NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ 1975…- Đỗ Duy Ngọc  

Việt Luận – Viet’s Herald 

Đỗ Duy Ngọc  

Đó là những ngày cuối cùng. Cuối cùng của một nhà nước, một chế độ, một quốc gia. Lúc đấy hắn chưa nghĩ được điều đó. Hắn chỉ nghĩ Việt cộng lúc này đánh rát quá. Đánh tới tận Long Khánh rồi.

Hắn thấy có người ra đi. Đã có một vài nhà bỏ trống. Có tiếng súng ậm ì lác đác. Hắn chẳng biết làm gì. Loanh quanh. Hàng ngày hắn không đến trạm xe chờ chở đến nơi làm việc nữa. Hắn bỏ việc.

Hắn thấy trống rỗng và không biết ngày mai sẽ như thế nào nữa. Hắn chẳng biết tin tức gì của gia đình ở Đà Nẵng. Không biết gia đình hắn có xuống tàu đi vô Nam không? Anh em hắn đông quá, đi kiểu ấy làm gì cũng có kẻ thất lạc. Mấy năm rồi hắn không viết thư về nhà. Hắn là thằng con đi hoang. Bỗng dưng hắn lại nhớ nhà.

Buổi chiều xuống chậm, trời oi bức chờ mưa. Cả thành phố ngơ ngác làm sao ấy. Hắn nhớ đến số tiền gởi ngân hàng. Người người xếp hàng rút tiền. Hắn cũng xếp hàng nhưng rồi không đủ kiên nhẫn đợi. Đi về. Những chuyến xe vội vã, những căn nhà vắng chủ. Đã qua ngày 26. Hắn vẫn chưa nghĩ ra được gì, đầu óc trống rỗng. Có khi lại hỗn loạn mù mịt.

Hay là kiếm mối nào di tản một chuyến. Đi chơi thôi. Hắn thèm đi chơi đâu đó. Quanh đi quẩn lại chẳng ai quen. Hắn nhớ lời của một thằng bạn, nó bảo nghe đài khi có bản nhạc Tuyết rơi giữa mùa hè thì đến chỗ này, chỗ nọ để trực thăng đón đi. Hắn muốn qua Chợ Lớn gặp ông anh. Không biết ông anh có đi không? Làm nghề luật sư lại là sếp của một cơ quan dân vận, chắc có mối bay rồi. Nhưng thôi, phận ai nấy lo, hắn qua nhiều khi lại thêm phiền người khác.

Vẫn cơm chợ Trương Minh Giảng. Ngày hai bữa. Lê la quán vỉa hè. Bạn bè đi đâu mất hết. Tình hình có vẻ căng. Nghe nói Việt cộng đã về đến Biên Hòa. Rồi sao nữa ta? Kệ mẹ, đến đâu hay đó. Sáng định mua tờ báo xem tin tức thế nào, nhưng rồi không mua. Biết cũng thế mà không biết cũng vậy. Làm được chi. Có nước đâu cho cá vẫy.

Nghe đồn ông Thiệu bay đi rồi. Nghe nói ông Hương lên. Ai lên ai xuống thì cũng vậy. Biết chi cho mệt. Hóa ra không như hắn nghĩ, mỗi nhân vật có ảnh hưởng đến vận nước khác nhau. Người ta bảo có tay pilot nào đó cướp máy bay quay lại thả bom Dinh Độc Lập và phi trường Tân Sơn Nhứt. Hắn vẫn chưa rút được tiền nhưng ngân hàng đã đóng cửa. Bỏ mẹ, kiểu này dám mất tiền sao? Một gia tài chứ ít chi. Rồi làm sao tiếp tục sống đây. Bây giờ hắn mới ý thức nguy cơ khi trắng tay.

Chiều hôm trước hắn đã lên xe như một tình cờ ở một cơ quan của Mỹ góc Hiền Vương, Trương Minh Giảng. Một gia đình lếch thếch đi vào đấy vừa lúc hắn đi tới, một thằng bé rời tay mẹ, loạng quạng ngã, hắn dắt cậu bé theo đoàn vào và nghiễm nhiên trở thành người trong toán di tản. Xe chạy về hướng phi trường, nhưng bị quân cảnh chặn xét ở cổng xe lửa số 6 Trương Minh Ký, lệnh Tổng thống mới là không cho thanh niên ra đi. Hắn xuống và đi ngược đường xe chạy. Ghé tiệm cơm, ngồi nghĩ lung tung. Hắn liên tưởng đến cánh bèo giạt, hắn đang giạt như bèo.

Chiều 29 lúc đang đứng hút thuốc trước sân thì thấy chủ nhà hấp tấp ra đi. Cả một đoàn con cháu. Nhà có con là sĩ quan hải quân, tàu đang đợi ở cảng. Hắn định đi theo. Cả chiếc tàu thêm một người thì có làm sao. Bà cụ bảo ối giời ơi, một lần đi tàu há mồm vào đây, bây giờ lại xuống tàu đi nữa. Khổ thế! Rõ là giời đày. Chúa cứu giúp chúng con.

Lên đến cầu Trương Minh Giảng thì hắn dừng lại, bỏ đoàn quẹo qua đường. Hắn thấy mình ăn theo vô duyên. Trời chực mưa. Có tiếng nổ lớn hướng Bà Quẹo hay ngã tư Bảy Hiền. Có cột khói đen ở phía đó cuồn cuộn lên. Hắn vào quán kêu một ly bạc xỉu đá, đốt một điếu thuốc và tự nghĩ mình bỏ cuộc vậy đúng không?

Cô chủ quán nói trong trỏng: Nghe tụi nó nói mấy cha Việt cộng vô rút hết móng tay sơn màu xanh đỏ, mấy hổm rày kiếm cái cắt móng tay mà không biết để đâu, tìm hoài không thấy. Có tiếng cười hề hề: Kiếm cái kềm tui cắt cho.. Bà lo lấy chồng đi chứ Việt cộng vô là bắt lấy lính của họ đó nghe, lấy bộ đội là mạt phận rồi…

Hắn lại nghe mà chẳng nghĩ gì, hắn cũng chẳng thèm nghĩ rồi thân phận hắn ra sao nữa. Nhà thuê, chủ nhà đi rồi, trước mắt tháng này khỏi trả tiền nhà là vui rồi. Một đoàn xe lính chạy ngang, những cây súng vươn ra, đoàn xe vội vã chẳng biết đi đâu. Không khí như đông cứng lại. Hắn chợt nhớ nhà bên cạnh có hai cô bé dễ thương hình như cũng đi hôm qua rồi. Cửa nhà đóng im ỉm.

Hắn ra cảng Sài Gòn, thuyền bè, tàu lớn tàu nhỏ lung tung, người ta ra đi vội vã, chen lấn nhau. Hắn lại về. Hắn leo lên một chiếc xe đạp trong đống ngổn ngang xe cộ. Đạp như một kẻ an nhàn. Ngang Trần Quý Cáp, hắn chợt nhớ đây cũng là một địa điểm đón người. Hắn tạt vào, hòa lẫn với dòng người đang lúc nhúc ở đó. Chẳng ai hỏi giấy tờ, kiểm soát gì. Ai cũng dáo dác, mặt ai cũng thẫn thờ. Kệ mẹ. Đã bảo là bèo giạt thì cứ để cho nó giạt.

Lại chất lên xe, chở qua tòa nhà cao ở Lê Văn Duyệt. Chở đó suốt đêm. Trực thăng lên xuống trên bầu trời, súng lác đác nổ. Mờ sáng thì tan hàng. Hắn lầm lũi đi về. Phố vắng. Giấy tờ bay trắng đường. Nhiều công sở bị phá tan tành và đầy người hôi của. Hắn đi trong phố giấy bay ngập dưới chân hắn cũng không nghĩ gì. Bèo chưa trôi thì đứng lại.

Ở bên kia dãy nhà trước hẻm 220, cả một toán nhảy dù án ngữ, súng lăm le ở mấy cửa sổ. Hắn lo cho mái tóc dài chấm vai của hắn, hắn nhờ bạn cắt ngắn bớt. Hẻm lao xao. Trời vẫn không nắng nổi. Thằng bạn hải quân thắng chiếc xe Jeep cái két trước cửa: Giờ này còn ngồi đây. Đi. Thì đi. Chạy ra Bason ở Cường Để, tàu vừa nhổ neo. Chiếc tàu hàng đầy chặt người lừ đừ trôi. Vẫn còn người bám dây leo lên. Lại về.

Đến dốc cầu Trương Minh Giảng đã thấy xuất hiện đám cầm súng mang băng đỏ. Thất thểu xuống xe. Chiếc xe bị trưng dụng ngay. Hai tiếng đồng hồ sau, có lệnh buông súng đầu hàng. Đầu ngõ có nhiều người khóc. Những người lính cởi áo quần, ở trần giữa phố. Đường đầy quân trang. Bên trụ đèn, một bà già lặng lẽ đứng khóc, người lính cũng quẹt nước mắt. Có tiếng người rú kên: Trời ơi !!!

Thỉnh thoảng vẫn những tràng súng nổ và tiếng pháo đì đùng. Rồi đoàn quân với xe tăng tiến vào. Tiếng xích sắt nghiến mặt đường. Hắn thấy tê tái. Hắn nhận thức Sài Gòn đã mất. Và số tiền trong ngân hàng của hắn cũng chẳng còn. Hắn đứng ở đầu dốc hẻm 220 và cũng khóc. Hắn thấy tiếc mà không hiểu tiếc cái gì?

Đỗ Duy Ngọc  

Tháng 4.1975


 

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Xuyên Sơn

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh.

Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên.

Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi.

Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù.

Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương.

Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…

Đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản.

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác.

Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm.

Sau 30/4/75, ‘đất nước sạch bóng quân thù’, ‘cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội’…

Một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 46 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản :

Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán;

đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…

Đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng ?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng:

Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền;

kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách Ruộng đất diễn ra 

(sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…

Tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và khống chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam.

Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm;

cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc…

Một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau :

cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước.

Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…

Khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân,

đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Nỗi đau nào lớn hơn?

Nguồn: Sự Thật 30/4/1975.


 

Ngày cuối tháng 4 – Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…

Khang Duy Nguyen is in Sugar Land, TX.

Khuya nay tình cờ đọc Bài Thơ “TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN” của tác giả nhà thơ Đỗ Trung Quân sáng tác năm 1982  mà mình đọc cảm nhận thấy sự thật chua xót và phủ phàng của thân phận con người…..

1.

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm

Các anh từ Bắc vào Nam

Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc

Các anh đến

Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác

Của xì ke, gái điếm, cao bồi

Của tình dục,ăn chơi

“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính nguỵ

Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ

Các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”

Văn hoá lai căng không cội nguồn dân tộc

Ngòi bút các anh thay súng

Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi

Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ

Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản

Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn

Là thiêu thân uỷ mị, yếu hèn

Các anh hùa nhau lập toà án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể

Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý

Có anh thợ điện ra đi không về

Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me

Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa

Đi từ tuổi hai mươi

Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh

Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hoá thân vào sóng nước

Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc

Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không

Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng

Áo chùng đen đẫm máu

Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo

Những vị giáo sư trên bục giảng đường

Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi – của chúng ta.

Có tiếng cười

Và tiếng khóc.

3.

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót

Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi

Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện

Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển

Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình

Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hi sinh…

4.

Và khi ấy

Thì chính “các anh”

Những người nhân danh Hà Nội

Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới

Chửi đã đời

Chửi hả hê

Chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của chính mình

Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh

Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!

Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc

Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt

Những bà mẹ làm ra hạt lúa

Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin

Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm

Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ

Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”

Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân

Các anh

Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân

Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu

Cũng phanh ngực áo,cũng xỏ dép sa bô

Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio…

Bia ôm và gái

Các anh ngông nghênh tuyên ngôn”khôn và dại”

Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào…

Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.

Tội nghiệp em

Tội nghiệp anh

Tội nghiệp chúng ta những người thành phố

Những ai ngổn ngang quá khứ của mình

Những ai đang cố tẩy rửa “lí lịch đen”

Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.

Xin ngả nón chào các ngài

“Quan toà trong sạch”

Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi

Bình thản đổi thay lốt cũ

Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn

Hồn nhiên xanh muôn thưở

Để yên cho xương rồng, gai góc

Chân thật nở hoa.

Này đây!

Xin đổi chỗ không kì kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa

Nơi một góc (chỉ một góc thôi)

Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…

Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào”thượng đế”

Khi sống hả hê giữa một thiên đường

Ai bây giờ

Sẽ

Tạ lỗi

Với Trường Sơn?

Ngày cuối tháng 4 _ Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…..

Một ngày Đại Tang của tất cả các gia đình Việt Nam và có cả gia đình của tôi trong số phận đó.

Một ngày bi hận hãi hùng cho tất cả các chú bác quân dân cán chính và của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Một ngày cuối tháng 4, một ngày lặng lẽ trôi qua như bao ngày… nhưng nó vẫn còn hằn sâu trong tâm khảm của tất cả các gia đình Miền Nam nước Việt cách đây đã 51 năm và sẽ tiếp tục như một vết thương âm thầm trong từng gia đình có người thân mất mát trong ngày đau thương của dân Việt lưu vong. 

Xin cùng thắp nén hương lòng và tưởng Niệm Quân, Dân, Cán, Chính của chính phủ của nước Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong ngày 30 tháng Tư năm 1975 và trong suốt 20 năm chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ quân đội đồng minh đã cùng chiến đấu với chúng ta và đã hy sinh; chúng ta cũng tưởng niệm những đồng bào đã mất trên biển, trên rừng sâu trong khi đi tìm tự do, và thinh lặng tưởng niệm anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đã vị quốc vong thân hay vùi thây trên biển cả, trên rừng sâu núi thẳm khi vượt thoát cộng sản tìm tự do.

Cũng không quên cầu nguyện cho những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến. Sinh Bắc Tử Nam…. Những người cũng vì một lý tưởng thống nhất đất nước để rồi đến tận bây giờ nhiều lắm những bất an và không được đối xử tử tế bắt công ngay trong chính cuộc sống mà cả đời họ đã đánh đổi xương máu để đi tìm.

Sống đến tuổi này,  tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian.  Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

30 tháng 4 năm 2026


 

Những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Nguyen Thi Chau

Ở miền Nam, ra đường một chút là thấy cảnh người nghèo mời mọc mua vé số. Ngồi cà phê hay nhậu nhẹt vỉa hè thì cái đầu phải lắc hoặc cái tay móc túi lấy tiền ra, rồi cất vé số vô hoài.

Người miền Nam xởi lởi bao dung, chạy xe giữa đường thấy người nghèo bán vé số dạo còn dừng lại mua giúp. Sáng mua vé số thì chiều chẳng cần biết trúng hay không, có người mua quên dò cả tháng, có khi trúng mấy giải nhỏ thì hạn lãnh tiền đã hết.

Người Sài Gòn mua vé số cốt chỉ để ủng hộ người nghèo sống qua bữa. Mua vé số chỉ để nghe bước chân người bán vé số dạo bớt nặng, chỉ để bớt nghe tiếng thở dài, để né ánh mắt buồn khổ tủi đau nhìn mình, chỉ để lòng thấy nhẹ nỗi xót xa.

Người Sài Gòn đủ lý do để mua tờ vé số của người nghèo bán dạo. Mua để thấy lòng vui mà trúng trật gì cũng vui. Người miền Tây thì có thêm lý do mua vé số để mong trúng đổi đời. Mua vé số đem về để lên bàn thờ ông thần tài thổ địa thắp hương khấn vái, mơ về con độc đắc hai tỷ xa vời đang đợi ở tết Công-gô.

Thị trường tiêu thụ vé số chính là ở Sài Gòn. Nhưng người Sài Gòn có mấy ai mua vé số để muốn đánh cược với các công ty XSKT bao giờ. Còn các công ty XSKT thì dường như đánh cược với thân phận của người đi bán vé số. Mới trước đó in 10 triệu tờ vé số (tương đương 100 tỷ đồng/kỳ/Công ty XSKT), giờ tăng lên 11 triệu tờ (tương đương 110 tỷ đồng/kỳ).

Vé số in tăng nhưng tỷ lệ vé tồn bán không hết trong ngày được trả rất thấp, thậm chí có công ty không cho trả vé tồn khiến áp lực đè nặng lên các đại lý. Rồi đại lý cấp cao đè cấp thấp, cấp thấp bóp cổ người nghèo cắt giảm hoa hồng bán vé số, từ được hưởng 1.100đ/vé giờ còn 1.050đ, có nơi còn 1.000đ/vé. Người nghèo vốn đã khổ càng thêm đói rách.

Rồi người Sài Gòn vẫn phải mua, người bán vé số dạo vẫn phải bán, các công ty XSKT vẫn phải thu lợi nhuận, các đại lý vẫn phải ngồi rung đùi chờ bóp cổ người nghèo. Con tạo khổ đau vẫn phải cứ xoay vòng. Đời người bán vé số cũng mãi chỉ quẩn quanh phận nghèo.

Nước mắt khó nhọc vẫn phải cứ nuốt vào trong, nụ cười vẫn lẩn khuất trong bụi rậm cõi đời, nét mặt vẫn hằn thêm khắc khổ, mồ hôi vẫn nhễ nhại trên làn da sạm nắng, bước chân và tiếng thở dài của họ – những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Làm người, dẫu có ác, cũng đừng học theo kiểu của chó cứ cắn vào áo rách, tỏ ra không phải người.

Nguồn Mệ – Võ Đức Phúc

Tố Ngọc Trần Sưu tầm


 

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…

8 SÀI GÒN

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?”

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây “tội ác” nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá”.

Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:

Doãn quốc Sỹ:

Sau 30/4/75, Thầy – tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn – ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào “biệt kích văn hoá” của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung – Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm “Đi” dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa”.

Duyên Anh:

Sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 6 năm từ 76 đến 81. Ông bị giam tại trại giam Đầm Đùn , mà sau này ông mô tả trong cuốn “Trại Đầm Đùn” đầy sự kinh khủng của cái đói, cái rét và sự khắc nghiệt. Năm 1983, ông vượt biên sang Pháp. Năm 1988, ông bị hành hung bởi những người Việt cực đoan tại Mỹ vì những quan điểm chính trị trong quá khứ và hiện tại. Cuộc hành hung gây cho ông thương tích khá nặng, nên sau đó ông bị tai biến và mất khả năng nói và qua đời tại Pháp trong sự lặng lẽ.

Mai Thảo:

Chỉ có cây đại thụ này né được nhà tù cải tạo nhờ trốn tránh ẩn dật với nhiều tên giả ở Việt Nam sau 75. Đến năm 1977, ông đã trốn thoát khỏi VN bằng đường biển. Sang Mỹ, ông sống cô độc và làm bạn với rượu và cây viết. Ông định cư tại Cali và tiếp tục mở lại tạp chí Văn để gom góp những mảnh vỡ của văn học miền Nam. Khi mất, ông để lại tập thơ “Ta thấy hình ta là những miếu đền” – như một tiếng thở dài về sự tàn phai và thân phận lưu vong.

Tô Thùy Yên:

Ông được coi là nhà thơ lớn nhất với tư duy triết học sâu sắc của miền Nam, nên ông là nhà thơ bị đi cải tạo lâu nhất, tổng cộng 13 năm.  Năm 88, ông ra tù, ông viết ” Bài thơ Ta về”_ một kiệt tác thời hậu chiến. Bài thơ không  có sự hận thù, chỉ có bao dung và nỗi buồn trước vận nước và lòng người. Năm 1993, ông sang Mỹ và sống lặng lẽ trong tâm thế một người đã đi đến tận cùng khổ đau.

Thanh Tâm Tuyền:

Vừa là sĩ quan tâm lý chiến cấp Đại úy, vừa được coi là nhà thơ khai phóng thể thơ tự do, vừa là nhà viết tiểu thuyết hiện sinh, nên ông bị bắt đi cải tạo ngay sau 30/4 suốt 7 năm từ 75 đến 82. Trong tù, ngoài nỗi đau thế xác, ông còn chịu một nỗi đau thầm kín là một người con ông bị mất tích trên đường đi tìm tự do. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện H.O. Ông qua đời năm 2006 vì ung thư phổi.

Phan Nhật Nam:

là sĩ quan binh chủng Dù và là nhà văn quân đội với những bút ký chiến sự rực lửa, ông bị đi học tập cải tạo ngay sau 30/4. Ông chịu cảnh tù đày suốt 14 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt từ nam ra bắc, trong đó có 8 năm biệt giam. Năm 1993, ông sang Mỹ định cư theo diện H.O.

Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca:

Sau 30/4, cả hai vợ chồng đều bị bắt và liệt vào “biệt kích văn hoá”. Nhã Ca bị giam khoảng 2 năm và được thả về chăm sóc cho 6 đứa con nhỏ. Còn Trần Dạ Từ phải chịu tù đày 12 năm từ 75 đến 88 tại nhiều trại giam. Nhờ sự vận động của các tổ chức quốc tế và sự can thiệp của chính phủ Thụy Điển, gia đình vợ chồng được bảo lãnh sang Thụy Điển vào tháng 9/1988.

Nhưng cũng có nhiều người không thể vượt qua sự khắc nghiệt của trại cải tạo và đã chết.

Nguyễn Mạnh Côn:

Ông bị bắt năm 1976 và đưa đi cải tạo ở trại giam Xuyên mộc. Để phản đối chính sách của trại giam, ông đã tuyệt thực, và rồi kiệt sức và qua đời ngày 1/6/1979. Khí tiết của ông được các bạn tù nhắc lại như một huyền thoại về phẩm giá.

Hồ Hữu Tường:

Một  nhà trí thức, một nhà văn lớn cũng qua đời năm 1980 trong thời gian giam giữ tại các trại cải tạo.

Vũ Hoàng Chương:

Bị bắt vào trại cải tạo sau 30/4 nhưng được  thả về năm 76 vì bệnh tật, nhưng vì quá suy sụp sau thời gian bị giam cầm khiến ông qua đời chỉ 5 ngày sau khi về nhà.

Hoạ sĩ Choé:

Tên thật là Nguyễn Hải Chí, là một tài năng bẩm sinh, nổi danh với những bức hí hoạ chính trị sắc sảo. Sau vài tháng làm báo với chế độ mới, ông bị bắt đi cải tạo từ 76 đến 85. Sau khi ra tù, ông tìm cách vượt biên nhưng không thành nên bị tù thêm một thời gian nữa. Năm 1997, ông bị đột quỵ và hai mắt vị loà nên ông chuyển qua làm thơ. Cuối năm 2002, ông được đưa sang Mỹ chữa trị nhưng không khỏi mù. Ông mất năm 2003 tại Virginia.

Số phận các nhà văn nữ ít nghiệt ngã hơn.

Nguyễn Thị Hoàng:

Sau 75 , bà cùng gia đình đi kinh tế mới ở Suối Dầu – Khánh Hòa khoảng 3 năm, làm đủ thứ nghề từ rẫy ruộng cho đến buôn bán nhỏ để nuôi con.

Túy Hồng:

Sau 75 định cư ở Mỹ. Bà tiếp tục viết văn và cộng tác với các tạp chí cho đến khi qua đời vào ngày 19/7/2020 tại Oregon, Hoa kỳ.

Lệ Hằng:

Bà rời VN sang Úc định cư 1989. Bà tiếp tục viết và cộng tác với các tạp chí văn học Việt.

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ:

Riêng bà, là khổ. Sau 75 bà ở lại VN và trải qua những giai đoạn khó khăn, phải sống lê lết vì nuôi đứa con gái út bị bệnh. Hiện tại, bà sống ở Lộc ninh – Bình Phước với cuộc sống cũng tạm ổn nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các tổ chức văn bút.

Còn một số người ở lại VN như Sơn Nam, Võ Hồng, Quách Tấn, Vũ Hạnh. Có người hội nhập hợp tác với chế độ mới, có người lặng lẽ “gác bút”.

Câu chuyện về số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975 không chỉ là một câu chuyện văn chương, mà còn là những mảnh ghép từ nhiều phận đời với đầy đủ bi thương của một giai đoạn lịch sử vào thế kỷ 20, khi cây bút bị coi là “tội ác”.

DYNH ANH


 

TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM THỪA NHẬN SỰ THAM CHIẾN CỦA 310 NGHÌN BINH SĨ TRUNG CỘNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM?

Đặng Đình Mạnh

Bài viết đăng tải trên Người Việt

Sau 50 năm, kể từ khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn tại miền Nam kéo dài gần hai thập kỷ kết thúc cho đến nay, truyền thông của nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đã công khai cho biết có đến 310 nghìn quân Trung Cộng đã từng được Hà Nội đưa vào lãnh thổ Việt Nam để tham chiến tại miền Nam.

Tuy thông tin này không mới, vì một vài chính khách, hoặc học giả phương tây đã từng đưa tin này từ khá lâu, nhưng khi ấy, do thông tin được đưa từ một phía, nên vẫn còn gây nhiều nghi hoặc cho công chúng. Thế nhưng, khi lần này thông tin được thừa nhận chính thức từ truyền thông trong nước thì đây là lần đầu tiên.

Chúng đã giúp tái khẳng định một điều mà công chúng vốn đã nghi ngờ từ lâu về sự tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng, bên cạnh những sự trợ giúp về khí tài, phương tiện, tài chính, kỹ thuật và cố vấn quân sự từ một số quốc gia Cộng Sản như Liên Xô (cũ), Bắc Hàn, Trung Cộng…

Nghi vấn được đặt ra rằng tại sao sự việc đã được nhà cầm quyền Cộng Sản giấu diếm ngần ấy năm (hơn 50 năm), thì bây giờ lại sẵn sàng tự nhiên bạch hóa thông tin về chúng? Mặc cho việc bạch hóa thông tin này đã có thể bóc mẽ sự giả dối của chế độ về động cơ thúc đẩy cuộc cưỡng chiếm miền Nam dưới danh nghĩa “Đánh đuổi quân Mỹ xâm lược”.

Vì lẽ, với sự hiện diện, tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam thì về bản chất pháp lý, chúng không có gì khác biệt đối với sự hiện diện, tham chiến của binh sĩ Hoa Kỳ cả. Cho nên, nếu nói quân Mỹ xâm lược thì cùng lúc đó, nói quân Trung Cộng xâm lược cũng chẳng có gì là sai.

Theo đó, khi thừa nhận công khai việc đưa hơn 310 nghìn binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến vào các năm 1965-1968, trong đó, trả giá bằng số thương vong lên đến gần 2.500 người. Xem ra, chế độ Hà Nội đang kể lể cho công chúng nghe về công trạng to lớn của Trung Cộng góp phần trong chiến thắng ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế, giúp chế độ Cộng Sản nắm giữ độc quyền quyền lực chính trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong suốt 50 năm qua.

Qua đó, đã gởi những tín hiệu rất đáng lo ngại cho đất nước trong những ngày sắp đến.

Một mặt, để chế độ Hà Nội thuyết phục người dân về tính chính đáng khi mời binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ để tham gia diễn binh trong ngày kỷ niệm “chiến thắng” của chế độ.

Mặt khác, chuẩn bị tâm lý cho người dân để chấp nhận sự hà hiếp, lấn lướt của Trung Cộng trong mọi vấn đề, bao gồm cả vấn đề lãnh thổ, hải đảo trong tương lai như một cách để trả ơn.

Chưa kể đến việc tạo sự quen mắt cho công chúng khi trong tương lai, quân đội Trung Cộng có thể sẽ đổ bộ vào Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ cho chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “anh em” khi bị đe dọa về khả năng mất chính quyền.

Như để “thẩm định” điều này, ngày 24 Tháng Tư 2025, trong khi Trung Cộng gởi gần 120 binh sĩ qua Việt Nam để tập dượt, chuẩn bị cho buổi diễn binh tại Sài Gòn, thì mặt khác, truyền thông chính thức của Trung Cộng là Tân Hoa Xã cũng đã công khai thông tin về việc binh sĩ Trung Cộng đổ bộ lên bãi đá Hoài Ân, thuộc cụm đảo Thị Tứ, Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền.

Kèm theo tin, báo Trung Cộng đăng ảnh 4 binh sĩ thuộc lực lượng hải cảnh Trung Cộng đang căng quốc kỳ trên bãi đá sau khi đã đổ bộ lên đây. Điều đáng nói, vẫn theo thông tin từ Tân Hoa Xã, việc đổ bộ trùng vào ngay thời điểm người đứng đầu Trung Cộng là Chủ Tịch nước Tập Cận Bình đang có chuyến thăm và làm việc chính thức tại Hà Nội.

Liệu chừng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục lên tiếng phê phán hành động xâm nhập hải đảo, tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Cộng để bảo lưu chủ quyền của đất nước theo công pháp quốc tế, hay sẽ phải giữ im lặng để… trả ơn cho món nợ chiến tranh?

Mặt khác, việc nhà cầm quyền Cộng Sản công khai thừa nhận những công ơn to lớn của Trung Cộng, đã hỗ trợ cho Hà Nội giành chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam, vô hình trung, làm lộ mặt trái trong mối quan hệ hai nước trong những năm cuối thập kỷ bảy mươi. Khi ấy, trong sự mâu thuẫn tột độ giữa hai quốc gia Cộng Sản là Liên Xô và Trung Cộng, thì Hà Nội đã công khai chọn phe đứng về phía Liên Xô.

Rõ ràng, sau khi đã đạt được mục đích của mình là cưỡng chiếm miền Nam, nắm giữ được quyền lực độc quyền trên toàn lãnh thổ, thì việc chế độ Hà Nội chọn theo phe Liên Xô để chống lại Trung Cộng. Đồng thời, đàn áp, xua đuổi Hoa Kiều về nước là thái độ “Ăn cháo, đá bát”, “Qua cầu rút ván” khiến Trung Cộng phải động binh, đưa quân đội tràn vào 6 tỉnh biên giới để “Dạy cho Việt Nam bài học” là có nguyên nhân chính đáng, không oan uổng gì cả.

Cái oan uổng là dân chúng của 6 tỉnh biên giới không có tội tình gì mà phải chết tức tưởi, tan cửa, nát nhà vì sự bất trung, bất tín của những kẻ lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đối với đàn anh Trung Cộng.

Ngày nay, chế độ Hà Nội muốn dựa vào Trung Cộng để duy trì lâu hơn sự độc tài của mình trên đất nước, cho nên, phải ra mặt công khai kể lể ơn nghĩa ngày trước. Qua đó, ép buộc người dân phải chịu đựng những sự ức hiếp sắp tới sẽ càng ngày càng gia tăng của Trung Cộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội, chứ không chỉ trong phạm vi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo.

Thế nên, xét ra, công trạng của Trung Cộng chỉ mang lại lợi ích cho chế độ Cộng Sản Hà Nội, giúp Cộng Sản giành được chính quyền trên toàn lãnh thổ, giúp Cộng Sản duy trì sự độc tài để thu vén lợi ích cho đảng, cho cá nhân và đàn áp nhân dân.

Nhưng đối với nhân dân Việt Nam, công trạng của Trung Cộng không mạng lại lợi ích gì cho nhân dân cả, mà trái lại, còn là tai họa cho nhân dân. Theo đó, nhân dân Việt Nam không mang ơn gì của Trung Cộng cả.

Viết từ Hoa Thịnh Đốn, tháng 04/2025

* Ảnh binh sĩ Trung Cộng tham gia diễu binh tại Sài Gòn

Screenshot

 

SÀI GÒN ƠI! TA MẤT NGƯỜI NHƯ NGƯỜI ĐÃ MẤT TÊN…

Việt Luận – Viet’s Herald

Nguyễn Tuấn

Nghe tin “Sài Gòn” được định danh cho một phường làm tôi liên tưởng đến ca khúc bất hủ: “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của Nguyễn Đình Toàn. Và, một vấn đề lớn hơn: hoà giải dân tộc.

Tiếng súng chiến tranh đã lặng im nửa thế kỷ rồi. Nhưng những vết thương lòng của dân tộc vẫn chưa lành.

Sài Gòn là địa danh nổi tiếng, từng là nhịp tim của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hòa. Sài Gòn, cùng với vài thành phố ở Đông Nam Á, từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” rực rỡ.

Sau 1975, Sài Gòn đã bị xóa khỏi bản đồ, nhường chỗ cho “Thành phố hcm”.

Sự đổi tên ấy, như một nhát dao cắt đứt sợi dây liên hệ với quá khứ, khiến người miền Nam thảng thốt.

Một nhà văn tài hoa đã cất tiếng than thành nhạc: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên”.

Không chỉ là mất đi một địa danh, mà là mất đi cả một phần hồn cốt, một bản sắc từng là niềm tự hào của bao thế hệ.

Hành động đổi tên này, khi đặt cạnh cách các nền văn hóa khác đối đãi với địa danh, càng làm nổi bật sự khắc nghiệt của nó.

Khi người Anh đặt chân đến Úc, họ không xóa sạch dấu vết của người thổ dân. Những cái tên như Canberra, Woolloomooloo, Cabramatta, Parramatta. v.v. vẫn vang vọng âm hưởng bản địa. Đó là một lời tri ân cho vùng đất và con người nơi đã tạo dựng nên những vùng đất đó.

Người Mỹ cũng vậy: giữ nguyên những San Francisco, San Diego, Los Angeles – những cái tên mang hơi thở Tây Ban Nha và bản địa. Đó là cách họ ôm lấy di sản của những nền văn hóa đã có trước.

Dù không hoàn hảo, những lựa chọn này là nhịp cầu nối giữa kẻ đến và người ở, là sự thừa nhận rằng lịch sử không phải là một bản nhạc độc tấu.

Ngược lại, sau 1975 khi nhà cầm quyền Bắc Việt mới bước vào Sài Gòn, họ vội vã đổi tên thành phố, như muốn xóa sạch ký ức của một miền Nam.

Thậm chí, những địa danh như Tân Sơn Nhứt – cách viết và phát âm thân thuộc của người miền Nam – cũng bị sửa thành Tân Sơn Nhất theo giọng điệu miền Bắc. Đó là một sự ngạo mạn với lịch sử.

Sự đồng hóa này, từ tên thành phố đến cách viết từng con chữ, là một tuyên ngôn về quyền lực.

Không chỉ quyền lực, đó cũng là một nhát cắt vào trái tim người miền Nam.

Không giống như người Anh hay người Mỹ, những người tìm cách dung hòa di sản, chánh quyền mới đã chọn cách áp đặt, biến Sài Gòn thành biểu tượng của sự chinh phục hơn là hòa giải và hoà hợp.

Dẫu vậy, trong tâm hồn người miền Nam, Sài Gòn vẫn sống. Họ vẫn nói “Đi Sài Gòn”, như một lời thì thầm của ký ức, một sự phản kháng thầm lặng trước dòng chảy của thời gian. Cái tên ấy là ngọn lửa không tắt, là minh chứng rằng hòa giải không thể nở hoa trên mảnh đất mà một phần lịch sử bị chôn vùi.

Phường Sài Gòn?

Gần đây, có đề xuất đặt tên một phường ở Quận 1, là phường “Sài Gòn”. Ý tưởng này đã khuấy động những con sóng cảm xúc.

Thoạt đầu nghe qua có vẻ là một nhành ô liu, một cử chỉ tưởng như muốn xoa dịu nỗi đau của quá khứ, nhưng trong thực tế đó lại là một một sự sỉ nhục và ngạo mạn trá hình.

Sài Gòn, từng là đô thành, nay bị thu nhỏ thành một phường! Một mảnh vỡ bé nhỏ của chính mình.

Đối với những trái tim vẫn khắc khoải cái tên Sài Gòn, đây không chỉ là sự hạ thấp, mà là một vết thương mới, như thể ký ức của họ bị giam cầm trong một góc nhỏ của lịch sử.

Ý tưởng này (lấy một phường đặt tên Sài Gòn), chẳng những thiếu sự nhạy cảm, mà còn xây thêm một bức tường ngăn cách. Hòa giải không thể đến từ những hành động làm mờ đi những địa danh lịch sử.

Cần những sáng kiến trân trọng di sản Sài Gòn, những bảo tàng kể câu chuyện miền Nam, những con đường mang tên những anh hùng đã có công mở rộng bờ cõi và bảo vệ miền Nam, hay những không gian công cộng nơi mọi tiếng nói được cất lên. Chỉ khi ấy, Sài Gòn mới có thể trở thành biểu tượng của hòa hợp, chứ không phải chia rẽ.

Sau 50 năm hoà bình, từ nỗi đau mất tên Sài Gòn, đến đề xuất “phường Sài Gòn” đầy tranh cãi, đất nước vẫn đang tìm lối vượt qua những lằn ranh của quá khứ. Bài học từ người Anh và người Mỹ, với sự tôn trọng dành cho địa danh bản địa, như ánh sao dẫn đường, nhắc nhở rằng hòa hợp nên bắt đầu từ việc ôm lấy di sản của nhau.

Bằng cách mở rộng trái tim và trí óc, lắng nghe mọi tiếng nói của lịch sử, Việt Nam có thể chữa lành những vết thương chia rẽ. Hòa giải không phải là xóa bỏ khác biệt, mà là để những khác biệt ấy cùng ngân vang trong bài ca dân tộc.

Nguyễn Tuấn


 

 Cô H’Linh Hmok, 38 tuổi. là nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của người Ê đê

My Lan Pham

 Cô H’Linh Hmok, 38 tuổi trong hình hiện là tiến sĩ Vật lý, giảng viên Đại học QGTT Mexico. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở thị trấn Ea Drăng (Ea H’leo, Đắk Lắk) và được coi là nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của người Ê đê. Con đường của cô từ quê nhà Ea Drang tới ngày hôm nay rất dài, nhưng đầy ấn tượng và đáng khâm phục, theo tin từ nhiều báo và mạng xa hoi.

Cha mẹ của H’Linh có 4 con. Tuổi thơ của cô đầy thiếu thốn: “Nhà mình nghèo, không có đủ ván để che bốn bức tường, không đủ tôn để lợp trên mái nên mỗi lúc mưa thì nhà lại dột. Nước chảy lênh láng, ướt cả giường ngủ. Nhiều đêm, 6 thành viên trong gia đình ngồi co ro với miếng áo mưa che lơ lửng trên đầu. Những lúc nhà hết gạo, H’Linh và các em phải đi ngủ với cái bụng đói cồn cào”. Cô tâm sự trên báo SVVN.

Cô bé Ê đê này rất cực khổ để không bị thất học. Cô ráng đi xin lại sách cũ của các bạn đã học lớp trước để lại, tìm giấy nháp đóng thành vở học bài. Từ lớp 6 trở đi, vào mùa hè, cô đi nhổ cỏ, lượm cà phê, rửa chén bát cho quán bún phở để có tiền mua sách bút. Dù làm gì, H’Linh đều tranh thủ học bài. Kết quả cô học hết cấp 2 và thi đậu trung học nội trú N’Trang Long, tỉnh Đắk Lắk.

Được đi học ở đây khiến cuộc sống của cô tốt hơn. Cô có đủ sách vở để học, được thày cô chăm sóc tử tế. Cuối cùng cô thi đậu vào khoa  SP Vật lý của ĐH Tây Nguyên. Vào đại học là phải đối mặt với phương pháp học mới, trong khi nhà rất nghèo, có những lúc cô muốn gục ngã. Nhưng rồi H’Linh lại ráng vượt qua để trở thành sv đứng đầu lớp, và ở trong top 10 của khoa.

Cơ hội rất mong manh đến với cô khi Khoa Vật lý của Đại học La Habana, Cuba qua đại học Tây Nguyên cấp 1 suất học bổng duy nhất. H’Linh apply với mọi nỗ lực cao nhất… Và may mắn mỉm cười với cô. Cô được nhận qua Cuba học tập với học bổng toàn phần một năm học ngoại ngữ và 5 năm học chuyên ngành.

Niềm vui chưa tới bao lâu thì cha cô lâm bạo bệnh và mất. Cô cho biết khi đó gia đình cô đang lúc khó khăn đến cùng cực: “Tin mừng mở ra một cơ hội quý giá nhưng làm sao mình có thể đi du học, khi ngay đến tiền làm hồ sơ cũng không có? Mùa hè ấy, mình đi dọn cỏ thuê ở các rẫy cà phê, cực quá mà tiền công chỉ 20 nghìn đồng một ngày. Mình khóc trong tuyệt vọng nhưng rồi mình nghĩ đến bố, nghĩ về tương lai, nghĩ về ước mơ của mình. Không thể đầu hàng.” Mẹ cô đi vay tiền cho con từ quê đi xe đò 100 km về Buôn Ma Thuột để tìm cách có tiền làm hồ sơ. Và cuối cùng cô đã thuyết phục được tỉnh nhà giúp đỡ.”

1 tháng sau, cô gái trẻ đang chịu tang cha đó lên đường đi du học. Đây là lần đầu tiên cô được ra khỏi biên giới quốc gia, bay vượt nửa vòng trái đất, với nỗi mất cha vẫn nhức nhối bên trong.

6 năm đi du học là 6 năm gian khổ. Nhưng với H’Linh, được đi học là một niềm hạnh phúc. Cô học rất chăm chỉ, chịu khó, vừa học, vừa tham gia nghiên cứu khoa học, viết các bài báo chuyên ngành. Kết quả, cô tốt nghiệp cử nhân loại giỏi.

Không chấp nhận dừng lại, cô muốn mình đi xa hơn. H’Linh apply và tiếp tục nhận được học bổng toàn phần của Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia Mexico để học lên thạc sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Giáo dục đại học của Ensenada, Mexico. Cô chuyển qua Mexico học và sau khi tốt nghiệp thạc sỹ, thì thi đậu học bổng tiến sĩ. Cô đã hoàn tất và thi lấy bằng tiến sỹ ở ĐHQG Mexico, sau đó theo học sau tiến sĩ và trở thành giảng viên của trường.

Nay thì cô đã đi được nhiều nơi, làm nhiều việc. H’Linh tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các vật liệu ferroics và multiferroics không chứa chì. Đây là hướng nghiên cứu nhằm giảm thiểu tác động độc hại của kim loại này đối với sức khỏe con người và môi trường, đặc biệt trong các lĩnh vực như thiết bị điện tử và cảm biến thông minh. Cô từng tham dự nhiều hội nghị khoa học tại Mỹ, châu Âu, và thêm nhiều hiểu biết.

Giờ đây cô tha thiết muốn có thêm những nữ sinh dân tộc làm được như mình. “Là người con của Tây Nguyên, mình mong muốn truyền cảm hứng cho các bạn trẻ, đặc biệt là nữ sinh dân tộc thiểu số, để các bạn tin vào giáo dục, khoa học và khả năng thay đổi tương lai của chính mình. Hãy dám mơ lớn và hành động. Nếu không có cơ hội, hãy tự tìm hoặc tạo ra cơ hội. Nếu không có ai dẫn đường, hãy mạnh dạn bước đi trước. Mỗi bước nhỏ bạn đi hôm nay đều đưa bạn đến một tương lai tốt đẹp hơn.” H’Linh nói trên báo TPO.

Một cô gái thông minh, xinh đẹp và đầy can đảm. Xin chúc mừng cô và mong rằng ngày càng có nhiều cháu học sinh, sinh viên có thể học hỏi được những điều thú vị và bổ ích từ H’Linh.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Hình của H’Linh tại thư viện ĐHQGTT Mexico, tại lễ TN tiến sĩ, và tại 1 hội nghị khoa học ở California, Mỹ – đăng trên các báo VNN, TPO, SVVN

From: Bang Uong


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Giá xăng tăng vọt, hàng trăm tài xế Uber, Lyft ở California bỏ nghề

Ba’o Nguoi – Viet

April 18, 2026 FacebookTwitterEmailPrint

LOS ANGELES, California (NV) – Cuộc chiến Iran đẩy giá xăng tăng vọt tại California, mức cao nhất toàn quốc, đang đẩy hàng trăm ngàn tài xế Uber và Lyft vào tình thế khó khăn, buộc nhiều người phải giảm giờ làm hoặc bỏ việc, theo bản tin của Los Angeles Times ngày Thứ Bảy, 18 Tháng Tư.

Dữ liệu từ American Automobile Assn., giá xăng trung bình tại California hiện gần $6 mỗi gallon, trong khi mức trung bình toàn quốc chỉ hơn $4. Một số trạm xăng tại Los Angeles thậm chí có giá hơn $8 cho mỗi gallon. 

Xăng trên $8/gallon ở Los Angeles, California, từ đầu Tháng Tư. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

Giá xăng tăng vọt này diễn ra trong bối cảnh chiến tranh tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu, khiến chi phí nhiên liệu leo thang nhanh chóng, ảnh hưởng trực tiếp vào hoạt động làm việc của các tài xế trong dạng hành nghề tự do “gig” mà họ phải tự gánh chi phí vận hành. 

Ông John Mejia, một tài xế Lyft tại San Francisco Bay Area, cho biết thu nhập của ông giảm mạnh. Trước đây, ông có thể kiếm $400 chỉ trong ba giờ, nhưng hiện nay ông phải “cày” suốt 12 giờ mà chỉ được $200.

“Đó là bài toán kinh tế giữa việc trả ít cho tài xế và giá xăng,” ông Mejia nói. “Điều đó khiến mọi người phải bò nghề.” 

Không chỉ ông Mejia, nhiều tài xế khác cũng chia sẻ tình trạng tương tự. Bà Margarita Penalosa, tài xế toàn thời gian tại Los Angeles, cho biết trước đây bà có thể kiếm $300 trong tám giờ làm việc. Hiện nay, bà chỉ đạt khoảng $250 dù làm đến 14 giờ mỗi ngày.

“Trừ chi phí xăng, hao mòn xe và bảo trì, coi như tôi chỉ còn lại khoảng 11 đồng mỗi giờ,” bà nói. 

Trước áp lực chi phí, các tài xế buộc phải thay đổi cách làm việc. Nhiều người chọn lọc kỹ chuyến xe, tránh khu vực kẹt xe nặng, hoặc chờ những cuốc xe có giá cao hơn. Một số tài xế đang tính đến chuyện chuyển sang xe điện hoặc tìm nguồn thu nhập khác.

California hiện có hơn 800,000 tài xế làm việc theo dạng công nghệ, theo California Gig Workers Union. Với quy mô lớn như vậy, bất kỳ biến động nào về chi phí nhiên liệu đều có thể tạo ra ảnh hưởng lan rộng đến thị trường lao động và dịch vụ vận chuyển.

Các công ty như Uber và Lyft cho biết họ đã đưa ra một số biện pháp hỗ trợ, bao gồm hoàn tiền khi đổ xăng hoặc giảm giá thông qua các chương trình liên kết. Tuy nhiên, nhiều tài xế cho rằng các chương trình này có quá nhiều điều kiện, khiến lợi ích thực tế không đáng kể.

“Nếu tính toán kỹ, rất vô lý,” ông Mejia nói. “Họ không giúp gì cho chúng tôi cả.” 

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo ngay cả khi nguồn cung dầu ổn định trở lại, giá xăng cũng khó giảm nhanh. Ông Mark Zandi, kinh tế gia trưởng tại công ty phân tích thị trường Moody’s Analytics, nhận định giá nhiên liệu thường “tăng như hỏa tiễn nhưng giảm như lông chim rơi,” ám chỉ quá trình giảm giá sẽ diễn ra chậm.

Trong bối cảnh đó, ngành dịch vụ gọi xe công nghệ có thể đối mặt với những thay đổi đáng kể. Nếu nhiều tài xế tiếp tục rời bỏ, các công ty có thể buộc phải tăng giá cước để giữ chân lực lượng lao động, càng thúc đẩy chi phí sinh hoạt tăng cao hơn nữa.

Sự việc phản ánh một vòng xoáy kinh tế quen thuộc đó là giá nhiên liệu tăng không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn trực tiếp tác động đến những người lao động ở mọi tầng lớp. (MPL) [dt]