XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Giáo Phận Bắc Ninh 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Tôi ngồi một mình – giữa lòng nhà thờ.

2h chiều – không một bóng người.

Sự trầm mặc, đau thương phủ kín ngôi nhà thờ to lớn, trong những ngày đầy cơ cực.

Tiếng xe chuyển đồ, những lời mặc cả bán mua thi thoảng hắt vào qua ô cửa sổ. Như ngàn vạn sự giày xéo tan nát xứ Đạo này…

Năm  1883,  đức cha Antonio Colomer Lễ đứng giữa xứ Đạo này đọc vang sắc lệnh của Toà Thánh, thành lập Hạt đại diện Tông toà Bắc Đàng Ngoài (Giáo phận Bắc Ninh).

Năm đó, Toà Giám mục đặt ở Tử Nê.

Năm đó, tiểu chủng viện đặt ở Tử Nê.

Năm đó, đức cha Lễ nhận Tử Nê là quê hương thứ 2 tại Việt Nam…

Và cũng năm đó, chắc chắn tổ tiên chúng tôi dù có giàu trí tưởng tượng thế nào, cũng không tưởng tượng được rằng một ngày nào đó con cháu mình sẽ phải rời bỏ quê cha đất tổ để hi sinh vì lợi ích chung.

Chúng tôi đồng thuận với dự án. Ủng hộ sự phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Nhưng…

Hỡi ôi, chữ nhưng đầy đau đớn…

Giữa những lúc khó khăn này. Chúng tôi lại chẳng được khóc cho những điều đang tới.

Đâu đó người ta từng nói: tiếng khóc là sự chống cự cuối cùng của con người khi đến tận cùng số phận.

Nhưng không ai (có quyền) được khóc.(!)

Phải gượng cười, phải bình thường như những ngày bình yên xưa cũ. Khi mà:

Đi long đong cả vài ngày ngoài đường chẳng thuê nổi một nhà tạm trú, vì giá nhà đã quá cao, từ 10-15tr/tháng mà một gia đình không thể gánh gồng được. Khi mà hỗ trợ thuê nhà là 1tr5/tháng/người. Một gia đình bình thường 2 vợ chồng và 2 con chỉ vỏn vẹn 6 triệu. Số tiền 4-9 triệu còn lại ai sẽ chịu?

Tái định cư vẫn chưa thành hình, mà lịch bàn giao nhà và bàn giao tái định cư thì đã sát gần. Chúng tôi mới chỉ thấy những cánh đồng lấp đầy bằng đất. Điện, đường, nước…những thứ cơ bản cho 1 khu tái định cư vẫn là cái gì đó mịt mù chưa rõ ràng, chưa định hình.(!?)

Số tiền đền bù cầm về, khi ra tái định cư, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính để được cấp đất thì chẳng còn đáng bao nhiêu để xây dựng lại một ngôi nhà y như ngồi nhà cũ. Chưa một lần chúng tôi dám đòi hỏi đền bù cao hơn, chúng tôi chỉ cần sự công bằng.

Kế sinh nhai rồi sẽ ra sao?

Câu hỏi mông lung khó trả lời nhất.

Ruộng chẳng còn, đất thì chỉ đủ xây nhà, cái đơn giản nhất là trồng mớ rau bán qua ngày cũng không thể. Những ông bà, cô chú đã 40-50 tuổi không bằng cấp, không nghề nghiệp cụ thể rồi sẽ mất bao lâu để tìm, để học, và liệu có tìm có học được một nghề gì mới để tự nuôi sống chính mình?!.

Vậy mà lại chẳng được khóc.

Vì nếu khóc. Nước mắt đó ai lau?

Phải ra đi.

Phải thiệt thòi.

Phải xoay sở trong lúc tình người ít ỏi.

Tôi nhìn thấy 400 năm của xứ đạo này như chạy như 1 cuốn phim cực nhanh trong đầu. Thấy bao vất vả hi sinh của cha, ông đã qua để xây dựng mảnh đất này.

Kính lạy những bậc Cha, Ông đã xây dựng mảnh đất này. Xin thứ tha bao điều lỗi phạm nếu chúng con đã làm gì sai. Xin chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con ơn sức mạnh để dân làng vượt qua được biến cố này cách bình an…

Tôi nhìn lên Thánh giá Chúa.

Trong im lặng, thầm cầu nguyện: Lạy Chúa, xưa trong vườn cây dầu. Trước khi bước vào cuộc thương khó. Chúa lo buồn đổ mồ hôi máu. Xin cho chúng con “được khóc” để nguôi ngoai trong lòng bao tủi hờn…

….Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

  Nhưng cứu chúng con cho khỏi (mọi) sự dữ… Amen!

Người Tử Nê

#gpbacninh #sanbaygiabinh


 

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc..

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

Khi Hà Nội còn trong khói lửa, người dân không tiếc máu xương. Họ chiến đấu, họ hy sinh, họ bảo vệ từng con phố, từng góc nhà. Đảng gọi, họ đi. Không hỏi nhiều, không đòi hỏi gì.

Rồi đất nước thống nhất, họ trở về, cúi đầu lao động, đóng thuế, nuôi bộ máy. Cũng không hỏi nhiều, cũng không đòi hỏi gì.

Nhưng đến khi mảnh đất của họ lọt vào tầm ngắm quy hoạch, câu chuyện đổi chiều hoàn toàn. Họ không còn là nhân dân nữa. Họ trở thành đối tượng cưỡng chế, thành kẻ xuyên tạc, thành mối đe dọa an ninh trật tự.

Báo Công an Hà Nội viết rằng bên cạnh đa số người dân đồng thuận và chấp hành, vẫn còn một số cá nhân lợi dụng tình hình để xuyên tạc thông tin, kích động tâm lý bức xúc, kêu gọi căng băng rôn, tụ tập đông người, khiếu kiện vượt cấp.

Đọc đoạn đó, người ta cần hỏi thêm một câu: những người bị gọi là kích động bức xúc đó đang bức xúc về chuyện gì?

Họ đang bức xúc vì nhà của họ sắp bị giải tỏa. Vì đền bù không thỏa đáng. Vì sinh kế chưa được đảm bảo. Vì tương lai sau giải tỏa mù mịt không ai giải thích rõ ràng.

Đó không phải là bức xúc được kích động từ bên ngoài. Đó là bức xúc nảy sinh từ chính cuộc sống của họ, từ chính mảnh đất mà họ đang đứng trên đó.

Tuyên giáo chỉ đạo lên bài cảnh tỉnh bà con trước luận điệu xuyên tạc.

Nhưng cái gì là xuyên tạc ở đây? Người dân nói rằng đền bù quá thấp, đó là xuyên tạc hay là sự thật mà họ đang sống? Người dân nói rằng chưa biết sau giải tỏa sẽ ra sao, đó là kích động hay là nỗi lo chính đáng của bất kỳ ai mất đi chỗ ở và sinh kế?

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc, và nỗi lo của họ bị gọi là kích động, thì ngôn ngữ đang được dùng không phải để phản ánh thực tế mà để che giấu nó.

Có một vòng tròn rất buồn trong câu chuyện này.

Ngày xưa Đảng cần dân, dân hy sinh. Lớn lên Đảng cần tiền, dân đóng thuế. Bây giờ Đảng cần đất, dân phải nhường. Đổi lại, dân nhận được một khoản đền bù không đủ bắt đầu lại, một tương lai không ai đảm bảo, và thêm một danh hiệu mới: đối tượng chống phá.

Ngàn lần được gọi là nhân dân anh hùng, nhưng chỉ cần một lần cản trở quyền lợi của người nắm quyền, tất cả những danh hiệu đó tan biến.

Điều người dân đang nhận ra, có lẽ muộn hơn họ muốn, là giá trị của họ trong mắt bộ máy này được tính theo từng giai đoạn.

Khi cần người chiến đấu, họ là anh hùng. Khi cần người đóng thuế, họ là trụ cột. Khi cần đất để làm dự án, họ là chướng ngại vật cần được giải phóng mặt bằng.

Và khi họ dám hỏi tại sao, dám căng băng rôn đòi câu trả lời, dám không chịu im lặng trước cái tương lai mà người khác đã sắp xếp sẵn cho họ, họ trở thành đối tượng cần cảnh tỉnh, cần xử lý, cần đưa vào bài báo như một mối nguy.

Không có gì thay đổi nhanh hơn cách một chính quyền nhìn nhận người dân của mình, khi giữa hai bên xuất hiện một mảnh đất có giá trị.

Và không có gì làm người dân tỉnh ngộ nhanh hơn cái khoảnh khắc họ nhận ra rằng mọi lời ca ngợi, mọi danh hiệu, mọi khẩu hiệu về nhân dân là chủ nhân, đều có thể biến mất trong một buổi sáng khi đoàn cưỡng chế gõ cửa nhà họ.

Đảng cần tiền và lợi ích. Dân phải trả bằng mồ hôi, tài sản và đôi khi cả xương máu. Công thức đó chưa bao giờ thay đổi. Chỉ là không phải lúc nào nó cũng hiện ra rõ ràng đến vậy. 


 

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Góc Nhìn Mới is with Anthony D. Nguyen.

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Xuất khẩu lao động đã trở thành “cứu cánh” quen thuộc của hàng loạt nước đang phát triển. Hàng triệu người Việt cộng sản phải bỏ quê hương, xa vợ con để đi làm thuê ở Nhật, Hàn, Đài Loan hay Trung Đông.

Phía “tích cực” thì vẫn được ca ngợi như cũ: giảm áp lực thất nghiệp, mang về kiều hối, vài người về nước được tí vốn liếng với vài kỹ năng. Nghe thì hay ho.

Nhưng nhìn thẳng vào sự thật thì đau lòng hơn nhiều.

Thứ nhất, nếu trong nước lương cao, việc làm ổn, cơ hội thăng tiến rõ ràng, thì có bao nhiêu người chịu cảnh xa nhà mấy năm trời, làm những công việc chân tay vất vả, bị đối xử như lao động hạng hai ở nước ngoài? Việc hàng loạt người dân phải “bán sức” cho nước ngoài chính là minh chứng sống động cho sự chênh lệch thu nhập và chất lượng cuộc sống quá lớn.

Thứ hai, một nền kinh tế lành mạnh mà phải đẩy thế hệ trẻ khỏe mạnh, có học vấn ra nước ngoài hàng loạt để kiếm sống thì rõ ràng đang có vấn đề nghiêm trọng. Đây không phải là “thành công”, mà là lời cảnh báo đỏ về khả năng tạo việc làm chất lượng cao trong nước. Nhiều nước đang phát triển vẫn đang mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn này.

Thứ ba, đừng có cố tình đánh đồng giữa “chủ động chọn cơ hội quốc tế” với “buộc phải đi vì ở nhà không còn đường nào khác”. Hầu hết lao động xuất khẩu là trường hợp thứ hai. Họ đi không phải vì quá ham muốn phiêu lưu, mà vì trong nước thiếu lựa chọn tử tế. Một đất nước thực sự phát triển phải tạo ra môi trường khiến người dân muốn ở lại, chứ không phải ép họ phải ra đi để culi.

Tóm lại, xuất khẩu lao động không phải là minh chứng cho sức mạnh kinh tế, mà phần lớn là triệu chứng của một nền kinh tế chưa đủ sức giữ chân người dân. Nó mang lại ngoại tệ, nhưng cũng đang làm hao mòn nguồn nhân lực trẻ, làm chậm quá trình công nghiệp hóa thực sự và duy trì tình trạng “lao động giá rẻ xuất khẩu”.

Mục tiêu dài hạn của một quốc gia có trách nhiệm không phải là cạnh tranh xem ai đưa được nhiều công dân ra nước ngoài hơn, mà là xây dựng một nền kinh tế đủ hấp dẫn để người dân không buộc phải ra đi mới sống nổi. Còn hiện tại, thì cứ tiếp tục tự vỗ vai “thành công” kiểu này, thì cũng chỉ là tự an ủi bản thân mà thôi.

#BBCTiengViet #viralreelschallenge #viralreels #NguyenVanDai #thoibaode #ToLam #phanvangiang #leminhhung #BacNinh #GiaBinh #viettan #datdenbu #Datduanphanlo #datduan 


 

Sáng nay ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.- Lâm Tây

Dương Văn Dương

Sáng nay tôi có mặt ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ rất sớm.

Điều đập vào mắt tôi không phải là những tòa nhà lớn hay những thiết bị y tế hiện đại, mà là dòng người đông đúc đang lặng lẽ xếp hàng từ sáng tinh mơ.

Có những người đeo trên vai chiếc ba lô đã cũ. Có người kéo theo vali, túi xách lỉnh kỉnh. Nhìn cách họ chuẩn bị hành lý, tôi đoán nhiều người đã đi từ các tỉnh rất xa, bắt xe xuyên đêm để kịp đến bệnh viện khi trời còn chưa sáng.

Trên những hàng ghế đá, dưới những gốc cây, ngoài hành lang bệnh viện… nhiều người nằm co ro chợp mắt. Có người già tóc đã bạc trắng. Có người là những bệnh nhân gầy gò vì bệnh tật. Có những người con, người vợ, người chồng đang túc trực bên người thân của mình.

Bữa sáng của họ đôi khi chỉ là một ổ bánh mì, một gói xôi, một ly nước lọc mang theo từ nhà.

Không ai than vãn.

Không ai kể khổ.

Họ chỉ ngồi đó, lặng lẽ chờ đến lượt khám bệnh.

Nhìn những gương mặt mệt mỏi, lo âu và đầy hy vọng ấy, tôi bỗng thấy lòng mình nặng trĩu.

Ngoài kia, trên mạng xã hội, người ta tranh cãi về những điều rất nhỏ. Người ta hơn thua nhau từng câu nói, từng món đồ, từng chút danh lợi.

Nhưng ở đây, trong khuôn viên bệnh viện này, tôi nhận ra rằng có những người sẵn sàng đánh đổi tất cả chỉ để mua thêm một cơ hội được khỏe mạnh.

Đối với họ, hạnh phúc không phải là xe đẹp hay nhà lớn.

Hạnh phúc đơn giản chỉ là kết quả xét nghiệm tốt hơn hôm qua.

Là bác sĩ nói bệnh có thể điều trị được.

Là người thân của mình vượt qua được cơn nguy kịch.

Là được trở về nhà bình an sau những ngày dài chiến đấu với bệnh tật.

Có lẽ bệnh viện là nơi người ta nhìn thấy rõ nhất sự mong manh của kiếp người.

Nơi mà khoảng cách giữa giàu và nghèo vẫn còn đó, nhưng nỗi đau thì giống nhau.

Nơi mà ai cũng mang trong mình một câu chuyện riêng, một nỗi lo riêng, một lời cầu nguyện riêng.

Rời bệnh viện, tôi mang theo rất nhiều suy nghĩ.

Tôi thấy biết ơn vì mình còn khỏe mạnh.

Biết ơn vì những người thân yêu vẫn còn ở bên cạnh.

Và biết ơn vì cuộc sống này, dù còn nhiều khó khăn, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội để sống, để yêu thương và để trở về nhà mỗi ngày.

Nếu hôm nay bạn đang khỏe mạnh, xin đừng xem đó là điều hiển nhiên.

Bởi ở đâu đó ngoài kia, có rất nhiều người đang dành tất cả tiền bạc, thời gian và hy vọng chỉ để đổi lấy điều mà chúng ta đang có mỗi ngày

Lâm Tây


 

Cúi xuống…. !

Nguyễn Hoàng Tuấn

Cúi xuống…. !

Giữa một thành phố luôn vội vã, lòng tử tế vẫn là điều đẹp nhất có thể trao cho nhau.

Có lẽ rất nhiều người đã từng đi ngang qua một chiếc xe như thế.

Có người mua vài cân hoa quả rồi vội vã rời đi.

Có người mặc cả thêm vài nghìn đồng.

Có người thậm chí chẳng buồn ngoái nhìn.

Để chiếc xe ấy có mặt trên con phố từ sáng sớm, có khi người bán đã thức dậy từ ba, bốn giờ sáng, lặn lội đến chợ đầu mối, lựa từng giỏ hàng, chở cả trăm ký trái cây len lỏi qua những con đường còn tối, mang theo hy vọng rằng hôm nay sẽ bán hết trước khi trời tối.

Nghề bán hàng rong không có lương tháng.

Không có bảo hiểm.

Không có ngày nghỉ.

Không có ai trả tiền cho những giờ ngồi chờ khách, cho những ngày mưa ế ẩm, hay những lúc trái cây hỏng phải mang về. Mỗi quả bán được đều là từng đồng tiền đổi bằng mồ hôi và thời gian.

Điều khiến người ta xúc động không chỉ là sự vất vả.

Mà là dù cuộc sống nhiều nhọc nhằn đến vậy, họ vẫn chọn tiếp tục.

Ngày này qua ngày khác.

Mùa hè nắng gắt, mùa đông cắt da, những cơn mưa bất chợt… chiếc xe vẫn lăn bánh. Không phải vì họ không biết mệt, mà bởi phía sau còn một mái nhà cần tiền chợ, một đứa con cần tiền học, một gia đình đang chờ bữa cơm tối.

Bức ảnh này cũng nhắc chúng ta về một điều rất giản dị: đằng sau mỗi người lao động bình thường đều là một câu chuyện mà ta không nhìn thấy.

Vì thế, nếu một ngày nào đó bạn dừng lại mua vài quả táo, một chùm nho hay vài trái chanh từ một chiếc xe ven đường, hãy mỉm cười với họ. Đừng mặc cả nếu mức giá đã hợp lý. Đôi khi, vài nghìn đồng không làm chúng ta giàu hay nghèo đi, nhưng lại có thể giúp một người bán hàng rong kết thúc một ngày dài với nhiều hy vọng hơn.

Và biết đâu, chính những con người lặng lẽ bên những chiếc xe đạp cũ ấy mới là những người đang gánh trên vai vẻ đẹp bền bỉ nhất của một thành phố.

 


 

Nguyễn Thành Nam, tác giả sách ‘hạ bệ’ Hồ Chí Minh, bị bắt giữ với cáo buộc ‘chống nhà nước’

Ba’o Nguoi -Viet

July 7, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tối 7 Tháng Bảy, Cơ Quan An Ninh Điều Tra Công An Thành Phố Hà Nội đã khởi tố, bắt giữ bị can Nguyễn Thành Nam, 65 tuổi, để điều tra về tội ”làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Cùng bị khởi tố với ông Nam về tội danh nêu trên còn có ông Trần Việt Anh, 33 tuổi, nhà sáng lập của Spiderum, một mạng xã hội được xây dựng với chức năng chia sẻ thông tin, quan điểm.

Ông Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra. (Hình: VnExpress)

Theo báo đài trong nước, vụ bắt giữ này liên quan đến cuốn sách ”Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” và nhiều video có nội dung bị cho là “vi phạm pháp luật.”

Cơ quan điều tra nhận định, hai bị can Nam-Anh sở hữu những tài liệu với nội dung “có tính chất xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của đảng, nhà nước,” “xúc phạm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và nhiều lãnh đạo đảng, nhà nước khác.”

Báo chí lề đảng dẫn lời cơ quan công an cho biết thêm, ông Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là “không đúng sự thật,” bày tỏ sự hối hận và “gửi lời xin lỗi đến bạn đọc.”

Trong khi đó, ông Việt Anh được xác định là người xây dựng các nội dung liên quan nhằm “thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số.”

Ông Nguyễn Thành Nam, cựu tổng giám đốc tập đoàn FPT, hiện làm giảng viên thỉnh giảng bộ môn “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” tại trường Đại Học VinUni thuộc sở hữu của tỷ phú Phạm Nhật Vượng.

Hôm 28 Tháng Sáu, một số nguồn tin khả tín về chính trường Việt Nam cho biết ông Nam bị bắt vào đêm 27 Tháng Sáu, trong lúc các báo trong nước chưa được phép công bố tin này vì “nhạy cảm.”

Trước đó, hôm 19 Tháng Sáu, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị xử phạt hành chính 100 triệu đồng ($3,800) và buộc tạm dừng hoạt động hai tháng, tiêu hủy toàn bộ 9,700 bản sách “Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” đã in với cáo buộc “viết sai sự thật nghiêm trọng” về Hồ Chí Minh.

Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ, Cục Xuất Bản, In và Phát Hành kết luận rằng, cuốn sách của ông Nam “có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử” và “sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của đảng CSVN.”

Cuốn sách bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh thu hồi và tiêu hủy hồi giữa Tháng Sáu. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Ngoài số tiền nộp phạt, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị yêu cầu “rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn” trong hai tháng bị tạm dừng hoạt động ấn hành sách và nộp lại hơn 423 triệu đồng ($16,089) tiền thu bất hợp pháp từ việc phát hành cuốn sách “Chuyện Với Thanh.”

Từ nhiều tuần trước khi cuốn sách bị thu hồi, giới dư luận viên đồng loạt lên án cách ông Nguyễn Thành Nam mô tả ông Hồ Chí Minh với những cụm từ như “điếu đóm,” “30 tuổi lang thang không nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định,” “job phụ bếp,” “phượt”…

Theo lập luận của dư luận viên, việc sử dụng các cụm từ này để mô tả ông Hồ Chí Minh là “lật sử,” “xúc phạm,” “bôi bác, hạ bệ lãnh tụ”…

Điều éo le là ông Nguyễn Thành Nam từng nhận bằng khen từ ông Nguyễn Xuân Phúc, thời điểm còn làm thủ tướng Việt Nam vì “đã có thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019.” (Tr.N)


 

Vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết: Đắk Lắk phạt vạ hơn chục người đưa tin

Ba’o Nguoi-Viet

July 5, 2026 

ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Ít nhất hơn chục người bị Công An Đắk Lắk triệu tập, phạt vạ với cáo buộc “đưa tin sai sự thật” về vụ một cựu cán bộ thuế chết do bị bắn năm phát đạn vào đầu ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Theo báo Dân Việt hôm 5 Tháng Bảy, có 13 chủ danh khoản Facebook và TikTok phải lên đồn do bị công an quy chụp về hành vi “đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật” liên quan vụ án mạng nêu trên.

Trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk đăng lại bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta. (Hình: Chụp qua màn hình)

Tất cả các trường hợp này đều phải thừa nhận mình “thiếu hiểu biết, làm theo tâm lý đám đông nên đăng tải, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng” và “tự nguyện gỡ bỏ bài viết, bình luận vi phạm, viết cam kết không tái phạm.”

Công An Đắk Lắk đe dọa củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm đối với một số người mà họ cho rằng “đăng bài trên mạng xã hội với mục đích chống phá.”

Bản tin không dám làm rõ chi tiết 13 người nêu trên đã đăng tải những gì trên trang cá nhân.

Tuy vậy, không khó để nhận ra đây là những người chia sẻ bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta.

Ông Hoàng Dũng, hiện đang ở Mỹ, đăng hình mình cởi trần, hai tay bị cột bằng dây thừng, nhìn thẳng vào ống kính cùng với chú thích: “Nghi phạm mặc áo Grab nổ súng giết ông Hải [Hứa Hồng Hải, 47 tuổi, ở xã Ea Knốp, cựu cán bộ thuế], xác định đã tính toán đường tẩu thoát. Tuy nhiên, sau 72 giờ lẩn trốn, y đã bị bắt giữ.”

Bài đăng của ông Hoàng Dũng chế giễu rằng ông Mai Hoàng, giám đốc Công An TP.HCM chỉ đạo 3,000 công an truy bắt nghi can và “rút kinh nghiệm” từ vụ bắt hai sát thủ người Samoa hồi tháng trước.

Facebooker này cũng chế lời ông Mai Hoàng cho biết: “Tổng chiều dài biên giới trên bộ của Việt Nam là 4,600 cây số, chúng tôi huy động 3,000 quân, vị chi mỗi đồng chí đảm trách 1.5 cây số. Chạy đâu cho thoát!”

Bài đăng vừa gợi lại vụ bắt hai sát thủ người Samoa và vụ tấn công võ trang ở làng Đồng Tâm, Hà Nội, hồi đầu năm 2020.

Tuy bài đăng của ông Hoàng Dũng có chủ đích để chế giễu ông Mai Hoàng và Công An Đắk Lắk sau ba ngày vẫn chưa bắt được nghi can, nhưng nhiều người tưởng là thật, nên chia sẻ bài về trang cá nhân để tâng bốc “chiến tích tài tình của công an.”

Ông ĐĐB (phải), ở xã Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, bị triệu tập vì đưa tin vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Đáng nói, trong số đó có cả trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk, với bài đăng hình ông Hoàng Dũng và chú thích: “Đã bắt được đối tượng nguy hiểm.”

Trong vụ nổ súng xảy ra vào lúc 7 giờ tối 2 Tháng Bảy, ông Hứa Hồng Hải, đang ngồi trên vỉa hè trước một quán cà phê ở đường Trần Nhật Duật, phường Buôn Ma Thuột thì một nam thanh niên, mặc áo Grab, chạy xe gắn máy màu trắng và đỏ tiến đến gần.

Nghi can bước xuống xe, đi bộ tiến đến gần ông Hải, rút súng bắn năm phát vào đầu nạn nhân khiến ông này chết tại chỗ. Thời điểm đó, ông Hải đang ngồi cùng một phụ nữ mặc áo đen.

Sau khi nổ súng, nghi can bình thản quay lại lấy xe gắn máy bỏ trốn tại hiện trường trong lúc người phụ nữ hoảng loạn.

Do không lần được tung tích sát thủ, Công An Đắk Lắk kêu gọi toàn dân truy bắt nghi can và đe dọa “xử lý hình sự” đối với những ai tiếp tay cho người này bỏ trốn. (N.H.K)


 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Xuân Hồng 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Thấy có một số bạn kết án TT Ngô Đình Diệm đã ” ép” Nhất Linh chết. Mọi thứ đều có nguồn cơn

Văn nhân kiêm chánh trị gia Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sanh ngày 25-7-1905 tại Cẩm Giàng, Hải Dương

Ông là học sinh trường Bưởi Hà Nội. Năm 1923 đậu tiểu học, năm 1924 học y và mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng sau đó bỏ ngang hông

Năm 1926, vào Nam Kỳ, qua Miên

Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhơn khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long Hà Nội.

Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá.

Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Nhất Linh là cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn

Hồi năm 1939 Nhất Linh hoạt động chánh trị, lập đảng chống Pháp lấy tên là Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính

Năm 1942, Nguyễn Tường Tam sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh

Sau đó, ông về Việt Nam Quốc Dân Đảng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (Đại Việt Dân chính đảng hợp nhứt với Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc dân đảng)

Năm 1945 Nguyễn  Tường Tam tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất  làm Phó chủ tịch, Nguyễn Hải Thần Chủ tịch, và là đối lập với Việt Minh

Sau dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chánh phủ Liên hiệp Kháng chiến của ông Hồ Chí Minh

Ngày 5-3-1946, Nguyễn Tường Tam từ chức bộ trưởng ngoại giao và tháng 12-1946 bỏ qua Tàu cùng với cựu hoàng Bảo Đại

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chánh trị nữa 

Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, 1958 trở về Sài Gòn hoạt động văn nghệ

Năm 1960 thời VNCH của TT Ngô Đình Diệm, Nhất Linh tham gia thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chánh tấn công dinh Độc Lập nhằm lật đổ TT Ngô Đình Diệm vào ngày 11/11/1960

Vụ đảo chánh bất thành

Những người cầm đầu như Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Chánh Thi chạy thoát sang Cam Bốt

Những chính khách ở lại đều bị bắt gồm: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và …..Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

TT Ngô Đình Diệm đã nương tay với Nhất Linh

Tội “xâm phạm an ninh quốc gia” tham gia đảo chánh là tội nặng phải bắt nhốt vô tù, nếu tại ngoại bị giam lỏng thì 3 ngày trước khi xét xử phải bị giam, nhưng riêng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam thì không bị giam ngày nào

Nguyễn Tường Tam bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh Sát, nha an ninh quân đội và thẩm tòa án quân sự đặc biệt

Ông khai ông không biết gì đảo chánh

TT Diệm cho bắt giam hết các nhân sĩ và lãnh tụ đảng phái và giáo phái khác, không trừ một ai,nhưng trừ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông này vẫn ở nhà chung cư chợ An Đông, tất nhiên bị an ninh canh chừng

Phiên tòa sẽ xét xử ngày 08/07/1963

Chủ tọa phiên tòa “viết thơ mời” Nguyễn Tường Tam chứ không phải ra trát đòi yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa.

Ai dè ngày  7-7-1963 Nguyễn Tường Tam tự sát bằng thuốc

Ra tòa đặng làm sáng tỏ, cũng là thể hiện bản lãnh người làm chánh trị, nhưng ông không ra tòa, ông tự sát

Chúng ta thắc mắc, vậy rốt cuộc Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm hay không?

Trong một bài viết,con trai ông là Nguyễn Tường Thiết viết:

“Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”

Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh

Ông Thiết viết và lý giải vì sao cha ông là ông Nguyễn Tường Tam được tự do ở nhà trong khi đồng sự, đàn em bị bắt tạm giam hết

(Trích)

” Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ.

Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm.

Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?

Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do.

Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.” (Hết trích)

Nhất Linh chọn ngày song thất 7 tháng 7 năm 1963 tự tử chết là trù và rủa ông Diệm vì ông lên làm Tổng Thống cũng vào ngày song thất

Nhất Linh để lại di ngôn 71 chữ :

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do,Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.7-7-1963”

Ông  noi gương ông  Thích Quảng Đức

Có ba nhận định về cái chết của Nhất Linh

Chúng ta hậu thế đọc đủ 3 dòng này

– Ông Nguyễn Văn Lục viết sách nói Nhất Linh “tự tử vì căn bệnh tâm thần” từ trước, tức có chứng bịnh suy nhược thần kinh và ông đã muốn chết từ trước 

-Lê Nguyên Phu nói Nhất Linh chết  “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ”

Và thứ ba là của những người chống đối TT Diệm và của gia đình Nhất Linh nói Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử chết để phản đối  sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ TT Ngô Đình Diệm Ngô, chống lại gia đình trị độc tài

Ai hiểu sao cứ hiểu

Trong lịch sử, từ xưa đã có nhiều trí thức tự chọn cách tự tử một cách tiêu cực để rủ bỏ nợ trần ai

Khuất Nguyên là bậc đại trí thức thời kì chiến quốc, ông ôm giữ tấm lòng tận trung báo quốc với tài năng, đức độ và sự chánh trực của mình.

Thế nhưng có lẽ ông chỉ là một ngọn đuốc lẻ loi, một kỵ binh đơn thương độc mã, cuối cùng Khuất Nguyên ôm bọc đá nhảy xuống sông Mịch La tự trầm

“Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong”

(Ly tao-Khuất Nguyên)

Đời Hậu Trần, vua tôi Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy khi rơi vào tay quân Minh đều tự vẫn, đó là tấm gương trung liệt cho đời

“Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi”

(Đặng Dung-Cảm hoài)

Quan Phan Thanh Giản sau khi giao thành trì cũng tự vẫn để giữ tròn khí tiết

Chúng ta không ca ngợi và đề cao cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng cũng không dám phê phán nó, làm chánh trị mà hở chút …tự tử chết thì hao người lắm. Nhưng cũng tôn trọng sự lựa chọn của ông

Chánh trị kiểu ông Thích Quảng Đức cũng là tạo sự kiện chánh trị thôi

Vũ Hoàng Chương có viết bài văn tế Nhất Linh, lấy hai câu kết bài

“Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

Việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.”

Chúng ta hậu thế, phải đọc và hiểu rõ nguồn gốc, ngọn ngành để tránh bị dẫn đường như người mù trong bóng tối.

Theo FB Nguyễn gia Việt


 

Có một thời như thế đó! – Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.    

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi . Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 

From: Tu-Phung


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)