được điện thoại từ Phủ Tổng thống. Đầu bên kia có người xưng là Trung tướng, nói: “Em xem trong quận có ngôi mộ của Nguyễn Sinh Sắc thì cho người tu bổ. Quét vôi trắng và nhang khói hẳn hoi…”. Quận trưởng quận Châu Thành ngạc nhiên, rồi gác máy vì tưởng là chuyện đùa.

Ông Cung chưa hiểu tại sao thì điện thoại reo lần nữa. “Đó là ông thân sinh của Hồ Chí Minh. Mình chống người ta nhưng không đụng tới thân sinh người ta” – ông Trung tướng giải thích. Trung tướng đó, không ai khác, chính là ông Nguyễn Văn Thiệu.

Vượt biên. 87 người bị giết

 
 
 
Image may contain: one or more people and outdoor

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

87 người bị giết

Bà Nguyễn Thị Thương, 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo Sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo Sư Trần Quang Huy, Phân Khoa Trưởng Văn Khoa Đại Học Sài Gòn, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

Ghe mang số SS0646 IA dài 13,5 m, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01/12/1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp Thái Lan cặp 2 bên hông thuyền tỵ nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật quý. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tỵ nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tỵ nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tỵ nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo Sư Trần Quang Huy. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tỵ nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tỵ nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ 5, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tỵ nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan ra đón họ vào đất liền.

Không lâu sau đó Bà Nguyễn Thị Thương sinh thêm đứa con gái út trong trại tỵ nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông Trần Quang Huy. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà Thương đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.

(Sưu tầm)

*
Không phải tất cà ngư dân Thái Lan là hải tặc. Nhưng phần lớn hải tặc Thái xuất phát từ Phuket và phần lớn người dân Phuket theo đạo Hồi !!!   

Thầy giáo Đào Quang Thực nhập viện vì bị ngược đãi trong tù

Thầy giáo Đào Quang Thực nhập viện vì bị ngược đãi trong tù

RFA
2018-04-24
 

Ông Đào Quang Thực, facebooker - giáo viên tiểu học về hưu.

Ông Đào Quang Thực, facebooker – giáo viên tiểu học về hưu.

Facebook của ông Đào Quang Thực
 

Thầy Đào Quang Thực, một facebooker và là một giáo viên tiểu học về hưu, người bị bắt với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’ đã phải nhận viện cấp cứu tại bệnh viện Hòa Bình vào ngày 13 tháng 4 vừa qua do điều kiện sức khỏe ngày càng giảm vì bị ngược đãi trong nhà giam.

Cô Đào Ngọc Bích Quỳnh Trang, Con gái của thầy giáo Đào Quang Thực vào ngày 23/4/2018 đã xác nhận thông tin này cho RFA:

“Hiện nay bố em vẫn đang trong bệnh  viện đa khoa Hòa Bình, nhà không được gặp nhưng chỉ gởi tiếp tế. Bố em cứ kêu đau đầu từng cơn liên tục, huyết áp có dấu hiệu tăng, và đầu đau”

Vẫn theo cô Quỳnh Trang thì thầy Đào Quang Thực sau đó đã được chuyển đến bệnh viện 198 của bộ công an, nhưng gia đình cũng chỉ được gặp thầy Đào Quang một lần vào hôm thứ 7, 21 tháng 4. Từ đó đến nay, thầy Đào Quang Thực đã bị an ninh canh gác tại bênh viện, không cho tiếp xúc với gia đình. Theo cô Quỳnh Trang, vào ngày 22 tháng 4, mẹ cô đã cố gắng đến để xin vào thăm nhưng cũng bị xua đuổi, và chỉ được nghe tiếng thầy Quang Thực nói lớn ra cho biết ông bị ngược đãi ra sao trước khi được chuyển đến bệnh viện cấp cứu điều trị:

Bố em trong phòng nói rộng ra là 2 tháng đầu tiên lúc bố em vào người ta để cho bố em chết đói chết khát không cho tiếp tế, không cho ăn uống gì cả và 4 điều tra viên liên tục vào hỏi cung và đánh đập bố em

Ông Đào Quang Thực sinh năm 1960. Ông từng là giáo viên tiểu học suốt 30 năm và hiện đã nghỉ hưu. Vào ngày 5 tháng 10, 2017, cơ quan an ninh điều tra thuộc công an tỉnh Hòa Bình đã ra lệnh bắt tạm giam đối với ông Đào Quang Thực với cáo buộc là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền theo điều 79 bộ luật hình sự Việt Nam.

“Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”

“Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”

Thảo Vy

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Tất Thành Cang chụp cùng ông Đinh La Thăng. Ảnh: Báo Infonet

Hiện nay, có nhà báo nào ở Sài Gòn ‘dám’ viết trên trang facebook cá nhân về những lùm xùm đất đai liên quan đến Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Tất Thành Cang, đều nhận được điện thoại từ ông Nguyễn Đức Thọ, đương nhiệm Chánh Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM, rằng: “Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”.

‘Anh Sáu” là cách gọi thân mật đối với Phó Bí thư Thường trực Tất Thành Cang.

Quận 2: lãnh địa của nhóm quyền lực dòng họ Lê – Trương?

Nhà báo Nguyễn Tường Minh, cựu phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng, hiện là chủ biên báo Người Tiêu Dùng, cho rằng đã đến lúc cần nhìn thẳng vào chuyện người dân mất đất ở Thủ Thiêm; trong đó có Hòa thượng Thích Không Tánh, chủ trì Chùa Liên Trì đã bị cướp đất thô bạo, tất cả đều liên quan đến ông Tất Thành Cang khi ông là Bí thư Quận ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 2 từ năm 2009 đến năm 2012.

Năm 1997, khi thành lập Quận 2, bà Trương Thị Hiền, vợ của ông Lê Thanh Hải được ‘bố trí’ ghế phó chủ tịch quận. Bà Hiền là em ruột bà Trương Mỹ Hoa, khi ấy là Phó Chủ tịch Nước. Chủ tịch quận 2 lúc mới thành lập là ông Chín Lực, nguyên phó Bí thư thường trực Quận 5 được điều sang.

Do biết trước thời gian sẽ chia tách quận, nên từ trước năm 1997, nhiều quan chức đã cho người thân đứng tên sang nhượng lại đất nông nghiệp ở khu vực Thủ Thiêm; trong đó có gia đình ông Lê Thanh Hải, ông Nguyễn Hữu Tín (ông Tín xuất thân từ Đảng bộ Quận 5, chức vụ cuối cùng trước khi rời chính trường là phó Chủ tịch UBND TP.HCM).

Ông Trần Minh Đức, cựu Phó Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ, kể: Công ty cổ phần Thế Kỷ 21 (cổ đông là các phóng viên, nhân viên báo Tuổi Trẻ) được UBND TP.HCM chấp thuận địa điểm đầu tư khu dân cư mới tại phường Bình Trưng Tây (quận 2, Sài Gòn) từ năm 1997. Việc thỏa thuận đền bù các hộ dân diễn ra nhanh chóng vì thuận mua, vừa bán. Thế nhưng dự án kéo dài đến năm 2005 vẫn bị vướng vì có 3 hộ (Nguyễn Hữu Tấn, em ruột phó chủ tịch Nguyễn Hữu Tín) không đồng ý, dù đã được tăng tiền đền bù gấp 4 lần so “dân đen”.

“Sở dĩ ba hộ có thái độ “muốn gì được nấy” vì dựa vào một số mối quan hệ quen biết. Trong quá trình thương lượng đã có nhiều cuộc điện thoại, thư tay của một số giám đốc sở, cựu lãnh đạo UBND TP, Văn phòng Chính phủ…”. Ông Trần Minh Đức nói.

Thế nhưng, lịch sử chưa bao giờ lãng quên!

“Khi mà dòng thời gian từng bị che mờ bằng quyền lực, khi mà hàng loạt khu đất sang trọng mọc lên, mang lại lợi nhuận chục ngàn tỷ cho nhiều đại chủ đất ngày nay, người ta vẫn dễ dàng bắt gặp ánh mắt đau khổ của các ông, bà cụ suốt hơn chục năm cầm đơn kêu cứu khắp nơi, với hy vọng tìm lại công bằng trong chính sách đền bù đất đai và hiểu về giá trị của sự hy sinh cho lợi ích quốc gia. Nút thắt lịch sử nằm ở đâu?”. Nhà báo Nguyễn Tường Minh đặt câu hỏi, và cho rằng một trong những nguyên do khiến tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị phải đóng cửa, chính là việc Tổng biên tập Đặng Tâm Chánh của tờ báo này đã dũng cảm muốn tìm kiếm câu trả lời, cách đây nhiều năm. Thế nhưng, hầu như sống giữa thành phố này mà đặt câu hỏi “khó” về Thủ Thiêm, dưới vương triều cũ, ắt hẳn sẽ có cơn bão tố kéo tới vùi dập tất cả sự thật, và nhiều thứ tiếp tục rơi vào lãng quên.

“Hôm nay có thể đã khác. Nếu thực sự Chính phủ xác lập cam kết dùng sự liêm chính, kiến tạo để vận hành bộ máy lo cho dân, tôi nghĩ đã đến lúc bức màn tối che phủ quanh Thủ Thiêm cần phải kéo xuống, trả lại cho mọi người biết sự minh bạch trong suốt quá trình thu hồi đất vừa qua. Tôi nghĩ ai cũng đều muốn và sẵn sàng hy sinh tài sản của mình vì lợi ích chung của quốc gia. Chỉ là người ta không muốn mình hiến dâng tài sản cho quá trình vận hành sai trái của một số quan chức điều hành địa phương, phục vụ cho lợi ích nhóm. Rất nhiều người không dám nói ra, nhưng hầu như mọi người đều hiểu “nút thắt lịch sử” là do những con người nào từng gây ra. Và người ta cũng tin rằng, lịch sử sắp thay đổi tại Sài Gòn này.

Bởi hơn ai hết, muốn hiểu về những điều bí ẩn phía sau quyết sách tại Thủ Thiêm nhiều năm qua, người mà các cơ quan nội chính Trung ương cần truy vấn đầu tiên chính là ông 6 Cang. Đúng hay sai? Khởi tố vụ án liên quan đến Thủ Thiêm hay không khởi tố? Đó đều là quyết sách cần cân nhắc rất thận trọng của những nhà lãnh đạo có lương tri, vì dân”. Nhà báo Nguyễn Tường Minh chia sẻ.

Xem ra thì bữa tiệc nào cũng đến lúc phải tàn.

   Những chuyện đổi đời

   Những chuyện đổi đời

HUY PHƯƠNG

 

 

Thuyền nhân Việt Nam ở trại tị nạn Hồng Kông năm 1994, gần 20 năm sau biến cố 30 Tháng Tư.

Tháng Tư lại về, khơi lại biết bao nhiêu chuyện não lòng cho cả một dân tộc. Đây là giai đoạn bi thảm nhất của miền Nam. Ba Mươi Tháng Tư được xem như một cơn đại hồng thuỷ, nôm na nhân dân gọi là ngày đứt phim, ngày tan hàng, ngày quốc hận. Nhân danh “cách mạng,” đây là một cuộc xâm lăng cướp bóc tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc, mà chỉ có tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt, nhắm vào những người miền Nam, đặc biệt là những người thuộc chế độ VNCH, quân đội, hành chánh, đảng phái chính trị và những người bị ghép vào tội phản động. Nếu không với lòng căm thù và ganh tỵ vô biên từ chủ trương của đảng Cộng Sản, thì khó ai có thể tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo như thế.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu chiến dịch đàn áp có hệ thống với hằng trăm ngàn vụ bắt bớ, đưa hàng trăm ngàn nhân viên quân cán chính miền Nam đến các trại “cải tạo,” nơi mà “thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy!” Thực chất đây là chuỗi trại tù tập trung theo kiểu Trung Cộng và Liên Xô, ở đó chúng giết dần mòn tù nhân vì đói, bệnh tật, lao động cật lực và bị giết chóc.

Từ một miền Nam an lạc, trù phú, Cộng Sản Bắc Việt sau ngày “giải phóng,” vơ vét các “chiến lợi phẩm” mang về Hà Nội, đã biến mảnh đất này thành một nơi hoang tàn, bệnh tật, đói rách, tối tăm, tưởng như nơi đây đã đi giật lùi về thời hoang dã.

Gia đình các công viên chức miền Nam đã chịu một cuộc đổi đời bi đát.

Theo Lewis Sorley (1999), một sử gia Hoa Kỳ có uy tín, có lẽ “65,000 người bị xử tử bởi những người giải phóng họ” và “có đến 250,000 người bỏ mạng trong những trại cải tạo tàn bạo.” Có hàng trăm trại tù cải tạo, rải trên khắp toàn cả nước, đã đem lại bao nhiêu cảnh khốn cùng, nhà cửa bị tịch thu, lấn chiếm, thân nhân bị đuổi việc, con cái học hành dở dang, vật vã kiếm miếng ăn, gia đình ly tán. Nhiều gia đình nghe lời dụ dỗ đường mật của chính quyền mới, “đi kinh tế mới cho chồng con mau về,” để trở thành những gia đình không nhà, cùng đường trở về sống vật vờ trên hè phố.

Vụ “nạn kiều” là một chương bi thảm nhất trong lịch sử loài người khi hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa trong vùng cực Bắc Việt Nam năm 1978 bị cưỡng bức về Trung Quốc. Những người Hoa nhiều đời trước, đã di dân đến Việt Nam làm ăn, sinh sống, có người không biết tiếng Hoa, không biết quê hương, gốc gác mình nơi đâu, nay được chỉ định khăn gói trở về Trung Quốc.

Ngay lúc đó, Xuân Thuỷ, Bộ Trưởng Ngoại Giao còn trơ tráo tuyên bố: “Đảng và chính phủ ta trước sau như một, vẫn đối xử với bà con người Hoa như bát nước đầy. Có một số bà con trốn đi Trung Quốc, là do bọn xấu tác động! (Bên thắng Cuộc. T1- 121.)

Quảng Ninh và Hải Phòng là hai nơi, người Việt gốc Hoa được chiếu cố nhiều nhất. Người Hoa được chở xe lửa đi từ Hà Nội đi Lào Cai rồi đến Cầu Kiều. Nhưng số phận những con người này ra sao?

Trước khi qua biên giới, công an Việt Nam tịch thu mọi giấy tờ họ mang trong người. Về phía Trung Quốc đã có người ra đón, loa nhạc vang lừng. Nhưng đến ngày thứ ba, trở về “tổ quốc” tất cả đều phải bắt buộc đăng ký đi nông trường trồng cao su Mông Xi, ai chậm trễ sẽ phải đi Tây Tạng. 90% muốn trốn trở lại Việt Nam, nhưng đây là điều bất khả.

Trước đó, một phó chủ tịch tỉnh Quảng Ninh, gốc Hoa đã rạch bụng tự tử. Trần Vĩnh Ngọc, hiệu trưởng một trường phổ thông, cha Hoa nhưng mẹ Việt, có vợ là người Việt gốc Thái Bình. Bị xếp vào diện phải “trở về Trung Quốc,” kêu ca không được, Trần Vĩnh Ngọc bắt ba đứa con “khăn quàng đỏ,” đội viên thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh lên giường, lấy chăn bông đè cho đến chết. Sau đó, Ngọc lấy búa đập vỡ đầu vợ và dùng dao đâm vào tim mình tự sát.

Không ít một số người bị cơn bão “cải tạo công thương nghiệp” xô đẩy đến đường cùng, tán gia, bại sản, bỏ thành phố, bị tù đày hay xô đuổi đi vùng “kinh tế mới,” hoặc bỏ thây trên biển cả. Không phải như lúc ban đầu, đối tượng tư sản chỉ có 92 người, mà gần 29,000 gia đình không phải chỉ là tư sản, mà trung thương, kể cả tiểu thương chợ Trời cũng bị xoá sạch, do Đỗ Mười chủ trương cùng với bầy đàn kéo từ Hà Nội vào.

Trong chiến dịch này, Cộng Sản Bắc Việt chiếm thêm 5 tấn vàng và vô số kim cương, hột xoàn. Số lượng người Sài Gòn bị mất hết tài sản tìm cách vượt biên hay bị cưỡng bức đi kinh tế mới. Con số của Hà Nội đề ra là một triệu hai trăm ngàn người Sài Gòn phải đi lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới, tuy không thực hiện được chỉ tiêu, nhưng Sài Gòn đã trở thành hoang vắng, một đô thị “tối lửa tắt đèn.”

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả một miền Nam “bị” cảnh đổi đời.

Trái lại, dân miền Bắc cũng “được” cảnh đổi đời, kiểu “chó nhảy bàn độc.” Biết bao nhiêu anh từ thợ thiến heo, thợ bẻ ghi đường sắt, thợ đóng quan tài, hay làm nghề khiêng cáng, bắt thịt heo lậu, đổi đời thành những cấp lãnh đạo đất nước, giàu có lẫy lừng!

Nguyễn Quang Lập, một nhà văn của “Bên Thắng Cuộc” trong câu chuyện nội bộ của gia đình ông, đã cho đây là “sự đổi đời kỳ diệu.”

“Sau ngày 30 Tháng Tư cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ ‘đã chết,’ giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là ‘triệu phú số một Sài Gòn.’ Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là ‘gia đình bảy đảng viên Cộng Sản.’ Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên Cộng Sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kỳ diệu!” 

Huy Phương

HOẠNH TÀI

 

HOẠNH TÀI

Người ta nói của hoạnh tài là thứ của cải lấy không của kẻ khác. Cướp giết người để cướp lấy tài sản về mình là hoạnh tài. Gài bẫy để lấy tiền nạn nhân là của hoạnh tài. Lừa gạt lòng tin người dân lấy sạch tiền của họ bỏ trốn, người ta gọi là của hoạnh tài. Ở đâu có của hoạnh tài, ở đó có bất công.

Trong dân gian có câu nói “bạo phát thì bạo tàn”. Có nghĩa là dùng những thủ đoạn bất chính để hốt những thứ không thuộc về mình để có sự phát tài đột biến thì đó là bạo phát. Hậu bạo phát là sự trả sạch những thứ hoạnh tài một cách nhanh chóng người ta gọi là bạo tàn hay gọi là hoạnh tử. Đã hoạnh tài thì ắt hoạnh tử đấy là những gì dân gian đúc kết được. Cái bạo tàn có khi là sự vong mạng. Từ kinh nghiệm dân gian, người ta kết luận cái bạo phát là do nhân thì bạo tàn là do thiên, con người cướp thì trờ sẽ lấy lại.

Của cải của quan chức CS toàn là của hoạnh tài. Tất cả tài sản như nhà trăm tỷ, tiền con cái du học, tiền mua nhà Mỹ, tiền mua thẻ xanh, tiền gởi ở các tài khoản ngân hàng nước ngoài vv.. đều là tiền tước đoạt từ xương máu hàng triệu đồng bào mà ra.

Người nghèo bị bệnh không có tiền chữa trị phải về nhà nằm chờ chết. Bà mẹ khổ quá bảo con đập chết mình đi cho thoát khỏi kiếp trần ai. Những mạng sống này phải chết đi cho quan đầy túi, vì nếu không bị tham nhũng, số tiền đó đã có thể xây dựng một hệ thống y tế miễn phí cho dân nghèo. Thay vì cứu mạng dân nghèo, thì số tiền đó lại chui vào các biệt phủ, cách căn nhà bên Mỹ, các tài khoản ở ngân hàng Thụy Sỹ. Đồng tiền của quan chức nó chứa máu, nước mắt và cả mạng sống dân trong đó.

ĐCS, một đảng đang sống trên khối tài sản còm cõi của dân. Dân gần trăm triệu phải nghèo đi để nuôi vài vạn thằng quan chức ăn trên ngồi trốc. 73 năm, cướp có, giết có và đẩy đưa toàn dân đến đói nghèo để những người CS ngày một giàu khủng. 73 năm là thời gian quá dài với một đời người, các thế hệ CS vẫn chưa trả giá. Do đâu mà chúng nó bạo phát nhưng chưa bạo tàn? Do cái chủ thuyết của Lenin quá ác làm dân sợ. Mà dân càng sợ thì CS càng bền. Không biết ơn Lenin sao được? Nếu không có chủ thuyết này thì bọn họ làm sao giàu như ngày hôm nay? Nếu không có chủ thuyết này thì làm sao có triệu đô này đến triệu đô khác tự rót vào túi?

Và như là điều tất nhiên, tựa con bạc cầu cơ trúng số làm mâm cơm tạ ơn hồn ma đã mang lại tiền từ trên trời rơi xuống, thì những người CS cũng thế, họ xếp hàng và tạ ơn vong hồn ác quỷ Lenin đã mang lại cho họ nguồn tiền vô tận mà không phải trả giá cho cái ác. Đấy là lý do cả đám đến tượng đài Lenin thành kính dâng hương. Chúng ta khổ chúng ta kinh tởm con người Lenin và chủ thuyết tà ác của ông ta, nhưng người CS thì ngược lại.

CS chưa trả giá, nhưng chắc chắn phải trả. Có một triều đại tàn bạo với nhân dân nào mà tồn tại được bền lâu? 73 năm so với đời người thì quá dài, nhưng so với một triều đại của lịch sử thì ngắn ngủi thôi. Liên Xô và đông Âu đã từng bạo phát và có lúc kèn cựa với thế giới tự do. Nhưng cái bạo tàn của nó đã được chứng thực bằng sự đổ nhào nhanh chóng của những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. CSVN lẽ nào ngoài quy luật?

Vụ ‘đất Thành Ủy’: Thế Thiên hành… ‘đạo’

Vụ ‘đất Thành Ủy’: Thế Thiên hành… ‘đạo’

Trân Văn

Chỉ trong vòng bốn ngày, từ 16 tháng 4 đến 20 tháng 4, Công ty Quốc Cường Gia Lai mất 730 tỉ trên thị trường chứng khoán. Tuy giá cổ phiếu của công ty này giảm liên tục nhưng không ai màng (1).

Không chỉ có gia đình bà Nguyễn Thị Như Loan (nắm giữ 57% cổ phiếu của Công ty Quốc Cường Gia Lai) gánh hậu quả vừa kể. Chắc chắn là những nơi, những người đang chia nhau 43% cổ phiếu của doanh nghiệp này cũng méo mặt.

Giá cổ phiếu của Công ty Quốc Cường Gia Lai rơi tự do sau khi Thành ủy TP.HCM ra lệnh cho Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 héc ta ở xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè cho Công ty Quốc Cường Gia Lai (2).

Lý do Thành ủy TP.HCM chỉ đạo như vừa kể vì báo giới phát giác Công ty Quốc Cường Gia Lai chỉ phải trả 419 tỉ đồng để được “quyền sử dụng” 34,2 héc ta mà giá trị được cho là tới 2.400 tỉ đồng. Trong thương vụ này, Công ty Quốc Cường Gia Lai lời chừng… 2.000 tỉ đồng.

Tuy nhiên trong kinh doanh, “khôn nhờ, dại chịu”, hà cớ gì Thành ủy TP.HCM phải can thiệp? Câu trả lời là phát giác của báo giới đẩy Thành ủy TP.HCM rơi vào thế “con dại, cái mang”: Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận là doanh nghiệp của Thành ủy TP.HCM và 34,2 héc ta đất mà doanh nghiệp này ã chuyển nhượng cho Công ty Quốc Cường Gia Lai không phải là tài sản do họ tạo lập. Thửa đất đó là… công thổ!

Song có một điểm cần phải lưu ý là bất kể thế nào thì cũng phải xếp chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM vào nhóm hành động táo tợn đến mức càn rỡ. Về bản chất, Thành ủy TP.HCM chỉ là đại diện cho một tổ chức chính trị (Đảng CSVN) ở Sài Gòn, thành ra không những không thể mà còn không được phép can dự vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, xâm hại quyền tự do kinh doanh.

***

Tự do kinh doanh vốn là một trong những quyền hiến định (Điều 3 Hiến pháp 2013: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm) và sau đó tiếp tục được minh đinh trong nhiều bộ luật như: Luật Dân sự (Điều 50: Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật), Luật Doanh nghiệp (Điều 5: Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng của các doanh nghiệp trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà nước công nhân và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính)…

Chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM chẳng khác gì công nhiên khẳng định, tự do kinh doanh thật ra chỉ là một thứ “đầu dê”, trong khi hệ thống công quyền Việt Nam chỉ bán… “thịt chó” – loại “thịt chó” chỉ có ở Việt Nam và được đặt tên là “pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

“Pháp chế xã hội chủ nghĩa” cho phép hệ thống công quyền Việt Nam tùy nghi biến công sản, công thổ thành tài sản của những cái gọi là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị – xã hội, của quân đội, công an, muốn “mua mắc” cũng được mà “bán rẻ” cũng chẳng sao. Khi cần, hệ thống công quyền Việt Nam sẽ can thiệp để hủy bất kỳ thương vụ nào mà hệ thống này muốn.

Thương vụ Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 công thổ cho Công ty Quốc Cường Gia Lai là một điển hình của bán rẻ.

Thương vụ Mobifone bỏ ra gần 9.000 tỉ đồng mua 95% cổ phần của An Viên Group (AVG), khiến công quỹ tổn thất hơn 7.000 tỉ đồng là một điển hình khác của mua mắc.

Dù cả hai thương vụ đều thuộc loại “thuận mua, vừa bán”, đều từng được khẳng định “đúng qui định pháp luật” nhưng cuối cùng đều gặp trục trặc vì có sự can thiệp thô bạo của Đảng CSVN.

Thương vụ giữa Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 34,2 công thổ cho Công ty Quốc Cường Gia Lai gãy đổ vì Thành ủy TP.HCM can thiệp. Thương vụ Mobifone mua 95% cổ phần của AVG được các bên “tự nguyện hủy bỏ” vì đó là lệnh từ Thường trực Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN (BCH TƯ Đảng CSVN) (3).

***

Ai cũng hiểu tại sao các thương vụ liên quan đến công sản, công thổ lại có chuyện “mua mắc, bán rẻ”.

Cũng vì vậy, dẫu AVG (bên bán) tự nguyện hủy bỏ hợp đồng được cho là mang lại cho AVG khoản lãi hơn 7.000 tỉ đồng, thậm chí ngoài vốn, AVG còn tự ngụyện hoàn trả cả lãi/số tiền mà Mobifone (bên mua) đã thanh toán nhưng không ai ghi nhận, ca ngợi “thiện chí” của AVG cả.

Cũng vì vậy, dẫu bà Nguyễn Thị Như Loan tuyên bố, bà đã tìm hiểu kỹ trước khi mua 34,2 héc ta đất, đã trả tiền đúng giá thị trường và chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM rõ ràng là gây thiệt hại cho Công ty Quốc Cường Gia Lai, bà Loan vẫn không có ý định nhờ Tòa án giải quyết nhưng chẳng có ai ngạc nhiên cả (4).

AVG hay Công ty Quốc Cường Gia Lai không trông vào luật pháp, không cậy vào hệ thống Tòa án và cả hai đều nhấn mạnh họ có “thiện chí” với lực lượng thế thiên hành… “đạo” – loại “đạo” không phải đạo lý, đạo giáo.

Lực lượng thế Thiên đó nắm trong tay toàn bộ công sản, công thổ và không ai biết chính xác là bao nhiêu. Chỉ thỉnh thoảng, khi hữu sự, chẳng hạn như năm ngoái, lúc dư luận sôi sùng sục vì không thể mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất do vướng sân golf, người ta mới biết, tính đến năm 2015, riêng Bộ Quốc phòng nắm trong tay khoảng 250.000 héc ta đất. Đáng chú ý là từ năm 2000 đến năm 2010, đất giao cho Bộ Quốc phòng tăng thêm 106.000 héc ta nhưng từ 2010 đến 2015, diện tích đất do Bộ Quốc phòng nắm giữ giảm xuống 43.000 héc ta nhưng lực lượng thế Thiên chẳng thèm giải thích tại sao (?) (5)

Tuy công sản, công thổ thuộc quyền sở hữu toàn dân nhưng không người dân nào có quyền hỏi, có quyền kiểm tra xem việc sử dụng số công sản, công thổ ấy ra sao.

Quốc pháp, gia quy không bằng giữ “đạo” với lực lượng thế Thiên. Ứng xử cho phải “đạo” thì không thiếu cơ hội.

Tin mới nhất cho biết, ngoài 34,2 héc ta đất ở xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận còn bán cho Công ty Quốc Cường Gia Lai khoảng hai héc ta đất ở phường Tân Phong, quận 7. Thành ủy TP.HCM có bao nhiêu công sản, công thổ và đã bán bao nhiêu, bán như thế nào? Tổ chức Đảng của các địa phương khác chắc cũng như thế! Đặc quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối có thể có nhiều hạn chế nhưng có những điểm “hay”, duy trì, không chia sẻ là đúng rồi!

Chú thích

(1) https://news.zing.vn/quoc-cuong-gia-lai-mat-them-220-ty-dong-sau-lum-xum-dat-phuoc-kien-post835927.html

(2) http://www.nguoitieudung.com.vn/vu-ban-324971-m2-dat-cong-san-gia-re-mat-lo-nhieu-sai-pham-thanh-uy-tphcm-hop-khan-chi-dao-huy-hop-dong-d66857.html

(3) https://tuoitre.vn/thuong-vu-mobifone-mua-avg-tra-het-cho-nhau-20180403105923185.htm

(4) https://news.zing.vn/ba-nguyen-thi-nhu-loan-toi-mua-dat-phuoc-kien-dung-gia-thi-truong-post836097.html

(5) https://tuoitre.vn/dat-quoc-phong-ranh-gioi-nao-1343881.htm

(6) http://bizlive.vn/doanh-nghiep/dau-tu-va-xay-dung-tan-thuan-da-ban-2-du-an-khung-cho-quoc-cuong-gia-lai-gia-bao-nhieu-3445397.html

Thủ tướng phê duyệt kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018

Thủ tướng phê duyệt kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018

2018-04-23
 

Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.

Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.

 Những người bán hàng bày bán rau quả trên xe đạp ở một chợ tại trung tâm Hà Nội vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.
 

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định 437/QĐ-TTg về kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và các hạn mức vay nợ năm 2018.

Báo Chính Phủ loan tin cho biết, kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018 là 384 ngàn tỷ đồng bao gồm: vay trong nước gần 276 ngàn tỷ đồng và vay nước ngoài khoảng 108 ngàn tỷ đồng.

Kế hoạch trả nợ của Chính phủ được Thủ tướng phê duyệt trong năm 2018 là gần 257 ngàn tỷ đồng. Trong đó, trả nợ trực tiếp của Chính phủ là khoản trên, tức 257 ngàn tỷ đồng; phần khác là trả nợ của các dự án vay lại khoảng 18 ngàn tỷ rưỡi.

Trước đó, báo Vnexpress vào ngày 11 tháng 3 loan tin cho biết Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước chuyên đề kiểm toán nợ công công bố nợ công của Việt Nam tính đến cuối năm 2016 là gần 2,9 triệu tỷ đồng. Trong đó, nợ của Chính phủ là 2,37 triệu tỷ đồng, chiếm 83% nợ công. Riêng nợ nước ngoài của Chính phủ là 947 ngàn 500 tỷ đồng, chiếm khoảng 40% nợ công.

Kiểm toán nhà nước cũng nói, đến cuối năm 2016, dư nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương của Việt Nam bằng 63,7% GDP.

Cơ quan này của Chính phủ Việt Nam còn nhận định trên tờ Vnexpress rằng: Chính phủ vẫn đảm bảo thanh toán nợ; tuy nhiên, tình trạng nợ công tiếp tục gia tăng so với năm 2015 và hệ số thanh toán trả nợ cao, có xu hướng gia tăng đang gây áp lực cho ngân sách.

Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?

Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?

Phi Cảnh
2018-04-23

Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975

Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975

 AP
 

Người Việt Nam Cộng sản cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã thua trận thì chẳng còn tư cách gì để nói người khác. Nhưng thắng thua liệu có phải là tất cả?

Cuộc chiến không công bằng

Một cuộc đấu võ đúng tinh thần thể thao phải diễn ra trên võ đài với đầy đủ luật lệ và yêu cầu về hạng cân thì mới công bằng. Đương nhiên cũng có loại đánh nhau trên đường phố bất chấp luật lệ. Giống như thời La Mã, ngoài võ sĩ trên đấu trường thì còn có những võ sĩ thi đấu vô luật lệ dưới hầm mỏ.

Nhưng không phải chiến thắng nào cũng như chiến thắng nào. Ngoài đường phố nếu dùng mọi trò bẩn hoặc thắng một đối thủ quá chênh lệch thì có gì vinh hạnh? Võ sĩ La Mã chỉ có thể giành được vinh quang trên đấu trường, chứ không phải chiến thắng vô luật lệ ở hầm mỏ – nơi dơ bẩn và bị khinh bỉ.

Trong chiến tranh cũng thế, đâu phải cứ là chiến tranh thì anh có thể dùng bất cứ thủ đoạn nào để giành phần thắng. Nếu nói cứ đánh nhau là bất chấp luật lệ, thì anh còn ngồi vào bàn để ký mấy cái hiệp định làm chi? Nếu là một tổ chức tự phát như tổ chức khủng bố chẳng hạn, thì không cần luật lệ; còn khi đã là một quốc gia thì phải có luật chứ. Sau này Việt Nam Cộng sản chẳng xin vào các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO… để nâng cao vị thế là gì? Và đã xin vào thì phải chấp nhận luật của người ta, đâu dùng luật rừng được nữa.

Có nghĩa là gì, nếu muốn được tôn trọng như một quốc gia thì phải có luật pháp và tôn trọng luật pháp. Kể cả chiến tranh cũng vậy.

Chiến tranh Việt Nam không phải là chiến tranh quy ước – loại chiến tranh mà các lực lượng tham chiến của mỗi bên đã được xác định rõ. Phe Việt Nam Cộng sản trộn lẫn vào trong dân gây khó khăn cho Việt Nam Cộng hòa, vì bản chất của chiến tranh là tiêu diệt đối phương, nhưng nếu giết dân thì thế giới lại lên án. Khi không thể xác định rõ kẻ thù thì đánh kiểu gì?

Rất nhiều người nghĩ rằng kiểu “Chiến tranh du kích” ấy là bình thường. Nó không bình thường đâu! Mỹ cũng có một cuộc nội chiến Nam – Bắc. Khi phe miền Nam sắp thua cuộc, Bộ tham mưu của tướng Lee đề nghị phân tán lực lượng, ẩn nấp trong nhà dân, trong rừng núi để đánh du kích nhưng vị tướng chỉ huy quân đội miền Nam đã từ chối vì “Chiến tranh là nghiệp của người lính, là nhiệm vụ của chúng ta, không được đẩy trách nhiệm này vào người dân vô tội. Cho dù ta là tướng bại trận cũng không thể dùng cách này, nếu phải dùng sinh mạng của mình để đổi lấy bình an cho người dân miền Nam thì ta thà lựa chọn trở thành tội phạm chiến tranh và chịu hành quyết còn hơn”.

Nó khác hẳn với Chủ nghĩa Cộng sản sẵn sàng “hy sinh tất cả” hay “phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để đạt được mục đích. Phía Bắc Việt huy động mọi thành phần dân tộc tham gia cuộc chiến gồm cả phụ nữ, trẻ em lẫn người già – một đối tượng là phái yếu cần được bảo vệ, một đối tượng cần phải cho ăn học, một đối tượng đã đến lúc nghỉ ngơi mà phải chịu đói khổ, dấn thân vào nguy hiểm chết người. Cái gọi là cuộc chiến “của toàn dân tộc” ấy chẳng có gì đáng để tự hào cả.

Người Việt Nam Cộng hòa không coi chiến tranh là tất cả, không dồn tất cả để đánh nhau, họ còn phải sống, làm việc và phát triển; vì thế, tất nhiên chỉ có quân đội chiến đấu. Trong quân đội ấy chỉ có nam giới đủ tuổi đi quân ngũ, không người già, không trẻ em và phụ nữ không phải tham gia tác chiến. Lực lượng tham chiến hai bên như vậy đã không rõ ràng (phía Cộng sản), lại còn không cân bằng.

Việc cho cả trẻ em, người già tham gia chiến tranh còn một mục đích khác, đấy là tạo nên sự thương sót của dư luận nếu những đối tượng này tử trận. Nó giống việc đặt các cơ sở quân sự gần các khu dân cư, bệnh viện… vậy. Người dân đáng lẽ ra là đối tượng được bảo vệ thì lại bị đem ra làm bia đỡ đạn.

Cuộc chiến còn không công bằng ở chỗ Việt Nam Cộng hòa là một đất nước tự do dân chủ, người dân có quyền chỉ trích, biểu tình, mà có nước tự do dân chủ nào mà lãnh đạo làm hài lòng được người dân? https://www.rfa.org/vietnamese/news/ReadersOpinions/what-if-the-republic-of-vietnam-survived-04132018130758.html

Việt Nam Cộng hòa tất nhiên còn tự do báo chí – điều tối kỵ trong chiến tranh. Thế nên mới có chuyện ông Nick Út được đi theo lính miền Nam để chụp ảnh, máy bay đánh bom tiêu diệt Cộng sản nhưng ai ngờ lính miền Bắc xâm nhập chui vào nơi có dân để chốn. Dân chạy ra cầu cứu lính Việt Nam Cộng hòa thì bị Nick Út giơ máy ảnh lên chụp xong đăng lên toàn thế giới mà ai nhìn vào cũng nghĩ rằng “lính Mỹ ăn thịt trẻ em Việt Nam”. Vậy mà bức ảnh ấy cũng có thể trở thành biểu tượng của chiến tranh Việt Nam được?

Bức ảnh chỉ nói lên một nửa sự thật ấy khi về Mỹ được trao giải Pulitzer – giải thưởng danh giá bậc nhất cho báo chí để rồi cả nước Mỹ lên án cuộc chiến. Như thế thì còn đánh đấm gì?

Mai Chí Thọ từng nói toạc với tù nhân chính trị rằng: “Hồ Chí Minh có thể là một kẻ độc ác, Nixon có thể là một người vĩ đại. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng tôi có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, rằng Nixon là một kẻ giết người và người Mỹ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx-Lenin là có thể làm được điều đó”.

Chính vì sự giả dối ấy nên những vụ giết người của Bắc Việt với cách thức không khác gì khủng bố như đánh bom nhà hàng Mỹ Cảnh, ném lựu đạn vào dân đang xem hát ở Cần Thơ hay thảm sát Huế Mậu Thân chẳng hạn thì bị xem nhẹ, dường như người nào sống ở miền Nam đều đáng chết cả. Còn khi người Cộng sản bị chết thì lại thành sự kiện nổi tiếng.

Quân đội Mỹ luôn tin vào chính nghĩa nên luôn hành động chính trực, thẳng thừng giữa thanh thiên bạch nhật, chính vì vậy nên dễ bị hiểu lầm. Họ đã thua trên mặt trận tuyên truyền trước những kẻ nham hiểm.

Tại sao dám vu khống Mỹ xâm lược khi họ chỉ giúp giữ chế độ tự do dân chủ ở miền Nam? Việt Nam Cộng hòa chỉ lo phòng thủ chứ đâu có đánh ra Bắc. Mỹ chỉ ném bom vì miền Bắc đã xâm phạm miền Nam.

Trong khi Mỹ vẫn xử phạt binh lính nếu có hành động đi quá giới hạn thì Bắc Việt lại trao huân chương cho những kẻ đánh bom khủng bố chết dân thường. 2 thái cực hoàn toàn trái ngược cho thấy truyền thông đã hết sức bất công. Trong một cuộc chiến mà trọng tài chỉ bênh một bên thì bên kia có cơ hội giành phần thắng?

Một ví dụ nữa là phe Cộng sản luôn cố tình tạo cho người ta cảm giác rằng họ với vũ khí thô sơ phải đánh nhau với một phe được trang bị vũ khí hiện đại. Thực tế bộ đội miền Bắc không hề thiếu vũ khí, ra trận là có đạn “bắn thoải mái” do Nga Tàu cung cấp; đó là sự hỗ trợ tương đương nhưng kín đáo. Chính vì vậy nói rằng miền Nam không làm được gì khi không có Mỹ là không công bằng, miền Bắc nếu không được viện trợ từ nước ngoài thì chắc chắn phải cưỡi ngựa bắn cung để ra trận, vì họ đâu có tự sản xuất ra được đạn dược, xăng dầu…

Thắng rồi để làm gì?

Người Việt coi việc Nhật Bản “phải chấp nhận để Mỹ đóng quân” là kém cỏi, nhưng gặp người Nhật thì không khác gì gặp thánh sống. Người Việt cũng xem việc Triều Tiên không thể thống nhất đất nước là không bằng Việt Nam, nhưng bây giờ thậm chí không dám mơ có ngày được như Nam Triều Tiên.

Nói đâu xa, Việt Nam Cộng hòa bị coi là “đu càng” , nhưng những cư dân “đu càng” như cầu thủ bóng đá Lee Nguyễn, đầu bếp Christine Ha thì được trọng vọng hơn bất cứ đồng nghiệp nào tại Việt Nam. Thù lao mà Lee Nguyễn nhận được khủng khiếp đến mức cho đến nay không ai biết đích xác là bao nhiêu, chỉ biết rằng trong 2 năm ngắn ngủi ở Việt Nam, cầu thủ “đu càng” này nói rằng đã kiếm đủ cho phần đời còn lại. Chắc chắn không một cầu thủ Việt Nam Cộng sản nào dám mơ có một ngày đội bóng quê hương sẽ trả mức lương như vậy cho mình.

Gia đình Việt Nam Cộng sản cũng co ro cúm rúm khi tiếp đón gia đình Việt Nam Cộng hòa “đu càng” từ Mỹ, Pháp… trở về, đi ăn cũng gia đình “đu càng” trả tiền. Vậy thì ai thắng ai? Ai mang tư thế của người chiến thắng?

Thái Lan không dám đánh nhau, Nhật Bản từng thua trận, Đức cũng thua, Pháp thì khỏi nói: nổi tiếng về đánh nhau kém. Nhưng hỡi ôi, đánh nhau quan trọng đến thế ư? Chỉ những anh choai choai mới khoái đánh nhau như thế. Chả trách mà Tản Đà làm thơ: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.”

Mà ngay trong cái việc đánh nhau thôi, tại sao anh không tiếc xương máu lúc đánh nhau với Pháp, Mỹ, mà giờ động đến một chữ Trung Quốc cũng không dám? Suốt ngày tự hào đánh Pháp đánh Mỹ nhưng nếu có ai nhắc đến giặc Tàu là cả quan lẫn dân đều nạt ngay: “Thế muốn chiến tranh hay hòa bình? Nó mà đánh cho thì…”.

Chao ôi, dân tộc “Việt Nam anh hùng” đây ư? Té ra việc chửi giặc Pháp giặc Mỹ hàng ngày là do biết chúng nó là người quân tử, chúng nó người lớn không thèm chấp mình, chứ chẳng phải mình anh dũng anh hùng gì cho cam.

Cái giá của thủ đoạn đê hèn

Nói tóm lại rằng: bất chấp luật lệ, dùng mọi thủ đoạn để thắng không phải hành động của người quân tử. Việt Nam Cộng hòa cũng như các nước văn minh khác: tôn trọng pháp luật ngay cả trong thời chiến – lúc mà đáng lẽ có thể áp dụng tình trạng khẩn cấp hay thiết quân luật để siết chặt quyền tự do dân chủ.

Người Cộng sản có thể mãi hát bài ca chế giễu phe thua cuộc nhưng trên thực tế, người Việt Nam Cộng hòa lên tiếng chỉ vì họ còn có tâm với đất nước đấy thôi. Sau năm 1975 họ được các nước giàu có văn minh dang tay đón nhận, họ có cuộc sống sung túc ở nơi mà chỉ số ít doanh nhân và chủ yếu là con cháu quan chức Cộng sản mới có cơ hội đặt chân đến.

Người Việt Nam Cộng hòa ừ thì “thua” đấy, nhưng họ được sống cùng những người quân tử. Còn những người “chiến thắng” ở lại, khi anh không phải người quân tử, sẽ có thằng không quân tử khác trị anh.