Công ty địa ốc Alibaba lừa đảo hàng ngàn người, thu hơn trăm triệu đô

Công ty địa ốc Alibaba lừa đảo hàng ngàn người, thu hơn trăm triệu đô

Công an bắt giữ ông Nguyễn Thái Luyện, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Cơ quan điều tra bước đầu xác định có 6,700 người là nạn nhân của Công Ty Cổ Phần Địa Ốc Alibaba, với số tiền giao dịch hơn $107 triệu Mỹ kim.

Chiều 20 Tháng Chín, 2019, nhiều xe cảnh sát cơ động, cảnh sát giao thông… trang bị vũ trang ập đến căn nhà cao tầng là chi nhánh Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba ở đường số 5, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức( thành phố Sài Gòn). Các cảnh sát trang bị súng bao vây, phong toả bên ngoài, nhiều lực lượng khác tiến vào trong thực hiện việc khám xét.

Động thái này được Phòng Cảnh Sát Điều Tra Tội Phạm Về Tham Nhũng- Kinh Tế -Buôn Lậu Công An Sài Gòn đưa ra trong tiến trình mở rộng điều tra vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại công ty Alibaba. Nhà chức trách bước đầu xác định có hơn 6,700 nạn nhân giao dịch tại 40 dự án “ma” của công ty này với số tiền lên đến hơn 2,500 tỷ đồng ($107.5 triệu). Trong đó, ông Nguyễn Thái Luyện (34 tuổi), chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba, được cho là có vai trò cầm đầu, chỉ đạo em trai là ông Nguyễn Thái Lĩnh (30 tuổi), tổng giám đốc công ty này dùng danh nghĩa cá nhân để nhận chuyển nhượng, thu gom lượng lớn đất nông nghiệp ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai…

Phú Quốc lại ngập mênh mông, dân bỏ nhà di tản

Phú Quốc lại ngập mênh mông, dân bỏ nhà di tản

Cảnh ngập ở Phú Quốc sáng 19 Tháng Chín, 2019. (Hình: Thanh Niên)

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Mưa nhỏ kèm triều cường dâng cao làm ngập nhiều nơi ở đảo ngọc Phú Quốc, buộc dân phải bỏ nhà di tản. Thế nhưng, chính quyền địa phương khẳng định “chỉ ngập cục bộ, không nghiêm trọng.”

Báo Thanh Niên tường thuật, vào sáng 19 Tháng Chín, 2019, tại nhiều tổ dân phố thuộc khu phố 3 và 4, thị trấn Dương Đông (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) bị ngập nặng, có nơi ngập quá thắt lưng. Mọi người từ đầu hẻm vào sâu bên trong đều đang gấp rút vận chuyển đồ đạc để rời đi.

Ông Thạch Nhi (56 tuổi, tổ 12, khu phố 4, thị trấn Dương Đông) cho biết cứ sau trận mưa kéo dài chừng một tiếng đồng hồ thì nước lại ngập lênh láng như thế. Trước tình trạng ngập như hiện tại, ông chỉ còn biết bó gối nhìn đồ đạc trong nhà trôi bồng bềnh, chờ hết ngập thì đem ra chùi rửa để dùng lại.

Bà Thái Thị Thu Ba (60 tuổi, tổ 10, khu phố 4) cho biết thêm, do nước ngập vào gần nửa nhà nên phần lớn người dân tại đây đã bỏ đi hết vì chẳng còn chỗ để ngủ, mặc cho dòng nước cứ tràn vào nhà làm hư hỏng đồ đạc.

Còn anh Lê To Thành (27 tuổi, tổ 12, khu phố 4) đang kéo bộ bàn ghế salon đang trôi bồng bềnh trong sân nhà, cho biết tình trạng ngập xảy ra 5-6 năm nay chứ không phải mới đây. Cứ mưa chừng một tiếng đồng hồ là lại ngập lênh láng như vậy.

Anh Lê To Thành kéo bộ bàn ghế đang trôi trước dòng nước tràn mạnh vào nhà. (Hình: Thanh Niên)

Cũng theo anh Thành, suốt một tháng nay người dân nơi đây phải sống trong cảnh ngập lụt “nước lên tới gối.” Ngưng mưa vài ngày, nước rút xuống một chút thì lại mưa tiếp, tình trạng ngập lại tiếp tục xảy ra. Mỗi trận ngập, riêng nhà anh bị thiệt hại khá nhiều: giường, tủ, quần áo, mùng mền bị ướt hết, thậm chí tủ lạnh và xe máy cũng bị hư.

Trong khi đó, anh Phan Thành Được (40 tuổi, tổ 12, khu phố 4) cho biết suốt mấy ngày nay vợ chồng anh không có chỗ ngủ và cũng không dám ngủ vì hễ mưa là lại lo ngập, cũng chẳng làm ăn được gì vì vừa bước ra khỏi nhà là quần áo ướt hết.

Cùng chịu tình trạng tương tự là những gia đình ở các tổ dân phố 12, 13, 14 (khu phố 4, thị trấn Dương Đông). Rất nhiều căn nhà đã khóa cửa ngoài bỏ mặc nước bên trong nhà dâng cao hơn nền nhà khoảng chừng 10 cm. Bà Lý Thị Mùi (60 tuổi, tổ 13, khu phố 3) cho biết do nước ngập mấy ngày nay nên mọi người đã đi tìm nhà người thân ở nhờ, khi nào nước rút sẽ về dọn dẹp.

Bà Mùi cho biết thêm, hiện tại nhiều người già yếu trong xóm chỉ còn biết ngồi nhìn nước ngập vì chẳng dám đi đâu. Người dân chỉ mong chính quyền địa phương sớm có phương án nạo vét kênh rạch, dẹp bớt những nhà xây dựng lấn sông suối, khơi thông dòng chảy để tình trạng ngập liên tục này không còn xảy ra như hiện nay.

Nói với báo Zing cùng ngày, ông Mai Văn Huỳnh, bí thư kiêm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Phú Quốc, cho biết không riêng gì ở thị trấn Dương Đông mà ở xã Cửa Cạn cũng bị tình trạng tương tự. Nguyên nhân ngập là do mưa lớn và triều cường dâng cao. “Tình trạng ngập xảy ra cục bộ ở một số cửa sông, không ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân,” ông Huỳnh biện minh.

Về vấn đề nạo vét kênh rạch để chống ngập, ông Huỳnh cho biết “đang chỉ đạo các lực lượng khảo sát, chờ có báo cáo sẽ lên phương án.” (Tr.N)

Ba Tôi Và Trại Tù Vĩnh Phú

Ba Tôi Và Trại Tù Vĩnh Phú

Tác giả: Lê Xuân Mỹ

Bài số: 5718-20-31525-vb6062119

Tác giả qua Mỹ năm 1998 diện đoàn tụ ODP, là một kỹ sư từng làm việc tại Kia-Tencor San Jose, California. Lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ với bài viết về Mẹ trong mùa Mother’s Day 2019, ông cho biết có người cha sĩ quan tù cải tạo chết ở trại Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa. Bài viết mới kể về chuyện người mẹ và tác giả thăm nuôi đúng vào những giờ phút sau cùng của người cha trong trại tù cải tạo. Tựa đề đầy đủ của bài viết: “Ba Tôi, Những Giờ Phút Sau Cùng và người bạn tù trên đất My” được rút gọn theo nội dung.

Di ảnh Ông Lê Xuân Điềm, Thiếu Tá Cảnh Sát, Bộ tư lệnh Cảnh Sát Sài Gòn. Ông sinh năm 1924. “Học tập cải tạo” tại K2 trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú. Mất ngày 10/2/1979 tại trại K2.

***

Vượt qua bao nhiêu cửa ải khó khăn, thủ tục nhiêu khê cuối cùng chúng tôi mới cầm được tờ giấy ra thăm ba tại trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú.

Tháng 2 năm 1979, hai mẹ con ra Hà nội bằng xe lửa. Sau khi hoàn tất mọi chuẩn bị sau cùng, chúng tôi cùng người gánh hàng thuê lên tàu chợ tuyến Cao Bằng Lạng Sơn để về ga Ấm Thượng. Hành lý mang theo là hai bao tải đồ ăn gồm lương khô, thực phẩm, thuốc men, áo quần…bất kỳ cái gì cũng cần thiết cho người đang “học tập” cải tạo. Năm 1978, tôi đã thăm được ba lần đầu tiên, đã biết trước địa điểm, lại háo hức mong gặp ba, chuyến đi lần này diễn ra suông sẻ nhanh chóng hơn trước rất nhiều.

Xuống ga Ấm Thượng, vượt qua gần 30 km đường bộ, 2 lần gọi đò qua những dòng sông nước chảy xiết, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà khách K2 Tân Lập Vĩnh Phú vào lúc nửa đêm. Chuyến đi vất vả nhưng mẹ chịu đựng gian khổ và khoẻ hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Nghĩ đến lúc gặp lại ba vào ngày mai, hai mẹ con suốt đêm thao thức không ngủ được. Nằm bó gối ở một góc phòng, trong tiếng ễnh ương rên rĩ, tôi nhìn ra bên ngoài từ khe hở của vách tre lá của nhà khách ở một vùng đất gần biên giới Việt Hoa xa xôi, và cảm nhận cái nỗi thê lương của những tháng ngày mà ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo, đã và đang trải qua.

Tiếp chúng tôi là một tay công an khá lớn tuổi với khuôn mặt rất hình sự. Tôi đưa giấy tờ, trình bày lý do, và xin phép được gặp ba. Gã cầm giấy tờ đi vào bên trong. Độ khoảng 15 phút, gã đi ra vẫn với khuôn mặt khó đăm đăm. Gã nói: Rất tiếc không thể để hai người gặp tù nhân này được. Ông nhà đang bị kỷ luật vì vi phạm nội quy trại. Hai người có thể để thức ăn và đồ dùng lại chúng tôi sẽ chuyển cho ông. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc và năn nỉ. Gã một mực cương quyết lắc đầu. Mẹ tôi càng lúc càng khóc to hơn.

Càng bị từ chối, nỗi uất ức càng lớn, bà bắt đầu nằm lăn ra sàn đất. Vừa la vừa lết, vừa khóc vừa hét. Gã công an lúng túng không biết xử lý cách nào. Những người đến thăm nuôi và cả những cán bộ của các bàn bên cạnh đều hướng về phiá chúng tôi. Tình hình căng thẳng đến tai cấp chỉ huy trại. Một sĩ quan công an bước vào. Hai người thầm thì nhỏ to gì đó. Cuối cùng viên sĩ quan đến gặp chúng tôi, dịu dọng.

Thật ra chúng tôi rất muốn giúp bà nhưng quả thật hiện nay ông nhà đang bị kỹ luật bị giam ở ngoài trại cách đây rất xa. Thôi bà về đi. Tuần sau bà quay lại. Tôi sẽ cho bà gặp ưu tiên với thời gian gấp đôi bình thường. Còn bây giờ bà cứ để thức ăn và đồ dùng chúng tôi hứa sẽ đưa tận tay ông nhà, không thiếu một thứ gì.

Năn nỉ ỉ ôi cách mấy cùng không lay chuyển tên cán bộ quản giáo, tôi nghĩ chắc là hết cách. Chắc phải ở lại Hà Nội thêm một tuần. Nhìn khuôn mặt có vẽ hiền lành của viên sĩ quan công an, tôi nghĩ gã có vẻ thiệt tình. Tôi nói nhỏ với mẹ, mình vê thôi, ba bị kỷ luật. có xin cũng không được. Chịu khó về Hà Nội ngủ lây lất. Tuần sau lên lại hy vọng họ giữ lời hứa cho gặp được ba lâu hơn.

Trong khi quay lại bàn tiếp tân để làm thủ tục đưa thức ăn và đồ dùng cho ba, bỗng dưng tôi thấy một ánh mắt hơi khác lạ của một tù nhân làm nhiệm vụ đem nước chè xanh cho những người đến thăm nuôi. Để ấm nước xuống bàn, người này đi chầm chậm về phiá chòi vệ sinh sau khi ngoái lại nhìn tôi, đôi mắt nhấp nháy kỳ lạ. Tôi xin phép gã cán bộ công an đi vệ sinh.

Bước vội vào phía trong vừa kịp thấy dáng khòm khòm của người tù nhân bước ra. Tôi bước vào, nhìn quanh cái chòi tiêu, tiểu được xây tạm bợ bằng lá tranh với cánh cửa tre nửa kín nửa hở. Tôi ngồi xuống và nhìn quanh vách tre lá. Tôi có linh cảm hình như người tù nhân muốn cho tôi biết một điều gì đó. Tôi cố nhìn thật kỹ. Quả đúng như linh cảm, trên góc đòn tre phía trái của cầu tiêu, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết nguệch ngoạc một dòng chữ: “Ông Điềm bệnh nặng.”

Hoảng hốt tôi vội chạy ngược vào phòng tiếp tân. Dằn cơn xúc động tôi kéo mẹ ra góc phòng báo tin. Mẹ bình tĩnh và khôn ngoan hơn tôi tưởng rất nhiều. Bà quay trở lại bàn tiếp tân và nói: Xin cán bộ cho tôi ở lại đây đợi chồng tôi về chứ bây giờ vừa đi vừa về Hà Nội cũng mất hai ngày. Gã cán bộ nói láo trơn tru: Ông bị biệt giam ở nơi rất xa, phải tuần sau chúng tôi mới đưa ông nhà ra găp bà được.

Đến lúc này nỗi uất ức trong lòng mẹ tôi bùng nổ, bà khóc và la hét to hơn: “Mấy ông nói láo, tôi biết chồng tôi đau nặng, đồ sát nhân, sao không cho chúng tôi gặp. Các ông có còn là con người không?”

Đến lúc này thì mẹ tôi không còn biết sợ là gì nữa, Tất cả những oán hận chất chứa trong lòng bao lâu này được dịp thoát ra, không ai có thể ngăn được. Cả phòng khách của K2 bắt đầu nhốn nháo, ồn ào. Nhiều người bu quanh mẹ tôi lúc này đang nằm lăn lộn dưới sàn đất cứng ngắt. Gã cán bộ chạy vào trong và đi ra cùng với viên sĩ quan lúc nãy. Gã dịu giọng nói với chúng tôi: Xin bà bình tỉnh Mời bà và anh vào trong, chúng tôi sẽ giải quyết. Nói xong gã ra lệnh cho hai tay công an dìu mẹ tôi vào căn phòng phiá trong. Có lẽ không muốn những người thăm nuôi khác biết chuyện.

Căn phòng sạch sẽ hơn phòng bên ngoài nhiều. Viên sĩ quan công an nói: Bây giờ tôi xin nói thật về tình trạng của ông nhà. Thật ra ông đang bệnh và chúng tôi đang tích cực chữa chạy cho ông. Nay bà đã biết, tôi sẽ thu xếp cho bà vào gặp ông. Ông nhà đang nằm ở bệnh xá, tôi sẽ cho người dẫn ông bà đi. Xin ông bà đợi một lát. Nói xong gã bước ra, nói nhỏ gì đó với công an trực.

Gã công an bước đi thật nhanh. Khoảng 40 hay 50 phút gì đó gã trở về, bước đi gấp gáp, hấp tấp. Lại thì thầm to nhỏ với viên chỉ huy. Tôi linh cảm có chuyện không hay. Lần này viên sĩ quan trầm giọng: Thưa bà, chúng tôi vừa mới nhận được tin, mặc dù chúng tôi đã tận tình chữa trị, nhưng vì sức yếu, ông nhà vừa mất cách đây 5 phút. Chúng tôi xin chia buồn với bà. Chúng tôi sẽ đưa bà đi gặp ông lần cuối cùng.

Nghe tin dữ, mẹ tôi như điên cuồng. Bà nằm lăn ra đất. Vừa khóc vừa la. Không từ nào mà bà không đem ra. Không nhân vật nào bà không réo tên chửi. Vừa chửi vừa khóc, khóc đến khan cả giọng. Mồ hôi quyện với đất đỏ dính đầy áo quần, mặt mũi. Hết khóc rồi bắt đầu cười ngây dại. Tôi ôm mẹ không nói được nên lời. Nỗi đau quá lớn làm thần kinh tôi như tê liệt. Ôm mẹ với trái tim nhói đau như kim châm và mẹ ngất đi.

Khoảng 15 phút sau, chúng tôi được dẫn di gặp ba. Nơi ba nằm là một căn nhà nhỏ đơn sơ gọi là bệnh xá nằm sâu trong K2 cách nhà khách khoảng 30 phút đi bộ. Ba nằm trên một giường tre, thân hình gầy guộc, khuôn mặt ốm nhom như bộ xương khô. Hàm râu lổm chổm có lẽ được cắt ngắn một cách vội vàng không dài thòn như lần đầu tôi gặp.

Hình như đã hết nước mắt, mẹ không khóc yên lặng ngồi bệt xuống đất vói tay ôm lấy ba. Tôi ngồi xuống phiá bên kia. Hai mẹ con ôm choàng lấy ba. Vẫn còn hơi ấm của một cơ thể vừa mới qua đời. Mẹ vuốt mắt ba. Mắt trừng trừng nhìn ba. Hình như tôi thấy trong mắt mẹ màu đỏ của máu. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái hình ảnh của ba và mẹ tôi trong bệnh xá trại K2 Tân Lập hôm đó. Mẹ không khóc nhưng lại ngất thêm một lần nữa khi tôi định kéo mẹ đứng lên.

Sau này qua một người bạn tù của ba, lúc mẹ con tôi đến thăm trại, đang hấp hối nhưng ba tôi biết. Lúc đó ba đã rất yếu. Ba nói ba sẽ cố gắng sống để găp mẹ một lần và ba cố gắng húp được vài muỗng cháo trắng. Những muổng cháo trắng cuối cùng trước khi ra đi mãi mãi. Giá mà tay cán bộ có một chút tình người thì có lẽ mẹ cũng được gặp ba một lần sau chót. Chỉ cần một lần mà thôi, của một cuộc tình ba mươi mấy năm. Tôi biết ba đã không đành lòng ra đi. Đành lòng sao được hả ba, khi vượt hàng ngàn cây số từ nam ra bắc, chỉ còn cách một bước chân thôi mà mẹ không thể nói với ba những lời yêu thương sau chót, để được nghe một lời trăn trối sau cùng. Tức tưởi và uất hận lắm ba. Mà thôi ba ơi. Cứ yên lòng ra đi rồi có ngày mẹ, ba và chúng con sẽ lại gặp nhau một nơi nào đó, trên thiên đàng. Chúng ta sẽ lại có những ngày tháng hạnh phúc bên nhau như thuở nào.

Để xoa dịu mẹ con chúng tôi, lần đầu tiên K2 có tổ chức một đám ma tù nhân tương đối đàng hoàng. Từ trước, đã có rất nhiều tù nhân chết ở đây. Toàn bộ được bó vào các manh chiếu mây tre rách rưới và được chon vùi sơ sài trong các mảnh đất trống bên trong trại. Ba có lẽ là người đầu tiên đưọc ưu tiên có hòm làm bằng gỗ ván thông dù rất mỏng dính. Chôn theo với ba là mấy bộ đồ rách bươm. Cũng có 4 người tù khiêng quan tài. Phía trước và phía sau có 4 công an đi cùng. Cũng có ly hương là cái chén ăn cơm cũ kỹ. Tôi cầm bài vị là một bức ảnh căn cước nhỏ xíu của ba còn sót lại trong trại. Mẹ đi sau quan tài. Đoàn đưa tang gồm 10 người lặng lẽ đi về phía một đồi trọc xa xa, phiá ngoài hàng rào trại K2. Trên đường đi, tôi để ý thấy có những gò đất với rất nhiều ngôi mộ vô danh.

Nơi chôn ba là một ngọn đồi, chỉ có một cây đa thật to. Những người tù đào vội một lớp đất không sâu lắm, hòm được đặt xuống và lấp lại. Thế là xong. Ba tôi, một sĩ quan cảnh sát miền nam thua cuộc, cuối đời nằm ở đây, một vùng đất gần tận cùng biên giới Việt Hoa. Một mình, cô đơn, lạnh lẽo. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Suốt buổi lễ cứ nhìn trừng trừng. Một khuôn mặt tưởng như vô hồn, nhưng tràn đầy oán hận. Một nỗi hận đến vô cùng. Tôi cắn chặt môi đến tươm máu. Thôi ba ơi, hãy yên nghỉ tạm nơi đây, con sẽ quay trở lại một ngày không xa.

Trước khi trở về, tôi cẩn thận ghi dấu vị trí ngôi mộ với một chữ thập ghép bằng hai nhánh tre và khắc tên ba trên gốc cây to trước mộ.

Hai năm sau, thương ba nằm một mình hiu quạnh, mẹ con tôi trở ra lại trại Tân Lập cùng với một người đảo mộ thuê từ Hà Nội. Không xin được giấy phép bốc mộ, nửa đêm chúng tôi đã lén lút đào chui và trải qua những giờ phút gian truân, nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi cũng đem ba về nằm bên cạnh ôn mệ trong mảnh đất phía sau nhà, dưới chân núi Ngự Bình Huế.

Từ khi đem được ba về nằm ấm cúng bên cạnh những người thân yêu, cuộc sống của gia đình tôi từng bước thay đổi và trở nên tốt đẹp hơn. Có quá nhiều cái tình cờ, may mắn mà dù không muốn tin, tôi cũng phải tin có sự che chở của ba, có sự sắp đặt của ơn trên. Và nhờ đó gia đình mẹ và 9 anh em chúng tôi vượt qua được những ngày tháng khó khăn, tủi nhục, đen tối để đến cuối năm 1998 toàn bộ gia đình đoàn tụ trên miền đất thật xa quê nhà nhưng tự do này.

Là những người cuối cùng trong đại gia đình qua Mỹ theo diện đoàn tụ, vợ chồng chúng tôi cùng 3 con nhỏ về sống tại thành phố nhỏ Tulsa thuộc tiểu bang Oklahoma. Vào cuối năm 1998, khi chúng tôi mới đến cư ngụ, Tulsa là một thành phố hiền hoà nhưng cũng thật buồn và trầm lắng. Người Việt không nhiều, nhưng may mắn cũng có một vài chợ Việt Nam, một vài quán ăn người Việt, không ngon lắm nhưng cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà của những đứa con mới vừa lưu lạc.

Lúc vừa mới đến, thấy gia đình 5 người chưa có công việc làm, mấy người bạn đề nghị chúng tôi đi xin housing và chế độ trợ giúp cho người low income. Vào thời đó ở cái thành phố đất rộng người ít này, việc xin trợ cấp của chính phủ tương đối dể dàng. Ai cũng khuyên vì với tuổi đời gần 50, một vợ và 3 con còn nhỏ, tội gì phải đi làm cho vất vả, ở nhà của chính phủ, con cái có nhà nước lo, sáng kéo nhau ra quán cafe, chiều tập trung tại một nơi nào đó cùng với bạn bè, xem đánh cờ và ngồi tám chuyện ngày xưa. Vừa nhàn, vừa có tiền tội gì phải vất vả mưu sinh. Đâu phải ai cũng có điều kiện để xin được trợ cấp như gia đình tôi đâu.

Nhưng đó không phải là con đường của tôi sẽ đi. Đứa con của một sĩ quan tù cải tạo chết ở biên giới Việt Hoa ngày nào sẽ không thể sống như thế. Thế là, sau thời gian đầu chuẩn bị cho những việc cần thiết, lấy bằng lái xe, ở tạm nhà người em gái, chúng tôi bắt đầu cho một cuộc sống mới trên một miền đất xa lạ này.

Vợ tôi xin vào làm phụ bếp trong một nhà hàng Việt Nam. Tôi và đứa con đầu nhờ có bằng TOEFL nên đăng ký đi học đại học trở lại. Ngoài giờ học, cháu đi làm thêm công việc phục vụ nhà hàng, tôi nhờ có chút tay nghề sửa máy tính và tivi, xin vào làm technician cho hãng bán máy móc điện tử COMPUSA. Hai con nhỏ đi học ở trường gần nhà.

Tiền lương không cao lắm, nhưng với vật giá không đắt đỏ và con người hiền hoà của một thành phố nơi nhà thờ nhiều hơn nhà dân này, chúng tôi đã có những bước khởi đầu hội nhập không quá đỗi khó khăn. Và quan trọng là tôi được đoàn tụ với mẹ, các em, và cùng với gia đình riêng, chúng tôi đã sống không giàu có, nhưng lương thiện, đầy đủ và tự do.

Có quá nhiều điều để kể về những ngày tháng trên một miền đất không phải là nơi tôi sinh ra này, hy vọng sẽ có trong một bài viết khác, ở đây tôi chỉ muốn nói đến những mối nhân duyên mà ông trời đã sắp đặt liên quan đến câu chuyện của ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo chết tại trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú tháng Hai năm 1979.

Cuộc sống ở Tulsa phải nói là rất dể chịu và an bình. Với sự tằn tiện và chịu thương chịu khó, chúng tôi cũng mua trả góp được một căn nhà nhỏ, tạm đủ cho một gia đình 5 người, những ngày tháng an bình và hạnh phúc.

Nhưng rồi năm 2000, sau khi lấy lại bằng đại học, tôi xin được việc làm tại KLA-TENCOR ở San Jose, Ca. Nghe tôi định di chuyển về San Jose, bạn bè, người thân ai cũng bàn ra. Thứ nhất tôi đang sống an nhàn, mọi việc ồn định, lên San Jose, tuy lương cao hơn, nhưng nhà cửa, cuộc sống đắt đỏ, lạ lẫm, chắc chắn sẽ khó khăn vất vả hơn nhiều. Làm lại từ đầu, có trụ nổi không hay lại khăn gói trở về như một số người ở bên này.

Nhưng, với tôi, quan trọng không phải là đồng lương cao thấp, đường đi dễ dàng hay vất vả, bằng phẳng hay gập ghềnh, mà là một công việc phù hợp với cái kiến thức và cái khả năng được đào tạo của mình, trong một ngành nghề mình yêu thích. Thế là gia đình nhỏ, 5 người chúng tôi một lần nữa khăn gói đi về một thành phố xa lạ hơn, một nơi được xem như đắt đỏ vào bậc nhất nước Mỹ để kiếm sống.

Cho đến bây giờ trải qua gần 20 năm, với biết bao thăng trầm, thời gian, với tôi,  thời gian ở San Jose vẫn là một quãng đời đáng sống. Có nhiều điều để nhớ lại, nhưng trong phạm vi bài viết, tôi muốn nhắc đến, chính là cái duyên, cái tình cờ sắp đặt của thượng đế, của định mệnh khi chính tại miền đất này, tôi đã gặp lại hình bóng của người cha thương yêu.

Đầu năm 2001, khi tôi đang làm tại KLA-TENCOR, lúc đó nhà cửa rất là hot. Tôi tìm mãi mới thuê được căn nhà 4 phòng ngủ. Giá thuê không hề rẻ, 1800USD một tháng. Trả tiền nhà rất vất vả khó khan, mất toi ½ số tiền lương hàng tháng. Chúng tôi quyết định tìm người cho share lại bớt một phòng. Đúng lúc có một technician mới vào làm trong dây chuyền của tôi mới được tuyển vào làm việc, cần nơi ở. Thế là thoả thuận về ở chung. Vừa tiện đi làm chung xe, vừa sẽ chia tổn phí, tiện lợi đôi bề.

Ở một thời gian, làm chung với nhau cả năm, trong một dịp tình cờ khi nhờ ông bạn share phòng cắt tóc giùm, qua cuộc nói chuyện, phát hiện ra ông bạn cùng nhà mấy lâu nay củng là một sĩ quan từng đi “học tập cải tạo”.

– Anh đi tù ở đâu?

– Tân Lập, Vĩnh Phú

– K mấy?

– K2. Biết ông Điềm không?

– Biết quá đi chứ.

Thế đó. Quá bất ngờ hơn, khi người share phòng bấy lâu lại chính là người đã đưa cho tôi mảnh giấy báo tin ba tôi đau nặng tại phòng thăm nuôi K2 trại cải tạo Tân Lập ngày nào.

Không thể nói hết sự kỳ diệu của định mệnh, khi sau 22 năm ngày mất, một sĩ quan tù binh cải tạo gặp lại người con của một bạn tù trên một đất nước quá xa vùng đất biên giới xa xôi. Không diệu kỳ sao được, khi trong hàng triệu người Việt lưu lạc, có mặt trên hàng chục quốc gia, sống trên hơn 50 tiểu bang của Hoa Kỳ, tôi gặp lại đúng một người duy nhất đã đút cho ba tôi những muỗng cháo trắng cuối cùng trước lúc lâm chung. Người đã sống với ba trong những tháng ngày bi thảm đó. Một trong 4 người bạn tù khiêng cha tôi về miền đất lạnh

Từ xưng anh, từ đó tôi gọi là chú, chú L. Hai chú cháu có những đêm thức trắng để kể chuyện về ba tôi.

Chú là người báo cho ba tôi biết hai mẹ con chúng tôi đang đợi chờ mỏi mòn tại phòng thăm nuôi. Duy nhất, chú là người bên ba để chứng kiến những giọt nước mắt cuối cùng tức tưởi của một người đang hấp hối. Chú là người duy nhất nhìn thấy cặp mắt mong đợi mỏi mòn của ba. Dù chỉ gần nhau trong gang tấc, trước khi ra đi vẫn không thể nhìn nhau một lời sau cuối.

Cám ơn chú L. Người bạn tù của ba tôi, ân nhân không bao giờ quên được của tôi. Sau khi nghỉ hưu, chú về ở với con gái nghe đâu ở tiểu bang Minnesota xa xôi. Chưa một lần chúng tôi gặp lại nhau. Nhưng dù ở bất cứ nơi đâu, cháu cũng cầu mong chú và những người thân yêu thật nhiều may mắn và bình an.

Và tôi tin rằng ở một nơi nào đó thật xa xôi, ba vẫn luôn dõi theo và che chở cho gia đình chú cũng như cho mẹ con chúng tôi. Nếu có một kiếp sau, con vẫn sẽ là con của ba, người tù cải tạo chết ở miền đất biên giới Việt Trung, ngày 10 tháng 2 năm 1979.

Lê Xuân Mỹ

KHINH LUẬT TRẮNG TRỢN, BÁN NƯỚC NGHĨA ĐEN

Trần Bang
Bài viết của nhà báo Mai Quốc Ấn

KHINH LUẬT TRẮNG TRỢN
BÁN NƯỚC NGHĨA ĐEN

Giám đốc Sở TNMT TP.Đà Nẵng khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người Trung Quốc với 21 lô đất dọc sân bay Nước Mặn (Đà Nẵng) hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Trước khi phân tích, xin nhắc một chút, sân bay Nước Mặn là sân bay quân sự quan trọng không chỉ của Đà Nẵng mà đối với cả hệ thống phòng thủ miền Trung. Nên nhớ là cả Pháp lẫn Mỹ khi vào Việt Nam đều tấn công từ Đà Nẵng.

“Qua rà soát của Sở TNMT, dọc các khu đô thị ven biển thuộc khu vực Sân bay Nước Mặn (quận Ngũ Hành Sơn) có 246 lô đất. Trong số này hiện có 21 trường hợp người quốc Trung Quốc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng những lô đất này là cho người Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác làm ăn, người Trung Quốc đã góp vốn, mua cổ phần của người Việt nên họ được đứng tên”, ông Tô Văn Hùng- Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Đà Nẵng phát ngôn.

Đây là câu trả lời dành cho các cử tri lo lắng vì chính quyền cấp sổ đỏ đất cho người Trung Quốc. Cử tri TP.Đà Nẵng đề nghị chính quyền thành phố phải xử lý nghiêm, không thể chỉ phát hiện, tạm giữ rồi trao trả cho phía Trung Quốc. “Họ vi phạm pháp luật, mình tốn tiền lo chi phí cho họ về nước, đi bằng xe du lịch sang trọng, chúng tôi thấy rất bức xúc”, cử tri Ngô Minh Hồng (thôn Quan Nam, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) bày tỏ quan điểm.

Ông Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Tô Văn Hùng vì sao hoạt động trong hệ thống mà lại “quên” phát ngôn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà? Ông Hà từng nói người nước ngoài không có quyền mua đất trên đất nước ta, nên nếu đại biểu biết có việc người nước ngoài mua đất dọc bờ biển thì thông tin cho ông. Phát ngôn này chính thức tại phiên chất vấn đầu tháng 6/2018 của Quốc hội.

Mà nào chỉ có đứng tên mua đất. Người Trung Quốc sang Việt Nam sản xuất ma tuý tính bằng tấn, tổ chức đánh bạc xuyên biên giới, dụ dỗ trẻ em đóng phim sex, nghênh ngang sử dụng đồng nhân dân tệ để mua hàng hay sử dụng dịch vụ tại nước ta,… Trường hợp phát hiện được thì “mời các vị về nước” vì Việt Nam đã ký hiệp định dẫn độ với Trung Quốc. Nghĩa là dầu họ có gây án gì thì Việt Nam cũng phải trao trả họ về cho Trung Quốc?

Ở đâu ra thứ pháp luật lạ lùng hay thứ hiệp định dẫn độ đầy bất lợi ấy? Và ai ký?

Nếu việc thực hiện các hoạt động phá hoại đất nước Việt Nam do tình báo Trung Quốc thực hiện thì với pháp luật hiện hữu, với hiệp định dẫn độ kỳ lạ ấy khác nào “Đất nước tôi đây, nhân dân tôi đây. Mời các ông tự nhiên phá hoại! Lỡ lộ thì về nước chơi, để nhóm khác lại qua… phá tiếp.”???

Cấp giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Đà Nẵng là cấp tỉnh uỷ viên mà còn vô trách nhiệm với việc phòng thủ sân bay, an ninh quốc phòng như trường hợp 21 lô đất sân bay quân sự Nước Mặn; thì những vụ việc bậy bạ khác sẽ còn những cán bộ vô trách nhiệm khác. Vụ việc càng lớn thì cấp cán bộ vô trách nhiệm sẽ càng lớn?

Ngày xưa để mất một thước núi, một tấc sông ắt phải tội tru di. Nay nói cấp đất cho người Trung Quốc khi chúng vừa tuyên bố bãi Tư Chính của Việt Nam thuộc lãnh hãi Trung Quốc, thì đáng tội gì?

Là công dân, không ai có thể chấp nhận những cán bộ bán nước nghĩa đen, khinh luật trắng trợn như vậy được! Tôi đề nghị khởi tố ông Tô Văn Hùng theo pháp luật hiện hành!!!

P/s: Ông Bộ trưởng Tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà chí ít cũng nên xử lý thuộc cấp trái luật, trái chủ trương lãnh đạo như ông đi chứ! Ông Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa ngồi cạnh nghe đồng chí của ông là Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Tô Văn Hùng trả lời như vậy mà chẳng ý kiến gì là sao?

Đất nước này giờ của ai?
(Copy FB Lê Thiệu)
———————————
*Hình có viết nội dung tội phản quốc chỉ đúng phần đầu, phần cuối cùng “chế độ XHCN, nhà nước xhcn “ phải bỏ ra, vì cụm từ đó là phản quốc, vì nó theo CSTQ (Mác Mao), nó là a tòng theo giặc xâm lược.

Image may contain: text

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ AI ?

Luu Quang Thu
THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ AI ?

Hàng chục năm qua, đảng CSVN cứ ra rả tuyên truyền: “Bọn thế lực thù địch luôn luôn chống phá đảng, nhà nước VN”. Bla bla…

Họ rêu rao như thế ở khắp nơi: Trong hội nghị, trong diễn đàn, trong các cuộc họp báo, trong giáo dục, trên truyền thông… Nhưng có một điều, họ không đưa ra dẫn chứng cụ thể thế lực thù địch đó là ai, tổ chức đó tên gì, hoạt động ở đâu, người cầm đầu tên gì, họ chống phá đảng – nhà nước với mục đích gì, kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị này ở đâu mà có v.v…

Đảng khẳng định thế lực thù địch luôn luôn chống phá trong hàng chục năm qua. Vậy, nhà nước, nhân dân ta đã bị thiệt hại những gì do sự chống phá của họ ? Thiệt hại bao nhiêu tài nguyên, khoáng sản ? Tổn hại bao nhiêu nhân mạng ? Thất thoát bao nhiêu ngàn tỷ ? Dân bị cướp hết bao nhiêu đất ? Lãnh hải bị mất bao nhiêu cây số vuông ? Đó, đảng phải đưa ra những thiệt hại cụ thể do bọn thế lực thù địch chống phá thì dân mới tin. Còn không, đây chỉ là luận điệu vu vạ, chỉ lừa được những kẻ ngu học và bọn dư luận viên dốt nát mà thôi.

Là người dân, tôi chưa thấy bọn thế lực thù địch nào chống phá, mà chỉ thấy các lãnh đạo cấp cao của đảng CHỐNG lại sự phát triển của đất nước và PHÁ hoại sự hưng thịnh đất nước thì nhiều vô kể. Xin dẫn chứng vài trường hợp sau đây:

– Ủy ban Nhân dân TP HCM âm mưu sửa bản đồ quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm. Ăn cướp của dân Thủ Thiêm hàng trăm ngàn m2 đất, đẩy hàng ngàn hộ dân ra đường sống cảnh màn trời chiếu đất suốt mấy chục năm trời. Đây có phải là cán bộ, ủy viên trung ương đảng, ủy viên bộ chính trị phá hoại sự ổn định của đất nước không ?

– UBND TP Đà Nẵng bè phái móc ngoặc với Vũ Nhôm chiếm dụng hàng ngàn m2 đất đô thị, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hơn 20 ngàn tỷ đồng. Đây có phải những đảng viên cấp cao của đảng chống lại sự phát triển của đất nước không ?

– Lãnh đạo cấp cao bộ Thông Tin Truyền Thông móc ngoặc với Phạm Nhật Vũ ăn chia trong vụ AGV gây thất thoát cho ngân sách đến 7.000 tỷ đồng. Đây cũng là hành động chống lại sự phát triển của đất nước, đúng không ?

– Lãnh đạo cấp cao bộ công an tổ chức đánh bạc trên mạng. Điều này gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của hàng triệu gia đình có người tham gia đánh bạc trong đường dây của lãnh đạo công an. Đây là 1 hành vi phá hoại sự hưng thịnh của đất nước, gián tiếp gây ra nạn trộm cắp, cướp của giết người trên phạm vi cả nước.

– Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tự ý cho FORMOSA thuê đất đến 70 năm, tiếp tay cho nó xả độc hủy hoại môi trường. Chính quyền tỉnh Bình Định độc quyền ký bán cảng biển Quy Nhơn với giá rẻ mạt. Chính quyền Tp. Hà Nội làm ngơ để bọn cơ hội phá rừng phòng hộ Sóc Sơn xây hàng trăm nhà nghỉ dưỡng, hàng chục biệt thự, hàng nghìn hồ bơi. Chính quyền Đồng Nai cho bọn lợi ích lấp sông phân lô bán nền. Chính quyền Bình Thuận cho phép đổ hàng nghìn tấn chất thải xuống biển với xảo ngữ “nhận chìm vật chất”…

Ôi thôi, thôi ! Nói về sự phá hoại đất nước và ăn cắp của công chống lại sự phát triển của đất nước thì nhìn đâu cũng thấy, địa phương nào cũng có, bộ ngành nào cũng có. Nhưng ngặt nỗi, tất cả sự chống phá này đều do đảng viên cộng sản gây ra, chứ chẳng có bọn thế lực thù địch nào trong đó cả.

Là người dân, tôi nhận thấy như vậy là đúng hay sai ? Nếu, đảng không nêu đích danh bọn thế lực thù địch là ai, bọn họ chống phá cụ thể những gì, mà cứ nói chung chung, mơ hồ như thế. Thì buộc lòng nhân dân chúng tôi phải nghĩ, bọn thế lực thù địch chính là các quan chức Nhà nước. Vì, ngoài bọn quan chức ra, chẳng có ai đủ khả năng chống phá đất nước này.

–Ngô Trường An.

Image may contain: 6 people, including Hồi Vi Đức, people standing and suit

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tác giả: PGS, TS VŨ THANH CA

Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo,

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Đăng trên tạp chí Lý luận Chính trị.

Thứ hai, 21 Tháng 12 2015

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

(LLCT) – Từ năm 1945 đến năm 1976, do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam, nên đã nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến việc quản lý và kế thừa chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bài viết phân tích về lịch sử quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong giai đoạn 1945-1976, góp phần sáng tỏ hơn một số luận điểm chứng minh quá trình thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình, tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

1. Những bằng chứng không thể tranh cãi về sự liên tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1945-1976)

Chính quyền Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý một cách hòa bình và liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ít nhất là từ thế kỷ XVII tới nay. Đầu thế kỷ XIX, bằng những thủ tục hành chính thích hợp, nhà Nguyễn củng cố chủ quyền trên các quần đảo. Từ năm 1884, với quy chế bảo hộ Việt Nam, Pháp đã kế thừa nhà Nguyễn, tiếp tục hành xử chủ quyền đối với các quần đảo theo đúng luật pháp quốc tế cho tới năm 1945. Trung Quốc đã chính thức công nhận chủ quyền nêu trên của Pháp thông qua việc ký Hiệp ước Pháp – Thanh vào năm 1887 và Điều khoản bổ sung của Hiệp ước này vào năm 1895. Như vậy, sự liên tục của chủ quyền Việt Nam ít nhất từ đầu thế kỷ XVII cho tới đầu năm 1945 đã được xác định qua các tài liệu lịch sử hiện đang lưu trữ tại Việt Nam và trên thế giới.

Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được thể hiện qua các chứng cứ và sự kiện:

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). Ngày 6-1-1946, VNDCCH tiến hành bầu cử Quốc hội và thông qua Hiến pháp vào ngày 9-11-1946. Căn cứ vào Hiến pháp năm 1946, VNDCCH là một nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ngày 6-3-1946, Chính phủ VNDCCH ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ. Theo Hiệp định này, Chính phủ Pháp công nhận nước VNDCCH là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đồng thời, Pháp sẽ rút hết quân khỏi Việt Nam trong thời hạn 5 năm. Sau đó, hai Chính phủ ký Tạm ước Việt – Pháp vào ngày 14-9-1946, với mục đích tạm thời cụ thể hóa Hiệp định Sơ bộ. Do Pháp không thực hiện những thỏa thuận trong Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt – Pháp, cố tình gây chiến tranh để tái xác lập chế độ thực dân trên lãnh thổ Việt Nam, chiến tranh giữa VNDCCH và Pháp cùng các lực lượng thân Pháp đã xảy ra vào cuối năm 1946 và kéo dài tới giữa năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ về hòa bình ở Đông Dương được ký kết.

Căn cứ vào Hiệp định Sơ bộ, vì VNDCCH nằm trong khối Liên hiệp Pháp, theo luật pháp quốc tế, trong thời gian từ đầu năm 1946 tới đầu năm 1949 Pháp đã thực thi quyền đại diện để bảo vệ chủ quyền của VNDCCH tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 10-1946, lợi dụng thời điểm VNDCCH đang chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, Trung Hoa Dân quốc đã đưa quân tới chiếm đóng trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tháng 12-1946, Trung Hoa Dân quốc lại chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Hoa Dân quốc đã chiếm đóng hai đảo Phú Lâm và Ba Bình cho tới năm 1950.

Từ cuối năm 1946, cùng với sử dụng vũ trang để tiêu diệt Chính phủ VNDCCH, Pháp đã chủ trương thành lập một chính phủ không cộng sản trên đất Việt Nam. Sau rất nhiều thủ tục trung gian, ngày 8-3-1949, Hiệp định Hạ Long được ký kết và Quốc gia Việt Nam (QGVN) thuộc Liên hiệp Pháp được thành lập (theo một số nguồn tư liệu, đến đầu năm 1950 đã có 35 quốc gia công nhận QGVN). Với việc thành lập quốc gia này, Pháp coi như đã chính thức trao quyền quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho QGVN. Do vậy, vào tháng 4-1949, Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ QGVN tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 14-10-1950, dưới sự chủ trì của Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo, việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Chính phủ Pháp chính thức bàn giao cho QGVN.

Năm 1949, Pháp đã gửi đơn xin đăng ký ba trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tổ chức Khí tượng Thế giới và đã được chấp nhận. Các trạm khí tượng này là Trạm Phú Lâm với số hiệu 48859; Trạm Hoàng Sa với số hiệu 48860; Trạm Ba Bình với số hiệu 48419.

Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận.

Tại Hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(1). Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu.

Trong Hoà ước giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày 28-4-1952, Trung Quốc ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco mà không hề yêu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo. Việc này là bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã gián tiếp thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo tại Hội nghị San Francisco.

Như vậy, trong thời gian từ năm 1945 tới năm 1954, Việt Nam có hai chính phủ và hai chính phủ này đều có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp đại diện để thực thi chủ quyền; QGVN cũng là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp chuyển giao chủ quyền và đã khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo. Tuyên bố của QGVN tại Hội nghị San Francisco không có nước nào phản đối và bảo lưu đã là một bằng chứng rất rõ ràng chứng minh rằng Việt Nam đã khẳng định chủ quyền rõ ràng và minh bạch và đã tiếp nhận hai quần đảo này từ Nhật Bản.

Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo Hiệp định, lãnh thổ nước Việt Nam bị tạm chia thành hai miền: miền Bắc do VNDCCH quản lý, miền Nam do Liên hiệp Pháp và các lực lượng thân Pháp, trong đó có QGVN quản lý. Ranh giới tạm thời giữa hai vùng là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải). Theo Hiệp định, tổng tuyển cử thống nhất đất nước được tiến hành vào năm 1956.

Năm 1955, sau kết quả trưng cầu dân ý riêng rẽ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Quốc trưởng của QGVN. Sau đó, QGVN tổ chức bầu cử Quốc hội và ban hành hiến pháp, đổi tên QGVN thành Việt Nam Cộng hòa (VNCH) do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống.

Bằng cách ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, VNDCCH đã chính thức thừa nhận chỉ quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Bắc và thực hiện thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử ở hai miền Bắc và Nam. Tuy QGVN không ký Hiệp định Giơnevơ, nhưng thông qua việc ký kết Hiệp định, VNDCCH đã gián tiếp công nhận QGVN thay mặt Pháp quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ 1954 đến 1976, QGVN, sau đó là VNCH, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quản lý một cách hòa bình, liên tục và hiệu quả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng quy định trong luật pháp quốc tế thông qua các sự kiện dưới đây(2):

Tháng 4-1956, Hải quân VNCH tiếp quản nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ Pháp.

Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng VNCH Vũ Văn Mẫu tuyên bố tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 22-8-1956, Hải quân VNCH đổ bộ quân tiếp quản một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, dựng cờ và bia chủ quyền.

Ngày 22-10-1956, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đã ký Sắc lệnh số 143-NV về việc đổi tên các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, quy định Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 21-2-1959, 82 lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa, đã bị lực lượng VNCH đóng trên các đảo bắt giữ. Ngoài ra, lực lượng VNCH còn bắt giữ 5 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc. Số lính và tàu này sau đó được trao trả cho Trung Quốc.

Ngày 13-7-1961, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 174-NV sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1963, VNCH đã tiến hành dựng bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa (19-5), An Bang (20-5), Thị Tứ – Loại Ta (22-5) và Song Tử Đông – Song Tử Tây (24-5).

Ngày 21-10-1969, Thủ tướng VNCH Trần Thiện Khiêm đã ký Nghị định số 709-BNV/HCĐP “Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận”(3).

Ngày 13-7-1971, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã khẳng định lại về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa tại Hội nghị ASPEC Manila.

Ngày 6-9-1973, VNCH ban hành Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 quy định các đảo của quần đảo Trường Sa thuộc xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Từ ngày 17-1 đến ngày 20-1-1974, lợi dụng thời điểm chính quyền VNCH rệu rã, suy sụp, Trung Quốc đã tấn công lực lượng hải quân của VNCH và chiếm đóng trái phép phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra bản tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc. Ngày 14-2-1974, VNCH đã ra tuyên bố phản đối rất mạnh mẽ hành động chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc, khẳng định quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam; các lực lượng của VNCH sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh và bằng mọi phương tiện giành lại phần lãnh thổ bị chiếm đóng tại quần đảo Hoàng Sa.

Trong tháng 2 và tháng 3-1974, VNCH liên tục tái khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các diễn đàn quốc tế và theo các kênh ngoại giao. Đầu năm 1975, Bộ Ngoại giao VNCH công bố sách trắng về những chứng cớ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tái phản đối sự xâm chiếm bất hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Từ ngày 14 đến 28-4-1975, lực lượng hải quân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thay thế lực lượng hải quân của VNCH trên các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa. Ngày 30-4-1975, đất nước thống nhất, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được chuyển giao cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý.

Ngày 2-7-1976, thông qua Tổng tuyển cử, hai quốc gia VNDCCH và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thống nhất thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó đến nay, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước ta tiếp tục duy trì và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Những luận cứ khoa học bác bỏ các luận cứ về chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Theo Công ước về kế thừa quốc gia đối với điều ước quốc tế năm 1978(4), có 3 trường hợp làm phát sinh kế thừa quốc gia: kế thừa khi thuộc địa trở thành quốc gia mới độc lập, kế thừa khi có sự sáp nhập hoặc tách rời quốc gia và kế thừa khi chuyển giao một bộ phận lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Vì Việt Nam có những thay đổi về chính quyền cũng như tách rời, sáp nhập quốc gia trong giai đoạn 1945 – 1976, cần phải xem xét tới khái niệm quốc gia và xác định những quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn này.

Theo Công ước Montevideo 1933(5) về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia “một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định, có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế” và “sự tồn tại về chính trị của các quốc gia độc lập với sự công nhận của các quốc gia khác”.

Trước năm 1954, trên lãnh thổ Việt Nam có hai chính quyền cùng tồn tại là VNDCCH và QGVN. Cả hai chính quyền này đều tự tuyên bố là chính phủ hợp pháp của Việt Nam và có chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (7-1954), hai chính quyền thực hiện việc quản lý hai miền Nam – Bắc đất nước Việt Nam. Trên thực tế, cả hai chính quyền đều là hai thực thể chính trị, thỏa mãn các điều kiện để được công nhận là quốc gia: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định, có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế. Như vậy, có thể nói rằng trong khoảng từ năm 1954 đến năm 1975, trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại hai quốc gia, VNDCCH và VNCH. Cả hai quốc gia này đều tuyên bố về toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và khẳng định mong muốn thống nhất Việt Nam nhưng hành xử của hai quốc gia này khác nhau. VNDCCH luôn tuyên bố nguyện vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng luôn cho rằng việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là quyền tự quyết của nhân dân hai miền Nam, Bắc và thống nhất đất nước phải được thực hiện thông qua hiệp thương tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Trong toàn bộ thời gian tồn tại, cả VNDCCH và VNCH được nhiều nước công nhận, nhưng không có quốc gia nào công nhận đồng thời cả hai quốc gia này. Tuy nhiên, trong lịch sử tồn tại của mình, hai quốc gia VNDCCH và VNCH đã từng được một số quốc gia đề nghị công nhận đồng thời. Ví dụ, tháng 1-1957, Liên Xô đề nghị Liên Hợp quốc công nhận cả hai nước VNDCCH và VNCH làm thành viên. Tuy nhiên, VNDCCH phản đối đề nghị của Liên Xô(6). Ngoài ra, Liên Xô đã hai lần phản đối VNCH gia nhập Liên Hợp quốc vào các năm 1957 và 1958(7). Tháng 8-1975, VNDCCH và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp quốc và được 123 nước thuộc Đại hội đồng Liên Hợp quốc bỏ phiếu thuận, không nước nào bỏ phiếu chống, nhưng bị Mỹ phủ quyết. Trung Quốc phản đối Mỹ và tuyên bố rằng hành động của Mỹ là “sự vi phạm toàn diện các quy định rõ rệt của Hiến chương Liên Hợp quốc và các nghị quyết liên quan của Đại hội đồng”. Như vậy, các hành động của Trung Quốc trong giai đoạn 1954 – 1976 đã chứng tỏ rằng Trung Quốc thừa nhận rằng trong giai đoạn này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai nhà nước riêng biệt(8).

Như vậy, xét theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, mặc dù Hiệp định Giơnevơ chỉ quy định tạm thời chia cắt Việt Nam thành hai miền trong thời gian 2 năm, nhưng thực tế trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại hai quốc gia, có thể được xem là độc lập, đó là VNDCCH và VNCH. Hai quốc gia này đã thực thi chủ quyền trên các vùng khác nhau của lãnh thổ Việt Nam. VNDCCH thực thi chủ quyền đối với lãnh thổ đất liền và các đảo nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải), trong khi VNCH thực thi chủ quyền đối với lãnh thổ đất liền và các đảo, quần đảo nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17. Như vậy, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của VNCH.

Hiệp định Giơnevơ quy định Tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ được thực hiện vào năm 1956, nhưng Chính quyền VNCH đã không tuân thủ Hiệp định. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được chính thức thành lập ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), tỉnh Tây Ninh. Lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, lập ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Từ tháng 6-1969 tới năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được hơn 50 nước công nhận và lập quan hệ ngoại giao. Ngay sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng là một bên cùng với VNDCCH và VNCH, Mỹ tham gia vào quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.

Ngày 30-4-1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ VNCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”(9).

Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ VNCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với VNCH, đặc biệt là kế thừa chủ quyền của VNCH đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, sau năm 1975, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kế thừa lãnh thổ, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tư cách thành viên tại các tổ chức quốc tế. Tất cả những kế thừa này của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng tập quán quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.

Sau Tổng tuyển cử thống nhất đất nước năm 1976, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã kế thừa một cách hợp pháp toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.

Những lập luận trên đây cho thấy rõ ràng rằng, mặc dù không phải Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã tạo ra hai quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam như nhận xét của tác giả Giebel(10), nhưng sự tồn tại của hai quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1976 là một thực tế lịch sử. Vì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc phần lãnh thổ do VNCH quản lý, các hoạt động của VNDCCH trong giai đoạn này không ảnh hưởng tới chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thực tế này cũng giúp giải quyết những băn khoăn của một số nhà nghiên cứu(11) về sự liên tục của chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.

Từ những bằng chứng lịch sử và pháp lý, có thể rút ra một số kết luận:

Một là, trong khoảng từ năm 1945 tới năm 1954 đã có sự tồn tại của hai thực thể chính trị với tư cách nhà nước trên lãnh thổ Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ năm 1954 tới khi thống nhất đất nước vào năm 1976, các thực thể chính trị này đã quản lý hai phần riêng biệt của lãnh thổ Việt Nam và có thể được coi là hai quốc gia độc lập, có chủ quyền đối với phần lãnh thổ quản lý.

Hai là, vì VNDCCH không phải là quốc gia có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn 1945 – 1976, các hoạt động của VNDCCH trong giai đoạn này không ảnh hưởng tới sự liên tục của chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo này.

Ba là, việc kế thừa quốc gia đối với chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn 1945 – 1976 được thực hiện theo đúng luật pháp và tập quán quốc tế.

Bốn là, việc Trung Quốc chiếm đóng trái phép phần phía Đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, dùng vũ lực chiếm đóng trái phép phần phía Tây Hoàng Sa vào năm 1974 và một số thực thể trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào các năm 1988 và 1995 là trái với luật pháp quốc tế và không mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc. Vì vậy, những tuyên bố của Trung Quốc về bằng chứng Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong hồ sơ mà Trung Quốc trình lên Liên Hợp quốc ngày 9-6-2014 (12) là không có giá trị.

PGS, TS VŨ THANH CA
Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo,
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị
http://lyluanchinhtri.vn/…/1216-su-tiep-noi-chu-quyen-viet-…

_______________

Chú thích:

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2015

(1) Xem http://vi.wikipedia.org/wiki.

(2) Xem Gendreau M. C.: Chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Nguyễn Nhã: Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh, 2003.

(3)Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II, thành phố Hồ Chí Minh.

(4) Xem: http:// legal.un.org/ilc/texts/instruments/English/ conventions/3-2-1978.pdf.

(5) Xem: Công ước Montevideo 1933 về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia. Bản dịch Tiếng Việt.

(6), (7) Xem: Thái Văn Cầu: Công hàm 1958 và hai Nhà nước Việt Namhttp:// www.bbc.co.uk/vietnamese/ forum/2013/05/130508_cong_ham_hai_nuoc.shtml, năm 2014.

(8) Xem: Thái Văn Cầu: “Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa”, năm 2014.

(9) Xem: Hà Nội Mới, Số 2246, 2-5-1975.

(10) https://www.danluan.org/…/hiep-dinh-geneve-1954-va-hai-quoc… comment-123865, 2014.

(11) Xem: Dương Danh Huy: Đôi gót chân Achilles của chủ quyền. BBC, 2014.

(12) Xem: Letter dated 9 June 2014 from the Chargé d’affaires a.i. of the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General http:// www.un.org/ga/search/view_doc.

NỮ KHOA HỌC GIA GỐC VIỆT

                                  NỮ KHOA HỌC GIA GỐC VIỆT

         được xếp hạng trong nhóm những KHG có ảnh hưởng nhất thế giới

Tuổi thơ theo mẹ đi khắp nơi để kiếm sống, sang Mỹ thì bị bạn bè chê cười vì không biết tiếng Anh, nhưng Nguyễn Thục Quyên đã vượt qua tất cả và trở thành một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới. 

Giáo sư Nguyễn Thục Quyên sinh ra ở Ban Mê Thuật (Đắk Lắk) trong một gia đình thượng lưu gồm 5 anh chị em. Sau năm 1975, cha đi cải tạo, mẹ chị – một cô giáo dạy toán cấp 2, dẫn dắt đàn con đến các vùng kinh tế mới như Phước Lâm, Long Điền, Đất Đỏ, Phước Tỉnh và Vũng Tàu để sinh nhai. 

Lúc 5-6 tuổi, cô bé Quyên phải phụ giúp mẹ dọn dẹp nhà cửa, kiếm củi nấu cơm, đào khoai, câu cá, gánh nước… Cuộc sống cơm áo, gạo tiền cứ đeo bám cho đến năm 1986 khi gia đình mở tiệm phở ở Bến Đá – Vũng Tàu, Quyên mới được đi học ở trường Trung học Trần Nguyên Hãn.

Giáo sư Nguyễn Thục Quyên. 
Ảnh do nhân vật cung cấp.

                                 Nhọc nhằn nơi xứ người

Tháng 7/1991, chị cùng bố mẹ và 5 anh chị đến Mỹ định cư. Hai năm đầu, các anh chị em của chị Quyên cứ đòi về Việt Nam vì không biết tiếng Anh và phong tục tập quán Mỹ. Nhưng chị thấy ổn vì được làm điều mình thích mà không sợ người khác dị nghị. 

“Khi còn ở Việt Nam, gia đình đã vất vả rồi, nên khi sang Mỹ tôi phải cố gắng hơn rất nhiều để có được cuộc sống tốt hơn”, chị Quyên chia sẻ. Để tự khẳng định bản thân nơi đất khách quê người, chị đã quyết tâm học tiếng Anh thật nhanh bằng cách ghi tên ở ba trường trung học tại ba thành phố. Ở Mỹ, tiếng Anh được học miễn phí.

Vất vả với bao tủi nhục khi bị nhiều người coi thường càng khiến chị có thêm động lực vươn lên. 

“Có giáo viên chế nhạo tôi trước cả lớp vì khả năng nói tiếng Anh kém. Một ông người Mỹ còn nói thẳng với tôi hãy về nước của cô đi”, chị nhớ lại và cho biết ở Mỹ vẫn còn một số người phân biệt kỳ thị như vậy.

“Thậm chí có đồng nghiệp lúc ở trường không bao giờ nói chuyện với tôi mặc dù tôi đã cố gắng để nói chuyện với anh ta vài lần”, nữ giáo sư nói.

Tháng 9/1993, người cô họ cho chị ở cùng nhà, nhưng chị phải dọn dẹp, nấu nướng, đi chợ và chạy việc vặt cho cô. Thời gian này, chị xin học ở Đại học Santa Monica nhưng không được nhận vì tiếng Anh kém. Chị đã năn nỉ nhà trường cho học thử một kỳ và hứa nếu không học được sẽ trở về trường trung học để học thêm tiếng Anh. Ban ngày đi học, ban đêm chị tìm lớp học thêm ở trung tâm dạy tiếng Anh miễn phí. Với sự nỗ lực không ngừng nghỉ, cuối cùng chị cũng được nhận vào học. 

Thấy bố mẹ vất vả làm trong nhà hàng và ở hãng may, chị không cho phép bản thân thất bại mà cố gắng gấp đôi, gấp ba so với những bạn cùng trang lứa. Để có tiền học, chị xin làm thêm trong thư viện trường từ 17h đến 22h mỗi ngày, nhưng vẫn không đủ nên phải vay thêm tiền của Chính phủ.

Tháng 9/1995, chị xin chuyển lên Đại học Califonia, Los Angeles và làm thêm trong phòng thí nghiệm với công việc rửa dụng cụ. Chị xin làm nghiên cứu nhưng không có phòng thí nghiệm nào nhận. Sau khi tốt nghiệp bằng đại học Hóa năm 1997, chị nộp đơn học cao học. Chỉ trong một năm chị đã có bằng thạc sĩ ngành Lý – Hóa và quyết định học tiếp tiến sĩ. Thật bất ngờ, cuối năm của chương trình này chị là một 7 nghiên cứu sinh xuất sắc của Đại học Califonia, Los Angeles được trao học bổng.

Tháng 6/2001, chị nhận bằng tiến sĩ và ra trường trước cả những sinh viên chị từng rửa dụng cụ thí nghiệm cho họ trước đây. Ra trường chị đạt giải thưởng xuất sắc ngành Lý – Hóa. Tháng 9/2001, được giải thưởng của liên bang đi tu nghiệp ở phòng thí nghiệm quốc gia nhưng chị từ chối và đến làm ở Đại học Columbia, New York.

Ba năm sau chị bắt đầu làm việc ở Đại học California, Santa Barbara và mất hơn hai năm xây dựng hai phòng thí nghiệm riêng. Sau 11 năm, chị đã có 7 phòng thí nghiệm riêng cho nhóm nghiên cứu. Chị còn xin hơn 10 triệu USD cho những dự án nghiên cứu, được mời tới hơn 200 địa điểm trên thế giới để thuyết trình cũng như nhận nhiều giải thưởng lớn cho công trình nghiên cứu.

“Bạn bè tôi ở Việt Nam vẫn thường bảo hồi ở quê học dốt thế mà sao qua Mỹ học giỏi ghê thế. Tôi trả lời rằng ngày xưa làm gì có thời gian để học vì còn phải phụ giúp gia đình”, vị giáo sư nói.                                                                                   

Pin năng lượng mặt trời làm từ chất nhựa dẫn điện Nghiên cứu 
trong phòng thí nghiệm của giáo sư Nguyễn Thục Quyên. 

Ảnh do nhân vật cung cấp.

                 Những vất vả của phụ nữ khi làm khoa học

Giáo sư Quyên tâm sự, có được ngày hôm nay là nhờ sự dìu dắt của mẹ và người cậu ruột khi hướng cho chị đi theo con đường tốt nhất có thể. Trong khi bố cho rằng, con gái thì nên lấy chồng, không cần học, thì mẹ ngược lại. Chị còn nhớ ngày học xong lớp 12, chị đã xác định sẽ ở nhà và tính chuyện lấy chồng, nhưng mẹ vẫn đưa chị lên Sàigòn để thi đại học. 

“Mẹ đưa tôi lên Sàigòn ở nhà bà ngoại để thi đại học, nhưng tôi không muốn. Lớn lên và học ở trường làng tôi thấy ở tuổi 18 người ta đã lấy chồng và có con rồi”, chị nói.

Người cậu đã gọi chị đến nói chuyện hơn hai giờ, với mục đích khuyên chị đi thi và cố gắng vào đại học. 

“Tại sao có cơ hội như vậy mà cháu lại từ chối. Học đại học sau này cháu sẽ có công ăn việc làm ổn định, có sự nghiệp, nếu lấy được người tốt thì không sao…”, chị kể lại lời ông cậu. 

Lớn lên, người chị hâm mộ đó là bà Marie Curie, bởi thời đó khoa học gia là nữ rất ít. Bà chính là tấm gương vượt khó để chị tiếp tục cố gắng cho nghiên cứu khoa học.

Hơn 11 năm làm việc ở Đại học California, Santa Barbara, chị làm khoảng thời gian 15 tiếng mỗi ngày. Bên cạnh việc giảng dạy, chị còn làm nhiều công việc khác như biên tập báo khoa học, tổ chức hội nghị khoa học quốc tế, xin tiền dự án nghiên cứu trả lương, học phí, và bảo hiểm y tế cho sinh viên (mỗi nghiên cứu sinh tốn khoảng 100.000 đôla mỗi năm), hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu, giúp sinh viên viết bài đăng báo, làm trong ban xét lên lương và lên chức cho tất cả giáo sư trong trường, ban tuyển dụng giáo sư… 

Chị chia sẻ, làm khoa học đã khó nhưng phụ nữ trong lĩnh vực này càng vất vả hơn, bởi ngoài sự nghiệp, họ còn phải lo cho gia đình. Ngay bản thân chị, dù đã cố gắng rất nhiều nhưng đôi khi vẫn không nhận được sự tôn trọng của đồng nghiệp nam giới. 

“Cũng may tôi có người chồng tâm lý và thông cảm, anh dạy hóa hữu cơ cùng trường, luôn hỗ trợ nên tôi có thêm động lực để giảng dạy và nghiên cứu”, nữ giáo sư nói.

“Phần đông mọi người nghĩ con gái thì nên lo cho chồng con, dọn dẹp nhà cửa và không nên có sự nghiệp riêng. Tôi muốn cho những người phụ nữ khác biết là họ có thể làm cả hai. Tôi muốn làm những điều hữu ích cho xã hội”, chị nói.

Chị vẫn còn nhớ như in thời điểm bắt đầu vào học trong trường. Lúc đó chị xin vào phòng thí nghiệm nhưng không được vì nhiều người nghĩ chị không thể làm được điều gì và khuyên rằng “nghiên cứu không dễ dàng và không phải ai cũng làm được. Bạn nên tập trung để học tiếng Anh đi”. Mãi sau này, có vị giáo sư thấy chị có những câu hỏi hay trong lớp nên khuyến khích theo đường nghiên cứu. Biết được tin này chị rất vui vì từ bé đã thích tìm tòi những điều mới.

Đầu năm 2004, chị đi phỏng vấn ngành hóa ở một số trường đại học. Chị cũng rất sợ vì những trường này ngành hóa rất ít hoặc không có nữ giáo sư. 

“Con đường đi đến thành công ở Mỹ không phải dễ dàng vì quốc gia này thường thu hút nhà khoa học hàng đầu trên thế giới nhưng bản chất người Việt Nam thông minh và chăm chỉ”, vị giáo sư nói và cho rằng có công mai sắt có ngày nên kim. 

                                   Thích về Việt Nam

“Tôi nhớ Việt Nam lắm. Nếu có thời gian là tôi về ngay, bởi hiện nay anh em họ hàng, nhất là ông cậu – người đặt viên gạch đầu tiên trong cuộc đời khoa học của tôi vẫn ở quê hương”, nữ giáo sư tâm sự.

Lần đầu tiên chị và mẹ về Việt Nam là năm 1999 để thăm bà ngoại trong 3 tuần. 9 lần về nước ngoài dự hội nghị khoa học, chị dành thời gian để thăm gia đình.

Chị cho biết, thời gian 21 năm sống ở Việt Nam, chị nhớ món ăn thuần túy Việt Nam và các bài hát Việt, nên lần nào về nước chị cũng nhờ cậu mợ dẫn đi xem ca nhạc. 

“Tôi thích nhạc dân ca như bài Quê hương, Ai đưa con sáo sang sông”, chị nói. 

Khi hỏi ý định về Việt Nam sinh sống, chị nói : “Có lẽ khi nào về hưu tôi mới về nước, vì quê hương vẫn chưa có đủ cơ sở vật chất điều kiện tốt để tôi có thể nghiên cứu”, chị nói và cho biết 7 phòng thí nghiệm riêng của chị trị giá khoảng 4 triệu đôla.

Bên cạnh giải thưởng là một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới ngành khoa học vật liệu, chị còn nhận nhiều giải thưởng khác như:

– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Alexander von Humboldt-Foundation của Đức năm 2015; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ 2010, 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Alfred P. Sloan Foundation 2009; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Camille Dreyfus Foundation 2008; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Harold J. Plous Memorial Award and Lectureship 2007.

Phạm Hương

Từ : Minh Hoang & An Truong

Đà Nẵng: Cử tri bức xúc việc người Trung Quốc đứng tên đất ven biển

Trí thức Việt Nam
Cử tri cho rằng người Trung Quốc đứng tên đất ven biển tại Đà Nẵng là một thực trạng rất đáng lo ngại.

“Người Trung Quốc rót tiền mua đất là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng sốt đất, khiến nhiều người dân làm việc cả đời cũng không mua được một lô đất. Một tỷ đồng không mua được, họ sẽ bỏ ra 2 tỷ, 3 tỷ để mua đất thông qua người Việt mình” – cử tri Hồng nói.

ĐỪNG ĐỔ HẾT LỖI CHO GIỚI TRẺ!

Lê Vi
ĐỪNG ĐỔ HẾT LỖI CHO GIỚI TRẺ!

– Mạnh Kim

Phản ứng dư luận trên mạng xã hội trước sự kiện biểu tình Hong Kong là sự so sánh một cách máy móc giữa giới trẻ Hong Kong với giới trẻ trong nước. Thật ra gần như không có bất kỳ điểm nào khả dĩ đối chiếu, theo từng “hạng mục” – từ giáo dục, nếp sống đến môi trường chính trị… – để có thể so sánh. Ngay cả giới trẻ khu vực cũng khác biệt từ nền tảng căn bản khiến khó có thể so với giới trẻ Hong Kong, huống hồ thanh thiếu niên Việt Nam.

“Quý vị có nghe cháu nói không?” – Greta Thunberg hỏi 150 nghị sĩ và cố vấn trong Hạ viện Anh. Cô gái nhỏ gõ vào micro. Cô lại hỏi. “Các cô chú có nghe những gì cháu vừa nói không? Tiếng Anh của cháu nghe ổn chứ ạ?”… Thunberg là một hiện tượng. Cô học trò 16 tuổi người Thụy Điển này đang là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng toàn cầu. Tháng 12-2018, cô nói chuyện tại Hội nghị biến đổi khí hậu LHQ ở Ba Lan; tháng 1-2019, cô thuyết trình trước nhiều tỷ phú tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos (Thụy Sĩ). Tiếp đó, Thunberg bay sang London trong một tour diễn thuyết và gặp Đức Giáo hoàng. Chiến dịch đánh động nhận thức về tác hại của tình trạng biến đổi khí hậu, từ sự “xách động” của cô gái 16 tuổi, đã mang lại một hiệu ứng hưởng ứng dữ dội: ngày 15-3-2019, 1,6 triệu người tại 133 quốc gia – hầu hết sinh viên, học sinh – đã rủ nhau xuống đường để cùng lên tiếng.

Ngày 17-9-2019, nhà hoạt động Hoàng Chi Phong cùng các bạn mình dự một phiên điều trần trong Quốc hội Mỹ và sau đó tiếp xúc loạt nhân vật hàng đầu chính giới Hoa Kỳ. Hình ảnh Hoàng Chi Phong xuất hiện đầy mạng xã hội, với những “chú thích” quen thuộc: “Coi giới trẻ Hong Kong kìa; thật xấu hổ và nhục nhã cho giới trẻ Việt Nam!”. Tuy nhiên, điều gì đã “tạo ra” những Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong trong khi Việt Nam chỉ có những thanh niên xuống đường “đi bão” mừng chiến thắng bóng đá? Cần đặt ngược lại một câu hỏi quen thuộc: nếu Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong sinh ở Việt Nam thì liệu họ có thể trở thành những nhà hoạt động đang góp phần thay đổi thế giới và định hình nên một thế hệ mới của thế kỷ 21?

Vấn đề cần quan tâm thật ra không phải là hình ảnh cá nhân của Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong mà là môi trường nào đã tạo ra những nhân vật tài không đợi tuổi, mà ảnh hưởng của họ không chỉ đánh động nhận thức ở “người lớn” đối với những vấn đề lớn lao mà thế giới đang đối mặt. Từ chính họ, họ cũng đang gián tiếp đưa ra một thách thức mà “người lớn” ít thấy: “người lớn” cần làm gì để có thể tạo ra một xã hội có nhiều hơn những phiên bản Greta Thunberg và Hoàng Chi Phong khác.

Hoàng Chi Phong bắt đầu trở thành “thủ lĩnh” từ năm 14 tuổi, khi thành lập tổ chức “Học dân tư triều” (Scholarism – lấy cái sự học đích thực làm tôn chỉ), nhằm phản đối chủ trương “cộng sản hóa” hệ thống giáo dục Hong Kong. Chỉ một câu trong chủ trương mới, nói về Đảng Cộng sản Trung Quốc – “Tấn bộ, vô tư dữ đoàn kế đích chấp chánh tập đoàn” (nhóm lãnh đạo thống nhất trên tinh thần tiến bộ và vô tư) – đã đủ để khiến Hoàng Chi Phong bất bình và bỏ hết tất cả thú vui tuổi thiếu niên để ra đường kêu gọi xã hội thức tỉnh trước nguy cơ không chỉ giáo dục mà cả hệ thống chính trị Hong Kong bị “đỏ hóa”.

Trong khi đó, cái gọi là “tấn bộ, vô tư dữ đoàn kế đích chấp chánh tập đoàn” ở Việt Nam đã không chỉ ăn sâu bám rễ trong chủ trương giáo dục mà nó còn biến giới trẻ trở thành những sản phẩm chính trị được đúc khuôn “sản xuất” hàng loạt. Giới trẻ Việt Nam không biết họ đã bị tước mất những gì. Từ lớp một đến khi tốt nghiệp đại học, thanh thiếu niên Việt Nam không bao giờ được bàn về chính trị, tự do ngôn luận và bầu cử dân chủ. Trong khi trong trường học Hong Kong, thầy cô giáo khuyến khích học sinh thảo luận chủ đề Hoàng Chi Phong, về biểu tình dân chủ, về quyền biểu đạt, thì “chính trị” trong nhà trường Việt Nam là chính là thứ mà người Hong Kong đang phản kháng quyết liệt: “yêu nước” đồng nghĩa với trung thành tuyệt đối với đảng cầm quyền.

Các “sinh hoạt chính trị” đối với thanh thiếu niên Việt Nam là sinh hoạt đoàn thể dưới sự dẫn dắt của tổ chức Đoàn và Đội, trong đó, ngoài những hoạt động vui chơi tập thể vô thưởng vô phạt thì là các cuộc thi “học tập theo gương Bác”. “Trách nhiệm” đối với đất nước của thanh niên trong đất nước cộng sản Việt Nam không phải là xây dựng nên nhận thức dưới ánh sáng dân chủ mà “phải được hiểu” là “ra sức gìn giữ cho bằng được những thành quả cách mạng vĩ đại, mỗi thanh niên Việt Nam phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của thế hệ cha anh, xứng đáng với sự tin yêu và kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và của cả dân tộc Việt Nam” (trích phát biểu của Nguyễn Đào Phương Thúy, sinh viên năm IV, ĐH Luật TP.HCM, dịp 30-4-2015).

Nhận thức gì và như thế nào luôn là kết quả của những “thực phẩm” được cung cấp để nuôi nó. Giới trẻ Việt Nam đang là nạn nhân. Không thể đổ hết lỗi lên đầu họ. Nhận thức của họ sẽ khác đi một khi họ được “nuôi” bằng những “thực phẩm” khác, mang hàm lượng và giá trị của một xã hội có tự do và dân chủ đích thực. Hành động của họ sẽ khác một khi họ được sống trong môi trường có nhiều không gian tư duy và hành động hơn. “Bây giờ tôi đang nói cho cả thế giới nghe!” – Hoàng Chi Phong nói, trong một trả lời phỏng vấn báo chí. Chừng nào giới trẻ trong nước có một đại diện được ra nước ngoài nói cho “cả thế giới nghe” về ước vọng dân chủ cho quê hương mà không bị nhà cầm quyền ngăn cản?

Thế hệ trẻ Việt Nam không phải không có người tài. Đã có những doanh nhân trẻ, nhà nghiên cứu trẻ, vận động viên trẻ và cả “nhà chính trị” trẻ. Tuy nhiên, với chính trị, “chính trị gia” trẻ chỉ có thể thành công nếu thuộc thành phần con ông cháu cha, còn không, có một chỗ khác dành cho họ: nhà tù. Trong một mô hình cai trị (hệt như Trung Quốc) được thiết kế bằng sự đe dọa và trấn áp tinh thần, cả xã hội đều bị tác động, không chỉ riêng giới trẻ.

Thế hệ trẻ Việt Nam thật ra không hoàn toàn thờ ơ đề tài chính trị. Mạng xã hội đang dần tạo ra nhận thức khác với “đường lối và chủ trương” mà đảng cầm quyền muốn. Thay vì “nguyền rủa” giới trẻ và chỉ trích sự “vô ý thức và vô trách nhiệm” của họ, “người lớn” có lẽ nên nhận lãnh một phần trách nhiệm. Giới trẻ là nạn nhân của chế độ nhưng để chế độ nhấn chìm và làm đen kịt nhận thức giới trẻ thì đó là lỗi của “người lớn”. Có bao giờ “người lớn” chúng ta, ngồi trên bàn ăn gia đình, nói chuyện với con cái rằng chúng đang bị chế độ tước đi mất những quyền gì, hay là chỉ hỏi chúng những câu quen thuộc “hôm nay đi học được bao nhiêu điểm”? Có bao giờ “người lớn” mang đề tài Hoàng Chi Phong ra nói với con mình, hoặc kể cho nó biết có một cô bé Greta Thunberg 16 tuổi đang làm chấn động thế giới?

Trong chiếc hộp với diện tích được cái “tấn bộ, vô tư tập đoàn” cho phép, giới trẻ chỉ có thể tư duy trong khuôn khổ cái hộp và hành động quanh quẩn trong cái hộp. Nhà trường, mô hình thu nhỏ của một phần chế độ cai trị, đang tước đi sự sáng tạo và cảm hứng tuổi trẻ, đang làm “phi chính trị” hóa trong nhận thức từ thế hệ trẻ này đến thế hệ tiếp theo. Điều đó, cho đến thời điểm này, là chưa thể thay đổi. Tuy nhiên, tạo ra những chiếc hộp khác để giúp giới trẻ có được không gian tư duy độc lập rộng hơn là điều có thể làm được. Điều đó cần bắt đầu từ chính “người lớn”, trong từng gia đình, và cần ngay bây giờ.

– Greta Thunberg (Getty Images)
– Nhóm vận động Hong Kong gặp Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi một ngày sau phiên điều trần Quốc hội 17-9-2019 (ảnh từ trang twitter của bà Pelosi)

…..

Vấn đề này đã có viết một lần, xin mời xem lại:
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10158218630604796&set=a.10151549756699796&type=3&theater

Image may contain: 6 people
Image may contain: 8 people, people standing and suit

NHƯ PHIM ‘NGÀY TẬN THẾ’

Minh Tiến 

Trên thế giới không nước nào làm được…

Image may contain: 3 people, people standing, shoes and outdoor
Image may contain: one or more people, shoes and outdoor
Image may contain: one or more people, sky, plant, shoes, cloud, tree, outdoor, nature and water
Image may contain: one or more people, people standing, sky, tree, child, bridge, outdoor and nature
Image may contain: outdoor
+2
Lê Huỳnh Long Ân

NHƯ PHIM ‘NGÀY TẬN THẾ’

Tuyến đường tránh Hồ Chí Minh đoạn chạy qua địa bàn huyện Chư Sê, chỉ dài 10,8 km được đầu tư đến 250 tỷ, vừa hoàn thành chưa kịp bàn giao đã nứt toác, sụt lún tan tành như vùng chiến địa vừa bị B-52 rải thảm chỉ sau một trận mưa rào.

Được biết đây là tác phẩm của Công ty cổ phần 471 Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

https://nld.com.vn/…/duong-tranh-250-ti-dong-vua-hoan-thanh…

TỘI PHẠM NGƯỜI TQ – MỘT ĐẠI HOẠ CHO VN, HẬU QUẢ CỦA HIỆP ƯỚC DẪN ĐỘ VN-TQ 2015?

Trần Bang is with TranBang Jos and 7 others.

TỘI PHẠM NGƯỜI TQ – MỘT ĐẠI HOẠ CHO VN, HẬU QUẢ CỦA HIỆP ƯỚC DẪN ĐỘ VN-TQ 2015?

Hơn một tháng qua, tội phạm người TQ, đã lộng hành, liên tục, giật cấp; báo hiệu một đại hoạ cho đất nước!

*Xin lược chứng:
– Ngày 1/8/ 2019, bắt giữ và trao trả 395 người TQ, tổ chức đánh bạc, tại Hải phòng, số tiền lên tới 10.000 tỉ đồng.

– Ngày 6/8 phá vụ án nhóm người TQ, sản xuất ma tuý, tại Đắc Hà, Kon Tum, bắt giữ, trao trả 22 người, thu giữ 13 tấn hoá chất.

– Ngay 11/8, ba người TQ, giết tài xế taxi ở Bắc Giang, vứt xác xuống sông Đà, bị CA Sơn La bắt giữ, trao trả cho TQ.

– Ngày 27/8, bắt giữ, trao trả 28 người TQ, điều hành sàn chứng khoán giả, tại Móng Cái, Quảng Ninh.

– Ngày 11/9, bắt giữ 6 người TQ và 2 kho hoá chất để sản xuất ma tuý, tại Quy Nhơn, Bình Định.

– Ngày 14/9, bắt 5 người TQ, trả tiền để giao cấu với trẻ em Việt (tuổi vị thành niên), quay clip sex, tại Sơn Trà, Đà Nẵng, đưa lên mạng TQ.

– Ngày 16/9, CA.TP. Vinh, Nghệ An, bắt giữ, 3 người TQ, làm giả 333 thẻ ATM và đã rút tiền hàng trăm triệu đồng.

– Ngày 17/9, CA, Q2, TPHCM, triệt phá đường dây cho vay nặng lãi, của 6 đối tượng người TQ.

– Ngày 17/9, CA Q. Ngũ Hoành Sơn, Đà Nẵng bắt giữ và trao trả 34 người TQ, thuê nguyên KS, tổ chức thao túng chứng khoán qua mạng…

Trước đó, đã vô vàn đối tượng người TQ, phạm tội, mọi lúc, mọi nơi; mọi chiêu thức, thủ đoạn.

Ví như: sử dụng Công nghệ cao, giả danh Cảnh sát, để lừa đảo. Buôn bán ma tuý, buôn bán người, bán vàng giả, hàng giả, trộm cắp xe máy, trộm tiền. Vv…

Càng ngày, chúng càng lộng hành, rộng khắp, tinh vi, hiểm độc…

Thế nhưng, rất nghịch lý, trớ trêu: phía VN chỉ phạt hành chính tượng trưng, rồi tha bỗng về nước. Bởi, cái gọi là Luật dẫn độ, đã ký với TQ ngày 7/4/2015 và Quốc hội nước này, đã phê duyệt ngày 26/8/2019 (theo luật, người TQ, phạm tội ở VN, được trao trả cho phía TQ, tự xử lý).

Tội phạm người TQ, đang tàn phá đất nước là có thật. Việt Nam tha bỗng tội phạm người TQ là có thật. Chủ quyền đất nước, bị xâm hại là có thật. Luật dẫn độ, phía TQ, thông qua Quốc hội, phía VN, không thông qua Quốc hội, là có thật.

Tất cả đều là sự thật- một sự thật cay đắng!
—-

*Bài viết của TS. Nguyễn Quang Cương

*Ghi chú: Nhân dân, lãnh thổ Hồng Kông, đã vùng lên đấu tranh, cũng vì dự luật dẫn độ, tương tự. ( FB Bảo Nhi Lê)

Image may contain: 1 person, smiling, text

Rửa tiền và sửa thống kê

Rửa tiền và sửa thống kê

Nguyễn Xuân Nghĩa
2019-09-18
Ảnh bìa của Global Finacial Integrity

Ảnh bìa của Global Finacial Integrity

 Ảnh chụp qua màn hình

Theo Tổ chức Liêm chính Toàn cầu, Việt Nam nhận được dòng tiền phi pháp lớn nhất trên thế giới vào năm 2015, với con số bất ngờ là 22 tỷ 456 triệu đô la Mỹ. Năm 2015 cũng là khi Thủ tướng Hà Nội có quyết định rà soát lại số thống kê khiến đầu Tháng Chín, Tổng cục Thống kê đã nâng Tổng sản lượng GDP thêm hơn 25%. Vấn đề không chỉ có vậy vì theo báo cáo của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đứng dưới mức trung bình toàn cầu về tự do kinh tế và tự do cá nhân nhưng có hạng mục cao về tham nhũng. Diễn đàn kinh tế sẽ tìm hiểu mấy chuyện này….

Tổ chức Liêm chính Toàn cầu

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, Hoa Kỳ có một tổ chức bất vụ lợi tên là Global Financial Integrity mà ta có thể dịch là “Tổ chức Liêm chính Toàn cầu”, từ năm 2008 đã khảo sát dòng tiền ra vào các nước đang phát triển để phát giác nghiệp vụ chuyển tiền phi pháp. Sau khi khảo sát tình hình của 148 nước đang phát triển trong giai đoạn 10 năm, từ 2006 tới 2015, họ ngạc nhiên về trường hợp Việt Nam, là nước đứng đầu thế giới về dòng tiền phi pháp vào năm 2015 với ngạch số là gần 22 tỷ rưỡi, tính bằng đô la. Ông nghĩ sao về chuyện này?

https://secureservercdn.net/45.40.149.159/34n.8bd.myftpupload.com/wp-content/uploads/2019/01/GFI-2019-IFF-Update-Report-1.29.18.pdf?time=1568380020

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin phép nhìn rộng ra ngoài trước khi nói chuyện đó. Quốc tế có nhiều tổ chức vẫn khảo sát tình hình kinh tế xã hội của các nước, như mức độ tự do kinh tế, dân chủ chính trị và sự thanh liêm của các nước, v.v…. Sở dĩ như vậy vì người ta thấy ra mối quan hệ giữa mức sống của người dân với các quyền tự do kinh tế, dân chủ chính trị hay sự liêm chính, ít bị tham nhũng của bộ máy nhà nước. Tôi lấy thí dụ là Viện Cato, Sáng viện The Heritage Foundation và tờ Wall Street Journal tại Hoa Kỳ hay Transparency International tại Đức mà ta có thể dịch là Tổ chức Minh bạch Quốc tế.

Lãnh đạo Hà Nội đừng nên mặc cảm và nói phét với dân về chủ nghĩa Mác-Lênin vớ vẩn mà kiểm lại 12 tiêu chuẩn củaThe Heritage Foundation  để tiến hành cải cách thì khỏi tụt hậu so với các nước láng giềng.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

– Ở đây, tôi nghiệm thấy ba chuyện. Thứ nhất, các tổ chức ấy xuất hiện từ khá lâu tại các nước công nghiệp hóa, nhưng lại nhắm vào mục đích thăng tiến về kinh tế và pháp chế cho người dân tại các nước đang phát triển nên họ áp dụng và cải tiến kỹ thuật thăm dò để phản ảnh thực tế cho chính xác với nội dung cảnh báo.

– Thứ hai, các nước độc tài thì chẳng thể nào có được loại tổ chức thiện chí như vậy và rất phản cảm với các công trình khảo sát ấy. Thứ ba, sau khi đổi mới kinh tế và giao tiếp với bên ngoài, Việt Nam cũng đã được khảo sát, nhưng vẫn ở mức quá thấp về tự do kinh tế, tự do chính trị mà lại quá cao về tham nhũng, như ở hạng 117 trong 180 nước được Tổ chức Minh bạch Quốc tế khảo sát năm 2018.

Nguyên Lam: Theo như ông nghĩ, vì sao các nước giàu lại lập ra những tổ chức như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Trước khi trở thành giàu có, các quốc gia đó cũng là loại chậm tiến, lạc hậu, nghèo đói và gặp nạn bất công xã hội, thậm chí cách mạng và tàn sát. Nhưng sau nhiều thế kỷ canh tân, họ dần dần tìm ra chìa khóa của phát triển để thành quốc gia tiên tiến. Rồi họ nghĩ rộng ra ngoài và chia sẻ kinh nghiệm với các nước nghèo khả dĩ thế giới hợp tác với nhau trong điều kiện tôi xin gọi là “tối hảo” là tốt đẹp cho mọi người. Các nước đi sau đã tiến khá nhanh về kinh tế nhờ kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến. Nhưng đấy mới chỉ là lượng, chưa có phẩm, nếu thiếu cơ chế luật lệ nhằm phát huy quyền tự do kinh tế, chính trị, sự công bằng trong một xã hội không bị tham nhũng hay ô nhiễm môi sinh đục khoét. Cũng theo chiều hướng này, Liên Hiệp Quốc đã lập ra “Chỉ số Phát triển Nhân loại” hay Phát triển Con người là Human Development Index để bao gồm các yếu tố ngoài lợi tức, như tỷ lệ biết chữ hay tuổi thọ, v.v…

– Trong các nước đã phát triển, loại tổ chức vô vụ lợi như chúng ta vừa nói được lập ra và hoạt động nhờ đóng góp tài chính tự nguyện của người khác nên có thể tuyển mộ chuyên viên có khả năng thực hiện các công trình nghiên cứu và khảo sát. Các tổ chức ấy không kiếm lời nhờ hoạt động thiện nguyện. Cái lời nếu có là về uy tín nhờ giá trị chuyên môn của việc nghiên cứu và về lý tưởng tự do, công bằng mà họ ấp ủ và muốn chia sẻ cho người khác.

Vì sao Việt Nam vẫn nghèo?

Nguyên Lam: Theo như Nguyên Lam hiểu thì mức thành công về kinh tế của các nước tùy thuộc vào quyền tự do chọn lựa và giao dịch của người dân trong một khuôn khổ công khai, minh bạch và bình đẳng. Phải chăng đấy là ý nghĩa của tiêu chuẩn “tự do kinh tế” và thưa ông, Việt Nam đứng hạng quá thấp về tiêu chuẩn này nên vẫn là một nước nghèo?

Nguyên TBT đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng (phải) sống ttrong cảnh xa hoa khi đã về hưu.
Nguyên TBT đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng (phải) sống ttrong cảnh xa hoa khi đã về hưu. File Photo

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chỉ số này do The Heritage Foundation lập ra từ 25 năm qua gồm 12 tiêu chuẩn như quyền tư hữu, khả năng của hệ thống tư pháp, sự liêm khiết của bộ máy công quyền, gánh nặng thuế khóa và quyền tự do lao động, v.v… Từng nước có thay đổi theo thời gian và Việt Nam đã khá hơn so với 20 năm trước. Nhưng theo không gian thì Việt Nam dưới mức trung bình toàn cầu, thậm chí còn dưới Trung Quốc và điều ấy cũng phần nào giải thích vì sao dân Việt vẫn còn nghèo nếu so sánh với các nước nghèo đã trở thành tiên tiến như Nam Hàn hay Đài Loan.

– Tôi nghĩ lãnh đạo Hà Nội đừng nên mặc cảm và nói phét với dân về chủ nghĩa Mác-Lênin vớ vẩn mà kiểm lại 12 tiêu chuẩn này để tiến hành cải cách thì khỏi tụt hậu so với các nước láng giềng.

Nguyên Lam: Trở lại báo cáo của tổ chức Liêm chính Tài chính Toàn cầu, theo đó Việt Nam đã có dòng tài chính phi pháp lên tới hơn 22 tỷ đô la khi sản lượng kinh tế vào thời đó mới chỉ ở khoảng hơn 200 tỳ, ông có những nhận xét gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tai hại vô cùng vì cho thấy bộ máy hành chính công quyền bất lực và có quá nhiều viên chức bất lương nên mới để xảy ra chuyện đó.

– Kẻ gian trục lợi bất chính có nhiều lý do, kể cả rửa tiền và nhất là rửa tiền của Trung Quốc chảy vào Việt Nam. Nhưng hiện tượng ấy đã có từ lâu, nay sẽ gia tăng vì trận thương chiến giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc. Ngoài ra, kẻ gian còn có thể chuyển tiền từ Việt Nam ra ngoài rồi sau khi rửa sạch thì đầu tư ngược vào trong nước để nhà nước có những thống kê khoe khoang.

– Hậu quả chung là những con số không đáng tin về Tổng sản lượng GDP, là nạn bất công xã hội vì nhà nước bị thất thâu về thuế nên mắc nợ, thiếu ngân sách  cho các mục chi xã hội như giáo dục và y tế, hoặc các dự án xây dựng hạ tầng trong khi các đại gia tỷ phú ở trong và ngoài đảng mặc sức phe phẩy tung hoành. Giữa các chỉ số tồi tệ về kinh tế và xã hội Việt Nam, việc Tổ chức Liêm chính Tài chính Toàn cầu GFI công bố kết quả khảo sát vào đầu năm nay phải làm Hoa Kỳ chú ý và nên làm các viên chức của Hà Nội tỉnh giấc mộng du về chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thống kê Việt Nam: một chút lạc quan!

Nguyên Lam: Trong nhiều chương trình trước đây, ông đã nói về hiện tượng thiếu khả tín, không đáng tin, của thống kê Trung Quốc. Theo như ông nghĩ, liệu rằng Việt Nam có thoát khỏi tình trạng đó hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Lần đầu tiên tôi hơi lạc quan một chút về Việt Nam!

– Thống kê của Trung Quốc không đáng tin vì bị bảy bệnh ung thư. Thứ nhất, quốc tế thiếu am hiểu địa dư hình thể xứ này nên không thấy họ có ba nền kinh tế khác biệt trên một lãnh thổ rộng lớn bằng lãnh thổ Hoa Kỳ, chứ không chỉ có vùng duyên hải là nơi các doanh nghiệp quốc tế đầu tư để kiếm tiền. Quốc tế không nhìn ra thực tế nghèo nàn lạc hậu của một khu vực bát ngát bên trong.

So với nước láng giềng hung hiểm tại phương Bắc thì bệnh thống kê sai lạc của Việt Nam vẫn chưa đến nỗi nào và còn có thể sửa được, nếu lãnh đạo Hà Nội muốn sửa. Việc cần sửa đầu tiên là nên học cách nói thật, cho chính mình biết được tật bệnh ở đâu!
-Nguyễn Xuân Nghĩa

– Thứ hai, quốc tế đánh giá sai mâu thuẫn rất lớn và thật ra rất cổ điển giữa trung ương và địa phương tại Trung Quốc nên không thấy rằng vì lý do chính trị cải cách là điều khó. Quốc tế cho rằng chế độ độc đảng toàn trị có ưu điểm là muốn làm gì cũng được là điều ông Tập Cận Bình đang thấy là sai vì có nhiều điều mốn làm mà chưa được!

–  Bệnh ung thư thứ ba, nhiều doanh nghiệp đầu tư che giấu sự thất bại của họ mà cố quảng cáo về triển vọng Trung Quốc với các thân chủ ủy thác tiền đầu tư vào xứ này. Loại gian ý như vậy không phải là hiếm nếu chúng ta nhớ lại vụ khủng hoảng tài chánh sau khi thị trường gia cư Hoa Kỳ bị bể bóng cách nay 12 năm.

– Thứ tư, nhiều trung tâm nghiên cứu hay think tanks không dám nói thẳng về sự thật vì sợ phản ứng của lãnh đạo Bắc Kinh khiến họ khó ra vào Trung Quốc để trở thành “chuyên gia về Trung Quốc” về nhà lỏe bịp người khác.

– Thứ năm, trong số này, không thiếu gì người thực tin vào lý luận tuyên truyền của Bắc Kinh, vì vậy, số liệu giả tạo của Trung Quốc cứ được họ loan truyền mà khỏi kiểm chứng. Và truyền thông nông cạn lại tin vào “sự khách quan” của họ.

– Thứ sáu, khá chuyên môn, giới học giả Hoa Kỳ và Âu Châu thiếu kiến thức về kinh doanh và kế toán nên chẳng thấy nạn sản xuất dư thừa không là tăng sản lượng mà chỉ là chất lên tồn kho ế ẩm được tài trợ bằng một núi nợ. Họ không tin Trung Quốc mắc nợ nhiều như vậy khi vẫn sản xuất từng núi hàng vô dụng, có các trung tâm thương mại vắng khách, nhiều khu vực gia cư sụt giá từ mấy năm nay.

– Bệnh ung thư sau cùng là nhiều trí thức thiên tả Tây phương luôn luôn tin vào vai trò của nhà nước. Họ tưởng là vì nhà nước Bắc Kinh có toàn quyền nên có khả năng quản trị cao hơn nhà nước Tây phương. Những vụ khủng hoảng tài chánh tại Âu Châu hay tranh luận chính trị tại Hoa Kỳ ngày nay càng củng cố lập luận sai lầm ấy của giới trí thức khuynh tả. Đa số truyền thông cũng thiên tả nên có sự đánh giá thiên lệch mà không biết!

– So với nước láng giềng hung hiểm tại phương Bắc thì bệnh thống kê sai lạc của Việt Nam vẫn chưa đến nỗi nào và còn có thể sửa được, nếu lãnh đạo Hà Nội muốn sửa. Việc cần sửa đầu tiên là nên học cách nói thật, cho chính mình biết được tật bệnh ở đâu!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích của tuần này.