Học dốt còn hơn đốt sách !
Đây là lý do ngành giáo dục suy đồi ấu trĩ, nhồi sọ sau 1975 chúng cướp,
phá hoại những gì để lại thế hệ sau . Với chúng thà giết lầm chứ không bỏ xót!
Học dốt còn hơn đốt sách !
Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.
Nhưng với bản chất bần cố nông chúng đâu biết giá trị của những cuốn sách chúng đốt phá ấy !
Là cả nền dân trí giáo dục & tâm huyết của những tiền nhân đi trước, với chúng đấy là sự ô nhục dù là kẻ thắng cuộc, chúng đem những tư tưởng phát xít vào nghành giáo dục suy đồi & nhồi sọ những thế hệ sau này thành những thành phần ngu ngơ, ngờ nghệch che dấu đi những tội ác man rợ mà chúng gây ra trong lịch sử dân tộc!
Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý…
Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.
Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.
Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ.
Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.
– Tại sao cậu ăn cắp sách?
Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ:
Gia Long,
Trưng Vương,
Pétrus Ký,
Chu Văn An.
– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!
Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát.
Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:
– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…
Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:
– Ba má em làm gì mà nghèo?
– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…
– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?
– Dạ thưa quatrième année.
Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…
– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?
– Dạ.
– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm.
Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…
Cậu bé sợ quá lại khóc…
Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện.
Thấy cô thâu ngân nói thế,
ông bảo cô ta:
– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…
Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.
Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì.
Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân.
Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:
– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…
Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:
– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…
Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.
Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.
Thời gian qua đi.
Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu,
mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài Gòn”.
Hồi ấy nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá, sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường, nhiều người đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực…
Kho sách 60 tấn bị tiêu hủy.
Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”.
Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ.
10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.
Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá.
Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75.
Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng..
Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.
Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ.
Nó chỉ có một cái tội:
Tội đã in trước 1975…
Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.
Ông buồn bã nói:
– Chắc… năm 3.000 thì họ trả…
Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn.
Trước khi ông mất, người ta đã “không quên” đặt tên ông cho một con phố nhỏ (!?!).
Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí,
các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm.
“Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi.
Không ai biết ông ta là ai cả…
Nguồn fb Yến Hải Âu
Trong hình:
Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.
Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết
Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết
Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.
Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”
Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:
- Lagom của Thụy Điển;
- Wabi-sabi của Nhật Bản;
- Tri túc của Phật giáo.
Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.
1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.
Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!
Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.
2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ
Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.
Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?
Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều” – “that everyone should have enough but not too much.”
Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.
Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”. “Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.
Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.
Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.
- Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
- Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
- Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?
Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.
Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.
Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.
Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.
3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn
Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.
Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.
Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?
Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!
Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.
Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?
Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.
Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?
Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!
Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.
4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ
Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.
Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tức “Người biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.
Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.
Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.
5- Những điểm tương đồng giữa ba triết lý
Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.
Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.
Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.
Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).
Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.
6- Ý nghĩa đối với Việt Nam
Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.
Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.
Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.
Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.
Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:
- Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
- Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.
Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”
Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.
Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.
- Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
- Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
- Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.
Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.
Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:
- Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
- Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
- Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.
Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.
7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ
Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.
7- Thay lời kết
Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.
Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:
Ta đang sống vì điều gì?
Ta cần bao nhiêu là đủ?
Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?
Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.
Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.
Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.
Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:
Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;
- Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
- Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
- Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).
Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người.
Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.
Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa!
Mai Thanh Truyết
Con đường Việt Nam
Mùa Phật đản 2026 – Wednesday, June 17, 2026
Sẽ có hơn 70,000 người dự lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp
June 22, 2026
CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Dự trù sẽ có hàng chục ngàn người đổ về tham dự đại lễ Tuyên Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, với sự hiện diện của đại diện cấp cao Tòa Thánh Vatican vào ngày 2 Tháng Bảy sắp tới.
Lễ Chân Phước hay Chân Phúc, còn gọi là Á Thánh, là danh hiệu của Giáo Hội Công Giáo Rome trao cho một người qua đời, công nhận họ đã sống thánh thiện, đang hưởng hạnh phúc thiên đàng và có khả năng chuyển cầu. Đây là giai đoạn ba trong tiến trình phong Thánh của Giáo Hội: Tôi tớ Chúa-Đấng Đáng Kính-Chân Phước-Hiển Thánh.
Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, nơi diễn ra đại lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)
Nói với báo VnExpress hôm 22 Tháng Sáu, Linh Mục Phêrô Vũ Văn Hài, tổng đại diện Giáo Phận Cần Thơ, trưởng Ban Tổ Chức, cho biết Thánh Lễ do Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, chủ trì. Hàng chục giám mục cùng đông đảo linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài Giáo Phận Cần Thơ dự kiến tham dự.
Theo Cha Phêrô Vũ Văn Hài, công tác chuẩn bị đang được hoàn tất. Lễ đài, đường nội bộ, khu truyền thông, y tế, vệ sinh và hệ thống thông tin liên lạc đang được gấp rút hoàn thiện.
Khu vực nhà thờ Tắc Sậy và phần mộ Cha Trương Bửu Diệp có sức chứa khoảng 25,000 người, được lắp màn hình LED, hệ thống âm thanh và nhà rạp.
Khu đất rộng khoảng 5 hécta đối diện nhà thờ được bố trí thành quảng trường cùng các khu vực phụ cận, có thể đón khoảng 47,000 người. Các khu vực đều có mái che, màn hình và âm thanh để người dân tham dự theo dõi nghi thức từ xa.
Giáo dân trong Giáo Phận Cần Thơ cũng chuẩn bị hơn 40,000 suất ăn sáng miễn phí cho khách hành hương.
Ngoài ra, một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được bố trí phục vụ đại lễ. Lực lượng y tế, lính cứu hỏa và bảo vệ túc trực trong thời gian diễn ra sự kiện.
Theo báo Thanh Niên, lần đầu tổ chức tại Việt Nam, lễ tuyên phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp mang ý nghĩa đặc biệt với giáo dân Công Giáo ở Việt Nam.
Tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp do một giáo dân vẽ tặng, được đặt trang trọng trong Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy. (Hình: G.B/Thanh Niên)
Những ngày này, khu vực Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy bắt đầu nhộn nhịp hơn thường lệ. Từ sáng sớm, nhiều người đã tìm đến thăm viếng, cầu nguyện, hỏi thăm thông tin về Thánh lễ.
Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, cha Trương Bửu Diệp không chỉ được người Công Giáo yêu mến, mà còn được nhiều người ngoài Công Giáo tìm đến cầu nguyện.
Việc đến nay mới có một lễ Tuyên Phong Chân Phước tại Việt Nam, ngoài lý do lịch sử, còn vì tiến trình này rất chặt chẽ và cần nhiều thời gian dài để kiểm chứng, giống như một công trình chắc chắn thì cần phải được thử thách qua thời gian trước khi được công nhận.
“Sự kiện này tôn vinh một người Việt Nam đã sống một cuộc đời phi thường vì người khác,” Linh Mục Hoài nói. (Tr.N) [kn]
TÔI ĐI BỆNH VIỆN – TG: Chu Thị Hồng Hạnh
TÔI ĐI BỆNH VIỆN
(Tôi rất hy vọng bài viết này của tôi sẽ được ai đó làm trong bệnh viện Bình Dân đọc được)
Sau 6 tháng nằm nhà uống thuốc tan sỏi thận vì sợ con Corona Vũ Hán, cũng đến lúc phải đi siêu âm lại rồi.
Cầm kết quả siêu âm ghi rõ sỏi niệu quản 13 li, thận ứ nước độ 2 (6 tháng trước viên sỏi còn nằm trong thận phải, giờ nó rớt xuống niệu quản) tôi gọi điện thoại cho rất nhiều người để tư vấn rồi chốt với chồng:
” Phải đi Bình Dân thôi anh à!, anh nghĩ coi một ngày mà mổ 100 con gà, thì tay nghề sẽ tốt gấp trăm lần 10 ngày mới mổ một con”
Vợ chồng dắt nhau đi khám ở khu dịch vụ công nghệ cao, vì nghĩ rằng trả tiền nhiều thì sẽ được ưu tiên và chăm sóc tốt hơn.
Vào đến nơi mới biết mình bé cái nhầm, khi nhìn người bệnh nhiều như quân Nguyên ngồi chật kín khắp nơi.
Sau 2 ngày làm hết các loại xét nghiệm, chụp X quang, chụp CT, siêu âm tim, đo điện tim và hẹn với bác sĩ sẽ mổ nội soi vào ngày thứ hai đầu tuần (15 tháng 6)
vợ chồng ra về, chồng còn hào hứng nói:
“Nếu chỉ ở có một ngày trong bệnh viện thì mổ xong mình xin về nhà luôn”.
Sáng 15 tôi dậy lúc 5 giờ, nấu một bát cháo loãng ăn theo lời khuyên của bác sĩ rồi theo chồng vào bệnh viện, người còn khỏe mạnh tươi tỉnh nên vào chào bác sĩ mổ rồi đi đến phòng xếp hồ sơ ngồi chờ.
8h00 cô điều dưỡng xuất hiện dắt cả đoàn chừng chục người leo cầu vượt sang bên khu phẫu thuật.
Vào phòng thấy rất đông bệnh nhân ngồi và 3 cô y tá đang sắp xếp các loại hồ sơ.
Một lúc một cô lanh lảnh gọi:
“Chu thị Hồng Hạnh”
– Có tôi đây
– Có bị tiểu đường không?
– Cô không bị tiểu đường, chỉ bị huyết áp cao.
– Đề nghị bệnh nhân hỏi gì nói nấy nhá!
– Có bị huyết áp cao không?
– Thì cô vừa mới nói cô bị huyết áp cao mà.
Tôi ngồi im re nhìn những người khác bị kêu tên đi bổ sung hồ sơ do bác sĩ dặn không kỷ nên người thì chưa xét nghiệm máu, người thì chưa chụp CT,
người thiếu siêu âm tim…
Khoảng một tiếng sau, hộ lý tới gom chừng chục người chúng tôi sang căn phòng khác (gọi là phòng chờ), trong đó cả đàn ông đàn bà đã ngồi kín trên các giường rồi dặn chúng tôi chờ, khi nào kêu tên thì vào phòng mổ.
Cô phát cho mỗi người một bộ quần áo bệnh nhân và một con dao cạo râu rồi chỉ vào cái nhà vệ sinh bé tí xíu kêu chúng tôi tự xử. Tôi trợn tròn mắt nhớ lại cách đây 20 năm sinh mổ con gái ở bệnh viện Từ Dũ thì việc này là hộ lý làm cho chúng tôi mà.
Tiền xét nghiệm đã hết hơn 2 triệu, tiền mổ đã đóng tạm ứng 17 triệu mà lại khổ thế này.
Vào bên trong không sữa tắm, không xà bông gì hết nên ai cũng phải hì hụi chừng 20 phút đến nửa tiếng mới chui ra.
Nằm sát cạnh tôi là một chị ốm yếu, xanh xao vì phải đi từ Kiên Giang lên từ lúc 10 giờ đêm và chưa hề ăn chút gì, chị kêu chóng mặt quá.
Tôi bảo chị nói người nhà đi mua cho viên kẹo ngậm tạm đi. Giường sát bên một bà lão hơn 80 tuổi than thở rằng tháng nào cũng phải lặn lội từ quê lên Sài Gòn thay ống nhựa trong người, nếu có 30 triệu đặt ống kim loại thì mang đến lúc chết nhưng 7 đứa con đều nghèo rớt không gom đủ tiền cho mẹ nên thân già đành chịu khổ.
Nhìn xung quanh toàn những khuôn mặt khắc khổ, nhợt nhạt vì mệt.
Đúng lúc đó Zalo,Viber của 2 người đàn ông ré lên, thế là họ say sưa bật loa ngoài tám chuyện ầm ầm.
Tôi mấy lần nhắc họ đừng nói to cho bà con cô bác nghỉ trước khi mổ nhưng họ cứ lờ tịt đi.
Cửa phòng thỉnh thoảng mở ra, hộ lý gọi tên mấy người đã nằm chờ từ hôm thứ sáu tuần trước (hôm nay là thứ hai) đi trước.
Rốt cuộc cũng gọi tới tên tôi.
Tôi mừng hụt vì lại bị đưa vào phòng khám gặp bác sĩ chỉ để hỏi khi leo cầu thang có bị mệt không.
Sau khi trả lời rằng:
“nếu vừa leo vừa nghỉ tôi có thể leo được 20 tầng”
thì cô y tá lúc trước nói:
– Giờ bệnh nhân đi về phòng chờ nghỉ ngơi đi
– Thôi con cho cô ngồi tạm phòng này chứ về đấy cô vỡ tung đầu vì nghe điện thoại, phòng chừng 15 mét vuông mà nhốt đến hơn 20 người
– Tại bệnh nhân đông quá, bệnh viện quá tải, đang xây bệnh viện mới đấy cô.
Ngồi lủi thủi một góc, chờ đến 12 giờ hộ lý tới kêu (Bên ngoài chồng tôi cũng chờ từ 8h sáng)
“Bệnh nhân Chu thị Hồng Hạnh”
Tôi mừng rỡ xách túi đồ mang ra cửa giao cho chồng, cả đôi dép, điện thoại với cặp kính cũng bị tháo ra đưa nốt.
Tôi tròng cái mũ ni lông lên đầu, xỏ chân vào hai bịch ni lông rồi mò mẫm đi theo hộ lý vì mắt tôi một bên mù, một bên cận 6 độ không có kính nhìn gì cũng nhòe. Tôi ngồi chừng mười phút thì thấy có người vỗ nhẹ vào vai rồi cười
” Chị Hồng Hạnh phải không, chút xíu nữa tôi mổ cho chị”
Tôi mừng quá cảm ơn rồi thấy người ấy biến nhanh như cơn lốc.
Bệnh viện quá tải, bệnh nhân đông, phòng mổ thiếu.
Bệnh nhân của bác sĩ nào khám thì bác sĩ ấy mổ.
Tôi ngồi chờ mãi.
Thỉnh thoảng lại có người tới ngồi bên cạnh, người thì sỏi 9 mm, người 15 mm, họ đều được kêu tên vào phòng mổ còn tôi cứ ngồi trơ trọi một chỗ.
Đến khi thấy lâu quá tôi đành liều hỏi mấy giờ rồi và giật mình khi biết là đã 2 giờ chiều (chồng tôi vẫn chờ bên ngoài và nghĩ khoảng 45 phút sẽ đón tôi về phòng nghỉ hồi sức như lời bác sĩ nói).
Tôi lại quờ quạng đi thẳng ra cửa, mấy cô hộ lý la lên
– Cô đi đâu đấy, ai cho cô ra ngoài
– Cô chỉ nói với chồng cô một câu thôi
(Suốt 6 tiếng mà chồng tôi vẫn chờ trước phòng mổ, chỉ đứng và đi đi, lại lại vì không có chỗ ngồi để chờ kêu người nhà bệnh nhân..)
Tôi đẩy cửa ra và kêu
– Anh ơi họ vẫn chưa mổ cho em, anh đi ăn uống vệ sinh đi.
Rồi đóng ngay cửa vào nhưng cũng kịp nghe được tiếng chồng tôi
“Trời ơi là trời! anh khát nước và mắc tiểu từ sáng đến giờ “
Tôi lại lê bước về chỗ cũ, tiếp tục ngồi chờ, khoảng 20 phút sau, một cô y tá mập mạp, trắng trẻo kéo cái xe nhỏ ra,cô bảo tôi.
– Cô đưa tay ra đây
Sau đó buộc ga rô cổ tay tôi lại, tôi không biết làm gì nên hỏi
– Làm gì hả con?
– Lấy ven
– Có đau không?
Chỉ hỏi có vậy thôi mà cô sừng sộ, tháo ngay garo ra rồi hất tay tôi.
– Thôi không làm cho cô nữa, tí vào phòng mổ làm.
Tôi điếng người, chị bệnh nhân kế bên giải thích
“Lấy ven để chút nữa cắm ống truyền dịch chị à!”
Nói xong, cô y tá lấy ven cho chị và không thèm nhìn tôi lấy một cái.
Sau khi chị ấy vào phòng phẫu thuật thì một người đàn ông khác lại tới ngồi bên cạnh.
Cô kia lại đến lấy ven, tôi mới chìa tay ra giải thích
– Con làm cho cô đi, mấy hôm trước cô bị lấy máu xét nghiệm liên tục nên cô đau quá mới hỏi con vậy thôi!
Cô ta lạnh lùng
– Không, cô chờ vào phòng phẫu thuật mà lấy.
Rồi quay sang lấy ven cho bệnh nhân kia.
Huyết áp tôi bắt đầu lên.
Ông trời ơi! tôi đã nộp cho các người cả đống tiền mà các người cư xử với tôi như vậy à?
Tôi uất ức muốn bỏ về luôn thì một người y tá khác ra dẫn tôi vào gian mổ.
Hỏi giờ đã gần 4 giờ rồi.
(vậy là tôi vào đây ngồi đã gần 4 tiếng rồi).
Cô bác sĩ gây mê nói chuyện rất nhẹ nhàng, tình cảm, tôi nói:
– Con làm ơn đo huyết áp giúp cô, cô thấy không ổn rồi.
– 170/110 cô
– Con báo lại cho bác sĩ giúp cô nhé, bình thường nếu uống thuốc rồi huyết áp cô chỉ khoảng 135/85 thôi.
Cô bác sĩ vừa chích thuốc tê vừa nói
– Cô cứ yên tâm, bác sĩ sẽ biết cách xử lý.
Chừng 2 phút sau khi chân tôi tê cứng lại và mất hết cảm giác thì bác sĩ xuất hiện và bắt đầu mổ, vừa làm bác sĩ vừa hỏi
– Chị làm nghề giáo hả?
– Trước kia tôi là giáo viên.
– Tại tôi thấy cách nói chuyện của chị nên đoán vậy.
Tôi nhìn lên màn hình thấy có cái gì giống như mũi khoan đang nhắm thẳng vào viên sỏi của tôi bắn nát ra rồi sau đó máu ra đỏ kín màn hình.
Ca mổ từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc kéo dài chừng 10 phút.
Sau khi cột vào tay tôi cái bịch nilon có mấy miếng sỏi lụn vụn họ đẩy tôi về cuối dãy nằm cạnh những người đã mổ xong để theo dõi.
Khoảng 30 phút sau khi ngón chân tôi bắt đầu nhúc nhích thì một cô điều dưỡng đến kéo giường tôi đi.
Vừa ra đến cửa cô gọi to:
“Người nhà Chu Thị Hồng Hạnh đâu”
Chồng tôi vừa chạy tới chạm tay vào cáng băng ca thì cô lôi tôi như tên bắn, quẹo phải, quẹo trái, vào thang máy, xoay vòng vòng rồi lại quẹo tiếp, bảo chồng tôi đẩy, còn cô thì kéo lên cầu vượt sang khu bên kia đường,
(Tôi là người ngồi máy bay qua vùng thời tiết xấu, lộn nhào đủ kiểu cũng không sao) giờ đây tôi thấy chóng mặt, quay cuồng, buồn nôn quá.
Tôi kêu lên với chồng:
“Em mắc ói quá”
Vừa kịp vào phòng, chồng tôi đưa cho cái bịch nilon tôi ói ra mật xanh, mật vàng, toàn nước.
Sau khi dặn dò chồng tôi cách đổ nước tiểu cô y tá đi ngay
(Lúc này đã đúng 5h30).
Phòng rộng 10 mét vuông kê được 2 cái giường giá 1.1 triệu đồng /giường/ngày.
Giường bên cạnh là của một bệnh nhân nam, sỏi có 5 li nhưng vì đau nên phải mổ.
Cứ khoảng nửa tiếng thì phải đi đổ nước tiểu một lần nhưng từ 10 giờ rưỡi đêm thì chồng tôi nói nước tiểu không chảy ra nữa.
Tôi bảo:
-Thôi anh leo lên giường ráng nghỉ ngơi chút đi.
Hai vợ chồng xếp chặt cứng trên giường, đến 2 giờ sáng tôi lay chồng:
-“Anh đi gọi y tá đi, bụng em cứng lại rồi”
Chồng tôi dụi mắt đi 2 lần liền đều quay về nói không tìm thấy ai.
– Anh đi nữa đi em chịu hết nổi rồi!
Tôi năn nỉ
Lại đi.
Lần này y tá tới chỉ cho cách mở túi để thông khí thì tôi mới tiểu được.
Hơn 3 giờ dịch truyền hết.
Tôi lại lay:
“Anh ơi! dịch truyền hết rồi”
Chồng tôi ngái ngủ làu nhàu
– Anh mới chợp mắt được, để yên cho anh ngủ
– Anh gỡ ra đi không máu nó chảy ngược ra này
Chồng tôi rướn người kéo bình dịch truyền xuống.
6 giờ sáng y tá vào chích thuốc cho tôi.
Sau đó máy điện thoại báo có tin nhắn.
Là Bác sỹ Phạm Ngọc Thắng chúc mừng Sinh nhật.
Tôi lấy cái tay còn đang cắm một mớ kim run run bấm mấy chữ cảm ơn anh.
7 giờ một cô điều dưỡng vào tịch thu remote máy lạnh, bắt mở toang cửa thông thoáng để hưởng ứng lời kêu gọi của UBND phòng trừ dịch CoViD
(Thật nực cười, tiết kiệm điện thì có).
Sau đó bác sĩ của bệnh nhân giường bên đến khám rồi cho làm thủ tục xuất viện.
Một lúc sau đến lượt bác sĩ của tôi đến khám và cũng cho tôi được xuất viện sau khi chích mũi cuối cùng lúc 11 giờ.
Hẹn tái khám rút ống trong người tôi ra sau 1 tháng (ngày 15 tháng 7).
Buổi tối hôm trước có người khách của bệnh nhân giường bên cạnh nói cho tôi biết, bệnh viện Bình Dân quá tải, chất lượng phục vụ rất kém nên cứ khám ở Bình Dân nhưng thỏa thuận với bác sĩ đến mổ ở bệnh viện khác vì tay nghề của bác sĩ Bình Dân rất cao.
Tôi mà biết trước thì tôi đã không khổ sở thế này.
Xuất viện, chồng tôi xin chứng từ để làm thanh toán với Bảo hiểm (tôi mua bảo hiểm Bảo Việt) Nhân viên văn phòng nói:
“Bệnh viện phải giữ lại tất cả hồ sơ của bệnh nhân, sao chú không photo lại trước đi”
– Các phiếu chỉ định của bác sĩ và kết quả siêu âm, xét nghiệm bên bảo hiểm họ điều yêu cầu phải có.
(Chồng tôi nói)
– Vậy chú phải làm đơn xin trưởng khoa đề nghị cấp bản pho to và đóng 30 ngàn chiều mai chú đến lấy.
Về nhà, hôm sau chồng tôi xem lại chi tiết thanh toán rồi nói.
-Cái chỗ mà em ngồi chen chúc mấy tiếng chờ đó họ tính nửa ngày 240 ngàn đồng, còn giường em nằm từ 5h30 chiều hôm trước đến 11 giờ trưa hôm sau họ tính một ngày rưỡi là 1.65 triệu đó.
Đi buôn cái gì mà lời bằng mở bệnh viện ở Việt Nam?
Nhưng thôi. Chỉ cần 10, 20 năm nữa chẳng may em lại bị đi bệnh viện thì chỉ mong khi người ta gọi người nhà bệnh nhân… là thấy anh, thế là được rồi.
Già cũng được, chậm cũng được, lẫn cũng được, lầu nhàu cũng được. Miễn là còn nhìn thấy nhau.
TG: Chu Thị Hồng Hạnh
CHO TỚI GIỜ PHÚT NÀY, NGƯỜI DÂN HÀ NỘI VÀ BẮC NINH MỚI HIỂU NỖI ĐAU THẾ NÀO LÀ “GIẢI PHÓNG”
CHO TỚI GIỜ PHÚT NÀY, NGƯỜI DÂN HÀ NỘI VÀ BẮC NINH MỚI HIỂU NỖI ĐAU THẾ NÀO LÀ “GIẢI PHÓNG”
Đã hơn nửa đời người trôi qua, cụm từ “giải phóng” được tuyên truyền rất đỗi oanh liệt, rất đỗi ngạo nghễ. Tưởng chừng như được mở ra một cuộc đời mới. Tưởng chừng như đất nước sẽ đi lên. Nhưng cho tới thời điểm hiện tại. Khi người dân Hà Nội và Bắc Ninh nằm trong diện “giải tỏa” nhà đất, để xây hai dự án. Mới nếm hưởng thực sự được “giải phóng” là gì? Đau đớn và oan trái như thế nào?
“Giải phóng” có thể hiểu là một ngày đẹp trời, mình có một mái nhà, có một khu đất, có làng xóm yên vui. Thì đột ngột bị tới ép, đuổi đi trong vòng bảy ngày, cắt điện cắt nước, căng băng rôn thì bị tháo dỡ. Không chỉ tàn phá một hai ngôi nhà, mà là hàng nghìn ngôi nhà, cùng với nhà thờ, nhà tình thương và thậm chí là nghĩa trang cũng không được buông tha. Và sau lần đó, vĩnh viễn không được nhìn thấy quê hương lần nào nữa.
Đây cũng là tâm trạng của những người dân miền Nam cách đây hơn nửa thập kỷ về trước. Cho nên, thưa quý độc giả. Có đau đớn nào cho việc đã nửa đời người trôi qua. Mà trên quê hương mình vẫn chưa bao giờ là ổn. Người dân vẫn phải lây lất kêu oan, vẫn sống trong lầm than khổ sở, vẫn “vườn không nhà trống” trong cảnh “màn trời chiếu đất”. Cụm từ “giải phóng” sao mà đắng cay đến thế. Vậy mà truyền thông, tuyên giáo nhà nước vẫn tự hào vỗ ngực xưng tên gọi đây là “chính quyền nhân dân”, một thể chế “vì dân” hay sao?
#sanbaygiabinh #duansonghong #csvncuopdat #chantroimoi
NHÀ THƯƠNG-DODUYNGOC
DODUYNGOC
Bây giờ mà ngồi nói chuyện với ai đó, hoặc đọc đoạn văn của ai đó mà gọi bệnh viện là nhà thương thì chắc chắn rằng ai đó chánh hiệu con nai vàng là dân Sài Gòn trước 75. Chắc chắn là như thế.
Bởi trước 1975 ở Sài Gòn dù các bảng tên đều ghi là Bệnh viện, nhưng dân Sài Gòn vẫn gọi là nhà thương. Bởi theo quan niệm của họ đây là nơi nhà chữa trị cho người thương tật bịnh hoạn, là nơi xoa dịu nỗi đau, giúp họ khỏi bệnh tật.
Người miền Nam trước 1975 gắn liền nhà thương với tình thương, là nơi thể hiện tình cảm của những người làm ngành y tế với bệnh nhân, là nơi các soeur Công giáo hi sinh trọn đời để chăm sóc và thương yêu từng bệnh nhân, là nơi các bác sĩ, y tá hết lòng cứu chữa bệnh nhân với tình thương và trách nhiệm. Nên họ gọi bệnh viện là nhà thương, tiếng gọi bao hàm nhiều tình thân và nhân bản.
Sài Gòn thời đó có nhiều bệnh viện công do nhà nước quản lý như nhà thương Chợ Rẫy, nhà thương Chợ Quán, Bình Dân, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Hùng Vương hay nhà thương Hồng Bàng, Vì Dân…Bệnh nhân vào chữa trị ở các bệnh viện này đều được miễn phí hoàn toàn, nên còn gọi là nhà thương thí. Mang danh nhà thương thí nhưng y bác dĩ vẫn tận tâm, chữa trị đến nơi đến chốn.
Đương nhiên ở nhà thương thí thì điều kiện sinh hoạt không được tốt như những nhà thương tư. Nhưng không bao giờ có cảnh ba bốn người một giường hay điều kiện vệ sinh quá nhếch nhác như một số bệnh viện bây giờ. Cũng không có cảnh phải phong bì bồi dưỡng từ y công, y tá đến bác sĩ như bây giờ.
Thuở đó Sài Gòn cũng có nhiều bệnh viện tư dành cho người có tiền như bệnh viện Đồn Đất (Grall của Pháp) hay các bệnh viện của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…mở ra nhiều ở Sài Gòn. Nhiều nhà sinh tư nhân thì gọi là nhà bảo sanh, cũng là nơi giúp các sản phụ khi sinh nở. Ở nhiều nhà bảo sanh có các bà mụ là y tá lâu năm, tay nghề còn giỏi hơn bác sĩ
Thế nhưng, nằm nhà thương tư thì sạch sẽ, thoáng mát nhưng nếu gặp biến cố hay ca khó, bệnh nhân cũng đều phải chở vào nhà thương công, bởi mang danh là nhà thương thí nhưng ở đó đều quy tụ bác sĩ giỏi và các sinh viên y khoa ưu tú nội trú ở đấy. Họ giỏi về chuyên môn và đối xử với bệnh nhân bằng y đức. Sanh con so hay khó sinh thì phải vào nhà thương Từ Dũ, Hùng Vương, lao phổi thì phải vào bệnh viện lao Hồng Bàng.
Cả một thời gian dài mấy chục năm, chưa bao giờ có cảnh người nhà bệnh nhân hành hung nhân viên y tế mà chỉ có một thái độ kính phục, trân trọng và biết ơn.
Thời thế đổi thay, chẳng còn ai gọi bệnh viện là nhà thương nữa. Gọi thế thành châm biếm. Bởi bây giờ chốn ấy chẳng còn tình thương, không còn là nơi để sẻ chia những đau đớn của người bệnh nữa. Giờ bệnh viện là chốn kinh doanh, có nơi tiền phòng đắt như khách sạn bốn năm sao. Vào nhập viện dù đang cấp cứu sắp chết thì cũng phải đóng tiền mới có người đến khám. Mọi sinh hoạt đều phải trả tiền, từ miếng nước cho đến giấy chùi cầu, từ ngọn đèn cho đến bông băng. Chẳng còn phân biệt công tư, chỗ nào cũng phải có tiền mới chữa. Giờ mang bệnh thì giàu có không nói làm chi, chứ khá sẽ xuống nghèo, nghèo xuống mạt và chẳng còn chi để sống, bán vợ đợ con, bán hết đất hết vườn hết ruộng hết nhà vì bệnh. Tiếc cái nhà thương thí biết bao nhiêu.
Cái tên nhà thương thí đã trở thành dĩ vãng.
Bỗng dưng nhớ tiếng nhà thương tha thiết và tiếc một thời gọi thân thương nhà thương thay cho bệnh viện.
27.6.2018
DODUYNGOC
HUNG DỮ -NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75- Tác giả Nguyễn Phan Quế Mai
HUNG DỮ- NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75-
(Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai)
Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng cúi đầu rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói, “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng người Việt của bạn là những người hung dữ. Người Việt chúng ta là những người hung dữ.
Đấy là tình cảnh một dịp gần đây trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jaatta Indonesia. Tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc. Chị hỏi tôi từ đâu đến? Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại rồi vuốt đi bằng xe máy. Vua cướp vật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể do bị kéo té ngã mà còn cú sang chấn về tinh thần. Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy, chị lại hoảng hốt. Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.
Chị cho biết trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh. Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn xô đẩy. Người ta bóp kèn in ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút. Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.
Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt. Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm.
Người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế. Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo lẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời. Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả, đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc đầy ấp tiếng cười. Nhưng không phải.
Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rã rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi. Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm móng của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Người Việt chúng ta là những người hung dữ. Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó? Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trúc giận lên nhau. Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự thành phố Hồ Chí Minh.
Đó là Manila, Philippines và Jakarta, Indonesia. Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùng tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng. Nhưng thật lạ, trong 4 năm sống ở Manila và 1 năm rưỡi sống ởatta, tôi thấy trên đường phố dù kẹt xe đến máy ít ai bóp còi.
Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam. Và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh. Tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nặt như tôi từng gặp mỗi khi về nước. Người Việt là những người hung dữ. Câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bộc phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình.
Bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản. Trong trường học bạo hành học sinh, trên mạng xã hội, người ta có thể thoải mái mặt sắc thóa mạ lẫn nhau, đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng. Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.
Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Theo lời bình của bộ phim, tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc.
Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đại của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẫn. Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bình vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.
Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai
From: TU-PHUNG
KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN
KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN
Đại lộ sông Hồng với tổng vốn đầu tư khoảng 730.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ thay đổi diện mạo Hà Nội. Nhưng phía sau những bản quy hoạch hiện đại và những phối cảnh hào nhoáng là một câu hỏi không thể né tránh: hơn 200.000 người dân ven sông Hồng sẽ sống bằng gì sau khi rời khỏi nơi ở và sinh kế đã gắn bó nhiều thế hệ?
Đối với người dân ở các quận, huyện ven sông như Tây Hồ, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Đông Anh hay Gia Lâm, đất đai không chỉ là tài sản. Đó là cửa hàng, xưởng sản xuất, ruộng vườn, nghề truyền thống, mạng lưới quan hệ cộng đồng và nguồn thu nhập nuôi sống cả gia đình. Một căn hộ tái định cư có thể thay thế mái nhà, nhưng không thể tự động thay thế công việc, khách hàng hay môi trường mưu sinh đã được tích lũy qua hàng chục năm.
Lịch sử của nhiều dự án giải phóng mặt bằng cho thấy không ít người dân nhận tiền đền bù nhưng sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp, thu nhập giảm sút và đời sống bấp bênh. Nếu điều tương tự xảy ra với hàng trăm nghìn người trong dự án sông Hồng, cái giá xã hội phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều những con số trên bản dự toán.
Bởi vậy, thước đo thành công của đại lộ sông Hồng không phải là chiều rộng của con đường hay giá trị bất động sản tăng lên bao nhiêu, mà là sau khi di dời, người dân có sống tốt hơn, có việc làm ổn định hơn và có tương lai tốt hơn hay không. Quy hoạch chỉ thực sự là phát triển khi không ai bị bỏ lại phía sau.
#SongHong #SinhKeNguoiDan #PhatTrienBenVung #Chantroimoi
Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng
Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng
Mấy ngày qua, cõi mạng trong nước lẫn hải ngoại râm ran, xầm xì vụ ông giám đốc một đại lý xe ôtô VinFast lớn ở Hải Phòng thả mình xuống sông Cấm từ cầu Bến Bính. Chuyện một người đang ở đỉnh cao danh vọng, tiền tài, nắm trong tay cơ sở kinh doanh hoành tráng mà bỗng chốc chọn cách buông xuôi, ném mình vào dòng nước lạnh, hỏi sao thiên hạ không giật mình cho được.
Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ việc xảy ra hôm 8 Tháng Sáu, ban đầu còn ngập ngừng, né né chữ “VinFast”, chỉ dám gọi chung chung là “giám đốc đại lý xe ôtô”. Nhưng rồi người ta cũng tìm ra danh tính, tìm ra những dòng trạng thái đầy u uẩn, bế tắc của người đàn ông xấu số trước giờ phút định mệnh.
Nhìn từ góc độ thế sự, cái chết của vị giám đốc này không đơn thuần là câu chuyện quẫn trí cá nhân. Nó là một lát cắt, một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy chát chúa về cái gọi là “áp lực cộng sinh” trong hệ sinh thái kinh doanh hiện đại tại Việt Nam.
Nhiều doanh nghiệp khi bắt tay với các tập đoàn lớn, cứ ngỡ mình đang vịn vào một chiếc phao cứu sinh khổng lồ để ra khơi lớn. Nhưng họ quên mất rằng, khi chiếc phao đó lao đi với tốc độ chóng mặt để đạt những tham vọng toàn cầu, những mắt xích nhỏ hơn ở bên dưới phải gồng mình chịu một lực kéo khủng khiếp. Khi dòng vốn ngưng trệ, sức mua xã hội sụt giảm, mà các điều khoản hợp đồng và chỉ tiêu doanh số vẫn lạnh lùng ép xuống, chiếc phao cứu sinh ấy lập tức biến thành hòn đá tảng, kéo ghì người ta xuống đáy sâu bế tắc.
Cái chết ở bến Bính để lại nỗi đau thắt lòng cho gia đình, và một khoảng lặng đáng sợ cho những ai đang lao vào vòng xoáy kinh doanh bất chấp sức chịu đựng của bản thân. Suy cho cùng, danh vọng, tiền tài hay cái danh hiệu “đại lý xuất sắc” cũng chẳng thể linh thiêng bằng mạng sống của một con người. Giấc mơ bay cao, bay xa của thương hiệu thì đẹp thật đó, nhưng nếu cái giá phải trả là sự kiệt quệ và những bi kịch nhảy cầu thế này, thì liệu có đáng hay không?
Sau cái chết thương tâm của vị giám đốc đại lý, theo quý vị, liệu các tập đoàn lớn có nên xem xét lại chính sách ép doanh số để chia sẻ bớt gánh nặng và áp lực sinh tử với các đối tác nhỏ hơn trong giai đoạn kinh tế khó khăn này?
Bấm vào link ở comment đầu tiên để đọc toàn văn bản tin chi tiết về vụ việc trên báo Người Việt.
Vượt biên , vượt biển , vượt dòng ! – Truyen ngan. Xuân Hương
Vượt biên , vượt biển , vượt dòng !
Cô bạn làm chủ ghe , cho tui đi vượt biên theo , chỉ với 1/2 giá. Ngồi chung cyclo với cổ ra bến xe Chợ lớn xuống Mỹ Tho ..tui hỏi “ Ê mầy , lỡ bị bắt tao phải khai làm sao ? “ Chèn ơi , cổ véo tui một cái đau điếng rồi mắng “Mầy thiệt vô diên, miệng ăn mắm ăn muối nói chuyện xui rủi“ .
Mà xui thiệt. Ghe lớn ra cửa Vàm Láng không bao xa , thì bị túm gọn . Vô trại tạm giam , ông cán bộ răng dzàng đập bàn xong , rồi hậm hức chỉ tay vào tui ( đang ngồi sắp lớp hàng đầu ) hỏi “ai là chủ ghe ?” Theo phản xạ ..ba trợn , tự dưng tui đứng phắt dậy mắt dáo dát tìm nhỏ bạn .
May ..mà định thần kịp, ngồi xuống liền. Ông răng dzàng túm áo tui, hầm hè hỏi lần nữa “ ai là chủ ghe ? “ Chợt thấy tên du kích áo đen hồi nãy lăng xăng nạt nộ những người bị bắt , tui chỉ đại vào hắn . Cả đám người ngồi đó cười rần . Tui ăn một bạt tay trời giáng , bể mịa một cái tròng kính cận ( May ..không bị rớt ..răng ).
Nhưng vàng , nhân sâm đeo trong mình bị lột sạch . Chỉ ký tên vô sổ ngang cái dòng : Trại có giữ 5 miếng kim loại màu vàng , thôi!
Chuyển trại giam lớn Mỹ Tho. Người nhà tui chạy tiền liền -để tui về cho kịp -sợ bị mất chỗ làm việc . Cán bộ đọc tên từng người trao giấy thả tù . ổng đọc đi đọc lại Nguyễn Thị Hương , tui cứ ngồi im lặng ..xa vắng mãi . Bị tên công an trong phe cánh đá nhẹ một cái nói “ Bà đó bà ! “ Tui đứng lên nhận giấy còn càm ràm“ Tên tui sao thiếu chữ xuân “ Ông cán bộ trao giấy nói nhỏ “ Vậy chứ hồi bị bắt , má khai tên gì vậy má ?
“ Thế là tui nhớ trực vụ khai tên , năm sanh- địa chỉ công việc …xạo sự của mình liền. Hú vía , may mà được tha .
Ra khỏi trại 2 giờ trưa , áo quần rách bươm -cặp mắt kính lọt mất một tròng – dép cũng mất luôn. Quan trọng nhất là trại giam lờ tít chuyện trả lại cho tui 5 miếng kim loại màu vàng- vậy tui còn gì để bán mà kiếm tiền về xe đây, chẳng lẽ lội bộ từ Mỹ Thơ dìa Sài Gòn sao ? Tui đọc kinh khấn hết Chúa đến Đức Mẹ cứu giúp ..lội bộ một đoạn đường xa , mà chân bỏng rát .
Cuối cùng tui bấm gan vẫy đại một chiếc xe ôm , chìa giấy thả tù , tui nói “Cháu vượt biên được thả , giờ không tiền , nhưng nhà cháu ở Sài Gòn thì có tiền trả. Chú giúp dùm cháu phương tiện đi về nhà được không. Cháu thiệt đội ơn chú “ Ông xe ôm trông hơi đứng tuổi -người khắc khổ mặt nám đen còn đeo mắt kính đen thiệt ngầu, nhưng giọng thì hiền khô hỏi “ Vậy cháu có dám ngồi xe ôm, dang nắng về Sài Gòn không ?”
Nghỉ sao mà con nhỏ chột mắt kiếng, quần áo rách bươm không dép như tui lúc đó, lại có thể giở giọng tiểu thư ngại nắng ăn lắc đầu ..được.
Tui trèo lên xe liền, không thèm hỏi giá , nói xong địa chỉ là ôm cái eo ổng …ngủ gục miết . ( Bị trại giam chật chỗ ngủ ngồi) tui lại bị nhét ngồi gần cầu tiêu .. Mùi nồng nặc xông lên ..mắt trợn trừng đau khổ, ngủ gì nỗi mấy đêm nay , hở trời ?
Xe chạy gần qua Chợ Bến Thành , ổng mới kêu lớn cho tui thức dậy để hỏi kỹ đường về quận 4 nhà tui . Chắc ổng nghe bụng tui kêu rột rột hay sao đó …mà nói “ Chắc cháu đói bụng dữ rồi phải không , chú cũng chưa ăn gì . Thôi chú chở cháu ăn bậy tô mì dằn bụng , rồi chở cháu về “ Chèn ơi , buồn ngủ mà gặp chiếu manh , tui gật đầu liền ..Coi như gần cả tuần nay từ chỗ ém quân chờ ra cá lớn -đến khi bị bắt nhốt -tui chưa được ăn đúng nghĩa bao giờ .
Tui ăn hỗn hào , ào ào một lúc hai tô mì và ly trà đá bự tổ chảng .
Trong khi chú xe ôm chạy cực khổ đường trường , ăn nhỏ nhẹ có một tô mì và ly cafe đen nhỏ xíu thôi. Trời xế chiều nhưng còn sáng . Tui ngần ngại nói chú ấy có thể chờ sụp tối một chút rồi chở tui về nhà , vì tui ngại hàng xóm và công an khu vực thấy quần áo và bộ dạng của tui như vầy, sẽ biết tình cảnh vượt biên của tui liền. Như vậy dễ di hại cho tui về sau.
Chú Hiền ( Tui biết tên chú sau đó ) cũng gật đầu chịu . Hai chú cháu ngồi quán cốc lề đường , uống trà đá chuyện trò rôm rã . Chú nói chú mới ra trại cải tạo , nhà ở Sài Gòn. Nhưng không nhập được hộ khẩu ở Sài Gòn , bị chỉ định về quê . Để sinh sống , chú chạy xe ôm. Hôm nay nhân dịp chở tui về Sài Gòn , chú sẽ ghé qua nhà thăm ba má chú luôn . Chú nói ngó bộ dạng của tui , là chú tin tưởng con nhà đàng hoàng , sa cơ bị bắt vượt biên. Nên chở tui đường xa , không ngại bị lường gạt quịt tiền .
Sụp tối tui về được đến nhà , cả nhà mừng húm. Trả tiền công chú Hiền hậu hỉ và còn ghi lại địa chỉ nhà chú ở Sài Gòn để liên lạc thăm viếng sau nầy .Chị tui nói , chạy cho tui dzìa mất một cây vàng , nhưng họ nói đến ngày mai mới thả . Đâu dè họ thả sớm một ngày như vậy ?
Sáng mai tỉnh táo dọn bộ vó đi làm . Vô sở , mọi người trợn trừng mắt ngạc nhiên, coi như tui vắng mặt không xin phép đã 3 ngày , trừ đi hai ngày lễ 30 / 4 và 1/5 cùng ngày Chúa nhật . Hú vía , gần cả tuần chứ đâu phải chơi . Tui bèn đi một đường kể khổ ..bị té bong gân sưng chân nằm một chỗ . Bố tui già cả không biết sở tui ở đâu để xin phép.
Nhưng ngó cái mặt ăn nắng đen thui của tui , là họ thừa biết tui nói láo liền. Có lẽ Chúa thương phù hộ cho công trình tui đang quản lý tới lúc nghiệm thu ..Vắng tui , ai lên giá thành thanh quyết toán. Tui ở lại làm nốt công việc , với cái án treo lơ lững . Họ chờ dịp trừng phạt tui. Tui thì chờ kỳ vượt biên mới, nhất định là mình phải vượt thoát khỏi Việt Nam.
…. Cô bạn tui , nhà cổ cũng lo chạy chọt , nên cổ ra tù sau tui vài ngày .Năm sau cũng vào dịp 30/4, mùa gió êm . Nhà cổ tổ chức thêm một chuyến vượt biên mới , nhưng cổ không rủ tui đi tiếp . Chắc cổ nghỉ tui là con nhỏ ba trợn tào lao ăn nói vô duyên khiến cổ dễ bị xui xẻo chắc ? Nhưng ghe của cổ ra cửa lớn , chỉ chung chi công an bến bãi , mà qua mặt không chung công an biên phòng . Họ rượt theo bắn chìm ghe cổ , chết tan tác mấy chục nhân mạng luôn . Mạng tui lớn hay nhỏ xíu , khi không theo chuyến vượt biên đó ? Còn cô bạn tui, cổ không hên mà xui xẻo mất mạng .
Mấy chục năm trôi qua , mà tui vẫn nhớ hoài cái véo tay đau điếng của cô ấy. Nghỉ đến rồi thương cổ , và thương cho những người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển đông ..khi bỏ phiếu đi tìm tự do bằng đôi chân của mình .
Xuân Hương
LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG
Việt Tân
LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG
Có những mảnh đất không được định giá bằng diện tích hay vị trí mặt tiền, mà bằng sức chứa của những nỗi đau, sự bao dung và lòng nhân ái mà con người đã gửi lại nơi đó qua nhiều thế hệ.
Làng phong Quy Hòa, nép mình bên bờ biển suốt gần một thế kỷ qua, không đơn thuần là một địa danh hành chính.
Đó là nơi cưu mang những con người từng bị xã hội xa lánh vì bệnh tật. Đó là chứng tích sống động về tình yêu thương vô điều kiện của các nữ tu, các bác sĩ và những người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc những phận người bất hạnh. Đó cũng là mảnh đất lưu giữ những hơi thở cuối cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, một phần ký ức văn hóa đặc biệt của dân tộc.
Vậy mà giờ đây, không gian ký ức ngưng đọng của thời gian ấy sắp phải xóa sổ để nhường chỗ cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Một siêu dự án với quy mô khổng lồ gần 2.900 hecta sẽ nuốt chửng toàn bộ thung lũng yên bình này.
Chính quyền đem 20.000 tỷ đồng của tập đoàn Sun Group để đánh đổi lấy một di sản tinh thần vô giá mà không một dòng tiền nào có thể mua lại.
Một nơi vốn dĩ là thánh đường của sự xoa dịu, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn thuần khiết nhất, nay lại được chuẩn bị để biến thành chốn xa hoa, phục vụ cho những kỳ nghỉ dưỡng của giới nhà giàu.
Cứ mỗi lần một di tích bị khai tử để dựng lên những tòa nhà cao tầng, chúng ta lại tự hỏi rồi đất nước này sẽ đi về đâu khi chỉ toàn những khối bê tông vô hồn chiếm lĩnh?
Sự phát triển sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu nó được xây dựng trên sự lãng quên lịch sử và tước đoạt đi những giá trị nhân văn cốt lõi. Tiếng sóng Quy Hòa rồi đây vẫn sẽ vỗ vào bờ, nhưng liệu có còn giữ được tiếng lòng đầy trắc ẩn, hay chỉ còn là tiếng thở dài cay đắng của một di sản đã bị khai tử bởi cơn lốc thị trường?


















