CHO TỚI GIỜ PHÚT NÀY, NGƯỜI DÂN HÀ NỘI VÀ BẮC NINH MỚI HIỂU NỖI ĐAU THẾ NÀO LÀ “GIẢI PHÓNG”

Chân Trời Mới Media

 CHO TỚI GIỜ PHÚT NÀY, NGƯỜI DÂN HÀ NỘI VÀ BẮC NINH MỚI HIỂU NỖI ĐAU THẾ NÀO LÀ “GIẢI PHÓNG”

Đã hơn nửa đời người trôi qua, cụm từ “giải phóng” được tuyên truyền rất đỗi oanh liệt, rất đỗi ngạo nghễ. Tưởng chừng như được mở ra một cuộc đời mới. Tưởng chừng như đất nước sẽ đi lên. Nhưng cho tới thời điểm hiện tại. Khi người dân Hà Nội và Bắc Ninh nằm trong diện “giải tỏa” nhà đất, để xây hai dự án. Mới nếm hưởng thực sự được “giải phóng” là gì? Đau đớn và oan trái như thế nào?

“Giải phóng” có thể hiểu là một ngày đẹp trời, mình có một mái nhà, có một khu đất, có làng xóm yên vui. Thì đột ngột bị tới ép, đuổi đi trong vòng bảy ngày, cắt điện cắt nước, căng băng rôn thì bị tháo dỡ. Không chỉ tàn phá một hai ngôi nhà, mà là hàng nghìn ngôi nhà, cùng với nhà thờ, nhà tình thương và thậm chí là nghĩa trang cũng không được buông tha. Và sau lần đó, vĩnh viễn không được nhìn thấy quê hương lần nào nữa.

Đây cũng là tâm trạng của những người dân miền Nam cách đây hơn nửa thập kỷ về trước. Cho nên, thưa quý độc giả. Có đau đớn nào cho việc đã nửa đời người trôi qua. Mà trên quê hương mình vẫn chưa bao giờ là ổn. Người dân vẫn phải lây lất kêu oan, vẫn sống trong lầm than khổ sở, vẫn “vườn không nhà trống” trong cảnh “màn trời chiếu đất”. Cụm từ “giải phóng” sao mà đắng cay đến thế. Vậy mà truyền thông, tuyên giáo nhà nước vẫn tự hào vỗ ngực xưng tên gọi đây là “chính quyền nhân dân”, một thể chế “vì dân” hay sao?

#sanbaygiabinh #duansonghong #csvncuopdat #chantroimoi


 

NHÀ THƯƠNG-DODUYNGOC

DODUYNGOC

Bây giờ mà ngồi nói chuyện với ai đó, hoặc đọc đoạn văn của ai đó mà gọi bệnh viện là nhà thương thì chắc chắn rằng ai đó chánh hiệu con nai vàng là dân Sài Gòn trước 75. Chắc chắn là như thế. 

Bởi trước 1975 ở Sài Gòn dù các bảng tên đều ghi là Bệnh viện, nhưng dân Sài Gòn vẫn gọi là nhà thương. Bởi theo quan niệm của họ đây là nơi nhà chữa trị cho người thương tật bịnh hoạn, là nơi xoa dịu nỗi đau, giúp họ khỏi bệnh tật.

Người miền Nam trước 1975 gắn liền nhà thương với tình thương, là nơi thể hiện tình cảm của những người làm ngành y tế với bệnh nhân, là nơi các soeur Công giáo hi sinh trọn đời để chăm sóc và thương yêu từng bệnh nhân, là nơi các bác sĩ, y tá hết lòng cứu chữa bệnh nhân với tình thương và trách nhiệm. Nên họ gọi bệnh viện là nhà thương, tiếng gọi bao hàm nhiều tình thân và nhân bản.

Sài Gòn thời đó có nhiều bệnh viện công do nhà nước quản lý như nhà thương Chợ Rẫy, nhà thương Chợ Quán, Bình Dân, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Hùng Vương hay nhà thương Hồng Bàng, Vì Dân…Bệnh nhân vào chữa trị ở các bệnh viện này đều được miễn phí hoàn toàn, nên còn gọi là nhà thương thí. Mang danh nhà thương thí nhưng y bác dĩ vẫn tận tâm, chữa trị đến nơi đến chốn.

Đương nhiên ở nhà thương thí thì điều kiện sinh hoạt không được tốt như những nhà thương tư. Nhưng không bao giờ có cảnh ba bốn người một giường hay điều kiện vệ sinh quá nhếch nhác như một số bệnh viện bây giờ. Cũng không có cảnh phải phong bì bồi dưỡng từ y công, y tá đến bác sĩ như bây giờ.

Thuở đó Sài Gòn cũng có nhiều bệnh viện tư dành cho người có tiền như bệnh viện Đồn Đất (Grall của Pháp) hay các bệnh viện của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…mở ra nhiều ở Sài Gòn. Nhiều nhà sinh tư nhân thì gọi là nhà bảo sanh, cũng là nơi giúp các sản phụ khi sinh nở. Ở nhiều nhà bảo sanh có các bà mụ là y tá lâu năm, tay nghề còn giỏi hơn bác sĩ

Thế nhưng, nằm nhà thương tư thì sạch sẽ, thoáng mát nhưng nếu gặp biến cố hay ca khó, bệnh nhân cũng đều phải chở vào nhà thương công, bởi mang danh là nhà thương thí nhưng ở đó đều quy tụ bác sĩ giỏi và các sinh viên y khoa ưu tú nội trú ở đấy.  Họ giỏi về chuyên môn và đối xử với bệnh nhân bằng y đức. Sanh con so hay khó sinh thì phải vào nhà thương Từ Dũ, Hùng Vương, lao phổi thì phải vào bệnh viện lao Hồng Bàng.

Cả một thời gian dài mấy chục năm, chưa bao giờ có cảnh người nhà bệnh nhân hành hung nhân viên y tế mà chỉ có một thái độ kính phục, trân trọng và biết ơn.

Thời thế đổi thay, chẳng còn ai gọi bệnh viện là nhà thương nữa. Gọi thế thành châm biếm. Bởi bây giờ chốn ấy chẳng còn tình thương, không còn là nơi để sẻ chia những đau đớn của người bệnh nữa. Giờ bệnh viện là chốn kinh doanh, có nơi tiền phòng đắt như khách sạn bốn năm sao. Vào nhập viện dù đang cấp cứu sắp chết thì cũng phải đóng tiền mới có người đến khám. Mọi sinh hoạt đều phải trả tiền, từ miếng nước cho đến giấy chùi cầu, từ ngọn đèn cho đến bông băng. Chẳng còn phân biệt công tư, chỗ nào cũng phải có tiền mới chữa. Giờ mang bệnh thì giàu có không nói làm chi, chứ khá sẽ xuống nghèo, nghèo xuống mạt và chẳng còn chi để sống, bán vợ đợ con, bán hết đất hết vườn hết ruộng hết nhà vì bệnh. Tiếc cái nhà thương thí biết bao nhiêu.

Cái tên nhà thương thí đã trở thành dĩ vãng.

Bỗng dưng nhớ tiếng nhà thương tha thiết và tiếc một thời gọi thân thương nhà thương thay cho bệnh viện.

27.6.2018

DODUYNGOC


 

HUNG DỮ -NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75- Tác giả Nguyễn Phan Quế Mai

HUNG DỮ- NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75-

(Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai)

Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng cúi đầu rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói, “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng người Việt của bạn là những người hung dữ. Người Việt chúng ta là những người hung dữ.

Đấy là tình cảnh một dịp gần đây trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jaatta Indonesia. Tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc. Chị hỏi tôi từ đâu đến? Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại rồi vuốt đi bằng xe máy. Vua cướp vật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể do bị kéo té ngã mà còn cú sang chấn về tinh thần. Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy, chị lại hoảng hốt. Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.

Chị cho biết trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh. Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn xô đẩy. Người ta bóp kèn in ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút. Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.

Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt. Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm.

Người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế. Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo lẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời. Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả, đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc đầy ấp tiếng cười. Nhưng không phải.

Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rã rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi. Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm móng của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ.

Người Việt chúng ta là những người hung dữ. Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó? Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trúc giận lên nhau. Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự thành phố Hồ Chí Minh.

Đó là Manila, Philippines và Jakarta, Indonesia. Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùng tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng. Nhưng thật lạ, trong 4 năm sống ở Manila và 1 năm rưỡi sống ởatta, tôi thấy trên đường phố dù kẹt xe đến máy ít ai bóp còi.

Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam. Và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh. Tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nặt như tôi từng gặp mỗi khi về nước. Người Việt là những người hung dữ. Câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bộc phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình.

Bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản. Trong trường học bạo hành học sinh, trên mạng xã hội, người ta có thể thoải mái mặt sắc thóa mạ lẫn nhau, đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng. Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Theo lời bình của bộ phim, tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc.

Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đại của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẫn. Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bình vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.

Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai

From: TU-PHUNG

KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Chân Trời Mới Media

 KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Đại lộ sông Hồng với tổng vốn đầu tư khoảng 730.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ thay đổi diện mạo Hà Nội. Nhưng phía sau những bản quy hoạch hiện đại và những phối cảnh hào nhoáng là một câu hỏi không thể né tránh: hơn 200.000 người dân ven sông Hồng sẽ sống bằng gì sau khi rời khỏi nơi ở và sinh kế đã gắn bó nhiều thế hệ?

Đối với người dân ở các quận, huyện ven sông như Tây Hồ, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Đông Anh hay Gia Lâm, đất đai không chỉ là tài sản. Đó là cửa hàng, xưởng sản xuất, ruộng vườn, nghề truyền thống, mạng lưới quan hệ cộng đồng và nguồn thu nhập nuôi sống cả gia đình. Một căn hộ tái định cư có thể thay thế mái nhà, nhưng không thể tự động thay thế công việc, khách hàng hay môi trường mưu sinh đã được tích lũy qua hàng chục năm.

Lịch sử của nhiều dự án giải phóng mặt bằng cho thấy không ít người dân nhận tiền đền bù nhưng sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp, thu nhập giảm sút và đời sống bấp bênh. Nếu điều tương tự xảy ra với hàng trăm nghìn người trong dự án sông Hồng, cái giá xã hội phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều những con số trên bản dự toán.

Bởi vậy, thước đo thành công của đại lộ sông Hồng không phải là chiều rộng của con đường hay giá trị bất động sản tăng lên bao nhiêu, mà là sau khi di dời, người dân có sống tốt hơn, có việc làm ổn định hơn và có tương lai tốt hơn hay không. Quy hoạch chỉ thực sự là phát triển khi không ai bị bỏ lại phía sau.

#SongHong #SinhKeNguoiDan #PhatTrienBenVung #Chantroimoi


 

Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Nguoi-Viet

 Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Mấy ngày qua, cõi mạng trong nước lẫn hải ngoại râm ran, xầm xì vụ ông giám đốc một đại lý xe ôtô VinFast lớn ở Hải Phòng thả mình xuống sông Cấm từ cầu Bến Bính. Chuyện một người đang ở đỉnh cao danh vọng, tiền tài, nắm trong tay cơ sở kinh doanh hoành tráng mà bỗng chốc chọn cách buông xuôi, ném mình vào dòng nước lạnh, hỏi sao thiên hạ không giật mình cho được.

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ việc xảy ra hôm 8 Tháng Sáu, ban đầu còn ngập ngừng, né né chữ “VinFast”, chỉ dám gọi chung chung là “giám đốc đại lý xe ôtô”. Nhưng rồi người ta cũng tìm ra danh tính, tìm ra những dòng trạng thái đầy u uẩn, bế tắc của người đàn ông xấu số trước giờ phút định mệnh.

Nhìn từ góc độ thế sự, cái chết của vị giám đốc này không đơn thuần là câu chuyện quẫn trí cá nhân. Nó là một lát cắt, một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy chát chúa về cái gọi là “áp lực cộng sinh” trong hệ sinh thái kinh doanh hiện đại tại Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp khi bắt tay với các tập đoàn lớn, cứ ngỡ mình đang vịn vào một chiếc phao cứu sinh khổng lồ để ra khơi lớn. Nhưng họ quên mất rằng, khi chiếc phao đó lao đi với tốc độ chóng mặt để đạt những tham vọng toàn cầu, những mắt xích nhỏ hơn ở bên dưới phải gồng mình chịu một lực kéo khủng khiếp. Khi dòng vốn ngưng trệ, sức mua xã hội sụt giảm, mà các điều khoản hợp đồng và chỉ tiêu doanh số vẫn lạnh lùng ép xuống, chiếc phao cứu sinh ấy lập tức biến thành hòn đá tảng, kéo ghì người ta xuống đáy sâu bế tắc.

Cái chết ở bến Bính để lại nỗi đau thắt lòng cho gia đình, và một khoảng lặng đáng sợ cho những ai đang lao vào vòng xoáy kinh doanh bất chấp sức chịu đựng của bản thân. Suy cho cùng, danh vọng, tiền tài hay cái danh hiệu “đại lý xuất sắc” cũng chẳng thể linh thiêng bằng mạng sống của một con người. Giấc mơ bay cao, bay xa của thương hiệu thì đẹp thật đó, nhưng nếu cái giá phải trả là sự kiệt quệ và những bi kịch nhảy cầu thế này, thì liệu có đáng hay không?

Sau cái chết thương tâm của vị giám đốc đại lý, theo quý vị, liệu các tập đoàn lớn có nên xem xét lại chính sách ép doanh số để chia sẻ bớt gánh nặng và áp lực sinh tử với các đối tác nhỏ hơn trong giai đoạn kinh tế khó khăn này?

Bấm vào link ở comment đầu tiên để đọc toàn văn bản tin chi tiết về vụ việc trên báo Người Việt. 


 

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng ! – Truyen ngan. Xuân Hương

Nguyen Thi Chau

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng !

Cô bạn làm chủ ghe , cho tui đi vượt biên theo , chỉ với 1/2 giá. Ngồi chung cyclo với cổ ra bến xe Chợ lớn xuống Mỹ Tho ..tui hỏi “ Ê mầy , lỡ bị bắt tao phải khai làm sao ? “ Chèn ơi , cổ véo tui một cái đau điếng rồi mắng “Mầy thiệt vô diên, miệng ăn mắm ăn muối nói chuyện xui rủi“ .

Mà xui thiệt. Ghe lớn ra cửa Vàm Láng không bao xa , thì bị túm gọn . Vô trại tạm giam , ông cán bộ răng dzàng đập bàn xong , rồi hậm hức chỉ tay vào tui ( đang ngồi sắp lớp hàng đầu ) hỏi “ai là chủ ghe ?” Theo phản xạ ..ba trợn , tự dưng tui đứng phắt dậy mắt dáo dát tìm nhỏ bạn .

May ..mà định thần kịp, ngồi xuống liền. Ông răng dzàng túm áo tui, hầm hè hỏi lần nữa “ ai là chủ ghe ? “ Chợt thấy tên du kích áo đen hồi nãy lăng xăng nạt nộ những người bị bắt , tui chỉ đại vào hắn . Cả đám người ngồi đó cười rần . Tui ăn một bạt tay trời giáng , bể mịa một cái tròng kính cận ( May ..không bị rớt ..răng ).

Nhưng vàng , nhân sâm đeo trong mình bị lột sạch . Chỉ ký tên vô sổ ngang cái dòng : Trại có giữ 5 miếng kim loại màu vàng , thôi!

Chuyển trại giam lớn Mỹ Tho. Người nhà tui chạy tiền liền -để tui về cho kịp -sợ bị mất chỗ làm việc . Cán bộ đọc tên từng người trao giấy thả tù . ổng đọc đi đọc lại Nguyễn Thị Hương , tui cứ ngồi im lặng ..xa vắng mãi . Bị tên công an trong phe cánh đá nhẹ một cái nói “ Bà đó bà ! “ Tui đứng lên nhận giấy còn càm ràm“ Tên tui sao thiếu chữ xuân “ Ông cán bộ trao giấy nói nhỏ “ Vậy chứ hồi bị bắt , má khai tên gì vậy má ?

“ Thế là tui nhớ trực vụ khai tên , năm sanh- địa chỉ công việc …xạo sự của mình liền. Hú vía , may mà được tha .

Ra khỏi trại 2 giờ trưa , áo quần rách bươm -cặp mắt kính lọt mất một tròng – dép cũng mất luôn. Quan trọng nhất là trại giam lờ tít chuyện trả lại cho tui 5 miếng kim loại màu vàng- vậy  tui còn gì để bán mà kiếm tiền về xe đây, chẳng lẽ lội bộ từ Mỹ Thơ dìa Sài Gòn sao ? Tui đọc kinh khấn hết Chúa đến Đức Mẹ cứu giúp ..lội bộ một đoạn đường xa , mà chân bỏng rát .

Cuối cùng tui bấm gan vẫy đại một chiếc xe ôm , chìa giấy thả tù , tui nói “Cháu vượt biên được thả , giờ không tiền , nhưng nhà cháu ở Sài Gòn thì có tiền trả. Chú giúp dùm cháu phương tiện đi về nhà được không. Cháu thiệt đội ơn chú “ Ông xe ôm trông hơi đứng tuổi -người khắc khổ mặt nám đen còn đeo mắt kính đen thiệt ngầu, nhưng giọng thì hiền khô hỏi “ Vậy cháu có dám ngồi xe ôm, dang nắng về Sài Gòn không ?”

Nghỉ sao mà con nhỏ chột mắt kiếng, quần áo rách bươm không dép như tui lúc đó, lại có thể giở giọng tiểu thư ngại nắng ăn lắc đầu ..được.

Tui trèo lên xe liền, không thèm hỏi giá , nói xong địa chỉ là ôm cái eo ổng …ngủ gục miết . ( Bị trại giam chật chỗ ngủ ngồi) tui lại bị nhét ngồi gần cầu tiêu .. Mùi nồng nặc xông lên ..mắt trợn trừng đau khổ, ngủ gì nỗi mấy đêm nay , hở trời ?

Xe chạy gần qua Chợ Bến Thành , ổng mới kêu lớn cho tui thức dậy để hỏi kỹ đường về quận 4 nhà tui . Chắc ổng nghe bụng tui kêu rột rột hay sao đó …mà nói “ Chắc cháu đói bụng dữ rồi phải không , chú cũng chưa ăn gì . Thôi chú chở cháu ăn bậy tô mì dằn bụng , rồi chở cháu về “ Chèn ơi , buồn ngủ mà gặp chiếu manh , tui gật đầu liền ..Coi như gần cả tuần nay từ chỗ ém quân chờ ra cá lớn -đến khi bị bắt nhốt -tui chưa được ăn đúng nghĩa bao giờ .

Tui ăn hỗn hào , ào ào một lúc hai tô mì và ly trà đá bự tổ chảng .

Trong khi chú xe ôm chạy cực khổ đường trường , ăn nhỏ nhẹ có một tô mì và ly cafe đen nhỏ xíu thôi. Trời xế chiều nhưng còn sáng . Tui ngần ngại nói chú ấy có thể chờ sụp tối một chút rồi chở tui về nhà , vì tui ngại hàng xóm và công an khu vực thấy quần áo và bộ dạng của tui như vầy, sẽ biết tình cảnh vượt biên của tui liền. Như vậy dễ di hại cho tui về sau.

Chú Hiền ( Tui biết tên chú sau đó ) cũng gật đầu chịu . Hai chú cháu ngồi quán cốc lề đường , uống trà đá chuyện trò rôm rã . Chú nói chú mới ra trại cải tạo , nhà ở Sài Gòn. Nhưng không nhập được hộ khẩu ở Sài Gòn , bị chỉ định về quê . Để sinh sống , chú chạy xe ôm. Hôm nay nhân dịp chở tui về Sài Gòn , chú sẽ ghé qua nhà thăm ba má chú luôn . Chú nói ngó bộ dạng của tui , là chú tin tưởng con nhà đàng hoàng , sa cơ bị bắt vượt biên. Nên chở tui đường xa , không ngại bị lường gạt quịt tiền .

Sụp tối tui về được đến nhà , cả nhà mừng húm. Trả tiền công chú Hiền hậu hỉ và còn ghi lại địa chỉ nhà chú ở Sài Gòn để liên lạc thăm viếng sau nầy .Chị tui nói , chạy cho tui dzìa mất một cây vàng , nhưng họ nói đến ngày mai mới thả . Đâu dè họ thả sớm một ngày như vậy ?

Sáng mai tỉnh táo dọn bộ vó đi làm . Vô sở , mọi người trợn trừng mắt ngạc nhiên, coi như tui vắng mặt không xin phép đã 3 ngày , trừ đi hai ngày lễ 30 / 4 và 1/5 cùng ngày Chúa nhật . Hú vía , gần cả tuần chứ đâu phải chơi . Tui bèn đi một đường kể khổ ..bị té bong gân sưng chân nằm một chỗ . Bố tui già cả không biết sở tui ở đâu để xin phép.

Nhưng ngó cái mặt ăn nắng đen thui của tui , là họ thừa biết tui nói láo liền. Có lẽ Chúa thương phù hộ cho công trình tui đang quản lý tới lúc nghiệm thu ..Vắng tui , ai lên giá thành thanh quyết toán. Tui ở lại làm nốt công việc , với cái án treo lơ lững . Họ chờ dịp trừng phạt tui. Tui thì chờ kỳ vượt biên mới, nhất định là mình phải vượt thoát khỏi Việt Nam.

…. Cô bạn tui , nhà cổ cũng lo chạy chọt , nên cổ ra tù sau tui vài ngày .Năm sau cũng vào dịp 30/4, mùa gió êm . Nhà cổ tổ chức thêm một chuyến vượt biên mới , nhưng cổ không rủ tui đi tiếp . Chắc cổ nghỉ tui là con nhỏ ba trợn tào lao ăn nói vô duyên khiến cổ dễ bị xui xẻo chắc ? Nhưng ghe của cổ ra cửa lớn , chỉ chung chi công an bến bãi , mà qua mặt không chung công an biên phòng . Họ rượt theo bắn chìm ghe cổ , chết tan tác mấy chục nhân mạng luôn . Mạng tui lớn hay nhỏ xíu , khi không theo chuyến vượt biên đó ? Còn cô bạn tui, cổ không hên mà xui xẻo mất mạng .

Mấy chục năm trôi qua , mà tui vẫn nhớ hoài cái véo tay đau điếng của cô ấy. Nghỉ đến rồi thương cổ , và thương cho những người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển đông ..khi bỏ phiếu đi tìm tự do bằng đôi chân của mình .

Xuân Hương 


 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Việt Tân 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Có những mảnh đất không được định giá bằng diện tích hay vị trí mặt tiền, mà bằng sức chứa của những nỗi đau, sự bao dung và lòng nhân ái mà con người đã gửi lại nơi đó qua nhiều thế hệ.

Làng phong Quy Hòa, nép mình bên bờ biển suốt gần một thế kỷ qua, không đơn thuần là một địa danh hành chính.

Đó là nơi cưu mang những con người từng bị xã hội xa lánh vì bệnh tật. Đó là chứng tích sống động về tình yêu thương vô điều kiện của các nữ tu, các bác sĩ và những người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc những phận người bất hạnh. Đó cũng là mảnh đất lưu giữ những hơi thở cuối cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, một phần ký ức văn hóa đặc biệt của dân tộc.

Vậy mà giờ đây, không gian ký ức ngưng đọng của thời gian ấy sắp phải xóa sổ để nhường chỗ cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Một siêu dự án với quy mô khổng lồ gần 2.900 hecta sẽ nuốt chửng toàn bộ thung lũng yên bình này.

Chính quyền đem 20.000 tỷ đồng của tập đoàn Sun Group để đánh đổi lấy một di sản tinh thần vô giá mà không một dòng tiền nào có thể mua lại.

Một nơi vốn dĩ là thánh đường của sự xoa dịu, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn thuần khiết nhất, nay lại được chuẩn bị để biến thành chốn xa hoa, phục vụ cho những kỳ nghỉ dưỡng của giới nhà giàu.

Cứ mỗi lần một di tích bị khai tử để dựng lên những tòa nhà cao tầng, chúng ta lại tự hỏi rồi đất nước này sẽ đi về đâu khi chỉ toàn những khối bê tông vô hồn chiếm lĩnh?

Sự phát triển sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu nó được xây dựng trên sự lãng quên lịch sử và tước đoạt đi những giá trị nhân văn cốt lõi. Tiếng sóng Quy Hòa rồi đây vẫn sẽ vỗ vào bờ, nhưng liệu có còn giữ được tiếng lòng đầy trắc ẩn, hay chỉ còn là tiếng thở dài cay đắng của một di sản đã bị khai tử bởi cơn lốc thị trường?

#làngphongQuyHòa


 

Vũ Trọng Phụng của văn học Việt Nam hiện đại.

Giai Thoại Xưa

Nhà văn qua đời ở tuổi 27 nhưng để lại di sản khiến thế giới nhắc tên.

Từ một cậu bé lớn lên trong cảnh nghèo khó giữa Hà Nội đầu thế kỷ 20, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một trong những cây bút đặc biệt và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Dù chỉ sống vỏn vẹn 27 năm, ông vẫn để lại một di sản đồ sộ với hàng loạt tiểu thuyết, phóng sự và tác phẩm trào phúng được xem là kinh điển cho đến tận hôm nay.

Không chỉ nổi tiếng trong nước, Vũ Trọng Phụng còn là một trong số ít nhà văn Việt Nam có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng và được độc giả quốc tế đánh giá rất cao.

Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20/10/1912 tại Hà Nội, quê gốc ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông mồ côi cha khi chưa đầy một tuổi và lớn lên nhờ sự tảo tần của mẹ. Gia cảnh khó khăn khiến tuổi thơ của ông không mấy trọn vẹn. Sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm sống, từng làm thư ký cho một hãng buôn ở Hà Nội.

Chính cuộc sống chật vật nơi phố thị cùng những va chạm với đủ tầng lớp xã hội đã giúp Vũ Trọng Phụng sớm nhìn thấy những góc khuất của xã hội Việt Nam thời thuộc địa. Những trải nghiệm ấy dần hình thành nên một ngòi bút hiện thực sắc bén, gai góc nhưng đầy chiều sâu nhân văn.

Khoảng năm 18 tuổi, ông bắt đầu có bài viết đăng báo. Tác phẩm đầu tiên xuất hiện trên Ngọ Báo đã nhanh chóng gây chú ý bởi cách viết khác lạ và giàu tính quan sát. Đến năm 1934, ông cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay “Dứt Tình”, mở đầu cho quãng thời gian sáng tác rực rỡ nhưng rất ngắn ngủi của mình.

Chỉ trong vài năm, Vũ Trọng Phụng liên tiếp cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng như “Giông Tố”, “Số Đỏ”, “Vỡ Đê”, “Làm Đĩ”… Những tác phẩm ấy đều phản ánh trực diện xã hội Việt Nam thời nửa thực dân, nửa phong kiến với đầy rẫy những nghịch lý, giả dối và bi kịch con người.

Điểm đặc biệt trong văn chương của Vũ Trọng Phụng là ông không né tránh hiện thực. Ngòi bút của ông sắc lạnh, trào phúng nhưng cũng đầy chua xót. Ông phơi bày những mặt trái của xã hội thành thị đang bị ảnh hưởng bởi phong trào Âu hóa, nơi nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn bởi đồng tiền, danh vọng và lối sống đua đòi.

Chính vì vậy, nhiều người đã ví Vũ Trọng Phụng là “Balzac của Việt Nam”, so sánh ông với đại văn hào hiện thực nổi tiếng của Pháp. Ông cũng được xem là “ông vua phóng sự đất Bắc” nhờ những tác phẩm phóng sự gây chấn động dư luận thời bấy giờ.

Năm 1933, dưới bút danh Thiên Hư, ông cho đăng phóng sự “Cạm Bẫy Người” trên báo Nhật Tân. Tác phẩm lập tức gây chú ý bởi cách phản ánh thẳng thắn đời sống xã hội. Sau đó là hàng loạt phóng sự nổi tiếng như “Kỹ Nghệ Lấy Tây”, “Cơm Thầy Cơm Cô”, “Lục Xì”… Những tác phẩm này không chỉ phản ánh số phận người nghèo mà còn bóc trần nhiều góc tối của xã hội thuộc địa.

Ngòi bút của Vũ Trọng Phụng luôn hướng về những con người thấp bé, nghèo khổ và bị xã hội chèn ép. Dù văn phong nhiều khi sắc lạnh, châm biếm đến cay đắng, nhưng phía sau đó vẫn là sự đồng cảm rất lớn với con người.

Nhà thơ Tố Hữu từng nhận xét về ông bằng một câu nổi tiếng:

“Ông không phải là nhà cách mạng, nhưng cách mạng biết ơn ông”.

Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, “Số Đỏ” được xem là tác phẩm nổi tiếng và có sức sống mạnh mẽ nhất của Vũ Trọng Phụng.

Tiểu thuyết này lần đầu được đăng nhiều kỳ trên Hà Nội Báo từ năm 1936 rồi in thành sách năm 1938. Nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ – một thanh niên xuất thân thấp kém nhưng nhờ gặp thời mà bước chân vào tầng lớp thượng lưu – đã trở thành hình tượng kinh điển của văn học Việt Nam.

Thông qua nhân vật này, Vũ Trọng Phụng châm biếm sâu cay xã hội thành thị Hà Nội thời ấy, nơi những kẻ dốt nát, cơ hội lại được tung hô chỉ vì biết chạy theo phong trào Âu hóa.

Nhiều đoạn trong “Số Đỏ” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt, chương “Hạnh Phúc Của Một Tang Gia” từng được đưa vào chương trình Ngữ Văn lớp 11 và được xem là đỉnh cao của nghệ thuật trào phúng Việt Nam hiện đại.

Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam, “Số Đỏ” còn là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất.

Tác phẩm hiện đã được dịch ra ít nhất 7 thứ tiếng gồm Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Italy, Tây Ban Nha và Czech. Nhiều bản dịch được xuất bản tại Mỹ, Đức, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.

Năm 2002, bản dịch tiếng Anh mang tên “Dumb Luck” do giáo sư Peter Zinoman cùng bà Nguyễn Nguyệt Cầm thực hiện được phát hành tại Mỹ.

Đến năm 2003, tờ Los Angeles Times đã bình chọn đây là một trong những cuốn sách hay nhất năm.

Tác phẩm sau đó còn được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ như một ví dụ tiêu biểu của văn học Đông Nam Á hiện đại.

Năm 2021, bản dịch tiếng Trung của “Số Đỏ” do PGS Hạ Lộ thuộc Đại học Bắc Kinh thực hiện cũng nhận được nhiều lời khen từ độc giả Trung Quốc. Trên nền tảng Douban, tác phẩm được chấm điểm khá cao và nhiều người gọi đây là “kiệt tác văn học Việt Nam”.

Đến năm 2022, bản tiếng Đức “Das große Los” tiếp tục được phát hành và nhận phản hồi tích cực từ độc giả châu Âu. Các dịch giả cho rằng chính yếu tố hài hước, châm biếm và sự xung đột giữa truyền thống với hiện đại đã giúp “Số Đỏ” dễ dàng tiếp cận độc giả quốc tế.

Dù chỉ sống đến năm 1939 và qua đời vì bệnh lao phổi khi mới 27 tuổi, Vũ Trọng Phụng vẫn để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 30 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, nhiều vở kịch và hàng trăm bài báo.

Điều đáng nói là sau gần một thế kỷ, văn chương của ông vẫn chưa hề cũ.

Những gì Vũ Trọng Phụng viết về xã hội, con người, sự giả dối, chạy theo hình thức hay những nghịch lý thời đại vẫn khiến nhiều độc giả hôm nay phải bật cười rồi lặng người suy ngẫm.

Từ một chàng trai nghèo lớn lên giữa Hà Nội cũ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một tượng đài đặc biệt của văn học Việt Nam. Một cuộc đời ngắn ngủi, nhưng ngòi bút của ông vẫn sống mãi cùng thời gian.

#giaithoaixua #vutrongphung #sodo #lichsuvietnam #vanhocvietnam


 

THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

8 SÀI GÒN

  THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung trong khán phòng House of Commons, Luân Đôn. Đêm ấy lạnh buốt, ánh đèn vàng vọt chiếu xuống hàng ghế khán giả khiến tôi thấy rõ từng giọt mồ hôi lạnh đang chảy dọc sống lưng. Khi người dẫn chương trình cất giọng vang vọng: “Phạm Vi An”, cả hội trường im bặt một giây rồi vỗ tay rầm rộ. Con bé tôi – chỉ mới 15 tuổi, nhỏ nhắn, mặc chiếc áo dài Việt Nam giản dị màu xanh nhạt – bước lên bục với nụ cười khiêm nhường. Tay con cầm chiếc cúp nặng trịch, ánh flash lóa mắt. Tôi che miệng, nước mắt nóng hổi trào ra không kìm nổi.

Thế giới đang tung hô con tôi là Alisa Pham, là thần đồng, là hiện tượng toàn cầu. Nhưng chỉ mình tôi biết, để con đứng được ở đó, chúng tôi đã đi qua những địa ngục trần gian mà tôi không dám nhớ lại. Lúc này, tôi mới hiểu, hành trình của con không chỉ là những đêm thức trắng học bài, mà còn là những bí mật con giấu kín, những nỗi đau con một mình nuốt xuống để mẹ không phải lo.

Tôi tên L. quê Hà Nội. Chồng tôi mất vì ung thư khi Vi An mới lên ba. Chỉ còn hai mẹ con và bà ngoại già yếu. Nhà tôi ở ngõ nhỏ Phúc Đồng, mái ngói cũ kỹ, mùa mưa dột khắp nơi. Tiền bạc eo hẹp, tôi làm đủ nghề: may áo dài, bán hàng online, thậm chí nhận may thuê đến khuya. Nhưng Vi An khác hẳn. Ba tuổi con đã đọc thuộc lòng truyện cổ tích. Năm tuổi con đọc sách cấp hai. Những đêm hè oi bức, tôi ngồi bên con dưới mái hiên, mùi trầu không của bà ngoại thoang thoảng, hai mẹ con cắm cúi đọc sách đến khi muỗi đốt đầy tay. “Con sẽ học giỏi lắm mẹ ạ,” con hay nói, giọng non nớt nhưng đôi mắt sáng rực như chứa cả bầu trời.

Năm 2017, tôi quyết định bán hết chút tài sản, đưa hai con gái sang New Zealand định cư. Hy vọng cho con một tương lai tốt hơn. Bà ngoại đứng tiễn ở sân bay Nội Bài, nước mắt lưng tròng, tay run run nắm tay Vi An: “Về thăm bà nhé cháu.” Vi An ôm bà chặt, giọng nghẹn: “Con hứa, bà ơi.” Tôi quay đi, nuốt nước mắt. Lòng tôi lúc ấy chỉ toàn hy vọng, không ngờ phía trước là cơn ác mộng.

Đất khách lạ lẫm. Ban đầu còn ổn, tôi làm việc chăm chỉ. Nhưng rồi Covid-19 ập đến như tai ương. Công việc mất trắng. Tiền tiết kiệm cạn kiệt chỉ sau vài tháng. Chúng tôi bị đuổi khỏi nhà thuê vì nợ ba tháng. Không người thân, không bạn bè, không ai giúp. Cuối cùng, ba mẹ con đành mua chiếc xe hơi cũ giá rẻ, đậu ở bãi xe siêu thị vắng vẻ. Đó là những ngày tháng tôi không muốn nhớ đến trong mơ.

Đêm đông New Zealand, mưa tầm tã, lạnh cắt da cắt thịt. Chiếc xe chật hẹp, mùi ẩm mốc nồng nặc, kính mờ hơi nước. Vi An mới 10 tuổi, co ro dưới lớp chăn mỏng, laptop kê trên đùi, học dưới ánh đèn pin yếu ớt. Tiếng mưa rơi lộp độp trên nóc xe như trống trận. Tôi nằm cạnh, nghe tiếng con gõ bàn phím run run vì lạnh, lòng đau như có ai bóp nghẹt. “Mẹ ngủ đi, con học nốt bài,” con hay thì thầm, giọng nhỏ bé nhưng kiên cường lạ thường. Tôi cắn môi đến chảy máu, nước mắt lặng lẽ rơi. Sao con tôi phải chịu khổ thế này? Sao số phận lại hắt hủi hai mẹ con đến vậy?

Có những đêm, gió bão lớn làm xe rung lắc, tôi sợ xe lật, sợ con bị ốm. Vi An bị sốt cao, môi tím ngắt vì lạnh, nhưng con vẫn cố gõ bài. Tôi ôm con vào lòng, truyền hơi ấm từ cơ thể mình, miệng thì thầm cầu nguyện. Có hôm, tiền hết sạch, chúng tôi chỉ ăn bánh mì khô và nước lã hai ngày. Chị gái Vicky của con khóc thầm, còn Vi An im lặng, chỉ siết chặt tay tôi. Những lúc ấy, tôi oán trách trời đất, oán trách bản thân đã dắt con sang đây chịu khổ. Nội tâm tôi lúc đó như bị xé toạc, day dứt không nguôi.

Nhưng Vi An không than vãn. Con hoàn thành chương trình trung học chỉ trong 10 tháng. Ban ngày con tranh wifi miễn phí ở thư viện, ban đêm học trong xe. Có hôm mưa bão lớn, laptop con sắp hết pin, bài luận cuối cùng phải nộp để xin vào đại học. Tay con run lẩy bẩy vì đói và lạnh, nhưng con vẫn gõ những dòng chữ cuối cùng. Tôi nắm chặt tay con, nước mắt rơi: “Mẹ tin con. Mẹ ở đây với con.”

Khi thư chấp nhận từ Đại học Công nghệ Auckland (AUT) gửi đến, con tôi chỉ mới 11 tuổi trở thành sinh viên trẻ nhất lịch sử trường. Tôi ôm con khóc nức nở trong xe hơi. Niềm vui ấy ngắn ngủi. Cuộc sống vô gia cư vẫn tiếp diễn. Nhiều đêm, tôi thức trắng nhìn hai con gái co ro ngủ, lòng đau như cắt. Tôi nghĩ đến bà ngoại ở Việt Nam, nghĩ đến những lời xì xào của họ hàng: “Đi nước ngoài chi cho khổ, ở nhà còn hơn.” Lúc ấy tôi mới hiểu, họ không sai. Nhưng tôi không thể quay đầu…

Nhưng chính đêm mưa bão kinh hoàng ấy đã thay đổi tất cả….

Đêm đó, mưa như trút nước.

Chiếc xe cũ rung lên bần bật dưới những cơn gió đông lạnh buốt. Tôi ôm chặt hai con, cố kéo chiếc chăn mỏng che kín người Vi An vì con đang sốt. Ngoài bãi đậu xe gần như không còn ai. Đồng hồ trên điện thoại hiện 2 giờ sáng. Pin chỉ còn 3%.

Rồi bất ngờ… có tiếng gõ cửa kính.

“Cộc… cộc… cộc…”

Tôi giật mình thót tim. Ở nơi đất khách, giữa đêm khuya, tiếng gõ cửa ấy khiến tôi hoảng sợ đến nghẹt thở. Tôi kéo Vi An sát vào lòng. Ngoài cửa là một người đàn ông lớn tuổi mặc áo mưa vàng, tay cầm đèn pin.

Ông chỉ vào bánh xe sau rồi nói chậm rãi:”Lốp xe của cô xẹp hoàn toàn rồi. Nếu trời sáng mà vẫn chạy, rất nguy hiểm.”

Tôi chết lặng.

Tôi thậm chí không còn tiền để thay lốp.

Người đàn ông ấy tên Michael, là bảo vệ ca đêm của siêu thị. Ông nhìn ba mẹ con co ro trong xe rất lâu rồi khẽ hỏi:

“Các cô… đang sống ở đây sao?”

Tôi muốn nói dối. Nhưng cuối cùng chỉ biết cúi đầu bật khóc.Đó là lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi khóc trước mặt người lạ.Michael im lặng hồi lâu rồi quay đi. Tôi tưởng ông sẽ gọi cảnh sát hoặc yêu cầu chúng tôi rời khỏi bãi xe. Nhưng khoảng hai mươi phút sau, ông quay lại với ba cốc chocolate nóng, vài chiếc bánh mì và một chiếc túi ngủ cũ.

Vi An lúc ấy đang mê man vì sốt. Con vẫn ôm chặt chiếc laptop trước ngực như sợ mất thứ duy nhất giữ tương lai của mình.Michael nhìn màn hình máy tính rồi bất ngờ hỏi?

“Con bé học đại học à?”

Tôi gật đầu trong nghẹn ngào.Ông ngồi xuống lặng người đọc bảng điểm của Vi An rất lâu. Ánh mắt ông thay đổi hẳn. Ông nói nhỏ:

“Đứa trẻ này… đặc biệt lắm.”

Sáng hôm sau, Michael dẫn chúng tôi đến một trung tâm hỗ trợ cộng đồng. Chính từ nơi đó, cuộc đời Vi An bắt đầu đổi hướng.Một giáo viên tình nguyện ở trung tâm nghe câu chuyện của con đã giới thiệu Vi An tham gia một cuộc thi học thuật quốc tế dành cho tài năng trẻ. Ban đầu, Vi An từ chối. Con nói:

“Con chỉ muốn mẹ được ngủ trong một căn phòng ấm.”Câu nói ấy khiến tôi quay mặt đi vì không thể ngăn nước mắt.Nhưng rồi con vẫn thi.Suốt nhiều tuần liền, Vi An học trong thư viện công cộng từ sáng đến tối. Có hôm con ngủ gục trên bàn vì kiệt sức. Những đứa trẻ khác có gia sư, có phòng học riêng, có đầy đủ điều kiện. Còn con tôi chỉ có một chiếc laptop cũ sắp hỏng và một ý chí khiến người lớn cũng phải xấu hổ.

Ngày kết quả công bố, Vi An đứng hạng nhất.Tin tức bắt đầu lan truyền. Báo chí New Zealand gọi con là “cô bé vô gia cư có IQ thiên tài”. Các trường đại học, tổ chức giáo dục và quỹ học bổng bắt đầu chú ý đến con.

Nhưng điều khiến tôi đau lòng nhất… là bí mật tôi phát hiện không lâu sau đó.Một tối, khi Vi An ngủ quên trên bàn học, điện thoại con sáng màn hình vì email mới gửi đến. Tôi vô tình nhìn thấy.

Đó là hàng chục email con gửi cho các giáo sư, tổ chức từ thiện và công ty công nghệ khắp thế giới.Email nào cũng bắt đầu bằng một câu giống nhau:

“Xin đừng nói với mẹ cháu.”

Tôi run tay mở đọc.Con đã âm thầm xin học bổng, xin tài trợ, thậm chí xin việc lập trình online suốt nhiều tháng trời. Con không muốn tôi biết vì sợ tôi cảm thấy mình thất bại.Có đoạn con viết:”Mẹ cháu đã hy sinh tất cả cho cháu. Cháu chỉ muốn mẹ được ngủ trên giường thật trước Giáng sinh.”Tôi bật khóc nức nở ngay trong thư viện.

Con bé mới 11 tuổi…

11 tuổi thôi… Mà đã mang trong lòng nỗi lo của một người trưởng thành.

Không lâu sau, một quỹ giáo dục ở Anh quyết định tài trợ toàn bộ học phí và sinh hoạt cho Vi An. Con được mời sang London tham gia diễn đàn tài năng trẻ toàn cầu.Đó chính là đêm tôi ngồi trong House of Commons, nhìn con bước lên sân khấu giữa tiếng vỗ tay vang dội.Nhưng khoảnh khắc khiến cả khán phòng lặng đi… là khi Vi An kết thúc bài phát biểu.Con nhìn xuống phía tôi rồi nói bằng tiếng Việt:”Mẹ ơi, cuối cùng mẹ không phải ngủ trong xe nữa rồi.”

Cả hội trường chết lặng vài giây.

Rồi tiếng vỗ tay bùng nổ như sấm.

Còn tôi… chỉ biết ôm mặt khóc.

Vì tôi hiểu, phía sau danh hiệu thần đồng mà cả thế giới tung hô, con gái tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ từng co ro trong chiếc xe lạnh giá, cố học dưới ánh đèn pin yếu ớt để cứu lấy gia đình mình.

ĐOÀN MƯỜI

Nguồn: (https://fleuri.info/21950/)


 

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Chan Dung Lanh Dao

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Suốt 18 năm qua, vụ án Bưu điện Cầu Voi (2008) không đơn thuần là một hồ sơ hình sự, mà là một “vở kịch” được dàn dựng tinh vi nhằm che giấu một sự thật kinh hoàng. Khi nhìn sâu vào 5 lỗ hổng chí mạng mà tòa án cố tình bỏ qua, người ta không khỏi rùng mình trước giả thuyết về một kế hoạch “chọn người thế thân” hoàn hảo nhất lịch sử tư pháp Việt Nam.

Hãy bắt đầu từ hiện trường vụ án: Không một dấu vân tay, không một sợi tóc hay vết ADN nào của Hồ Duy Hải được tìm thấy. Tại sao một hung thủ thực hiện vụ sát hại dã man lại có thể “bốc hơi” sạch sẽ như một bóng ma? Câu trả lời rất có thể vì hung thủ thực sự là một kẻ có “quyền lực tuyệt đối” hoặc được bảo vệ bởi một thế lực đứng sau, kẻ có đủ thời gian và kỹ nghệ để xóa sạch mọi dấu vết sinh học trước khi cơ quan điều tra vào cuộc.

Sự dàn dựng càng lộ liễu khi những vật chứng cốt lõi như dao và thớt bị tiêu hủy một cách bí ẩn, rồi được thay thế bằng đồ mua mới ngoài chợ. Đây không phải là “sai sót tố tụng” vô ý. Việc tiêu hủy vật chứng gốc là cách duy nhất để xóa sổ vĩnh viễn ADN của kẻ thủ ác thực sự, ngăn chặn mọi cuộc giám định khoa học trong tương lai có thể lật tẩy danh tính của hắn.

Đáng sợ hơn, bằng chứng ngoại phạm của Hải tại tiệm cầm đồ vào lúc 19h13 hoàn toàn bị gạt phắt. Thời không bị bẻ cong để ép một người không thể phân thân phải có mặt tại hiện trường. Hàng loạt lời khai mâu thuẫn, những hồ sơ có lợi bị rút bớt, và sự biến mất của các nhân chứng nhìn thấy “người đàn ông lạ mặt” khác tại bưu điện cho thấy có một bàn tay vô hình đang vận hành cỗ máy tố tụng. Hồ Duy Hải, một thanh niên bình thường, đã được lựa chọn để trở thành quân cờ gánh tội cho một “nhân vật tầm cỡ” nào đó.

Đến năm 2026, vụ án này vẫn là một vết sẹo nhức nhối. Dù Hội đồng Thẩm phán từng giữ nguyên bản án vào năm 2020, nhưng dư luận vẫn đổ dồn mắt vào đợt đặc xá sắp tới. Liệu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Anh Rừng có quyết định lật mở lại bức màn đen này? Quyết định đặc xá không chỉ là lòng nhân đạo, mà sẽ là cú đòn trực diện phá tan “ma trận im lặng” đã bao che cho hung thủ thực sự suốt gần hai thập kỷ qua.

https://www.facebook.com/le.anh.274642

Chân dung lãnh đạo

#chandunglanhdao 


 

Dân Hưng Yên phải quật mồ, khai mả, giao đất Trump làm sân golf

Ba’o Nguoi-Viet

May 29, 2026

HƯNG YÊN, Việt Nam (NV) – Một dự án sân golf và khu dân cư cao cấp mang thương hiệu Trump trị giá $1.5 tỷ ở Hưng Yên, Việt Nam đang vấp phải sự phẫn nộ của người dân địa phương, khi dân làng buộc phải giao đất nông nghiệp và bốc mộ người thân để nhường chỗ cho dự án.

Tờ Financial Times (FT) đưa tin rằng nông dân tại xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên, đã bắt đầu tháo dỡ một nghĩa trang tồn tại nhiều thập niên giữa những vườn cây ăn trái. Người dân ở đây bị yêu cầu di dời các ngôi mộ, lấy đất cho dự án rộng 990 hectare (khoảng 9.900.000 2) của Trump Organization và đối tác Việt Nam là Tổng Công Ty Phát Triển Đô Thị Kinh Bắc thực hiện. Dự án dự trù bao gồm các sân golf, khách sạn năm sao, biệt thự cao cấp và khu dân cư.

Một phụ nữ đạp xe ngang qua tấm biển tại lễ khởi công dự án khu nghỉ dưỡng và sân golf Trump International, Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên vào ngày 21 Tháng Năm, năm 2025.(Hình: Nhac NGUYEN / AFP via Getty Images)

Vụ việc này chạm đến một vấn đề rất sâu trong văn hóa Việt Nam, nơi mồ mả tổ tiên được xem là thiêng liêng. Tại nghĩa trang, theo FT, những bảng tên bị vỡ, chân nhang cháy dở và các bia mộ bị đánh dấu cho thấy phần hài cốt nào đã được di dời.

“Vì dự án này mà người dân bị buộc phải chuyển đi,” ông Trần Minh Hải, một nông dân trồng hoa ly, nói. Nhắc đến quan niệm của người Việt rằng mồ mả nên được để yên, ông nói thêm: “Đây là chuyện tâm linh, người ta không muốn động đến mồ mả.”

Dự án được khởi công vào Tháng Năm, năm 2025, không lâu sau khi chính quyền Việt Nam phê duyệt khoản đầu tư. Hãng Reuters đưa tin khi đó rằng ông Eric Trump, con trai của Tổng Thống Trump, phó chủ tịch điều hành của Trump Organization, đã dự lễ khởi công cùng Thủ Tướng Phạm Minh Chính. Ông Chính nói chuyến thăm của ông Eric Trump đã “tạo động lực để chúng tôi đẩy nhanh dự án này,” và yêu cầu chính quyền địa phương hỗ trợ để khu nghỉ dưỡng hoàn thành đúng tiến độ. Ông Eric Trump nói các dự án được phát triển tại Việt Nam sẽ là “niềm ao ước của toàn châu Á và cả thế giới.”

Thời điểm của dự án là khi Việt Nam, một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất cảng, đang tìm cách duy trì quan hệ tốt với Washington trong lúc đàm phán về thuế quan của Mỹ. Theo Reuters cho biết, Việt Nam phê duyệt kế hoạch đầu tư $1,5 tỷ này khi đang tìm cách tránh mức thuế nhập khẩu 46% mà ông Trump từng đề xuất. FT ghi nhận rằng lễ khởi công diễn ra sáu tuần sau khi ông Trump tuyên bố thuế quan “ngày giải phóng” và dự án được nhiều người nhìn nhận như một phần trong nỗ lực của Hà Nội nhằm giữ thiện cảm với chính quyền Trump.

Ông Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện ISEAS-Yusof Ishak, nói với FT: “Ngày càng có cảm giác rằng Việt Nam cần làm nhiều hơn để làm hài lòng chính quyền Trump về thương mại, thuế quan và mối quan ngại gần đây về quyền sở hữu trí tuệ.”

Nhưng đối với dân làng, vấn đề này rất trực tiếp và cá nhân. Bài báo của FT ghi nhận, một số cư dân nói mức bồi thường đất thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế và không đủ để thay thế sinh kế của họ. Một số người dân phàn nàn về sự đe dọa, thiếu minh bạch trong khảo sát đất và việc định giá hoa màu không công bằng.

Ông Hoàng Đô, 72 tuổi, nói ông nhận khoảng 70 triệu đồng để di dời mộ cha mẹ và con trai. “Đau lắm,” ông nói. “Tôi phẫn nộ về giá bồi thường thu hồi đất.”

Một cư dân khác, bà Bùi Thị Yến, nói bà không muốn giao phần đất vốn từng được cấp để bồi thường cho gia đình các liệt sĩ trong Chiến Tranh Việt Nam. Ông Hoàng Anh Xa, người có năm thân nhân được chôn trong nghĩa trang, đặt câu hỏi vì sao mồ mả gia đình ông phải bị di dời. “Mộ của cụ tôi đã ở đó từ năm 1967, trước khi đất nước này được thành lập, vậy tại sao tôi phải chuyển đi?” ông nói với FT.

Ông Xa cũng nói dự án đe dọa sinh kế của ông. “Tôi sẽ không thể tìm được việc khác,” ông nói. “Chúng tôi không phản đối chính sách của Đảng và nhà nước. Chúng tôi chỉ xin một điều duy nhất, giá đất phải cao hơn.”

Trump Organization nói dự án này là một khoản đầu tư lớn vào tương lai của Việt Nam. Trong thông cáo chính thức, công ty mô tả Trump International, Vietnam là dự án sân golf và khu dân cư đầu tiên mang thương hiệu Trump tại Việt Nam. Ông Eric Trump nói Việt Nam là “một trong những thị trường năng động và nhiều triển vọng nhất thế giới hiện nay,” và gọi dự án này là “một cam kết về sự xuất sắc, một sự tôn vinh văn hóa và một khoản đầu tư lâu dài vào tương lai của Việt Nam.”

Nhưng trên thực địa ở Hưng Yên, dự án xa hoa được hứa hẹn ấy đã trở thành biểu tượng đau đớn của sự di dời. Với nhiều nông dân, tranh chấp này không chỉ là chuyện tiền bạc. Đó là chuyện đất đai, tổ tiên, ký ức, và câu hỏi liệu những người dân bình thường có thật sự có tiếng nói khi một dự án mang ý nghĩa chính trị lớn xuất hiện hay không. (K.L)


 

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5

Kim Dao Lam

Fb Khanh Nguyen

Phạm Đoan Trang là một cây viết chính trị đặc biệt, không phải ở tính cách quyết liệt, hay sự lặng lẽ chấp nhận những tình huống kinh hoàng xảy ra trong đời mình, mà đi đâu, làm gì Trang cũng phải có một cây đàn.

Trong những tháng đầu năm 2020, áp lực đối với Trang ngày càng lớn, dù không hiện rõ, nhưng bằng bản năng nhạy bén của một nhà hoạt động, dự đoán được điều gì sẽ xảy đến, Phạm Đoan Trang đã di chuyển liên tục, chuyển nhà ít nhất là 4 lần cho đến khi bị bắt vào tháng 10 năm 2020.

Có những chuyến đi bất ngờ không kịp đem theo đồ đạc, Trang chỉ vác vội cái ba lô và bước ra khỏi nơi đang trú ngụ, bỏ lại mọi thứ. Có ít nhất là 3 tới 4 cây đàn đã phải bỏ lại, mà không thể quay về để lấy.

Bạn bè lúc đó thăm hỏi, có người muốn tặng quà, có người muốn gửi ít lộ phí, những Trang thường hay hỏi lại ” Em chỉ cần một cây đàn. Anh-chị có đàn guitar không thì cho em mượn”.

Trang đi ra ngoài một buổi cũng mang theo đàn. Lúc đó, anh chị em cảm giác những ngày tháng không may sắp đến nên đã tổ chức những chuyến đi chơi để Trang khuây khỏa, và cũng để, lỡ như “ngày ấy” đến, ít ra Trang cũng giữ được bên mình những kỷ niệm đẹp. Thế là Trang và đàn guitar lại cùng nhau lên đường.

Trong một chuyến đi xuống miền Tây, Trang hẹn xe ghé đón ở một ngã tư nhỏ. Từ một góc khuất, Trang khập khiểng đi ra, vai cũng vác cây đàn. Đó là hình ảnh tôi không thể quên: hình dáng một cô gái có lửa bốc trên chữ, có sự can trường đủ sức ghi vào lịch sử, do vậy mà cô đã phải chịu biết bao nhiêu những trận đòn tàn bạo, dù không thù không oán, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng mỉm cười, và ngồi xuống mở đàn, hát một bản tình ca.

Có lần hỏi Trang, nếu mai này không còn viết về những câu chuyện gai góc nữa, Trang sẽ làm gì? Trang cười, nói “thì đàn hát thôi anh”. Không biết những ngày tháng này, Trang có đàn hát được không?

Không thấy Phạm Đoan Trang nói về lòng nhân ái, nhưng những trang viết về Đồng Tâm là những cái nhìn quặn đau tình đồng bào. Trang cũng chẳng bao giờ muốn mình đứng ở tuyến đầu, cầm cờ phất như một chiến sĩ lấp lánh hào quang, nhưng Trang kiên cường đến mức chưa bao giờ lùi lại một bước nào khỏi vị trí của mình. Đó là một cô gái lớn lên với lẽ phải, công bằng của dòng máu Việt và có đủ danh dự, trách nhiệm của một trí thức với Tổ Quốc.

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5, lúc này trong trại giam, cũng như là một cách để nhắc tôi và bạn không quên Trang và những con người yêu nước can trường khác, đã góp vào lịch sử Việt Nam những thời khắc kiêu hãnh. Họ tự nguyện bước lên và chấp nhận tất cả mọi thứ, biến đời mình thành những dữ liệu thô sơ, không bóng bẩy như hàng thời trang, nhưng đó chính là những nền móng cho một ngày mai nước Việt.