Họ đã truy tố chị vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Trần Trân

Đây là chị Phạm Hồng Nhị, 41 tuổi, nhà chị ở Đá Bạc, Cà Mau. Gia cảnh chị nghèo khó, nuôi 2 con đang đi học và mẹ già mất khả năng lao động. Dẫu vậy nhưng vợ chồng chị vẫn luôn chí thú làm ăn để tương lai bớt vất vả hơn cho con của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chồng chị chở chị đi đi dự tiệc khai trương tiệm bán cá của một người bạn ở An Xuyên, Cà Mau cách nhà chị khoảng vài mươi cây số.

Sau buổi tiệc, chồng chị quá say xỉn, không thể chạy xe được nên chị đành chạy xe chở chồng về, chị cũng đã có uống 2 lon bia.

Trên đường về thì chị lạc tay lái, tông vô gốc cây ven đường. Chồng chị không may qua khỏi, chị thì bị thương nặng. Những tưởng đã là tột cùng của bi kịch, khi giờ đây chỉ còn một mình chị gồng gánh cả gia đình, hai con thì quá nhỏ, nhưng không!

Sau khi xuất viện, chị bị tòa án tuyên thêm một năm 6 tháng tù giam vì tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.

Một chi tiết đáng chú ý ngoài lề là: chị đã khắc phục hậu quả dân sự 100/120 triệu. Người ta nói vì thiếu 20 triệu nữa nên gia đình chồng đã rút lại đơn bãi nại trước đó. Nhưng lưu ý:

Cụ thể với Điều 260 BLHS:

Một vụ tai nạn làm ch.ết người, nếu cơ quan tố tụng xác định có dấu hiệu của Điều 260, thì:

Gia đình người ch.ết làm đơn bãi nại  không có nghĩa là người gây tai nạn đương nhiên không bị xử lý hình sự.

Mặt khác, Gia đình rút bãi nại cũng không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động.

Cơ quan điều tra vẫn phải căn cứ vào hành vi vi phạm, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các chứng cứ khác để quyết định có khởi tố hay không.

Nói cách khác, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể không truy tố chị, nhưng họ đã truy tố vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Và giờ đây, 2 con chị bơ vơ, cha chết, mẹ đi tù người bà thì mất khả năng lao động, tương lai vô cùng mịt mờ.

Nhưng ở đâu đó, giữa lòng thủ đô, người ta chạy ngược chiều bằng xe hơi, người ta, cả 2 người trên xe hơi trốn ngay lập tức khỏi hiện trường, báo chí giấu nhẹm thông tin về hung thủ sau một năm 3 tháng. Công an đo nồng độ cồn 1 ngày sau xảy ra tai nạn, mà lúc đó, ngày 31/05/2025 còn chưa có đơn vị hành chính nào tên là: Phường Hai Bà Trưng. Vậy nhưng trong giấy lại có mới tài.

Cơ quan công an kết luận: không khởi tố đúng quy trình.

Có lẽ, do hung thủ là đại biểu quốc hội, là chồng của bà bộ trưởng bộ văn hóa, là những kẻ lãnh đạo tài tình sáng suốt trên đất nước này.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt Thương Người Việt

Nguồn Bàn Tròn Chính Trị

#vietnam#quocgiavietnam 


 

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ – Đoàn Bảo Châu

Chau Doan  

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ

Ở Hà Nội, mỗi sáng có hàng triệu người bước ra khỏi nhà và mặc nhiên tin rằng tối mình sẽ trở về.

Bố đi làm. Mẹ đưa con đến trường. Người trẻ chen vào dòng xe cho kịp giờ chấm công. Đứa nhỏ ngồi sau xe máy, ôm lưng mẹ, có khi vẫn còn ngái ngủ.

Những cuộc chia tay buổi sáng thường rất sơ sài. “Con đi học đây.” “Bố đi làm nhé.” “Ừ, tối về ăn cơm.” Chẳng ai ôm nhau lâu, chẳng ai dặn dò gì hệ trọng, bởi người ta vẫn nghĩ vài tiếng nữa sẽ gặp lại.

Trưa ngày 30 tháng 5 năm 2025, một người cha chở con gái trên đường Nguyễn Huy Tự. Ông đi cẩn thận, như mọi người cha chở con đều đi cẩn thận. Rồi một chiếc xe từ làn bên kia lao sang, và nó chỉ dừng lại khi đâm vào một gốc cây.

Người cha gãy chân, nằm giữa đường, quơ tay tìm con, gọi mãi.

Cô gái mười tám tuổi bị đứt lìa chân phải, nằm đó chừng hai mươi phút, người sơ cứu cho em là một bác sĩ tình cờ đi ngang. Những người bước xuống từ chiếc xe kia nhìn một lượt rồi bỏ đi.

Em chống chọi bảy ngày trong bệnh viện rồi mất. Em tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà, mọi người gọi em là Mina.

Hôm ấy trong nhà em có một chiếc va li đang xếp dở, và một giấy báo trường bên Anh.

Từ ngày ấy đến nay là 444 ngày.

Trong 444 ngày ấy, không một quyết định tố tụng nào được công bố. Cái tên người gây tai nạn được thu gọn thành ba chữ viết tắt trên báo chí. Cho đến khi những người trẻ mang hoa cúc trắng đến đặt dưới gốc cây số 55, thì cái tên ấy mới được đọc lên trên sóng truyền hình quốc gia — kèm theo lời tuyên bố ông ta đủ điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, và kèm theo lời răn đe những người đã cầm hoa.

Nhiều người bảo: chuyện của gia đình người ta, mình xen vào làm gì. Gia đình họ đã đồng ý rồi, mình còn nói gì nữa.

Xin thưa, đây là lý do tôi vẫn nói.

Bởi vì một vụ tai nạn làm chết người không phải chuyện riêng của hai gia đình. Nó là chuyện của cả xã hội. Luật hình sự sinh ra không phải để trả thù cho người đã mất, mà để răn đe những người còn sống. Khi trách nhiệm hình sự bị xóa bằng một tờ đơn của người đang kiệt sức vì mất con, thì thứ bị xóa không phải là hình phạt dành cho một người. Thứ bị xóa là lời răn đe dành cho tất cả những người khác đang cầm vô lăng ngoài kia.

Và đây mới là điều đáng sợ nhất.

Nếu hôm nay chuyện này được cho qua, thì một tiền lệ đã được dựng lên: gây tai nạn chết người, bỏ mặc nạn nhân, rồi bồi thường, rồi có đơn xin miễn, thế là xong. Ngày mai, con cái các quan chức sẽ hiểu điều đó. Chúng sẽ uống rượu, sẽ phóng xe bạt mạng trên phố, bởi trong đầu chúng đã có sẵn một phép tính: đâm chết người thì mất bao nhiêu tiền, và bố mẹ mình quen ai.

Cái giá của một mạng người sẽ trở thành một con số có thể tra bảng.

Xin đừng nghĩ đó là chuyện xa xôi. Người ngồi sau xe máy ngày mai có thể là con anh, cháu chị, hay chính chúng ta. Đường phố này không có hàng rào nào ngăn cách giữa gia đình quyền thế và gia đình thường dân. Chỉ có luật pháp là hàng rào duy nhất. Khi hàng rào ấy được nhấc lên cho một chiếc xe đi qua, thì nó đã được nhấc lên cho tất cả những chiếc xe khác cùng loại.

Đó chính là điều mà những người trẻ mang hoa ra gốc cây đang hỏi. Họ không đòi ai phải chết thay ai. Họ không tự phong mình làm quan tòa. Họ chỉ hỏi một câu mà bất kỳ xã hội nào cũng phải trả lời được: nếu ngày mai một người dân bình thường rơi vào hoàn cảnh y hệt, họ có được đối xử y hệt hay không?

Nếu có, đó gọi là pháp quyền. Nếu không, thì hãy gọi đúng tên của nó.

Có người nói với tôi rằng thôi, cuộc đời vô thường, cầu mong mọi người bình an là được. Tôi hiểu, và tôi cũng cầu mong như vậy. Nhưng xin phân biệt cho rõ: có những chiếc ghế trống trong nhà là do vô thường. Và có những chiếc ghế trống là do một người lái xe sang làn ngược chiều, rồi bỏ đi, rồi không ai phải trả giá.

Vô thường thì ta chỉ có thể chấp nhận. Còn bất công là do con người tạo ra — mà cái gì do con người tạo ra thì con người sửa được.

Cầu an không giữ được mâm cơm đủ người. Chỉ có công lý mới giữ được.

Cho nên khi những đứa trẻ mua hoa bằng tiền túi của chúng đem đặt dưới một gốc cây, chúng không làm việc đó cho một người xa lạ. Chúng đang làm việc đó cho cái ghế trong nhà chúng, cho mâm cơm nhà chúng, cho ngày mai của chính chúng.

Người ta có thể hốt hết hoa lên xe rác. Người ta có thể cử người ra ngồi canh một gốc cây. Người ta có thể ra thông báo cấm sinh viên tưởng niệm khi chưa được phép.

Nhưng có một thứ không hốt đi được: 444 ngày kia vẫn nằm nguyên trên tờ lịch.

Đại văn hào Tolstoy có một câu tôi rất thích: nếu bạn thấy đau, bạn đang sống; nhưng nếu bạn thấy được cái đau của người khác, thì bạn mới là con người.

Xin hãy giữ lấy điều đó. Bởi thế giới này trở nên tồi tệ không phải vì kẻ ác ngày càng mạnh, mà vì những người tử tế ngày càng im lặng.

Mina đã không kịp bước lên chuyến bay của em.

Chúng ta thì vẫn còn ở đây, và mỗi sáng vẫn còn được nói với người thân một câu rất bình thường: tối về ăn cơm nhé.

Xin hãy làm điều gì đó để câu nói ấy còn có nghĩa.

Đoàn Bảo Châu


 

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan 


 

Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Quang Lê added a photo to the album: Thinking 😊

Hơn 1 triệu bài viết, hàng chục triệu lượt tiếp cận, liên tục đứng đầu xu hướng nhiều ngày liền trên Threads, GenZ đang khiến cho chúng ta phải nhìn nhận lại về những cấu thành trong Quản Trị Nhà Nước Tốt.

Một trong những đặc điểm nổi bật của phản ứng Gen Z trong vụ này là sự kiên trì.

Không chỉ là làn sóng dâng lên rồi rút đi sau vài ngày. Họ tiếp tục đặt hoa tại gốc cây, bày tỏ niềm thương xót tới nạn nhân, hay đặt ra những câu hỏi về kết quả điều tra vụ việc.

Đó là biểu hiện của một thế hệ đang xây dựng ký ức tập thể về công lý. Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Rằng nếu một vụ việc như thế này mà không có thông tin thỏa đáng, thì tiền lệ ấy sẽ trở thành chuẩn mực cho những vụ việc tiếp theo.

Minh bạch ở đây không chỉ phục vụ quyền được biết của công chúng. Nó còn giúp cho chính người bị buộc tội tránh được những sự suy diễn và buộc tội vô căn cứ (nếu có).

Bởi một khi thông tin chính thức vắng bóng, mọi cáo buộc trên mạng xã hội – dù có cơ sở hay không đều trở nên khó bác bỏ.

Một kết luận điều tra của cơ quan công an được công khai, dù là không khởi tố vì không đủ căn cứ, hay khởi tố rồi miễn trách nhiệm hình sự vì đã bồi thường và hòa giải đúng quy định, đều tốt hơn sự im lặng.

Hoặc các cơ quan báo chí chính thống có thể tiếp cận nguồn tin, thường xuyên cập nhật về diễn biến sự việc sẽ giúp tỏ tường nhiều góc khuất.

Nên nhớ, trong mô hình quản trị tiên tiến mà Việt Nam đang áp dụng, có hai cấu thành cực kỳ quan trọng là Minh Bạch đi kèm với Trách Nhiệm Giải Trình.

Minh bạch (Transparency) là khi thông tin được cung cấp ở dạng nguyên thủy, dễ tiếp cận, để công chúng và báo chí có thể soi rọi vào quá trình ra quyết định. Ví dụ: Tại sao vụ việc này không bị khởi tố? Căn cứ pháp lý, tình tiết liên quan dẫn tới quyết định đó?

Đi kèm với đó là Trách nhiệm giải trình (Accountability): Minh bạch mà không có chế tài, không có trách nhiệm giải trình thì chỉ là lý thuyết xuông. Giải trình không phải là “xin rút kinh nghiệm sâu sắc”.

Nó đòi hỏi hai yếu tố: Trả lời và Chế tài. Khi một sự việc vi phạm pháp luật hoặc quy định xảy ra , phải có người chịu trách nhiệm, bị cách chức, bị truy tố hoặc phải bồi thường.

Khi không có những thông tin ấy, công chúng – đặc biệt là thế hệ Gen Z sẽ tự điền vào khoảng trống bằng những giả thuyết tiêu cực nhất, những thuyết âm mưu cực kỳ đa dạng.

Họ nhìn thấy ông N.S.C, cựu đại biểu Q.H, là tài xế, chủ xe BMW gây ra tai nạn thương tâm dường như không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì cho hành vi của mình, dù điều đó đôi khi chưa chắc đã đúng.

Thế nhưng, kết luận ấy có thể đúng, hoặc sai, nhưng theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng việc để cho khoảng trống ấy tồn tại quá lâu là điều cần tránh.

Suy cho cùng, minh bạch đi kèm với trách nhiệm giải trình không phải là công cụ để làm vừa lòng dư luận, nó là công cụ để bảo vệ chính thể chế khỏi sự nghi ngờ có cơ sở.

Sự im lặng kéo dài của cơ quan chức năng, báo chí chính là điểm làm suy yếu sự minh bạch một cách nghiêm trọng nhất.

Trong quản trị tốt, minh bạch không chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối – khi có bản án hay quyết định đình chỉ vụ việc.

Việc không lên tiếng trong những trường hợp như thế này không bảo vệ ai, nó chỉ làm xói mòn niềm tin của tất cả các bên, tệ hơn là dẫn tới một cuộc khủng hoảng truyền thông mất kiểm soát mà thôi!

P/S: Mình chỉ thấy chạnh lòng, thương xót cho con bé còn cả tuổi xuân, tương lai phía trước, Để rồi bỗng một ngày mở mắt thấy mình trong viện, và ngó xuống dưới chẳng có gì cả,…

Rồi em Cố Gắng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trước khi rời xa thế giới tươi đẹp này!


 

CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

NHÂN TÀI SINH BẤT PHÙNG THỜI

Trần Tố Ngọc

 NHÂN TÀI SINH BẤT PHÙNG THỜI

CHỈ CÒN NHẬN ĐƯỢC MỘT ĐỜI ĐẮNG CAY?!

CHỮ TÀI LIỀN VỚI CHỮ TAI!

DŨNG KHÍ CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC THỰC THỤ & CÁI KẾT ĐẮNG LÒNG ĐẾN TẬN BÂY GIỜ…

Ông Kim Ngọc, người thực hiện chính sách khoán hộ tạo ra một cuộc đột phá trong nông nghiệp vào giữa thập niên 1960 ở miền Bắc, khiến ông bị kỷ luật, và bây giờ đã được nhà nước vinh danh.

Nhưng câu chuyện “khoán hộ” vẫn chưa trọn vẹn vì còn một nhân vật nữa chưa được xem xét phục hồi. Người đó được mệnh danh là “triết gia khoán hộ”, hiện đang bán vé số ở Huế – đó là ông Lê Xuân Thiết.

1/- Bản luận chứng “Khoán hộ”:

Trước đó, ông Thiết từng du học học kinh tế học ở tận Kiev, Liên Xô cũ. Nhưng vì lý do sức khỏe, ông về học trong nước. Tốt nghiệp Đại học Kinh tế – Kế hoạch Hà Nội năm 1967 với tấm bằng loại ưu, chàng trai 30 tuổi Lê Xuân Thiết nhận quyết định về công tác tại Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phúc. Lúc đó cả miền Bắc bị đói, và đối tượng đói nhất lại chính là người sản xuất ra lúa gạo. Chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú (đầu năm 1968 Vĩnh Phúc sáp nhập với Phú Thọ thành Vĩnh Phú) thì nông dân lại no đủ.

Đó là kết quả của chính sách “khoán hộ” do Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc khởi xướng và triển khai khắp toàn tỉnh từ năm 1968. Nông dân được giao ruộng đất để tự cày cấy, sau khi đóng sản lượng (đã được khoán theo hộ) cho nhà nước thì được hưởng phần còn lại, nhờ vậy mà năng suất đạt rất cao, lúa gạo đầy nhà.

Nhưng đến cuối năm 1968, chính sách “khoán hộ” bị cấm và Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc bị kiểm điểm nặng nề. Thiết liền tìm đến huyện Lập Thạch, nơi vẫn còn “lén lút” thực hiện “khoán hộ” và nhận ra việc ông Kim Ngọc làm là quá đúng, đúng với khoa học và đúng cả đạo lý.

Nhưng do ông Kim Ngọc có thực tiễn mà chưa đúc kết thành lý luận, nên không bảo vệ được chính sách khoán hộ. Vậy là Thiết viết một bản luận chứng dài 72 trang, chứng minh chính sách khoán hộ là đúng, là hợp quy luật; tựu trung trong mấy ý sau:

– Cần giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân;

– Ai giỏi nghề gì thì làm nghề ấy;

– Nông dân được quyền bán cái mình làm ra ở đâu đắt nhất và mua cái mình cần ở đâu rẻ nhất;

– Xoá bỏ ngăn sông cấm chợ.

“Trên cơ sở thực tiễn của ông Kim Ngọc, tôi đã nâng lên thành luận điểm khoa học, để bằng mọi cách bảo vệ một chân lý đang bị vùi dập”, ông Thiết nói.

Bấy giờ là giữa năm 1974, sau bảy năm làm việc (1967-1974), cơ quan Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú yêu cầu Thiết làm báo cáo tập sự. Nhân cơ hội này, Thiết đã đưa ra bản luận chứng về chính sách khoán hộ thay cho bản báo cáo tập sự. Vậy là tai ương bắt đầu đổ xuống.

2/- “Tôi không phải là kẻ cơ hội!”:

Chính sách khoán hộ đã bị kết án là sai lầm, ông Kim Ngọc bị kỷ luật, vì vậy bản luận chứng khoán hộ của Lê Xuân Thiết không chỉ bị Ủy ban Kế hoạch tỉnh Phú Thọ kết luận là: xét lại, chống Đảng, theo tư bản chủ nghĩa, mà còn bị kết thêm tội “ngoan cố”! Đảng ủy cơ quan liền đề nghị Thiết viết kiểm điểm và thừa nhận mình sai lầm. Thiết không chịu. Có người rỉ tai Thiết, nếu cậu cứ ngoan cố vậy thì sẽ chết.

Thiết lắc đầu: “Tôi là người làm khoa học, tôi không phải là kẻ cơ hội! Thấy đúng mà vẫn nhận sai thì có tội với dân với nước. Thấy Đảng sai mà vẫn im lặng phục tùng mới là chống Đảng!”. Vậy là Thiết nhận án kỷ luật: khai trừ Đảng, chuyển sang làm nhân viên dọn vệ sinh cho cơ quan. Thiết vẫn nhẫn nhục với công việc của người lao công.

Về chuyện này ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung tâm Minh triết thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam nói: “Thiết là một điển hình của số phận người Việt của một thời. Từ tấm bé đã làm chú liên lạc cho Việt Minh huyện Hương Trà, đi tập kết để cố gắng trở thành người trí thức, nhưng nỗi thăng trầm của Thiết là ở chỗ anh lại muốn trở thành một trí thức thật đúng nghĩa. Tôi tha thiết mong ước rằng giới trẻ sẽ tìm hiểu câu chuyện về Thiết – một người trí thức trẻ đã biết dấn thân và theo đuổi chân lý bằng tất cả nhiệt huyết và trí tuệ của mình”.

Năm 1976, Thiết được điều về Ủy ban Kế hoạch tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trước khi đi, ông bí thư chi bộ còn bảo Thiết nhận sai lầm đi để ghi vào lý lịch nhẹ hơn.

Thiết vẫn không chịu: “Nếu nhà nước dùng được thì dùng, không thì thôi. Tôi không thể nói trái sự thật”. Vì vậy, về đến Huế, Thiết đã gặp ngay sự lạnh nhạt của quê nhà và vui vẻ ra nhận công việc ở phòng Kế hoạch huyện Hương Trà. Một năm sau, huyện này sáp nhập với hai huyện khác thành huyện Hương Điền.

Ông chủ tịch huyện Hương Điền Nguyễn Sĩ Hạt lúc đó có vẻ đã nhận ra lợi ích của khoán hộ, nên đã âm thầm nhắm anh chàng Thiết này, nhưng lại tạm giao nhiệm vụ thư ký cho ban cải tạo công thương.

Thiết đã thấy trước kết cục của “cuộc cách mạng” này nên nhân lúc ông Hạt đi công tác dài ngày, ở nhà có chủ trương đưa cán bộ về cơ sở, liền đăng ký về Xí nghiệp vôi Long Thọ.

Tại đây, Thiết lại nhận công việc ở phòng kế hoạch, và lại bất đồng quan điểm với lãnh đạo. Ông trưởng phòng rất hiểu Thiết liền can: “Thôi đừng nói nữa, họ bỏ tù anh đó”.

3/- Vẫn là một trí thức:

Ngột ngạt quá, Thiết liền cáo bệnh và xin nghỉ mất sức. Đó là năm 1980, Thiết 43 tuổi, sau 30 năm ra đi giờ trở về làng An Ninh Hạ với hai bàn tay trắng. Lúc này anh mới nghĩ đến một việc làm cho bản thân mình: lấy vợ. Năm đó Thiết cưới cô y tá ở bệnh viện y học dân tộc tỉnh, một năm sau sinh con trai. Cứ tưởng là an phận, “nhưng đó lại là năm cực khổ chưa từng có trong đời tôi”. Trên khoé mắt của ông già vé số chợt ngấn nước, và đó là giọt nước mắt duy nhất mà tôi chứng kiến trong suốt cuộc trò chuyện.

Đói triền miên, con nhỏ lại bị bệnh mà không có tiền mua thuốc. Ông nói mấy lần ngã ngựa vẫn không đau, nhưng nhìn con bị bệnh không có thuốc thì đau đớn lắm. Năm 1990, lương hưu mất sức lao động cũng bị cắt. Thiết hụt hẫng như rơi tự do, gia đình bắt đầu lục đục, vợ ôm con bỏ về tập thể bệnh viện tá túc. Thiết bắt đầu lao vào cuộc mưu sinh một cách quyết liệt, cái quyết liệt của bản năng sinh tồn. Ông già vé số nheo mắt cười: “Đó cũng là qui luật thiết thân của con người”.

Bán trứng lộn, lượm chai bao đồng nát, làm đủ thứ mà vẫn không đủ ăn. Năm 1988, đứa em rể làm đại lý vé số thấy ông anh cử nhân kinh tế học đã từng đi Liên Xô về mà đói rách tả tơi liền bảo về bán vé số. Ông nói hoá ra cái nghề bán vé số này lại giúp ông tồn tại đến tận bây giờ và có lẽ ông sẽ còn nương nhờ nó cho đến ngày nhắm mắt. Chỉ có điều, trong 22 năm đó, ai cũng tưởng rằng khổ ải đã biến cải anh chàng cử nhân kinh tế ngang bướng thành một ông già tội nghiệp. Nhưng tôi nhận ra: ông vẫn là một người trí thức đúng nghĩa!

Bản luận chứng dài 72 trang viết tay được đánh máy còn 40 trang, ông Thiết cho biết đã bị mất cả bản chính lẫn bản nháp. Nhưng ông nói nếu còn thì nó cũng lỗi thời lắm rồi, bởi “khoán hộ” theo ông vẫn chỉ là giải pháp tình thế lúc đó mà thôi.

“Chiến lược của tôi là giải phóng sức lao động, biến sức lao động thành hàng hoá; sau đó, giải phóng tư liệu sản xuất khỏi những bàn tay vô cảm”, ông Thiết nói rất say sưa về cuộc nghiên cứu kinh tế mà ông xem như món nợ đời mình. Ông cho biết đang viết một cuốn sách về những điều mà ông đã đánh đổi cả cuộc đời để có được.

Tôi hỏi ông có nguyện vọng được phục hồi như ông Kim Ngọc không, ông cười lắc đầu: “Muộn rồi, vả lại nhu cầu cho bản thân tôi đâu có nhiều”. Điều cuối cùng trong câu chuyện hết sức nhiệt huyết của “triết gia” bán vé số vẫn là một niềm khắc khoải: “Xã hội muốn phát triển thì phải có nền tảng kinh tế chính trị học. Các bạn trẻ cần phải đam mê và đi sâu nghiên cứu để xây dựng nền tảng đó. Đó chính là nền móng của nền kinh tế quốc gia, là động lực phát triển xã hội”.

4/- Các Thầy của người trí thức chân chính của Lê Xuân Thiết cũng bó tay không cứu được ông:

Ông Thiết cho biết sau khi hoàn tất bản luận chứng, đã gửi cho hai người thầy của mình là ông Nguyễn Khắc Mai và Tôn Thất Tịnh (đều là người Huế tập kết ra Bắc). Ông Mai lúc đó đã về hưu ở Hà Nội, làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt.

Ông Mai cho biết vào năm 1973 có nhận một bản thảo đánh máy khoảng 40 trang của ông Thiết trình bày những luận điểm chứng minh sự đúng đắn của khoán hộ. Ông Mai nói: “Tôi tán thành những luận điểm ấy. Vì vậy, việc kỷ luật Thiết là không đúng, và khuyên Thiết nên khiếu nại. Nhưng Thiết thấy không giải quyết được gì, nên thôi”.

Ông Tôn Thất Tịnh cho hay lúc đó ông làm ở Viện Triết học có nhận bản báo cáo về khoán hộ của Lê Xuân Thiết do ông Nguyễn Khắc Mai chuyển. “Cậu ấy bị oan lắm, nhưng bọn tôi không cứu được” – ông Tịnh nói.

(Theo Minh Nhân trên báo Tiền phong)

P/s: Trong xã hội mình có được bao nhiêu người như ông Thiết để rồi nghèo đói, khổ sở vây quanh. Và có bao người trí thức thừa hiểu, thừa biết như ông Thiết nhưng im miệng, đồng loã để vinh thân phì gia? Họ có còn nhân danh là trí thức nữa không hay là “trí ngủ” mà chính xác phải gọi là giả ngủ…. Vậy đừng hỏi tại sao XH giờ ít người tốt và người ta sống bạc ác với nhau thế? Bởi người tốt thì khốn đốn thế thì ai dám làm người tốt nữa???

Ảnh ông Lê Xuân Thiết năm 2011

Nguyễn Tân_ sưu tầm _

Tố Ngọc Trần chia sẻ


 

Nạn đói năm 1945 kinh hoàng đến mức nào?

Phạm Toàn

Thật kinh khủng

Nạn đói năm 1945 kinh hoàng đến mức nào?

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến nhà Nguyễn vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.

   Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn. Nạn đói đã diễn ra ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông.

     Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.

  Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình cũ) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: “Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân.

 Ước tính có khoảng trên 2 triệu người dân chết đói trong khi dân số nước ta khi đó khoảng 23 triệu người.


 

4 GIỜ SÁNG Ở CHỢ RẪY: NƠI TIỀN TỶ CŨNG TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA!

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

   4 GIỜ SÁNG Ở CHỢ RẪY: NƠI TIỀN TỶ CŨNG TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA!

Khi thành phố ngoài kia còn chưa kịp cựa mình trong sương sớm, Chợ Rẫy đã thức. Hoặc có lẽ, mảnh đất này chưa từng ngủ. Giữa lờ mờ sương đêm, đập vào mắt người ta không phải là sự nguy nga của những tòa nhà cao tầng hay nét tân tiến của máy móc, mà là một dòng sông người lặng lẽ chảy, nối đuôi nhau dưới ánh đèn đường vàng vọt, nhạt nhòa.

Không gian mờ sương bỗng chốc bị xé toạc bởi tiếng còi xe cấp cứu rú lên từng hồi gắt gao, rồi lịm dần sau cánh cổng sắt. Tiếng loa phóng thanh lạnh lùng, đều đặn vang lên giữa đêm tịch mịch, đọc tên những bệnh nhân tiếp theo vào phòng khám. Giữa thanh âm hỗn tạp ấy, là màu áo blouse trắng muốt lướt qua vội vã như những cánh chim không mỏi, đối lập hoàn toàn với bóng tối và sự mỏi mệt đang búa vây xung quanh.

Nhìn những chiếc ba lô sờn gấu, những chiếc vali bạc màu quệt đầy bụi đường, ai cũng hiểu họ vừa bước xuống từ một chuyến xe xuyên đêm dài dằng dặc. Họ đến từ những miền quê xa xôi, mang theo cả gia tài và niềm hy vọng cuối cùng đổ về phía ánh đèn viện. Trên ghế đá, dưới bóng cây, nơi góc hành lang lạnh ngắt, người ta nằm co ro, nương tựa vào nhau để chợp mắt.

Ghế đá bên kia, một người mẹ gầy gò, đôi bàn tay gân guốc đan chặt vào nhau, ánh mắt đờ đẫn nhìn trân trân vào khoảng không vô định. Cạnh bà, đứa con nhỏ gối đầu lên chiếc đùi khẳng khiu của mẹ, ngủ say sưa sau chặng đường dài xóc nảy. Góc hành lang bên này, một cụ già tóc bạc phơ, lưng còng rạp xuống, cố hớp một ngụm nước lọc nguội ngắt để nuốt trôi miếng bánh mì khô khốc mang theo từ căn bếp quê nhà. Mỗi con người là một số phận, một bản nhạc buồn được viết bằng những nốt trầm cay đắng nhất của cuộc đời.

Ở đây, tuyệt nhiên không có tiếng than vãn. Chỉ có một sự nhẫn nại im lìm đến nghẹn thắt. Sự im lặng của những con người đã đi qua quá nhiều giông bão, đến mức nỗi đau không còn tư cách để phát ra thành tiếng.

Nhìn những gương mặt hằn sâu nếp nhăn mệt mỏi nhưng đôi mắt cứ đau đáu nhìn về phía cánh cửa phòng khám, lồng ngực tôi chợt nghẹn lại. Tôi nghĩ về thế giới ngoài kia – nơi người ta vẫn ngày đêm lao vào những cuộc đua tranh giành danh lợi, hơn thua nhau từng lời nói trên mạng xã hội, tổn thương nhau vì những điều phù phiếm. Còn ở đây, ngay tại tọa độ này, người ta sẵn sàng buông bỏ tất cả, đánh đổi cả gia sản, đất đai, nhà cửa chỉ để đổi lấy hai chữ: “Khỏe mạnh”.

Hóa ra, khi đứng trước ranh giới của sinh tử, định nghĩa về hạnh phúc lại được gột rửa để trở về thứ nguyên bản, thuần khiết nhất. Hạnh phúc tại Chợ Rẫy không nằm ở lầu cao xe xịn, mà hiển hiện qua:

* Một chỉ số xét nghiệm giảm đi vài phần nguy kịch.

* Một cái gật đầu từ tốn của bác sĩ: “Bệnh này vẫn chữa được”.

* Một cái chạm tay siết chặt khi người thân vừa bước qua cửa phòng hậu phẫu.

* Và một tấm vé xe đò, một cái túi nilon gói ghém quần áo để… được trở về nhà.

Bệnh viện là tấm gương soi chân thực nhất sự mong manh của kiếp người. Nơi đây, mọi chiếc mặt nạ của danh vọng, giàu sang đều rơi xuống. Tiền bạc hay danh vị bỗng trở nên bất lực trước nỗi đau xác thịt. Sự đau đớn và nỗi sợ hãi ở đây bình đẳng một cách nghiệt ngã. Ai cũng ôm một vết xước trong lòng, ai cũng giấu một lời cầu nguyện khẩn thiết hướng về đấng linh thiêng.

Bước ra khỏi cổng bệnh viện khi những tia nắng đầu ngày bắt đầu nhảy múa trên những tán lá, hít một hơi ngực đầy không khí sớm mai, tôi thấy lòng mình chùng xuống nhưng tràn ngập lòng biết ơn.

Biết ơn vì mỗi sớm mai thức dậy, cơ thể này vẫn vẹn nguyên, khỏe mạnh. Biết ơn vì những người ta yêu thương vẫn bình an đi qua một đêm thâu. Và biết ơn vô ngần, vì sau tất cả những bão giông ngoài kia, chúng ta vẫn còn một mái nhà bình yên để trở về, để sống, để bao dung và để tiếp tục yêu thương nhau khi còn có thể…


 

Vụ Mr.Pips lừa đảo: Kê biên dàn siêu xe, nhà đất, vàng, tiền ‘lớn nhất từ trước đến nay’

Ba’o Nguoi-Viet

August 3, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cơ quan điều tra đã kê biên, thu giữ 41 siêu xe như Rolls-Royce, Ferrari, Lexus…, 111 bất động sản, cùng hàng trăm lượng vàng và lượng lớn tiền mặt trong vụ án lừa đảo của Mr.Pips.

Khối tài sản “khủng” nêu trên được Viện Kiểm Sát Hà Nội liệt kê trong cáo trạng truy tố gần 200 bị can trong vụ án lừa đảo đầu tư sàn giao dịch chứng khoán quốc tế Forex “lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam về ngoại hối, chứng khoán” do bị can Phó Đức Nam, tự Mr. Pips, 32 tuổi, cùng đồng phạm thực hiện.

Bị can Phó Đức Nam cùng một phần số vàng, tiền bị thu giữ trong vụ án. (Hình: TL/Tuổi Trẻ)

Báo Tuổi Trẻ hôm 3 Tháng Tám dẫn cáo trạng vừa được ban hành cho biết, ngoài cáo buộc “lừa đảo và rửa tiền,” cơ quan tố tụng còn làm rõ cách nhóm bị can sử dụng dòng tiền phạm pháp để mua hàng loạt bất động sản, xe hơi hạng sang rồi nhờ nhiều người đứng tên sở hữu.

Riêng bị can Phó Đức Nam được xác định sở hữu 25 xe hơi gồm nhiều siêu xe và bảy xe mô tô.

Đáng chú ý, từ giữa năm 2022 bị can Nam nhờ người thân mượn căn cước của cô Nguyễn Bích Ng. gửi cho mình, sau đó dùng tên cô này thành lập công ty Cổ Phần Vận Tải Phương Nam Xanh cùng các văn phòng đại diện tại Hà Nội và Sài Gòn để ghi danh hàng loạt siêu xe.

Trong số đó có nhiều mẫu xe trị giá hàng chục tỷ đồng như Rolls-Royce Cullinan, Mercedes-AMG G63; Audi Q7, Jaguar F-Pace, Mercedes E300…

Không dừng lại ở đó, bị can Nam còn mua thêm tám siêu xe như Ferrari Roma, Porsche 911 Turbo S, Mercedes-AMG A45S, Mercedes-AMG GT R, Jaguar F-Type, Mercedes C200, BMW 330i… nhưng nhờ em trai, bạn bè hoặc người quen đứng tên sở hữu rồi ủy quyền để bị can Nguyễn Thanh Tâm, bạn gái của mình, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản theo yêu cầu của anh ta.

Ngoài số xe đã ghi danh, bị can Nam còn mua bốn xe hơi gồm Nissan GT-R R35 Nismo Special Edition, Ferrari Roma…nhưng chưa hoàn tất thủ tục sang tên.

Không chỉ riêng Mr Pips, “cánh tay phải” của anh ta là bị can Lê Khắc Ngọ cũng bị thu giữ năm siêu xe, trong đó có Lamborghini Urus, Porsche Panamera và hai chiếc Jaguar F-Type.

Tính chung, cơ quan điều tra đã thu giữ 48 xe, gồm 41 xe hơi và bảy xe mô tô.

Cùng với việc thu giữ dàn xe sang, cơ quan điều tra còn tiến hành kê biên đối với 111 bất động sản của các bị can và những người liên quan để “phục vụ điều tra, thu hồi tài sản.”

Theo cáo trạng, ngoài những bất động sản được xác định sử dụng để “rửa tiền,” bị can Phó Đức Nam còn sở hữu nhiều căn hộ, nhà đất tại Sài Gòn, Hà Nội, Tây Ninh, Hưng Yên và nhiều tỉnh thành khác. Trong đó, nhiều bất động sản đứng tên Nguyễn Thanh Tâm, bố mẹ bị can Nam hoặc người thân đã bị tạm dừng giao dịch.

Riêng người thân Mr. Pips được xác định sở hữu chín bất động sản, trong đó có nhiều căn hộ tại Masteri Thảo Điền, D’Edge, chung cư The Sóng ở Vũng Tàu cùng nhiều nhà, đất khác.

Ngoài nhà đất và siêu xe, quá trình điều tra trước đó công an còn thu giữ lượng lớn tiền mặt, ngoại tệ, vàng và sổ tiết kiệm tại nơi ở của các bị can và người liên quan.

Một vài chiếc trong dàn siêu xe của Mr. Pips bị cơ quan hữu trách thu giữ. (Hình: Nguyễn Thịnh/Dân Việt)

Trong đó có hàng trăm tỷ đồng tiền mặt, gần $2 triệu, hàng trăm lượng vàng SJC cùng nhiều sổ tiết kiệm có tổng trị giá hàng trăm tỷ đồng.

Riêng thời điểm Tháng Mười Một, 2024, khi khám xét căn hộ của bị can Nguyễn Thanh Tâm, công an thu giữ gần 44.8 tỷ đồng ($1.7 triệu), hơn $1.7 triệu, 67,000 đô la Singapore, 30,000 nhân dân tệ cùng hàng chục ngàn đơn vị tiền của nhiều quốc gia khác.

Chưa hết, khám xét nơi ở của hai người thân trong gia đình bị can Nam, cơ quan điều tra thu giữ 274 lượng vàng SJC, hơn 13 tỷ đồng ($494,520), $500,000 cùng hơn 25 tỷ đồng ($951,000) trong tài khoản ngân hàng.

Đối với vợ chồng Lê Khắc Ngọ, lực lượng hữu trách đã thu giữ hơn 140 lượng vàng, $85,000, khoảng 20 tỷ đồng ($760,800) tiền mặt cùng 53 sổ tiết kiệm với tổng số dư gần 160 tỷ đồng ($6 triệu).

Với số tài sản bị phong tỏa, kê biên và thu giữ kể trên, công an đánh giá đây là “một trong những vụ án lừa đảo đầu tư tài chính có khối tài sản bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm thu hồi lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.” (Tr.N)