CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

NHÂN TÀI SINH BẤT PHÙNG THỜI

Trần Tố Ngọc

 NHÂN TÀI SINH BẤT PHÙNG THỜI

CHỈ CÒN NHẬN ĐƯỢC MỘT ĐỜI ĐẮNG CAY?!

CHỮ TÀI LIỀN VỚI CHỮ TAI!

DŨNG KHÍ CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC THỰC THỤ & CÁI KẾT ĐẮNG LÒNG ĐẾN TẬN BÂY GIỜ…

Ông Kim Ngọc, người thực hiện chính sách khoán hộ tạo ra một cuộc đột phá trong nông nghiệp vào giữa thập niên 1960 ở miền Bắc, khiến ông bị kỷ luật, và bây giờ đã được nhà nước vinh danh.

Nhưng câu chuyện “khoán hộ” vẫn chưa trọn vẹn vì còn một nhân vật nữa chưa được xem xét phục hồi. Người đó được mệnh danh là “triết gia khoán hộ”, hiện đang bán vé số ở Huế – đó là ông Lê Xuân Thiết.

1/- Bản luận chứng “Khoán hộ”:

Trước đó, ông Thiết từng du học học kinh tế học ở tận Kiev, Liên Xô cũ. Nhưng vì lý do sức khỏe, ông về học trong nước. Tốt nghiệp Đại học Kinh tế – Kế hoạch Hà Nội năm 1967 với tấm bằng loại ưu, chàng trai 30 tuổi Lê Xuân Thiết nhận quyết định về công tác tại Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phúc. Lúc đó cả miền Bắc bị đói, và đối tượng đói nhất lại chính là người sản xuất ra lúa gạo. Chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú (đầu năm 1968 Vĩnh Phúc sáp nhập với Phú Thọ thành Vĩnh Phú) thì nông dân lại no đủ.

Đó là kết quả của chính sách “khoán hộ” do Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc khởi xướng và triển khai khắp toàn tỉnh từ năm 1968. Nông dân được giao ruộng đất để tự cày cấy, sau khi đóng sản lượng (đã được khoán theo hộ) cho nhà nước thì được hưởng phần còn lại, nhờ vậy mà năng suất đạt rất cao, lúa gạo đầy nhà.

Nhưng đến cuối năm 1968, chính sách “khoán hộ” bị cấm và Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc bị kiểm điểm nặng nề. Thiết liền tìm đến huyện Lập Thạch, nơi vẫn còn “lén lút” thực hiện “khoán hộ” và nhận ra việc ông Kim Ngọc làm là quá đúng, đúng với khoa học và đúng cả đạo lý.

Nhưng do ông Kim Ngọc có thực tiễn mà chưa đúc kết thành lý luận, nên không bảo vệ được chính sách khoán hộ. Vậy là Thiết viết một bản luận chứng dài 72 trang, chứng minh chính sách khoán hộ là đúng, là hợp quy luật; tựu trung trong mấy ý sau:

– Cần giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân;

– Ai giỏi nghề gì thì làm nghề ấy;

– Nông dân được quyền bán cái mình làm ra ở đâu đắt nhất và mua cái mình cần ở đâu rẻ nhất;

– Xoá bỏ ngăn sông cấm chợ.

“Trên cơ sở thực tiễn của ông Kim Ngọc, tôi đã nâng lên thành luận điểm khoa học, để bằng mọi cách bảo vệ một chân lý đang bị vùi dập”, ông Thiết nói.

Bấy giờ là giữa năm 1974, sau bảy năm làm việc (1967-1974), cơ quan Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú yêu cầu Thiết làm báo cáo tập sự. Nhân cơ hội này, Thiết đã đưa ra bản luận chứng về chính sách khoán hộ thay cho bản báo cáo tập sự. Vậy là tai ương bắt đầu đổ xuống.

2/- “Tôi không phải là kẻ cơ hội!”:

Chính sách khoán hộ đã bị kết án là sai lầm, ông Kim Ngọc bị kỷ luật, vì vậy bản luận chứng khoán hộ của Lê Xuân Thiết không chỉ bị Ủy ban Kế hoạch tỉnh Phú Thọ kết luận là: xét lại, chống Đảng, theo tư bản chủ nghĩa, mà còn bị kết thêm tội “ngoan cố”! Đảng ủy cơ quan liền đề nghị Thiết viết kiểm điểm và thừa nhận mình sai lầm. Thiết không chịu. Có người rỉ tai Thiết, nếu cậu cứ ngoan cố vậy thì sẽ chết.

Thiết lắc đầu: “Tôi là người làm khoa học, tôi không phải là kẻ cơ hội! Thấy đúng mà vẫn nhận sai thì có tội với dân với nước. Thấy Đảng sai mà vẫn im lặng phục tùng mới là chống Đảng!”. Vậy là Thiết nhận án kỷ luật: khai trừ Đảng, chuyển sang làm nhân viên dọn vệ sinh cho cơ quan. Thiết vẫn nhẫn nhục với công việc của người lao công.

Về chuyện này ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung tâm Minh triết thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam nói: “Thiết là một điển hình của số phận người Việt của một thời. Từ tấm bé đã làm chú liên lạc cho Việt Minh huyện Hương Trà, đi tập kết để cố gắng trở thành người trí thức, nhưng nỗi thăng trầm của Thiết là ở chỗ anh lại muốn trở thành một trí thức thật đúng nghĩa. Tôi tha thiết mong ước rằng giới trẻ sẽ tìm hiểu câu chuyện về Thiết – một người trí thức trẻ đã biết dấn thân và theo đuổi chân lý bằng tất cả nhiệt huyết và trí tuệ của mình”.

Năm 1976, Thiết được điều về Ủy ban Kế hoạch tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trước khi đi, ông bí thư chi bộ còn bảo Thiết nhận sai lầm đi để ghi vào lý lịch nhẹ hơn.

Thiết vẫn không chịu: “Nếu nhà nước dùng được thì dùng, không thì thôi. Tôi không thể nói trái sự thật”. Vì vậy, về đến Huế, Thiết đã gặp ngay sự lạnh nhạt của quê nhà và vui vẻ ra nhận công việc ở phòng Kế hoạch huyện Hương Trà. Một năm sau, huyện này sáp nhập với hai huyện khác thành huyện Hương Điền.

Ông chủ tịch huyện Hương Điền Nguyễn Sĩ Hạt lúc đó có vẻ đã nhận ra lợi ích của khoán hộ, nên đã âm thầm nhắm anh chàng Thiết này, nhưng lại tạm giao nhiệm vụ thư ký cho ban cải tạo công thương.

Thiết đã thấy trước kết cục của “cuộc cách mạng” này nên nhân lúc ông Hạt đi công tác dài ngày, ở nhà có chủ trương đưa cán bộ về cơ sở, liền đăng ký về Xí nghiệp vôi Long Thọ.

Tại đây, Thiết lại nhận công việc ở phòng kế hoạch, và lại bất đồng quan điểm với lãnh đạo. Ông trưởng phòng rất hiểu Thiết liền can: “Thôi đừng nói nữa, họ bỏ tù anh đó”.

3/- Vẫn là một trí thức:

Ngột ngạt quá, Thiết liền cáo bệnh và xin nghỉ mất sức. Đó là năm 1980, Thiết 43 tuổi, sau 30 năm ra đi giờ trở về làng An Ninh Hạ với hai bàn tay trắng. Lúc này anh mới nghĩ đến một việc làm cho bản thân mình: lấy vợ. Năm đó Thiết cưới cô y tá ở bệnh viện y học dân tộc tỉnh, một năm sau sinh con trai. Cứ tưởng là an phận, “nhưng đó lại là năm cực khổ chưa từng có trong đời tôi”. Trên khoé mắt của ông già vé số chợt ngấn nước, và đó là giọt nước mắt duy nhất mà tôi chứng kiến trong suốt cuộc trò chuyện.

Đói triền miên, con nhỏ lại bị bệnh mà không có tiền mua thuốc. Ông nói mấy lần ngã ngựa vẫn không đau, nhưng nhìn con bị bệnh không có thuốc thì đau đớn lắm. Năm 1990, lương hưu mất sức lao động cũng bị cắt. Thiết hụt hẫng như rơi tự do, gia đình bắt đầu lục đục, vợ ôm con bỏ về tập thể bệnh viện tá túc. Thiết bắt đầu lao vào cuộc mưu sinh một cách quyết liệt, cái quyết liệt của bản năng sinh tồn. Ông già vé số nheo mắt cười: “Đó cũng là qui luật thiết thân của con người”.

Bán trứng lộn, lượm chai bao đồng nát, làm đủ thứ mà vẫn không đủ ăn. Năm 1988, đứa em rể làm đại lý vé số thấy ông anh cử nhân kinh tế học đã từng đi Liên Xô về mà đói rách tả tơi liền bảo về bán vé số. Ông nói hoá ra cái nghề bán vé số này lại giúp ông tồn tại đến tận bây giờ và có lẽ ông sẽ còn nương nhờ nó cho đến ngày nhắm mắt. Chỉ có điều, trong 22 năm đó, ai cũng tưởng rằng khổ ải đã biến cải anh chàng cử nhân kinh tế ngang bướng thành một ông già tội nghiệp. Nhưng tôi nhận ra: ông vẫn là một người trí thức đúng nghĩa!

Bản luận chứng dài 72 trang viết tay được đánh máy còn 40 trang, ông Thiết cho biết đã bị mất cả bản chính lẫn bản nháp. Nhưng ông nói nếu còn thì nó cũng lỗi thời lắm rồi, bởi “khoán hộ” theo ông vẫn chỉ là giải pháp tình thế lúc đó mà thôi.

“Chiến lược của tôi là giải phóng sức lao động, biến sức lao động thành hàng hoá; sau đó, giải phóng tư liệu sản xuất khỏi những bàn tay vô cảm”, ông Thiết nói rất say sưa về cuộc nghiên cứu kinh tế mà ông xem như món nợ đời mình. Ông cho biết đang viết một cuốn sách về những điều mà ông đã đánh đổi cả cuộc đời để có được.

Tôi hỏi ông có nguyện vọng được phục hồi như ông Kim Ngọc không, ông cười lắc đầu: “Muộn rồi, vả lại nhu cầu cho bản thân tôi đâu có nhiều”. Điều cuối cùng trong câu chuyện hết sức nhiệt huyết của “triết gia” bán vé số vẫn là một niềm khắc khoải: “Xã hội muốn phát triển thì phải có nền tảng kinh tế chính trị học. Các bạn trẻ cần phải đam mê và đi sâu nghiên cứu để xây dựng nền tảng đó. Đó chính là nền móng của nền kinh tế quốc gia, là động lực phát triển xã hội”.

4/- Các Thầy của người trí thức chân chính của Lê Xuân Thiết cũng bó tay không cứu được ông:

Ông Thiết cho biết sau khi hoàn tất bản luận chứng, đã gửi cho hai người thầy của mình là ông Nguyễn Khắc Mai và Tôn Thất Tịnh (đều là người Huế tập kết ra Bắc). Ông Mai lúc đó đã về hưu ở Hà Nội, làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt.

Ông Mai cho biết vào năm 1973 có nhận một bản thảo đánh máy khoảng 40 trang của ông Thiết trình bày những luận điểm chứng minh sự đúng đắn của khoán hộ. Ông Mai nói: “Tôi tán thành những luận điểm ấy. Vì vậy, việc kỷ luật Thiết là không đúng, và khuyên Thiết nên khiếu nại. Nhưng Thiết thấy không giải quyết được gì, nên thôi”.

Ông Tôn Thất Tịnh cho hay lúc đó ông làm ở Viện Triết học có nhận bản báo cáo về khoán hộ của Lê Xuân Thiết do ông Nguyễn Khắc Mai chuyển. “Cậu ấy bị oan lắm, nhưng bọn tôi không cứu được” – ông Tịnh nói.

(Theo Minh Nhân trên báo Tiền phong)

P/s: Trong xã hội mình có được bao nhiêu người như ông Thiết để rồi nghèo đói, khổ sở vây quanh. Và có bao người trí thức thừa hiểu, thừa biết như ông Thiết nhưng im miệng, đồng loã để vinh thân phì gia? Họ có còn nhân danh là trí thức nữa không hay là “trí ngủ” mà chính xác phải gọi là giả ngủ…. Vậy đừng hỏi tại sao XH giờ ít người tốt và người ta sống bạc ác với nhau thế? Bởi người tốt thì khốn đốn thế thì ai dám làm người tốt nữa???

Ảnh ông Lê Xuân Thiết năm 2011

Nguyễn Tân_ sưu tầm _

Tố Ngọc Trần chia sẻ


 

Nạn đói năm 1945 kinh hoàng đến mức nào?

Phạm Toàn

Thật kinh khủng

Nạn đói năm 1945 kinh hoàng đến mức nào?

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến nhà Nguyễn vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.

   Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn. Nạn đói đã diễn ra ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông.

     Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.

  Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình cũ) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: “Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân.

 Ước tính có khoảng trên 2 triệu người dân chết đói trong khi dân số nước ta khi đó khoảng 23 triệu người.


 

4 GIỜ SÁNG Ở CHỢ RẪY: NƠI TIỀN TỶ CŨNG TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA!

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

   4 GIỜ SÁNG Ở CHỢ RẪY: NƠI TIỀN TỶ CŨNG TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA!

Khi thành phố ngoài kia còn chưa kịp cựa mình trong sương sớm, Chợ Rẫy đã thức. Hoặc có lẽ, mảnh đất này chưa từng ngủ. Giữa lờ mờ sương đêm, đập vào mắt người ta không phải là sự nguy nga của những tòa nhà cao tầng hay nét tân tiến của máy móc, mà là một dòng sông người lặng lẽ chảy, nối đuôi nhau dưới ánh đèn đường vàng vọt, nhạt nhòa.

Không gian mờ sương bỗng chốc bị xé toạc bởi tiếng còi xe cấp cứu rú lên từng hồi gắt gao, rồi lịm dần sau cánh cổng sắt. Tiếng loa phóng thanh lạnh lùng, đều đặn vang lên giữa đêm tịch mịch, đọc tên những bệnh nhân tiếp theo vào phòng khám. Giữa thanh âm hỗn tạp ấy, là màu áo blouse trắng muốt lướt qua vội vã như những cánh chim không mỏi, đối lập hoàn toàn với bóng tối và sự mỏi mệt đang búa vây xung quanh.

Nhìn những chiếc ba lô sờn gấu, những chiếc vali bạc màu quệt đầy bụi đường, ai cũng hiểu họ vừa bước xuống từ một chuyến xe xuyên đêm dài dằng dặc. Họ đến từ những miền quê xa xôi, mang theo cả gia tài và niềm hy vọng cuối cùng đổ về phía ánh đèn viện. Trên ghế đá, dưới bóng cây, nơi góc hành lang lạnh ngắt, người ta nằm co ro, nương tựa vào nhau để chợp mắt.

Ghế đá bên kia, một người mẹ gầy gò, đôi bàn tay gân guốc đan chặt vào nhau, ánh mắt đờ đẫn nhìn trân trân vào khoảng không vô định. Cạnh bà, đứa con nhỏ gối đầu lên chiếc đùi khẳng khiu của mẹ, ngủ say sưa sau chặng đường dài xóc nảy. Góc hành lang bên này, một cụ già tóc bạc phơ, lưng còng rạp xuống, cố hớp một ngụm nước lọc nguội ngắt để nuốt trôi miếng bánh mì khô khốc mang theo từ căn bếp quê nhà. Mỗi con người là một số phận, một bản nhạc buồn được viết bằng những nốt trầm cay đắng nhất của cuộc đời.

Ở đây, tuyệt nhiên không có tiếng than vãn. Chỉ có một sự nhẫn nại im lìm đến nghẹn thắt. Sự im lặng của những con người đã đi qua quá nhiều giông bão, đến mức nỗi đau không còn tư cách để phát ra thành tiếng.

Nhìn những gương mặt hằn sâu nếp nhăn mệt mỏi nhưng đôi mắt cứ đau đáu nhìn về phía cánh cửa phòng khám, lồng ngực tôi chợt nghẹn lại. Tôi nghĩ về thế giới ngoài kia – nơi người ta vẫn ngày đêm lao vào những cuộc đua tranh giành danh lợi, hơn thua nhau từng lời nói trên mạng xã hội, tổn thương nhau vì những điều phù phiếm. Còn ở đây, ngay tại tọa độ này, người ta sẵn sàng buông bỏ tất cả, đánh đổi cả gia sản, đất đai, nhà cửa chỉ để đổi lấy hai chữ: “Khỏe mạnh”.

Hóa ra, khi đứng trước ranh giới của sinh tử, định nghĩa về hạnh phúc lại được gột rửa để trở về thứ nguyên bản, thuần khiết nhất. Hạnh phúc tại Chợ Rẫy không nằm ở lầu cao xe xịn, mà hiển hiện qua:

* Một chỉ số xét nghiệm giảm đi vài phần nguy kịch.

* Một cái gật đầu từ tốn của bác sĩ: “Bệnh này vẫn chữa được”.

* Một cái chạm tay siết chặt khi người thân vừa bước qua cửa phòng hậu phẫu.

* Và một tấm vé xe đò, một cái túi nilon gói ghém quần áo để… được trở về nhà.

Bệnh viện là tấm gương soi chân thực nhất sự mong manh của kiếp người. Nơi đây, mọi chiếc mặt nạ của danh vọng, giàu sang đều rơi xuống. Tiền bạc hay danh vị bỗng trở nên bất lực trước nỗi đau xác thịt. Sự đau đớn và nỗi sợ hãi ở đây bình đẳng một cách nghiệt ngã. Ai cũng ôm một vết xước trong lòng, ai cũng giấu một lời cầu nguyện khẩn thiết hướng về đấng linh thiêng.

Bước ra khỏi cổng bệnh viện khi những tia nắng đầu ngày bắt đầu nhảy múa trên những tán lá, hít một hơi ngực đầy không khí sớm mai, tôi thấy lòng mình chùng xuống nhưng tràn ngập lòng biết ơn.

Biết ơn vì mỗi sớm mai thức dậy, cơ thể này vẫn vẹn nguyên, khỏe mạnh. Biết ơn vì những người ta yêu thương vẫn bình an đi qua một đêm thâu. Và biết ơn vô ngần, vì sau tất cả những bão giông ngoài kia, chúng ta vẫn còn một mái nhà bình yên để trở về, để sống, để bao dung và để tiếp tục yêu thương nhau khi còn có thể…


 

Vụ Mr.Pips lừa đảo: Kê biên dàn siêu xe, nhà đất, vàng, tiền ‘lớn nhất từ trước đến nay’

Ba’o Nguoi-Viet

August 3, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cơ quan điều tra đã kê biên, thu giữ 41 siêu xe như Rolls-Royce, Ferrari, Lexus…, 111 bất động sản, cùng hàng trăm lượng vàng và lượng lớn tiền mặt trong vụ án lừa đảo của Mr.Pips.

Khối tài sản “khủng” nêu trên được Viện Kiểm Sát Hà Nội liệt kê trong cáo trạng truy tố gần 200 bị can trong vụ án lừa đảo đầu tư sàn giao dịch chứng khoán quốc tế Forex “lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam về ngoại hối, chứng khoán” do bị can Phó Đức Nam, tự Mr. Pips, 32 tuổi, cùng đồng phạm thực hiện.

Bị can Phó Đức Nam cùng một phần số vàng, tiền bị thu giữ trong vụ án. (Hình: TL/Tuổi Trẻ)

Báo Tuổi Trẻ hôm 3 Tháng Tám dẫn cáo trạng vừa được ban hành cho biết, ngoài cáo buộc “lừa đảo và rửa tiền,” cơ quan tố tụng còn làm rõ cách nhóm bị can sử dụng dòng tiền phạm pháp để mua hàng loạt bất động sản, xe hơi hạng sang rồi nhờ nhiều người đứng tên sở hữu.

Riêng bị can Phó Đức Nam được xác định sở hữu 25 xe hơi gồm nhiều siêu xe và bảy xe mô tô.

Đáng chú ý, từ giữa năm 2022 bị can Nam nhờ người thân mượn căn cước của cô Nguyễn Bích Ng. gửi cho mình, sau đó dùng tên cô này thành lập công ty Cổ Phần Vận Tải Phương Nam Xanh cùng các văn phòng đại diện tại Hà Nội và Sài Gòn để ghi danh hàng loạt siêu xe.

Trong số đó có nhiều mẫu xe trị giá hàng chục tỷ đồng như Rolls-Royce Cullinan, Mercedes-AMG G63; Audi Q7, Jaguar F-Pace, Mercedes E300…

Không dừng lại ở đó, bị can Nam còn mua thêm tám siêu xe như Ferrari Roma, Porsche 911 Turbo S, Mercedes-AMG A45S, Mercedes-AMG GT R, Jaguar F-Type, Mercedes C200, BMW 330i… nhưng nhờ em trai, bạn bè hoặc người quen đứng tên sở hữu rồi ủy quyền để bị can Nguyễn Thanh Tâm, bạn gái của mình, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản theo yêu cầu của anh ta.

Ngoài số xe đã ghi danh, bị can Nam còn mua bốn xe hơi gồm Nissan GT-R R35 Nismo Special Edition, Ferrari Roma…nhưng chưa hoàn tất thủ tục sang tên.

Không chỉ riêng Mr Pips, “cánh tay phải” của anh ta là bị can Lê Khắc Ngọ cũng bị thu giữ năm siêu xe, trong đó có Lamborghini Urus, Porsche Panamera và hai chiếc Jaguar F-Type.

Tính chung, cơ quan điều tra đã thu giữ 48 xe, gồm 41 xe hơi và bảy xe mô tô.

Cùng với việc thu giữ dàn xe sang, cơ quan điều tra còn tiến hành kê biên đối với 111 bất động sản của các bị can và những người liên quan để “phục vụ điều tra, thu hồi tài sản.”

Theo cáo trạng, ngoài những bất động sản được xác định sử dụng để “rửa tiền,” bị can Phó Đức Nam còn sở hữu nhiều căn hộ, nhà đất tại Sài Gòn, Hà Nội, Tây Ninh, Hưng Yên và nhiều tỉnh thành khác. Trong đó, nhiều bất động sản đứng tên Nguyễn Thanh Tâm, bố mẹ bị can Nam hoặc người thân đã bị tạm dừng giao dịch.

Riêng người thân Mr. Pips được xác định sở hữu chín bất động sản, trong đó có nhiều căn hộ tại Masteri Thảo Điền, D’Edge, chung cư The Sóng ở Vũng Tàu cùng nhiều nhà, đất khác.

Ngoài nhà đất và siêu xe, quá trình điều tra trước đó công an còn thu giữ lượng lớn tiền mặt, ngoại tệ, vàng và sổ tiết kiệm tại nơi ở của các bị can và người liên quan.

Một vài chiếc trong dàn siêu xe của Mr. Pips bị cơ quan hữu trách thu giữ. (Hình: Nguyễn Thịnh/Dân Việt)

Trong đó có hàng trăm tỷ đồng tiền mặt, gần $2 triệu, hàng trăm lượng vàng SJC cùng nhiều sổ tiết kiệm có tổng trị giá hàng trăm tỷ đồng.

Riêng thời điểm Tháng Mười Một, 2024, khi khám xét căn hộ của bị can Nguyễn Thanh Tâm, công an thu giữ gần 44.8 tỷ đồng ($1.7 triệu), hơn $1.7 triệu, 67,000 đô la Singapore, 30,000 nhân dân tệ cùng hàng chục ngàn đơn vị tiền của nhiều quốc gia khác.

Chưa hết, khám xét nơi ở của hai người thân trong gia đình bị can Nam, cơ quan điều tra thu giữ 274 lượng vàng SJC, hơn 13 tỷ đồng ($494,520), $500,000 cùng hơn 25 tỷ đồng ($951,000) trong tài khoản ngân hàng.

Đối với vợ chồng Lê Khắc Ngọ, lực lượng hữu trách đã thu giữ hơn 140 lượng vàng, $85,000, khoảng 20 tỷ đồng ($760,800) tiền mặt cùng 53 sổ tiết kiệm với tổng số dư gần 160 tỷ đồng ($6 triệu).

Với số tài sản bị phong tỏa, kê biên và thu giữ kể trên, công an đánh giá đây là “một trong những vụ án lừa đảo đầu tư tài chính có khối tài sản bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm thu hồi lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.” (Tr.N)


 

Vụ án sách Chuyện với Thanh: Tổ chức nhân quyền kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và những người liên quan (BBC)

BBC

22 tháng 7 2026

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) hôm 22/7 đã kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và bốn người liên quan đến việc xuất bản và quảng bá sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng.

“Chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc đối với cả năm người và phóng thích họ vô điều kiện,” HRW viết trong thông cáo.

Vào ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Thành Nam và ông Trần Việt Anh để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Ông Nam là tác giả sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng, còn ông Trần Việt Anh là nhà sáng lập của Spiderum – một mạng xã hội được quảng bá là nền tảng chia sẻ tri thức của người Việt Nam.

Sau khi bị bắt, ông Nam và ông Việt Anh đã xuất hiện trên sóng truyền hình VTV1, thú nhận hành vi của mình, tương tự như những gì mà đài này kết hợp với công an thường làm trong các vụ án được dư luận quan tâm khác.

Sau đó, công an tiếp tục bắt giữ ba lãnh đạo chủ chốt của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm bà Nguyễn Thúy Hằng, ông Đào Bá Đoàn và ông Nguyễn Văn Yên, cũng với các cáo buộc tương tự.

Bà Elaine Pearson, Giám đốc khu vực châu Á của HRW, được trích lời trong thông cáo nêu trên: “Làn sóng bắt giữ vì một cuốn sách về Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lạnh gáy đến toàn bộ giới nhà văn, nhà báo và xuất bản rằng tuyên ngôn về kỷ nguyên ‘vươn mình’ mới chỉ có nghĩa là gia tăng đàn áp.”

“Phản ứng cực đoan về cuốn sách thể hiện rằng ngay cả những nhân vật thành danh trong các lĩnh vực kinh doanh, xuất bản và báo chí cũng không được an toàn trước giới bảo thủ của Đảng Cộng sản,” bà Pearson nói thêm.


 

Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Đoàn Xuân Thu

 Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và sự thống nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng phía sau hình ảnh xe tăng do Trung Cộng cung cấp tiến vào Dinh Độc Lập, phía sau những buổi lễ chiến thắng và những lời tuyên bố về “giải phóng”, là một chương lịch sử đầy đau thương đối với hàng trăm ngàn con người bị đưa vào hệ thống trại được CS gọi là “học tập cải tạo”.

Hai chữ “cải tạo” nghe có vẻ nhẹ nhàng, thậm chí mang ý nghĩa giáo dục và sửa chữa sai lầm. Nhưng đối với hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức, trí thức và những người từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đó lại là khởi đầu của những năm tháng mất tự do, đói khát, bệnh tật và tuyệt vọng.

Những tờ giấy triệu tập và lời hứa cuội “học tập vài ngày”

Sau tháng 4 năm 1975, chính quyền CS kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức, cảnh sát, nhân viên hành chính ra trình diện để “học tập cải tạo”.

Nhiều người đã ngây thơ tin rằng đây chỉ là một khóa học chính trị ngắn hạn nhằm giúp họ hiểu đường lối mới. Có người mang theo vài bộ quần áo, một ít thức ăn, nghĩ rằng chỉ vài ngày hoặc vài tuần sẽ trở về với gia đình.

Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Nhiều sĩ quan cấp cao, từ tướng lãnh đến sĩ quan cấp thiếu úy trở lên, cùng hàng loạt công chức các cấp, bị đưa đi giam giữ trong các trại nằm rải rác từ Nam ra Bắc. Một số người chỉ trở về sau vài tháng, nhưng nhiều người phải trải qua từ 5 năm, 10 năm, thậm chí hơn 15 năm trong cảnh bị CS tù đày.

Đặc biệt, nhiều sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra các vùng rừng núi xa xôi như Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, hoặc các vùng rừng thiêng nước độc ở miền Trung và Tây Nguyên.

“Cải tạo” bằng lao động khổ sai.

Một trong những đặc điểm khắc nghiệt nhất của hệ thống trại cải tạo là việc sử dụng lao động nặng nhọc như một phương tiện “giáo dục”.

Những người từng là bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, sĩ quan chỉ huy, công chức văn phòng bị buộc phải lao động chân tay: phá rừng, khai hoang, trồng trọt, làm đường, đào mương, chặt cây.

Đối với những người đã lớn tuổi, sức khỏe yếu hoặc từng bị thương trong chiến tranh, công việc này trở thành thử thách sinh tử.

Có những cựu quân nhân từng kể lại cảnh phải đi hàng chục cây số vào rừng đốn củi, đào đất trong điều kiện thiếu dụng cụ, thiếu thuốc men. Một tai nạn lao động nhỏ cũng có thể trở thành nguy hiểm vì trại giam cách xa bệnh viện và thiếu phương tiện chữa trị.

Cái đói – nỗi ám ảnh lớn nhất.

Trong ký ức của nhiều cựu tù nhân cải tạo, cái đói là một trong những nỗi ám ảnh sâu sắc nhất.

Khẩu phần ăn nghèo nàn thường chỉ gồm một ít cơm độn với khoai, sắn, bo bo hoặc rau rừng. Những người tù phải tìm kiếm thêm thức ăn trong tự nhiên như lá cây, củ rừng, hoặc trao đổi với người dân địa phương để tồn tại.

Nhiều người từ những gia đình khá giả, từng có địa vị xã hội, khi ra khỏi trại chỉ còn da bọc xương, sức khỏe suy kiệt.

Có người đã không sống sót để trở về với vợ con.

Những cái chết âm thầm trong rừng sâu.

Không có những bản án tử hình công khai, không có tiếng súng xử bắn trước pháp trường, nhưng nhiều người đã chết dần trong các trại cải tạo vì đói rét, bệnh tật và kiệt sức.

Những căn bệnh tưởng như có thể chữa trị trong điều kiện bình thường như sốt rét, kiết lỵ, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng cũng có thể trở thành nguyên nhân tử vong trong môi trường thiếu thuốc men.

Nhiều gia đình ở miền Nam trong nhiều năm không biết người thân của mình còn sống hay đã mất. Một số chỉ nhận được tin qua những người tù được thả về hoặc qua những nấm mộ đơn sơ nằm lại nơi rừng núi xa xôi.

Đằng sau mỗi cái tên là một gia đình tan nát: người vợ chờ chồng, người mẹ chờ con, những đứa trẻ lớn lên mà thiếu bóng cha.

Những người trí thức cũng trở thành tù nhân. Điều đặc biệt của hệ thống cải tạo sau 1975 là không chỉ giới hạn trong quân đội.

Nhiều giáo sư đại học, giáo viên, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, công chức dân sự cũng bị đưa đi cải tạo vì từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Một xã hội muốn tái thiết sau chiến tranh cần sự tham gia của mọi tầng lớp, nhưng thay vì tận dụng nguồn nhân lực trí thức, nhiều người trong số họ lại bị CS loại khỏi đời sống xã hội trong nhiều năm.

Hậu quả không chỉ là những mất mát cá nhân mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của đất nước.

Từ “hòa giải” đến những câu hỏi của lịch sử.

Sau nhiều thập niên, vấn đề trại cải tạo vẫn là một đề tài gây tranh luận.

Những người từng trải qua thời kỳ đó cho rằng họ đã chịu sự đối xử bất công, bị tước đoạt tự do mà không qua một phiên tòa độc lập, và phải trả giá cho một cuộc chiến mà họ không phải là người duy nhất quyết định.

Đối với nhiều người Việt hải ngoại, ký ức về trại cải tạo trở thành một phần quan trọng trong lịch sử di dân sau năm 1975. Chính những kinh nghiệm đau thương ấy đã khiến hàng trăm ngàn người tìm đường vượt biển, rời bỏ quê hương để tìm tự do.

Bài học về nhân quyền.

Lịch sử của các trại cải tạo sau năm 1975 nhắc nhở một điều căn bản: khi một chính quyền có quyền lực tuyệt đối nhưng thiếu cơ chế kiểm soát, con người rất dễ trở thành nạn nhân của những quyết định chính trị.

Chiến tranh có thể kết thúc trên chiến trường, nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn tiếp tục trong số phận của con người.

Những người đã chết trong các trại cải tạo không chỉ là những con số thống kê. Họ là những người cha, người chồng, người con; họ có tên tuổi, gia đình, ước mơ và một cuộc đời đã bị thay đổi bởi lịch sử.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng câu chuyện về các trại cải tạo vẫn còn đó như một lời nhắc nhở rằng tự do, công lý và nhân phẩm của con người luôn cần được bảo vệ.

Bởi vì một dân tộc muốn bước tới tương lai không thể chỉ nhớ những chiến thắng, mà còn phải can đảm nhìn lại những nỗi đau của quá khứ.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập – Bích Lan

Duc Thong DO 

THƯƠNG THAY NHỮNG NGƯỜI VỢ HIỀN TẦN TẢO NUÔI CON VÀ THĂM NUÔI CHỒNG BỊ TÙ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC, MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM.

***** 

1- THĂM CHỒNG BỊ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập

Bích Lan

“Thương anh mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

Đường Saigon – Hà Nội dài hơn 1700 km, có mấy núi, mấy sông, ngàn vạn cái đèo cũng không ngăn được bước chân những chinh phụ đi tìm chinh phu trong ngục tù của VC.

Năm 1979, tôi từ Nam ra Bắc lần đầu tiên, xuống ga Hà Nội, tới bến xe Kim Liên để về Ninh Bình, quê chồng, nơi mà năm 1954 khi đình chiến anh mới được 12 tuổi mà đã một mình dám theo các cô chú họ hàng vào Nam, xa lìa cha mẹ anh em.

Hơn 20 năm sau, anh trở về quê hương đất Bắc tay trong cùm, chân mang xích. Tôi đến Ninh Bình để đón mẹ chồng cùng lên thăm chồng tôi ở trại Tân Lập, vì bố mẹ chồng tôi đã thăm anh mấy tháng trước và đã biết được trại tù này.

Thân gái dặm trường nên khi xuống ga Hà Nội, tôi nhìn quanh để tìm bạn đồng hành, tất cả lem luốc như có gì mặc nấy, thanh niên, thiếu nữ, ông già, bà lão v.v.. mặc giống nhau, cùng một mầu, mầu “bộ đội” với dép râu, nón cối, xe đạp.

Tôi thoáng trông thấy một chị y phục tươm tất nổi bật trong đám đông ấy và có lẽ chị cũng cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh như tôi khiến chúng tôi tiến gần lại nhau, và chúng tôi là những chinh phụ đi tìm chồng giữa chốn “hỗn quân”. Đám đông nhìn chúng tôi, người Hà Nội nhìn chúng tôi với thái độ vô cảm, họ chỉ trỏ, soi mói, thì thào với nhau, họ biết chúng tôi là người từ miền Nam, người Sài Gòn, “Vợ ngụy”. Chúng tôi đứng với nhau một lúc cảm thấy mình không lẻ loi; rồi chị bạn có thân nhân ở Hà Nội đón và tôi lại cô đơn, một mình.

Ở bến xe Kim Liên, những đứa nhỏ bằng tuổi con tôi, từ 7 tới 10 tuổi, chúng líu lo chen chúc quanh tôi nghe rất là dễ thương, tôi đã nép mình sang một bên đường và nhường lối cho chúng đi qua nhưng vẫn bị chen lấn. Mấy phút sau chúng tản mát đâu hết, tôi chưa kịp hỏi han các em lời nào. Thấy các em, tôi nhớ đến con tôi, mới đi có mấy ngày mà nhớ con quá, các con còn nhắc mẹ là nhớ hôn bố thay các con.

Tôi nhìn lại túi xách tay nhỏ, chết rồi! Tiền bạc và giấy tờ của tôi đã mất! Không lẽ những trẻ thơ chỉ bằng con mình đã lấy của mình rồi chăng? Nhưng ngoài các em ra, có ai chen lấn gì tôi đâu, nhưng tôi đã mất đồ thật rồi! Trong cảnh bơ vơ, lần đầu tiên về quê chồng nơi xứ Bắc này tôi phải làm gì đây?

Tôi vào đồn công an bến xe Kim Liên để khai báo. Mấy người công an tiếp tôi hờ hững như chẳng có chuyện gì quan trọng, như là chuyện thường ngày, một người đưa cho tôi tờ giấy và cây viết, cộc lốc:

– Khai đi.

Mấy phút sau, tôi nộp lại tờ khai mất giấy tờ, tiền bạc và quan trọng nhất là giấy xin thăm nuôi, tên công an vừa đưa tờ giấy và viết cho tôi trước đó 15 phút quát:

Tôi bảo chị mất cắp gì thì khai vào tờ giấy này, còn lôi thôi gì nữa không?

Tôi trả lời: “Tôi khai rồi đây này”.

Hắn cầm tờ giấy lật qua lật lại, nhìn tôi chầm chầm, mấy tên ngồi gần đó và cả mấy tên đứng quanh đó trố mắt nhìn tôi, một tên nào đó thốt lên:

– Nhanh thế!

Tôi không quan tâm tới gì họ nói, họ muốn “khai” bao nhiêu tôi “khai” cho họ là xong, nhưng trước mắt, không giấy tờ tiền bạc làm sao tôi về đến quê chồng, và còn vào trại tù thăm chồng trong lúc khó khăn này!

Tôi đứng chơ vơ lẻ loi trong đám đông hỗn độn và hỗn hào trong bến xe, cùng tắc biến, tôi hỏi thăm đại một người đường về quê chồng. Trời thương, may gặp được người cùng làng của cha mẹ chồng, vài lời thăm hỏi, và biết hoàn cảnh của tôi, bác đã nhận lời giúp trả tiền xe và đưa tôi về nhà cha mẹ chồng. Bác an ủi tôi, bác bảo:

– Bác là người cùng làng, cùng họ hàng nên cháu đừng sợ.

Tôi cảm thấy bớt cô đơn.

Ngồi trong cái xe cũ kỹ về Ninh Bình, đến một làng có ngôi thánh đường khá lớn, xa xa có dãy núi, trên đỉnh núi thật cao ấy có cây thánh giá sừng sững giữa trời. Làng của chồng tôi đây sao? Lấy chồng năm 20 tuổi tôi đã theo đạo của chồng. Trước khi vào nhà cha mẹ chồng, đi ngang qua ngôi Thánh đường, tôi đã cầu xin Chúa cho được gặp chồng và xin cho anh được bằng an.

Xuống xe đầu làng, thấy một thanh niên đi tới, không chờ họ nói mà tôi hỏi trước:

– Này, em có phải là em của anh Chiến không?

Cậu ta ngẩn người ra và hỏi lại tôi:

– Sao chị biết.

– Chị là chị Chiến đây, trông em giống anh ấy quá.

Chú ấy chở hai giỏ quà sau xe, tôi đi bộ theo, trên đường vào làng mọi người túa ra thăm hỏi, những đứa trẻ miệng trầm trồ, có đứa còn nói lời chào “Chào chị Chiến”. Trẻ con ở đây lễ phép hơn. Cha mẹ chồng tôi đã vào Nam thăm mẹ con tôi năm 1977 nên tôi cũng không xa lạ với ông bà, tôi được sống trong những giây phút ấm áp đó.

Qua một đêm ở nhà cha mẹ chồng, họ hàng, dân làng đến thăm hỏi, họ cũng muốn tìm hiểu đời sống của người miền Nam. Khách đầy nhà, một người nói rằng hồi nhỏ học cùng lớp với chồng tôi, thấy tôi người Huế, anh nói với tôi:

– Này chị Chiến, năm 1973 đơn vị tôi bao vây một cái đồn ở Huế, nghe tin Chiến ở trong đó nên tôi rút quân không đánh nữa.

Thoáng nghĩ: “Lại có mấy cái máy lạnh đặt ở công viên” nữa rồi, tôi trả lời anh:

– Ông xã tôi chỉ ở miền Nam, không có ở Huế.

Sáng hôm sau mẹ chồng tôi và tôi lại lên Hà Nội, đi xe lửa chợ từ Hà Nội lên Yên Bái, xuống ga Ấm Thượng, tầu chở người và súc vật chung, người và vật chen chúc hôi hám. Tôi và mẹ tôi không có chỗ ngồi vì phần đông là bộ đội, họ đã chiếm hết chỗ rồi, họ nói chuyện như cãi lộn, hò hét, chửi thề, văng tục, họ chẳng biết nhường chỗ cho người già và phụ nữ. Tôi và mẹ tôi phải vịn thanh sắt, chân kẹp chặt giữ mấy giỏ đồ, đứng liên tục 10 tiếng đồng hồ từ 5 giờ chiều tới 3 giờ sáng mới tới ga Ấm Thượng, trong khi đó họ ngồi, họ chiếm cả chỗ…

Trong toa tầu ánh đèn lờ mờ, con tàu lắc lư, một tên thừa cơ tranh sáng tranh tối, đưa tay sờ ngực tôi, mẹ tôi đứng cạnh tôi trông thấy bà la lên:

– Ấy, ấy, đó là con dâu tôi đấy, nó có chồng 3 con rồi đấy mấy chú ơi.

Mặc cho bà la, chúng cười nham nhở và còn bảo: “Thế à”! … cười nói khả ố…*

Tôi nói mẹ đừng la nữa, tầu sắp đến ga rồi, coi chừng mấy giỏ quà giúp con.

Mẹ con tôi xuống ga Ấm Thượng và phải nằm chờ tới sáng, ga trống vắng lạnh lẽo, lại phải ở chung với chó, lợn, gà. Trời đêm mưa phùn, gió rét, tôi nghe tin hôm qua có một anh tù cải tạo bị chết đuối.

Bàng hoàng, xúc động, tôi ôm mẹ và khóc, mẹ chồng tôi sau hơn ¼ thế kỷ mới gặp con, có biết bao điều để nói, nhưng với cái nhiễu nhương trước mắt mẹ cũng chỉ biết cầu xin.

– “Cầu cho tất cả được bình yên trở về, ngủ đi con, ngày mai còn phải đì đò rồi đi bộ mười mấy cây số vào trại, ngủ đi con.

Từ ga Ấm Thượng vào trại Tân Lập phảỉ đi đò ngang qua sông Hồng nước chảy xiết, con đò mong manh xuôi theo giây cáp, tròng trành như sắp bị cuốn trôi đi theo dòng nước. Lên đò lại phaỉ đi bộ hơn 20 cây số đường rừng, bùn đất gập gềnh, mẹ tôi thấy tôi đi không nổi nên cứ dành gánh những gói quà.

Vào tới trại thì đã xế chiều, trình giấy tờ, lại phải ngủ qua đêm trong khí hậu núi rừng lạnh thấu tim gan để qua ngày hôm sau mới được gặp anh! Lại một đêm trằn trọc, đêm đầy tiếng kẻng, mỗi lần nghe tiếng kẻng từ trong trại dội ra là tôi lại ôm mẹ, nghĩ tới anh qua hình ảnh các bạn anh mà tôi đã thấy trên đường vào trại, các anh cũng đã vui mừng khi nhìn thấy chúng tôi nhưng không còn vóc dáng ngày nào, an phận! Chịu đựng! Vậy là hết rồi sao!

Sau 15 phút ngồi đối diện với chồng, có mẹ chồng bên cạnh, tôi chẳng nói được gì với anh cả. Chúng tôi chỉ mới nói chuyện gia đình mạnh khỏe, con cái học hành là đã hết 15 phút! Chỉ muốn nắm tay anh mà cũng chẳng được vì tên cán bộ ngồi đầu bàn cứ chằm chặp nhắc nhở “Anh chị phải giữ nếp sống văn hóa”! Văn hóa gì đây hỡi trời?

Chồng tôi nhận quà, tôi chỉ dặn được vài câu anh cố gắng giữ sức khoẻ thế nào cũng có ngày đoàn tụ, còn chồng tôi thì nói em cố gắng lo cho các con, đừng lo cho anh.

Chồng tôi lại phải vào trại, anh đi được vài bước, quay lại, bước đi, ngoái cổ lại phía sau. Lòng tôi bối rối, đau như cắt, thình lình tôi gọi to:

– Anh!

Chồng tôi dừng lại, tôi chạy thật nhanh, ôm chầm lấy chồng và hôn anh, hôn lấy hôn để, tên cán bộ nhìn thấy thế, anh ta ú ớ:

– Ơ cái anh chị kia, nhớ giữ gìn nếp sống văn hóa chứ.

Mấy người tù trẻ, có lẽ là tù hình sự, đứng vỗ tay như là ở cái xã hội Bắc Kỳ này chuyện vợ chồng hôn nhau chỉ có trong phim. Mặc cái gì là văn hóa, cái gì là nội qui, nhớ chồng quá, ai nói gì mặc kệ, bao năm xa cách, đi từ Nam ra Bắc cũng chẳng được cầm tay mà chỉ ngồi nhìn nhau 15 phút thôi sao! Tình người và tình vợ chồng ở nơi đây cũng trở thành gỗ đá ư!

Cái hôn đầu tiên, ngày nào ấy năm 1968, anh đã ôm hôn tôi sau bánh xe Jeep, còn tôi chỉ biết chịu trận, run rẩy. Ngược lại, hôm nay trong hoàn cảnh éo le này, chồng tôi chỉ như khúc cây để cho tôi sờ mặt, hôn anh trong một phút bất thần vì nhớ nhung. Không biết khi vào trại anh có bị hình phạt gì không?

Sau này, những khi ôn lại chuyện thăm chồng, vợ chồng tôi đã đùa với nhau là hai cái hôn sấm sét. Anh có biết trải bao đoạn đường từ Nam ra Bắc mới được nhìn người yêu, mới được ôm vội vàng nửa phần đời trong tích tắc mà mấy tên cán bộ đang xỉ vả mình đây này.

Nhưng em quyết đi thăm anh, tìm anh, và em đã được gặp anh.

Dù vất vả, mọi gian nan đã xẩy ra trên đường đến thăm anh, dù đã vượt quá sức chịu đựng của em, nhưng em đã mãn nguyện là anh còn sống, và em đã được ôm và được hôn anh dù chỉ trong phút giây. Trên đường trở về, lâu lâu mẹ chồng tôi lại ôm vai tôi, nhìn tôi và mỉm cười.

Bích Lan

Nguồn : Bích Lan: Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập



 

5 người trong vụ cháy quán ăn ở Sài Gòn đã thiệt mạng

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Dù được các bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, song năm trong sáu nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn ở phường Bình Thạnh, Sài Gòn, đã không qua khỏi.

Loan báo với truyền thông hôm 27 Tháng Bảy, đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết cả năm nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn trên đường Ngô Đức Kế, phường Bình Thạnh, vào tối 11 Tháng Bảy vừa qua đã không qua khỏi do “phỏng hô hấp, sốc phỏng, suy hô hấp, hôn mê, tiên lượng xấu.”

Các bệnh nhân trong vụ hỏa hoạn điều trị tại Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Lao Động, bệnh nhân mới nhất mới qua đời tối 26 Tháng Bảy là cô PTT, 30 tuổi, bị phỏng khoảng 60% diện tích cơ thể tập trung ở đầu, mặt, ngực, bụng và tứ chi, kèm phỏng hô hấp, sau hơn hai tuần điều trị tích cực.

Trước đó, bốn nạn nhân khác trong vụ tai nạn cùng nằm ở Khoa Bỏng-Tạo Hình của bệnh viện Chợ Rẫy là cô LNT, 44 tuổi, bị phỏng diện tích đến 98% cơ thể ở độ II-III; cô AKL, 48 tuổi, phỏng lửa độ II-III diện tích 60%; ông NTTh, 51 tuổi, bị phỏng tương đương và ông NQH, 56 tuổi, bị phỏng độ III diện tích 80% cơ thể, đều lần lượt qua đời sau nhiều ngày điều trị.

Như vậy, liên quan vụ cháy quán ăn trên, năm nạn nhân đã thiệt mạng, chỉ còn lại mỗi cô HTKT, 46 tuổi, may mắn bị phỏng khoảng 2% diện tích cơ thể, điều trị tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định được xuất viện hôm 14 Tháng Bảy.

Trước đó, khoảng 8 giờ 30 phút tối 11 Tháng Bảy, tại quán ăn gia đình số 56D Ngô Đức Kế bất ngờ cháy và phát nổ. Đám cháy sau đó lan sang vựa ve chai bên cạnh.

Do bên trong khu vực xảy ra hỏa hoạn chứa nhiều vật liệu dễ bắt lửa nên tạo ra cột khói đen bốc cao, lan rộng ra nhiều khu vực lân cận khiến người dân ở khoảng cách khá xa vẫn có thể thấy được.

Sau vụ hỏa hoạn, có sáu người gồm nhân viên và khách đang ngồi ăn gặp nạn được đưa vào bệnh viện Nhân Dân Gia Định cấp cứu trong tình trạng phỏng và ngạt khí nhiều mức độ.

Lực lượng hữu trách phong tỏa hiện trường vụ cháy. (Hình: Q.Hải/Dân Việt)

Sau khi hội chẩn liên viện, năm nạn nhân được chuyển về Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị.

Đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, các bệnh nhân đều bị phỏng hô hấp – một trong những tổn thương nặng và nguy hiểm nhất ở nạn nhân hỏa hoạn. Bệnh nhân được điều trị chống sốc do phỏng, hỗ trợ thở máy, nhiều lần rửa phổi để làm sạch muội than bám trong khí quản và phế quản nhằm cải thiện hô hấp. Tuy nhiên, muội than bám vào niêm mạc đường hô hấp rất khó loại bỏ, dễ gây kích ứng, viêm, phù nề, khiến người bệnh suy hô hấp nặng đe dọa tính mạng.

Chủ quán ăn gia đình là bà MTAN, 24 tuổi, quê An Giang, đã xuất trình giấy phép kinh doanh hợp lệ. Căn nhà số 56D Ngô Đức Kế vừa ở, vừa kết hợp kinh doanh.

Hiện nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan hữu trách điều tra. (Tr.N)