Bà Phan Thị Hồng Xuân, nay có biệt hiệu “Nàng Lu,” muốn mỗi căn nhà tại Sài Gòn phải đặt một cái lu hứng nước mưa. Không nhắm có nước dùng, mà để ngăn cảnh mỗi mùa mưa đường phố lại ngập lụt.
Bà Hồng Xuân “đề xuất” ý kiến này trong một phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân. Bà kể rằng ở nông thôn trước sân mỗi nhà luôn có cái lu nước rất to để đựng nước. Cách nói năng của bà rõ ràng là giọng điệu một con người bụng đầy chữ nghĩa. Thay vì nói “cái lu dùng được nhiều việc, có thể chứa nước mưa” bà lại nói “cái lu có nhiều tính năng, trong đó có tính năng lưu trữ nước mưa.”
Lối nói văn hoa xứng đáng với các danh hiệu của bà: phó giáo sư, tiến sĩ, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Dân Tộc Học-Nhân Học Sài Gòn, và chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam-Đông Nam Á!
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, một người dân có thể sẽ phải đi mua lu về để chống lụt nếu “đề xuất” của bà Xuân được chấp thuận, đã đặt tên bà là Nàng Lu viết tám câu thơ lục bát:
Mỗi người Việt Nam đều là một thi sĩ. Trước chuyện Nàng Lu Chống Lụt bao nhiêu dân Thành Hồ đã xuất khẩu thành chương. Cho nên nhà thơ Nguyễn Tiến Tường tả những hậu quả của kế hoạch Dùng Lu Chống Lụt trong đời sống nhân dân như vầy:
“Chị Tiến” trong câu cuối nhắc đến tên bà Nguyễn Thị Kim Tiến, bộ trưởng Y Tế, người sẽ phải lo ngăn ngừa bệnh sốt rét nếu các con muỗi đến đẻ trứng trong những cái lu chống lụt của Chị Xuân. Trứng muỗi nở ra con loăng quăng, còn gọi là bọ gậy, Chị Tiến sẽ phải lo đi bắt những con bọ gậy của Nàng Lu.
Nhà thơ Nguyễn Tiến Tường quá lo xa. Theo đường lối của đảng thì bà Kim Tiến không cần phải đi săn bọ gậy. Nhân dân ta đã chiến thắng “Ba Đế Quốc Sừng Sỏ” như lời đồng chí Lê Duẩn nói, thì sá chi lũ muỗi!
Đảng Cộng Sản có tài làm nghị quyết. Gặp vấn đề nào khó khăn chỉ cần họp Trung Ương ra một cái nghị quyết là xong. Một hồi sau, thấy không có gì chạy, không ai cựa quậy, Đảng Ta chỉ cần làm một nghị quyết khác! Đó là con đường vinh quang tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội mà ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng quyết bảo vệ đến cùng!
Bà Hồng Xuân là người đã “đột xuất” sáng kiến Dùng Lu Chống Lụt thì bà cũng đủ thông minh để yêu cầu Hội Đồng Nhân Dân ra một cái nghị quyết “cấm muỗi không được sanh đẻ!” Nếu bà Kim Tiến muốn nhúng tay vào để phục vụ nhân dân thì bà có thể làm một kế hoạch “triệt sản” cho những con muỗi đực muỗi cái, không cho chúng sinh đẻ được nữa!
Nhưng nhân dân Sài Gòn không thấu triệt sáng kiến của bà Hồng Xuân, còn lời qua tiếng lại nhiều quá, cho nên bà đại biểu làm lẫy, dỗi, bỏ không chơi với họ nữa. Bà tuyên bố từ chức cho họ biết tay!
Sự thực đằng sau vụ bà Hồng Xuân từ chức còn nhiều “sự cố phức tạp.” Bởi vì bà Hồng Xuân còn là trưởng Khoa Đô Thị Học của Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ở Sài Gòn. Đứng đầu môn Đô Thị Học, bà đang dạy dỗ sinh viên các phương pháp xử lý các vấn đề đô thị. Mai mốt các sinh viên này sẽ giữ trọng trách làm sao cho dân sống trong các thành phố được an toàn. Cho nên ý kiến của bà chắc phải “có cơ sở khoa học,” cần được triển khai nghiêm túc.
Vì vậy Đảng Ủy Thành Hồ phải phải họp bất thường nghiên cứu thấu triệt kế hoạch của Nàng Lu. Các cán bộ lão thành cũng góp kiến nghị, lên án “Kế Hoạch Nàng Lu Chống Lụt” là “phí phạm tài sản xã hội chủ nghĩa!”
Tại sao lại phí phạm? Bởi vì, khi lên kế hoạch này thì những cái lu của chị Hồng Xuân sẽ chiếm mặt bằng cư ngụ của người dân đang chen chúc trong các diện tích nhỏ bé! Người ta dẫn chứng bằng mấy câu thơ của Nguyễn Tiến Tường:
Hơn nữa, các cán bộ lão thành còn thấy Kế Hoạch Nàng Lu phải dùng đến hàng triệu ngày lao động của cán bộ và nhân dân. Như thơ của Nguyễn Tiến Tường cho thấy:
Nhưng cuối cùng Nàng Lu phải từ chức vì một lý do khác hẳn. Thường Vụ Thành Hồ khám phá ra rằng kế hoạch Nàng Lu Chống Lụt đi ngược lại một chính sách lớn của đảng từ nhiều năm qua! Tức là đi ngược với con đường Tiến Lên Chủ nghĩa Xã hội! Lý do không được công bố vì không thể tiết lộ bí mật của đảng và an ninh quốc gia.
Nàng Lu làm đại biểu nhân dân mà nàng không biết rằng Đảng Ủy đã có chính sách biến đường phố biến thành con rạch cho dân chúng bơi thuyền, vì mục đích muốn giảm bớt nạn kẹt xe!
Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, đã ngăn ngừa nạn kẹt xe bằng cách mỗi ngày chỉ cho các xe có bảng số chẵn hay lẻ được chạy, ngày hôm sau dành cho xe có bảng số khác; nhờ vậy mà nạn kẹt xe được giảm bớt một nửa!
Đảng Ủy Thành Hồ thành vượt xa các đồng chí anh em Bắc Kinh: Trong những ngày mưa, xe cộ ở Sài Gòn hoàn toàn chết đứng. Nạn kẹt xe được giải quyết trăm phần trăm! Đó mới thiệt là đỉnh cao trí tuệ!
CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ CÔ GÁI TRÀ VINH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT
(Bài viết Thuyền Nhân của fb Chiêu Anh Nguyễn)
Cô ấy là một thuyền nhân tí hon. 4 tuổi theo gia đình lênh đênh trên biển đi tìm tự do.
Qua bốn trại tị nạn , lao đao khốn khó nhưng những năm tháng ấy cũng đã kịp hình thành ý thức về tự do và quan trọng hơn, suốt 8 năm tị nạn trên đất Thái, cô đã tìm ra lẽ sống và niềm tin của cuộc đời. Cô xin được học giáo lý để được rửa tội theo chân Chúa.
12 tuổi, cái độ tuổi ham ăn ham chơi của đa số bạn đồng lứa thì cô bắt đầu chạm cú shock đầu tiên của đời mình. 12 tuổi cô cùng gia đình bị trả ngược về Việt Nam. Do ngày vượt biển đến trại tị nạn đã quá ngày tiếp nhận thuyền nhân, cả nhà cô bị trả về với tâm thế bị cưỡng bức, không một mảnh giấy cầm tay.
Cô về Trà Vinh nhập học lớp 4 và hành trình học tập của cô cũng bắt đầu lao đao theo những định kiến của chế độ đặt ra cho những “kẻ phản quốc”.
“Kẻ phản quốc” cũng là câu nói cửa miệng của thầy cô trong trường khi nói tới tên Mẫn. Thầy giáo chủ nhiệm cấp 2 nói với cô “chỉ có những đứa phản quốc mới bỏ đi vượt biên thôi”.
Sau khoá sơ cấp Dược (cô học cho Cha Mẹ an lòng) cô quyết định thôi học vì cô biết có tiếp tục hành trình trường lớp cô cũng sẽ không thể vươn lên được trong cái xã hội nhỏ hẹp kia với những định kiến lệch lạc thiếu tình người đến độ bệnh hoạn.
Vốn dĩ gia đình xuất thân từ nền Cộng Hoà nên việc sống và hoà nhập với nhận thức của xã hội và những người được mua chuộc để theo dõi cô cùng gia đình là một điều không thể.
Thị xã Trà Vinh nhỏ hẹp không thoả mãn được ý thức về tự do cũng như mong muốn về quyền được làm người đúng nghĩa mà cô đã sớm được gieo trồng và phát triển. Hằng đêm, ngoài việc đọc kinh cầu nguyện thì việc dò đài Radio trên sóng quốc tế cũng là một niềm vui sống và hi vọng của cô gái 24 tuổi đời. Cô biết được phía bên ngoài kia, thế giới của những người Việt lưu vong, lòng yêu nước vẫn luôn âm ĩ, cô biết nhiều hơn và ý thức nhiều hơn về lòng yêu nước của bản thân.
25 tuổi cô quyết định rời bỏ Trà Vinh lên Sài Gòn tìm những người cùng chí hướng, cùng suy nghĩ và cùng một nhận thức về yêu nước về tự do. 25 tuổi cô phải thay đổi chỗ ở liên tục vì sự đeo bám của công an, an ninh và sự quấy nhiễu của bọn họ, áp lực lên gia đình cô ở quê nhà. Những hình ảnh của cô trong những cuộc cuộc biểu tình, biểu ngữ về Hoàng Sa – Trường Sa và tinh thần dân tộc của cô một ngày một dày thêm trong tủ hồ sơ an ninh về những kẻ phản động.
Cô bị bắt tại sân bay cùng Mẹ và anh trai trong một chuyến bay về lại Việt Nam sau những ngày giao lưu gặp gỡ các bạn bè Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới.
Sau hai đợt Sơ thẩm – Phúc Thẩm cô bị kêu án 8 năm do tội danh phản quốc và lôi kéo đồng bọn (bao gồm Mẹ và anh trai).
Mẹ cô bị kêu án 3 năm, anh trai sau gần hai năm tạm giam được thả về và hưởng án treo. Suốt 8 năm trong lao tù, không ít lần cộng sản yêu cầu thoả thuận cùng cô để cô được giảm án nhưng cô đều từ chối vì không bao giờ bắt tay hay thoả thuận gì với cộng sản.
8 năm lừng lững và ung dung bước ra khỏi trại giam, cô về với tâm thế ngẩng cao đầu, được hỏi về những năm tháng tù đày cô bé cười rất tưoi và trả lời tôi. “Suốt tám năm em được Đức Mẹ che chở, em hay nằm mơ thấy Đức Mẹ đưa tay ra cho em nắm, và suốt những tháng năm đó em thấy mình đủ sức chị à. Đừng ai hỏi em có hối hận không vì em trả lời một lần duy nhất là em không bao giờ hối hận đâu”.
8 năm lưu vong trên đất Thái trải qua 4 trại tị nạn và 8 năm tù đày trên đất Việt Nam cũng trải qua 4 trại tù khủng khiếp nhất. 16 năm tuổi đời của cô đã trôi qua như thế.
Có ai cảm thấy mình quá nhỏ bé trước cô ấy như tôi không?
Thêm một người Thượng Tin Lành Dega bị kết án “phá hoại chính sách đoàn kết”
Toà án cộng sản tỉnh Gia Lai đã kết tội anh Rah Lan Hip về tội danh nguỵ tạo “phá hoạt chính sách đoàn kết” theo Điều 116 của Bộ luật hình sự.
Trong phiên toà lưu động ngày 9/8, anh Rah Lan Hip, một công dân 38 tuổi ở xã Ia Băng, huyện Chư Prông, bị kết án 7 năm tù và 03 năm quản chế, vì bị cho là liên kết với nhiều người khác ở Hoa Kỳ và ở cao nguyên Trung Phần, để hoạt động cổ suý cho tổ chức “Tin Lành Dega”, một tổ chức của người Thượng với mục tiêu thành lập “Nhà nước Dega,” như nhà cầm quyền Việt Nam cáo buộc.
Theo trang Thông tin điện tử của Toà án cộng sản tỉnh Gia Lai, Rah Lan Hip đã sử dụng Facebook để liên kết với những người Thượng khác trong thời gian từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 03 năm 2019, và nhận khoản hỗ trợ 18 triệu đồng Việt Nam cho các hoạt động của nhóm.
Theo nhiều hoạt động nhân quyền, nhà cầm quyền Việt Nam không muốn người Thượng liên kết để hoạt động truyền đạo Tin Lành, và thường sử dụng cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết” để kết tội nhiều mục sư và tín đồ Tin Lành. Theo thống kê của tổ chức Người Bảo vệ Nhân quyên (Defend the Defenders- DTD), hiện Việt Nam đang cầm tù ít nhất 55 người từ nhiều nhóm dân tộc thiểu số như Hmong, Gia rai, Ede… với mức án từ 4 năm đến 20 năm tù chỉ vì những hoạt động cổ suý tự do tôn giáo.
Tất cả tù nhân lương tâm từ sắc dân thiểu số bị giam giữ ở nhiều nhà tù rất xa gia đình của họ trong điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Vì nghèo khó, gia đình họ không thể đi thăm và cung cấp thêm thực phẩm, thuốc men cho họ, và họ thường bị lãng quên trong lao tù. Nhiều người trong số họ được tổ chức Ân xá Quốc tế coi là tù nhân lương tâm.
Chế độ cộng sản toàn trị ở Việt Nam thực hiện chính sách đàn áp đối với tất cả các nhánh tôn giáo không chịu sự kiểm soát của nhà cầm quyền.
Thêm một người Thượng Tin Lành Dega bị kết án “phá hoại chính sách đoàn kết” Thêm một người Thượng Tin Lành Dega bị kết án “phá hoại chính sách đoàn kết” Ảnh: gialai.toaan.gov.vn
Tin từ Gia Lai, ngày 17/8/2019: Toà án cộng sản tỉnh Gia Lai đã kết tội anh Rah Lan Hip về tội danh nguỵ tạo “phá hoạt chính sách đoàn kết” theo Điều 116 của Bộ luật hình sự.
Trong phiên toà lưu động ngày 9/8, anh Rah Lan Hip, một công dân 38 tuổi ở xã Ia Băng, huyện Chư Prông, bị kết án 7 năm tù và 03 năm quản chế, vì bị cho là liên kết với nhiều người khác ở Hoa Kỳ và ở cao nguyên Trung Phần, để hoạt động cổ suý cho tổ chức “Tin Lành Dega”, một tổ chức của người Thượng với mục tiêu thành lập “Nhà nước Dega,” như nhà cầm quyền Việt Nam cáo buộc.
Theo trang Thông tin điện tử của Toà án cộng sản tỉnh Gia Lai, Rah Lan Hip đã sử dụng Facebook để liên kết với những người Thượng khác trong thời gian từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 03 năm 2019, và nhận khoản hỗ trợ 18 triệu đồng Việt Nam cho các hoạt động của nhóm.
Theo nhiều hoạt động nhân quyền, nhà cầm quyền Việt Nam không muốn người Thượng liên kết để hoạt động truyền đạo Tin Lành, và thường sử dụng cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết” để kết tội nhiều mục sư và tín đồ Tin Lành. Theo thống kê của tổ chức Người Bảo vệ Nhân quyên (Defend the Defenders- DTD), hiện Việt Nam đang cầm tù ít nhất 55 người từ nhiều nhóm dân tộc thiểu số như Hmong, Gia rai, Ede… với mức án từ 4 năm đến 20 năm tù chỉ vì những hoạt động cổ suý tự do tôn giáo.
Tất cả tù nhân lương tâm từ sắc dân thiểu số bị giam giữ ở nhiều nhà tù rất xa gia đình của họ trong điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Vì nghèo khó, gia đình họ không thể đi thăm và cung cấp thêm thực phẩm, thuốc men cho họ, và họ thường bị lãng quên trong lao tù. Nhiều người trong số họ được tổ chức Ân xá Quốc tế coi là tù nhân lương tâm.
Chế độ cộng sản toàn trị ở Việt Nam thực hiện chính sách đàn áp đối với tất cả các nhánh tôn giáo không chịu sự kiểm soát của nhà cầm quyền.
Thật ngạc nhiên khi “Bà ngoại xì tin” Trang Lê viết cũng hay như chửi ở bài này:
Người ta có thể ra rả chửi Mỹ, có thể trong quá khứ đã từng tham gia “đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào”. Nhưng từ trong sâu thẳm, họ vẫn luôn thèm thuồng “giấc mơ Mỹ”.
Họ vẫn luôn bằng mọi cách vơ vét tiền bạc cho con cái sang Mỹ du học. Tìm cách mua một căn nhà ở Mỹ, tìm kiếm cho bản thân một tấm thẻ xanh để sang Mỹ, như thể một “ tấm vé vớt” lúc về già.
Bởi vì sau những lời nói dối không ngượng mồm, thì tự trong thâm tâm, họ vẫn biết: CHỈ CÓ MỸ MỚI CHO HỌ CUỘC SỐNG THẬT SỰ BÌNH AN, NƠI MÀ THIÊN ĐƯỜNG HỌ ĐANG CA NGỢI, DÙ CÓ TIỀN MUÔN BẠC VẠN CŨNG KHÔNG THỂ MUA ĐƯỢC.
Phải. Dù có triệu triệu đô trong tài khoản, thì đến lúc trở bệnh ngặt nghèo, họ vẫn phải khăn gói quả mướp sang nước ngoài điều trị. Bởi vì ngay cả những bệnh viện quốc tế sang trọng bậc nhất với những gói chi phí đắt đỏ ở VN cũng không thể sánh lại trình độ và sự chuyên nghiệp của hệ thống y khoa nơi xứ tư bản giãy chết. Và chỉ khi đến đó, họ mới thật sự có được niềm tin để yên tâm chữa trị.
Dù gia đình họ có thuộc dạng dư ăn dư mặc, con em họ được gởi ở những trường học thuộc chuẩn QUỐC TẾ với mức học phí siêu cấp, thì họ vẫn dư biết rằng , hệ thống giáo dục tại chính các nước tư bản giãy chết mới thực sự tốt.
Dù luôn mồm dóc láo rằng VN ta là quốc gia bình an, nhưng họ vẫn mong muốn tuổi già của họ được thảnh thơi ở một nơi nào đó trên xứ sở tư bản giãy chết. Nơi mà con người , thậm chí ngay cả con vật, cũng luôn luôn được bảo vệ. Nơi mà mỗi buổi chiều tà, họ có thể thong dong đi dạo, ngắm mặt trời dần dần tắt nắng với niềm ung dung, chứ không phải thon thót sợ hãi bị một thằng xì ke xì cọt nào đó cầm ống chích vấy máu dí sau lưng để trấn lột tiền.
Những người cộng sản đều ngầm hiểu rằng: đất nước mà họ vấy máu tươi của chính đồng bào mình nhằm giành giật quyền cai trị, nó đã rệu rã và mục ruỗng lắm rồi.
Như một bầy kềnh kềnh tranh nhau ăn táp xác thối của con mồi, sau khi đẫy bụng và không còn gì để rỉa rói được nữa, nó sẽ vứt lại bộ xương sau lưng và chắp cánh bay đi…
Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại Bởi AdminTD –
15/08/2019
Luật Khoa Võ Văn Quản
Hơn 70 năm sau Cách mạng tháng Tám (August Revolution), bản chất của một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại Việt Nam vẫn tiếp tục còn trong vòng tranh cãi giữa sử gia, học giả cũng như những nhà quan sát.
Một số những người phản đối chế độ cộng sản khẳng định việc Việt Minh thành công trong việc biến mình trở thành gương mặt chính thức cho giới cách mạng yêu nước tại Việt Nam chỉ là một tai nạn lịch sử (historical incident). Số khác, cho rằng Việt Minh đã “cướp cạn” thành tích của nhiều nhóm chí sĩ yêu nước, các nhà dân tộc chủ nghĩa khác trong hoạt động tiếp quản chính quyền sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh. Phần còn lại thừa nhận rằng sự yếu kém về năng lực, thiếu thốn đường lối và tính thống nhất của hầu hết các chính đảng còn lại tại Việt Nam thời điểm đó khiến cho nhiều nhà yêu nước, trí thức cũng như người dân Việt Nam không còn lựa chọn nào khác để vừa chống Nhật vừa chống Pháp. Tuy nhiên, họ cũng khẳng định Việt Minh “treo đầu dê bán thịt chó” khi che giấu thân phận và mục tiêu “cộng sản” của mình.
Ngược lại, các nhà sử gia cộng sản thì ca ngợi một cách khá ái kỷ tài năng lãnh đạo và sự ủng hộ nhất nhất một lòng của nhân dân Việt Nam dành cho Việt Minh và đảng Cộng sản.
Bài viết này không nhằm phê phán hay phủ nhận những thành công của Việt Minh trong việc chuẩn bị, vận động và lan tỏa danh tiếng của mình kể từ thời điểm Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, từ đó dẫn đến vai trò đầu tàu của họ trong Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quát và trọn vẹn về lịch sử thời kỳ này hơn, tác giả xin giới thiệu tới bạn đọc Luật Khoa năm sự thật lịch sử từ các góc nhìn khác biệt, góp nhặt từ những nguồn khả tín khác nhau mà báo chí và tài liệu cách mạng Việt Nam thường sẽ không nhắc đến trong các tư liệu của họ.
1. Vai trò của tình báo Mỹ (OSS) trong sự “thành danh” của Việt Minh
Khi nhắc đến Việt Minh, một hội nhóm chính trị hoạt động để che giấu danh nghĩa của Đông Dương Cộng sản Đảng trước sự thù địch của nhiều chí sĩ và người dân tại Việt Nam, có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến người hậu thuẫn đằng sau của tổ chức này là Liên Xô hùng mạnh.
Tuy nhiên, thực tế là sự hỗ trợ của Liên Xô trước Cách mạng tháng Tám dành cho Việt Minh cực kỳ hạn chế. Trong thập niên 1930 – 1940, hầu hết những học trò ưu tú và cánh tay đắc lực nhất được Moscow đào tạo bài bản như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu… đều đã bị chính quyền thực dân Pháp xử tử. Dây nối cảm tình chính trị giữa Stalin với nhóm Marxist còn thoi thóp hoạt động tại Việt Nam không được như trước.
Không chỉ vậy, vào năm 1943, vì yêu cầu hợp lực với các quốc gia tư bản trong chiến tranh Thế giới thứ Hai, Stalin quyết định giải tán và ngừng tài trợ vô thời hạn cho các tổ chức thuộc Quốc tế Cộng sản (Comintern – mà Đông Dương Cộng sản Đảng là một tổ chức thành viên) như một động thái thiện chí ngoại giao, triệt tiêu những phản đối trong nội bộ cộng sản thế giới về việc hợp tác với hai quốc gia tư bản mà họ dốc sức phản diện hóa trước đây. Một cái giá quá rẻ đối với Stalin để nhận được sự hỗ trợ tài chính và quân sự thiết yếu từ phía Đồng minh.
Điều này khiến cho việc hợp tác với lực lượng có thiên hướng cộng sản tại Việt Nam không khó nuốt với chính quyền của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho lắm. Ở chiều ngược lại, Việt Minh lại là số ít những tổ chức chính trị “thực chiến” tại Việt Nam tỏ ra rất thiện chí và muốn thân Mỹ. Việt Minh không chỉ giúp đỡ quân đội Đồng minh (mà chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương) bằng cách gây rối (chứ khó lòng chiến đấu) với quân Nhật, họ còn giúp giải cứu và hỗ trợ một số phi công Hoa Kỳ có máy bay bị bắn rơi khi giao chiến với quân Nhật trong khu vực Đông Dương.
Vào tháng Bảy năm 1945, một nhóm đặc vụ của Văn phòng Chiến lược vụ Hoa Kỳ (American Office of Strategic Services – OSS), tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (Central Intelligence Agency – CIA), nhảy dù xuống trụ sở đầu não của Việt Minh, tổ chức huấn luyện, đào tạo và trang bị cho lực lượng quân đội non trẻ vài chục người của tổ chức này. Thông tin còn ghi nhận rằng Hồ Chí Minh thời điểm đó đang ở giữa thời khắc sống chết do bệnh kiết lỵ và sốt rét hành hạ; và ông được cứu sống nhờ một sĩ quan y tế đi cùng OSS.
Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Hồ Chí Minh và lực lượng chính trị dưới trướng ông có thể được xem là một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ tại Đông Dương.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi các đơn vị quân đội và lực lượng chính trị của Việt Minh tiến về Hà Nội, hộ tống họ không phải là các đại diện của Liên Xô, mà là các sĩ quan và đặc vụ OSS. Điều này khiến cho Việt Minh trở thành lực lượng chính trị Việt Nam duy nhất được một thành viên Đồng minh trung lập (Hoa Kỳ, mà không phải là Pháp hay Trung Hoa Dân Quốc) hậu thuẫn; nhờ vậy, họ càng trở thành một lực lượng chính trị có sức hút và dễ dàng được chấp nhận.
Sau đó, đặc vụ Archimedes Patti (1913–1998) được Hồ Chí Minh mời tư vấn và hỗ trợ soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ông này vô cùng bất ngờ trước việc ông Hồ không hề có ý định nhắc đến xung đột xã hội hay đấu tranh giai cấp – những dấu hiệu cơ bản của một bản tuyên ngôn cộng sản. Nhờ đó, chính phủ lâm thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng có thêm nhiều cảm tình của Hoa Kỳ.
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp hình cùng các sĩ quan OSS. Ảnh: US Council on Foreign Relation.
Và trong thời điểm chuyển giao trật tự chính trị thế giới mà Hoa Kỳ tiếp quản vị trí thống lĩnh phương Tây của Vương Quốc Anh, sự ủng hộ của OSS càng khiến cho các tiếng nói phản đối Việt Minh trở nên rất ít giá trị và tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng được tăng cường.
2. Thành tích kém cỏi của đảng Cộng sản trước tháng Ba năm 1945
Dù tự nhận là lực lượng duy nhất có năng lực lãnh đạo từ năm 1930 cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, thật ra thành tích đấu tranh của Việt Minh và Đông Dương Cộng sản Đảng rất kém trong giai đoạn từ những năm 1941 đến tận tháng Ba năm 1945. Hiện tượng này có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố từ khách quan cho đến chủ quan.
Về mặt chủ quan, hầu hết hệ thống chính trị cơ sở của Đông Dương Cộng sản Đảng của Việt Minh gần như đã bị tận diệt từ hai cuộc đàn áp trước đó: lần thứ nhất là giai đoạn 1925 – 1931, sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại; và tiếp đó là giai đoạn 1934 – 1936, sau khi chính phủ có xu hướng xã hội chủ nghĩa Mặt trận Bình Dân (Popular Front) ở Pháp sụp đổ và các hoạt động đàn áp chính trị ở thuộc địa được cho phép tiếp tục thực hiện.
Về mặt khách quan, thành viên chính thức của Việt Minh tại thời điểm chiến tranh kết thúc chỉ khoảng trên dưới 5.000 người trên toàn Việt Nam, và hoạt động mạnh mẽ – có tổ chức nhất chỉ trong phạm vi vùng rừng núi phía Bắc, gần biên giới Trung Quốc. Điều này khiến cho ảnh hưởng thực tế của Việt Minh lên đời sống chính trị của đa số người dân Việt Nam gần như là kiến và voi nếu so với tương quan của nhiều chính đảng và tổ chức tôn giáo – chính trị có tiếng nói khác như Cao Đài, Hòa Hảo hay Quốc Dân Đảng.
Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận là kể từ khi Nhật đảo chính Pháp và nhu cầu hỗ trợ hậu cần của quân Nhật được tăng cường khiến nạn đói ở miền Bắc trở nên khốc liệt hơn, Việt Minh với các hoạt động kêu gọi đánh phá kho thóc, phản kháng vũ trang và xây dựng chính quyền tự quản địa phương dần trở thành một cái tên quen thuộc đối với nông thôn miền Bắc Việt Nam. Những khu vực mà nạn đói giết chết nhiều nông dân nhất như Nam Định, Thái Bình cũng là nơi mà sự ủng hộ dành cho Việt Minh lên cao nhất.
Việt Minh cũng nhận được điều kiện chính trị thuận lợi gián tiếp bởi sự thụ động của nhiều đảng phái chính trị ở miền Bắc trong việc thừa nhận và ứng phó với nạn đói lan rộng. Chính phủ Trần Trọng Kim thì không có động thái nào thiết thực trong việc xử lý công việc mà đáng lẽ họ phải làm.
3. Ám sát chính trị
Trong môi trường đấu tranh chống thực dân và ngoại xâm, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam ít muốn làm nhất là giết chóc lẫn nhau. Tuy nhiên, với tư tưởng đấu tranh xã hội, và kẻ thù lớn nhất của các lực lượng cộng sản là kẻ thù giai cấp, Việt Minh là lực lượng thường xuyên ra tay ám sát và giở thủ đoạn chính trị tàn ác nhất nhắm vào những người cùng dòng máu, màu da với mình.
Theo ghi nhận của nhiều tài liệu được dẫn dưới đây, lệnh ám sát mà Việt Minh ký không chỉ dành cho những đối thủ chính trị trực tiếp, nguy hiểm, mà còn dành cho bất kỳ ai có ảnh hưởng chính trị nhưng dám lên tiếng chống đối mình.
Một trong ví dụ dễ nhớ nhất là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi, anh trai cả trong gia đình của Ngô Đình Diệm, bị lực lượng Việt Minh ở Trung bộ ám sát ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Bản thân Ngô Đình Diệm, trong giai đoạn 1950 – 1953 cũng nằm trong danh sách ám sát sau khi ông này chính thức lên tiếng phản đối Pháp – chính quyền Bảo Đại và cả Việt Minh; từ đó đề xuất hình thành nên Lực lượng thứ Ba (The Third Force Movement) nhằm chống lại cả chủ nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa cộng sản của Việt Minh.
Trở lại năm 1945, trong công trình nghiên cứu “Urban Guerrilla Warfare” của giáo sư khoa học chính trị Anthony James Joes của Đại học Pennsylvania, ông khẳng định các nhà lãnh đạo của phong trào yêu nước và dân chủ dân tộc chủ nghĩa Việt Nam đã phải đối mặt với chiến thuật “chặt đầu rắn” rất hiệu quả do Trường Chinh vạch ra và giải thích trong tác phẩm có tên “Primer for Revolt”. Hiểu đơn giản là ám sát những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước phi cộng sản (hoặc phi Stalinist?).
Ảnh chụp Tạ Thu Thâu bị cảnh sát Pháp bắt sau một cuộc biểu tình ở Paris. Ông là lãnh đạo cách mạng Việt Nam có tầm ảnh hưởng cho đến khi bị Việt Minh ám sát. Ảnh: Nguồn lưu trữ Préfecture de police – Pháp
Chiến thuật này đặc biệt được áp dụng mạnh mẽ và cực kỳ thường xuyên tại miền Nam Việt Nam sau 1945, nơi mà Việt Minh không có được sự ủng hộ lớn như tại miền Bắc và phải tranh giành ảnh hưởng với các tổ chức chính trị khác. Nạn nhân của chiến thuật này có thể kể đến Huỳnh Phú Sổ của đạo Hòa Hảo, các lãnh đạo quan trọng của Mặt trận Thống nhất Quốc gia, các lãnh đạo của phe Marxist theo chủ nghĩa Trotsky như Tạ Thu Thâu, Hình Thái Thông, Trần Văn Thạch, Trần Đình Minh, .v.
Ngay cả các học giả cộng sản thế giới cũng phải ghi nhận và lên án hành vi của Việt Minh; họ thường nhắc các cuộc thảm sát – thanh trừng sau Cách mạng tháng Tám là “Stalinist Massacres” – Những cuộc thảm sát của phe thân Stalin.
***
Lịch sử đã diễn ra. Và Việt Minh được lịch sử lựa chọn là người chiến thắng của Cách mạng tháng Tám cũng như các cuộc đấu tranh nội bộ sau đó. Đó là điều không thể chối cãi. Tuy nhiên, hiểu rõ thêm về cách thức và nguồn gốc của những chiến thắng này là điều nên làm. Đến cuối cùng, lịch sử sẽ tái diễn.
Bạn đọc có thể đọc và kiểm chứng, tìm kiếm thêm thông tin tại các nguồn khả tín sau đây:
Người dân Thủ Thiêm tiếp tục phản ứng khi kết luận của lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh trong cuộc họp báo ngày 14/8/2019 thông tin về tiến trình khắc phục vi phạm kinh tế, quy hoạch, thực hiện các dự án tại khu đô thị mới Thủ Thi….
Nhà báo bị kỷ luật vì phàn nàn vụ Cát Linh – Hà Đông trên Facebook Bởi AdminTD – 14/08/2019 BTV Tiếng Dân 14-8-2019 Nhà báo Trần Thanh Trường, báo Đại Đoàn Kết. Nguồn: FB nhân vậtNhà báo Trần Thanh Tường, Trưởng ban Kinh tế – Xã hội của…
Những ngày vừa qua, dư luận phản bác bài viết về một tài xế chống “BOT bẩn” trên báo chí trong nước với nhan đề “Con đường từ thủ khoa đại học đến trại giam của Hà Văn Nam”. Vấn đề được đặt ra vì sao có khuynh hướng n…