CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Xuyên Sơn

 

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Tôi dám cá với các bạn là hiện nay có rất nhiều người Việt mình

( con số có thể hàng triệu , trẻ có mà già cũng có )

nghĩ rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của chính phủ VNCH trước 1975 . Thậm chí cũng có trường hợp như thằng bạn chơi chung trong hội xe đạp của tôi, hơn 40 tuổi nhưng nó còn hỏi tôi cờ vàng ba sọc là cờ gì ?

    Chính gì hiểu sai và mù tịt về nguồn gốc cho nên hễ thấy ở đâu xuất hiện lá cờ vàng là trong đầu họ lởn vởn 2 chữ “ phản động” hoặc “Cờ của ngụy”

Rồi co rúm người lại , sợ hãi , ngó dáo dác xung  quanh coi có Công an không

     Thực trạng dốt nát , hiểu sai về nguồn gốc lá cờ vàng dân tộc

(và nhiều chuyện ghê gớm khác nữa ) của số đông người Việt chúng ta bởi vì liên tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác chúng ta bị nhà trường XHCN dạy những điều sai sự thật liên quan lịch sử

   Thú thật với các bạn là tôi cũng nằm trong số đông người Việt bị tiêm nhiễm kiến thức lịch sử đầy dối trá như thế .

Tôi cũng một thời u mê mụ mị, bởi cái tuổi tôi cũng học cùng 1 chương trình giáo dục đó thôi.

Tuy nhiên, ở đời khôn hay dại là do mình.

Chấp nhận làm cừu cho người ta dắt  hay muốn tự khai sáng là do mình . ….

Ngày nay phương tiện để khai sáng học hỏi nó ở ngay trong nhà mình . Thậm chí không cần đến trường vẫn có thể trở thành một người thông thái….

Trở lại câu chuyện lá cờ vàng, đó không phải là lá cờ do chế độ

“ mỹ ngụy “ sáng tác ra  như đám bò đỏ, dlv vẫn nghĩ .

Đó cũng không phải là lá cờ thù địch đáng ghét để xé để dẫm đạp lên để rồi phạm tội như 1 cậu du học sinh tại Úc đang ồn ào.

Mà đây chính là lá cờ của dân tộc Việt đã truyền qua nhiều chính thể mà chính phủ VNCH chỉ là sự tiếp nối theo dòng chảy lịch sử ( google)

Nếu được giáo dục đúng sự thật sẽ không có thái độ cực đoan và sẽ không phạm tội như chuyện đang xảy ra.

    Nền giáo dục XHCN phải chịu trách nhiệm về chuyện này.

Nhưng trước hết chúng ta phải tự cứu mình bằng cách mỗi người phải tự khai sáng cho bản thân

Ai đó đã nói rất đúng

“ Ngày xưa không có internet bị cộng sản lừa thì không phải lỗi của mình. Ngày nay có internet mà vẫn bị cộng sản lừa là tại mình …. quá ngu mà thôi”

Nguồn fb Hai Tran 


 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH,

 8 SÀI GÒN 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH, CUỐI ĐỜI RỐI LOẠN TÂM THẦN, KHÔNG CON CÁI, ĐI BÁN BÁNH DẠO…

Câu chuyện về Ân Phi Hồ Thị Chỉ (1902 – 1982) là một bi kịch. Bà yêu hoàng đế Duy Tân nhưng cuối cùng lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái. Sau khi vua qua đời, bà phải dọn ra khỏi hoàng cung, mắc bệnh t^mthần, sống cô đơn cho đến cuối đời.

Hồ Thị Chỉ là con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương. Bà lớn lên trong gia tộc danh giá bậc nhất xứ Huế. Những người anh em của bà đều là bậc trí thức nổi tiếng như Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm… Nhưng giữa gia đình hào môn ấy, cuộc đời Hồ Thị Chỉ lại sớm bị định đoạt bởi những mối dây vô hình của hoàng tộc và chính trị.

Người ta kể rằng, mùa hè năm 1913, khi vua Duy Tân còn là một thiếu niên, những buổi nghỉ mát ở Cửa Tùng đã vô tình mở ra một đoạn duyên kỳ lạ. Những đứa trẻ của gia đình Hồ Đắc Trung được đưa theo để bầu bạn với hoàng đế. Trong tiếng sóng biển rì rào và nắng hè chói chang, cô bé 11 tuổi Hồ Thị Chỉ mang vẻ đẹp e ấp, thẹn thùng đã khiến vị vua 14 tuổi chú ý.

Không phải một cuộc gặp gỡ của những lời thề non hẹn biển, không phải một khởi đầu được báo trước bằng nghi lễ, chỉ là một rung động âm thầm giữa hai đứa trẻ bị đặt vào vòng cung cấm của lễ nghi và thân phận. Về sau, chính sư bà Diệu Không, em ruột của Hồ Thị Chỉ, đã viết lại những ký ức ấy như một mảnh vỡ dịu dàng: Vua gọi các anh là “anh”, gọi Chỉ là “em”, ánh mắt dừng lại nơi bà nhiều hơn tất cả.

Mùa hè kết thúc, cuộc chia ly đến như một lưỡidao cắt ngang tuổi thơ. Hồ Thị Chỉ khóc. Vị vua trẻ lặng im. Và rồi lời hẹn “sang năm gặp lại” được thốt ra như một chiếc lá mong manh treo giữa trời, không ai biết sẽ rơi lúc nào.

Năm sau, khi Hồ Thị Chỉ đã lớn hơn, mẹ không cho phép bà trở lại Cửa Tùng gặp vua. Khi vua Duy Tân được hai bà Hoàng Thái Hậu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ. Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Không một sự an ủi nào đủ sức làm dịu đi nỗi sững sờ của gia đình họ Hồ. Và rồi chỉ ít lâu sau, vua kết hôn, ngồi trong kiệu hoa bước vào hoàng cung không phải Hồ Thị Chỉ, mà là một cô gái khác.

Sau này, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp, rồi bị bắt lưu đày. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ nghe vậy càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sốngchết vì vua.

Thế nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy.

Vua Khải Định bước lên ngai vàng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ngài nhìn thấy Hồ Thị Chỉ trong một cuộc gặp mang tính nghi thức. Lời cầu hôn được đưa ra không phải như một lời hỏi han, mà như một mệnh lệnh. Trong căn nhà họ Hồ, không khí nặng trĩu. Cha bà hiểu rằng đây không còn là chuyện tình cảm đơn thuần. Đây là lựa chọn giữa danh dự và tai họa. Giữa sự sống còn của cả gia tộc và ý chí của một người con gái.

Hồ Thị Chỉ khóc, nói muốn ở lại bên cha mẹ suốt đời, không muốn bước vào bất kỳ cuộc hôn nhân nào, vì trong lòng chỉ yêu vua Duy Tân. Nhưng tiếng khóc ấy, dù xé lòng, vẫn không thể chống lại sức nặng của “khẩu dụ”. Trong triều đình, một lời của vua không chỉ là lời nói, nó là số phận.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài như không có bình minh. Cả gia đình thay nhau thuyết phục. Cuối cùng, Hồ Thị Chỉ chấp nhận kết hôn với vua Khải Định.

Ngày 3 tháng 12 năm 1917, lễ nạp phi diễn ra long trọng. Hồ Thị Chỉ, 15 tuổi, trở thành Ân phi, Nhất giai Phi, bậc cao nhất trong hàng hậu cung, chỉ dưới Hoàng quý phi. Một danh vị mà người ngoài nhìn vào tưởng là vinh quang, nhưng với bà, đó là cánh cửa khép lại mọi con đường trở về.

Trong cung, bà được xem trọng do thông thạo chữ nghĩa, giỏi tiếng Pháp. Bà từng xuất hiện trong các buổi tiếp tân như gương mặt đại diện cho sự giao thoa Đông Tây. Nhưng phía sau những nghi lễ ấy là một đời tư trống rỗng. Không con cái. Không điểm tựa tình cảm. Không một tiếng gọi thân thuộc giữa bốn bức tường vàng son.

Một số giai thoại gây tranh cãi về vua Khải Định vẫn luôn khiến hậu thế xôn xao. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng ghi nhận những lời đồn rằng vị hoàng đế này có sở thích đặc biệt với nam giới, thậm chí trong suốt 10 năm trị vì (1916-1925) còn nuôi thị vệ Nguyễn Đắc Vọng bên cạnh. Ban đêm nhà vua thường gọi Vọng vào ngủ chung và ban thưởng hậu hĩnh. Các quan đại thần muốn đưa con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân), ai muốn tu thì cứ vào.”

Không dừng lại ở đó, nhiều tài liệu truyền miệng còn nói Khải Định đặc biệt mê hát bội nhưng chỉ chuộng gánh tuồng toàn nam, kể cả vai nữ cũng do nam giả trang. Bên cạnh đó, nhà vua còn bị mô tả là người ưa trang điểm, đeo trang sức cầu kỳ, ăn mặc sặc sỡ và thậm chí tự thiết kế y phục khác lạ, tạo nên hình ảnh một vị hoàng đế dị biệt.

Khải Định qua đời năm 1925. Triều đại đổi chủ. Bảo Đại lên ngôi, cải tổ nội cung. Những danh phận cũ bị sắp xếp lại như những quân cờ bị xáo trộn. Hồ Thị Chỉ phải rời khỏi hoàng cung. Không con cái, nỗi cô đơn ngày một lớn, bà mắc bệnh tr/cảm và rối loạn t^mthần.

Từ một Ân phi sống trong lầu son gác tía, bà trở thành một bóng dáng lặng lẽ, phiền muộn, sống lay lắt giữa đời. Mỗi ngày, bà mang một rổ bánh nậm ra chợ An Cựu, khi thì bán, khi thì cho, không màng lời lãi, áo quần và nơi ở xuề xòa, tạm bợ. Bệnhtinh thần theo năm tháng ngày càng nặng.

Năm 1975, cuộc đời bà như được kéo lại từ bờ vực khi hai người anh ruột là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di từ Hà Nội vào Huế, tìm gặp lại em gái sau bao năm xa cách. Từ đó, bà dần được chăm sóc, bệnh ổn định hơn, không còn đi lang thang ngoài đường như trước.

80 tuổi, Ân phi suy kiệt vì tiêu chảy và qua đời tại Bệnh viện Trung ương Huế. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khu lăngmộ họ Hồ trên đồi thông gần chùa Hồng Ân, nơi do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, em gái bà, sáng lập và trụ trì.

Cuộc đời bà, nếu nhìn bằng mắt thường, là một chuỗi vinh hiển: Từ con gái quan lớn, đến Ân phi quyền quý, rồi sống trong những dinh thự sang trọng. Nhưng nếu nhìn bằng trái tim, đó là một bi kịch kéo dài, bi kịch của một người phụ nữ bị đặt giữa những vòng xoáy của lịch sử, nơi tình yêu đầu đời bị cắt đứt, hạnh phúc bị định đoạt và cô đơn trở thành bạn đồng hành cuối cùng.

Trong những bức tường thành cung điện Huế hôm nay, đâu đó như còn vang lên tiếng thở dài rất khẽ của một người con gái từng sống một đời rực rỡ bên ngoài, nhưng cô quạnh, đau khổ sâu trong tâm khảm.

Thu Hằng (Tổng hợp)

SÀI GÒN KỶ – NIỆM


 

NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

Liem Pham ·

NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN

(Lời kể của cô Ba Lành, 71 tuổi, Mountain View, California)

LỜI TỰA

Có những câu chuyện không phải để đọc cho biết.

Mà để… không quên.

Có những cái chết không có mộ.

Chỉ có sóng.

Và có những người sống sót…

là để mang giùm ký ức của những người đã chìm xuống.

Nếu đọc đến đây mà tim bạn còn yên, thì xin đọc tiếp.

Còn nếu thấy cổ họng bắt đầu nghẹn lại…

thì bạn đang chạm vào một phần của lịch sử.

——

  Sài Gòn, 1979

Ba tôi là Trung úy Địa Phương Quân.

Sau 75, ông đi tù cải tạo hơn 3 năm mới về.

Ngày ông bước vô nhà, tôi suýt không nhận ra.

Người gì mà chỉ còn da bọc xương, tóc bạc trắng, mắt trũng sâu như hai cái giếng cạn.

Má tôi đứng chết lặng.

Rồi bà run run:

— “Ông… còn sống thiệt hả ông?”

Ba tôi cười. Cái cười không thành tiếng:

— “Chưa chết… chắc tại tụi nó quên.”

Nhà chín miệng ăn.

Hộ khẩu bị cắt.

Tem phiếu không tới lượt.

Gạo không có.

Tiệm vải của má bị niêm phong, dán giấy đỏ chói.

Họ gọi là “đánh tư sản”.

Má tôi gọi là… “đánh nát đời người”.

Đêm nào bà cũng quay mặt vào vách mà khóc. Không dám khóc lớn. Sợ hàng xóm nghe.

Anh Hai ngồi bó gối một góc, giọng khàn:

— “Ở lại… là chết mòn đó má.”

Má im lặng rất lâu.

— “Đi… thì đi hết.”

——

  Rạch Giá, đêm không trăng.

Ghe dài 11 mét. Nhét 63 con người.

Chủ ghe vỗ ngực:

— “Yên tâm, ghe này đi trót lọt hai chuyến rồi!”

Tụi tôi bị nhét dưới hầm máy.

Nước ngập mắt cá.

Mùi dầu, mùi người, mùi ói… trộn lại thành thứ mùi không bao giờ quên.

Em Út nắm tay tôi, run:

— “Chị Hai… mình có chết không?”

Tôi nuốt nước bọt:

— “Không… mình đi tìm sống mà.”

Ghe vừa ra cửa biển.

Đèn pha quét ngang.

— “Biên phòng!”

Tiếng ai đó hét lên.

Đạn xé gió. “Vèo! Vèo!”

Có tiếng kêu:

— “Ối trời ơi !”

Rồi… im bặt.

Sáng ra mới biết… thím Tám chết. Không kèn, không trống.

Chỉ một tấm chiếu, buộc lại.

Má tôi quay mặt đi. Không dám nhìn. Xác thím thả xuống biển. Như một hòn đá. Không ai biết… biển sâu bao nhiêu.

——

  Cướp biển.Gần Koh Kra.

Hai tàu Thái Lan áp sát. Những bóng người nhảy qua như quỷ.

Dao.

Súng.

Mắt lạnh như không phải người.

— “Gold! Dollar! Fast!”

Không có… là đánh. Ba tôi bị đập báng súng. Ngã xuống.

Máu chảy ướt cả trán.

Má tôi lao tới:

— “Đừng! Ông ấy bệnh rồi! Xin tụi bay!” Một cú đá.

Má văng ra.

Rồi… chúng bắt đầu lôi phụ nữ.

Tôi. Em Út. Con bé 12 tuổi.

Nó khóc thét:

— “Má ơi!!! Má ơi!!!”

Má tôi bò theo, ôm chân tụi nó:

— “Tao lạy tụi bay… trả con tao lại… nó còn nhỏ… nó chưa biết gì hết…”

Một tên cười.

Đá mạnh.

— “Shut up!”

——

Sáu tiếng sau. Không ai hỏi.

Không ai dám hỏi. Khi chúng thả tụi tôi về… em Út không khóc nữa.

Không nói.

Không nhìn ai.

Chỉ ngồi… như một cái xác còn thở.

Má ôm tụi tôi.

Cắn chặt môi… đến bật máu.

— “Con ơi… con ơi…”

Tôi muốn khóc.

Nhưng không còn nước mắt.

Trên ghe… 63 người.

Không một ánh mắt nào dám nhìn tụi tôi.

Không phải họ vô tâm.

Mà vì… ai cũng sợ phải thấy địa ngục.

——-

  Ngày 11. Biển nuốt người. Hết nước từ ngày thứ 7.

Thằng Tèo 6 tuổi khát quá.

Nó lén uống nước biển.

Tối đó… nó co giật.

Má ôm nó, lay:

— “Tèo! Uống miếng nước nữa nè con… Tèo ơi… đừng bỏ má…”

Nó nhìn má.

Môi khô nứt.

— “Má… con khát…”

Rồi… tắt. Trên tay má.

Má không khóc thành tiếng nữa. Chỉ có tiếng… gió biển.

——

Ba tôi thức trắng ba đêm.

Đến đêm 11, ông bắt đầu nói sảng:

— “Tụi bay… ráng sống… đừng quay lại…”

Anh Hai nắm tay ông:

— “Ba… đừng nói vậy…”

Ba tôi nhìn xa xăm. Không còn thấy tụi tôi nữa.

— “Ba mệt rồi…”

Ông gục xuống. Không thở nữa.

Má ngồi đó. Không khóc.

Chỉ nói một câu… nhỏ như gió:

— “Ông đi trước… tui theo sau…”

Ngày 13.

Thằng Tý 9 tuổi… cũng đi.

Ghe còn 59 người.

Nhưng không ai còn là người như lúc đi nữa.

——

   Pulau Bidong, 1979

Ngày 15.

Một giàn khoan của Shell thấy ghe. Họ quăng nước xuống. Bánh mì.

Có người vừa ăn vừa khóc.

Có người… không còn sức để khóc.

Ghe được kéo vào đảo.

7 người đi.

Còn 3 người đến.

Má.

Anh Hai.

Và tôi.

Em Út… chết sau 2 tháng.

Không bệnh nặng.

Chỉ là… nó không nói nữa.

Không ăn.

Không sống.

Má tôi bế nó lần cuối:

— “Con nói với má một câu thôi… một câu thôi…”

Con bé không mở miệng.

Nó đi… như một người đã đi từ lâu rồi.

——

   Những năm sau đó. Gia đình tôi sang Mỹ.

Anh Hai nhập ngũ.

Năm 2004… nó chết ở Iraq.

Ngày nhận giấy báo tử, tôi nhìn má.

Bà không khóc.

Chỉ hỏi:

— “Nó… có lạnh không?”

Má tôi mất năm 2015.

Trên tay… vẫn nắm cái lai áo cũ.

Chỗ ngày xưa may 5 cây vàng.

San Jose. 2026

Tôi 61 tuổi.

Nhiều đêm… vẫn giật mình vì tiếng máy ghe.

Tiếng đạn.

Tiếng “Má ơi…”

Con cháu tôi sinh ở Mỹ. Tụi nó học trường lớn. Sống đời khác.

Tôi không kể.

Vì… không biết bắt đầu từ đâu.

Chỉ mỗi tháng Tư…

tôi ra biển Santa Cruz Beach.

Đốt 3 nén nhang.

Thả 3 bông cúc trắng.

Tôi nói nhỏ:

— “Ba… Tèo… Tý…

Con còn sống.”

Sóng vẫn vỗ.

Như chưa từng có gì xảy ra.

  Sử sách… có thể quên. Nhưng biển… không quên.

Dưới đó… không chỉ có 3 người nhà tôi. Mà là… hàng trăm ngàn người.

Và hàng triệu câu chuyện…

chưa bao giờ được kể hết.

  Nếu bạn đọc đến đây… mà thấy cổ họng nghẹn lại,

xin đừng lau nước mắt vội.

Vì…

có những giọt nước mắt,

là thứ cuối cùng nối người sống…

với người đã nằm lại giữa biển.

Phạm Sơn liêm


 

Phạm Đoan Trang trong số ’10 trường hợp khẩn thiết’ 2026 về tự do báo chí

Ba’o Nguoi-Viet

May 3, 2026

New York City, NY (NV) – Nhà báo, nhà đấu tranh Phạm Đoan Trang của Việt Nam có tên trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” (Global ‘10 Most Urgent’ 2026) liên quan đến tự do báo chí, do hơn 40 cơ quan truyền thông toàn cầu cùng hợp tác trong Liên Minh One Free Press lập nên.

Tờ Forbes dẫn tin đúng vào Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới, hôm Chủ Nhật, 3 Tháng Năm.

Nhà báo Phạm Đoan Trang (Hình: icj.org)

Về trường hợp nhà báo Phạm Đoan Trang của Việt Nam, Liên Minh One Free Press cho biết:

“Năm 2021, nhà văn, nhà báo và nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bị kết án chín năm tù vì tội ‘tuyên truyền chống nhà nước.’ Bà viết về dân chủ, tự do ngôn luận, nhân quyền và bạo lực của cơ quan công an. Trong thời gian bị giam, sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng. Bà bị viêm xoang, viêm khớp, các vấn đề phụ khoa và các cơn đau chân kéo dài. Bà bị từ chối điều trị y tế bên ngoài và bị chuyển đến nơi giam giữ cách xa gia đình gần 1,600 km, như một hình thức trừng phạt bổ sung.”

Theo Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ), phần lớn các nhà báo bị giam giữ tính đến ngày 1 Tháng Mười Hai, năm 2025, chiếm 61% số người bị bỏ tù trên toàn cầu, bị giam giữ theo các cáo buộc “chống nhà nước”; “khủng bố” hoặc nhận tài trợ từ chính phủ ngoại quốc.

Danh sách được tổng hợp với sự hợp tác của CPJ, Quỹ Truyền Thông Phụ Nữ Thế Giới (IWMF) và Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF.) Theo dữ liệu của CPJ, hiện có 330 nhà báo đang bị giam giữ trên toàn thế giới liên quan đến công việc của họ.

Ngoài bà Phạm Đoan Trang, chín nhà báo còn lại trong danh sách “Global ‘10 Most Urgent’” là: Ông Reza Valizadeh (Iran); ông Jimmy Lai (Hong Kong); bà Zhang Zhan (Trung Quốc); bà Ulfatkhonim Mamadshoeva (Tajikistan); nhà làm phim, nhiếp ảnh gia Tsi Conrad (Cameroon); nữ nhà báo Frenchie Mae Cumpio (Philippines); bà Sevinj Vagifgizi (Azerbaijan), chủ bút tờ Abzas Media; bà Genet Asmamaw (Ethiopia); nhà báo thể thao Christophe Gleizes (Algeria).

Trong năm qua, Liên Minh One Free Press đã đón mừng việc trả tự do cho ba nhà báo từng xuất hiện trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” vào Tháng Năm, năm 2025. Đó là  Vladyslav Yesypenko (bị giam tại Crimea do Nga kiểm soát từ năm 2021), Shin Daewe (bị giam tại Myanmar từ Tháng Mười 2023) và Ihar Losik (bị giam tại Belarus.)

Liên Minh One Free Press đã liên kết với hơn một tỷ độc giả, sử dụng các nền tảng xã hội rộng khắp để hỗ trợ 10 nhà báo của “10 trường hợp khẩn thiết nhất” sau đây cùng các trường hợp khác bị đàn áp báo chí trong năm 2026. (K.L) [kn]


 

30 THÁNG 4

Xuyên Sơn

Xin các bạn nói chuyện với tôi đừng bao giờ nhắc đến từ ăn mừng ngày giải phóng 30 tháng 4 nhe, nếu các bạn còn coi tôi là bạn, bởi với tôi đó là một tháng 4 đen vì giải phóng vô đây có vạn người vui nhưng có triệu người buồn !

Hình 1:

Thiếu tá Đặng Sĩ Vinh vị sĩ quan QLVNCH đã tuẫn tiết cùng với vợ con khi hay quân CSBV đã tiến chiếm Saigon, ông thà chết vinh hơn sống nhục

Hình 2:

Trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến tại Saigon trong ngày 30 tháng 4 !

Ông chấp nhận cái chết chớ không muốn rơi vào tay giặc thù !

Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử

Mẹ Việt Nam Ơi,

Con Xin Tạ Lỗi Dưới Chân Người .!

Nguồn: fb Si Ngo


 

CÚ SỐC GIÁO DỤC MIỀN NAM QUA GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN MIỀN BẮC…

8 SÀI GÒN

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975).

Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH).

Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc.

Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội.

Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi.

Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên.

Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.

[…] 

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lý giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

* Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

* Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

* Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lý giáo dục.

Theo tôi, cứ lấy triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

(Thanks. Bài của Những Công Dân tự do…)

VIỆT LUẬN


 

Nữ tu Công Giáo bị tấn công thô bạo tại Jerusalem

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2026

JERUSALEM (NV) – Cảnh một nữ tu Công Giáo, người Pháp, bị một người đàn ông tấn công ngay trên đường phố Jerusalem, theo đoạn video do cảnh sát Israel công bố, gây phẫn nộ trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo và làm dấy lên lo ngại về xu hướng bạo lực nhắm vào các nhóm tôn giáo thiểu số đang gia tăng tại khu vực này, NBC News loan tin hôm Thứ Sáu, 1 Tháng Năm.

Sự việc xảy ra hôm Thứ Ba gần khu vực Lăng Vua David tại Núi Zion, một địa điểm linh thiêng đối với Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo. Video từ camera an ninh cho thấy nghi can chạy từ phía sau, xô nữ tu ngã xuống đất, sau đó quay lại đá khi nạn nhân vẫn đang nằm trên đường.

Cảnh sát Israel đưa cận ảnh nữ tu bị trầy xước trên mặt. (Hình: Israel Police @X)

Cảnh sát Israel cho biết họ bắt giữ một nghi can với cáo buộc tấn công có động cơ phân biệt chủng tộc. Danh tính của nghi can và nạn nhân chưa được công bố, nhưng lãnh sự quán Pháp xác nhận nạn nhân là một nữ tu thuộc Trường Kinh Thánh Và Khảo Cổ Học Pháp tại Jerusalem.

Hình ảnh do cảnh sát công bố cho thấy nạn nhân bị bầm tím trên mặt sau vụ tấn công.

Lãnh đạo các tổ chức Thiên Chúa Giáo tại Jerusalem lên tiếng mạnh mẽ sau vụ tấn công hèn hạ này. Ông Farid Jubran, đại diện Tòa Thượng Phụ Latinh, gọi đây là một “tội ác thù hận ghê tởm và man rợ nhắm vào một người không có khả năng tự vệ.” Còn Linh Mục Olivier Poquillon, giám đốc cơ sở nơi nạn nhân phục vụ, cho biết: “Tai họa của sự thù hận là một thách thức chung.”

Cảnh sát Israel khẳng định sẽ áp dụng chính sách “không khoan nhượng” đối với các hành vi bạo lực nhắm vào các cộng đồng tôn giáo, nhấn mạnh cam kết bảo vệ các nhóm tín ngưỡng trong một thành phố có ý nghĩa thiêng liêng đối với nhiều tôn giáo.

Bộ Ngoại Giao Israel cũng lên án đây là một “cuộc tấn công đáng khinh” và cho rằng bạo lực đối với các cá nhân vô tội không có chỗ trong xã hội.

Dù phản ứng chính thức nhanh chóng, nhiều đại diện cộng đồng cho rằng vấn đề sâu xa hơn chưa được giải quyết. Ông Wadie Abunassar, điều phối viên Diễn Đàn Cơ Đốc Giáo Tại Thánh Địa, nhận định các vụ tấn công nhắm vào người Thiên Chúa Giáo đang trở thành hiện tượng gia tăng, và vụ việc lần này chỉ được chú ý vì có video ghi lại, đồng thời, chỉ ra điểm yếu trong hệ thống răn đe nhiều vụ không dẫn đến bắt giữ, nghi can nhanh chóng được thả hoặc mức truy tố nhẹ.

Vụ tấn công này không phải là trường hợp đơn lẻ. Hồi tháng trước, hai binh sĩ Israel bị đình chỉ nhiệm vụ sau khi một đoạn hình ảnh cho thấy một người dùng búa phá hoại tượng Chúa Giê-su tại làng Thiên Chúa Giáo Debel ở miền nam Lebanon. Vào Tháng Ba, cảnh sát Israel ngăn các lãnh đạo Công Giáo La Mã vào Nhà Thờ Mộ Thánh để cử hành Lễ Lá, gây phản ứng quốc tế. Trong nhiều năm, các giáo sĩ tại Jerusalem cho biết họ thường xuyên bị quấy rối, nhổ nước bọt và tấn công bởi các phần tử cực đoan.

Những sự việc này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực gia tăng, đặc biệt khi xung đột tại Lebanon vẫn tiếp diễn bất chấp các nỗ lực ngừng bắn.

Jerusalem từ lâu được xem là nơi giao thoa của các tôn giáo lớn. Tuy nhiên, chuỗi sự việc gần đây cho thấy sự cân bằng đó đang chịu áp lực, khi bạo lực mang yếu tố tôn giáo không còn là hiện tượng cá biệt mà có dấu hiệu lặp đi lặp lại gây nghi ngờ các tuyên bố thiện chí của giới chức Israel. (MPL)


 

NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ 1975…- Đỗ Duy Ngọc  

Việt Luận – Viet’s Herald 

Đỗ Duy Ngọc  

Đó là những ngày cuối cùng. Cuối cùng của một nhà nước, một chế độ, một quốc gia. Lúc đấy hắn chưa nghĩ được điều đó. Hắn chỉ nghĩ Việt cộng lúc này đánh rát quá. Đánh tới tận Long Khánh rồi.

Hắn thấy có người ra đi. Đã có một vài nhà bỏ trống. Có tiếng súng ậm ì lác đác. Hắn chẳng biết làm gì. Loanh quanh. Hàng ngày hắn không đến trạm xe chờ chở đến nơi làm việc nữa. Hắn bỏ việc.

Hắn thấy trống rỗng và không biết ngày mai sẽ như thế nào nữa. Hắn chẳng biết tin tức gì của gia đình ở Đà Nẵng. Không biết gia đình hắn có xuống tàu đi vô Nam không? Anh em hắn đông quá, đi kiểu ấy làm gì cũng có kẻ thất lạc. Mấy năm rồi hắn không viết thư về nhà. Hắn là thằng con đi hoang. Bỗng dưng hắn lại nhớ nhà.

Buổi chiều xuống chậm, trời oi bức chờ mưa. Cả thành phố ngơ ngác làm sao ấy. Hắn nhớ đến số tiền gởi ngân hàng. Người người xếp hàng rút tiền. Hắn cũng xếp hàng nhưng rồi không đủ kiên nhẫn đợi. Đi về. Những chuyến xe vội vã, những căn nhà vắng chủ. Đã qua ngày 26. Hắn vẫn chưa nghĩ ra được gì, đầu óc trống rỗng. Có khi lại hỗn loạn mù mịt.

Hay là kiếm mối nào di tản một chuyến. Đi chơi thôi. Hắn thèm đi chơi đâu đó. Quanh đi quẩn lại chẳng ai quen. Hắn nhớ lời của một thằng bạn, nó bảo nghe đài khi có bản nhạc Tuyết rơi giữa mùa hè thì đến chỗ này, chỗ nọ để trực thăng đón đi. Hắn muốn qua Chợ Lớn gặp ông anh. Không biết ông anh có đi không? Làm nghề luật sư lại là sếp của một cơ quan dân vận, chắc có mối bay rồi. Nhưng thôi, phận ai nấy lo, hắn qua nhiều khi lại thêm phiền người khác.

Vẫn cơm chợ Trương Minh Giảng. Ngày hai bữa. Lê la quán vỉa hè. Bạn bè đi đâu mất hết. Tình hình có vẻ căng. Nghe nói Việt cộng đã về đến Biên Hòa. Rồi sao nữa ta? Kệ mẹ, đến đâu hay đó. Sáng định mua tờ báo xem tin tức thế nào, nhưng rồi không mua. Biết cũng thế mà không biết cũng vậy. Làm được chi. Có nước đâu cho cá vẫy.

Nghe đồn ông Thiệu bay đi rồi. Nghe nói ông Hương lên. Ai lên ai xuống thì cũng vậy. Biết chi cho mệt. Hóa ra không như hắn nghĩ, mỗi nhân vật có ảnh hưởng đến vận nước khác nhau. Người ta bảo có tay pilot nào đó cướp máy bay quay lại thả bom Dinh Độc Lập và phi trường Tân Sơn Nhứt. Hắn vẫn chưa rút được tiền nhưng ngân hàng đã đóng cửa. Bỏ mẹ, kiểu này dám mất tiền sao? Một gia tài chứ ít chi. Rồi làm sao tiếp tục sống đây. Bây giờ hắn mới ý thức nguy cơ khi trắng tay.

Chiều hôm trước hắn đã lên xe như một tình cờ ở một cơ quan của Mỹ góc Hiền Vương, Trương Minh Giảng. Một gia đình lếch thếch đi vào đấy vừa lúc hắn đi tới, một thằng bé rời tay mẹ, loạng quạng ngã, hắn dắt cậu bé theo đoàn vào và nghiễm nhiên trở thành người trong toán di tản. Xe chạy về hướng phi trường, nhưng bị quân cảnh chặn xét ở cổng xe lửa số 6 Trương Minh Ký, lệnh Tổng thống mới là không cho thanh niên ra đi. Hắn xuống và đi ngược đường xe chạy. Ghé tiệm cơm, ngồi nghĩ lung tung. Hắn liên tưởng đến cánh bèo giạt, hắn đang giạt như bèo.

Chiều 29 lúc đang đứng hút thuốc trước sân thì thấy chủ nhà hấp tấp ra đi. Cả một đoàn con cháu. Nhà có con là sĩ quan hải quân, tàu đang đợi ở cảng. Hắn định đi theo. Cả chiếc tàu thêm một người thì có làm sao. Bà cụ bảo ối giời ơi, một lần đi tàu há mồm vào đây, bây giờ lại xuống tàu đi nữa. Khổ thế! Rõ là giời đày. Chúa cứu giúp chúng con.

Lên đến cầu Trương Minh Giảng thì hắn dừng lại, bỏ đoàn quẹo qua đường. Hắn thấy mình ăn theo vô duyên. Trời chực mưa. Có tiếng nổ lớn hướng Bà Quẹo hay ngã tư Bảy Hiền. Có cột khói đen ở phía đó cuồn cuộn lên. Hắn vào quán kêu một ly bạc xỉu đá, đốt một điếu thuốc và tự nghĩ mình bỏ cuộc vậy đúng không?

Cô chủ quán nói trong trỏng: Nghe tụi nó nói mấy cha Việt cộng vô rút hết móng tay sơn màu xanh đỏ, mấy hổm rày kiếm cái cắt móng tay mà không biết để đâu, tìm hoài không thấy. Có tiếng cười hề hề: Kiếm cái kềm tui cắt cho.. Bà lo lấy chồng đi chứ Việt cộng vô là bắt lấy lính của họ đó nghe, lấy bộ đội là mạt phận rồi…

Hắn lại nghe mà chẳng nghĩ gì, hắn cũng chẳng thèm nghĩ rồi thân phận hắn ra sao nữa. Nhà thuê, chủ nhà đi rồi, trước mắt tháng này khỏi trả tiền nhà là vui rồi. Một đoàn xe lính chạy ngang, những cây súng vươn ra, đoàn xe vội vã chẳng biết đi đâu. Không khí như đông cứng lại. Hắn chợt nhớ nhà bên cạnh có hai cô bé dễ thương hình như cũng đi hôm qua rồi. Cửa nhà đóng im ỉm.

Hắn ra cảng Sài Gòn, thuyền bè, tàu lớn tàu nhỏ lung tung, người ta ra đi vội vã, chen lấn nhau. Hắn lại về. Hắn leo lên một chiếc xe đạp trong đống ngổn ngang xe cộ. Đạp như một kẻ an nhàn. Ngang Trần Quý Cáp, hắn chợt nhớ đây cũng là một địa điểm đón người. Hắn tạt vào, hòa lẫn với dòng người đang lúc nhúc ở đó. Chẳng ai hỏi giấy tờ, kiểm soát gì. Ai cũng dáo dác, mặt ai cũng thẫn thờ. Kệ mẹ. Đã bảo là bèo giạt thì cứ để cho nó giạt.

Lại chất lên xe, chở qua tòa nhà cao ở Lê Văn Duyệt. Chở đó suốt đêm. Trực thăng lên xuống trên bầu trời, súng lác đác nổ. Mờ sáng thì tan hàng. Hắn lầm lũi đi về. Phố vắng. Giấy tờ bay trắng đường. Nhiều công sở bị phá tan tành và đầy người hôi của. Hắn đi trong phố giấy bay ngập dưới chân hắn cũng không nghĩ gì. Bèo chưa trôi thì đứng lại.

Ở bên kia dãy nhà trước hẻm 220, cả một toán nhảy dù án ngữ, súng lăm le ở mấy cửa sổ. Hắn lo cho mái tóc dài chấm vai của hắn, hắn nhờ bạn cắt ngắn bớt. Hẻm lao xao. Trời vẫn không nắng nổi. Thằng bạn hải quân thắng chiếc xe Jeep cái két trước cửa: Giờ này còn ngồi đây. Đi. Thì đi. Chạy ra Bason ở Cường Để, tàu vừa nhổ neo. Chiếc tàu hàng đầy chặt người lừ đừ trôi. Vẫn còn người bám dây leo lên. Lại về.

Đến dốc cầu Trương Minh Giảng đã thấy xuất hiện đám cầm súng mang băng đỏ. Thất thểu xuống xe. Chiếc xe bị trưng dụng ngay. Hai tiếng đồng hồ sau, có lệnh buông súng đầu hàng. Đầu ngõ có nhiều người khóc. Những người lính cởi áo quần, ở trần giữa phố. Đường đầy quân trang. Bên trụ đèn, một bà già lặng lẽ đứng khóc, người lính cũng quẹt nước mắt. Có tiếng người rú kên: Trời ơi !!!

Thỉnh thoảng vẫn những tràng súng nổ và tiếng pháo đì đùng. Rồi đoàn quân với xe tăng tiến vào. Tiếng xích sắt nghiến mặt đường. Hắn thấy tê tái. Hắn nhận thức Sài Gòn đã mất. Và số tiền trong ngân hàng của hắn cũng chẳng còn. Hắn đứng ở đầu dốc hẻm 220 và cũng khóc. Hắn thấy tiếc mà không hiểu tiếc cái gì?

Đỗ Duy Ngọc  

Tháng 4.1975


 

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Xuyên Sơn

CÁC NGƯỜI ĂN MỪNG CHO CHO AI?

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh.

Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên.

Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi.

Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù.

Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương.

Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…

Đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản.

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác.

Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm.

Sau 30/4/75, ‘đất nước sạch bóng quân thù’, ‘cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội’…

Một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 46 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản :

Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán;

đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…

Đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng ?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng:

Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền;

kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách Ruộng đất diễn ra 

(sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…

Tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và khống chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam.

Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm;

cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc…

Một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau :

cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước.

Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…

Khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân,

đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Nỗi đau nào lớn hơn?

Nguồn: Sự Thật 30/4/1975.


 

Ngày cuối tháng 4 – Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…

Khang Duy Nguyen is in Sugar Land, TX.

Khuya nay tình cờ đọc Bài Thơ “TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN” của tác giả nhà thơ Đỗ Trung Quân sáng tác năm 1982  mà mình đọc cảm nhận thấy sự thật chua xót và phủ phàng của thân phận con người…..

1.

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm

Các anh từ Bắc vào Nam

Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc

Các anh đến

Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác

Của xì ke, gái điếm, cao bồi

Của tình dục,ăn chơi

“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính nguỵ

Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ

Các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”

Văn hoá lai căng không cội nguồn dân tộc

Ngòi bút các anh thay súng

Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi

Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ

Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản

Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn

Là thiêu thân uỷ mị, yếu hèn

Các anh hùa nhau lập toà án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể

Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý

Có anh thợ điện ra đi không về

Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me

Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa

Đi từ tuổi hai mươi

Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh

Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hoá thân vào sóng nước

Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc

Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không

Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng

Áo chùng đen đẫm máu

Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo

Những vị giáo sư trên bục giảng đường

Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi – của chúng ta.

Có tiếng cười

Và tiếng khóc.

3.

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót

Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi

Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện

Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển

Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình

Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hi sinh…

4.

Và khi ấy

Thì chính “các anh”

Những người nhân danh Hà Nội

Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới

Chửi đã đời

Chửi hả hê

Chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của chính mình

Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh

Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!

Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc

Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt

Những bà mẹ làm ra hạt lúa

Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin

Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm

Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ

Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”

Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân

Các anh

Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân

Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu

Cũng phanh ngực áo,cũng xỏ dép sa bô

Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio…

Bia ôm và gái

Các anh ngông nghênh tuyên ngôn”khôn và dại”

Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào…

Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.

Tội nghiệp em

Tội nghiệp anh

Tội nghiệp chúng ta những người thành phố

Những ai ngổn ngang quá khứ của mình

Những ai đang cố tẩy rửa “lí lịch đen”

Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.

Xin ngả nón chào các ngài

“Quan toà trong sạch”

Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi

Bình thản đổi thay lốt cũ

Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn

Hồn nhiên xanh muôn thưở

Để yên cho xương rồng, gai góc

Chân thật nở hoa.

Này đây!

Xin đổi chỗ không kì kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa

Nơi một góc (chỉ một góc thôi)

Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…

Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào”thượng đế”

Khi sống hả hê giữa một thiên đường

Ai bây giờ

Sẽ

Tạ lỗi

Với Trường Sơn?

Ngày cuối tháng 4 _ Một ngày buồn của dân Miền Nam Việt Nam thân yêu…..

Một ngày Đại Tang của tất cả các gia đình Việt Nam và có cả gia đình của tôi trong số phận đó.

Một ngày bi hận hãi hùng cho tất cả các chú bác quân dân cán chính và của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Một ngày cuối tháng 4, một ngày lặng lẽ trôi qua như bao ngày… nhưng nó vẫn còn hằn sâu trong tâm khảm của tất cả các gia đình Miền Nam nước Việt cách đây đã 51 năm và sẽ tiếp tục như một vết thương âm thầm trong từng gia đình có người thân mất mát trong ngày đau thương của dân Việt lưu vong. 

Xin cùng thắp nén hương lòng và tưởng Niệm Quân, Dân, Cán, Chính của chính phủ của nước Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong ngày 30 tháng Tư năm 1975 và trong suốt 20 năm chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ quân đội đồng minh đã cùng chiến đấu với chúng ta và đã hy sinh; chúng ta cũng tưởng niệm những đồng bào đã mất trên biển, trên rừng sâu trong khi đi tìm tự do, và thinh lặng tưởng niệm anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đã vị quốc vong thân hay vùi thây trên biển cả, trên rừng sâu núi thẳm khi vượt thoát cộng sản tìm tự do.

Cũng không quên cầu nguyện cho những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến. Sinh Bắc Tử Nam…. Những người cũng vì một lý tưởng thống nhất đất nước để rồi đến tận bây giờ nhiều lắm những bất an và không được đối xử tử tế bắt công ngay trong chính cuộc sống mà cả đời họ đã đánh đổi xương máu để đi tìm.

Sống đến tuổi này,  tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian.  Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

30 tháng 4 năm 2026


 

Những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Nguyen Thi Chau

Ở miền Nam, ra đường một chút là thấy cảnh người nghèo mời mọc mua vé số. Ngồi cà phê hay nhậu nhẹt vỉa hè thì cái đầu phải lắc hoặc cái tay móc túi lấy tiền ra, rồi cất vé số vô hoài.

Người miền Nam xởi lởi bao dung, chạy xe giữa đường thấy người nghèo bán vé số dạo còn dừng lại mua giúp. Sáng mua vé số thì chiều chẳng cần biết trúng hay không, có người mua quên dò cả tháng, có khi trúng mấy giải nhỏ thì hạn lãnh tiền đã hết.

Người Sài Gòn mua vé số cốt chỉ để ủng hộ người nghèo sống qua bữa. Mua vé số chỉ để nghe bước chân người bán vé số dạo bớt nặng, chỉ để bớt nghe tiếng thở dài, để né ánh mắt buồn khổ tủi đau nhìn mình, chỉ để lòng thấy nhẹ nỗi xót xa.

Người Sài Gòn đủ lý do để mua tờ vé số của người nghèo bán dạo. Mua để thấy lòng vui mà trúng trật gì cũng vui. Người miền Tây thì có thêm lý do mua vé số để mong trúng đổi đời. Mua vé số đem về để lên bàn thờ ông thần tài thổ địa thắp hương khấn vái, mơ về con độc đắc hai tỷ xa vời đang đợi ở tết Công-gô.

Thị trường tiêu thụ vé số chính là ở Sài Gòn. Nhưng người Sài Gòn có mấy ai mua vé số để muốn đánh cược với các công ty XSKT bao giờ. Còn các công ty XSKT thì dường như đánh cược với thân phận của người đi bán vé số. Mới trước đó in 10 triệu tờ vé số (tương đương 100 tỷ đồng/kỳ/Công ty XSKT), giờ tăng lên 11 triệu tờ (tương đương 110 tỷ đồng/kỳ).

Vé số in tăng nhưng tỷ lệ vé tồn bán không hết trong ngày được trả rất thấp, thậm chí có công ty không cho trả vé tồn khiến áp lực đè nặng lên các đại lý. Rồi đại lý cấp cao đè cấp thấp, cấp thấp bóp cổ người nghèo cắt giảm hoa hồng bán vé số, từ được hưởng 1.100đ/vé giờ còn 1.050đ, có nơi còn 1.000đ/vé. Người nghèo vốn đã khổ càng thêm đói rách.

Rồi người Sài Gòn vẫn phải mua, người bán vé số dạo vẫn phải bán, các công ty XSKT vẫn phải thu lợi nhuận, các đại lý vẫn phải ngồi rung đùi chờ bóp cổ người nghèo. Con tạo khổ đau vẫn phải cứ xoay vòng. Đời người bán vé số cũng mãi chỉ quẩn quanh phận nghèo.

Nước mắt khó nhọc vẫn phải cứ nuốt vào trong, nụ cười vẫn lẩn khuất trong bụi rậm cõi đời, nét mặt vẫn hằn thêm khắc khổ, mồ hôi vẫn nhễ nhại trên làn da sạm nắng, bước chân và tiếng thở dài của họ – những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Làm người, dẫu có ác, cũng đừng học theo kiểu của chó cứ cắn vào áo rách, tỏ ra không phải người.

Nguồn Mệ – Võ Đức Phúc

Tố Ngọc Trần Sưu tầm