Việt Nam báo động bão Mujigae

Việt Nam báo động bão Mujigae

Ngư dân tỉnh Quảng Nam đẩy một tàu đánh cá vào bờ. Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Ngư dân tỉnh Quảng Nam đẩy một tàu đánh cá vào bờ. Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Trà Mi-VOA

Giới hữu trách cảnh báo bão nhiệt đới Mujigae đang quét qua Philippines có thể đổ bộ vào bờ biển Việt Nam sáng ngày 5/10.

Truyền thông nhà nước hôm nay dẫn nguồn tin từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết tâm bão đang cách quần đảo Hoàng Sa hơn 700 cây số về hướng Đông.

 Hiện cơn bão thứ tư ở Biển Đông này đang ở cấp 8 với sức gió 75km/giờ và có thể mạnh lên tới 100km/giờ tức trên cấp 10. Dự báo tới ngày Chủ nhật bão có thể đạt cấp 10-11.

Giới hữu trách Việt Nam cho hay hiện chưa biết chắc bão sẽ đổ bộ vào đâu, nhưng có thể vào phía Nam đồng bằng Bắc Bộ và nhiều khả năng sẽ ập vào khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng với sức gió mạnh cấp 10.

Ông Hoàng Đức Cường, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương được tờ Zing.vn dẫn lời cho hay khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam có thể hứng một lượng mưa rất lớn nếu bão Mujigae đổ vào Quảng Ninh.

Giới chức Việt Nam yêu cầu các khu vực này có kế hoạch ứng phó với lũ quét và sạt lở đất.

Việt Nam nói Bộ quốc phòng đã điều động lực lượng cùng các phương tiện như máy bay, tàu, xuồng, ô tô cho công tác cứu hộ.

Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Bây giờ bà con họ rút kinh nghiệm, nay họ nghe bão là nghe trước hết, nghe đài Nhật Bản với đài Hoa Kỳ là nhiều, lo nghe trước để tránh thiệt hại. Trước đây có nhiều cơn bão đổi hướng nhiều khi nghe đài cũng không chính xác. Trước đây cũng bị dự báo không chính xác nhưng sau thời gian kinh nghiệm, giờ thì cũng chính xác lần lần, bà con ngư dân giờ cũng đỡ.

Anh Lê Văn Xinh, thuyền trưởng tàu đánh cá ở Sơn Trà chuyên hoạt động ở khu vực Hoàng Sa, nói với VOA Việt ngữ ngư dân địa phương đã được báo bão và nhiều tàu đánh cá như anh đã quay về bờ:

“Cũng nhiều tàu đã vào bờ, một số còn ở ngoài biển. Họ nghe bão 2, 3 ngày nay rồi, chiếc nào ở gần thì họ lo họ tránh vào gần bờ. Không biết miền Bắc ra sao chứ miền Trung này thì thấy đường đi của bão cũng hụt Đà Nẵng rồi cho nên bà con đi xa bờ không được thì cũng làm ở gần bờ để có gì thì vào bờ nghỉ thôi”.

Anh Xinh cho biết sau những thiệt hại trong các trận bão trước, ngư dân địa phương giờ đây cảnh giác bão cao hơn, chủ động tìm kiếm các kênh thông tin bão và liên lạc truyền tin bão với nhau:

“Bây giờ bà con họ rút kinh nghiệm, nay họ nghe bão là nghe trước hết, nghe đài Nhật Bản với đài Hoa Kỳ là nhiều, lo nghe trước để tránh thiệt hại. Trước đây có nhiều cơn bão đổi hướng nhiều khi nghe đài cũng không chính xác. Trước đây cũng bị dự báo không chính xác nhưng sau thời gian kinh nghiệm, giờ thì cũng chính xác lần lần, bà con ngư dân giờ cũng đỡ. Hơn nữa, giờ bà con cũng lo nghe báo bão trước để tính đường đi và thời gian để lo vào bờ trước 1 ngày chứ không để sát tới nơi mới chạy”.

Anh Xinh nói anh hy vọng công tác báo bão của Việt Nam được cải thiện hơn sao cho hiệu quả và kịp thời cũng như các khâu ứng phó, hỗ trợ, cứu hộ cho dân cần được chú ý tăng cường hơn nữa để giảm thiểu hậu quả khôn lường từ các trận bão mà cư dân duyên hải miền Trung như anh phải đón nhận mỗi năm.

Báo nhà nước loan tin Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ thị các ban ngành địa phương chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống để tránh thiệt hại về người và của. Ông Hải yêu cầu giới hữu trách tuyệt đối không được chủ quan khi ứng phó với thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Trung tâm dự báo thủy văn trung ương cũng được lệnh cập nhật tin bão từng giờ ‘cho dân chủ động ứng phó’ khi bão áp vào gần bờ.

Rau xanh không còn an toàn

Rau xanh không còn an toàn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA
2015-10-02

rau-xanh-622.jpg

Những người nôi trợ ngày càng ngại mua những loại rau xanh có màu xanh mơn mởn như thế này. (Ảnh chỉ mang tính minh họa)

RFA

Rau xanh không còn là thực phẩm an toàn đối với con người, đây là một thẩm trạng mà càng ngày người Việt Nam càng lún sâu vào. Nếu như với khoa học, rau xanh là một loại thực phẩm quan trọng, có khả năng bổ sung vitamin mạnh nhất thì với người nông dân, rau xanh là một tấm xốp hút đầy thuốc độc và bán nó, người ta kiếm được tiền. Còn với người tiêu dùng, rau xanh là một loại thực phẩm có chứa độc vừa đủ để ngấm dần vào cơ thể cho đến một lúc nào đó tự động phát tác mà hằng ngày người ta phải bỏ tiền ra để mua độc vào cơ thể.

Lượng thuốc độc quá cao

Một người nông dân tên Thiện, sống ở huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ, chia sẻ: “Ở ngoài này họ trồng nhiều rau lắm, nhưng phân đạm, phân lân thì nhiều chứ phân hữu cơ thì ít lắm! Rau cải, rau muống… các thứ đều bơm thuốc dưỡng chứ. Nhưng mà đắt đỏ chứ lúc nào rau quá rẻ thì họ để cho lên tự nhiên…!”

” Ở ngoài này họ trồng nhiều rau lắm, nhưng phân đạm, phân lân thì nhiều chứ phân hữu cơ thì ít lắm! Rau cải, rau muống… các thứ đều bơm thuốc dưỡng chứ. Nhưng mà đắt đỏ chứ lúc nào rau quá rẻ thì họ để cho lên tự nhiên…
-Ông Thiện”

Ông Thiện cho biết thêm là hiện tại, không có loại rau nào là đáng tin cậy cho dù rau được trồng theo công nghệ trồng rau sạch. Bởi những làng trồng rau sạch vẫn có bơm thuốc nhưng thay vì bơm ban ngày, người ta chuyển sang bơm ban đêm, vào lúc người khác đã đi ngủ. Ông Thiện đã nhiều lần chừng kiến người ta bơm thuốc hàng loạt cho rau xanh vào lúc nửa đêm khi ông đi bán rau chợ khuya.

Ông Thiện cho rằng sở dĩ một số làng rau sạch lại lén lút bơm thuốc trừ sâu cho rau của họ là vì họ cũng rơi vào thế bí. Họ đã bỏ ra không ít tiền để đầu tư làm rau sạch nhưng lại không có đầu ra, không có chỗ tiêu thụ ổn định, cuối cùng, phải mang ra chợ bán chạy đua với rau không an toàn. Và khi họ làm như vậy, để gở được một phần vốn của họ, họ buộc phải nói dối với các đầu mối thường đến mua rau sạch của họ. Cuối cùng, người tiêu dùng chịu trận nặng nhất khi mua rau với giá cao nhưng lại không sạch, vẫn nguy hiểm.

Cũng theo ông Thiện, hiện nay, rau xanh trên thị trường không có rau nào là không bơm thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, chống nấm. Bởi vì thời tiết quá khắc nghiệt, khi nắng thì như đổ lửa, mưa thì như trút nước, không có cây rau nào trụ nổi với thời tiết như vậy. Muốn giữ vườn rau, người nông dân buộc phải bơm thuốc.

Có hai cách để giữ vườn rau, hoặc là làm giàn, che lưới, đưa nguồn nước sạch từ thủy cục vào hồ chứa chừng ba ngày để lượng clo trong nước hoàn toàn bốc hơi, sau đó tưới rau và bón rau bằng phân chuồng. Hoặc là dùng thuốc hóa học và bơm thường xuyên mỗi ngày, dùng phân hóa học, có thể tưới nước giếng bơm.

Nếu chọn phương án che giàn lưới và tưới nước sạch, chi phí cho một vụ rau sẽ đội lên rất cao, người nông dân sẽ không thu được lãi nếu bán đồng giá trên thị trường. Chỉ bán cho siêu thị, nhà hàng thì mới có thể kiếm chút lãi, mà những siêu thị, nhà hàng, khách sạn thường có mối ổn định, người nông dân khó mà lọt vào được.

rau-xanh-400.jpg
Ảnh minh họa. RFA PHOTO.

Ngược lại, chọn phương án tưới nước giếng bơm và bón phân hóa học, bơm thuốc kích thích sinh trưởng, chu kì phát triển của cây rút ngắn đáng kể, từ chỗ một tháng hoặc một tháng rưỡi rút xuống còn một tuần hoặc nửa tháng. Người nông dân thường xuyên bơm thuốc vào mỗi chiều tối, bơm chất kích thích tăng trưởng, sau một tuần là vụ thu hoạch bắt đầu.

Ông Thiện cho rằng nguồn nước giếng bơm với hàm lượng phèn, thậm chí thạch tín trong đó quá cao cũng sẽ là mối nguy cho người tiêu dùng bởi cây rau phải thường xuyên tiếp xúc với nước không an toàn, thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, kích thích tăng trưởng.

Để chốt lại vấn đề, ông Duy khẳng định là hiện tại, không bao giờ có rau sạch bán trên thị trường, trừ khi đó là rau do tự người ta trồng ra. Bởi muốn có rau sạch, việc đầu tiên phải có một thị trường sạch và có một môi trường chính trị, văn hóa và kinh tế sạch.

Những thứ này tưởng chừng không liên quan với nhau nhưng trên thực tế, khi sống trong một môi trường chính trị, kinh tế và văn hóa sạch sẽ, lành mạnh, tâm hồn người nông dân sẽ nhanh chóng trở về với bản nguyên hồn nhiên, tốt bụng và chất phác.

Mũi dùi Trung Quốc

Một nông dân khác tên Khải, sống ở huyện Đoan Hùng, Phú Thọ, chia sẻ thêm: “Dùng thì người ta vẫn phải dùng (loại rau bơm thuốc). Bởi rau ở đây khô cằn, không tăng trưởng được, nó tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu của từng năm. Mùa Đông thì rau tốt chứ mùa này thì cằn lắm. Ví dụ như vào mùa này thì rau đang bị cằn cỗi lắm, mùa đông thì đỡ hơn.”

” Dùng thì người ta vẫn phải dùng (loại rau bơm thuốc). Bởi rau ở đây khô cằn, không tăng trưởng được, nó tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu của từng năm. Mùa Đông thì rau tốt chứ mùa này thì cằn lắm.
-Ông Khải”

Theo ông Khải, vấn đề rau xanh trở nên độc hại, gây ảnh hưởng không nhỏ đến người tiêu dùng hiện nay lại có một nguyên nhân sâu xa khác mang tên Trung Quốc. Yếu tố Trung Quốc đã chi phối quá nặng trên thị trường Việt Nam, tao ra những cơn lốc sử dụng vô hồn, nghĩa là cứ rẻ thì mua, mua xài xong lại vứt, lại xài tiếp. Chính thứ tâm lý này đã tác động không nhỏ đến người nông dân.

Người nông dân đã trở nên nóng vội trong việc kiếm tiền, bất chấp sức khỏe đồng loại để kiếm tiền. Đương nhiên, cũng vì hố sâu ngăn cách quá rõ rệt, ngày càng nới rộng giữa đời sống xa hoa, phung phí của giới quan quyền, tư bản đỏ và nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ của người nông dân, giới lao động nghèo. Trong khi đó, chính người nông dân và giới lao động nghèo phải hằng ngày còng lưng đóng đủ các loại thuế trong từng chai nước mắm, gói bột ngọt, chai xì dầu…

Chính hố sâu ngăn cách cùng với những bất công về đất đai đã khiến người nông dân một mặt chạy đua với thời gian, còn nước thì còn tát, cố gắng đào thật nhiều tiền trên mảnh vườn trước khi nó dính vào một dự án nào đó.

Nhưng đáng sợ hơn là sâu thẳm trong tâm hồn người nông dân, sự oán giận đã biến thành hành động, họ bơm thuốc vô tội vạ và không bao giờ ăn rau mình trồng bởi họ biết rằng những kẻ có tiền, ăn trên ngồi trốc sẽ là khách hàng của họ trong một ngày nào đó. Đương nhiên điều này đã được chuyển hóa thành hành động gần với vô thức của người nông dân.

Ông Khải nói rằng ông không đồng cảm với người nông dân trong vấn đề trồng rau xanh của họ nhưng điều này cũng nói lên rằng nếu như có một xã hội tử tế, một hệ thống nhà nước tử tế, người nông dân sẽ cho ra đời những cây rau sạch. Cây rau Việt Nam hiện tại giống như một biểu kế đo sự tử tế của nhà nước. Hệ thống quản lý càng tốt thì cây rau càng sạch, ngược lại, hệ thống quản lý nhà nước càng bệ rạc bao nhiêu thì cây rau càng chứa nhiều độc tố bấy nhiêu. Đây giống như luật nhân quả vậy!

Nói đến đây, ông Khải lắc đầu, thở dài.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Mâu thuẫn ăn nhậu, hai thầy giáo đánh nhau, một người nhập viện

Mâu thuẫn ăn nhậu, hai thầy giáo đánh nhau, một người nhập viện

Nguoi-viet.com

HÀ TĨNH (NV) – Lao vào đánh nhau sau cuộc nhậu do mâu thuẫn, khiến một người phải nhập viện cấp cứu, hai thầy giáo ở Hà Tĩnh bị đình chỉ công tác.

Trường tiểu học Hương Liên, nơi hai thầy giáo đánh nhau đang công tác.
(Hình: VnExpress)

Truyền thông Việt Nam loan tin, sáng 2 tháng 10, ông Trần Đình Hùng, trưởng phòng Giáo Dục và Đào Tạo huyện Hương Khê, cho biết đã chỉ đạo trường tiểu học Hương Liên xử lý vụ đánh nhau giữa hai thầy giáo Trần Song Hào và Trần Văn Kham.

“Ông Kham bị đình chỉ công tác từ ngày 25 tháng 9. Ông Hào đã xuất viện, nhưng đang ốm nên chưa tới trường. Khi nào trở lại làm việc cũng sẽ bị đình chỉ. Dự kiến thời hạn đình chỉ kéo dài một tuần,” ông Hùng nói.

Theo tin Thanh Niên, trước đó, khoảng 2 giờ chiều 19 tháng 9, 2015, sau khi kết thúc cuộc ăn nhậu ở xã Hương Liên, lúc đã ngà ngà say, ông Hào và ông Kham xảy ra xích mích rồi lao vào đánh nhau.

Một lãnh đạo trường tiểu học Hương Liên kể lại, trong lúc xô xát, thầy Kham lấy một khúc cây đánh mạnh vào người thầy Hào, khiến bị thương nặng phần đầu và tay, phải đi cấp cứu tại Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tĩnh. Phòng Giáo Dục huyện Hương Khê sau đó đã yêu cầu hai thầy giáo viết bản tường trình sự việc.

Điều gây quan ngại và lấy làm lạ cho dư lận là theo ông Hùng: “Khi cơ quan chức năng xem xét, giải quyết xong hành vi đánh nhau của ông Hào và ông Kham thì sẽ cho hai người này trở lại trường giảng dạy bình thường.” (Tr.N)

Biểu tình chống dự án của hải quân ở vịnh Cam Ranh

Biểu tình chống dự án của hải quân ở vịnh Cam Ranh

VOA
Người dân Cam Ranh chặn xe tại Quốc lộ 1A.

Người dân Cam Ranh chặn xe tại Quốc lộ 1A.

Ngày 30/9, hàng trăm người dân phường Cam Phúc Bắc, TP. Cam Ranh, đã đổ ra quốc lộ 1A để biểu tình chống lại việc nạo vét luồng lạch của hải quân vùng 4. Nguyên nhân vì sao dẫn đến sự việc này? VOA Việt ngữ tìm hiểu.

Đây không phải là lần đầu tiên người dân Cam Phúc Bắc biểu tình chống dự án nạo vét trên vịnh Cam Ranh. Vụ biểu tình gần đây nhất diễn ra vào ngày  20/4/2015.

Anh Hậu, một người dân địa phương, cho biết: “Chỗ đó dân người ta nuôi tôm, nó gần với vùng 4 hải quân, thì nó lấy cát, nó dùng cái từ là ‘khai luồng lạch’, lấy cát quá bắt đầu bùn lên làm cho tôm cá chết, bắt đầu dân biểu tình”.

Khi đó, người dân đã đem hàng đống cá, tôm hùm chết đổ ra quốc lộ 1 để yêu cầu chính quyền phải giải quyết những kiến nghị của họ phản đối việc nạo vét ở vịnh Cam Ranh khiến cho tôm, cá chết hàng loạt. Chủ tịch UBND phường Cam Phúc Bắc Nguyễn Ngọc Sơn ngay ngày hôm sau (21/4) thông báo đã lập tức yêu cầu dừng thi công, đưa các phương tiện ra khỏi khu vực nạo vét và sẽ tổ chức đối thoại với các bên để đạt được sự đồng thuận, khi đó dự án mới tiếp tục được thực hiện.

Tuy nhiên, người dân địa phương cho biết vài tháng gần đây tàu, xà lan lớn lại được đưa vào tiếp tục tiến hành dự án ở vịnh Cam Ranh mà không thông báo cho người dân. Ngày 29/9, nhiều người đã đưa ghe ra gần nơi thi công để phản đối.

Anh Hậu cho biết thêm: “Cách đây 2 tháng nó qua đây, cứ 2 ngày lấy 1 tàu lớn [cát], lấy thường xuyên như vậy cho nên tới lớp bùn là bắt đầu chết tôm”.

Các video clip đưa lên mạng Youtube cho thấy có tàu hải quân và một xà lan lớn phun vòi rồng và chú thích bên dưới nói tàu hải quân còn đâm vào ghe tàu của dân. Một cư dân mạng Facebook cho biết ‘nhiều người đã phải nhảy ra khỏi tàu để thoát thân, cực kỳ nguy hiểm’ và ‘trong lúc lực lượng công an làm việc, ngăn cản, có thêm mấy anh trên tàu hút cát cùng chung tay đàn áp ngư dân nữa’.

Video clip đưa lên Youtube và mạng xã hội vào ngày hôm sau (30/9) cho thấy hàng trăm người dân Cam Phúc Bắc đã cùng kéo chiếc tàu bị đâm lên trên đường để đưa tới UBND. Cả lực lượng công an giao thông và kinh tế sau đó phải hợp sức để đẩy tàu này xuống biển.

Báo Khánh Hòa khi đưa tin về vụ việc nói dự án nạo vét luồng lạch là ‘do yêu cầu về an ninh quốc phòng’. Nhưng người dân ở đây nói mục đích của việc nạo vét này là để lấy cát.

“Kiểu như nhà nước lấy cát đây, mà dùng từ ‘khai luồng lạch’, ý là ảnh muốn dùng từ ‘nạo vét’ đó”.

Người dân địa phương cho biết thêm rằng việc nạo vét không những làm chết tôm, cá hàng loạt, ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế của người dân, mà còn làm mất đi những cồn cát vốn có tác dụng che chắn gió bão cho khu vực nên càng khiến cho họ thêm bức xúc.

Tin tức báo chí ghi nhận liên tiếp trong hai ngày 30/9 và 1/10, người dân đã đồng loạt kéo nhau đi biểu tình ở chợ Cam Phúc Bắc (chợ số 9) và trước một trường tiểu học trong khu vực.

Nguồn: Báo Khánh Hòa, Tuổi Trẻ, Youtube.

Không thể bịt miệng được LƯƠNG TÂM TV.

Không thể bịt miệng được LƯƠNG TÂM TV.

Dù không có được người đẹp nhất nước, Lương Tâm TV không bao giờ cho một người có tiền sự ăn cắp đồ siêu thị ở nước ngoài lên làm phát thanh viên. 
NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Kênh truyền thông LƯƠNG TÂM TV ra mắt chương trình đầu tiên vào ngày 19/8/2015, đến khi bị đàn áp vào ngày 23/9 mới được 3 số. Đây là kênh truyền tin bằng hình ảnh do một số thành viên trong Hội Cựu tù nhân lương tâm và Hội Anh em dân chủ phối hợp thực hiện.
Trước khi một loạt bạn trẻ liên quan đến chương trình này bị bắt vào ngày 23/9/2015 còn ít người biết đến kênh truyền thông này. Kênh này mới được giới thiệu trên vài blog.
Tuy vậy, kênh này cũng được quảng bá thêm bởi một số trang mạng của Dư luận viên. Đám này gọi Lương tâm TV là bản tin của tay sai Việt Tân . Họ tỏ ra cay cú vì sự xuất hiện của Lương Tân TV. Nói xấu chán, không còn gì hơn nữa, họ đem so… nhan sắc của những phát thanh viên Truyền hình nhà nước với phát thanh viên Lê Thị Yến của Lương Tâm TV. Tác giả Tống Giang nào đó cho rằng “trên các kênh của Đài truyền hình Việt Nam thì các BTV có độ xinh đẹp hơn gấp cả trăm nghìn lần BTV Lê Yến này” . Ơ hay, so ở đây là so chính nghĩa, so sự thật chứ sao lại đem so nhan sắc như trong các cuộc thi hoa hậu? Khi đã quá tự hào với vẻ đẹp hình thức của các Biên tập viên nhà nước, ví dụ Kiều Trinh, Tống Giang lại “quên” mất một điều khác nhau cơ bản rằng, dù không có được người đẹp nhất nước, Lương Tâm TV không bao giờ cho một người có tiền sự ăn cắp đồ siêu thị ở nước ngoài lên làm phát thanh viên.
Chỉ khi thông tin 6 người có liên quan bị công an Hà Nội bắt lan nhanh chóng trên mạng xã hội facebook thì kênh truyền hình mới được nhiều người tìm đến. Có bạn kể, tìm ra được kênh LƯƠNG TÂM TV liền xem ngấu nghiến một mạch hết cả 3 kỳ, khi hết rồi thì ngồi ngẩn ngơ ngắm cô biên tập viên Lê Yến. Cùng với tên tuổi Lê Thị Yến, thêm nhiều người biết đến các tên tuổi khác như Nguyễn Vũ Bình, Lê Thu Hà, Trần Đức Thịnh, Phạm Đắc Đạt, Nguyễn Mạnh Cường.
Trong kế hoạch dẹp bỏ Lương Tâm TV, có 6 bạn trẻ trong ê kíp thực hiện chương trình đều bị cưỡng bức về đồn công an. Nhân đây, xin giới thiệu trang facebook của các bạn này:
4. Phạm Đắc Đạt https://www.facebook.com/dacdat158
5. Nguyễn Mạnh Cường https://www.facebook.com/hadesrevolution
Họ bị bắt trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, bị đưa về nhiều đồn công an khác nhau ở Hà Nội. Nội dung làm việc xoay quanh sự ra đời và hoạt động của LƯƠNG TÂM TV. Cho đến 12 giờ đêm thì những người bị bắt giữ đã được thả hết, chỉ Lê Thị Yến phải tiếp tục làm việc thêm một ngày hôm sau nữa.
Khoảng 25 người đã tập trung trước đồn công an Quận Hai Bà Trưng đòi người. Có rất nhiều công an mặc sắc phục , thường phục và cả côn đồ đến xua đuổi, đàn áp nhằm giải tán đám đông. Nhiều người bị đánh. Đoan Trang bị đánh chảy máu mồm.
Trong đợt đàn áp này, công an đã tước trên tay hoặc khám nhà thu tất cả thiết bị máy móc dùng để sản xuất chương trình.

Các thành viên Lương Tâm TV họp bàn để cho ra số tiếp theo

Lương Tâm TV không phải là kênh truyền thông độc lập đầu tiên sử dụng hình thức phát hình. Trước đó đã có Đức Mẹ TV với biên tập viên Huyền Trang. Các trang blog đều có các video clip sống động minh họa cho những bài viết và tỉ lệ hình trong bài viết ngày càng cao. Thế nhưng tại sao nhà cầm quyền lại quyết tâm dẹp bỏ Lương Tâm TV? Phải chăng, Lương Tâm TV tuy mới chỉ ra mắt 3 số với thời lượng mỗi số 8-9 phút nhưng có sự phát triển nhiều hứa hẹn, gây nguy hiểm cho nhà cầm quyền bởi quyết tâm và tâm huyết của những người làm chương trình.
Dẹp một kênh truyền thông, không chỉ thu giữ máy móc, thiết bị mà xong, không chỉ bắt lên trấn áp, đe dọa mà xong. Được biết, sẽ có một biên tập viên mới thay thế cho Lê Thị Yến với gương mặt đấu tranh quen thuộc.
Hội Cựu tù nhân lương tâm và Hội anh em dân chủ sẽ tiếp tục chương trình Lương Tâm TV trong sự hợp tác với nhiều tổ chức xã hội dân sự khác. Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, là lối sống theo lương tâm và khát vọng truyền bá dân chủ, là nhu cầu cấp thiết của mọi giới đồng bào Việt Nam đang phải từng ngày từng giờ hứng chịu một nền thông tin mang tính tuyên truyền một chiều, đầy dối trá để phục vụ sự thống trị của đảng cộng sản và nhà cầm quyền chứ không phục vụ sự thật, không vì thiện ích của đất nước, của dân tộc.
01/10/2015
NTT

Bác sĩ bỏ đảng, khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh VNCH

Bác sĩ bỏ đảng, khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh VNCH

Nguoi-viet.com


Việt Hùng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Thời gian vừa qua, trong chương trình “Tri Ân Anh – Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn tổ chức, luôn xuất hiện một vị bác sĩ tận tâm khám chữa bệnh cho các thương phế binh. Ít ai biết được trước đây ông từng là bác sĩ cho bộ đội Bắc Việt.


Bác Sĩ Long thăm hỏi sức khỏe một TPB VNCH. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ông từng là trung tá Quân Ðội Nhân Dân, 30 tuổi quân, từng tham gia cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, có nhiều kinh nghiệm chữa trị cho các thương binh. Thế nhưng, khi nhận ra sự thối nát của chế độ, ông đã từ bỏ đảng Cộng Sản và tham gia khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (TPBVNCH).

Ông là Bác Sĩ Ðinh Ðức Long, sinh năm 1959, tốt nghiệp trường Ðại Học Y Khoa Semmelweis tại thủ đô Budapest, Hungary vào năm 1977, chuyên ngành Nội Tiêu Hóa. Hiện nay Bác Sĩ Ðinh Ðức Long, sống tại Sài Gòn. Ông đã vượt qua các rào cản của ý thức hệ và quan điểm chính trị để đến với các TPBVNCH với tấm lòng chân thành.

Từ bỏ đảng Cộng Sản

Trả lời về lý do vì sao ông từ bỏ đảng Cộng Sản, Bác Sĩ Long cho biết: “Năm 2012, nhận ra tình trạng tham ô của lãnh đạo bệnh viện, tôi tố cáo bí thư đảng ủy kiêm giám đốc bệnh viện đa khoa Bưu Ðiện – ông Trương Anh Kiệt và lãnh đạo bệnh viện đã ‘cấu kết làm hồ sơ giả mạo, để rút tiền của nhà nước và bảo hiểm y tế khoảng hơn 28.5 tỷ VND trong 3 năm (2009-2011).”

“Thế nhưng thay vì lãnh đạo ngành y tế phải tiếp thu để xử phạt, mà ngược lại, họ còn tiếp tay cho bệnh viện ‘đơn phương chấm dứt hợp đồng’ làm việc với tôi. Từ đó tôi đã không còn sự tin tưởng vào chế độ này, và đã tuyên bố ra khỏi đảng.”

Theo Bác Sĩ Long, sau đó ông tiếp tục khởi kiện giám độc bệnh viện Bưu Ðiện Sài Gòn lên tòa án. Ròng rã theo đuổi vụ kiện suốt mấy năm, Tòa án Quận 10 Sài Gòn bằng bản án dân sự sơ thẩm số 25/2014/LÐ-ST, ngày 4 tháng 12, 2014, tuyên ông thắng kiện vụ án “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.”


Bác Sĩ Ðinh Ðức Long và Linh Mục Phạm Trung Thành – cựu giám tỉnh DCCT Sài Gòn trong một lần khám chữa bệnh cho TPB VNCH. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Theo đó bệnh viện phải chấp nhận thi hành án bằng việc nhận ông trở lại làm việc như cũ và bồi thường cho ông một khoản tiền. Bác Sĩ Long đã trích ra 10 triệu đồng tặng cho Chương trình “Tri Ân Anh – Người Thương Phế Binh VNCH.”

Khi đến với thương phế binh với tấm lòng chân thành, ông bộc bạch rằng, “Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm chia sẻ một phần những thiệt thòi đối với các anh em TPBVNCH. Qua việc tôi khám chữa bệnh cho họ trong các đợt trước, tôi thấy các anh em TPB VNCH là những người thiếu thốn về mặt thuốc men, một số trang thiết bị như mắt kính, cặp nạng, xe lăn,… nên tôi muốn đóng góp một phần trong khả năng của tôi từ số tiền mà tôi thắng kiện để sẻ chia cho họ.”

Trả lời Người Việt về “Cảm nghĩ khi tiếp xúc với các TPB VNCH?” Ông cho biết: “Họ cũng là những quân nhân, họ cũng là con em dân tộc Việt Nam, họ chiến đấu vì một mục đích riêng của họ. Xưa nay thành bại là chuyện thường của cuộc đời. Tất cả hai bên đều là nạn nhân của chiến tranh, chiến tranh của huynh đệ tương tàn.”

“Sau cuộc chiến, họ là những người thiệt thòi nhất, theo tôi, họ nằm trong số những người thiệt thòi cần được chia sẻ cả về thể xác lẫn tinh thần. Những người thương binh của chế độ Cộng Sản được chế độ chăm sóc, còn họ không được chế độ chăm sóc, thậm chí bị bỏ rơi, miệt thị… Trên thực tế không có chính sách gì dành cho họ.”

Khi được hỏi, “Bác sĩ nghĩ như thế nào về tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc?”, ông cho biết: “Tôi nghĩ hòa hợp hòa giải dân tộc là một điều nên làm và cần làm ngay bây giờ, chứ không thể chậm trễ nữa. Bây lâu nay các lãnh đạo Cộng Sản thường hay nói về ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’, thế nhưng trên thực tế thì họ không làm gì để thể hiện điều này?”

“Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm rồi, muốn khép lại quá khứ thì phải thể hiện bằng hành động, mà hành động dễ nhất là đối với các tử sĩ như trùng tu nghĩa trang Biên Hòa, sau đó là những người TPB VNCH – những người trẻ nhất là 60 tuổi, người già trên 80 – họ không còn sống được bao lâu,” BS Long nói.

Nhìn hình ảnh người bác sĩ tận tâm khám chữa bệnh cho các chú TPB VNCH, hy vọng hình ảnh này sẽ còn kéo dài mãi, để vết thương chiến tranh có thể lành hẳn trên người lính của cả hai miền chiến tuyến.

Bờ biển Việt Nam đang rơi dần vào tay Trung Quốc

Bờ biển Việt Nam đang rơi dần vào tay Trung Quốc

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-09-30
Không được để phố biển Đà Nẵng trở thành phố Tàu !

Không được để phố biển Đà Nẵng trở thành phố Tàu !

Báo Đời Sống Pháp Luật

Biển Việt Nam đang ngày càng hẹp dần bởi đường lưỡi bò của Trung Quốc, đây là câu chuyện có thể nói rằng hiện tại, hiếm có ai là không biết chuyện này. Nhưng, bờ biển Việt Nam đã và đang rơi dần vào tay Trung Quốc, người Trung Quốc có mặt trên toàn bộ các bãi biển đẹp của Việt Nam và nơi nào họ xây dựng, nơi đó bị sóng xâm thực nặng nề, điều này cũng giống như nơi nào có mặt người Trung Quốc trên dãy Trường Sơn, nơi đó trở nên trơ trọi. Chuyện này có vẻ như không mấy ai được biết, ngoại trừ các quan chức Việt Nam.

Việt Nam miễn thị thực cho người Việt định cư ở nước ngoài

Việt Nam miễn thị thực cho người Việt định cư ở nước ngoài

Du khách chờ lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Du khách chờ lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất.

30.09.2015

Một nghị định mới của chính phủ Việt Nam cho phép người Việt ở hải ngoại, vợ hay chồng người nước ngoài và con cái của họ sang thăm Việt Nam mà không cần phải xin thị thực nhập cảnh.

Báo Thanh Niên hôm nay nói thêm rằng quy định duy nhất là họ phải có sổ thông hành có hiệu lực trong ít nhất là thêm một năm nữa, và trình giấy tờ cá nhân cho các cơ quan cấp visa trong khu vực. Họ sẽ được cấp giấy miễn thị thực có hiệu lực tối đa là 5 năm.

Người nước ngoài hiện ở tại Việt Nam có thể xin cấp giấy miễn thị thực tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, Giấy miễn thị thực được cấp cho người nhập cảnh Việt Nam thăm thân nhân, giải quyết việc riêng. Giấy miễn thị thực sẽ được đóng vào sổ thông hành.

Biện pháp này là nhằm đẩy mạnh con số du khách tới thăm Việt Nam đã giảm mạnh trong năm qua.

Số du khách tới thăm Việt Nam trong tháng 9 chỉ lên tới 626,000 người, giảm 5,8% so với tháng trước đó, theo các số liệu của Tổng Cục Du lịch Việt Nam.

Mặc dù con số này tượng trưng cho mức tăng 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, tổng số du khách tới Việt Nam trong 9 tháng đầu năm đã giảm 5,9%.

Theo báo Thanh Niên, một số người quy cho tình trạng kinh tế toàn cầu khó khăn hơn, tuy nhiên giới truyền thông lưu ý rằng các nước láng giềng của Việt Nam ghi nhận số du khách tăng đáng kể trong cùng thời gian này.

Theo Thanh Nien, TTXVN

Ai đã ra lệnh giết Đức Thày Hùynh Phú Sổ?

Ai đã ra lệnh giết Đức Thày Hùynh Phú Sổ?

Tài liệu cần được công bố rộng rãi.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Sự kiện người cộng sản ra tay bắt cóc rồi sát hại Đức Thày Hùynh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo vào ngày 16 tháng 4 năm 1947 tại khu vực miền Tây Nam Bộ – thì đã được nhiều người biết đến qua những chứng từ rõ ràng rất đáng tin cậy. Việc sát hại một vị lãnh tụ tôn giáo rất mực uy tín này đã gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với đại khối quần chúng tín đồ vốn đa số là nông dân ở địa phương đồng bằng sông Cửu Long suốt bao nhiêu năm nay.

Thế nhưng, cho đến gần đây người cộng sản cũng chỉ nói vu vơ đại khái rằng : “Những sự việc đáng tiếc như thế là do địa phương làm sai trái – chứ không phải do cấp trên ở trung ương quyết định v.v…” Tuy vậy, giới nghiên cứu sử học vẫn tìm ra được các bằng chứng xác đáng liên hệ đến hành vi tội ác này là do giới lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản vào thời gian ấy. Xin trình bày vấn đề ngắn gọn như sau.

I – Vào năm 2000, bác sĩ Trần Ngươn Phiêu đã tiết lộ trong một bài báo rằng: “Có hai sử liệu hiện được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris, cụ thể như sau:

1- Quyết Định đề ngày 28 – 4 – 1947 của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, do Phó Chủ tịch Phạm Ngọc Thuần ký: Cách chức Ủy viên Đặc biệt và Truy tố Hùynh Phú Sổ về tội phản bội.

2 – Thông Cáo ngày 20 – 5 – 1947 của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ cho biết một phiên tòa đặc biệt được thành lập ngày 25 – 4 – 1947, đã lên án tử hình và cho hay đã xử tử Hùynh Phú Sổ.

(Các tài liệu này đã được nhà văn Như Phong Lê Văn Tiến phát hiện khi sang Pháp sưu tầm trong văn khố Thư viện Quốc gia Pháp – (Bibliothèque Nationale de Paris – Centre des Hautes Études sur l’Afrique et l’Asie Moderne – Notes sur le PGHH, Tác giả: Savani).

Bài báo khá nhiều chi tiết này của Bs Phiêu đã được đăng trên Việt Báo mà tôi đã tìm được trên online.

II – Và mới nhất đây, trong một bài báo phổ biến vào tháng 10 năm 2014, Giáo sư Shawn McHale giảng dậy tại Elliot School of International Affairs tại thủ đô Washington DC cũng đã tiết lộ rằng: “Thực ra, (việc xử tử nhà lãnh đạo Hòa Hảo Hùynh Phú Sổ) đó là một quyết định của tòan bộ Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, và Tướng Nguyễn Bình vị Tư lện quân sự cho miền Nam đã chấp thuận – (In fact, it was a decision of the entire Administrative Committee of Nam Bộ, and General Nguyễn Bình, military commander for the south, approved of it).

Trong phần Chú Thích, tác giả MCHale còn ghi nguyên văn chi tiết như sau:”I found a photograph of the order, signed by General Nguyễn Bình, this past summer in the French archives in Aix-en-Provence. See Indochine.Haut Commissariat de l’Indochine. Service de Protection du Corps Expéditionnaire dossier 385. BỐ CÁO CUẢ UỶ BAN HÀNH CHÁNH NAM BỘ. “VỤ ÁN HÙYNH PHÚ SỎ”. Ngày 27 tháng 5 năm 1947. (Signed:) NGUYỄN BÌNH.

Qua Ghi Chú này, thì chính Tướng Nguyễn Bình là vị có thẩm quyền cao cấp nhất tại Nam Bộ đã ký tên chấp thuận quyết định lên án và thi hành việc xử tử Giáo chủ Hùynh Phú Sổ vào năm 1947 vậy.

Và nếu coi kỹ lại, thì tài liệu do Giáo sư McHale ghi ở trên đây cũng chính là tài liệu số 2 như BS Phiêu đã ghi trong bài báo nói trên. Chỉ có điều khác là tài liệu do nhà văn Như Phong tìm ra thì được ghi là ở tại Thư viện ở Paris. Còn tài liệu do GS McHale nêu ra, thì ở tại Văn khố tại Aix-en Provence.

III – Tóm lược lại.

Theo sự hiểu biết của bản thân, thì tôi chưa được thấy phóng ảnh của 3 văn kiện nói trên được phổ biến ở đâu cả. Vậy tôi xin bà con, ai mà có bản phóng ảnh về các tài liệu này, thì xin vui lòng phổ biến rộng rãi cho công chúng được biết đến sử liệu có giá trị rất chính xác này.

Hoặc nếu chưa ai có, thì tôi xin các vị học giả đang cư ngụ tại Pháp vui lòng đến tìm kiếm mấy tài liệu đó và cho công bố để bà con được biết với. Mong lắm thay.

Costa Mesa California, Ngày Đầu Thu năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Ghi chú:

Bài báo của Giáo sư Shawn McHale có nhan đề là “Caught Between Propaganda anh History” là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” do Hội Đồng chỉ Đạo Biên Sọan Lịch Sử Nam Bộ Kháng Chiến ấn hành năm 2010. Bài báo được đăng trong Tủ sách“Cold War International History Project”, October 2014

Hàng ngàn người Việt chết dần, chết mòn vì nhiệt điện chạy than

Hàng ngàn người Việt chết dần, chết mòn vì nhiệt điện chạy than

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ðó là kết quả nghiên cứu của nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Ðại học Harvard về “các tác động tới sức khỏe do gia tăng phát thải từ than” ở Ðông Nam Á và Việt Nam.

Tại hội thảo về “than và nhiệt điện dùng than” do Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), thuộc Liên Hiệp Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam tổ chức, GreenID dẫn nghiên cứu vừa kể để cảnh báo, hiện nay, mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 4,300 người Việt thiệt mạng do sức khỏe suy giảm, bởi tình trạng ô nhiễm từ nhiệt điện dùng than.


Một nhà máy nhiệt điện dùng than tại Việt Nam. (Hình: Tuổi Trẻ)

Nếu chính quyền Việt Nam tiếp tục cho phép đầu tư-vận hành các nhà máy nhiệt điện dùng than theo “qui hoạch” đã được phê duyệt thì số người thiệt mạng sẽ tăng lên thành 25,000 người/năm.

GreenID tính toán, quá trình đốt than để tạo điện sẽ thải vào không khí 15 triệu tấn tro, một lượng lớn các chất nguy hiểm (lưu huỳnh dioxit – SO2, oxit nitơ – NOx, carbon dioxit – CO2, thủy ngân, thạch tín,…). Những chất này sẽ phá hủy hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, tăng nguy cơ bị ung thư phổi, đột quị, mắc các bệnh về tim mạch, bệnh mãn tính hoặc bệnh truyền nhiễm về đường hô hấp… Chưa kể các loại khí sunfat và nitrat còn gây ra mưa axit, hủy hoại những dòng suối, những cánh rừng.

Ðáng ngại là theo GreenID, trong khi thế giới đang chuyển từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo thì Việt Nam quyết định đi theo chiều ngược lại. Một qui hoạch mang tên “Tổng sơ đồ điện VII” mà thủ tướng Việt Nam phê duyệt hồi 2011, xác định, đến năm 2020, các nhà máy phát điện bằng than sẽ chiếm 46.8% cơ cấu năng lượng của Việt Nam. Tới năm 2030, tỷ lệ này là 56.4%.

Sở dĩ các chuyên gia môi trường gọi “Tổng sơ đồ điện VII” là một kế hoạch hủy diệt môi trường, sức khỏe và tính mạng con người, bởi số người chết vì các nhà máy nhiệt điện dùng than cao gấp ba lần số người chết vì tai nạn giao thông, chưa kể chi phí khổng lồ do phải chăm sóc sức khỏe của các nạn nhân.

Vào lúc này, hàng chục nhà máy nhiệt điện dùng than đang được xây dựng ở cả đồng bằng sông Hồng lẫn đồng bằng sông Cửu Long.

Thậm chí tháng trước, bất chấp những cảnh báo về sự nguy hại cho sức khỏe và tính mạng con người của các nhà máy dùng than để phát điện, Việt Nam vẫn cho phép hai doanh nghiệp Trung Quốc là Công ty Lưới điện Phương Nam và Công ty Ðiện lực Quốc tế khởi công dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, tọa lạc ở huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, trị giá 1.75 tỉ Mỹ kim.

Hai doanh nghiệp của Trung Quốc góp khoảng 20% vốn, 80% còn lại do năm ngân hàng của Trung Quốc cho vay. Thiết kế và toàn bộ thiết bị do Trung Quốc cung cấp. Theo dự kiến, việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 sẽ khoảng bốn năm. Sau đó hai doanh nghiệp Trung Quốc được phép khai thác trong 25 năm rồi giao lại cho Việt Nam. Dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 là một phần trong cái gọi là “Tổng sơ đồ điện VII.”

Ngoài việc gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường, đe dọa sức khỏe, sinh mạnh của hàng chục ngàn người, “Tổng sơ đồ điện VII” còn đe dọa an ninh năng lượng của Việt Nam vì đặt hơn một nửa cơ cấu nguồn điện vào nhiệt điện dùng than, trong khi Việt Nam sẽ phải nhập cảng lượng lên tới 46 triệu tấn vào năm 2020 và 157 triệu tấn vào năm 2030. (G.Ð)

Đối tác Trung Quốc tham gia dự án tòa nhà “nhìn xuống lăng Bác”

Đối tác Trung Quốc tham gia dự án tòa nhà “nhìn xuống lăng Bác”

Đôi lời: Bài viết này đã bị gỡ bỏ khỏi trang Trí Thức Trẻ và VietTimes, là 2 trang web đăng bài viết đầu tiên. Sau đó, trang tinbao24h.com đã đăng lại. Hiện nội dung chỉ còn trên trang tinbao24h.com và trên bản web cache của trang VietTimes. Link bài viết đó trên VietTimes đã bị redirect qua bài viết này: Hà Nội kiểm tra khu đất 8B Lê Trực. Xin được đăng lại nội dung bài này, vì còn nhiều độc giả chưa kịp đọc.

____

Trí Thức Trẻ/ VietTimes

28-9-2015

H1

TS Phạm Sỹ Liêm cho rằng, nếu một tòa nhà cao tầng như thế thì có thể khống chế một diện rất rộng và xét về khía cạnh an ninh thì không nên có công trình này ở gần Lăng Bác.

Tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng an ninh

Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản yêu cầu Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan kiểm tra,về việc chấp hành quy định về quản lý quy hoạch kiến trúc, đầu tư xây dựng của tòa nhà cao tầng tại số 8B Lê Trực (Q.Ba Đình, Hà Nội).

Trong tháng 9/2015, Hà Nội phải báo cáo gấp về việc này.

Liên quan đến việc này, hiện có nhiều ý kiến về vị trí của cụm công trình, bởi tòa nhà được cho là cao nhất khu vực Ba Đình, cao hơn hẳn Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhà cao vọt ngay gần Lăng Bác: “Cần làm rõ ai ký cho xây“

Trao đổi với chúng tôi TS Phạm Sỹ Liêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tp Hà Nội cho biết, ông cũng đang theo dõi các thông tin liên quan đến công trình này.

Theo TS Liêm, việc quy hoạch khu vực Ba Đình đã được Bộ Xây dựng thực hiện và Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.

“Khu vực Lăng Bác, Phủ Chủ tịch… là các công trình di sản được bảo tồn và để bảo vệ thì luôn được quy hoạch một bán kính để bảo vệ.

Ở đây, trong khu vực Ba Đình, ngay từ thời Tổng Bí thư Trường Chinh đã có chỉ đạo, các công trình xây dựng xung quanh khu vực này, có bán kính lên tới cả nửa km thì không được cao quá Lăng Bác.

Ngay khi thực hiện nhà Quốc hội, cuộc thi tuyển chọn phương án cũng có điều kiện không được cao quá Lăng, cho nên các nhà kiến trúc đã phải tính toán rất kỹ”, TS Liêm cho hay.

H1Mặt trước tòa nhà có biển Discovery Complex II. Ảnh: NLĐ

TS Liêm cũng đặt vấn đề, quy định đã vậy nhưng không hiểu việc quản lý quy hoạch ở khu vực này như thế nào.

“Thực ra, hiện nay, phía Quán Thánh, Nguyễn Cảnh Chân cũng đã có những tòa nhà lên cao tầng và bây giờ tiếp tục có tòa nhà này rất gần khu vực Lăng.

Ở đây, Bộ Xây dựng cần rà soát để so sánh với quy hoạch để trả lời rõ xem viêc xây dựng công trình này có vi phạm không?”, TS Liêm nhấn mạnh.

Giải thích về việc tại sao phải hạn chế chiều cao các công trình quanh khu vực Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình, TS Liêm lý giải, nếu các công trình xung quanh cao lên sẽ khiến cho khu Quảng trường Ba Đình và Lăng Bác bé lại.

“Cũng như xung quanh hồ Hoàn Kiếm chúng ta cũng không cho phép nhà cao tầng, bởi nhà cao tầng lên cao sẽ làm hồ bị thu nhỏ lại và ở đây cũng như vậy.

Quảng trường Ba Đình là công trình nổi tiếng của thủ đô và cả nước, phải có một bề rộng, uy nghi nhất định, nếu bé lại thì sẽ làm giảm bớt giá trị.

Thứ nữa, việc hạn chế chiều cao các công trình xung quanh cũng là nhằm bảo đảm an toàn, an ninh cho các cơ quan Trung ương.

Ở đây, tập trung các cơ quan Trung ương Đảng, Phủ Chủ tịch, Quốc hội, Chính phủ… là đầu não của cả nước, cùng với đó cũng là nơi tiếp các nguyên thủ, đoàn ngoại giao các nước đến, chưa kể nhiều hoạt động diễu hành, kỷ niệm… được tổ chức.

Nếu một tòa nhà cao tầng như thế thì có thể khống chế một diện rất rộng và xét về khía cạnh an ninh thì không nên có công trình như thế này”, TS Liêm nhấn mạnh.

Đồng thời, TS Liêm cũng đề nghị, Bộ Công an cũng nên có ý kiến xung quanh việc xây dựng tòa nhà này, bởi, đây là cơ quan chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh, an toàn cho khu vực này.

Cần làm rõ ai là người ký phép cho xây dựng

TS Liêm cũng đặt thêm vấn đề, trong sự việc này, công trình đã được xây dựng và đang hoàn thiện nên một câu hỏi được nhiều người quan tâm, đó là ai ký phép cho tòa nhà.

“Tôi chắc rằng, Sở Xây dựng Hà Nội là nơi cấp phép xây dựng và Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội là nơi thỏa thuận quy hoạch nhưng cần làm rõ xem ai là người ký phép và có sự tác động nào ở ngoài không”, TS Liêm nêu ý kiến.

Cùng với đó, TS Liêm cũng nhắc lại, việc thời gian vừa qua, nhiều công trình ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng quốc gia ở Đà Nắng hay đỉnh đèo Hải Vân cũng đã được báo chí phản ánh và sau đó, các cơ quan chức năng cũng đã vào cuộc, dừng các dự án này.

“Theo tôi hiểu, các cơ quan quốc phòng, an ninh đều phải xem xét các địa điểm nhạy cảm về vấn đề này và quy định bán kính bảo vệ.

Đã có nhiều trường hợp trước đó được phản ánh, phát hiện, tạm dừng nhưng tại sao vẫn lại xuất hiện tòa nhà trên. Do đó, sau đây, tôi đề nghị cần phải có chủ trương, quyết sách rõ ràng về vấn đề này”, TS Liêm bày tỏ.

Về hướng xử lý, theo TS Liêm, ở đây, các cơ quan chức năng cần đối chiếu quy hoạch và nếu chiều cao quanh khu vực Lăng cho phép bao nhiêu thì phải tiến hành xử lý, tháo dỡ công trình tòa nhà này đảm bảo đúng.

“Nếu tối đa cho phép được bao nhiêu thì phải tháo dỡ xuống như vậy, dứt khoát phải làm còn thiệt hại đối với doanh nghiệp thì cơ quan nào cấp phép phải tiến hành đến bù, bởi, ở đây, người ta cũng xin phép, làm đầy đủ thủ tục.

Nếu sai thì là ở người cho phép chứ không phải ở họ”, TS Liêm nhận định.

Đồng quan điểm đó, KTS Nguyễn Tấn Vạn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam cũng cho rằng, cần phải xem xét lại quy hoạch chiều cao các công trình quanh khu vực Lăng Bác để từ đó có hướng xử lý.

“Ở đây cần phải kiểm tra xem lại quy định là khu vực này được xây bao nhiêu tầng và xem ai là người cho phép tòa nhà này xây cao đến như vậy”, KTS Vạn nói.

Tòa nhà số 8B Lê Trực vừa bị Thủ tướng yêu cầu kiểm tra nằm nổi bật trên phố Lê Trực, mặt trước hướng ra phía Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tòa nhà Quốc hội.

Hiện tại tòa nhà đã xong phần thô đang đi vào hoàn thiện, mặt trước tòa nhà đang được lắp kính.

Tòa nhà số 8B Lê Trực (Discovery Complex II) là tổ hợp trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê, căn hộ chung cư cao cấp và biệt thự liền kề, có tổng diện tích 5.600 m2.

Chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Phát triển Kinh Đô (KinhDo TCi Group).

Dự án có tòa nhà cao 17 tầng và 4 tầng hầm, trong đó 5 tầng trung tâm thương mại, tầng trên cùng là bể bơi, tầng 6-17 là căn hộ, diện tích mỗi sàn 1.900 m2.

Đối tác Trung Quốc tham gia vào dự án

Dự án 8B Lê Trực có tên quen thuộc là Discovery Complex 2, nằm trên khu đất 5.600m2 cao 17 tầng, 4 tầng hầm.

Trong đó 5 tầng được sử dụng làm trung tâm thương mại, trên cùng là bể bơi, từ tầng 6-17 là căn hộ.

Trên tất cả các website của dự án Discovery Complex 2 (Lê Trực Tower) chủ đầu tư được đăng ký là Công ty CP Đầu tư Xây dựng Phát triển Kinh Đô (Kinh Đô TCi Group) và Công ty Cổ phần May Lê Trực.

Kinh Đô TCi Group là doanh nghiệp được thành lập từ năm 1997, là chủ đầu tư hàng loạt dự án tại các vị trí trung tâm như Kinh Đô Building tại 93 Lò Đúc, Discovery Complex tại 302 Cầu Giấy.

May Lê Trực này có giấy phép kinh doanh số 0100964054, ngày cấp 25/1/2000.

Trên các website của dự án này, các đơn vị tham gia gồm đơn vị thi công là nhà thầu Hòa Bình (Hoa Binh Corp); Đơn vị tư vấn thiết kế – Công ty tư vấn Đại học Xây dựng, Đơn vị tư vấn, giám sát – Viện Khoa Học Công nghệ Xây Dựng – Bộ Xây Dựng, ngân hàng Quân đội (MBBank) hỗ trợ vay vốn…

Theo thông tin trên website của Kinh Đô TCi Group, tập đoàn này có một đối tác duy nhất trong lĩnh vực xây dựng là Tập đoàn xây dựng Quảng Châu (GMC – Trung Quốc).

Đây là một trong 500 công ty xây dựng lớn nhất Trung Quốc, là nhà thầu chính của dự án Capital Garden do Kinh Đô TCi Group làm chủ đầu tư. Được biết, GMC cũng tham gia hợp tác vào dự án 8B Lê Trực.

Thông tin về Hoa Binh Corp được treo bên hàng rào tôn 4 phía dự án trước đó đã được gỡ bỏ.

Vị trí đắc địa hay nhạy cảm?

Discovery Complex 2 nằm trên lô đất là 5.600m2. Dự án nằm cách cửa sân vận động Hà Nội (sân Hàng Đẫy) 300m, gần sân vận động Cột Cờ, cách bệnh viện Xanh Pôn 500m, cách Hồ Tây 500m.

Từ tòa nhà 18 tầng này có thể duy trì đến nhiều trung tâm, đặc biệt là có khả năng bao quát toàn bộ những cơ quan nhạy cảm của Chính phủ từ những tầng cao.

Cụ thể, Discovery Complex 2 cách Quảng trường Ba Đình, Bảo tàng Hồ Chí Minh và quần thể Chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 500m (200m đường chim bay), cách Hoàng thành Thăng Long 600m (200m đường chim bay), cách tòa nhà Quốc Hội 500m (200m đường chim bay), cách Trung tâm Hội nghị Quốc tế 600m (200m đường chim bay), cách văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Phủ Chủ tịch từ 600 – 700m (300m đường chim bay).

Ngoài ra, đường Trần Phú được mở rộng và kéo dài tạo cho dự án số 8B Lê Trực thêm gần 100m mặt tiền với địa chỉ 67 Trần Phú (Ba Đình, Hà Nội).

Dự án kéo dài đường Trần Phú này đã thêm 450m đường, chi phí trung bình 0,5 tỷ đồng/m, tổng mức đầu tư 225 tỷ đồng.

Với việc mở thêm con đường được mệnh danh đắt nhất hành tinh này, cùng với vị trí có một không hai kể trên, giá bán của dự án thuộc loại đắt nhất Hà Nội với phân khúc chung cư.

Với khu một – được cấp quyền sử dụng đất có diện tích căn hộ từ 90, 115, 130, 127, 152, 157 m2 giá giao động từ 74 triệu – 82 triệu đồng/m2.

Khu 2 được cấp quyền sử dụng trong 50 năm có diện tích từ 56, 58, 77, 86 m2 có giá giao động từ 62 triệu – 66 triệu đồng/m2.

Hiện tại, dự án đã cất nóc và tiến hành hoàn thiện, chuẩn bị bàn giao căn hộ. Theo lời tư vấn của nhân viên bán hàng, dự án còn rất ít căn hộ.

THỨC TỈNH

THỨC TỈNH
Trich EPHATA 660
PHAN XUÂN SINH
 
Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, Luật đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng.
Anh theo chân những người tỵ nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều. Không ai quan tâm hoặc theo dõi kẻ khác, không phạm pháp thì không sợ sệt ai. Trong trại ai cũng thân thiện, tận tâm chỉ vẽ nhau những điều người khác không biết. Mọi người chung quanh thương mến anh vì bản tính hiền lành. Ở Hồng Kông gần một năm thì anh được phái đoàn Mỹ nhận cho đi định cư. Thế nhưng có một điều làm Luật thắc mắc mãi, tại sao một ông thầy chùa đã giúp đỡ anh tận tình như vậy ? Anh chưa hề quen biết ông. Anh nhớ lại cái đêm vượt biên bị Công An phát giác, anh nhảy xuống sông vừa bơi vừa lặn, trước khi tàu Công An kẹp sát. Lên bờ vì trời tối anh không biết đây là nơi nào. Anh lần mò trong bóng tối chừng ba tiếng đồng hồ vẫn không thấy đường cái. Bỗng nhiên anh trông thấy ánh đèn từ xa, anh đi tới, thì ra đây là ngôi chùa nhỏ. Anh vào chùa gặp vị sư còn trẻ, Sư hỏi anh cần gì ? Anh tình thật thưa rằng anh đang lạc đường và xin được giúp đỡ.
Vị Sư đưa anh vào chánh điện rồi đến thưa với thầy trụ trì. Thầy trụ trì chừng trên dưới sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ màu lam, nước da ngăm đen, khuôn mặt hiền từ. Khi nhìn thấy anh Thầy có vẻ hơi giật mình. Thầy bảo người Sư trẻ dọn cơm cho anh ăn. Trong lúc nói chuyện để anh an tâm, Thầy cho anh biết sẽ không có ai làm phiền hay quấy rối anh. Anh muốn ở đây bao lâu cũng được. Thầy đích thân dọn phòng cho anh ngủ. Anh tự hỏi giữa lúc khó khăn, gạo châu củi quế, thế mà nhà chùa lại rộng lượng quá vậy.
Sáng dậy, anh bước ra phòng rửa mặt thì đã thấy Thầy ngồi tại bàn ăn đang uống trà. Thầy mời anh cùng uống trà và nói chuyện. Tuyệt đối Thầy không hỏi anh về cuộc sống hiện thời, về gia đình, về nơi ăn chốn ở. Thầy dặn anh có ai hỏi thì bảo anh là bà con ở quê ra thăm thầy. Thầy cũng cho anh biết ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nên ăn uống sơ sài, không biết anh có chịu được không ? Anh chắp tay cám ơn Thầy và nói “Được Thầy bảo bọc, chuyện ăn uống không thành vấn đề, tất cả đều tốt với tôi. Xin Thầy đừng bận tâm”. Khi còn ở nhà, anh và vợ con bữa đói bữa no, làm gì được như thế này.
Trong những ngày ở chùa, Thầy ít khi gặp anh, ít nói chuyện với nhau ngoại trừ vào bữa ăn.  Không hiểu sao Thầy cố giữ anh lại, mà không cho biết lý do. Chừng mười ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Thầy bảo anh ngồi lại để Thầy nói chuyện. Chỉ còn lại hai người đối diện nhau, Thầy nói với anh:
“Khi anh bước chân vào chùa này, tôi đã biết anh là người trốn thoát Công An lùng bắt vì tội vượt biên. Ở đây tôi đã gặp vài trường hợp giống anh và tôi đã che chở nên họ về nhà an toàn. Như anh biết chùa là nơi mở rộng vòng tay giúp đỡ cho những người sa cơ thất thế, chúng tôi làm hết sức mình trong điều kiện cho phép. Hơn nữa, vượt biên theo tôi không phải là cái tội, họ chỉ trốn thoát chế độ không phù hợp với họ, không chống cự, không phản đối, thì không thể bảo họ mang tội. Trường hợp của anh khác với những người kia, khác như thế nào sau này anh sẽ rõ.
Đêm nay có một chuyến vượt biên uy tín mà tôi tin tưởng, tôi muốn gửi anh đi trong chuyến này, 11 giờ sẽ có người tới dẫn anh đi. Tôi đã chuẩn bị sẵn cho anh mọi thứ, gồm có hai bộ quần áo để anh thay đổi khi tới nơi, và một lượng vàng cho anh tiêu dùng trong thời gian chờ định cư đến nước thứ ba.”
Anh trố mắt nhìn Thầy mà không nói nên lời, anh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Không biết lý do gì mà Thầy tận tình giúp đỡ anh như vậy. Thầy bảo anh về phòng nằm nghỉ, chờ đến giờ có người tới đưa đi. Thầy không cho anh nói một lời nào dù là lời cám ơn. Thầy lên chánh điện tụng kinh. Anh nằm suy nghĩ mãi về sự giúp dỡ này của Thầy. Một lượng vàng là một tài sản không nhỏ vào thời điểm đó. Thế mà Thầy lại biếu anh, chưa kể Thầy còn phải đóng tiền cho chủ ghe để được đi, chứ không ai cho đi không. Anh thắc mắc sao lại có một người tốt như vậy. Anh hứa với lòng mình, sau khi an cư lạc nghiệp ở xứ người, anh trở về thăm thầy, anh hỏi thầy lý do tại sao thầy đã giúp đỡ anh. Anh nghĩ sẽ hoàn trả lại số vàng bằng gấp bao nhiêu lần mà Thầy đã chi phí cho anh.
Thầy nói chùa đã từng che chở cho những người vượt biên bị bể, đã đưa họ về nhà, đó là một việc làm tốt, một công đức cao cả mà chỉ có Bồ Tát mới hành xử như vậy. Vì biết bao nhiêu hệ lụy sẽ gây rắc rối cho chùa và cho Thầy nếu chính quyền biết được. Ấy vậy mà Thầy chẳng sợ gì. Niềm tin nào đã làm cho Thầy hành động một cách liều lĩnh như thế. Sống giữa một xã hội mà người dân chỉ còn cách trốn ra nước ngoài mới yên thân, thì còn sợ chi chuyện bắt bớ. Tuy nhiên ở trường hợp của Thầy lại khác, Thầy đứng ngoài mọi liên hệ với những người chạy trốn, mà lại dang tay ra đỡ cho họ khỏi bị tù tội. Còn hoàn cảnh của anh được Thầy che chở rồi lại tìm cách đưa đi tiếp. Qua sự việc này, Thầy đã tạo cho anh một niềm tin vào cuộc đời, vẫn còn có người đầy lòng nhân ái.
Anh nằm trong phòng không nhắm mắt được. Anh nghe tiếng tụng kinh của thầy ngoài chính điện, giọng thầy trầm bổng uy nghi, gieo vào lòng anh một thức tỉnh và suy tư. Anh chưa bao giờ nghe được những lời kinh có uy quyền, thấm đẫm vào lòng anh một cách sâu xa, xoa dịu những nhọc nhằn căng thẳng mà anh đã từng gánh chịu.
Anh suy nghĩ, đây mới chính là nơi Phật hiện diện. Không cần chi chùa phải lớn, phải nguy nga. Chính ngôi chùa nhỏ bé này, ở một nơi hẻo lánh mà đã chứa lực đại hùng của Phật, sáng tỏa trong lòng anh sự từ bi mà bây giờ anh mới ngộ ra được. Người anh lâng lâng như đang bước vào một cõi tâm thức, tiếng kinh như thinh lặng, đôi lúc dìu dặt, đôi lúc khoan thai, có phải chăng đang dìu anh ra khơi trong êm ả, một chuyến đi mà anh không còn mang nỗi sợ. Rồi anh thiếp đi lúc nào không hay.
Gần 11 giờ đêm, Thầy vào gọi anh dậy. Thầy trao cho anh cái bọc nylon chứa hai bộ quần áo và một lượng vàng. Thầy bảo anh cẩn thận cất vàng vào túi quần sau cài nút lại. Trong bọc nylon có một lá thư, Thầy dặn khi lên ghe lớn hãy đọc. Nếu trường hợp bị Công An phát hiện, bằng mọi cách phải hủy lá thư trước. Thầy đứng ngay cửa nhìn anh ra khỏi chùa. Người dẫn đường đưa anh ra ghe nhỏ cách đó chừng nửa giờ. Trên ghe có khoảng mười người, rồi ghe chạy ra sông cái tấp vào ghe lớn đang chờ sẵn. Khi leo lên ghe anh làm rớt bọc Nylon xuống sông không vớt lên được. Như vậy lá thư và hai bộ áo quần mất từ đó.
Đúng như lời Thầy nói, chuyến đi rất an toàn, hai ngày sau tới Hồng Kông. Anh đổi lượng vàng ra thành 10 chỉ, để tiêu dùng trong những ngày sống ở trại tị nạn. Anh tiện tặn vì không biết chờ đợi đến bao lâu mới đi định cư ở nước thứ ba. Anh may mắn được phái đoàn Mỹ phỏng vấn và cho đi sớm. Một gia đình người Mỹ ở Oakland California làm sponsor cho anh.
Lúc đó Oakland chưa có người Việt nhiều, thành phố toàn người Mỹ đen và Mễ. Dần dần những năm sau người Việt tới định cư và những quán Café mọc lên ở đường E.14. Chính ở đây là nơi truyền những tin tức từ Việt Nam qua, chuyện bàn luận Chính trị bắt đầu sôi nổi trên bàn Café của những chính khách không tên tuổi. Đúng, sai không ai cần biết, có cãi vã với nhau khi bất đồng, nhưng tất cả đều bỏ lại bàn, không ai mang trong lòng. Đó là niềm vui duy nhất của mỗi cuối tuần cho những người Việt tha hương sinh sống trong Thành phố.
Anh share phòng với một gia đình Việt Nam, ăn uống anh tự túc nấu lấy, nên tiết kiệm thêm một ít tiền. Anh viết thư bảo vợ thỉnh thoảng qua chùa Mân Thái cúng Phật và thăm Thầy Trụ Trì. Anh cho chị biết, Thầy là ân nhân của anh và gia đình, chị phải thay anh thăm viếng Thầy thường xuyên.
Sau khi có quốc tịch Hoa Kỳ, anh làm hồ sơ bảo lãnh vợ con. Anh thu xếp một chuyến về Việt Nam, để trước hết thăm Thầy, sau đó hỏi về lý do Thầy đã tận tình giúp anh. Một thắc mắc cứ canh cánh trong lòng khiến anh trăn trở mãi. Thầy thường che chở cho những người vượt biên, nhưng Thầy chưa bao giờ nói là đã giúp ai phương tiện và vật chất để họ tiếp tục đi như anh. Thăm viếng gia đình, bà con hang xóm xong, anh đón xe đi Mân Thái thăm Thầy.
Chùa vẫn y nguyên như xưa, như những ngày anh sống dưới sự bảo bọc của Thầy. Anh gặp vị sư trẻ, vị sư này nhận ra anh ngay. Thầy nhìn anh, đôi mắt Thầy sáng lên đầy ngạc nhiên và vui mừng. Anh chạy đến ôm Thầy, anh cảm thấy sung sướng, nước mắt ràn rụa. Thầy mời anh ngồi trên chiếc bàn ăn ngày nào. Anh tình thật thưa với Thầy là lúc hối hả leo lên tàu lớn trong đêm tối, anh đánh rơi bọc Nylon có lá thư và hai bộ áo quần Thầy cho, nên đến bây giờ anh vẫn không biết trong thư Thầy viết gì. Thầy cười hiền hòa và nói trong thư căn dặn anh phải giữ gìn sức khỏe, luôn luôn nghĩ tới vợ con, chứ không có gì quan trọng. Thế nhưng anh không nghĩ như vậy, có một điều gì bí mật mà Thầy chưa tiện nói ra.
Anh ở lại chùa vài ngày để trò chuyện với Thầy, luôn tiện anh xin Thầy cho anh quy y. Thầy đồng ý. Thế là mỗi đêm, khi Thầy tụng kinh anh cũng chắp tay ngồi phía sau, vừa nghe câu kinh Thầy tụng vừa thấy lòng mình lắng xuống, như ngộ ra được một cái gì đó rất tâm linh mà không thể nào diễn tả được. Mỗi lần tụng xong câu kinh Thầy gõ một tiếng chuông, rồi cúi xuống lạy. Tiếng chuông ngân vang trong đầu anh, như dẫn dắt anh bước vào sâu thẳm của cõi siêu hình. Dạy cho ta những đạo đức để giữ mình, để sống với tha nhân. Anh cảm thấy những ngày ở chùa tuy ngắn ngủi nhưng anh đã học được nhiều điều quý giá. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy và anh ngồi uống trà nói chuyện. Thầy nhìn thẳng vào mắt anh, rồi từ từ nói:
“Chắc anh thắc mắc trong lòng bấy lâu nay, là tại sao tôi tận tình giúp anh, tiếp tay làm tròn ước nguyện mong muốn của anh là vượt thoát ra khỏi đất nước. Chẳng qua đó là cái ơn mà tôi phải trả cho anh trong thời kỳ chinh chiến. Có lần anh đã giúp tôi mà anh tuyệt nhiên không hay biết. Bây giờ tôi xin kể đầu dây mối nhợ của câu chuyện. Anh không còn nhớ, nhưng với tôi chuyện gặp anh lúc đó tôi không bao giờ quên được. Trước khi nhắc lại chuyện cũ, Tôi xin nói về tôi.
Tôi có vợ và hai con, hồi đó gia đình chúng tôi sống trong vùng mất an ninh. Tôi hoạt động Cách mạng và làm đến chức Huyện Ủy Viên. Vợ con tôi chết trên chuyến đò tiếp tế bị máy bay phát hiện, từ đó tôi là người không có gia đình. Tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ hoạt động trong vùng Hòa Vang và Điện Bàn. Để dễ dàng đi lại, tôi giả làm một nhà sư mặc áo nâu sòng, trên vai luôn luôn mang cái bị chuông mõ, nhưng thực tế trong đó chứa những tài liệu hoạt động và một khẩu súng ngắn. Tôi tránh đi lại ban ngày vì sợ dễ bị phát giác. Thường di chuyển vào lúc mặt trời sụp tối và Du kích địa phương báo trước cho tôi biết đoạn đường nào an toàn để đi.
Buổi chiều tôi nhận được lệnh là sáng hôm sau tôi có một cuộc họp với thượng cấp tại xã Thanh Trường, huyện Điện Bàn. Tôi và hai cận vệ yên tâm ra đi, người cận vệ đi đầu bi đau bụng nên ngồi lại đi cầu, như vậy tôi trở thành người đi đầu. Đi được một đoạn thì tôi bị một toán lính Quốc Gia phát hiện, người đi phía sau tôi núp vào bụi cây nên thoát được. Tôi được dẫn vào trình diện ông Trung úy Đại đội trưởng, người Chỉ huy cuộc hành quân đó. Tôi nghĩ trong bụng, tôi không thể nào thoát được lần này, thế nào họ cũng xét người và chiếc bị mang trên vai, đầy tài liệu và cây súng ngắn trong đó…
Dưới ánh đèn nho nhỏ, ông Trung úy ngước lên nhìn tôi với khuôn mặt hiền từ, hỏi tôi một câu cho lấy lệ: “Thầy đi đâu trong đêm tối ? Thầy có biết vùng này nguy hiểm lắm không ?” Tôi thưa với ông rằng: “Xóm trên có người mới mất, tôi đến tụng kinh rồi ra về. Không ngờ trời sụp tối mau vậy.” Người lính đứng gần hỏi ông Trung úy có cần xét ông thầy này không ? Ông Trung úy nói khỏi cần, rồi sai người lính trải Poncho cho thầy ngủ lại, sáng mai hãy về, chứ đi trong đêm thế nào cũng bị bắn. Tôi nghĩ lúc đó có người khuất mặt che chở cho tôi nên họ không xét người tôi.
Sáng hôm sau thức dậy, ông Trung úy đưa cho tôi một ca nước trà, rồi tôi lên đường. Suốt trên đoạn đường đi, tôi suy nghĩ mãi về ông Trung úy. Điều gì đã làm cho ông cư xử với tôi như vậy ? Ông có biết rằng trong đêm đó tôi có thể giết ông rồi bỏ chạy, giữa đêm khuya tối mịt làm sao bắn trúng tôi ? Ai đã khiến tôi, ngăn cản tôi không làm điều đó. Trong chiến tranh không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, giết người không một chút cắn rứt. Nhưng giữa anh và tôi, hai kẻ thù gặp nhau ở điểm “lòng nhân ái”, không biết nó đã tiềm ẩn trong người tự lúc nào mà khi nó tỉnh dậy lại vào lúc đúng nhất.
Từ đêm đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về tâm linh, chiếc áo nâu sòng tôi đang mặc, phải có cái duyên tôi mới khoác nó lên người. Trong những năm cuối cùng chiến tranh chiếc áo như đã che chở cho tôi tránh những lằn tên mũi đạn. Tôi nguyện trong lòng, sau khi cuộc chiến chấm dứt, thế nào tôi cũng tìm gặp anh. Ánh mắt và khuôn mặt anh không làm sao tôi quên được. Anh đã cứu tôi không những tại mặt trận, mà còn cứu tôi ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Tôi luôn luôn âm thầm cầu nguyện cho anh thoát khỏi mọi tai ương.
Cái đêm anh bước vào chùa, khi anh ngước lên nhìn tôi, cũng ánh mắt ấy cách đây hơn mười năm giống hệt nhau. Tôi giật mình, ân nhân năm xưa bây giờ đã đến, tôi có bổn phận phải giúp anh, phải đưa anh thoát khỏi nghịch cảnh mà anh và gia đình gánh chịu. Bây giờ anh đã hiểu rồi chứ ? Đây là cơ hội cho tôi trả lại anh món nợ cũ. Điểu làm tôi suy nghĩ mãi là cơ duyên nào đưa anh tới đây ? Có phải chăng ơn trên đã dẫn dắt anh. Trong cuộc sống thiên hình vạn trạng, rất hiếm có trường hợp giống nhau. Thế mà chúng ta lại rơi đúng vào sự trùng hợp này một cách bất ngờ.”
Anh sững sờ nhìn Thầy, một câu chuyện mà anh không hề nghĩ đến, cho đến bây giờ Thầy nhắc. Đúng là trường hợp hi hữu, tất cả đều có sự sắp xếp của ơn trên. Ký ức anh bắt đầu quay về khoảng không gian mười năm trước đây:
“Hồi đó đơn vị anh hành quân ở khu vực Miếu Bông, sát Quốc lộ 1, giữa đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện. Gần 6 giờ chiều, anh được lệnh di chuyển vào khu vực xã Hòa Lân gần một con lộ đá từ Non Nước vào Hội An. Chính sự di chuyển này đánh lạc hướng du kích địa phương và những liên lạc viên, vì họ không ngờ đơn vị của anh di chuyển ban đêm. Ông Huyện ủy viên tưởng rằng không có lính Quốc gia hành quân, nên ông mới đi trên lộ trình này. Khi ông bị lính chận lại, ông rất ngạc nhiên tại sao một cuộc hành quân như vậy mà du kích không phát giác được.
 Chỉ huy Đại đội đóng gần cái miễu, anh treo chiếc võng bên ngoài, định nằm nghỉ thì người lính gác dẫn một ông thầy chùa vào trình diện. Anh ngước nhìn thấy ông thầy chùa cũng lớn tuổi, con người khắc khổ tội nghiệp. Anh không nghi ngờ gì cả, bảo ông nghỉ lại đây cho an toàn rồi ngày mai về sớm. Đi trong đêm nguy hiểm vì có thể gặp đơn vị Quốc Gia khác đi kích, lúc đó khó tránh khỏi rắc rối. Đơn giản là như vậy, chứ anh hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác, hoặc nghi ngờ ông thầy chùa là Việt Cộng.
Sáng hôm sau khi ông thầy chùa đi rồi, thì anh mới tự hỏi tại sao mình không lục xét ông thầy, biết đâu ông là Việt Cộng thì sao ? Giữa thời buổi chiến tranh bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ. Nghĩ như vậy, nhưng anh không cho lính chạy theo gọi ông trở lại. Chuyện này anh cũng lãng quên, bây giờ Thầy nhắc anh mới nhớ lại.”
Anh nhìn Thầy, nhưng hoàn toàn không còn nhớ khuôn mặt. Càng nghĩ anh càng cảm thấy sự màu nhiệm của đức tin, có thể biến đổi được con người, xoa dịu những vết thương tưởng chừng như không bao giờ xóa đi được. Anh lặng người để tâm hồn lắng xuống, nhìn Thầy như cảm nhận có được một luồng hùng lực tỏa sáng. Khuôn mặt Thầy hiền từ, ăn nói chậm rãi, từ tốn. Anh thấy, Thầy hoàn toàn lột xác. Thường thường chính trị viên nào cũng ăn nói lưu loát, cứng rắn, họ là những người nắm sinh mạng của đơn vị, đẩy những chiến binh dưới quyền mình vào chỗ dầu sôi lửa bỏng. Bây giờ lời Thầy có một hấp lực mang đến sự an lành cho mọi người. Ôi, tất cả đều nằm trong nghiệp số.
“Thưa Thầy, thế thì lúc nào Thầy mới chính thức bước vào đường tu hành ?” Thầy nhìn anh cười. Bây giờ anh mới để ý nụ cười của Thầy hiền lành, đúng là một bậc chân tu:
“Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi quân Cách Mạng hoàn toàn chiếm Miền Nam, cũng vào ngày đó tôi chính thức đi tu. Những bạn bè cũ cùng chiến đấu với tôi rất ngạc nhiên. Lúc được hưởng những sung sướng nhất, giàu sang nhất, tôi lại chọn lấy con đường cực khổ nhất. Tôi trả lại tất cả những chức vụ, đảng viên, những quyền hành v.v… chỉ xin một điều, hãy để cho tôi yên, đừng quấy phá làm phiền tôi. Những ai đến thăm chùa, những ai ngụ trong chùa xin các người đừng gây rắc rối cho họ. Những ngày tôi theo Cách Mạng, hy sinh cả vợ con, sự cống hiến của tôi đã đủ. Bây giờ cho tôi yên phận trong tuổi già. Tôi nghĩ chỉ có con đường này mới giải thoát được tôi, vợ con tôi dưới suối vàng cũng mỉm cười.
Lúc đầu họ không chịu, nhưng tôi quyết liệt quá, họ đành phải chìu ý tôi. Họ bảo tôi lãnh đạo Phật Giáo tỉnh, tôi từ chối. Tôi muốn làm một người tu hành đúng nghĩa nhất. Không lợi dụng chiếc áo cà-sa nữa, vì tôi đã lợi dụng nó quá nhiều trong thời chiến tranh để che đỡ mình.
Lúc đầu khi về chùa tôi thỉnh một bộ kinh và sắm chuông mõ, tôi tự trồng trọt để nuôi thân. Dân địa phương họ biết tôi trước đây hoạt động cho quân Giải Phóng nên họ rất e dè, ít người lui tới. Dần dần người này truyền đạt cho người kia về tôi, họ thấy tôi không nguy hiểm mà trái lại rất dễ thương. Từ đó chùa có một sinh khí mới, buổi tối ai rãnh thì đến chùa tụng kinh với tôi. Đạo hữu họ cũng biết chùa che chở cho nhiều người trốn thoát Công An, họ cho đó là việc làm đúng. Công An họ tin rằng tôi là một đảng viên, không thể chấp chứa những thành phần phản động. Nhưng họ không ngờ rằng tôi bây giờ đã hoàn toàn lột xác, tất cả đều là anh em, không thù không oán. Chính vì vậy chùa đã bao che cho những người vượt biển trốn tại đây.
“Thưa Thầy, chùa này đã có trước đây hay mới làm và người đệ tử theo Thầy từ lúc nào ?” – “Chùa này trước đây là chùa hoang, nằm trong vùng oanh kích tự do nên không ai dám lui tới. Làng mạc tiêu điều, dân làng ra Thành phố tỵ nạn tránh bom đạn, chùa không còn ai hương khói. Chỉ có tượng Phật lành lặn, còn tất cả đều bị đạn bắn phá. Chính điều này cũng làm cho tôi bao nhiêu đêm suy nghĩ, tượng Phật không hề hấn gì cũng lạ thật.
Những năm cuối cuộc chiến, tôi ngủ dưới bệ tượng Phật, tôi cảm thấy an tâm, hình như có một cái gì đó che chở cho tôi. Tôi nguyện trong lòng, sau khi đất nước hòa bình, tôi sẽ về đây tu bổ lại ngôi chùa và sinh sống. Nếu gặp được phước duyên tôi sẽ đi tu, gia đình vợ con không còn nữa, chẳng còn chỗ nào làm nơi nương tựa. Trong thời chiến tôi lấy nơi đây làm nơi cư ngụ và hoạt động. Sau này, như mong ước, tôi tu bổ dần dần trở thành một ngôi chùa tuy không lớn, nhưng đạo hữu đến cũng khá đông.
Tôi dự định sang năm đủ tiền, sẽ xây lại lớn hơn, để những người con Phật có nơi khang trang hành lễ trong những ngày vía lớn. Người Thầy trẻ phụ giúp tôi trong chùa, lúc thầy đến mới 10 tuổi, cha mẹ thất lạc lúc chạy loạn. Thấy tội nghiệp tôi nuôi nấng cho ăn học. Bây giờ thầy đã là kỹ sư công nghệ. Tôi bảo thầy có thể ra đời lấy vợ, vì chuyện ở chùa chỉ là hoàn cảnh bức bách lúc đó. Thầy bảo là con quyết tâm tu hành theo chân sư phụ. Thôi biết đâu cũng là cơ duyên. Tôi không bao giờ sai bảo thầy nhỏ những gì mà tôi có thể làm được, thầy thấy tôi làm việc này thì thầy làm việc khác, từ xưa đến giờ trở thành một nề nếp.
Cách đây hai năm cha mẹ của thầy trẻ từ nước ngoài về tìm thầy. Khi họ lạc nhau thầy đã 10 tuổi nên thầy dễ dàng nhận ra cha mẹ. Cha mẹ sẽ bảo lãnh cho thầy đi, nhưng thầy vẫn chưa quyết định. Tôi có khuyên thầy nên đi, dù sao tình ruột thịt cũng cần thiết hơn. Tôi nghĩ thế nào thầy trẻ cũng rời khỏi chùa, nên tôi đang tìm một người sau này sẽ thay tôi. Cái khó không phải là không có người, mà người thay thế tôi có được lòng bà con, có siêng năng tu tập, có đủ nghị lực để quán xuyến ngôi chùa không. Và điều quan trọng nhất là đừng để chùa biến thành công cụ phụng sự Chính trị. Nhiều đêm suy nghĩ nhưng chưa tìm được người như vậy. Thật tình thì có lo lắng cũng không được. Thôi thì cứ để mọi chuyện từ từ, người nào có Phật duyên tự nhiên sẽ đến.
Bây giờ tôi già rồi, những việc nặng nhọc không làm được, người đệ tử của tôi quán xuyến hết. Hơn nữa đạo hữu cũng khá nhiều, mỗi ngày có vài người đến chùa làm công quả, nên tôi có thì giờ nghỉ ngơi, chỉ lo Phật sự. Tôi tự tu hành, học trong kinh sách của Phật dạy. Phần nhiều kinh sách viết bằng chữ Hán nên đã gây cho tôi khó khăn lúc ban đầu.
 Mặc dù Thầy không đi tu từ nhỏ, nhưng quyết tâm cố gắng của Thầy, kiên trì học hỏi của Thầy, đã tạo cho Thầy một con người thông hiểu giáo lý nhà Phật, có một kiến thức rộng. Thầy không có một vị sư đỡ đầu, trong Phật Giáo gọi người này là Thầy Bổn Sư, nên khi gặp những rắc rối liên quan đến sự tu hành, Thầy tìm đến những cao tăng xin chỉ dạy. Mỗi tháng hai lần, ngày mồng Một và ngày Rằm, Thầy thuyết giảng để đạo hữu hiểu những điều Phật dạy, để sửa mình, để tu thân. Chính quyền tại đây biết rõ về Thầy nên không ai đến quấy rầy. Vì vậy Thầy yên tâm tu hành.
Từ khi chính thức bước vào cửa chùa, Thầy không quan tâm đến sự việc bên ngoài. Tiếng tăm của Thầy dần dần được những Phật tử quanh vùng biết đến và từ đó sinh hoạt Phật sự trong chùa trở nên nhộn nhịp hơn. Có người đề nghị với Thầy nên trùng tu lại ngôi chùa cho phù hợp với số đạo hữu ngày càng gia tăng. Thầy nhận biết điều này, nhưng Thầy không dám kêu gọi đóng góp. Thầy cố tiện tặn để dành nhưng vẫn chưa đủ tiền thực hiện.
Một buổi sáng trong lúc uống trà, anh đặt một bọc tiền trên cái khay nhỏ, rồi thưa với Thầy: “Thưa Thầy, đây là số tiền con dành dụm từ lâu, con hứa khi về quê nhà con sẽ nhờ Thầy dùng nó để làm việc gì mà Thầy cảm thấy cần thiết phải làm. Con không nghĩ là trả lại cái ơn mà Thầy đã giúp, vì ơn này to lớn quá con không trả nỗi. Con thấy Chùa hư hại quá nhiều, Thầy cho con góp một tay với Thầy xây dựng lại tốt hơn. Nếu có thiếu hụt trong lúc trùng tu, con sẽ gửi về thêm để Thầy trang trải.”
Thầy nhìn anh, Thầy cảm thấy như anh trả lại món nợ trước đây Thầy đã giúp anh vượt biên, nhưng khi nghe anh trình bày thành thật. Thầy trầm tư, đắn đo có nên nhận của anh hay không ? Cuối cùng Thầy quyết định:
“Lòng tốt của anh Thầy ghi nhận. Tuy chùa cũng rất cần, nhưng nhận số tiền này của anh Thầy cảm thấy áy náy quá. Thôi thì thay mặt chùa, Thầy cám ơn anh. Thầy sẽ nhờ người vẽ kiểu rồi từ từ thực hiện theo đó. Làm cho đến khi nào hết tiền thì ngưng, có tiền làm tiếp. Ngày xưa các vị sư tổ xây chùa từ đời này qua đời khác, không có ai xây chùa chỉ một đời. Lấy kinh nghiệm này, Thầy sẽ thực hiện cho đến khi nào Thầy không còn khả năng…”
Thầy và anh bàn nhiều chuyện, trong đó để tiết kiệm tiền bạc, Thầy định làm một lò nung gạch, đào đất trước sân chùa để làm gạch. Cái hố lấy đất sau này sẽ trồng sen, trở thành một hồ sen. Thấy những dự tính của Thầy hợp lý, anh cũng vui thích.
Trở lại Mỹ, mỗi đêm anh ngồi trước bàn thờ tụng kinh. Lúc đầu anh không biết tụng kinh như vậy để làm gì, sau vài tháng anh ngộ ra được một điều cái “quả” mà anh nhận được bây giờ, gia đình yên vui, vợ con sẽ đoàn tụ, công việc trôi chảy, chính nhờ vào cái “nhân” mà anh đã gieo. Anh tụng kinh là nhắc nhở mình phải luôn luôn gìn giữ cái tâm ngay thẳng. Anh không nghĩ đến những chuyện cao siêu, chỉ biết đơn giản là tu thân tích đức. Anh cảm thấy tâm hồn anh thanh thản hơn, bỏ ra ngoài những hệ lụy rắc rối không mang tới niềm vui cho mình, cho mọi người. Câu kinh anh tụng trở nên nhiệm màu.
Vợ con anh sau vài năm tới Mỹ theo diện đoàn tụ. Anh có hỏi vợ về ngôi chùa ở Mân Thái. Vợ anh cho biết ngôi chùa đã xây xong, không lớn lắm nhưng khang trang. Thầy có làm một tấm đá gắn trên tường khắc tên những người đóng góp xây dựng nên ngôi chùa như một lời tri ân.
Nhiều đêm không ngủ được anh lại nghĩ tới ngôi chùa, nghĩ tới Thầy. Ngôi chùa nhỏ nhưng chứa một tấm lòng quá lớn. Đối với gia đình anh đây cũng là thánh địa, đã cứu giúp anh vượt qua những khó khăn. Trong chiến tranh, chỉ một lần ngẫu nhiên gặp gỡ mà người Thầy đã giác ngộ, đã từ bỏ hết những danh vọng, những quyền thế, xóa sạch những hận thù, những dĩ vãng đen tối. Chấp nhận một cuộc sống thanh bần khổ cực.
Mấy ai trên đời này làm được như Thầy ? Công đức của Thầy theo anh, đó là một ngọn Thái sơn mấy ai leo tới. Năm nay Thầy đã bát tuần, như một quyển kinh đã đọc đến những trang gần cuối. Thầy không có gì phải vướng bận khi ra đi, chắc Thầy cũng đã sẵn sàng đi theo Phật. Cuộc đời, mọi vật rồi cũng sẽ trở thành cát bụi, chỉ còn chăng là một tấm lòng. Anh viết thư cho quý đạo hữu hãy báo tin cho anh biết khi Thầy viên tịch, anh sẽ thu xếp về ngay để tiễn đưa Thầy lần cuối.
PHAN XUÂN SINH