ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN


 

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi


 

CỰU CHÁNH ÁN TAND CẤP CAO ĐÀ NẴNG BỊ BẮT: VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ NẰM Ở MỘT CÁ NHÂN

Chân Trời Mới Media

Việc bắt tạm giam cựu Chánh án TAND Cấp cao tại Đà Nẵng Nguyễn Văn Bường về tội “nhận hối lộ” đánh dấu bước mở rộng đáng chú ý của vụ án tham nhũng tư pháp nghiêm trọng tại Việt Nam những năm gần đây. Sự việc này phơi bày một mạng lưới “chạy án” có tổ chức, tồn tại xuyên suốt trong ban lãnh đạo cơ quan xét xử cao nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Tính đến nay, toàn bộ dàn lãnh đạo chủ chốt của đơn vị này trong cùng giai đoạn công tác đều đã liên đới hình sự. Trước ông Bường, hai cựu Phó Chánh án là Phạm Việt Cường và Phạm Tấn Hoàng đã lần lượt nhận án 7 năm và 3 năm tù vào tháng 12/2025.

Từ hồ sơ vụ án cho thấy thực trạng đáng báo động của một “thị trường” môi giới tư pháp. Với quy mô hơn 11 tỷ đồng tang vật được xác định từ 20 vụ sai phạm. Có 16 trong số 20 vụ án thực hiện giao dịch qua ngân hàng điện tử với giá trị mỗi lần chuyển từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, cho thấy sự tự tin của các đối tượng trước các cơ chế kiểm soát dòng tiền. Hình thành mạng lưới trung gian phức tạp tác động vào kết quả án hình sự, dân sự và thương mại. Có trường hợp cần tới 5 cấp môi giới để thực hiện hành vi.

Việc một loạt cán bộ tư pháp cấp cao bị xử lý hình sự trong cùng một chuỗi vụ án đang đặt ra những câu hỏi về hiệu quả của cơ chế giám sát nội bộ trong hệ thống tòa án, cơ chế kiểm soát quyền lực và minh bạch của ngành tư pháp. Đặc biệt ở các cấp có thẩm quyền xét xử cao nhất, khi các sai phạm kéo dài nhiều năm và liên quan đến nhiều địa phương.

#chantroimoi


 

VIỆN DƯỠNG LÃO VỊ HOÀNG | DÒNG CAMILÔ | P. THỚI AN, Q. 12

Anmai CSsR

Trung Tâm Dưỡng Lão Vị Hoàng là một công trình ý nghĩa và nhân văn sâu sắc, được xây dựng bởi các tu sĩ thuộc Dòng Camillô – một dòng tu nổi tiếng với sứ mệnh phục vụ người bệnh tật và những mảnh đời bất hạnh. Mục đích chính của trung tâm này là mang đến sự chăm sóc tận tình, chu đáo cho những cụ già neo đơn, những người không có người thân bên cạnh, không còn khả năng tự lo cho bản thân, và đặc biệt là những ai đang cần một mái ấm thực sự để nương náu. Điều đáng quý ở đây là trung tâm không hề phân biệt bất kỳ ai: dù bạn theo tôn giáo nào, xuất thân từ đâu, thuộc dân tộc hay quốc tịch gì, tất cả đều được chào đón với vòng tay rộng mở và tấm lòng nhân ái.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi mà sự cô đơn và khó khăn của người cao tuổi ngày càng trở nên phổ biến, Trung Tâm Dưỡng Lão Vị Hoàng nổi lên như một ngọn hải đăng của hy vọng và tình thương. Đây không chỉ là một nơi trú ngụ, mà còn là một cộng đồng ấm áp, nơi các cụ có thể tìm thấy sự bình yên, chăm sóc y tế chuyên nghiệp, và những hoạt động tinh thần giúp họ sống vui vẻ, khỏe mạnh hơn. Nếu bạn từng tự hỏi rằng, liệu một cơ sở hiện đại, sang trọng như vậy có thực sự dành cho những người nghèo khổ, những hoàn cảnh khó khăn nhất hay không? Câu trả lời là hoàn toàn có. Vị Hoàng được xây dựng chính với sứ mệnh phục vụ những người nghèo, những ai đang chịu đựng nỗi đau của sự cô lập và thiếu thốn. Đây là nơi mà họ được chữa lành cả về thể chất lẫn tinh thần, được chăm sóc tại một môi trường xứng đáng nhất với phẩm giá con người, mà không phải lo lắng về bất kỳ chi phí nào.

Mái ấm này đặc biệt ưu tiên đón nhận những người già trên 60 tuổi đang ở trong hoàn cảnh neo đơn, không có nơi nương tựa, không có gia đình hay người thân chăm sóc. Không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, xuất thân, quốc tịch, hay thậm chí xu hướng cá nhân – tất cả đều được đối xử bình đẳng và tôn trọng. Ưu tiên cao nhất dành cho những trường hợp đặc biệt khó khăn, như những người vô gia cư, bệnh tật nặng nề, hoặc không còn khả năng tự chăm sóc bản thân. Đây là cách mà trung tâm thể hiện tinh thần bác ái Kitô giáo, nhưng mở rộng ra cho mọi người, không giới hạn bởi niềm tin tôn giáo.

Nếu bạn đang tìm kiếm thông tin chi tiết hơn, hoặc muốn hỗ trợ, hãy liên hệ ngay để được tư vấn tận tình. Trung tâm luôn sẵn sàng lắng nghe và hỗ trợ, vì sứ mệnh của họ là mang đến hy vọng cho những mảnh đời bất hạnh.

A.TÓM TẮT THÔNG TIN

Trung Tâm Dưỡng Lão Vị Hoàng được thiết kế dành riêng cho những người cao tuổi đang đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn nhất trong cuộc sống. Cụ thể, đây là nơi dành cho:

  • Những người già không có gia đình, không có con cái bên cạnh để chăm sóc, những người mà sự cô đơn đã trở thành gánh nặng hàng ngày, khiến họ cảm thấy lạc lõng giữa dòng đời hối hả.
  • Những người không có điều kiện kinh tế ổn định, không sở hữu nhà cửa hay tài sản, và đang thực sự cần một nơi nương tựa để tránh khỏi những khó khăn của cuộc sống bên ngoài, như thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn thực phẩm, hay sự cô lập xã hội.
  • Những người không có người thân nào để chăm sóc, và đang ở trong tình trạng cần được hỗ trợ y tế, tinh thần, cũng như sinh hoạt hàng ngày, vì tuổi cao sức yếu khiến họ không thể tự lo liệu.

Đặc biệt, trung tâm cam kết không phân biệt bất kỳ ai: không phân biệt tôn giáo (dù bạn là Phật tử, Công giáo, Tin lành, hay không theo tôn giáo nào), không phân biệt sắc tộc (tất cả các dân tộc đều được chào đón), không phân biệt xuất thân (dù từ nông thôn hay thành thị, giàu nghèo trước đây), không phân biệt quốc tịch (người Việt Nam hay người nước ngoài đều có thể tìm đến), và không phân biệt xu hướng cá nhân hay bất kỳ yếu tố nào khác. Tất cả đều được đối xử với sự tôn trọng và bình đẳng tuyệt đối, vì sứ mệnh của trung tâm là mang đến sự chăm sóc cho những ai cần nhất.

Về vị trí địa lý, trung tâm nằm tại một địa điểm thuận tiện và yên bình: Địa chỉ chính xác là 1366/18/16, Quốc lộ 1A, Khu phố 1, Phường Thới An, Quận 12, Thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Nơi đây dễ dàng tiếp cận từ các tuyến đường chính, giúp việc di chuyển và thăm viếng trở nên thuận lợi hơn.

Để liên hệ và tìm hiểu thêm thông tin, bạn có thể gọi đến số điện thoại chính: 098 997 7923. Đừng ngần ngại gọi nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, dù là về thủ tục đăng ký, điều kiện đón nhận, hay cách hỗ trợ trung tâm. Nhân viên và các tu sĩ luôn sẵn sàng trả lời một cách tận tình và chu đáo.

Cha phụ trách chính của trung tâm là Linh mục Trần Tô Hoài, với số điện thoại: 090 374 4850. Ông là người lãnh đạo tinh thần, đảm bảo mọi hoạt động diễn ra suôn sẻ và phù hợp với tôn chỉ nhân ái.

Ngoài ra, còn có các cha khác tham gia quản lý và phục vụ:

  • Cha Vũ Anh Hoàng, liên hệ qua số: 0383 236 699 – một vị tu sĩ tận tụy với kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi.
  • Cha Phương Đình Toại, liên hệ qua số: 0908 603 503 – người luôn mang đến sự hỗ trợ tinh thần ấm áp cho các cụ.

Nếu bạn thích liên hệ qua email, hộp thư điện tử chính thức là: vihoang@maitam.org. Đây là kênh để gửi thư hỏi đáp, đề nghị hỗ trợ, hoặc chia sẻ câu chuyện cá nhân liên quan đến trung tâm.

Tất cả thông tin này được cung cấp để đảm bảo sự minh bạch và dễ dàng tiếp cận, giúp những ai cần có thể nhanh chóng tìm đến mái ấm này.

B.GIỚI THIỆU

Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, xã hội con người ngày càng phát triển vượt bậc, mang lại vô vàn lợi ích như công nghệ tiên tiến, y tế hiện đại, và cuộc sống tiện nghi hơn. Tuy nhiên, đằng sau sự tiến bộ đó, vẫn còn những cá nhân bị bỏ lại phía sau, những mảnh đời bất hạnh phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Đặc biệt, người cao tuổi – những người đã cống hiến cả cuộc đời cho gia đình và xã hội – thường rơi vào tình cảnh cô đơn, không có khả năng mưu sinh, và thậm chí không thể tự chăm sóc bản thân mình. Họ có thể sống một mình trong những căn nhà cũ kỹ, thiếu thốn, hoặc lang thang trên đường phố, chịu đựng sự khắc nghiệt của tuổi già mà không có ai bên cạnh.

Trước nhu cầu cấp bách và nhân văn ấy, các tu sĩ thuộc Dòng Camillô – với truyền thống phục vụ người bệnh tật từ hàng trăm năm qua – đã đứng lên hành động. Họ đã cùng với các ân nhân, các nhà hảo tâm từ khắp nơi trên thế giới, chung tay góp sức để xây dựng một mái ấm dành riêng cho người cao tuổi. Mái ấm này được đặt tên là Mái ấm Vị Hoàng, và hành trình xây dựng bắt đầu từ năm 2018. Quá trình không hề dễ dàng: họ phải đối mặt với vô vàn thách thức, từ việc xin giấy phép, quyên góp kinh phí, đến xây dựng cơ sở vật chất. Thậm chí, đại dịch Covid-19 đã làm chậm trễ tiến độ, khiến mọi người phải kiên trì hơn bao giờ hết. Nhưng với sự quyết tâm và tình yêu thương, đến đầu năm 2024, Mái ấm Vị Hoàng đã chính thức hoàn thành và đi vào hoạt động, mang đến niềm vui và hy vọng cho hàng trăm người.

Mái ấm Vị Hoàng được hình thành với mục đích cao cả: phục vụ những người cao tuổi đang bệnh tật, neo đơn, không có thân nhân hay người chăm sóc bên cạnh. Đây là những người thực sự cần sự quan tâm, giúp đỡ từ cộng đồng. Đồng thời, trung tâm tạo ra một môi trường sống lành mạnh, vui vẻ, và tràn đầy sức sống, giúp các cụ có thể kéo dài tuổi thọ, sống lạc quan và yêu đời hơn dù ở tuổi xế chiều. Không chỉ dừng lại ở chăm sóc thể chất, mái ấm còn tập trung vào việc kiểm soát bệnh tật, cải thiện sức khỏe tinh thần, giúp các cụ vượt qua nỗi cô đơn và tìm thấy niềm vui trong cuộc sống hàng ngày.

Như đã đề cập, mái ấm đón nhận những người già trên 60 tuổi có hoàn cảnh neo đơn, không nơi nương tựa, không phân biệt tôn giáo hoặc nơi xuất thân. Ưu tiên dành cho những trường hợp đặc biệt khó khăn, như người vô gia cư, bệnh nặng, hoặc không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ xã hội.

TÔN CHỈ “Yêu thương – Sống khỏe – Sống vui” Tôn chỉ này không chỉ là khẩu hiệu, mà là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tại trung tâm. “Yêu thương” thể hiện qua sự chăm sóc tận tình từ các tu sĩ và nhân viên; “Sống khỏe” nhấn mạnh vào y tế và phục hồi chức năng; “Sống vui” mang đến các hoạt động tinh thần giúp các cụ quên đi nỗi buồn tuổi già.

HOẠT ĐỘNG Hoạt động tại Mái ấm Vị Hoàng được chia thành nhiều lĩnh vực, đảm bảo chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi.

a) Chăm sóc y tế Người cao tuổi tại đây được theo dõi và thăm khám định kỳ bởi các bác sĩ chuyên nghiệp, giúp phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe và điều trị kịp thời. Việc điều trị luôn tuân theo chỉ định của bác sĩ, sử dụng thuốc men và thiết bị hiện đại để đảm bảo hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, trung tâm hướng dẫn tập vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, chẳng hạn như tập luyện khẩu hình nói cho những người gặp khó khăn về ngôn ngữ, liệu pháp cơ năng để cải thiện vận động, hoặc các bài dưỡng sinh nhẹ nhàng phù hợp với tuổi tác. Đối với những cụ già yếu, bị liệt hoặc không tự di chuyển được, nhân viên sẽ hỗ trợ sinh hoạt hàng ngày một cách chu đáo, bao gồm tắm rửa, vệ sinh thân thể, ăn uống, và các nhu cầu cơ bản khác. Tất cả nhằm giúp các cụ duy trì sức khỏe tốt nhất có thể, giảm thiểu đau đớn và tăng cường sự độc lập.

b) Chăm sóc tâm lý, tinh thần Tuổi già thường đi kèm với nỗi cô đơn, trầm cảm, và mất mát, vì vậy trung tâm đặc biệt chú trọng vào khía cạnh này. Nhân viên và tu sĩ thường xuyên trò chuyện, động viên các cụ, lắng nghe câu chuyện đời họ để xoa dịu nỗi lòng. Các hoạt động chung được tổ chức thường xuyên, như sinh hoạt nhóm, vui chơi, lễ tết, sinh nhật, và kỷ niệm các dịp đặc biệt, giúp tạo không khí ấm cúng như một gia đình lớn. Tư vấn tâm lý chuyên sâu được cung cấp, cùng với điều kiện để các cụ thực hành sinh hoạt tâm linh theo niềm tin cá nhân – dù là cầu nguyện, thiền định, hay tham gia các nghi thức tôn giáo. Trung tâm còn xây dựng sự gắn bó tình thân giữa các cụ với nhau, cũng như giữa nhân viên và người cao tuổi, nhằm xoa dịu cảm giác cô đơn. Khi một cụ qua đời, trung tâm tổ chức các nghi lễ an táng trang nghiêm, và hài cốt được đặt tại nơi tôn nghiêm, thể hiện sự tôn trọng cuối cùng. Ngoài ra, các cụ có cơ hội gặp gỡ, tham gia hoạt động cùng các nhóm thiện nguyện và tình nguyện viên từ bên ngoài, giúp họ cảm thấy được kết nối với xã hội rộng lớn hơn. Tất cả đảm bảo rằng những người lớn tuổi dễ bị tổn thương nhận được sự chăm sóc an toàn, chất lượng cao mà họ thực sự xứng đáng.

c) Và các hoạt động khác Để tạo không khí vui vẻ và ý nghĩa, người cao tuổi được khuyến khích tham gia vào các công việc nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, như xâu kết tràng hạt, đóng chai nước, hoặc các hoạt động thủ công đơn giản khác. Những việc này không chỉ giúp thư giãn mà còn nâng cao giá trị sống, khiến các cụ cảm thấy mình vẫn hữu ích và đóng góp cho cộng đồng. Trung tâm còn tổ chức các lớp học, hội thảo nhỏ về sức khỏe, dinh dưỡng, hoặc chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp các cụ học hỏi và giao lưu. Tất cả hoạt động đều nhằm xây dựng một cuộc sống cân bằng, nơi tuổi già không còn là gánh nặng mà trở thành giai đoạn bình yên và hạnh phúc.

CÂU CHUYỆN TIẾP THEO

Đằng sau sự ra đời của Mái ấm Vị Hoàng là những câu chuyện xúc động, đầy tình người, và sự hy sinh thầm lặng từ nhiều cá nhân và tập thể. Hãy bắt đầu từ một bác sĩ nhân ái, người đã bị ung thư và trước khi ra đi, ông trăn trối mong muốn rằng những người vô gia cư, những mảnh đời bất hạnh ở cuối đời, khi lâm chung có thể nhìn thấy một mái nhà ấm áp trước khi nhắm mắt. Lời nguyện ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người, khơi dậy tinh thần bác ái và hành động cụ thể.

Tiếp theo là câu chuyện của một doanh nhân hảo tâm, người đã chia sẻ ý tưởng giúp đỡ người nghèo. Vợ chồng ông không ngần ngại nhường lại một mảnh đất quý giá bên bờ sông Sài Gòn, biến nó thành nền tảng cho mái ấm dành cho những người kém may mắn nhất xã hội.

Rồi có một giáo sư đại học, với tài năng và kiến thức chuyên môn, đã vẽ tặng một bản thiết kế chi tiết, tỉ mỉ, đảm bảo rằng công trình không chỉ đẹp mà còn chức năng, phù hợp với nhu cầu chăm sóc người cao tuổi.

Một nhà thầu tình nguyện đã đứng ra xây dựng, dành thời gian và công sức mà không đòi hỏi bất kỳ lợi ích nào, thể hiện tinh thần cho đi vô điều kiện.

Không thể không nhắc đến nhóm anh em Doanh Nhân Công Giáo, những người đã góp sức cả về tài chính lẫn ý tưởng, biến dự án thành hiện thực.

Và nhóm chị em Tháng Năm Rực Rỡ, với câu chuyện tình yêu thương kéo dài suốt 10 năm, bắt đầu từ những ý tưởng nhỏ bé nhưng đầy nhiệt huyết.

Hành trình kéo dài mười năm xin giấy phép, mười năm xây dựng, bắt đầu từ việc dọn dẹp bãi rác, san lấp vũng lầy, và góp từng chút một. Mười năm quyên góp từ các nhà hảo tâm khắp nơi, từ gạch đá, xi măng, đến nội thất, trang thiết bị y tế – tất cả đều được gom góp từ tấm lòng.

Anh góp của, chị góp tiền, em góp công – mọi người đều tham gia theo khả năng của mình. Có những mạnh thường quân hào sảng, xuống tay chục tỷ đồng mà không do dự, tin rằng đây là cách đầu tư ý nghĩa nhất cho cuộc đời.

Có những người vô gia cư, dù cuộc sống khó khăn, vẫn góp sức chân tay bằng cách nâng lên đặt xuống vật liệu, rồi mót túi góp vài trăm ngàn đồng – một cử chỉ nhỏ nhưng đầy xúc động.

Có những nhà máy tặng sản phẩm do chính công nhân của họ sản xuất, từ vật liệu xây dựng đến đồ dùng hàng ngày.

Có thương nhân chia sẻ: “Mới đầu tư cửa hàng thuê mới đẹp tốn nhiều tiền mà gặp mùa Covid bị phong tỏa cả năm nay không buôn bán được, giờ trả mặt bằng, gỡ đồ đạc ra cho góp lại vào đây nhé?” – một cách cho đi thực tế và kịp thời.

Nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa sau Covid, do kinh tế suy thoái, không kinh doanh được nữa, đã tặng lại hết hàng hóa tồn kho của mình, biến mất mát thành cơ hội giúp đỡ người khác.

Không ai biết ai góp nhiều hơn ai, vì mỗi đóng góp đều quý giá như nhau. Những câu chuyện vui buồn trong quá trình xây dựng kể hoài không hết, từ những khó khăn ban đầu đến niềm vui khi thấy công trình dần hình thành.

Và hôm nay, tất cả anh chị em – từ tu sĩ, ân nhân, tình nguyện viên – tụ họp nơi đây, với niềm vui tràn đầy, sự xúc động dâng trào, một hạnh phúc khó tả thành lời khi cùng nhau khánh thành Nhà Hưu Dưỡng mang tên người Bác Sĩ nhân ái Trần Vị Hoàng. Giờ đây, trung tâm đã sẵn sàng đón 100 cụ già đầu tiên về mái ấm xinh đẹp này, mang đến cho họ một cuộc sống mới đầy yêu thương.

Bạn có thể sẽ không nhìn thấy logo hay tên tuổi của bất kỳ nhà tài trợ nào nơi đây, vì tinh thần khiêm tốn và vô danh. Nhưng hãy bắt tay chào hỏi người gác cổng, và cũng đừng coi thường người quét dọn, vì biết đâu đấy lại là một doanh nhân thành đạt, một giáo sư uyên bác, một bác sĩ tài giỏi, hay thậm chí một đại tỷ phú đang làm thiện nguyện. Họ đang cho đi cái đắt giá hơn cả tiền bạc: đó chính là thời gian, sự tận tụy, và trái tim nhân ái của mình.

Lm. Anmai, CSsR


 

NGỌN ĐUỐC SỐNG

Xuyên Sơn

Quận Ba có một con đường một chiều, thời Pháp tên đường Mayer,

thời Đệ nhất Cộng Hòa đổi thành đường Hiền Vương, tức Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, vị chúa Nguyễn đời thứ tư.

Đường Hiền Vương chạy cặp theo

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi.

Trước năm 1975, quảng đường này từ ngã ba Đinh Tiên Hoàng hướng về

Công trường Dân Chủ, bên tay phải có một trường tiểu học nhỏ đối diện nghĩa trang.

Sau năm 1975, bỗng nhiên đổi tên thành Trường Tiểu học Đuốc Sống.

Tại sao là Đuốc Sống?

Cái đuốc sống này lại liên quan mật thiết đến tên của công viên bên kia đường, công viên Lê Văn Tám sau khi nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi bị giải tỏa.

Theo lịch sử đảng, Lê Văn Tám một thiếu niên đã lấy thân mình làm “ngọn đuốc sống”, đốt cháy kho xăng địch thời Nam Bộ Kháng Chiến.

Suốt một thời gian dài, gương hy sinh anh dũng của Lê Văn Tám được đưa vào sách giáo khoa, đã làm nức lòng biết bao thế hệ thanh thiếu niên, đẩy họ vào lò lửa chiến tranh chống Pháp chống Mỹ.

Nhưng chi tiết lịch sử của thiếu niên yêu nước này được giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tóm lược và đính chánh như sau:

“Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu (năm 1945 là Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền) mà tôi đã lĩnh hội như sau:

Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10/1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng, nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.”

Như vậy theo lời thú nhận của Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu, câu chuyện Lê Văn Tám đốt kho xăng Thị Nghè là chuyện do chính ông dựng đứng, hay nói cách khác là bịa ra để phục vụ nhu cầu chính trị lúc bấy giờ.

Lê Văn Tám là nhân vật không có thật, vậy chuyện Võ Thị Sáu ở Bà Rịa say sưa hát bài “Tiến Quân Ca” trong khi ra pháp trường, chắc còn phải xin keo hỏi lại các “sửa sử gia” của đảng.

Thế mới biết, các “sửa sử gia” đảng CS chẳng những giỏi nghề (giết) lịch sử, sửa lịch sử mà còn giỏi bịa lịch sử.

Sau Lê Văn Tám còn bao nhiêu anh hùng dỏm, chiến công giả được đem in trong các sách giáo khoa để thực hiện chính sách ngu dân?

Có điều lạ là sau khi giáo sư Phan Huy Lê đính chánh theo lời dặn dò của ông Trần Huy Liệu, ngọn đuốc sống vẫn “sống” mãi đến ngày nay.

Tư Thẳng

Nguồn Chân Trời Mới Media


 

Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

Phan Thúy Hà

 Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

(Phúc Trạch – Hương Khê – Hà Tĩnh)

———

Bà ngoại tôi bị bắn ngay sau buổi đấu tố, tại sân vận động xã Phúc Trạch. Đầu bà gục xuống, họ kéo xác bà lại cái hố bên bụi tre đã đào sẵn. Hôm đó đấu tố hai người, bà ngoại tôi là Hoàng Thị Chất và linh mục Trần Trọng Kiểng, vị linh mục chịu án mấy chục năm tù.

Năm năm sau, mẹ tôi bốc xương cốt bà từ cái hố bên bụi tre về nghĩa địa. Mẹ thấy nhiều vết đạn ở sọ. Trong tay bà có chuỗi tràng hạt. Bà cầu nguyện lúc đó.

Bà ngoại sinh mẹ tôi – Võ Thị Hoa – năm 1921. Ông ngoại mất khi mẹ chưa nhớ được mặt ông. Mười mấy năm sau bà ngoại đi bước nữa, sinh thêm dì Huệ. Ông bà ở xứ đạo Phủ Lễ, ven sông Ngàn Sâu. Nhà tranh ba gian, thưng mên, trong khu vườn xanh mát. Ông bà có ba sào ruộng, bà thêm nghề nấu rượu, nấu cao, ông bốc thuốc Nam.

Bắn bà, rồi họ lôi ông đi giam. Giam loanh quanh mấy nhà ở thượng huyện, rồi đưa ra trại giam nào đó ngoài miền tây Nghệ An.

Sửa sai rồi, người ta được về, ông vẫn không được về. Ông chết ở trại nào đó ngoài Nghệ An, năm 1960

Cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến ở Trung Lào. Họ đến tận nơi bắt về.

O Xuân, người làng tôi, đi chăn trâu, bị sao đó mà chết trên đồi sim. Vài ba người bị đưa đi tra hỏi về cái chết đột ngột đó.

Họ bắt cha tôi về chịu tội giết o Xuân.

Nghe tin, mẹ tôi chạy đi đưa cho cha bộ quần áo. Đội nhận bộ quần áo, đuổi mẹ về, không cho gặp cha, không cho hỏi.

Mẹ tôi ruột gan rối bời.

Mẹ bị bắn, cha dượng bị bắt, lại tới lượt chồng.

Không biết xảy ra chuyện gì.

Đoàn người kéo đến. Đuổi mẹ con ra khỏi nhà. Mẹ tôi xin thúng hột mít khô mang đi ăn đỡ.  Không cho.

Ông bà nội chỉ có một đứa con là cha tôi. Ông bà mất rồi, để lại cho cha ngôi nhà gỗ lim ba gian và hai gian nhà ngang. Hai gia đình nào đó vào ở ngôi nhà lim, một gia đình ở nhà ngang. Ruộng và vườn họ gắn bảng tên người được chia quả thực.

Ba gia đình vào ở được mấy bữa thì cãi lộn. Tháo nhà chia ba. Hai nhà vác các vì nhà đi, nhà ở lại ra vườn chặt gỗ chắp vá vào chỗ gỗ lim đã tháo.

Mẹ tôi với sáu đứa con, từ 1 đến 11 tuổi,  ra ở cái lều ngoài đồng. Ở bên nhà ngoại, dì Huệ cũng bị đuổi ra khỏi nhà. Ngôi nhà của ông bà ngoại nông dân đến ở. Dì Huệ 16 tuổi ra ngoài chòi ở một mình, không được qua lại với gia đình tôi.

Đội cho một miếng đất bên bãi bồi sông Ngàn Sâu. Bắt phải làm, không được để hoang.

Sáng, mẹ giao việc cho các con, đứa giữ em, đứa khiêng nước ngoài sông về dùng, đứa đi hái rau dại, mẹ vác cuốc ra ngoài bãi đào.

Chiều về, mẹ ra trụ sở Đội trình báo trong ngày này đã làm những gì. Đến tối, lại ra nhà ông Hường để chịu đấu tố.

Mẹ tay bồng em một tuổi, ngồi giữa sân, nghe đấu tố. Họ hỏi mẹ thuê ai chém o Xuân, mẹ bỏ thuốc độc ai. Mẹ không nhận. Mẹ im lặng họ càng giận dữ. Em ngủ gà gật trong cánh tay mẹ.

Khuya, mẹ được về. Sáng mai mẹ lại vác cuốc ra bãi sông. Cuốc hết miếng đất thì trỉa đỗ.

Đất phù sa, đỗ tốt, sai quả.

Bãi bồi, chỉ một đêm mưa to là ngập lụt. Làm nhưng không thu hoạch được. Đêm mưa, sáng mai nóng ruột, mẹ lội nước ra hái được một bao đỗ, lúc trở về nước sông dâng cao, chảy xiết, mẹ thoát chết trong gang tấc.

Em trai bốn tuổi, nóng sốt, động kinh. Hai chị em tôi chạy sang nhà ông lang bốc thuốc. Đứng ngoài bờ rào, chị tôi kêu cứu: Ông ơi em con ốm lắm, lên kinh, mẹ con nói ông có thuốc chi cứu em con với. “Chi, đồ địa chủ cho mi chết”. Ông ta trong nhà nói vọng ra. Anh Tảo đội trưởng đội cải cách ở nhà ông mà chúng tôi không biết.

Em tôi chết. Mẹ và anh tôi lấy manh chiếu cuốn em lại, buộc túm hai đầu, buộc vào cái đòn tre khiêng em đi chôn ở cồn đất người ta chỉ cho.

Dì Huệ bị canh giữ chặt ở cái chòi, không cho đến. Có thêm vài thanh niên đến nằm chắn ngang lối đi. Dì Huệ liều bước qua. Dì bị điệu đi chịu đấu tố mấy đêm liền. Tội bước qua đầu nông dân. Mẹ tôi cũng bị lôi đi, vì liên lụy.

Một năm qua đi. Tình hình bớt căng thẳng, sang giai đoạn sửa sai. Gia đình tôi nương nhờ một góc vườn nhà thờ ở xóm Thuỷ Lạc, được bà con dựng giúp nhà tre vách nứa. Dì Huệ về ở với chúng tôi. Chị em tôi được đi học.

Ba chị em học cùng lớp 1, co cụm lại với nhau, không dám chơi với các bạn. Mỗi khi thầy cô dạy bài nói đến địa chủ, phong kiến thì các bạn chỉ trỏ chúng tôi. Giờ ra chơi, vài bạn nhảy từ bàn này sang bàn khác qua đầu chị em tôi. Ra ngoài lớp, các bạn đá vào chân chúng tôi rồi cười với nhau. Chúng tôi sợ, chỉ dám về nhà méc mẹ và dì.

Cha tôi chết ngoài trại giam.

Khi cha chết rồi, một o bị bắt vì cái chết của o Xuân, được thả, mới đến nhà gặp mẹ thú tội. Tha lỗi cho em, sợ quá, em khai bậy là nhà chị thuê. Bà mẹ o Xuân thì nói: Nhà chị đạo đức, tôi không tin nhà chị làm chuyện đó. Họ nói ra những lời khi không còn giá trị gì nữa.

Một dạo, bốn giờ sáng là mẹ tôi dậy, ngồi trên giường khóc. Khóc bà ngoại, khóc con, khóc chồng. Mẹ đọc kinh cầu nguyện.

Mẹ bắt đầu một ngày mới như vậy.

Mẹ khuyến khích các con học, đọc sách.

Thấy chúng tôi học, một ông đến bảo, học làm gì, con địa chủ ai cho làm gì mà học, đi rú, đi câu cá thì hơn. Mẹ bảo, cho chúng nó đi học sau này còn biết viết cái thư, cái đơn, không phải mượn người viết là được.

Mẹ kêu đọc chuyện cho mẹ nghe. Mẹ thích nghe chuyện, và cũng là để chúng tôi tập đọc. Tôi chỉ có chuyện trong sách tập đọc để đọc. Tôi đọc cho mẹ nghe truyện ngụ ngôn “Hươu, rùa và tên địa chủ”. Tôi thấy truyện hay, mà được vài dòng, mẹ nạt, sách vậy cũng đọc, cũng học.

Chúng tôi học đến lớp 10 thì ngưng, không được xác nhận lý lịch để học lên đại. Em út (đứa em hồi mẹ bồng trong những đêm đấu tố) nay thi đỗ Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Có giấy báo nhập học. Yêu cầu lý lịch, hộ khẩu, giấy xác nhận đã bán 50 kg gạo cho Mậu dịch. Cả nhà xay giã dần tràng suốt ngày đêm để kịp bán cho Mậu dịch, lấy giấy xác nhận. Ông cán bộ xã không ký vào lý lịch cho đi học. Vậy là em không được đi học, ở nhà đi bộ đội. Đi bộ đội ba năm, em về thi lại đại học. Tôi cũng đi bộ đội, đến ngày hoà bình thi vào Đại học Bách khoa.

***

Cả gia đình tôi chuyển vào ở Bà Rịa- Vũng Tàu. Năm 1992, khi cuộc sống ổn định, chúng tôi về quê bốc hết mộ phần vào gần gia đình. Chỉ còn mộ ông ngoại và cha nữa là chưa tìm được.

Chúng tôi chỉ biết ông và cha mất ở trại giam nào đó ngoài miền Tây Nghệ An, mường tượng qua vài lá thư cha gửi về, nhưng cụ thể ở trại giam nào thì không biết.

Cha tôi mất trước ông ngoại hai năm. Khi cha mất, ông ngoại viết thư về cho biết, ông và bạn tù đã chôn cất cha, khắc bia mộ bằng đá, ghi họ tên quê quán ngày mất, một trăm năm sau cũng không mờ nếu không bị ai đập phá.

Chúng tôi nhờ người bạn tù của cha dẫn đến trại giam ở Tân Kỳ. Lục tìm hồ sơ và tìm được mộ ông ngoại. Không tìm được hồ sơ và mộ của cha tôi.

Ba năm sau chúng tôi lại đi tìm mộ cha, nhờ cả thầy tìm hài cốt, vẫn không tìm được.

Chúng tôi đi sang các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Nhờ công an giúp đỡ. Công an hướng dẫn đến trại 6. Cán bộ trại đưa cho hàng chục cuốn sổ, danh sách các cố phạm nhân cải cách ruộng đất.

Giở qua vài chục trang. Đập vào mắt chúng tôi:

Biên bản phạm nhân chết.

Phan Văn Châu. Chết ngày ngày 22/2/58. Tuổi: 38.

Thành phần: Địa chủ. Can tội: BL – CHRĐ – ĐĐND (Chúng tôi luận ra là Bóc lột – Chiếm hữu ruộng đất – Đánh đập nông dân). Án 20 năm.

Đọc bản án của cha mà nước mắt chảy tràn.

Chúng tôi ra bãi tha ma. Bãi tha ma rộng vài héc ta, trâu bò thả rong, mộ có bia, mộ không có bia, mộ gần như mất dấu, chỉ là một nấm đất, có mộ con cháu đến nhận nhưng không đưa đi được.

Tìm gần cả buổi chúng tôi không thấy mộ cha đâu. Tôi gạt hàng rào, len vào rẫy mì. Thấy một ngôi mộ. Vạch cỏ cây, thấy một bia đá vững chắc, gạt bụi đất. Tôi hét lên. Cha đây rồi. Anh em tôi nằm lăn ra trước mộ cha mà khóc, mà tạ tội.

Phan Thuý Hà


 

CHUYỆN THẤY TRƯỚC QUÁN CƠM Ở SÀI GÒN

Xuyên Sơn

CHUYỆN THẤY TRƯỚC QUÁN CƠM Ở SÀI GÒN

Người đàn ông trung niên, nhìn cách ăn mặc không sang trọng lắm, 

tôi đoán chắc thuộc giới bình dân như tôi .. Anh ta vừa cất điện thoại vào túi, sau khi bấm bấm chắc là nhắn tin cho ai đó, thì bị 1 bà già khều nhẹ sau lưng.  

Anh ta quay lại thì thấy một bà nhỏ thó, da mặt nhăn nhúm, bà chắc già cỡ  má mình nhưng trông bà kham khổ hơn nhiều. 

– Con cho bà xin 5 ngàn.

Người đàn ông hơi có chút bối rối, anh ta hỏi: 

  -Bà xin 5 ngàn làm gì ? 

  -Bà ăn cơm con ! 

  -5 ngàn làm sao đủ bà ăn cơm? 

  -Được con, cơm trắng xịt nước tương, quán cho bà thêm chén nước canh húp. Ngày nào bà cũng ăn ở đây mà! 

  Nghe đến đây như hiểu được câu chuyện và thân phận của bà già thì 

thái độ người đàn ông dứt khoát nhanh nhẹn hẳn ra: 

  – Vô đây, Con kêu cho má dĩa cơm có đồ ăn luôn. Không cho 5 ngàn, chịu hông ?

     Không đợi bà già trả lời, anh ta nắm tay kéo bà vào quán cơm ngay sau lưng, rồi ấn bà xuống ghế của cái bàn kê ngay cửa. Xong anh quay qua phía tủ quầy thức ăn, bên trong đầy nhóc đủ thứ món nói với chị chủ cũng tuổi tầm trung niên đang đứng phía sau quầy: 

  – Cho bà già dĩa cơm mắm chưng thịt  bằm, cho bả thêm tô canh thịt cải bẹ xanh nha chị . 

Nói xong  ông lại xoay qua bà già:

– Má răng cỏ đâu còn cái nào, ăn mắm chưng dễ nuốt má. kêu cá sợ bà mắc xương nữa là đổ nợ , kêu sườn nướng, bà ngó chứ ăn gì được . 

   Chị chủ quán đứng bên trong, cũng già chuyện, nói dói ra ngoài một câu: 

– Bữa nay được bữa ăn ngon hả má. 

Tui làm dĩa đặc biệt cho bà ăn cho đã nha.

    Người đàn ông móc bóp lấy ra 1 tờ 100 ngàn đưa cho chị chủ: 

–  Chị làm cho bà ly trà đá luôn, còn tiền thối chị giữ lại dặn bà mai ăn bữa nữa như vầy nha chị. kệ tội nghiệp bà già, coi như má mình. 

– Uh, Yên tâm đi anh, trưa nào mà bả không ghé đây ăn cơm  5 ngàn. bữa nào tôi cũng múc thêm đồ ăn cho bả. 

 Ngoài cửa quán thằng grab bấm kèn tin tin. 

Ông nói nhanh: 

– Ăn ngon nha má. con vọt đây, grab nó tới rồi kìa.

   Tôi cũng đang chờ xe tới rước, quan sát câu chuyện từ đầu tới cuối chưa được 10  phút. 

      Ông bạn và chị chủ quán này, từ giọng nói đến cung cách cư xử thiệt đúng chất  người SÀI GÒN.

Ngọc Thảo st