43 năm đánh gục ý chí và tiêu diệt ý thức Dân tộc!

 43 năm đánh gục ý chí và tiêu diệt ý thức Dân tộc!

BNS Tự do Ngôn luận số 290

Ban Biên Tập

“Nhà cầm quyền Cộng sản VN đang rầm rộ kỷ niệm cái gọi là ’43 năm thống nhất Đất nước, giải phóng miền Nam, xây dựng cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc, kiến tạo xã hội công bằng, văn minh, dân chủ’!?! Nhưng quốc dân, quốc tế và lịch sử đều thấy đó là cuộc thống nhất đất nước bằng xương máu và súng đạn, cuộc xâm chiếm một quốc gia độc lập và có chủ quyền; đó là việc làm cho Tổ quốc ngày càng lệ thuộc Trung Cộng, đời sống nhân dân mất hết mọi tự do cơ bản, ngày càng khổ sở điêu đứng; đó là việc tạo ra một xã hội đầy dẫy bất công bóc lột, ngập tràn bạo lực dối trá, hoành hành độc tài đảng trị. Hiện tình Việt Nam ngày càng hà khắc về chính trị, thụt lùi về kinh tế, chồng chất về thuế má, hỗn loạn về xã hội, ô nhiễm về môi trường, sa sút về văn hóa, suy đồi về đạo đức, thu hẹp về đất đai và nhất là bấp bênh về an ninh quốc phòng…” Bản Lên Tiếng của hơn 40 tổ chức và nhiều cá nhân người Việt hôm 30-04-2018 đã nói như thế.

Tất cả những tệ nạn và thảm trạng vừa nêu có thể nói là hậu quả của việc đánh gục ý chí chung của Dân tộc và hủy diệt ý thức của mọi thành phần trong xã hội, một âm mưu mà đảng đã cố công thực hiện 43 năm qua và trước đó nữa tại miền Bắc, để an toàn thống trị nhân dân và tùy ý sử dụng đất nước, kể cả việc bán Tổ quốc cho ngoại bang, ngõ hầu giữ được quyền lực và quyền lợi. Đúng như một nhà văn Nga từng nói: “CS thực chất là một sự ác tinh thần” (Spiritual evil).

1- Tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi thành viên Quốc hội. Được ngồi vào cơ quan quyền lực cao nhất nước với danh nghĩa này do đảng tuyển chọn, các thành viên ấy qua 14 khóa đã chỉ làm một công việc là “nhất trí cao, phấn khởi lớn, giơ tay đồng thuận” trước ý muốn của đảng, của Bộ chính trị (Hiến pháp đứng sau Cương lĩnh đảng, như Nguyễn Phú Trọng từng nói mà!). Những cuộc gặp gỡ, hỏi ý cử tri địa phương chỉ là trò mỵ dân; những cuộc chất vấn thành viên chính phủ thuần là màn trình diễn! Từ công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, hiệp ước Thành Đô năm 1991, hiệp định lãnh thổ năm 1999, hiệp định lãnh hải năm 2000 ký với Tàu, đến thỏa ước cho Tàu khai thác bauxite ở Tây Nguyên năm 2008, xây dựng Formosa Vũng Áng rồi đầu độc biển năm 2016, chưa kể vô vàn vụ việc vi phạm nhân quyền khác, Quốc hội chẳng hề đứng về phía quốc dân để tìm hiểu, chất vấn, phản biện và hành động, một để cho Bộ Chính trị mặc sức tung hoành.

2- Tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi viên chức chính quyền. Là những kẻ đã được đảng bộ trung ương hay địa phương đặt để, chẳng được nhân dân bầu chọn (bao cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp chỉ là trò hề), những viên chức chính quyền ấy hầu hết ứng xử như những ông trời con, hung thần thổ địa, hống hách khinh người, chỉ lo tích lũy của cải hơn là phục vụ quần chúng. Kiểu cách “hành là chính” để móc túi người dân làm giấy tờ; những màn “cướp cơm chim” của kẻ nghèo khổ và nạn nhân bão lụt; các cuộc cướp đất của nông dân và thị dân dưới chiêu bài phát triển kinh tế quy hoạch sản xuất; việc cấu kết với các nhóm lợi ích (công ty, tập đoàn) để xẻ thịt tài nguyên quốc gia, đem tài sản công phục vụ tầng lớp tư bản; chuyện cho Tàu Cộng thuê rừng quốc phòng, rừng phòng hộ, yếu địa quốc gia, mua hàng loạt khu vực rộng lớn, thiết lập những nhà máy gây ô nhiễm, trúng thầu xây dựng những công trình kém chất lượng với chút “tiền lại quả “… đều là những chuyện sờ sờ xảy ra trên cả nước.

3- Tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi công an cảnh sát. Bị nhồi nhét tư tưởng “còn đảng còn mình, làm lá chắn bảo vệ đảng, được đảng gầy dựng, lãnh đạo và trả lương”, giới này đã hoàn toàn trở thành công cụ đàn áp nhân dân: từ những đám dân oan bị cướp đất đứng lên đòi tài sản, những nhóm công dân cất tiếng đòi dân chủ, đến những nhóm tín đồ tập hợp đòi tự do hành đạo, những tốp thợ thuyền đình công đòi lương bổng xứng đáng. Lực lượng “bảo vệ luật pháp” này cũng đang là kẻ hỗ trợ cho công tố viên trong các phiên tòa chính trị, nỗi kinh hoàng cho những ai bị bắt về đồn công an với bất cứ lý do “vi phạm” lớn nhỏ, là người thuê mướn và khen thưởng bọn côn đồ theo dõi, ngăn chận và đánh đập các chiến sĩ dân chủ. Rồi lợi dụng quyền lực được đảng dung túng cho, tướng tá công an hết buôn ma túy đến bảo kê cờ bạc, mua rẻ công sản đến mua chuộc quan chức, lập công ty để bí mật kinh doanh cho ngành mình hay cho sếp mình.

4- Tiêu diệt ý thức bảo vệ Tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội: Ghi tâm lời thề “trung với đảng” (thay vì trung với nước), “phấn đấu thực hiện một nước VN xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng…” (trích 10 lời thề của QĐND), coi việc “chính trị hóa/đảng hóa quân đội” là chuyện bình thường, rồi được cho tự do làm kinh tế, quân đội nhân dân nay thực sự trở thành công cụ của đảng, chỉ lo làm giàu (nhất là hàng lãnh đạo, vốn nắm vô số tổ chức kinh tài lớn nhỏ như Ngân hàng Quân đội, công ty Viettel), khi cần thì tước đoạt công sản lẫn tư sản (như phi trường Tân Sơn Nhất, đất ruộng thôn Hoành…), quên lãng bổn phận bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trên lãnh hải, bỏ mặc ngư dân cho sự sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát của Tàu Cộng. Hải quân, cảnh sát biển, lực lượng tuần duyên trang bị đủ thứ khí tài hiện đại nhưng chỉ bám bờ và xua dân bám biển. Các chiến hữu của mình đã tử trận trong chiến tranh biên giới, ở ngoài đảo Trường Sa, nhưng bị cấm tưởng niệm, thế mà lực lượng quân đội cũng chẳng dám lên tiếng phản đối.

5- Tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi viên chức tòa án. Dưới sự cầm trịch của CS, ngành tư pháp nói chung và giới viên chức tòa án nói riêng bị biến thành công cụ của đảng, theo cơ chế tam quyền phân công. Đặc biệt trong các vụ án chính trị, công an thẩm vấn, kiểm sát công tố và quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập ăn ý với nhau, từ kết luận điều tra đến cáo trạng tội phạm và hình phạt tuyên xử. Tại những phiên tòa loại này, công tố chẳng cần xem xét bằng chứng, đối chất với luật sư biện hộ, thẩm phán thì ngắt lời bị cáo, xét xử chóng vánh cách kỳ lạ, có những “bản án bỏ túi” do trên ấn định sẵn mà thời gian gần đây hết sức bất công và nặng nề. Việc chạy án, việc hối lộ ba thành phần nói trên đều được coi như chuyện bình thường, nhất là trong các vụ án và phiên tòa hình sự. Ngoài những luật gia hay luật sư có tinh thần dân chủ (nay xuất hiện ngày càng nhiều và cũng bị đàn áp không ít), vô số luật sư vẫn sẵn sàng loại trừ các đồng nghiệp “có vấn đề” với đảng, sẵn sàng bênh vực hay ngậm miệng trước nhiều bộ luật chỉ có lợi cho đảng.

6- Tiêu diệt ý thức thương xót bệnh nhân nơi các y bác sĩ: Nền y tế VN từ lâu vẫn nổi tiếng thế giới với những bệnh viện quá tải, y sĩ thiếu khả năng, y phí tăng cao mãi, trang bị lỗi thời, vệ sinh tồi tệ; với cảnh bỏ mặc những ca cấp cứu chưa nộp tiền, đòi buộc bệnh nhân lót tay mới săn sóc chu đáo, cung cấp thuốc quá hạn hay thuốc dổm giả (vụ Công ty VN Pharma nhập 200 ngàn hộp thuốc trị ung thư); với cảnh ăn hoa hồng quá độ khiến giá dược phẩm bị đẩy lên tận trời, ưu tiên săn sóc cho đảng viên cán bộ, coi rẻ những ai dùng thẻ bảo hiểm y tế, đòi hối lộ kể cả khi chuyển viện hay đem xác về nhà, và dân nghèo vào bệnh viện chỉ có nước tử vong… Chữ “nhà thương” nay hoàn toàn vô nghĩa, vì ở đó chỉ có sự khai thác khổ đau của con người.

7- Tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành: CS từng phỉ báng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, nhưng nay lại muốn tôn giáo trở thành thuốc phiện thực sự. Và nó đang làm được điều đó với những chức sắc chỉ còn biết ý nghĩa cuộc sống và hoạt động tu hành của mình là xây dựng điện thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, xuất ngoại kiếm bạc xin tiền, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh sự thật bị xuyên tạc, công lý bị xem thường, đồng bào, thậm chí đồng đạo bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy… Những vị này còn lý luận mình không muốn “làm chính trị” -do dị ứng với từ này- chỉ lên tiếng về các nguyên tắc luân lý chung chung (an toàn hơn) chứ không can thiệp vào những trường hợp cụ thể (dễ gặp nguy hiểm). Họ sẵn sàng đặt tượng tên tội đồ dân tộc, từng bách hại tôn giáo bên cạnh Đức Phật trên điện thờ, hay lấy tên của y làm danh hiệu cho giáo phận… Thậm chí có vị thỏa hiệp hay làm tay sai cho chế độ.

8- Tiêu diệt ý thức lương sư hưng quốc nơi các cô thầy: Nền giáo dục CS mang tính chính trị, không nhắm đào tạo những công dân tự do cho nước nhưng là nhào nặn những thần dân nô lệ cho đảng. Chính vì thế, đảng đã quyết tâm quản lý chặt chẽ giới giáo chức, huấn luyện ra những thầy cô “hồng hơn chuyên”, buộc hiệu trưởng mọi loại trường (trừ một số trường mẫu giáo của các giáo hội) phải là đảng viên để nắm chắc đường lối chủ trương của đảng, để theo dõi tư tưởng lập trường của giáo viên và học sinh. Thành ra nền giáo dục VN ngày càng sa sút với vô số giáo viên mua bằng cấp, thiếu tư cách, thiếu khả năng, với vô vàn vụ việc thầy bạo hành trò, đổi tình lấy điểm, bắt nữ sinh làm điếm, để công an hành hạ học trò, cấm sinh viên lên tiếng đòi dân chủ hay biểu tình chống xâm lược… Từ đó, sự ngây thơ, tính trong sáng, đức chân thật, lòng yêu nước nơi học sinh cũng tiêu tùng. Tệ nạn học đường ngày càng gia tăng với vụ giáo viên bị bắt quỳ, học sinh đánh lộn nhau, hành hung thầy dạy, học hành kiểu gian dối hay kiểu đối phó, mua điểm…

9- Tiêu diệt ý thức tôn trọng sự thật nơi giới truyền thông. Vì chủ trương dùng bạo lực và gian dối để cai trị, CS quản lý toàn bộ nền truyền thông, với Luật báo chí kiểm soát chặt chẽ từ nhân sự đủ cấp đến phương tiện đủ loại, với Ban tuyên giáo trung ương nắm đầu mọi tổng biên tập và biên tập, với những đội quân chiến đấu trên mạng hàng chục ngàn người thuộc bộ Công an và bộ Quốc phòng, với đám lính đánh thuê mang tên dư luận viên lên tới cả trăm ngàn đứa… Tất cả cố gắng đem nguyên tắc “nghe theo đảng, nói theo đài” vào trong quần chúng, xã hội, sẵn sàng dối trá vì tiền, chà đạp tiếng lương tâm vì lợi, để tô hồng cho đảng, để đổ tội cho dân, để vu khống thóa mạ những ai cổ vũ cho công lý và sự thật.

Việc tiêu diệt ý thức của mọi thành phần có ảnh hưởng xã hội nói trên đều chỉ nhắm mục tiêu: đánh gục ý chí dân tộc, để không người Việt nào còn đủ sự sáng suốt của lý trí, sự vững mạnh của khí phách, sự nhiệt thành của trái tim ngõ hầu liên kết với nhau mà chống lại bạo lực và gian trá của CS, mà khôi phục nhân quyền và dân chủ cho Đồng bào, mà bảo vệ tự do và độc lập cho Đất nước. “Mọi lợi quyền phải qua tay mình”, đó là câu nhật tụng, lẽ sống còn của người CS, dù phải bảo toàn lợi lộc và quyền lực đó bằng việc tàn phá đất nước và dâng nộp tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc, đang ngày đêm nuôi mộng Hán hóa Việt Nam.

Vậy đã rõ rồi nhé.

 
 
Thuong Phan shared a post.
 
Image may contain: sky and outdoor

Bảo Nhi Lê is feeling crazy with Trần Bang and 48 others.

Sau tất cả các màn bịa đặt bẩn thỉu về HT ĐCT, dùng clip cũ của trung quốc, clip giả do cờ đỏ giàn cảnh, những luận điệu vu khống bẩn thỉu với sự tập trung cao độ của 600 tờ báo nhà nước cùng lên đồng tập thể, nhà cầm quyền cộng sản muốn che giấu mưu đồ cướp không tu viện Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm và cả nhà thờ Thủ Thiêm…. Đây là miếng đất vàng tới 10 ngàn met vuông mà quan chức thèm nhỏ cả nước giải, âm mưu lấy từ lâu mà bị phản đối quá mạnh.

Sau những chiêu truyền thông bẩn, chúng nghĩ rằng dân mất cảm tình với tất cả đạo nào thờ Thiên Chúa. Sau những chiêu trò bỉ ổi tận cùng, chúng nó phần nào thành công trong việc chia rẻ các đạo giáo trong nước. Và chúng ra tay, chuẩn bị đập phá cả nhà thờ và Tu viện.

Sau khi dắt mũi dư luận, khởi động được màn auto chửi của của dân chúng, chúng nó nghĩ rằng chẳng ai còn đủ sức quan tâm tới chuyện chúng nó sắp sửa đập phá tu viện, nhà thờ. Dù tu viện và nhà thờ đó có lịch sử 177 năm.

Người Công giáo luôn tỉnh táo với sự soi sáng của Chúa. Và chúng ta nhận ra rằng : Chúng nó đang mở màn bách hại đạo Công giáo lần nữa.

Xin chia sẻ giúp cả nhà ơi.

THIỆN NHÂN, ÔNG SẼ CÓ SỐ PHẬN Y NHƯ TÊN CHÓ MÁ ĐINH LA THĂNG NẾU ÔNG ĐẬP PHÁ TU VIỆN NHÀ THỜ.

12 tướng tá bao gồm cả bộ trưởng công an VC có thể bị Đức phát lệnh truy nã toàn thế giới – VietBF

Tony Ton and Thanh Tran shared a link.
VIETBF.COM
 
  
Old Germany Flag Resize 12 tướng tá bao gồm cả bộ trưởng công an VC có thể bị Đức phát lệnh truy nã toàn thế giới
Click image for larger version Name: bat12tuongtavc.jpg Views: 0 Size: 64.0 KB ID: 1211587

Có tới 12 tương tá cao cấp, bao gồm cả bộ trưởng công an dính líu tới vụ án bắt cóc người tại Đức. Đối với Đức việc bắt cóc người trên lãnh thổ Đức không khác gì sỉ nhục vào hệ thống an ninh nước này.

Việc phát lệnh truy bắt tổ chức bắt cóc ông Trinh Xuân Thanh, bất kể tổ chức này là bộ công an Việt Cộng, cũng sẽ nằm trong sự trừng phạt để răn đe những đối tượng và tổ chức khác phải ngừng việc coi thường tự tôn của Đức.


1.Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an
2.Trung tướng Đường Minh Hưng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an.
3.Trung tướng Lê Mạnh Cường hiện giữ chức vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo (Tổng cục V),
4.Phạm Văn Hiếu
5.Lưu Trung Việt
6.Vũ Quang Dũng
7.Vũ Hồng Minh
8.Phạm Minh Tiến
9.Đào Công Duy
10.Vũ Trung Kiên
11.Đặng Tuấn Anh
12.Nguyễn Thế Đôn

TƯ DINH BÍ THƯ TỈNH UỶ PHÚ YÊN

 
 
Hoa Kim Ngo shared a post. 
 
Image may contain: house and outdoor
Image may contain: sky, tree, plant and outdoor
Image may contain: sky and outdoor
Trương Duy Nhất    Follow

TƯ DINH BÍ THƯ TỈNH UỶ PHÚ YÊN

Hình 1 là tư dinh Bí thư tỉnh uỷ Phú Yên – Huỳnh Tấn Việt. Hình 2 và 3 là toà khách sạn và khu mua sắm, nghe nói của người nhà ông Việt.
Không chỉ chừng đó. Dân tình kháo nhau nhiều cụm – khu đất vàng khác tại Tuy Hoà cũng đều đã vào tay anh em con cháu gia tộc họ Huỳnh.
__________________________
– truongduynhat.org

Xã hội chủ nghĩa tàn tạ

Xã hội chủ nghĩa tàn tạ

Nguyễn Xuân Nghĩa
2018-05-01

Nhà máy xe hơi Ford của Mỹ tại Hải Dương, Việt Nam

 AFP

VDDKT050218.wav

00:00/00:00

Chủ nghia Xã hội tàn tạ

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Biến cố 30 Tháng Tư 1975 đã được Chính quyền Việt Nam chào mừng như một cuộc giải phóng và thống nhất đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, do một đảng độc quyền lãnh đạo. Nhìn về mặt kinh tế thì Việt Nam có chuyển biến, nhất là sau 10 năm khủng hoảng và hai đợt đổi mới vào các năm 1986 và 1991. Trong năm qua, Việt Nam còn đạt mức tăng trưởng khả quan là 6,8 % nên Chính quyền có thể hài lòng với thành tích ấy. Riêng ông thì thấy thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Nếu nhìn trên cái trục thời gian thì quả thật là Việt Nam đã có thay đổi sau khi tiến hành cải cách gọi là “đổi mới”. Nhưng tại sao lại phải đổi mới nếu xã hội chủ nghĩa là điều hay đẹp và cần thiết cho Việt Nam như giới lãnh đạo đã nói sau 1975? Nếu nhìn trên cái trục không gian, là so sánh với các lân bang, thì Việt Nam vẫn còn tụt hậu sau khi đã trả một cái giá quá đắt cho một cuộc chiến tương tàn. Điều thứ ba là cái đà tăng trưởng 6,8 % do Tổng cục Thống kê đã tính ra cho năm 2017 qua, coi như thuộc loại cao của Châu Á thì tôi cho là họ nên tính lại vì cũng áp dụng phương pháp kế toán quốc gia của Bắc Kinh nên không đáng tin. Cứ cộng các nhập lượng ở đầu vào, như số tín dụng hay mức tăng lương, mà coi đó là trị giá gia tăng của sản xuất là một sai lầm về kế toán. Cũng thế, thị trường chứng khoán Việt Nam được coi là tăng mạnh nhất nhưng đã lên tới đỉnh và đang tuột đáy vào tuần trước. Dù sao đấy là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là hơn 40 năm sau khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì chủ nghĩa này đang có dấu hiệu tàn tạ!

Nguyên Lam: Nhân chuyện 30 Tháng Tư, Thính giả của chúng ta mong ông giải thích cho sự thể ấy. Thế nào là tàn tạ, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chúng ta khó quên khẩu hiệu “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” do Việt Nam đề ra sau năm 1975. Sự thật thì giới lý luận của Hà Nội không định nghĩa được “xã hội chủ nghĩa” là gì mà đòi xóa bỏ tất cả những gì họ cho là không thuộc xã hội chủ nghĩa, gọi đó là “cải tạo”. Vì tính chủ quan duy ý chí khi có toàn quyền trong tay, họ đòi cải tạo “quan hệ sản xuất” để từ đó nâng “phương thức sản xuất” lên một trình độ cao hơn, là phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Việc cải tạo quan hệ sản xuất chỉ xóa bỏ quyền tư hữu vật liệu sản xuất và tổ chức lại hệ thống lao động và phân phối sản phẩm. Đã vậy, cũng do ý thức hệ Xô viết, Hà Nội còn lao vào cuộc chiến Kampuchia trong 10 năm khiến tổng sản lượng bị mất mỗi năm 5%. Hậu quả là kinh tế bị khủng hoảng, sản xuất suy sụp và lạm phát tăng. Vì vậy, Hà Nội phải tiến hành đổi mới, là áp dụng quy luật thị trường, nhất là sau khi Liên Xô tan rã, nhưng giới lãnh đạo vẫn tiếc cái đuôi xã hội chủ nghĩa.

Định hướng Xã hội chủ nghĩa

Nguyên Lam: Thưa ông có phải vì vậy mà lãnh đạo của Việt Nam mới phát minh ra phạm trù “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay không?

Khác với ngày xưa thì “chuyên chính vô sản” là “chuyên chính trên đầu giai cấp vô sản”, ngày nay Việt Nam đã khá hơn khi theo quy luật thị trường, nhưng chỉ để xây dựng chế độ tư bản nhà nước, y hệt như Trung Quốc, mà thực chất là chế độ tư bản thân tộc cho tay chân của đảng và nhà nước, là đảng viên cán bộ.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Như bên Tầu, họ vừa mò chân tìm đá mà bước qua dòng! Ban đầu còn là “kinh tế thị trường theo định hướng nhà nước”, sau Đại hội X mới lết cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” mà chẳng ai minh định nổi nội dung đó là gì!

– Gần 20 năm trước, tôi gặp lại ông bác họ, là người đã tiến hành đổi mới đợt đầu, và được ông bảo rằng trong Bộ Chính Trị không ai giải thích được cái định hướng ấy là gì. Ông còn hỏi tôi nghĩ sao! Tôi có trình bày như thế này và ngày nay nhìn lại thì thì càng thấy ra sự tàn tạ:

 “Khi sinh con đẻ cái thì ai ai cũng ưa đặt tên thật đẹp, nhưng quan trọng là việc giáo dục sau đó. Lãnh đạo một nước nghèo, bị chiến tranh và cả sự u mê tàn phá, thì cần ưu tiên lo cho đa số dân nghèo trong xã hội. Ra khỏi sự u mê và áp dụng quy luật thị trường thì sản xuất có thể tăng, nhưng ai sẽ hưởng các sản phẩm đó một cách công bằng? Trong 20 năm đầu, thì nhà nước nên ưu tiên lo cho dân nghèo từ nông thôn trở lên chứ đừng duy ý chí đi từ trên xuống cho bằng các quốc gia đi trước. Mọi chính sách đều phải đi từ dưới lên và coi công bằng là trọng, cho đa số có thể tham gia sản xuất với năng suất cao hơn thì sẽ có lợi tức khá hơn. Nếu gọi đó là “xã hội chủ nghĩa” thì cũng được, nhưng phải ra khỏi bóng rợp của chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Nguyên Lam: Ông kể lại câu chuyện của gần hai chục năm trước và đối chiếu với ngày nay thì thấy sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Ngày nay, cái “định hướng xã hội chủ nghĩa” vô hình và vô tâm đó đang phá sản! Kinh tế mắc nợ ngập đầu vì thiểu số ăn trên ngồi chốc, ngân sách bị bội chi vì quá nhiều lãng phí cho bộ máy cầm quyền, nên người ta đòi giảm chi và tăng thuế trong khi xã hội trở thành cực kỳ bất công hơn, với đại đa số vẫn sống trong cảnh bần cùng. Hơn 40 năm sau khi được hứa hẹn thiên đường xã hội chủ nghĩa, những người u mê nhất cũng thấy rằng đấy là một cơn ác mộng.

Nguyên Lam: Chúng ta sẽ phải đi từng bước để hiểu ra kết luận bi quan vừa rồi của ông.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa rằng ưu tiên của xã hội chủ nghĩa trong các nước văn minh là công bằng xã hội, trong các xứ nhược tiểu là dân nghèo. Các đảng phái chính trị thuộc hai cánh tả hữu có thể đề ra ưu tiên ấy và phải thực thi, nếu không thì thất cử. Tại Việt Nam, chuyện bầu cử đó không thể có vì đảng và nhà nước quyết định tất cả dưới chiêu bài “xã hội chủ nghĩa”.

– Khác với ngày xưa thì “chuyên chính vô sản” là “chuyên chính trên đầu giai cấp vô sản”, ngày nay Việt Nam đã khá hơn khi theo quy luật thị trường, nhưng chỉ để xây dựng chế độ tư bản nhà nước, y hệt như Trung Quốc, mà thực chất là chế độ tư bản thân tộc cho tay chân của đảng và nhà nước, là đảng viên cán bộ.

– Vì cái định hướng xã hội chủ nghĩa đó, Việt Nam có chế độ sở hữu mập mờ về quan hệ sản xuất. Quyền tư hữu được chấp nhận nhưng chế độ công hữu vẫn giữ vị trí chủ đạo, thể hiện qua khu vực kinh tế nhà nước, với các tập đoàn hay tổng công ty được yểm trợ bằng các phương tiện sản xuất như đất đai và tín dụng và được bảo vệ với chính sách cạnh tranh bất chính. Các cơ sở sản xuất này thu dụng ít nhân công mà chất lên núi nợ, khi bị lỗ lã và sức ép của quốc tế cùng các nước cấp viện thì cũng tư nhân hóa hay cổ phần hóa rất chậm. Khi tiến hành việc đó thì các cơ sở quốc doanh được định giá thấp vì trị giá “bèo” của quyền sử dụng đất và được bán rẻ cho “tư nhân” là tay chân thân tộc ở bên trong. Vì vậy, ngân sách thu về được ít tiền, nay đòi đánh thuế để giảm bội chi quá nặng. Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sản sinh ra các đại gia tỷ phú trong khi đa số người dân vẫn cực nghèo.

Hậu quả

Nguyên Lam: Thế còn việc quản lý ngân sách thì cái định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn tới những hậu quả gì, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Có lẽ 40% ngân sách quốc gia Việt Nam phải nuôi bộ máy nhân sự của đảng và nhà nước, từ đảng viên mọi cấp tới hệ thống hành chính rồi bộ máy công an, cảnh sát và quốc phòng. Thành phần nhân sự đó tăng quá mạnh, chủ yếu là vì tăng lương chứ cũng chẳng vì cấp số lao động. Nhưng đa số ở dưới vẫn chưa đủ sống nên lấy bổng bù vào lương, là gây ra nạn tham nhũng và sách nhiễu người dân để kiếm tiền. Vì ngân sách cạn tiền, Bộ Công An trù tính giảm dần cấp số nhân sự theo tinh thần vu vơ là “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Tuy nhiên, sự kiện nhiều ông tướng công an đang bị điều tra và kỷ luật cũng cho thấy hậu quả của hệ thống quyền thế chính trị và thuộc tính của nó là nạn tham nhũng.

Tôi nghĩ là về dài, khu vực kinh tế quốc doanh sẽ suy bại dần, nhưng chưa nhìn thấy vai trò của tư doanh Việt Nam trong khi các cơ sở kiếm lời nhiều nhất vẫn là của nước ngoài. Như vậy, cái định hướng xã hội chủ nghĩa đang thành vô nghĩa.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

— Công an đã vậy, nhân sự về giáo dục lại còn thê thảm hơn. Thành phần đào tạo ra thế hệ của tương lai cũng là thành phần khó sống nhất. Mà các thế hệ cho tương lai khó được giáo dục và đào tạo cho đúng với yêu cầu sau này. Trường ốc và học cụ thiếu thốn, học phí gia tăng, đa số dân nghèo khó cho con đi học khi nhà nước chối bỏ trách nhiệm dưới khái niệm “xã hội hóa giáo dục” là đòi xã hội trang trải.

– Việt Nam rơi vào vòng luẩn quẩn là bộ máy công quyền có “lực lượng lao động dư dôi”, tiếng là có việc có lương, mà thiếu khả năng, làm không đủ sống và tìm cách trưng thu ở bên ngoài và trải rộng mạng lưới tham ô vặt! Từ công an, giáo dục mà suy ra lĩnh vực y tế thì ta cũng thấy vấn đề tương tự là sự kiệt quệ và sẽ vỡ nợ của quỹ an ninh xã hội, cơ chế phụ trách về y tế, hưu liễm, trợ cấp thất nghiệp, v.v….

Nguyên Lam: Thưa ông, thế thì kinh tế thị trường có đóng góp được gì cho việc phát triển tại Việt Nam không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chắc chắn là có. Nó đẩy lui bàn tay thô nhám và bất tài của doanh nghiệp nhà nước nhưng trao lợi nhuận cho nhà đầu tư ngoại quốc trong khi tư doanh vẫn bị chèn ép trừ phi liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài. Thí dụ ai cũng biết là từ nhiều năm nay, tập đoàn Samsung của Nam Hàn đã đầu tư 17 tỷ đô la vào Việt Nam, trở thành doanh nghiệp lớn hơn PetroVietnam, đại gia quốc doanh trong lĩnh vực dầu khí. Kết quả, Samsung giúp Việt Nam là nước xuất khẩu máy điện thoại tinh khôn thứ nhì của thế giới, chỉ sau Trung Quốc, và đóng góp một thần tư số xuất khẩu của Việt Nam, trị giá hơn 200 tỷ đô la. Họ thu về số lời là gần 60 tỷ! Dân ta làm gia công cho họ mà lãnh đạo vẫn cứ nói phét.

– Tôi nghĩ là về dài, khu vực kinh tế quốc doanh sẽ suy bại dần, nhưng chưa nhìn thấy vai trò của tư doanh Việt Nam trong khi các cơ sở kiếm lời nhiều nhất vẫn là của nước ngoài. Như vậy, cái định hướng xã hội chủ nghĩa đang thành vô nghĩa.

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đề nghị ông kết luận về bài phân tích u ám này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Hơn 40 năm sau chiến tranh, Việt Nam vẫn là nột nước tụt hậu sau nhiều lân bang Đông Nam Á, nhưng đứng trên danh mục tham nhũng nặng theo cuộc khảo sát của tổ chức Transparency International. Nguyên nhân là đảng và nhà nước thiếu công minh, là công khai và minh bạch, với bộ máy công quyền không bị trách nhiệm trước công luận. Trong khi ấy, chức năng then chốt của một chính quyền xưng danh xã hội chủ nghĩa là lo cho xã hội và tránh nạn bất công thì chính quyền lại còn đào sâu sự bất công đó. Vì vậy, dân nghèo hết than vãn về nạn tham nhũng mà trở thành bi quan về đời sống trước mặt. Họ đã tụt đến đáy rồi mà ở trên vẫn hô khẩu hiệu vu vơ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích kỳ này.

TÔI PHẢN ĐỐI VIỆC DI DỜI NHÀ THỜ THỦ THIÊM, DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ THIÊM.

 
 
 
Image may contain: sky and outdoor
Image may contain: outdoor
Trần Bang

TÔI PHẢN ĐỐI VIỆC DI DỜI NHÀ THỜ THỦ THIÊM, DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ THIÊM.

“TTO:…Lãnh đạo UBND TP cũng yêu cầu các đơn vị liên quan có phương án di dời những cơ sở tôn giáo trong khu đô thị này (Nhà thờ Thủ Thiêm, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm) cũng như thu hồi đất của Trường tiểu học Thủ Thiêm để bàn giao cho nhà đầu tư thi công tuyến đường ven sông và công viên bờ sông theo đúng tiến độ.”
https://tuoitre.vn/dau-gia-9-lo-dat-o-trung-tam-khu-do-thi-…

Sinh hoạt tôn giáo là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân địa phương, với du khách đến với TP . Một khu đô thị mới hiện đại như Thủ thiêm mà có một ngôi nhà thờ cổ hơn 170 năm tuổi sẽ là một may mắn, một điểm nhấn Tâm linh vô cùng quý hiếm. Nó sẽ làm tăng giá trị cho khu đô thị đó, nên ai vẽ quy hoạch, duyệt quy hoạch mà bứng nó đi sẽ là một sai lầm tai hại, một việc làm vô đạo, bất nhân không biện minh được.

Nay còn cơ may sửa chữa quy hoạch, đó là một điều may mắn cho các cá nhân và tập thể lãnh đạo của TP này, tôi kêu gọi các vị dừng ngay việc làm ngu xuẩn, vô đạo, thất đức này.

P/s Chỉ cần quan sát du khách đến Q1, TP Sài Gòn, có mấy ai không ghé qua Nhà thờ Đức Bà ( tuổi còn thua Nhà Thờ và Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm ), là biết được giá trị tinh thần của DMTG Thủ Thiêm hơn 170 năm tuổi với khu đô thị mới Thủ Thiêm và với cả SG, với cả miền Nam VN.

Củ khoai Yên Bái

Củ khoai Yên Bái

 

 

 

 

 

 

Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng – Bác Sĩ Phạm Hữu Phước.

  
Phước nhìn tôi mỉm cười:

“Mày đói lắm hay sao mà hối vợ mày làm cơm dữ vậy?”

Tôi vừa ra phi trường đón Phước về.

Chúng tôi không gặp nhau đã hơn ba mươi mấy năm. Tôi chỉ nghe nói Phước vượt biên nhiều lần nhưng không thoát, bị giam cầm nhiều năm. Cứ mỗi lần được thả ra, Phước lại tìm đường trốn, đến lần thứ bảy hay thứ tám gì đó, Phước mới sang được Úc, định cư tại đây và được hành nghề bác sĩ trở lại, tại Melbourne .

Tôi không tưởng tượng được có ngày nghe lại giọng nói của Phước qua đầu dây điện thoại, hẹn sẽ sang chơi và đến thăm nhà.

Tiếng cuời vẫn vui, tiếng nói vẫn sang sảng, như ngày nào chúng tôi cùng ở chung nhà, học thi để lên lớp cuối năm, đã ba mươi mấy năm trước.

Phước nhấp ngụm nước:

“Trong khi đợi vợ mày làm cơm, để tao kể cho mày nghe chuyện tao ở tù sau ngày Phước Long thất thủ.”

Ừ! Nghe mày kêu đói, tao sẽ tả cho mày biết cái đói thực sự nó ra thế nào . . .”

Phước có tài kể chuyện, tôi nhớ đến những ngày xưa cũ, khi ở chung, Phước thường kể chuyện rất có duyên. Những câu chuyện được xếp đặt thứ tự, mạch lạc đầu đuôi, có mở đầu, dẫn nhập, rồi vào chuyện, chi tiết lớp lang như theo một dàn bài. Tôi nhìn Phước, hít một hơi dài, mắt lim dim như muốn tìm đầy đủ những kỷ niệm, những cảm xúc của năm xưa. Phước như người cẩn thận, ngăn nắp tao từng biết, không muốn mất đi một ký ức nào đã ghim sâu vào tâm khảm, như người hằng ba mươi mấy năm nay đã chờ đợi để ngày hôm nay gặp lại, kể cho tôi nghe những câu chuyện của đời mình đã trải qua.

Phước cất tiếng:

“Mày biết không? Cuộc đời có những ngã rẽ không thể ngờ được. Ai cũng có định mệnh của mình. Không thể nào tránh khỏi được.

Nhiều đêm sau này trong tù tao vẫn nghĩ đến điều đó. Là nếu tao không nhất định giữ đúng ngày phép hạn định của mình, ở lại Sài Gòn, không trở lại Phước Long, tao đâu có bị những hoạn nạn kinh khủng đến như vậy!

Mày còn nhớ hồi ra trường, mày đi Tây Ninh còn tao đi bệnh viện Phước Long. Tao được đi phép một tuần về Sài Gòn trước ngày Việt Cộng đánh Phước Long. Vợ tao khóc quá mức khi thấy tao nhất định giữ đúng ngày phép, ra trình diện lại ở Cục Quân Y. Bố vợ tao cũng ngăn, nói tình hình nguy kịch quá rồi, ở nhà luôn đi, đừng lên Phước Long nữa.”

Phước thở dài:

“Mày biết, tính mình hồi đó còn tuổi trẻ, bồng bột, đâu biết tính toán gì. Tao không thích làm điều gì sai quấy, hạn phép nghỉ chỉ một tuần, hết hạn là mình ra trình diện, không muốn trốn ở lại.

Tao đến Cục Quân Y lúc đó là buổi chiều. Chiếc trực thăng đậu trong bãi đáp đang sửa soạn để cất cánh bay chuyến chót, bổ sung người cho bệnh viện tiểu khu Phước Long. Toán sĩ quan trợ y, Y tá đã ngồi đầy không còn một chỗ trống trên đó. Trung tá Y sĩ Liễn đích thân đưa tao ra và hạ lệnh cho trực thăng khoan cất cánh. Ông chỉ tay vào người sĩ quan trợ y ngồi sát bìa:

“Em đi xuống để chỗ cho bác sĩ Phước lên.”

Người thiếu úy trợ y khuôn mặt trẻ măng chắc mới ra trường vội vàng đi xuống, không dấu được vẻ mừng rỡ.

Tao sửa soạn để trèo lên trực thăng và ánh mắt chúng tao chạm nhau. Tao nhìn được sự sung sướng của người trợ y, như một kẻ sắp bước chân vào địa ngục được trở lại trần thế. Ai cũng biết Phước Long sắp mất trong nay mai mà bị gọi để đi lên Phước Long được coi như lãnh án tử hình. Vận mệnh của chúng tao đã trao đổi cho nhau trong giây phút đó, trong luồng ánh mắt gặp nhau buổi chiều hôm đó!

Tao không hiểu người thiếu úy trợ y được thoát chuyến bay cuối cùng đi lên bệnh viện tiểu khu sau này ra sao? Anh có thoát được những hiểm nghèo khác không trong những ngày sau chót của cuộc chiến? Hay anh đã chết trong một trận đánh nào khác? Hay anh đã bình yên và an lành sống một cuộc đời hiền hòa ở Hoa Kỳ, ở Úc hay một chỗ nào đó trên khắp quả địa cầu? Nhưng tao biết, tao đã lấy chỗ của anh để bước chân vào địa ngục. Vì vận mệnh của tao đã sắp đặt để sự việc xảy ra như thế, để tao phải bị đọa đầy trong mấy năm trời đằng đẵng, dài như cả một đời người!”

Phước ngồi thừ một lúc, không nói gì . . . Một lúc sau Phước bật cười kể tiếp:

“Ừ! Mày biết không? Tao lâu lâu vẫn nghĩ có ngày nào mình đi đâu đó, rồi gặp lại anh chàng trợ y minh đã hoán đổi định mệnh ba mươi mấy năm trước. Mình muốn biết anh chàng sau này ra sao? Cuộc đời hắn thế nào? Cũng hay đấy chứ nhỉ!”

Phước lắc lắc đầu mấy cái, như muốn đánh đuổi ý nghĩ đó ra khỏi đầu:

“Để tao kể tiếp cho mày nghe. Mày còn nhớ Trần Kim Phẫn không? Nó ra trường về cùng bệnh viện tiểu khu với tao. Chắc mày không biết điều này vì nó dấu kín với tất cả mọi người. Chỉ tao ở với nó trên Phước Long mới được biết. Mày không thể ngờ được là nhà nó nghèo đến thế nào. Ba nó đạp xích lô nuôi nó ăn học. Phẫn vào được trường y khoa, nó học rất giỏi vì chỉ ở trong nhà thương không bao giờ về nhà. Lý do là nhà nó kinh khủng quá, ở trong nhà thương ăn ở đầy đủ, lại có cơ hội thực hành nhiều, nên nó không về nhà nữa. Tao đã nghĩ chỉ mình mới gặp nhiều hoạn nạn, nhưng Phẫn, định mệnh của nó còn thê thảm hơn nhiều. Mày còn nhớ tuy nó là người bạn tốt, nhưng lại có biệt danh kỳ quái là Phano vì lúc nào cũng dễ phẫn nộ. Nhưng trong sự giận dữ của Phẫn tao thấy một niềm đau đớn nào đó. Có lẽ Phẫn đã linh cảm được cái chết sắp đến của mình.

Chiều hôm đó, chiếc trực thăng vừa đáp xuống bệnh viện tiểu khu, tao đã thấy Phẫn vội chạy ra. Thấy tao bước xuống, Phẫn nhào lại nắm lấy vai tao lắc mạnh:

“Trời ơi! Mày sao ngu quá vậy Phước! Tao đã mừng tưởng mày được đi phép là thoát rồi. Sao không ở lại luôn lên làm gì?”

Phẫn la hét chửi tao, cơn tức giận không dấu được như bừng bừng bốc lửa. Phẫn đánh mạnh vào tay tao làm tao đau điếng. Phẫn như người cuồng điên, sự phẫn nộ tràn ra ào ạt. Nhưng trong ánh mắt giận dữ của Phẫn, tao thấy được những lo âu, sợ hãi . . . Những xúc cảm mãnh liệt của Phẫn không dấu được sự kinh hoàng của người biết trước được định mệnh của mình, nhưng hầu như còn được chút an ủi là người bạn thân đồng khóa đã may mắn được về phép trước khi Việt Cộng tấn công Phước Long, tưởng là thoát khỏi hiểm nghèo, nay thấy tao đột nhiên xuất hiện trên chuyến trực thăng chót đưa người lên bệnh viện tiểu khu, đưa đầu vào chỗ chết, bảo sao Phẫn không nổi điên lên được!”

Phước không nói nữa. Một lúc sau, Phước nghẹn ngào, nói ngắn gọn:

“Đêm đó, Việt Cộng tấn công, Phẫn chết ngay trong đợt pháo kích đầu tiên!”

Phước nhìn tôi, lắc đầu:

“Tao định kể cho mày câu chuyện về đói cơ mà! Vợ mày chắc làm cơm sắp xong. Những chuyện khác trong trận đánh Phước Long, tao sẽ lần lượt kể sau cho mày nghe, nhưng trong đêm Phẫn chết đó, tao cũng bị thương nặng ở đùi và trở thành tù binh, cùng với bao nhiêu người lính khác bị Việt Cộng bắt sau trận đánh.

Chúng tao bị giam, bị bỏ đói, tao không biết bao nhiêu ngày nữa. Vết thương đùi của tao làm độc, tao không còn hơi sức, nằm một chỗ, nhức nhối đau đớn đến cùng cực. Đàn ruồi bay vo ve theo tao hàng mấy ngày rồi vì mùi thịt thối xông lên nồng nặc. Những người tù binh khác đều dạt ra xa vì không muốn phải ngửi mùi kinh khủng này. Chính tao lúc nào cũng buồn nôn muốn ói vì cái mùi ghê tởm ngày đêm bao phủ lấy mình. Tao không đi được, phải dùng hai cùi chỏ để lết. Nhưng sau cùng lết cũng không được vì mấy ngày không ăn đã kiệt lực không còn hơi sức. Tao chỉ còn cách nằm yên, nhắm mắt lại, cố gắng để quên cái đau và cơn đói đang hành hạ.

Bỗng dưng một mùi thơm lạ lùng thoảng vào mũi tao. Chừng như mùi hôi thối từ vết thương đùi cũng không đánh át được mùi thơm này. Tao mở mắt ra và thấy một anh lính địa phương quân tù binh đang được người mẹ cho ăn cháo. Bà mẹ nấu ít cháo đem đến cho con ăn. Tao không hiểu sao bà được Việt Cộng cho phép vào và đến thăm đứa con. Nhưng tao không muốn tìm hiểu gì thêm. Vì cơn đói như được mùi cháo thơm làm bùng dậy mạnh mẽ. Cái đói cồn cào, thôi thúc, còn hơn cả cơn đau vết thương đang hành hạ. Tao không thể nhịn được và như trong cơn mơ, tao thấy tao lết lại dần chỗ có mùi thơm kỳ diệu kia. Mắt tao không thể rời ra khỏi tô cháo anh lính đang đưa vào miệng húp.

Cơn đói càng lúc càng tăng lên làm tao run bần bật. Mắt tao hoa lên, mồ hôi ra ướt đẫm trán nhưng tao cố gắng để chặn mình không mở miệng ra xin ăn cháo. Cả đời tao chưa bao giờ bị đói. Và tao chưa hề một lần mở miệng xin xỏ ai, dù là bất cứ điều gì. Tao nghĩ đến bố mẹ tao, đến tổ tiên dòng họ, ngay thẳng chân chính, không hề quỵ luỵ ai, lúc nào cũng giữ lưng cho thẳng, có bao giờ mở miệng van xin dù có chết đi chăng nữa. Và tao đang nằm đây, mắt không chớp nhìn vào tô cháo, đánh nhau với chính mình, cố gắng bậm môi đến gần bật máu để không mở miệng xin ăn cháo.

Nhưng cái đói không để yên, sự hành hạ đã quá mức, tao không thể chịu nổi nữa. Tao nghe tiếng mình nói, thều thào:

“Cho… xin… chút… cháo!”

Anh lính Địa phương quân tù binh không quay đầu lại, tiếp tục húp cháo, nhưng bà mẹ quay sang tao, giọng thật hung dữ:

“Cháo này tao cho con tao ăn còn hổng đủ, dư đâu cho mày!”

Bà bĩu môi, hất tay như muốn xua tao đi chỗ khác.

Tao thấy quay cuồng, cơn đói, cơn đau vết thương và nỗi nhục nhã uất ức như cùng nhau hợp vào, ùa đến như làn sóng thần phủ chụp. Nước mắt tao chảy ra dàn dụa.

Anh lính lúc đó mới quay đầu lại, chừng như bất nhẫn, nhìn bà mẹ một hồi rồi ngập ngừng đưa tao tô cháo đang húp dở.

Tao giơ tay cầm tô cháo. Mùi thơm ùa vào mũi và như một phản xạ không kiềm chế được, tao há miệng cho dòng cháo chảy vào.

Nhưng nước mắt tao càng lúc càng chảy ra nhiều hơn.

Cái đau tinh thần đã thay thế cho tất cả những nỗi đau thân thể và cơn đói hành hạ.

Tao thấy tao: Một Bác sĩ vừa ra trường, cả đời chỉ lo học hành, đi tìm cái hay, cái đẹp của cuộc đời, muốn giúp người, cứu người . . . Và chỉ trong mấy tháng vừa qua sau khi ra trường làm việc tại Bệnh viện Tiểu khu này, tao đã cứu được nhiều thương bệnh binh và cũng được nhiều người kính phục. Tại sao tao lại ở đây, khổ sở, đau đớn, điên cuồng vì đói để bị sỉ nhục, khinh khi chỉ vì cái đói kinh khủng đã làm tao phải mở miệng để xin ăn cháo!

Dòng cháo thơm tho, nuôi sống, đã vào miệng rồi nhưng cơn nghẹn ngào và nước mắt tuôn rơi làm tao không thể nuốt nổi.

Cổ họng tao như thắt lại và dù cơn đói thôi thúc, tao nhả ra và trao lại tô cháo cho anh lính.

Tao cố gắng dùng tàn hơi để bắt mình lết dần sang một chỗ khác, để không thấy, không nghe tiếng húp cháo nữa, dù mùi cháo thơm tiếp tục bay đến hành hạ như không bao giờ ngơi nghỉ.”

* * *

Phước nhìn tôi, hỏi, nhưng cặp mắt mơ màng như vẫn còn đang sống trong kỷ niệm của ba mươi mấy năm về trước:

“Mày nghe đã sợ cái đói thực sự như thế nào chưa?

Nhưng khoan! Trước khi vào ăn cơm, để tao kể nốt cho mày nghe câu chuyện đói khác. Chuyện này có hậu hơn. Tao biết mày thích chuyện gì cũng phải có hậu mà phải không?

Tao sẽ kể thêm những chuyện trong trại tù binh ở miền Nam cho mày nghe sau, để tao nhảy sang chỗ tao bị chuyển ra Bắc, bị đưa ra trại Yên Bái tuốt miền Bắc, cùng với những Sĩ quan khác.

 

 

 

 

 

 

Đoàn xe của chúng tao chạy suốt quãng đưòng dài, dân chúng miền Bắc như được lệnh, thấy mặt chúng tao là sỉ vả, nguyền rủa. Tao có nhiều chuyện lắm cho cuộc hành trình này, tao sẽ lần lượt kể cho mày nghe sau. Nhưng để tao kể chuyện này khi gần đến Yên Bái.

Lúc đó trời đã về chiều, đoàn xe dừng lại. Những tên bộ đội đi xuống kiếm chỗ đi tiểu hay ăn uống. Chỗ này đã gần đến Yên Bái và đã có ít căn nhà thưa thớt của dân dọc hai bên đường. Một người đàn bà dáng đã già tiến lại hỏi mấy tên bộ đội về đoàn xe. Được nghe giải thích đây là những tù binh từ miền Nam bị bắt đưa ra trại giam Yên Bái, bà ta tiến lại chỗ chúng tao. Bà hoa chân múa tay bắt đầu chửi:

“Tiên sư bố chúng mày! Cho chúng mày chết hết đi! Đáng đời chúng mày!”

Bà càng chửi càng hăng hơn. Bộ đội thích thú cười. Chúng tản mát ra kiếm chỗ để lấy đồ ngồi ăn và uống nước.

Một lúc không thấy tên bộ đội nào lảng vảng gần đó nữa, bà cụ già tiến lại gần hơn chiếc xe tao đang nằm trên cáng, mặt bà dịu lại, vẻ dữ tợn biến đâu mất, trên khuôn mặt nhăn nheo, sạm nắng và cặp mắt trũng sâu, chỉ còn lòng trắc ẩn.

Bà lại gần tao, nhìn vào vết thương đùi không lành đã mấy tháng nay, lúc nào cũng đầy mủ và bắt đầu có dòi. Bà nói nho nhỏ:

“Tội nghiệp con! Làm sao để ra nông nỗi này. Chúng nó khốn nạn quá!”

Rồi bà rút trong ngực áo ra một củ khoai, dúi vào tay tao:

“Con ăn đi cho đỡ đói!”

Bà vừa nói vừa láo liên nhìn về phía bọn bộ đội. Thấy một tên đi xăm xăm lại, bà quay người đi ngay.

Tao ngẩn người nhìn theo bà lão. Dù đang đói lả, cơn đói như cào xé lấy ruột gan, tao cũng không thể ăn ngay được.

Cho đến khi bóng bà lão khuất sau hàng dậu thưa của căn nhà bên đường và tên bộ đội trở lại chỗ ngồi cũ, tao mới ngoạm vào củ khoai còn nóng.

Miếng khoai ngọt ngào trôi vào trong cổ họng, thơm ngon và ấm áp.

Nuớc mắt tao ứa ra, nhớ lại bát cháo ngày nào ở Phước Long. Miếng cháo cũng thơm ngọt, nhưng dù có sắp chết tao không thể nào nuốt trôi.

Còn miếng khoai này, đầy ắp tình người, đã nuôi sống tao buổi chiều hôm đó, cũng như giúp tao trải qua những đọa đày cùng cực của ba năm giam cầm ở trại giam Yên Bái.

 

 

 

 

 

 

 

Mày thấy không? Trong chốn địa ngục của trần gian đó, chỉ còn hy vọng là điều ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa lương tri và ác độc, giữa chịu đựng và buông xuôi. Và tình người của bà lão Yên Bái đã giúp cho tao còn chút hy vọng, khi đã tuyệt vọng khôn cùng, khi chỉ còn muốn nhắm mắt để vĩnh viễn ra đi.

Củ khoai của bà đã nuôi sống tao đến tận bây giờ đó mày ạ.

Và đừng có bao giờ, đừng có ai nói chuyện hòa hợp hòa giải với tao nha!

Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng – Bác Sĩ Phạm Hữu Phước.

Tại sao vụ Hội Thánh Đức Chúa Trời được làm rầm rộ?

Tại sao vụ Hội Thánh Đức Chúa Trời được làm rầm rộ?

RFA

Phi Cảnh
2018-04-30
 
 

Hình chụp màn hình trang web của Hội thánh của Đức Chúa Trời

Hình chụp màn hình trang web của Hội thánh của Đức Chúa Trời

 vn.watv.org
 

Truyền thông Việt Nam đang ầm ầm đưa tin về một loại “tà đạo” mang tên Hội Thánh Đức Chúa Trời. Cách thức đưa tin kiểu này có cái gì đó không bình thường.

Đưa tin một chiều

Trước tiên khẳng định một điều: Nếu có một loại “tà đạo” dẫn dắt con người đến con đường không đúng đắn thì việc cảnh báo người dân là cần thiết. Nhưng vấn đề là thế này: truyền thông Việt Nam có bao giờ đưa tin về những điều tích cực mà tôn giáo mang lại?

Chẳng bao giờ! Chính vì thế mà khi có một vụ việc không hay liên quan đến tôn giáo là đăng tin ồ ạt trên tất cả các phương tiện truyền thông thì rõ ràng nó mang dụng ý không tốt. Với những người Việt Nam phần lớn chỉ đọc tin lề phải, họ dễ dàng bị dẫn dắt theo hướng xa lánh tôn giáo, nhất là khi một “tà đạo” có cái tên chỉ đích danh Thiên chúa giáo như thế này.

Tầm quan trọng của tôn giáo

Chỉ ở những nước Cộng sản vô thần như Việt Nam, Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc mới xem nhẹ vai trò của tôn giáo.

Hiếm có người Việt Nam nào chưa nhìn thấy tờ Đô la, nhưng chắc họ chẳng bao giờ thắc mắc một đất nước của khoa học kỹ thuật như Hoa Kỳ mà trên đồng tiền lại in chữ “In God We Trust” (Chúng tôi tin vào Chúa).

Nước Mỹ – “Một quốc gia dưới Chúa” (One Nation, Under God), nơi “người ta không tôn kính Chính phủ, mà người ta tôn kính Chúa” – lời của Tổng thống Donald Trump.

Will Gervais từ Đại học Kentucky nói với báo The Times rằng nói: “Mọi người dường như cho rằng tôn giáo là yếu tố tất yếu của đạo đức. Và không có tôn giáo, mọi người sẽ hành xử hoang dã vì không có ai yêu cầu họ phải trung thực. Tại sao họ không nên nói dối, ăn cắp và hãm hiếp?”. Vì thế người Mỹ không bỏ phiếu cho một tổng thống vô thần.

Các nước giàu có văn minh đều là các nước tự do tôn giáo cả, đông nhất là các nước Tin lành và Công giáo. Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nắm quyền 12 năm nay thuộc Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo, có ai nghĩ đảng phái hàng đầu nước Đức lại có cái tên “cổ lỗ sĩ” như thế.

Tự do tôn giáo tất nhiên thỉnh thoảng có mang đến những vấn đề, nhưng lợi ích của nó mang lại vẫn rất lớn, vì vấn đề gặp phải chẳng thấm vào đâu so với đàn áp tôn giáo. Ở những nước không được tự do tôn giáo, tình trạng đạo đức đều xuống cấp. Cựu Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln từng nói: “Nếu không có “Kinh Thánh”, chúng ta không thể phân biệt được thế nào là thiện ác”.

Ở Việt Nam, tình trạng lừa đảo phổ biến đến mức người dân cho đó là chuyện bình thường, cho là vì “ngốc nên mới bị lừa” chứ không nghĩ rằng do vấn đề đạo đức xã hội mà ra. Ngay cả lúc có việc đến các cơ quan công quyền (vốn để bảo vệ người dân) mà còn bị lừa kia mà!

Thời điểm đưa tin có vấn đề

Chính quyền Việt Nam vốn rất nhanh nhẹn trong việc đàn áp tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo dù tôn giáo này làm những việc tốt. Hay kể cả Phật giáo, ví dụ như Pháp Luân Công – bộ môn tu luyện thật sự tốt cho sức khỏe và làm người ta sống tốt lên thì lại đi ngăn cấm “vì Trung Quốc cũng cấm”.

Vậy mà “Hội Thánh Đức Chúa Trời” đã xuất hiện ở Việt Nam nhiều năm nay, được cho là làm toàn việc xấu mà tại sao bây giờ mới đưa tin rầm rộ – đây là một câu hỏi lớn.

Thật “tình cờ”, hoạt động của hội này được tung ra vào đúng dịp Ủy Hội Hoa Kỳ về Tôn giáo Quốc tế đề nghị Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo. Liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên?

Một báo mạng Việt Nam có ngay một bài với cái tít: “Truyền bá tà đạo “Đức chúa trời mẹ” qua SIM rác”. Nội dung là “khó giải quyết tận gốc do thiếu thông tin chính xác về kẻ truyền giáo. Nguyên nhân là bởi kẻ xấu đã sử dụng SIM không chính chủ nên rất khó lần ra dấu vết”, chính vì thế “Quy định đăng ký lại thông tin thuê bao giúp xử lý dứt điểm tình trạng SIM rác, tin nhắn rác.”

Bài báo này vừa lên án hội “tà đạo”, vừa bào chữa cho công an lý do vì sao không dứt điểm được vụ việc, vừa bảo vệ Nghị định 49 bắt chụp ảnh chân dung, vừa không nhắc gì tới tình trạng sim rác là do chính nhà mạng gây nên. Đúng là 1 mũi tên trúng đến 3, 4 mục tiêu.

Chưa kể hội thánh này được đưa tin là xuất phát từ Hàn Quốc, cũng thật đúng thời điểm 30/4 khi mà các “thế lực thù địch” đang tuyên truyền rằng miền Bắc nghèo đói thì giải phóng miền Nam nỗi gì?

Đấy thấy chưa, tự do nhưng bất ổn như Hàn Quốc có hay ho gì không? Chúng tôi không đàn áp tôn giáo, chúng tôi chỉ ngăn cấm tà giáo và những người lợi dụng tự do tôn giáo. – Ý của Đảng là vậy.

Chính vì thế, việc Hội Thánh này có thật sự xấu như báo Đảng nói hay không, hoặc nếu nó có xấu thật thì người đứng sau nó là ai là những điều đáng phải suy ngẫm.

Gần 5.500 người ra đường và không bao giờ trở về nhà trong 8 tháng

Lê Dũng Vova

 

Việt nam sống trong thảm hoạ quanh năm suốt tháng : tháng có gần chục ngàn chết vì ung thư, cả ngàn chết vì giao thông …

Thế nhưng Quốc hội 500 nghị, Chính phủ kiến tạo và minh bạch, đảng trường tồn, dân hạnh phúc vẫn hát ca quanh ngày ! 

Một đất nước kỳ lạ !

M.BAOMOI.COM
 
Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong tám tháng vừa qua (tính từ ngày 16/12/2016 đến 15/8/2017), toàn quốc xảy ra 12.775 vụ tai nạn giao thông, làm 5.422 người chết.
 
 

Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm?

 

Thế mà Anh Tô lâm tuyên bố với 800 tờ báo Việt Nam về TXT bị bắt cóc ở Đức , tôi chưa nghe tin gì cả ! Hố hố 
———-
Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh chấn động lớn, gây căng thẳng quan hệ ngoại giao Đức-Slovakia-Việt Nam – Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm?

Ông Peter Pellegrini Thủ tướng Slovakia sẽ đến nước Đức vào thứ Tư tới. Ông có những cuộc họp đã được lên kế hoạch với Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier và bà Thủ tướng Đức Angela Merkel. Một trong những nội dung của các cuộc họp sẽ là vấn đề vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Tờ Pravda nhấn mạnh, vụ bắt cóc này đã dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa Đức và Việt Nam, và hơn thế nữa giờ đây nó gây căng thẳng đối với quan hệ ngoại giao giữa Đức và Slowakia cũng như giữa Slowakia và Việt Nam./.

Thủ tướng Pellegrini nói. „Bộ Nội vụ Slovakia cũng liên lạc với phía Việt Nam để kiểm tra thành phần của đoàn Việt Nam và xác định xem có ai khác trên chuyên cơ của Việt Nam hay không. ?

BAOTHAMNHUNG.COM
 
Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh chấn động lớn, gây căng thẳng quan hệ ngoại giao Đức-Slovakia-Việt Nam – Trịnh Xuân Thanh bị đưa về nước từ Slovakia bằng chuyên cơ chở ông Tô Lâm? Ông Peter Pellegrini Th…

Việt Nam có thể đã lợi dụng lòng hiếu khách của Slovakia để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Việt Nam có thể đã lợi dụng lòng hiếu khách của Slovakia để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

2018-04-30

Trịnh Xuân Thanh (giữa) bị dẫn ra tòa ở Hà Nội hôm 22/1/2018

Trịnh Xuân Thanh (giữa) bị dẫn ra tòa ở Hà Nội hôm 22/1/2018

 AFP
 

Bộ Nội vụ Slovakia hôm 29/4 bày tỏ quan ngại về chuyến thăm của Bộ trưởng Công an Việt Nam Tô Lâm sang nước này hồi năm ngoái vì nghi ngờ chuyến thăm có thể được sử dụng nhằm mục đích khác hơn là thăm hữu nghị. Hãng tin TARS của Slovakia loan tin này hôm 29/4.

Bộ Nội vụ Slovakia đưa ra phản ứng này sau khi có thông tin từ báo chí Đức cho biết chuyến thăm của tướng  Tô Lâm đến Slovakia có thể là liên quan đến việc mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, một cựu quan chức ngành dầu khí lúc đó đang xin tỵ nạn tại Đức.

Thông báo của bộ Nội vụ Slovakia viết: ‘chúng tôi cho rằng những việc như vậy đáng ra phải được giải quyết theo cách khác, theo tiêu chuẩn. Từ tháng 8 năm ngoái đến nay, Bộ Nội vụ Slovakia đã làm việc chặt chẽ với các đối tác Đức để làm rõ vấn đề này, cung cấp các hợp tác tối đa thông qua hỗ trợ tư pháp quốc tế.

Bộ Nội vụ Slovakia cho biết nếu các thông tin được phía Đức công bố được xác nhận thì phía Slovakia sẽ xem việc làm của chính phủ Việt Nam là không công bằng với đối tác của mình, và lạm dụng lòng hiếu khách của Slovakia vào mục đích khác thay vì tình hữu nghị, và điều này sẽ làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Theo Bộ Nội vụ Slovakia, vào tháng 7 năm ngoái, Bộ trưởng công An Tô Lâm đã đén Slovakia và gặp Bộ trưởng Nội vụ Robert Kalinak tại khách sạn Borik ở Bratislava. Mục đích của chuyến thăm được nói vào lúc dó là để tăng cường quan hệ giữa hai nước.

Trong khi đó báo chí Đức cho gần đây cho biết Slovakia có thể có liên quan đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Berlin, Đức vào tháng 7 năm ngoái. Theo báo chí Đức, một số kẻ tình nghi tham gia vụ bắt cóc đã có mặt trong chuyến thăm Bratislava cùng tướng Tô Lâm.

Chính phủ Đức đã cáo buộc Việt Nam vi phạm luật pháp quốc tế và Đức khi cho mật vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Chính phủ Việt Nam bác bỏ cáo buộc này và nói rằng Trịnh Xuân Thanh đã về nước đầu thú.

Vào đầu năm nay, Việt Nam đã mở hai phiên tòa xét xử Trịnh Xuân Thanh về các tội cố ý làm trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng và tham ô với hình phạt án tù chung thân.

Hôm 23/4, tòa Thượng thẩm Đức đã mở phiên tòa xét xử một nghi phạm tham gia vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Cáo trạng đọc trước tòa cũng cáo buộc tướng công an Đường Minh Hưng đã đến Berlin, trực tiếp chỉ huy vụ bắt cóc.

Nhân ngày 30/4: Chút hồi ức về một người tù cải tạo

Nhân ngày 30/4: Chút hồi ức về một người tù cải tạo

Ảnh: internet

XIN LƯU Ý – Đây chỉ là vài ký ức vụn vặt, góp thêm mấy nét chấm phá trong bức tranh xã hội những năm tháng sau 30.4.1975. Xin nhắc lại đề nghị không đưa ra những bình luận cực đoan nhắm vào chính quyền hay chế độ hiện hành.

***

CUỘC GẶP LẠI CỦA HAI “CỐ NHÂN”

Lúc ấy, trại CT Long Thành có 13 ngôi nhà dài, mỗi nhà chứa khoảng 300 người, được ngăn thành 4 hay 5 phòng, thông với nhau bằng một ô cửa trống. Nhiều nhân vật “sừng sõ” của chế độ VNCH được phân bố rải rác ở các nhà. Ngôi nhà 2 nơi tôi ở còn có tên A14, có những gương mặt quen thuộc như:

– Ông Trần Minh Tiết, từng làm Ủy viên Nội vụ (Bộ trưởng), Chủ tịch Tối Cao Pháp viện

– Ông Lưu Văn Tính, từng làm Tổng Giám Đốc Ngân sách và Ngoại viện, Bộ trưởng Tài chánh và cuối cùng là Cố vấn tài chánh tại Phủ Tổng thống.

– Ông Nguyễn Đình Xướng, Tỉnh trưởng Vĩnh Bình thời Ngô Đình Diệm, Tổng Thơ ký Bộ Nội vụ, Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống.

– KTS Ngô Viết Thụ, giải Khôi nguyên La Mã, người tái thiết Dinh Độc lập.

– và một người là nhân vật chính của câu chuyện này: ông Nguyễn Xuân Phong. Ông Phong sống ở Pháp khá lâu, tháng cuối cùng của chế độ VNCH, ông bay về Sài Gòn đảm nhận chức vụ Quốc vụ khanh đặc trách Ngoại giao của chính phủ Nguyễn Bá Cẩn và kẹt lại sau 30.4. Ông được biết đến nhiều với vai trò Trưởng phái đoàn hòa đàm Paris của chính phủ VNCH, tham gia đàm phán với phái đoàn miền Bắc do ông Xuân Thủy đứng đầu và phái đoàn CPCMLT CHMNVN của bà Nguyễn Thị Bình. (Cố vấn chỉ đạo phái đoàn Mỹ là Henry Kissinger, của phái đoàn VNCH là Tổng trưởng Ngoại giao Phạm Đăng Lâm, của phái đoàn VNDCCH là ông Lê Đức Thọ).

Tại nhà 2 trại Long Thành, ông Phong ở chung một đội với tôi. Nước da ông ngăm đen, mũi cao, tính rất hiền hòa, ít nói, anh em ai cũng quý mến ông. Sau khi chúng tôi ở với nhau được khoảng 2 tháng, buổi trưa nọ, bỗng nhiên có lệnh bất ngờ: tất cả vào nhà hết, không ai được đi ngoài sân. Lúc đó cứ giữa hai dãy nhà dài thì có một khoảng sân rộng độ 8 mét. Mọi người tuân thủ lệnh cấm, song hồi hộp lắm, tập trung trước các ô cửa sổ to nhìn ra sân, xem động tĩnh gì. Được khoảng 20 phút thì thấy đầu sân xuất hiện khoảng 5-6 người, một người thấp lùn, trán hơi hói cắm cúi đi trước, những người kia khép nép theo sau. Khi họ đi đến gần tầm mắt, chúng tôi chợt nhận ra người đi đầu là ông … Xuân Thủy, từng là trưởng phái đoàn miền Bắc đàm phán với phía VNCH mà đại diện là ông Nguyễn Xuân Phong. Khi những người này vừa đi khuất tầm mắt, tôi đưa mắt liếc sang ông Phong đang đứng cạnh mình. Ông ở trần, chống hai tay lên hông, gương mặt bình thản đến lạnh lùng. Vậy mà cái hình ảnh lạnh lùng ấy cứ ám ảnh tôi một thời gian dài mỗi khi nhớ đến ông Nguyễn Xuân Phong.

Mới đây, đọc tin trên mạng, được biết ông Phong đã qua đời ngày 29.7.2017 tại bang Florida, Hoa Kỳ. Theo người viết bản tin về sự ra đi của ông thì “sau khi định cư tại Hoa Kỳ ông sống một cuộc đời ẩn dật. Ông từ chối tất cả những cuộc phỏng vấn và đề nghị viết hồi ký. Ông sống rất đạm bạc và khó khăn lúc cuối đời”. Những lời mô tả này rất phù hợp với nhân cách Nguyễn Xuân Phong trong thời gian là bạn tù của chúng tôi tại trại CT Long Thành.

TẤM LÒNG NGƯỜI DÂN MIỀN NAM ĐỐI VỚI KẺ NGÃ NGỰA

Tại trại Long Thành, trong năm đầu tiên, chúng tôi chưa là … tù, còn được gọi là “học viên”, gọi các cán bộ trại là “anh”, chứ chưa là “cán bộ”. Mãi đến một năm sau (1976), hồ sơ của chúng tôi mới được thanh lọc kỹ, ai “không có tội” hay “tội nhẹ” thì được về, đa số còn ở lại được long trọng công bố một quyết định “tập trung cải tạo ba năm”. Trong quyết định có nêu rõ một điều khoản: ai học tập tốt, lập công chuộc tội thì được tha về trước ba năm, ai còn ngoan cố, không chịu cải tạo thì sẽ phải thụ hình thêm nữa. Trong ba năm đó, lập công thì chả biết công ở đâu để lập, còn ngoan cố, chống đối thì bố bảo cũng không dám, chúng tôi cứ nhũn như con chi chi, bảo gì làm nấy. Vậy mà sau khi hết hạn ba năm (1978), không khí vẫn im lặng như tờ, cũng không có một quyết định nào khác về số phận của chúng tôi. Một vài lần họp trại, chúng tôi có rón rén nhắc lại tinh thần của quyết định “tập trung cải tạo ba năm” thì được giải thích đại khái ngoài xã hội còn rất phức tạp, nhân dân còn rất căm thù chúng tôi, vì thế về lúc bấy giờ sẽ rất nguy hiểm cho chúng tôi. Chúng tôi tin rằng đó là một lời giải thích có tình, có lý, vì lúc ấy, chúng tôi còn ở trong trại giam, được bảo vệ nghiêm ngặt như thế, mà “nhân dân căm thù” cũng đã ném tới tấp nào đậu hũ, nào hủ tiếu, nào thuốc lá, vào người chúng tôi rồi.

* Trong bốn năm còn ở trại CT Long Thành, một trong những việc mà chúng tôi vẫn làm thường xuyên là được chở xuống thị trấn Biên Hòa, khiêng vác gạch xây dựng, xi măng mang về làm hàng rào kiên cố bao quanh trại. Công việc cực nhọc đối với lũ “chân yếu tay mềm” chúng tôi, song đây là những dịp mà chúng tôi vẫn mong muốn xảy ra thường xuyên. Vì cứ mỗi lần như thế, bạn tù bu lại nhờ mua đậu hũ chiên ở chợ Biên Hòa. Món này xắt ra từng miếng nhỏ rồi kho lên là thức ăn tuyệt vời nhất của người tù.
Bữa nọ, chúng tôi chất gạch cát, xi măng lên xe xong, như mọi lần, xin với cán bộ áp giải (một súng ngắn, một súng dài) cho vào chợ Biên Hòa mua đậu hũ. Ghé lại một bà cụ bán hàng, mua xong, chúng tôi trả tiền rồi bước đi. Được chừng mươi thước, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu to của bà cụ bán hàng:

– Mấy cậu ơi, đứng lại! đứng lại!

Chúng tôi giật mình, quay lại, tưởng như mình vừa trả thiếu tiền cho bà cụ. Khi vừa bắt kịp chúng tôi, bà cụ nói trong hơi thở dốc:

– Tui cho mấy cậu tàu hũ về ăn, tui không lấy tiền đâu.

Vừa nói, bà cụ vừa nhét những đồng tiền vo tròn vào tay chúng tôi. Không tiện dẳng co trước mặt súng ngắn, súng dài, chúng tôi cảm ơn bà cụ rồi quay gót. Trên đường về chúng tôi đoán rằng sau khi bán đậu hũ cho chúng tôi xong, bà cụ hỏi các bạn hàng chung quanh và lúc đó mới biết chúng tôi là tù cải tạo.

* Một lần khác, sau khi bốc vác gạch cát xong, trên đường về lại trại Long Thành, mấy anh em thèm hủ tiếu quá, xin xe cho ghé lại một quán hủ tiếu ven đường. Khi chúng tôi ăn gần xong, anh chủ quán đến gần, nói nhỏ:

– Các anh ăn xong rồi đi đi, có người trả tiền cho các anh rồi.

Cũng như với bà cụ bán đậu hũ, chúng tôi không tiện dang ca với anh chủ quán, chỉ biết kín đáo nhìn anh bằng cặp mắt hàm ơn rồi trở ra xe. Cho đến sau này, bữa hủ tiếu ngày hôm đó, anh chủ quán không lấy tiền hay có một “mạnh thường quân” nào thương xót chúng tôi mà bỏ tiền ra thanh toán, chẳng ai trong chúng tôi biết cả.

* Theo “tiêu chuẩn” lúc bấy giờ, những người có chức vụ và cấp bậc như chúng tôi đều phải ra Bắc. Trong gần 3.000 người ở trại Long Thành, ngoài một số không nhiều được trở về nhà sau cuộc thanh lọc hồ sơ, số đông còn lại được đưa ra Bắc trong hai đợt, mà chúng tôi gọi là “bao bố 1” và “bao bố 2” (sẽ có dịp giải thích mấy từ này sau). Số còn lại chờ đi “bao bố 3” chỉ còn chưa đầy 150 người. May sao, năm 1978, Bộ Nội Vụ có nhu cầu mở một trại mới giữa rừng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chúng tôi dù là tù, cũng là tù “chén kiểu”, ít có nguy cơ bỏ trốn, nên một số người được đưa lên Xuyên Mộc lập trại mới. Trại lập xong, giữa năm 1979, gần 150 người còn lại ở Long Thành được đưa lên trại mới Xuyên Mộc. Thế là thoát được chuyến đi Bắc cuối cùng.

Hôm chuyển trại, chúng tôi được đưa đi bằng phương tiện là loại xe chở … trâu bò ở Hậu Giang. Đó là mô tả sự thật thôi, chứ thời đó, phương tiện rất khó tìm, việc chở tù bằng loại xe nào cũng chẳng có gì đáng kinh động cả. Thời đó, xe chở khách tư nhân thường chạy bằng than, đeo lủng lẳng một bình than cao quá đầu người ở đuôi xe, xe chạy, than bắn tung tóe trên đường, người ngồi sau xe như ngồi trong lò lửa. Vì thế chở tù bằng xe nào là chuyện không có gì quan trọng, điều đáng nói là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi biết cái còng số 8 mùi gì. Di chuyển xa, mà mỗi xe chở tù chỉ có một cán bộ áp giải ngồi ở thùng xe phía trước, vì thế để tránh trường hợp tù nhảy trốn trên đường di chuyển, chúng tôi được chia sẻ với nhau cứ hai người chung một còng số 8. Một vài cụ lớn tuổi như cụ Nguyễn Bá Lương, nguyên Chủ tịch Hạ viện, cụ Nguyễn Văn Tho, nguyên Trưởng khối Dân tộc Thượng viện … được miễn còng tay, nhưng phải ra ngồi nơi áp sát với cabin trước (dành cho tài xế, phụ xế và cán bộ áp giải). Hài hước nhất thuộc về trường hợp một người bạn đồng môn của tôi là anh Huỳnh Viết V. (hiện sống ở Mỹ). Anh V. sót lại cuối cùng, được hưởng một mình một còng số 8, và để tránh bất an, người ta treo cánh tay đeo còng của anh lên tấm bửng đóng lại phía sau xe. Và cánh tay này của V. trở thành lời giải thích chính xác nhất cho công chúng hai bên đường khi đoàn xe chúng tôi chạy qua họ và nhiều người nhìn theo mà thắc mắc chưa biết xe chở thứ gì. Có đoạn đường, chúng tôi nghe họ nói với nhau: xe chở tù chị ơi, anh ơi …

Thời đó, con đường đi đến vùng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu bụi đỏ mù mịt, chưa đến nơi mà tóc tai, quần áo chúng tôi nhuộm đỏ cả. Xe đang chạy ngon trớn, bỗng anh phụ xế ló đầu nhìn vào thùng xe qua một ô nhỏ giữa thùng xe với cabin, rồi nói to:

– Các anh xê ra cho tôi xem can xăng có đó không

Tụi tôi nhìn quanh chẳng thấy can xăng đâu, gân cổ cãi lại với anh, song anh vẫn một mực:

– Có can xăng đây mà

Vừa xong câu nói, anh quăng nhanh xuống sàn xe ba gói thuốc hút Đà Lạt, Hoa Mai. Đến lúc đó, chúng tôi mới bật ngửa: anh phụ xe muốn cho chúng tôi thuốc hút nhưng sợ vi phạm lệnh cấm tiếp xúc với tù, nên mới phải bày ra trò tìm kiếm cái can xăng!
Đêm hôm đó, lần đầu tiên sống giữa rừng Xuyên Mộc, chim kêu vượn hú, nhiều anh tù thấy ấm lòng với những điếu thuốc mà một người lao động nghèo như anh phụ xe ấy đã chia sẻ cho mình.

* NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI TÙ ĐƯỢC TRỞ VỀ ĐÊM 30 TẾT

Anh Phạm Văn Đ. là tù cảnh sát. Anh hơn tôi nhiều tuổi, tính tình hiền hòa nên dù mới gặp nhau ở Xuyên Mộc, chúng tôi đã sớm trở thành những người bạn thân. Trong thời gian anh ở tù, cô con gái, cháu Phạm Tuyết Tr., mới 17-18 tuổi, bị đau nặng. Vào những lần gia đình lên thăm nuôi năm 1981, anh cứ hỏi con đâu, nhà trả lời là cháu đau không lên thăm bố được. Cuối năm ấy, anh được thả về đúng đêm giao thừa. Còn niềm vui nào hơn sự đoàn tụ vào giữa đêm giao thừa sau nhiều năm xa cách? Tối hôm ấy, anh hí hửng xách túi bước vào nhà, mọi người bu lại. Nhìn quanh không thấy Tr. đâu, anh Đ. gặng hỏi, vợ anh òa khóc rồi chỉ lên bàn thờ, con gái anh đã ngồi ở đó tự bao giờ! Từ thế giới cực lạc bước vào thế giới bi thương chỉ trong một bước chân, anh Đ. ngã khuỵu xuống giữa nhà.

Nhiều năm qua, cả gia đình anh Đ. đã sống ở bang California, Mỹ (diện HO), ngôi mộ cháu Tuyết Tr. ở một khu đất chùa Bình Hưng Hòa không người thân chăm sóc. Và cứ thế, hàng năm, vào mỗi sáng mùng một tết, thương bạn, tôi lại lọ mọ lên ngôi chùa này, cắm vào mộ cháu một bó hoa, thắp cho cháu mấy nén hương. Nhìn lên mộ bia và hình ảnh của cháu, thấy thương lắm, cháu mất năm 1981, lúc mới 18 tuổi, nếu còn sống, bây giờ cháu cũng đã 55 tuổi rồi!

* ĐÊM SAY CUỐI CÙNG Ở TRẠI XUYÊN MỘC

Trại Xuyên Mộc những năm 1978 – 198.., có nhiều thành phần tù lắm: sĩ quan cấp úy từ các trại CT Vườn Đào (Mỹ Tho), Phước Long chuyển tới, văn nghệ sĩ vụ “Hồ Con Rùa” 1976 (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Đằng Giao …), tù hình sự, tù “hiện hành” (chống phá chính quyền mới sau 30.4.1975) và viên chức dân sự chúng tôi, 145 người từ trại Long Thành chuyển đến.

Cho đến Tết năm 1982, trong số 145 người từ Long Thành lên, đã có 140 người được trả tự do, chỉ còn sót lại 5 người, trong đó có tôi. Nói thế để biết rằng, trong tù, nếu thiếu ý chí, sẽ khó trụ vững lắm. Nhưng dù có vững cách nào, chúng tôi cũng phải “ngã” trong đêm giao thừa, là thời khắc thiêng liêng của mọi gia đình. Tết năm Nhâm Tuất 1982 ấy, chúng tôi nhờ mấy cán bộ mua giúp được nhiều rượu đế. Họ giúp chúng tôi việc này hoặc vì thông cảm cho cảnh nhớ nhà dịp tết của chúng tôi, hoặc vì chút lợi lộc, hoặc cả hai thứ. Gần đến phút giao niên, ai cũng buồn hết, có người khóc rưng rức. Có người ôm cây guitar đàn và hát nho nhỏ một mình. Song phần lớn tìm đến rượu. Họ lặng lẽ đến những can rượu để ở các góc nhà, rót một chén rồi mang về chỗ nằm, nốc cạn, chẳng ai mời ai cả. Rượu ngấm dần, họ cũng lịm dần, song trước đó, còn kịp tỉnh để kê miệng lên một chiếc thau nhỏ đặt trên giường. Họ vẫn còn biết sợ chất nôn ói vương vải trên chỗ nằm và từ giường trên chảy xuống giường dưới. Hình ảnh đó nhớ lại thật bi hài, cứ mỗi người gác mỏ lên một cái thau như thế trong suốt đêm trừ tịch.

Đêm đó có một gã không quen rượu, nhưng cũng nốc một chén đầy cho đủ chếnh choáng hơi men, song vẫn còn tỉnh để lấy tờ giấy trắng trên chỗ nằm, nguệch ngoạc mấy dòng thơ … rác:

SAY PHÚT GIAO THỪA

Uống đi cho rượu cháy lòng,
Nửa đêm trừ tịch pháo hồng nổ ran,
Chập chờn giấc mộng trùng hoan,
Ngón tay rỏ máu, điệu đàn chơi vơi.
Ngoài kia thiên hạ đang vui,
Còn đây nỗi nhớ muôn đời riêng ta.

***
Uống đi những kẻ xa nhà,
Cho quên một thuở niên hoa ngậm ngùi.
Uống đi, nằm đó say vùi,
Men cay cháy bỏng bờ môi lạnh lùng.
Uống đi, nhạc đã vang lừng,
Sương giăng bãi vắng, núi rừng xôn xao,
Uống cho máu nóng sôi trào,
Rồi đem tâm sự gửi vào hư vô.
Uống cho lệ chảy thành thơ,
Con thuyền phiêu bạt bến bờ là đâu?
Uống cho tan tác cơn sầu,
Đêm nay thức trắng ngẩng đầu …cười vang
(Rừng Xuyên Mộc, giao thừa Xuân Nhâm Tuất 1982)

Cảm ơn các bạn, xin hẹn 30.4 năm sau nhé