Có một thời như thế đó! – Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

*****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.     *****

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 

From: Tu-Phung


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

BBC News Tiếng Việt

 BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

(Photo by HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images)

Hôm nay, báo giấy Tuổi Trẻ ra số cuối cùng. Những ngày kế tiếp, Tuổi Trẻ chỉ còn phiên bản điện tử.

Báo Người Lao Động, Pháp luật TP HCM, Phụ nữ TP HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn… thì ngưng hẳn.

Một nền báo chí sôi động hậu 1975 ở Sài Gòn-TP HCM đã “hoàn thành sứ mệnh”.

Như một sự tái hiện lịch sử: Ngày này 45 năm trước, báo Tin Sáng của Lực lượng thứ ba cũng được chính quyền tuyên bố “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Tin Sáng là tờ báo hiếm hoi trước 1975 được phép tái bản sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhưng thời gian hoạt động cũng không dài.

Cùng nhìn lại nền báo chí cách mạng của thành phố thịnh vượng nhất nước trong 50 năm qua.

#BBCNewsTiengViet #BaochiVietNam #XahoiVietNam #ChinhtriVietNam


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

Giết tình nhân và 2 người thân, ông Tây Ninh lãnh án tử

Ba’o Nguoi-Viet

June 26, 2026

TÂY NINH, Việt Nam (NV) – Hơn một tháng sau khi đâm chết tình nhân cùng mẹ và con ruột của bà này, bị cáo Nguyễn Cao Bằng, ở xã Hậu Thạnh, tỉnh Tây Ninh, bị kết án tử hình.

Báo VnExpress hôm 26 Tháng Sáu cho biết, hàng trăm người dân địa phương, trong đó có nhiều trẻ em, dự khán phiên xử lưu động được phát trực tiếp qua màn hình lớn.

Bị cáo Nguyễn Cao Bằng tại phiên tòa. (Hình: VnExpress)

Cáo trạng vụ án cho hay, bị cáo Bằng đã ly hôn, không có nghề nghiệp ổn định trước khi quen bà Mai Thị Thu Trang, 41 tuổi, mẹ đơn thân ở cùng địa phương, hồi tám năm trước.

Hai người thuê nhà trọ tại xã Hậu Thạnh sống chung như vợ chồng.

Đến Tháng Ba, do nam bị cáo không có việc làm, giữa hai người thường xảy ra cãi vã.

Bà Trang sau đó đưa con trai riêng về sống cùng mẹ ruột là bà Huỳnh Thị Điệp, mở quán ăn tại nhà.

Trong sự việc xảy ra vào đêm 19 Tháng Năm, sau khi nhậu xỉn, bị cáo Bằng giấu một con dao Thái Lan để trong cốp xe gắn máy đến nhà bà Trang.

Vừa thấy nam bị cáo, bà Trang và mẹ lớn tiếng chửi bới.

Bị cáo Bằng lần lượt đâm chết bà Điệp và con gái ngay tại chỗ.

Nam thanh niên 22 tuổi, là con trai bà Trang, lao vào ngăn cản cũng bị nam bị cáo đâm một nhát trúng ngực.

Nạn nhân liên tục van xin “Chú tha cho con” nhưng vẫn bị lãnh thêm hơn 10 nhát dao.

Tưởng nạn nhân đã chết, bị cáo Bằng vứt con dao rồi lên xe bỏ đi.

Nhưng khi thấy con trai bà Trang tỉnh lại, gắng gượng lết đi cầu cứu hàng xóm, bị cáo quay lại, la “Tao chết, mày cũng phải chết” rồi giết cho chết nam thanh niên này.

Đám tang ba nạn nhân trong vụ án mạng gây rúng động dư luận hồi tháng trước. (Hình: VietNamNet)

Vài giờ sau, bị cáo Bằng bị bắt giữ khi đang lẩn trốn cách hiện trường khoảng 2 cây số.

Tại phiên tòa, bị cáo Bằng khai rằng mình không chủ ý giết người tình, mẹ cùng con trai của nạn nhân mà chỉ “tình cờ gây án” nhưng bị Hội Đồng Xét Xử bác bỏ.

Đại diện Viện Kiểm Sát cho rằng hành vi của bị cáo “mang tính côn đồ, chỉ vì mâu thuẫn tình cảm đã tước đoạt tính mạng ba người, gây hoang mang trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.”

Khi được cho nói lời sau cùng, bị cáo Bằng gửi lời xin lỗi đến gia đình nạn nhân.

Bản án tử hình được tuyên sau khi tòa kết luận rằng bị cáo “không còn khả năng cải tạo, giáo dục và cần loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội.” (N.H.K) [dt]


 

 SỰ HY SINH THẦM LẶNG – Loc Duong

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT – HQ Luu

  SỰ HY SINH THẦM LẶNG – Loc Duong

Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng.

Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn.

Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6 bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”.

Bài viết của em như sau:

Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “ Sự hy sinh thầm lặng”.

Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì một con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.

Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “ Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”.

Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.

Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói:

“Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà”.

Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em: “Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6”.

Mẹ em nhẹ nhàng hỏi “ Phòng số 6 ở đâu chị ?”.

Cô y tá nạt “ Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi”.

Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nữa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột.

Bác sĩ hỏi: “Bệnh sao?”

Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói: “Đi chụp X quang và mua thuốc”.

Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết.

Em hỏi mẹ :“ Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ ?”.

Mẹ thở dài : “Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc”.

“Mẹ không đi chụp phim hả mẹ?”.

“ Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp”.

Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng “ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua”.

Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc :

“Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho”.

Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi. Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.

Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá.

Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu.

Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.

Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.

Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.

Loc Duong


 

SÀI GÒN-Nguồn fb LS Nguyễn Khánh Ngọc

Xuyên Sơn

SÀI GÒN

Sài Gòn sống dễ queo, dân nhập cư làm gì cũng sống được.

Không làm công nhân thì làm bưng bê, không bưng bê trong nhà hàng thì bưng bê ngoài quán cóc.

Không thôi thì sắm cái xe đẩy dạo bán cóc ổi mía ghim, bán bánh tằm,

bán cháo lòng, bán bánh tráng trộn, bán kẹo bông gòn, bán bò bía mặn,

bán xôi dứa ống…

Cái quầy bán cà phê cóc dưới gốc cây có mấy chai nước ngọt với mấy chai cà phê pha sẵn, nuôi sống được một gia đình, dựng vợ gả chồng cho con cũng từ đó.

Ở Sài Gòn thì vui, mấy giờ xuống đường chơi cũng không phải ngại.

Nửa khuya rồi, bạn gọi lâu quá không ngồi với nhau hay thành sinh viên lại chút. Ờ, thì mấy thằng lại ngồi đến tảng sáng, có bia có hột vịt lộn,

có hột gà, có trứng cút lộn, có lẩu, có tôm nhúng mù tạt, có bolero vỉa hè, có ông già như thương binh gẩy guitar hát nhạc lính… rồi có xiếc, có nuốt lửa, có biểu diễn rắn chui vào miệng thò ra ngoài mũi…

Sài Gòn mấy giờ cũng còn thức, 0h cũng được, mà 1h cũng được, 2h cũng được mà 3h cũng được, 4h cũng được mà 5h cũng được.

Sài Gòn có nhiều bar, rượu tràn như suối.

Bên cạnh bar thì cũng có quán nép vỉa hè, cá đuối chấm với nước mắm me.

Dân Sài Gòn thích ăn thịt, phải là rất nhiều thịt.

Cái gì cũng có giò nạc, loại giò to như nắm đấm, cắn ngập răng chấm nước mắm ớt từ cái chén con con để sẵn trên bàn.

Bún bò Huế cũng có giò nạc mà hủ tíu cũng có giò nạc, bánh canh bột gạo cũng có giò nạc mà bánh canh ghẹ cũng có giò nạc.

Ai không thích giò nạc thì đổi thành giò gân, giò móng.

Ăn phở thì phải có giá trụng, có đầu hành, có tương đen, có chén hột gà có chén thịt thêm.

Ăn cơm tấm nhất định phải sườn nướng, mà miếng sườn phải to tẩm đầy gia vị, mỡ tràn ra bên ngoài.

Sài Gòn đi ăn ốc, gọi đủ ốc hương nướng muối ớt, ốc giác xào sa tế, ốc mỡ xào tỏi thì cũng phải có ốc len xào nước dừa.

Ăn vừa ngọt nhiều vừa béo nhiều lại mằn mặn.

Sài Gòn thích bánh mì không, cái gì cũng chấm bánh mì không được, ăn ốc xào sa tế vẫn có bánh mì quẹt sa tế ăn kèm.

Sài Gòn dân chơi, vỉa hè có thùng nước uống miễn phí, có tủ kính bánh mì cho người nghèo.

Có quẹt xe nhìn nhìn liếc liếc phát rồi đi, tức quá thì văng tục câu “..ụ ..á”.

Ờ, thi thoảng mấy anh máu chó cũng đấm cũng đá, cũng đâm cũng chém mà cái này ít thôi, hảo hán xứ nào chẳng có.

Sài Gòn được cái ai giàu thây kệ, ai nghèo thây kệ.

Ngồi cà phê túm tụm trong câu chuyện của mình, còn thằng ngồi kế bên vừa trúng Vietlott thì kệ cụ, uống xong bàn ai nấy trả tiền thôi…

Nguồn fb LS Nguyễn Khánh Ngọc


 

Học dốt còn hơn đốt sách !

 Xuyên Sơn 

Đây là lý do ngành giáo dục suy đồi ấu trĩ, nhồi sọ sau 1975 chúng cướp,

phá hoại những gì để lại thế hệ sau . Với chúng thà giết lầm chứ không bỏ xót!

      Học dốt còn hơn đốt sách !

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.

Nhưng với bản chất bần cố nông chúng đâu biết giá trị của những cuốn sách chúng đốt phá ấy !

Là cả nền dân trí giáo dục & tâm huyết của những tiền nhân đi trước, với chúng đấy là sự ô nhục dù là kẻ thắng cuộc, chúng đem những tư tưởng phát xít vào nghành giáo dục suy đồi & nhồi sọ những thế hệ sau này thành những thành phần ngu ngơ, ngờ nghệch che dấu đi những tội ác man rợ mà chúng gây ra trong lịch sử dân tộc!

Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý…

Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ.

Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ:

Gia Long,

Trưng Vương,

Pétrus Ký,

Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát.

Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

– Ba má em làm gì mà nghèo?

– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?

– Dạ thưa quatrième année.

Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?

– Dạ.

– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm.

Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện.

Thấy cô thâu ngân nói thế,

ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì.

Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân.

Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

Thời gian qua đi.

Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu,

mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài Gòn”.

Hồi ấy nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá, sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường, nhiều người đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực…

Kho sách 60 tấn bị tiêu hủy.

Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”.

Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ.

10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.

Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá.

Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75.

Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng..

Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.

Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ.

Nó chỉ có một cái tội:

Tội đã in trước 1975…

Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.

Ông buồn bã nói:

– Chắc… năm 3.000 thì họ trả…

Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn.

Trước khi ông mất, người ta đã “không quên” đặt tên ông cho một con phố nhỏ (!?!).

Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí,

các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm.

“Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi.

Không ai biết ông ta là ai cả…

Nguồn fb Yến Hải Âu

Trong hình:

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương. 


 

Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết  

 Lagom – Wabi-sabi – Tri túc

Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết

 Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.

Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:

  • Lagom của Thụy Điển;
  • Wabi-sabi của Nhật Bản;
  • Tri túc của Phật giáo.

Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.

1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!

Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.

2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ

Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.

Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?

Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều – “that everyone should have enough but not too much.”

Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.

Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”.Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.

Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.

Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.

  •         Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
  •         Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
  •         Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?

Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.

Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.

3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.

Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?

Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.

Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ

Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.

Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tứcNgười biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.

Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.

5-    Những điểm tương đồng giữa ba triết lý

Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.

Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.

Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.

Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).

Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.

6- Ý nghĩa đối với Việt Nam

Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.

Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.

Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:  

  •         Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
  •         Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.

Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”

Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.

Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.

  •         Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
  •         Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
  •         Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.

Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.

Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:

  •         Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
  •         Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
  •         Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.

Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.

7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ

Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.

7-    Thay lời kết

Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.

Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:

Ta đang sống vì điều gì?

Ta cần bao nhiêu là đủ?

Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.

Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.

 Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.

 Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:

         Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;

  •         Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
  •         Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
  •         Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).

Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người. 

Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.

 Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa! 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Mùa Phật đản 2026 –  Wednesday, June 17, 2026