ĐỐT SÁCH NHƯNG KHÔNG ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM! – Nguyễn Hạnh

Việt Luận – Viet’s Herald

 Nguyễn Hạnh

Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước.

Screenshot

Đẩy người trí thức vào tình thế quẫn bách, vong mạng:

Sự sụp đổ ngành xuất bản tư nhân ở miền Nam đã phủ một bóng đêm u ám, nặng nề lên các văn nghệ sĩ miền Nam. Việc bị cấm sáng tác, xuất bản sách đã sớm đẩy các tác giả vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn.

Nguyễn Hiến Lê từng nói rằng sau ngày 30/4/1975 ông và nhiều tác giả khác tại miền Nam sống cũng như chết trước sự thù hận, phân biệt đối xử của chính quyền mới. Bên cạnh sự bức bối trong việc sáng tác, họ hồi hộp chờ đợi không biết ngày nào chính quyền đến gõ cửa nhà.

Tháng 4/1976, ngay trước cuộc bầu cử thống nhất hai miền Việt Nam, các nhà văn của phe chiến thắng như Vũ Hạnh, Sơn Nam đã liên tục đăng bài phỉ báng, kết tội các nhà văn miền Nam trên các mặt báo. Chính quyền đã lập ra một danh sách bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam.

Trong hai tuần đầu tháng 4/1976, chính quyền vây bắt khoảng 70 văn nghệ sĩ với tội danh “văn nghệ sĩ chống cộng [của] chế độ cũ”.

Hàng loạt các nhà văn đã bị bắt như Vũ Hoàng Chương (5 tháng tù), Nguyễn Mạnh Côn (3 năm), Nhã Ca (2 năm), Trần Dạ Từ (12 năm), Mai Thảo (kịp trốn thoát), Duyên Anh (gần 6 năm), Dương Nghiễm Mậu (1 năm), Doãn Quốc Sĩ (5 năm), Nguyễn Sĩ Tế (11 năm), Thanh Thương Hoàng (8 năm), v.v.

Một số nhà văn, nhà thơ khác có lẽ cũng đã bị bắt trước hay trong cùng khoảng thời gian này như Phạm Thành Tài (8 năm tù), Trần Tuấn Kiệt (10 năm), Lê Xuyên, v.v. Một năm sau, chính quyền bắt thêm các nhà văn khác như Hồ Hữu Tường (2 năm tù giam), Hoàng Hải Thủy (bị bắt hai lần, 8 năm), v.v.

Những nhà văn, nhà thơ đã chết dưới điều kiện khắc nghiệt của trại cải tạo được biết đến là Vũ Hoàng Chương (qua đời tháng 9/1976), Ngọc Thứ Lang (1979), Nguyễn Mạnh Côn (tháng 6/1979), Hồ Hữu Tường (tháng 6/1980), Dương Hùng Cường (1987), Hiếu Chân (1986), v.v.

Số phận của các nhà văn quân đội miền Nam:

Một tháng sau ngày 30/4/1975, theo lệnh của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đã có hơn 44.000 cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ ra trình diện chế độ mới.

Trong số những quân nhân này có những văn nghệ sĩ thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có một số là sĩ quan của Cục Tâm lý chiến, một cơ quan thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Những văn nghệ sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa có các sáng tác với xu hướng đa dạng, đương nhiên có cả những sáng tác được cho là chống cộng sản và các sáng tác theo rung cảm cá nhân của họ.

Nhà văn Nguyên Ngọc gần đây đã nhận xét về văn chương của quân nhân Việt Nam Cộng hòa: “Còn văn học miền Nam thì khác, họ viết thật về chiến tranh, về tâm trạng con người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được đứng ngoài chính trị.”

Tuy nhiên, sau 30/4/1975, những văn nghệ sĩ là quân nhân thường phải chịu những bản án tù rất nặng nề.

Những nhà thơ là quân nhân miền Nam bị bắt giữ ngay sau 30/4/1975 được biết đến là Thanh Tâm Tuyền (cấp bậc đại úy, nhà báo của Tập san Quốc phòng, 7 năm tù), Phan Lạc Phúc (trung tá, biên tập viên của Tập san Quốc phòng, 10 năm), Cung Trầm Tưởng (trung tá Không quân, 10 năm), Hoàng Anh Tuấn (2 năm, nhờ Pháp can thiệp), v.v.

Trong đó, nhà thơ Tô Thùy Yên, thiếu tá, trưởng phòng Văn nghệ của Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, đã bị giam giữ ba lần với tổng cộng 13 năm tù giam.

Một số các nhà văn như Văn Quang (trung tá quản đốc Đài phát thanh Quân đội, 12 năm tù giam), Thế Uyên (trung úy, 3 năm), Phan Nhật Nam (đại úy Sư đoàn Nhảy dù, 14 năm), Thảo Trường (thiếu tá ngành chiến tranh chính trị thuộc Cục An ninh Quân đội, 17 năm), v.v.

Ông Đỗ Văn Phúc, quân nhân thuộc ngành chiến tranh chính trị, cựu tù cải tạo, cho biết sau năm 1975 những sĩ quan ngành chiến tranh chính trị là những người bị chính quyền cộng sản cầm tù lâu nhất rồi đến an ninh, tình báo, v.v. cùng với các yếu tố đi kèm khác như là người Công giáo, di cư từ miền Bắc, thuộc đảng Dân chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, v.v.

Sau khi ra tù, những nhà văn, nhà thơ dù thuộc hay không thuộc quân đội đều không được phép sáng tác. Nếu muốn sống ở quê hương, cuộc sống của họ phải cắt đứt vĩnh viễn khỏi văn chương. Hầu hết các văn nghệ sĩ sau khi được trả tự do đã ra nước ngoài tị nạn.

Những nhà văn Việt Cộng nằm vùng:

Sau năm 1975, một số ít nhà văn miền Nam vẫn tiếp tục được chính quyền mới cho phép sáng tác.

Những người này là các cán bộ cách mạng “nằm vùng”, đã sáng tác công khai ở Sài Gòn trước năm 1975. Trong đó, nổi bật có nhà văn Vũ Hạnh là cán bộ văn hóa Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, trước năm 1975 đã viết cho tờ Tin Văn, Bách Khoa, Mai, v.v. Hay Huỳnh Bá Thành, còn gọi là họa sĩ Ớt, là nhân viên tình báo, trước năm 1975 đã sáng tác cho tờ Điện Tín, Tin Sáng, Bút Thần, v.v.

Bên cạnh đó là các nhà văn thân Việt Cộng như Sơn Nam, Lữ Phương, Thẩm Thệ Hà, Tô Nguyệt Đình, Cung Văn, Ngụy Ngữ, v.v. Những người này sau năm 1975 đã tham gia vào các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của chính quyền.

Những nhà văn này không chỉ sáng tác tự do trước năm 1975 mà còn thành lập các nhà xuất bản, phát hành các tạp chí. Các sáng tác của họ có xu hướng thân cách mạng, chỉ trích chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa bình thống nhất.

Một số tác phẩm của họ bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm duyệt, gây khó khăn. Tuy nhiên, việc kiểm duyệt của chính quyền miền Nam không phân biệt, kỳ thị vào tác giả mà tập trung vào tác phẩm, kể cả văn nghệ sĩ là quân nhân Việt Nam Cộng hòa vẫn có tác phẩm bị kiểm duyệt.

Ở một mức độ nhất định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do sáng tác, không có sự phân biệt, kỳ thị tác giả, cho phép tất cả các xu hướng sáng tác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và tương đối an toàn cho các văn nghệ sĩ nói trên hoạt động.

Tuy nhiên, sau năm 1975, chính quyền cách mạng đã không làm điều tương tự với các nhà văn khác của miền Nam. Trái lại, một số nhà văn miền Nam còn bị chính quyền mới áp bức cho đến chết, hoặc phải bỏ đất nước ra đi.

Nhà nước chiếm nhà in:

Từ 700 nhà in vào năm 1974, sau 30/4/1975, số nhà in lớn nhỏ chỉ tính riêng ở Sài Gòn đến kê khai với nhà nước là 932. Nhà nước đã chiếm dụng ngay lập tức những nhà in này, rồi tịch thu, tiến tới quốc hữu hóa tất cả các nhà in ở miền Nam.

Ngay sau 30/4/1975, chính quyền mới đã chiếm kho giấy, dùng các nhà in để in hàng loạt các ấn phẩm như 300.000 tờ báo đầu tiên của báo Sài Gòn Giải Phóng, in màu hai triệu tấm ảnh chân dung Hồ Chí Minh, in 7 triệu cuốn sách giáo khoa của miền Bắc chỉ trong 45 ngày, v.v.

Hai năm sau, số giấy trong kho ở miền Nam đã hết sạch, chính quyền thất bại trong việc nhập giấy từ nước ngoài. Việt Nam tập trung vào tự sản xuất giấy.

Tuy nhiên, nhiều sản phẩm xuất bản trong những năm 1980, 1990 dùng những loại giấy xấu hơn rất nhiều so với giấy in trước đó của miền Nam.

Những nhà in lớn được gộp lại thành các xí nghiệp công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Ví dụ như Xí nghiệp in số 1 gồm các nhà in mà nhà nước tịch thu như nhà in Tòng Bá, các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh. Xí nghiệp in số 4 từ các nhà in đã tịch thu bao gồm Văn Hữu, Thanh niên, Trí Thức mới, Văn hóa Mỹ thuật. Các hộ in nhỏ khác được tập hợp lại rồi chia thành các xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10.

Các máy móc in ấn hiện đại nhất trên cả nước khi đó tập trung tại Sài Gòn đã được chính quyền chuyển về Hà Nội và các tỉnh, thành khác.

Sau 30/4/1975, ngành in trên cả nước đã bị nhà nước độc quyền kinh doanh, hoàn toàn kiểm soát. Không có in ấn tư nhân thì cũng không có xuất bản tư nhân.

Xuất bản tư nhân tuyệt chủng

Người dân miền Nam trước năm 1975 là những người sau cùng còn nhìn thấy, trải nghiệm việc xuất bản tư nhân trên đất nước Việt Nam.

Sau năm 1975, 180 nhà xuất bản, hầu hết là nhà xuất bản tư nhân của miền Nam đã bị chính quyền mới giải thể. Đến năm 1985, tổng số nhà xuất bản trên cả nước là 40.

Theo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản tư nhân vẫn còn tồn tại sau năm 1954 ở miền Bắc, nhưng rất ít và hoạt động hạn chế, chủ yếu là các cơ sở in và buôn sách có từ thời Pháp thuộc. Xuất bản phục vụ sự phát triển của văn hóa cách mạng chiếm đa số.

Về mặt luật pháp, Sắc lệnh 003/SLT do Hồ Chí Minh ký năm 1957 vẫn thừa nhận xuất bản tư nhân, và cá nhân cũng có thể tự xuất bản tác phẩm.

Tuy nhiên, xuất bản tư nhân ở miền Bắc có lẽ đã teo tóp dần và đi vào ngõ cụt dưới bàn tay sắt của những người cộng sản. Điển hình như Nhà xuất bản Minh Đức đã xuất bản các tác phẩm của nhóm Nhân văn giai phẩm, bao gồm các trí thức nổi tiếng bị cầm tù, đàn áp vì chỉ trích nhà nước kiểm soát, chính trị hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Từ năm 1959, việc xuất bản đã bị chính trị hóa hoàn toàn. Nội dung xuất bản phải theo sát mục tiêu chính trị của đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lật đổ chính quyền miền Nam.

Từ năm 1993, chính quyền chính thức quy định rằng “nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội”, nói cách khác, nhà xuất bản phải thuộc hệ thống của nhà nước. Sau 30 năm, quy định này không có thay đổi nào đáng kể trong các lần sửa đổi luật về xuất bản.

Đến năm 2022, cả nước chỉ có 57 nhà xuất bản. Chính quyền vẫn dùng các cơ quan của nhà nước, tổ chức hội đoàn thuộc hệ thống của Mặt trận Tổ quốc để thành lập các nhà xuất bản. Việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm nhân sự, định hướng hoạt động hay loại bỏ người đứng đầu các nhà xuất bản nếu không làm theo yêu cầu của chính quyền.

Một số nhà xuất bản hiện nay có xu hướng trở thành một cơ quan kiểm duyệt đơn thuần. Những nhà xuất bản này chịu trách nhiệm bán giấy phép xuất bản, kiểm duyệt tác phẩm của các công ty làm sách.

Từ sau ngày 30/4/1975, nền xuất bản tư nhân đã biến mất khỏi Việt Nam. Khí thế xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa thể phục hồi. Nỗi sợ hãi của chính quyền về xuất bản tư nhân đã tạo thành nhiều rào cản ngăn cấm người dân thưởng thức những tác phẩm đa dạng, nhốt tư tưởng người viết vào trong những chiếc lồng ý thức hệ và kéo lùi nền tri thức của cả đất nước.

Nguyễn Hạnh 


 

Bi kịch ‘mang cha bỏ chùa’ và khoảng trống an sinh thời hiện đại

 Ba’o Moi

Câu chuyện về người con gái ‘mang cha bỏ chùa’ tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng.

 Hình ảnh người cha già ngã quỵ trước cổng chùa cùng mảnh giấy viết vội không chỉ là một bi kịch gia đình đau đớn, mà còn là hồi chuông cảnh báo về sự kiệt quệ của các trụ cột an sinh truyền thống trước áp lực của xã hội hiện đại và tốc độ già hóa dân số chóng mặt.

Khi đôi vai người trẻ không còn gánh nổi chữ hiếu

Câu chuyện về người con gái đưa cha già bệnh tật đến gửi lại nơi cửa chùa giữa lúc bản thân đang đối mặt với bạo bệnh và sự túng quẫn cùng cực đã tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng. Những lời chỉ trích về đạo hiếu, những phán xét về sự nhẫn tâm ban đầu dường như đã lùi lại, nhường chỗ cho một nỗi xót xa và một câu hỏi lớn hơn: Chúng ta đang ở đâu khi những tế bào của xã hội bị tổn thương đến mức không thể tự chữa lành?

Trong văn hóa Việt Nam, mái ấm gia đình luôn được coi là “thánh đường” của tình phụ tử, là nơi “trẻ cậy cha, già cậy con”. Thế nhưng, khi cái nghèo và bệnh tật bủa vây, khi người con gái vừa mới sinh con lại phải duy trì sự sống bằng những ca chạy thận liên miên, thì mái ấm ấy đã trở thành một pháo đài đổ nát. Sự lựa chọn đưa cha lên chùa, nhìn ở một góc độ nghiệt ngã, lại chính là nỗ lực cuối cùng của một tình thương đang tuyệt vọng, một sự “buông tay” để tìm cho người thân một con đường sống khi mọi nguồn lực cá nhân đã hoàn toàn cạn kiệt.

Hình ảnh người con mang cha bỏ chùa được cắt từ clip.

Tình phụ tử, vốn dĩ là thứ tình cảm thiêng liêng và bản năng nhất, đang bị đặt lên bàn cân với những áp lực mưu sinh khốc liệt của thời đại. Bi kịch “mang cha bỏ chùa” là minh chứng rõ nhất cho việc đạo đức và tình cảm gia đình, dù bền vững đến đâu, cũng có những giới hạn chịu đựng trước sức ép kinh tế.

Nhìn rộng hơn ra toàn xã hội, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng chăm sóc người cao tuổi sẽ ngày càng đè nặng lên vai những gia đình trẻ. Trong khi đó, hệ thống an sinh xã hội và chế độ chăm sóc người già của chúng ta vẫn còn rất nhiều khoảng trống.

Chúng ta thiếu những trung tâm dưỡng lão cộng đồng có chi phí thấp, thiếu mạng lưới nhân viên xã hội hỗ trợ tại nhà và đặc biệt là thiếu một cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn. Ở các quốc gia phát triển như Nhật Bản hay Bắc Âu, việc chăm sóc người già không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự điều tiết của nhà nước. Người già được coi là một tài sản cần được bảo vệ, và việc hỗ trợ họ là một phần tất yếu của nền kinh tế bền vững. Còn tại Việt Nam, khi hệ thống an sinh chưa kịp bao phủ, gia đình vẫn là đơn vị duy nhất phải gánh chịu mọi rủi ro. Khi gia đình sụp đổ, người già trở thành những phận đời bị bỏ lại phía sau.

Sự phẫn nộ trước hành vi vi phạm đạo đức truyền thống là cần thiết, nhưng sự thấu cảm và hành động để thay đổi hệ thống mới là điều quan trọng hơn cả. Hãy nhìn vào sự thật rằng, người con gái ấy đã bán sạch nhà cửa, đã kiệt sức vì chạy thận và chăm con nhỏ. Khi mọi cánh cửa đều đóng sập lại, cửa chùa là nơi cuối cùng cô tin rằng cha mình có thể được sống. Đó không phải là sự tàn nhẫn, đó là sự bất lực của một số phận bị đẩy vào ngõ cụt.

Chúng ta không thể chỉ đứng ngoài cuộc để phán xét khi những người trong cuộc đã bị dồn đến đường cùng. Mỗi người trong chúng ta rồi cũng sẽ già đi, cha mẹ chúng ta cũng không thể tránh khỏi quy luật của thời gian. Nếu hôm nay chúng ta không cùng nhau xây dựng một lưới an sinh vững chắc, thì bi kịch của gia đình nọ có thể sẽ là tương lai của bất kỳ ai trong chúng ta.

Xã hội công nghệ hiện đại sẽ nhân văn hay chỉ biết tạo áp lực?

Một xã hội văn minh là một xã hội mà ở đó, không ai phải chọn giữa việc sinh tồn của bản thân và việc chăm sóc đấng sinh thành. Nhiệm vụ của xã hội, của chính sách an sinh là phải mở ra những lối thoát khác, nhân văn hơn, an toàn hơn. Chúng ta cần những quỹ hỗ trợ người già bệnh tật, cần những trung tâm bảo trợ xã hội có sự tham gia của cả nhà nước và tư nhân để chia sẻ gánh nặng với các gia đình. Chỉ khi đó, tình phụ tử mới không bị bẻ gãy bởi những con số nợ nần hay những cơn đau bệnh tật.

Chúng ta sống trong thời công nghệ số, nơi mọi thứ chuyển động với tốc độ ánh sáng, nơi con người mải mê đuổi theo những giá trị vật chất và sự tiện nghi, nhưng lại dường như đang bỏ quên những giá trị cốt lõi về sự kết nối giữa người với người. Công nghệ có thể giúp chúng ta kết nối với cả thế giới chỉ bằng một cú chạm, nhưng nó không thể thay thế bàn tay chăm sóc của người thân, không thể làm dịu đi nỗi cô đơn của tuổi xế chiều hay nỗi lo âu của những người trẻ đang gánh trên vai “tứ thân phụ mẫu” cùng áp lực cơm áo gạo tiền.

Trong kỷ nguyên số, chúng ta thường tự hào về những thành tựu công nghệ, về y tế thông minh hay quản lý dữ liệu dân số hiện đại. Vậy nhưng, tại sao công nghệ chưa thể giúp chúng ta nhận diện sớm những gia đình đang đứng bên bờ vực thẳm như trường hợp của người phụ nữ kia? Tại sao chúng ta chưa có một hệ thống dữ liệu an sinh đủ nhạy bén để kết nối những hoàn cảnh ngặt nghèo với các nguồn lực hỗ trợ kịp thời?

Mảnh giấy ghi những dòng chữ và quần áo, sữa, tiền… của người cha khiến không ít người không khỏi xót xa.

Thay vì để họ phải chọn cách đau lòng nhất là “mang cha bỏ chùa”, xã hội cần một cơ chế để mái ấm không bị biến thành gánh nặng. Chăm sóc người già không thể chỉ dựa vào lòng tốt hay đạo đức cá nhân, mà cần phải được luật hóa và cụ thể hóa bằng các chính sách phúc lợi xã hội thực chất. Chúng ta cần những mô hình dưỡng lão không chỉ dành cho người giàu, mà còn phải bao dung cả những người yếu thế nhất.

Cuối cùng, dù xã hội có hiện đại đến đâu, dù công nghệ có thay đổi cuộc sống thế nào, thì mái ấm gia đình vẫn phải là nơi an trú cuối cùng của mỗi con người. Để giữ vững mái ấm ấy, tình thương thôi là chưa đủ, cần phải có sự đồng hành của cả cộng đồng. Đừng để những hồi chuông cảnh báo như vụ việc vừa qua trôi vào quên lãng sau những đợt sóng dư luận.

Hãy bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn về trách nhiệm chăm sóc người già, từ việc yêu cầu những chính sách an sinh công bằng và thiết thực hơn. Để không còn những người cha phải ngã sụp trước cổng chùa, và không còn những người con phải mang theo nỗi dằn vặt suốt đời vì đã phải buông tay người mình yêu thương nhất trong sự cùng cực của định mệnh.

Lê Thọ Bình


 

VinFast chuyển nhượng mảng sản xuất ở Việt Nam (BBC)

BBC

Hãng sản xuất xe điện VinFast sẽ tái cấu trúc quy mô lớn bằng việc tách mảng sản xuất tại Việt Nam ra khỏi hệ thống trực thuộc để chuyển giao cho một nhóm nhà đầu tư mới, theo văn bản nộp Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC).

Thương vụ này có giá trị khoảng 530 triệu USD, dự kiến hoàn tất trong quý 3/2026.

Sau tái cơ cấu, tỷ phú Phạm Nhật Vượng vẫn tham gia pháp nhân mới nhưng giảm tỷ lệ sở hữu.

Mục tiêu cốt lõi của bước đi này được cho là giúp VinFast thoát khỏi mô hình thâm dụng vốn cao từ các hoạt động sản xuất, từ đó có thể dùng nguồn lực vào phát triển thương hiệu, nghiên cứu sản phẩm và công nghệ.

Theo kế hoạch, VinFast sẽ thoái vốn toàn bộ khỏi Công ty cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP) – đơn vị hiện nắm giữ mảng sản xuất và một số mảng phụ trợ khác.

Bên nhận chuyển nhượng là một nhóm công ty do Future Investment Research & Development dẫn đầu, trong đó nhà sáng lập VinFast Phạm Nhật Vượng cũng là một nhà đầu tư.

Bên cạnh thoái vốn, VinFast sẽ thành lập pháp nhân mới mang tên Công ty cổ phần VinFast Việt Nam (VFVN), tiếp quản nhiều tài sản quan trọng như hoạt động R&D toàn cầu, mảng kinh doanh bán hàng, dịch vụ hậu mãi,..

Hãng xe điện Việt Nam khẳng định việc thoái vốn tại mảng sản xuất trong nước sẽ không gây ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh quốc tế hay các cơ sở sản xuất tại Ấn Độ và Indonesia.

Theo nguồn tin của Reuters vào hồi tháng 4, VinFast đặt mục tiêu đạt điểm hòa vốn sau năm 2027.

Dù đang phải đối mặt với áp lực chi phí leo thang, doanh nghiệp niêm yết trên sàn Nasdaq này vẫn quyết liệt đẩy mạnh sự hiện diện tại các thị trường khu vực như Indonesia, Ấn Độ và Philippines, đồng thời thực hiện các điều chỉnh chiến lược bằng cách thu hẹp quy mô tăng trưởng tại Mỹ và châu Âu.

Gần đây, chiến lược này dường như gặp thách thức khi một chiếc VinFast của Green SM – công ty gọi xe công nghệ của ông Vượng – vướng vào một vụ tai nạn đường sắt thảm khốc ở Jakarta, Indonesia và đang bị điều tra.

Theo đó, chiếc taxi này đã va chạm nhẹ với đoàn tàu ngoại ô tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.

Sự cố này đã khiến một đoàn tàu ngoại ô khác phải dừng lại tại ga và bị một chiếc tàu đường dài đâm vào phía sau chiếc tàu thứ hai này.

Việc tái cấu trúc diễn ra trong bối cảnh VinFast đang đối mặt với áp lực tài chính lớn khi ghi nhận mức lỗ lũy kế ngày càng lớn tính đến cuối năm 2025, dù doanh thu và thị phần tại Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, chiếm đến 36% thị phần ô tô nội địa.

Tính đến hết năm 2025, hãng xe này lỗ lũy kế gần 171.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm hơn 90.000 tỷ đồng.

Trái với các cổ phiếu họ Vin đang tăng phi mã ở thị trường chứng khoán trong nước trong năm vừa qua, liên tục nâng hạng ông Phạm Nhật Vượng trên bảng xếp hạng tỷ phú thế giới, thì cổ phiếu VinFast trên sàn Nasdaq ở Mỹ dù tăng ấn tượng trong năm nhưng vẫn chưa trở lại đỉnh hồi tháng 9/2023.

Hiện giá mã VFS của VinFast đang ở mức 4,08 USD/cổ, mất 75,64% so với giá trị lúc cao nhất hồi tháng 9/2023.

Tài sản ông Vượng hiện ở mức 35,2 tỷ USD, xếp 62 thế giới, theo Forbes.


 

VÌ SAO PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ BỊ ĐÈ BẸP TỚI NGÀY NAY?

Việt Luận – Viet’s Herald

 VÌ SAO PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ BỊ ĐÈ BẸP TỚI NGÀY NAY?

Nguyễn Gia Việt

Người Nam Kỳ tự hào vì có Phan Thanh Giản, vì có Petrus Trương Vĩnh Ký. Nhưng vui làm sao! Sau 1975 hai nhơn vật Miền Nam này bị hạ bệ, miệt thị, truy sát lịch sử không thương tiếc, rất thô bạo.

Lịch sử thiệt là trớ trêu, sau 1975, “bác cả” cho quan Phan Thanh Giản vô vòng lao lý lịch sử, hạ tượng xoá đường. “Bác cả” cũng cho học giả Trương Vĩnh Ký và nhà tư bản chủ chợ Bình Tây vô sân sau nhà chú Hoả đứng đối diện nhìn nhau say đắm ngày qua ngày với danh phận 2 con ma gác cửa sau nhà chú Hỏa.

Vì sao nhân vật lịch sử Miền Nam bị hạ bệ nhiều quá vậy? Ai giỏi giỏi nổi nổi là bị ha hết?

Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), tên đủ là Jean-Baptiste Pétrus Trương Chánh Ký, sau này là Pétrus Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký-một người quê Cái Mơn Bến Tre.

Ông thông thạo 27 ngoại ngữ, được Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới, là ông tổ nghề báo Việt Nam, tham gia viết lách, thông ngôn, hoạt động chánh trị một thời gian và về già thì lấy sự dạy học  làm vui.

Cái vĩ đại của  Pétrus Trương Vĩnh Ký ngoài học thuật còn về cách sống, ông sống đơn sơ như  một nho sinh sân Trình cửa Khổng, có vô số điều kiện làm giàu nhưng nhứt định từ chối, cuối đời sống thanh bần, lấy dạy học và viết sách làm vui.

Bài văn dưới đây là bài trích ông Jacques Lê Văn Đức  ca ngợi học giả Petrus Ký ở những năm 20 của thế kỷ trước. Ông Jacques Lê Văn Đức người Mỹ Tho, con trai đốc phủ sứ Lê Văn Mầu, bản thân là hội đồng quản hạt Nam Kỳ- sanh thời cũng rất thông bác, được gọi là đồ đệ Petrus Ký.

Mọi người đọc lại cho biết cách diễn giải văn chương của năm 1920:

“Ai ai cũng đến cùng người vì biết người thông thái, khoan hậu niềm nỡ và hiền lành. Bởi sự đơn sơ, sự ngay thẳng của người, nên người mới được những kẻ một xứ sở cùng với người Pháp đều kính trọng vì nễ.

Petrus Trương Vĩnh Ký nhờ trí tuệ thông minh và cách làm việc rất chuyên chú của người nên được trở nên đơn sơ khiêm tốn nhơn lành khoan hậu, công bình thanh liêm khôn ngoan và xứng đáng, đầy lòng luân lý và cao vọng chớ chẳng phải toàn là vật chất chủ nghĩa.

Như tiên sanh, ở người tài ba đầy sự hiền vinh, tinh khiết, đã đế thế này rất sớm mà vội đi cũng sớm, chúng tôi muốn được biết cái cách ăn ở đơn sơ mà hữu chỉ cho người đồng loại.

Chúng tôi muốn được sự vui thỏa trọng những đức hạnh gia đình.

Chúng tôi muốn gieo rãi sự hạnh phúc khắp nơi, sự hạnh phúc thật của một đời kiểu mẫu, chớ không phải một đời không những vô ích, vô sự, ích kỷ.”

Pétrus Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam làm nhựt trình (báo chí) đầu tiên, nhưng sau 1975 “bác cả” không liệt kê ra, “bác cả” chỉ liệt kê con cháu “bác”.

Pétrus Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản sau 1975 được ban tặng sự thù ghét, đê tiện, là “bán nước” theo ý chí của “bác cả”.

Tả Quân Lê Văn Duyệt đại diện quyền lực Miền Nam tiêu biểu cũng bị miệt thị trên mạng hàng ngày.

Các nhân vật lịch sử Miền Nam đều là thứ không ra gì trong mắt “bác cả”, và tới giờ họ vẫn rất sợ khi con cháu Miền Nam đã hiểu ra, tìm đọc, và đặt cha ông về đúng vị trí trang trọng.

Tạo sao cứ phải tỉa gọn như vậy?

Vì chánh trị, muốn con cháu người đó quên, thù nghịch với cha ông nó kiểu mả cha không khóc phải khóc đống mối để dễ dạy dỗ…thì cứ hạ bệ, cứ triệt gọn những nhân vật được yêu thương là xong.

Mà làm được không?

Nguyễn Gia Việt


 

TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN

Xuyên Sơn

 TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN.

Chuyện những cây cầu ở Miền Tây.

Cầu Mỹ Thuận, bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang, được khởi công ngày 06/7/1997 do nước Australia tài trợ, khánh thành ngày 21/5/2000.

Người dân Miền Tây vui mừng chưa hết nụ cười thì ngay lập tức trạm thu phí phía Tiền Giang hoạt động.

Dĩ nhiên, Australia phản đối việc thu phí do cây cầu này được xây từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Australia, họ muốn giúp đỡ dân Miền tây vốn đã quá vất vả với hạ tầng giao thông kém cỏi.

Phía VN viện cớ phải thu phí để trang trải tiền bảo trì, duy tu, điện chiếu sáng nên cù nhây quyết không buông, người Úc lại bảo “thế chúng mày thu thuế để làm gì?” Phía VN vẫn chây lì , Người Úc đành âm thầm rút khỏi dự án cầu Cao Lãnh và Vàm Cống.

Mãi đến 01.01.2013, trạm thu phí cầu Mỹ Thuận mới chính thức dừng thu phí, khi đã áp phí bảo trì đường bộ bắt buộc.

Năm 2010, cầu Cần Thơ khánh thành, bằng nguồn vốn của người Nhật,

nếu người Nhật không đến có lẽ việc nối hai bờ sông Hậu mãi là giấc mơ. Cầu xây chưa xong nhưng trạm thu phí thì đã nhanh nhẩu xây xong trước đó.

Người Nhật cũng phản đối giống như người Úc, chắc họ ngạc nhiên với cái chính quyền đã thu thuế phí các loại lại còn tận thu phí qua cầu.

Năm 2011 Hầm Thủ Thiêm và Đại lộ Đông tây khánh thành, trước đó trạm thu phí đã mọc lên, phía Nhật gởi công hàm phản đối kịch liệt.

Kết quả:

ngày 22/11/2012, UBND TP HCM quyết định chưa thu phí hầm Thủ Thiêm (đường hầm sông Sài Gòn) “để chia sẻ khó khăn với người dân”, nghe mà rớt nước mắt, nuốt không trôi thì chia sẻ vậy!!!.

Trạm thu phí này phải dỡ bỏ vào năm 2018, mất 53 tỷ đồng tiền xây dựng.

Sự đê tiện của Bộ GTVT và chính quyền được nâng cao thêm một mức khi thông cầu Vàm Cống và Cao Lãnh, họ liền đặt trạm BOT T2 ngay ngã ba lộ tẻ để chặn dòng xe qua cầu Vàm Cống đi về hướng Long Xuyên, trước đó đã có trạm thu phí trên QL 80 đi Rạch Giá và QL 91 đi Cần Thơ, lập trạm BOT T2 này chẳng khác nào hành động của bọn lục lâm thảo khấu, một hành vi trấn lột đê tiện.

Cầu Vàm Cống và Cao Lãnh do chính phủ Hàn Quốc tài trợ, trước sự phản đối của phía Hàn Quốc và người dân, trạm này phải đóng cửa.

Cái bản chất gian xảo, lưu manh nó có từ thời nào?

Các nước Úc, Nhật và Hàn Quốc muốn giúp đỡ người dân Miền Tây nên đã dùng tiền thuế của dân họ tài trợ xây ba cây cầu huyết mạch, giúp việc lưu thông thuận tiện, giúp cho người dân cải thiện đời sống của mình.

Nhà nước VN do dân, vì dân, thấy dân đi đường của bọn tư bản viện trợ mà không thu thì rất phí nên bất chấp liêm sỉ, bằng mọi giá lập trạm thu phí, dù sau đó phải ăn cái tát từ các nhà tài trợ!!!

Cây cầu thứ tư khá nổi tiếng ở Miền Tây, khi nhắc đến nó chúng ta sẽ nghĩ đến một điểm kẹt xe nổi tiếng.

Cầu Rạch Miễu nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, là niềm tự hào của ngành xây dựng giao thông VN, đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam.

Tiếc thay “niềm tự hào” nãy đã lỗi thời từ ngay từ khi thiết kế và trở thành cây cầu nguy hiểm nhất Miền Tây.

Rạch Miễu được khởi công năm 2002, tuy nhiên nó lại sử dụng số liệu khảo sát về lưu lượng xe từ năm 1995!, khánh thành năm 2009 nó đã trở nên lạc hậu.

Cầu chỉ có một làn xe cho mỗi chiều và một dẻo nhỏ hai bên cho xe máy đi, mặt đường nhỏ.

Độ dốc cao nên xe tải chỉ có thể bò lên cầu, độ tĩnh không cao nên khi trời mưa hay gió lớn xe máy di chuyển qua đây có thể bị thổi ngã, tuy vậy khi thiết kế và ngay cả bây giờ họ cũng không gắn các miếng che gió bảo đảm an toàn cho người đi đường.

Mặc dù xây cầu để không phải đi phà, nhưng đến năm 2021, ngân sách

(lại là tiền thuế của dân) chi 100 tỷ để làm lại bến phà nhằm giải tỏa cho Cầu Rạch Miễu, cái vòng lẫn quẩn.

Bọn đầy tớ phá thật! não trạng chỉ toàn “phí, thuế”.

Không có khả năng hoạch định chính sách nhưng rất điếm đàng trong việc dựng BOT.

Từ fb Chế Quốc Long


 

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

Xuyên Sơn

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

“Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng, hóa hổ.. này nọ.!”

Nằm mơ hóa rồng …!

Đất nước gì mà một chiếc Opel của Đức được bán tại nước Đức với giá chỉ 5100 EURO, đem về Việt Nam dán chữ VINFAST bán với giá 450 triệu đồng.

Một chiếc tivi từ Trung Quốc được tháo rời đem về Việt Nam sắp lại dán chữ Asanzo hàng Việt Nam chất lượng cao mới ghê… cú lừa năm 2019 của thời đại cái này quá tàn nhẫn với người tiêu dùng Việt Nam…..

Gạo ngon đem xuất khẩu chỉ khoảng 7000 VNĐ/kg, trong khi đó người dân phải mua tại siêu thị tới 13.000-15.000 cho 1 kg gạo loại thường.

Một con gà, một cân thịt khi được đưa lên bàn ăn thì nó bị thu tới gần 20 loại phí.

Bên cạnh giá thuốc, sữa vào loại cao nhất thế giới thì người VN chúng ta đang bị “đánh thuế vô cùng tàn bạo” từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại…..

Theo thống kê thì gộp tất cả công chức, viên chức, công an, bộ đội, người nghỉ hưu, ban bệ, các đoàn thể… thì có gần 12 triệu người ăn lương từ ngân sách Nhà nước.

Mỗi năm tiêu tốn hơn 60,000 tỷ tiền thuế của nhân dân nhưng nghịch lý là chúng nó chẳng tạo ra được điều tốt đẹp gì cho an sinh xã hội.

Năm 2019 là năm đáo hạn vốn vay ODA, cũng năm 2019 thì VN chúng ta bị cắt các khoản vay ưu đãi, chính phủ các nước đã siết chặt vốn ODA cho VN.

Không phải ngẫu nhiên mà những thương hiệu làm ra ăn nên như Sabeco, Habeco, Vinamilk, FPT… những con gà biết đẻ trứng vàng hiếm hoi của nhà nước cũng bị đem bán,

đơn giản chính phủ đã cạn kiệt tiền sau những năm tháng mà quan chức rất tích cực tàn phá, tích cực tham nhũng, tích cực biển thủ công quỹ làm của riêng…..

Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng,

hóa hổ.. này nọ.!

Chẳng có dẫn chứng khoa học nào khiến đồng tiền mất đi cả, nó chỉ chuyển hóa từ nơi này sang nơi khác, từ túi người này sang người khác mà thôi.

Hàng vạn ngôi biệt thư, xe hơi, các vật phẩm xa xỉ, khối vàng ròng giấu trong két sắt của đảng viên chính là sự chuyển hóa ấy.

Khi nợ quốc gia chất cao như núi, tình cảnh “vỡ nợ” đang dần hiện hữu, thì không còn cách nào khác là chính phủ phải tiếp tục “bóp cổ người dân”

để lấy tiền nuôi bộ máy quan chức.

Theo đó thì phí BHXH, BHYT, phí cầu đường, phí đăng ký ô tô, xe máy, giá điện, nước… cứ thế mà tăng giá phi mã.

Vậy thôi, ai có sức ăn được thì cứ ăn, tội vạ đâu dân gánh hết.

Ngẫm mà buồn cho mình dân Việt…

Như Linh

Hình minh họa: Internet

Nguồn fb Lời Nguyền


 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

NHỮNG BÀI POST HAY.

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

  Những ai từng đi ngang qua Trường Đại học Luật – 123 Quốc lộ 13, P. Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, Tp.HCM – đều nhận thấy một điều kỳ lạ, đó chính là cây tháp chuông ở trên có Thánh Giá của Nhà thờ Fatima cũ vẫn án ngữ sừng sững ngay trước 3 tòa nhà của trường.

 Đằng sau lịch sử tháp chuông là một câu chuyện huyền bí khó lý giải.

Lịch sử Nhà Thờ Fatima, quận Thủ Đức

Nhà Thờ Fatima Bình Triệu là một nhà thờ Công giáo thuộc Tổng giáo phận Saigon, tọa lạc tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, gần cầu Bình Triệu.

 Đây là một trong những nơi hành hương kính Đức Mẹ đồng trinh Maria nên còn được gọi là “Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu”.

  Vào tháng 5/1962, phong trào quốc tế Tông đồ Fatima tổ chức cung nghinh tượng Đức Mẹ Fatima đi nhiều quốc gia trên thế giới. Nhân dịp tượng này được rước qua Việt Nam, Linh mục Phaolô Võ Văn Bộ – trưởng ban tổ chức cuộc rước đã mua một khu đất rộng 12,5 mẫu gần Quốc lộ 13 và ga Bình Triệu để tiến hành xây dựng một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ Fatima.

Nhà thờ Fatima Bình Triệu gắn liền với những câu chuyện kỳ bí.

   Trước khi đất nhà thờ được mua tại đây, có lần đoàn rước của giáo phận Sài Gòn kiệu Đức Mẹ Fatima từ Sài Gòn đến vùng Thủ Dầu Một đi ngang khu vực này. Bỗng dưng tất cả các xe của đoàn rước bị khựng lại, tắt máy, và làm thế nào cũng không đi tiếp được.

 Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng có mặt trong đoàn rước hôm đó, liền cầu xin và nguyện rằng: “Xin Đức Mẹ cho hành trình của chúng con được tiếp tục tốt đẹp, sau này chúng con sẽ thành lập một trung tâm sùng kính Đức Mẹ ở vùng này”. Thế rồi tất cả các xe lại nổ máy lên đường dễ dàng.

 Sau đó, một bức tượng tạc theo nguyên mẫu tượng Đức Mẹ Fatima bên Bồ Đào Nha đã được dựng tại khu đất này để giáo dân đến kính viếng.

 Ngày 15/8/1966, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm phép tượng đài và cử hành thánh lễ đầu tiên tại đây.

 Ngày 8/12/1966, nhà thờ được khởi công xây dựng ngay tại khu đất mang tước hiệu “Nhà thờ Chúa Kitô” với một tháp chuông cao 30 mét, bên trên là Thánh Giá.  Những năm tiếp theo, các công trình phụ trợ khác như nhà tĩnh tâm, nhà thủy tạ, nhà mục vụ, nhà nguyện, giảng đường, phòng ăn, nhà bếp,… cũng được xây dựng.

  Ngày 7/1/1973, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm chủ lễ khánh thành và cung hiến Thánh đường. Từ đó Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ làm giám đốc trung tâm.

   Phá dỡ Nhà thờ Fatima để xây trường Đại học luật

  Sau năm 1975, chính quyền thu hồi đất của Nhà thờ Fatima để trưng dụng xây trường Đại học luật. Nhà trường cho đập phá hết Nhà thờ và nhà xứ tại đây để tiến hành xây mới hoàn toàn.

  Tuy nhiên, riêng tháp chuông có Thánh Giá ở trên thì làm cách nào cũng không thể đập phá được. Trường sử dụng mọi phương tiện, nhưng cứ cho máy xúc, máy ủi vào múc và đập là bị tắt máy. Lần nào cũng vậy, máy cứ khởi động cần lên đập phá tháp chuông là đột ngột tắt, không thể hoạt động.  

  Rút cục, người ta đành phải để tháp chuông cao sừng sững đứng giữa trung tâm sân trường.

 Trong trường có một phòng phải xây bịt kín lại và để nguyên đó vì không thể sử dụng. Đây cũng là nơi đặt bàn làm Lễ  trong Nhà thờ Fatima trước đây. Trường đã nhiều lần cho máy vào đập phá bàn làm Lễ nhưng không cách nào đập được nên đành phải xây bịt kín lại.

  Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày nay, rất nhiều điều kỳ lạ đều đã có lời giải đáp mang tính logic cao. Tuy nhiên, dù cho khoa học phát triển xa đến cấp độ nào, vẫn còn rất nhiều sự kiện phi thường vượt quá tầm kiểm soát của con người và chưa thể có được câu trả lời thỏa đáng. Và niềm tin vào những điều huyền bí vẫn tiếp tục…

Sưu tầm


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn

Duyên Kỳ Ngộ

(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)

Bài viết của Đặng Thái Sơn

Lời phi lộ:

Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.

Chuyện được kể như dưới đây.

 Phùng Văn Phụng

Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.

Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”

Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”

Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.

Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.

Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.

Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.

*****

Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!

–          Nhớ rồi, nhớ rồi!…

–          Thầy nói, chụp hình, chụp hình…

–          Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.

      

Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…

Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!

Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.

– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?

      Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặng Thái Sơn

Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.


 

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Trần Trân

 Đêm chồn dầu vượt biển

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.

Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.

Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.

Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.

Mặt trái của Phương Án II

Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.

Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.

Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…

Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.

Tang thương Cát Lái

Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.

Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!

Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?

Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.

Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.

Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.

Trích Bên Thắng Cuộc

-Huy Đức