CHUYẾN BAY CUỐI CÙNG TỪ ĐÀ NẴNG 

Bài này trich từ cuốn ” Nước mắt trươc cơn mưa ” của Larry Engelmann

Do Nguyễn Bá Trạc  dịch.

PART 1

CHUYẾN BAY CUỐI CÙNG TỪ ĐÀ NẴNG 

JAN Wollett

 (Nữ Trưởng Tiếp Viên Hàng Không) 

“Tại sao họ bắn? Chúng tôi là những người bạn tốt”

Ngày 29/3/1975 đáng lẽ nhân viên khách sạn Sài Gòn phải đánh thức tôi dậy lúc 5 giờ sáng . Tôi là tiếp viên trưởng của một chuyến bay khứ hồi ra Đà Nẵng . Nhưng 5 giờ sáng hôm ấy không có ai đánh thức tôi dậy. Khoảng 6 giờ sáng mới có điện thoại của Val Witherspool, một nữ tiếp viên khác. Cô ấy bảo: “Chị xuống ngay phòng đợi khách sạn trong vòng 5 phút.” Khoác bộ đồng phục, tôi lập tức chạy xuống cầu thang. Ông Ed Daly và Val đang chờ tôi ở dưới nhà. Bruce Dunning, làm việc cho hãng tin CBS cũng đã có mặt. Tôi bảo Bruce: “Bọn này phải ra Đà Nẵng”. Anh ta nói: “Có tin thành phố này rơi vào tay Bắc Việt rồi” Tôi nói: “Nếu thành phố này đã mất thì chúng tôi đâu có đi” Bruce yêu cầu được đi theo chuyến bay. Ông Daly bảo: “Muốn đi thì đi. Có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất trong vòng một giờ đồng hồ nữa.”

Bruce tập họp Mike Marriotte, chuyên viên quay phim và Mai Văn Đức, chuyên viên âm thanh, rồi chở họ ra phi trường. Chúng tôi bước lên chiếc World Airway Boeing 727. Là tiếp viên trưởng, tôi được thông báo là sẽ có một hay hai tiếp viên người Việt đi thông dịch, sẽ có binh sĩ bảo vệ để đương đầu với đám đông. Hôm trước, chúng tôi đã gặp khó khăn ở Đà Nẵng, và chúng tôi cũng sẽ phải mang theo nước ngọt, nước cam, bánh mì săng-uých cho hành khách.

Vừa vào phi cơ, tôi nói với Val và Atsako Okuka, một nữ tiếp viên khác: “Các bạn hãy xem xét ngay mọi thứ.” Chúng tôi thấy không có đồ ăn thức uống. Đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết một cái gì bất thường đang xẩy ra…Không nước ngọt, không nước cam, không bánh mì, không đồ ăn thức uống trên phi cơ. Cũng không có tiếp viên người Việt, cũng chẳng có binh sĩ bảo vệ nào hết.

Chúng tôi thảo luận xem có nên bay ra hay không. Lúc ấy Daly và phi hành đoàn đã lên phi cơ rồi. Dunning và toán làm tin CBS cũng vậy. Hai nhân viên cơ quan USAID leo lên. Họ trấn an chúng tôi là mọi việc ở Đà Nẵng cũng tốt thôi, không cần gì đến binh sĩ bảo vệ.

Lúc đó 8 giờ sáng, quá muộn so với giờ ấn định máy bay cất cánh. Ông Daly quyết định cứ đi Đà Nẵng để đón một số người tỵ nạn gồm đàn bà và trẻ em mà khỏi cần đến binh lính hộ tống hay thông dịch viên.

Chuyến bay ra khá êm. Chúng tôi mang theo một nhà báo người Anh và một người nữa của hãng tin UPI. Trong chuyến bay chúng tôi chuyện trò thân mật với nhau.

Phi cơ bắt đầu đổi cao độ để hạ xuống Đà Nẵng. Theo kế hoạch, sau chúng tôi 20 phút sẽ có một chuyến World Airway 727 khác do Don McDaniel lái. Sau anh ta, lại một chuyến 727 nữa do Dave Wanio điều khiển. Chúng tôi dự tính sẽ đậu từ 10 đến 15 phút để lấy khách rồi cất cánh, để chuyến thứ hai, rồi thứ ba đáp xuống. Với cách ấy chúng tôi có thể đem đi được 3 chuyến trong vòng dưới một tiếng đồng hồ.

Nhưng khi hạ cánh có một cái gì rất lạ lùng.

Không hề thấy một bóng người.

Không một ai, cả phi trường hoàn toàn hoang vắng. Đột nhiên trong lúc phi cơ đang “chạy taxi” trên đường vào bến, đoàn người chợt xuất hiện. Họ chạy ào ra từ những nhà chứa máy bay, Hàng ngàn con người-tôi nói đúng nghĩa là hàng ngàn con người đua nhau chạy đến chúng tôi- Họ chạy bộ, chạy xe gắn máy, chạy xe thùng, xe Jeep, xe hơi, xe đạp…Họ chạy đến phía chúng tôi bằng bất cứ phương tiện nào họ kiếm được.

Chúng tôi đã có một kế hoạch là ông Daly và Joe Hrezo, trưởng trạm của hãng World Airways sẽ ra khỏi phi cơ. Họ sẽ lo việc sắp hàng hành khách ở lối vào cầu thang phía sau. Tôi sẽ đứng ở phía trước phi cơ, Atsaco ở giữa còn Val đứng ở khoảng sau.

Chúng tôi cho phi cơ chậm lại. Lúc ấy tôi đang đứng trong phòng lái nhìn ra cửa sổ trước, chợt thấy có điều kỳ lạ. Một nhóm người lái chiếc xe vận tải nhỏ đuổi bên cạnh chiếc tàu bay. Một người đàn ông nhảy khỏi xe, chạy đến trước chúng tôi. Tôi nhìn về phía anh ta, lúc ấy chúng tôi đang đi chậm, anh ta rút một khẩu súng lục, bắn vào chúng tôi.

Đột nhiên tôi có cái cảm giác kinh dị y như đang đứng giữa khung cảnh của một phim cao bồi. Tôi đã nghĩ rằng: “Tại sao họ bắn chúng tôi? Chúng tôi là những người bạn tốt!”

Chúng tôi cho tàu chạy khỏi người đàn ông có súng và đi chậm lại ở phía xa. Bây giờ tôi bắt đầu chờ người khách đầu tiên lên phi cơ. Chúng tôi dự tính sẽ cho họ ngồi vào ghế, bắt đầu từ những hàng trước, lần lượt đến phía sau, sẽ sắp đặt họ trong vòng trật tự.

Rồi những người lính bắt đầu lên.

Họ chạy xồng xộc với cặp mắt man dại. Chừng chín người lính đã lên, tôi xếp họ ngồi vào ghế. Rồi người thứ mười lên, nhưng hắn không chịu ngồi. Hắn bị kích động, cứ chạy lên chạy xuống la lớn bằng tiếng Anh: “Bay đi! Bay đi! Bay đi! Chúng nó sắp pháo kích vào phi trường kìa!” Hắn cứ la hét như thế mãi. Tôi nắm lấy hắn, tôi cũng hét lên: “Im mồm, tôi bảo ông ngồi đâu thì ông ngồi xuống đó.” Tôi đẩy hắn xuống ghế.

Nhưng có điều lạ: rất ít người lên phi cơ. Vì vậy tôi nghĩ cần phải ra sau xem có chuyện gì…Tôi thấy Daly dưới chân cầu thang đang bị dằn xé. Áo ông rách vụn. Joe Hrezo biến đâu mất. Val đang cố giúp Daly lôi người lên cầu thang trong lúc tàu bay cứ tiếp tục chạy trên phi đạo. Còn dưới chân thang, hàng trăm người tuyệt vọng, điên cuồng, la hét cố bấu víu lấy Val và Daly. Đoàn người tiến đến không ngừng. Họ từ khắp phía, chạy đến cầu thang không ngớt. Tôi leo xuống. Daly ở dưới thang, ông cố lập trật tự bằng khẩu súng lục vung lên trời. Val cố giúp những người đang leo qua cạnh cầu thang. Một gia đình 5 người chạy đến phía tôi cầu cứu. Đó là bà mẹ, ông bố, hai đứa con nhỏ, một trẻ sơ sinh còn ẵm trên tay mẹ. Tôi có thể nhìn rõ nét sợ hãi trên khuôn mặt khi họ cố chạy đến phía tôi. Tôi quay lại định nắm tay người mẹ kéo lên. Trước khi tôi kịp nắm tay bà, một người đàn ông đứng sau đã nổ súng vào 5 người này. Họ ngã gục cả xuống, đám đông đạp ngay lên xác họ. Cái hình ảnh cuối mà tôi thấy là họ biến mất dưới chân đám đông. Chỉ vài tiếng nổ lớn, họ biến mất, tất cả những người ấy. Còn gã đàn ông vừa bắn xong đã đạp ngay lên thân họ để leo tới cầu thang. Hắn đè lên mọi người, chạy vào lòng phi cơ. Tất cả mọi thứ quá sức hỗn loạn điên cuồng. Tôi còn nhớ vào giây phút điên dại ấy, tôi nghĩ: “Chốc nữa sẽ tính chuyện này”, tôi tiếp tục kéo người lên phi cơ. Chợt cảm thấy một người đàn bà đang níu tôi từ phía hông cầu thang, bà nắm cánh tay tôi, cố lọt lên bực thang. Tôi muốn giúp bà ta nhưng cũng sợ bị rơi tuột khỏi thành cầu. Tôi bèn quay lại nắm cánh tay người đàn bà, kéo qua thành cầu. Nhưng một người đàn ông ở phía sau đã níu lấy, giựt bà khỏi tay tôi. Khi bà rơi xuống, người đàn ông kia đạp ngay lên lưng, lên đầu người đàn bà để leo lên thang. Hắn dùng người đàn bà như một hòn đá kê. Daly nhìn thấy chuyện xảy ra. Liền khi gã đàn ông tung được chân qua thành cầu, Daly nắm khẩu súng đập một cú vào đầu gã. Tôi nhớ lúc ấy đột nhiên tôi thấy vòi máu vọt ra, gã đàn ông rơi xuống, người ta đạp lên hắn. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Đáng kiếp”. Gã đàn ông này biến mất dưới bàn chân dày xéo của đám đông.

Lúc ấy người đổ ùn ùn vào phi cơ, tôi chạy trở vào xem Atsatko có xếp nổi chỗ ngồi không. Cô nắm lấy tay tôi, bảo: “Đại úy Ken Healy đang cần chị”. Tôi đến phòng lái gõ cửa. Cửa mở, Đại úy Healy bảo: “Joe Hrezo đã lạc khỏi phi cơ. Khi nào hắn trở lại được cho biết.” Tôi đáp: “OK.” Chuyện xảy ra là Joe và thông tín viên người Anh đã bị đám đông kéo tuột khỏi tàu, không trở vào được nữa. Chúng tôi lạc mất cả hai người. Joe tự chạy tới đài kiểm soát không lưu, người kiểm soát viên cho anh ta vào. Sau đó Joe liên lạc được với máy bay. Ken Healy cho biết chúng tôi sẽ “chạy taxi” đi rà trên đường vào bãi và yêu cầu Joe phóng ra khi máy bay tới gần. Chúng tôi sẽ không dừng một giây nào. Liền khi Joe lọt vào phi cơ, chúng tôi sẽ cất cánh. Đại úy Ken Healy bảo: “Khi thấy chắc chắn Joe vào phi cơ rồi, gõ lên cánh cửa cho tôi hay”. Tôi đi sau, bảo Val: “ Val, canh chừng cầu thang, thấy Joe vào thì giơ tay, tôi sẽ ra hiệu cho Ken biết”

Trong khi đợi phi cơ chạy qua đài kiểm soát, người ta tiếp tục ào tới. Chúng tôi ấn họ xuống, 5, 6 người một ghế. Trong lúc làm việc, tôi nhớ là đã tự hỏi: “Thế còn đàn bà, trẻ con đâu hết?” Hóa ra, mọi hành khách đều là binh sĩ. Sau đó, tôi đếm chỉ có 11 người đàn bà và trẻ con. Tất cả chỉ có thế! Còn lại đều là binh sĩ…

Mọi người ngồi trên ghế với những bộ mặt căng thẳng. Gã khùng vẫn tiếp tục la lối: “Bay đi! Bay đi! Bay đi!”

Khi tàu đến gần đài kiểm soát. Daly vẫn còn đâu đó dưới cầu thang để kéo người vào. Tàu chạy rà qua đài kiểm soát được một lát, Val quay người lại, giơ tay lên. Tôi gõ vào cửa phòng lái. Phi cơ bắt đầu rồ máy. Chúng tôi gia tăng vận tốc. Gã khùng lúc trước la lối đòi bay, bây giờ sợ hãi thét lên: “Ối! Ối! tàu bay đang cất cánh trên cỏ.”

Thật ra, chúng tôi chạy để cất cánh từ phi đạo, lối vào bãi đậu, và Ken đã rồ máy để cảnh cáo người ta tránh ra, nếu không chúng tôi sẽ cán qua mà chạy.

Phi cơ leo lên cỏ vì đã vào cuối đường bến, không còn cách nào trở lại được. Chúng tôi cứ tăng tốc lực bay vượt lên, do đó đã đụng phải một chiếc xe và một cọc hàng rào gây hư hỏng cho cánh phi cơ. Nhưng hư hỏng trầm trọng nhất là do đạn và lựu đạn ném vào một bên cánh. Ở trong phi cơ, chúng tôi không thấy được hư hại, không rõ tình trạng thế nào. Nhưng đại úy Ken Healy biết rất rõ.

Dầu thế, chúng tôi vẫn phải bay lên. Phải thoát khỏi Đà Nẵng. Chưa một giây phút nào tôi nghĩ là không thể thoát. Không ai có thì giờ để nghĩ những điều như vậy giữa cơn rối loạn. Sau này tôi khám phá được suýt chút nữa chúng tôi đã không thoát. Đáng lẽ chúng tôi đã mất mạng vì các hư hỏng của phi cơ. Với 358 con người ở lòng tàu, còn lại 60 người khác trong khoang chở hàng, có cả người mắc trên bánh xe. Chiếc máy bay này thật sự chỉ dùng để chở có 133 hành khách thôi.

Sau này Ken Healy gởi cho hãng Boeing những con số thống kê liên hệ đến chuyến bay. Người ta cho chạy điện toán rồi bảo chúng tôi: Theo cách tính của họ, phi cơ chẳng thể nào cất cánh. Vậy mà chúng tôi đã cất cánh được. Sau Ken cũng gởi cho Boeing một điện tín khác, nói: “Quý ông quả đã chế được một cái tàu bay tốt hết xảy.”

Sau khi cất cánh, tôi bắt đầu đếm hành khách. Tôi chú ý một người ngồi ghế trước, mặt tái xanh, bị thương nặng, ruột đổ lòng thòng. Tôi dùng tay nhét đại ruột vào, giật cái khăn trên cổ một người nào đó quấn quanh bụng ông ta lại. Tôi kéo thùng cứu thương xuống. Thuốc men mất đâu cả từ Sài Gòn. Chúng tôi không có bất cứ một vật dụng y khoa nào trên tàu. Trống trơn. Không thuốc men bông băng gì. Sau khi tạm ổn thỏa với người đàn ông ghế trước, tôi nhìn ra lối đi, thấy một người khác đang bò lết đến bên tôi. Tôi nhận ra gã, đầu bê bết máu. Máu vấy đầy mặt. Chính là gã đàn ông đã kéo người đàn bà ra khỏi tay tôi. Đó là gã đàn ông bị Daly nện với khẩu súng lục. Lần sau chót tôi thấy hình ảnh người đàn bà bị nghiến trên mặt đất. Cũng lần sau chót tôi thấy gã đàn ông này bị đám đông đạp lên. Vậy mà sao gã cũng lết được vào phi cơ? Bây giờ gã đang bò. Tôi nhớ đó là lần duy nhất trong ngày tôi đã cầu nguyện, tôi cầu: “Lạy chúa. Xin đừng để cho gã này tiến lại gần con”. Gã cứ lồm cồm lết đến. Gã nắm lấy ống quần tôi. Gã nhìn lên tôi. Gã chỉ nói: “Xin cứu tôi”

Thế là tôi nắm đại một người, kéo khỏi ghế, tôi giúp gã ngồi vào ghế. Đầu gã nứt, tôi có thể nhìn thấy bên trong máu lầy nhầy. Không có gì để cầm máu cả. Tôi biết nếu tôi không giúp cho máu cầm lại, gã sẽ chết ngay trên tay tôi. Một người lính ngồi bên cạnh mặc cái áo tác xạ. Tôi xé toạc cái áo, bốc một nắm mạt cưa  nhét vào vết thương. Tôi cứ nhồi mãi mạt cưa vào để chận vòi máu. Chắc chắn giới Y khoa Mỹ sẽ giật mình với phương pháp này, nhưng nó đã tỏ ra hữu hiệu. Tôi giật lấy cái sơ mi của một người khác, buộc quanh đầu gã để giữ mạt cưa lại…

Gã được bình yên suốt chuyến bay. Gã thật mạnh, không bị bất tỉnh lần nào. Tôi đi về phía sau lần nữa, thấy Val, Daly và Joe Hrezo đang cố kéo một người đàn ông mắc kẹt trong cầu thang sau. Cửa máy bay sau không đóng được. Người ấy bị kẹt trong thang, gẫy chân. Sau cùng họ lôi được người này ra, mang vào trong phi cơ. Val và tôi cố bó cái chân gẫy với một miếng gỗ – Lúc ấy Joe bảo tôi rằng thông tín viên người Anh không trở lại được. Anh ta bước ra phi đạo Đà Nẵng để thu hình đám đông, rồi vô phương trở vào phi cơ trong lúc rối loạn. Anh ta còn ở trong đài kiểm soát. Ken Healy hứa sẽ có một chiếc trực thăng Air America đến đón. Về sau, anh ta cũng đã trở vào được Cam Ranh. Val, Atsako và tôi tiếp tục cấp cứu cho mọi người trên tàu. Việc này chiếm hết thì giờ và tôi đoán là khi đã bay được một giờ đồng hồ thì chúng tôi mới bắt đầu nhìn đến các hành khách khác không bị thương. Tôi thấy vẻ kinh sợ trên mặt họ. Cuối cùng, họ nhận thức được họ đã làm những gì. Họ bắt đầu hỏi “Còn những chuyến bay khác nữa không?”

Chúng tôi trấn an bằng cách nói thác: “Còn chứ, còn nhiều chuyến nữa.” Những người này bây giờ đã hiểu ý nghĩa việc bắn giết đồng bào để leo vào chuyến bay. Bây giờ họ ân hận. Đành nói dối thôi, chứ chúng tôi cũng biết sẽ không còn chuyến nào ra Đà Nẵng nữa. Đây là chuyến chót. Những người đi sau không ra nữa. Ken Healy đã liên lạc với Don McDaniel của chuyến 727 kế, bảo anh ta đợi chúng tôi ở Phan Rang, và bảo anh ta điện cho Dave Wanio quay lại Sàigòn để sửa soạn việc hạ cánh khẩn cấp. Tàu chúng tôi hư hỏng nặng, Ken không dám chắc bánh xe buông xuống được khi chúng tôi xuống Sàigòn. Tôi hiểu điều đó có nghĩa gì.

Trong lúc ấy, phi cơ nóng kinh khủng mặc dù thang máy bay phía sau vẫn hạ xuống, cửa sau vẫn mở trống hốc. Người ta không thể thở nổi trong máy bay với chừng ấy con người – chúng tôi nhờ Đức, chuyên viên âm thanh của CBS luôn luôn nhắc nhở bằng tiếng Việt trên máy phát thanh là “Yêu cầu đừng hút thuốc.” Hành khách tuyệt đối cấm hút thuốc, và nếu có người hút thuốc là hỏa hoạn sẽ xảy ra lập tức.

Sau công tác cứu thương cho hành khách, tôi nhận ra trên máy bay không có gì cho họ uống. Nhưng có một ngăn nước đá đã chảy, bây giờ đầy nước lạnh. Tôi bảo Bruce Dunning xé tấm màn ra từng miếng vải vuông nhỏ, nhúng nước. Tôi lấy những mảnh vải ướt, đi lên đi xuống chuyển cho hành khách tạm thời lau mặt. Người nào cũng nhễ nhại mồ hôi. Tôi bảo Val và Atsako làm một cái gì để nâng tinh thần những người này. Sau những gì họ đã làm với chính các bè bạn, chiến hữu họ, sự xúc động đang chậm chạp kéo đến dày vò họ. Họ đã bỏ gia đình. Họ đã giành giật, bắn giết nhau để lấn vào tàu. Bây giờ cơn náo loạn biến mất, nhận thức về cái ghê tởm đã xảy ra đang ngấm dần.

Vì thế, chúng tôi đi quanh, nói chuyện, vỗ vai, chùi mặt mày, lau tay, cố làm một vài điều giúp họ thoải mái đôi chút.

Lúc ấy, tôi cũng chết khát. Daly đến bên, mở áo sơ mi ló ra cho thấy một chai coca. Ông bảo “ra phòng lái.” Tôi đi ra phòng lái, ngồi xuống ghế quan sát viên, Daly tiến đến với một chai coca. Ông mở nút đưa tôi. Tôi nhớ tôi đưa chai coca lên miệng, nhưng nước cứ trào khỏi cằm, chảy xuống bộ đồng phục. Tôi không nuốt nổi. Chúng tôi chuyền cái chai coca độc nhất quanh phòng lái. Một lần nữa, Ken Healy nói với tôi về các hư hỏng của chiếc tàu bay. Ông bảo không dám chắc cái bánh xe mũi có thể buông xuống được, nếu nó xuống được, chưa chắc sẽ chịu đựng được thân tàu. Ông báo động: phải sẵn sàng đối phó bất cứ điều gì khi hạ cánh xuống Sàigòn.

Tôi trở lại khoang hành khách, phục vụ loanh quanh. Chợt mọi người đều xúc động nhìn qua phía trái. Chúng tôi đã bay đến Phan Rang. Don McDaniel và phi hành đoàn đang bay ở cao độ 35,000 bộ, họ đang chờ chúng tôi. Cuối cùng họ thấy một chấm đen ở phía dưới, họ nhận ra chúng tôi và đang bay xuống phía chúng tôi. Chúng tôi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, tương phản với bầu trời xanh tuyệt vời, trên đám mây trắng nõn là chiếc tàu bay World 727 xinh đẹp màu đỏ và trắng. Một cảm giác sảng khoái đột nhiên chạy qua khắp chiếc tàu, và lúc ấy tôi biết cái cảm giác này cũng đi suốt qua tôi. Chúng tôi biết một chiếc phi cơ chị em đã tìm ra chúng tôi. Chúng tôi sẽ an toàn vì cô chị chúng tôi nay đang hộ tống chúng tôi trở về bình an.

Thế là anh chàng Don McDaniel lái chiếc tàu bay của anh ta lượn quanh chiếc tàu bay chúng tôi để lượng giá những hư hỏng. Anh ta gọi Ken Healy, bảo “’Hình như có một xác chết lủng lẳng trên bánh xe của bạn.” Ken đã hỏi anh ta về việc đó. Một người bị cán khi bánh xe lùi lại. Nhưng cái chết của người này đã cứu mạng sống của tám người khác dưới guồng bánh xe vì xác chết đã cản cần máy lại, không làm cho bánh xe lùi thêm nữa.

Như vậy lúc đó chúng tôi biết sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề gây ra bởi bánh xe. Các cửa khoang chở đồ mở toang, cầu thang sau còn treo thòng xuống, cửa sau cũng mở trống, vành xếp của cánh máy bay bị đạn bắn sẽ không hoạt động khi hạ cánh. Chúng tôi đang ở tình trạng khó khăn nghiêm trọng.

Phi cơ tiếp tục bay về Sàigòn.

Tôi nói với Val “vào phòng rửa mặt,” ở đây tôi nói cho Val biết những cái trục trặc của tàu bay. Lúc hạ cánh, tôi sẽ ngồi hàng ghế trên, Val sẽ ngồi sau khoang phi cơ. Tôi bảo không biết chúng tôi thoát được không. Tôi dặn dò vài điều nhắn cho gia đình tôi trong trường hợp Val sống sót và nếu tôi không thoát được. Tôi bảo “Hãy cho gia đình tôi biết mọi sự cũng ổn thôi. Tôi đã không hề sợ hãi gì. “Tôi không khóc. Cô cũng vậy. Người ta không có thì giờ dành cho xúc cảm, mà hiển nhiên đây là lúc đầy cảm xúc, nhưng người ta đành phải giấu đi thôi.

Thế rồi phút cuối cùng của chuyến bay phải đến. Từ sau thân tàu, tôi bắt đầu đi lên, và đây là lúc một hành động tự phát xuất hiện. Một người đàn ông trao vào tay tôi khẩu M.16. Anh không nói tiếng Anh, tôi không nói được tiếng Việt, tôi không rõ anh ta muốn gì. Nhưng rồi tôi hiểu: anh muốn tôi hãy nhận lấy khẩu súng của anh. Vì thế tôi khoác cái khẩu súng khốn nạn lên vai, trong lúc bước đi, người ta bắt đầu trao thêm cho tôi mọi thứ khác. Khi đến phòng lái, trên vai tôi đã có vài khẩu M.16 lủng lẳng, một băng đầy đạn, một nắm đạn rời. Một vài người đã trao một hay hai viên, vài người khác trao cho tôi nhiều hơn, tôi còn có hai khẩu súng lục treo trên ngón tay. Chính lúc ấy – khi tôi đang nắm những viên đạn nhỏ và những thứ vũ khí trong tay – đột nhiên một cảm giác rõ rệt bừng ra – cuộc chiến của những người này đã chấm dứt. Họ không muốn súng đạn hay bất cứ gì nữa. Điều ấy thực chua chát: chính họ cũng đã ở cuối đường.

Khi tôi gần đến phòng lái, một gã khùng đặt một quả lựu đạn lên trên các thứ trong tay tôi. Tôi nhìn xuống, tự nghĩ “Trời ơi – một quả lựu đạn!” Phản ứng bản năng tôi là định xoay người, ném xuống phía sau máy bay. Nhưng tôi sợ nó đụng cầu thang phát nổ, tôi nghĩ “Chúa-ơi-tôi-sẽ-làm-gì-với- những-thứ-này?” Tôi đi về phòng lái, đá cửa. Charlie Stewart, kỹ sư chuyến bay mở ra. Tôi nói với anh: “Charlie, cầm lấy mấy cái này!” Tôi chưa bao giờ từng chạm tay đến một quả lựu đạn. Charlie cầm lấy. Anh ta và Mike Marriott vội tìm băng keo quấn lại. Họ quấn băng keo quanh quả lựu đạn, và mọi thứ tôi mang vào. Nếu lỡ có gì phát nổ, họ muốn bọc bớt lại càng nhiều càng tốt.

Đã đến lúc hạ xuống Sàigòn. Tôi gọi Mike Marriott tới bên cửa hông, chỉ cho anh cách mở cửa khẩn cấp và cách bung cầu tuột. Thông thường, đó là việc của Atsako, nhưng cô là tiếp viên mới, tiếng Anh không thạo, không chắc cô sẽ đối phó được trường họp khẩn cấp. Cho nên tôi muốn có một người đàn ông ngồi đấy.

Lúc tôi đang ngồi ở ghế trên với Bruce Dunning thì Daly từ phòng lái bước ra, ông yêu cầu Bruce xuống phía sau tàu. Ông muốn Bruce mang các phim ảnh quay được ở Đà Nẵng ra phía sau, nếu không ai sống sót thì các phim ảnh vẫn phải được bảo toàn. Tất cả đều cảm thấy mãnh liệt: Nếu chúng tôi không thoát, thế giới vẫn cần phải biết những gì xảy ra hôm ấy.

Daly đến, ngồi xuống cạnh tôi. Ông hỏi tôi có biết gì tình trạng chiếc máy bay không. Tôi nói biết. Ông hỏi tôi có sợ không. Tôi nói “Không, tôi không sợ chết.” Ông choàng cánh tay ôm tôi, nói “Cô bảnh lắm. Tôi sẽ đãi cô nhậu một chầu nếu mình thoát ở Sàigòn.” Tôi nói “Ông Daly, nếu sống sót, xin ông mua cho tôi một két bia.” Ông ta cười.

Rồi Daly lại bảo tôi “Những người này không hề biết súng của tôi trống rỗng.” Ông đã bắn hết đạn trong lúc cố duy trì trật tự ở cầu thang máy bay tại Đà Nẵng. Ông bảo “Tôi sẽ giữ khẩu súng để kiểm soát họ khi hạ cánh, như thế cô sẽ có thì giờ mở cửa và bung cầu tuột.” Tôi đáp “Tốt lắm.”

Chúng tôi bắt đầu một cuộc hạ cánh khá dài để xuống Sàigòn. Phi cơ bay hơi nhanh, tất nhiên không nên bay nhanh như vậy để hạ cánh, nhưng chúng tôi không điều chỉnh được vành xếp ở cánh. Và tôi ngồi ở cái ghế đặt ngay vị trí bánh xe mũi, ngồi đấy, tôi có thể cảm thấy bánh mũi có hạ xuống không? Có chống được thân tàu hay không? Rồi tôi cảm thấy bánh xe chính chạm phi đạo, tôi thấy phi trường bay vượt qua. Tôi cố chờ để cảm thấy cái bánh xe mũi hạ xuống mặt đường. Nhưng Ken đã giữ cho mũi máy bay cách khoảng mặt đất thật lâu. Tôi không hiểu làm thế nào anh đã giữ được như thế. Bỗng tôi thấy các toà nhà vút qua. Tàu chúng tôi đang chạy ngay trên phi đạo. Tôi hiểu bánh mũi đã hạ và chịu đựng được. Thế mà tôi không cảm thấy nó hạ xuống lúc nào. Ken đã khéo léo điều khiển chiếc 727 đáp xuống Sàigòn một cách nhẹ nhàng như thế. Rồi phi cơ cứ vùn vụt chạy trên phi đạo, vì chúng tôi không thể ngừng. Cảm ơn Thượng Đế, Sàigòn có được cái phi đạo dài 14,000 bộ! Bốn chiếc xe cứu hỏa chạy nhanh, kèm bên chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi quẹo qua đường vào bến. Phi cơ ngừng, không tỏ dấu hiệu rõ rệt nào là có sự nguy khốn cả. Tôi nhảy ra, mở cửa, nhưng không bung cầu cấp cứu. Joe Hrezo đã đứng trên mặt đất, hẳn anh ta đã chạy xuống bằng thang sau. Cùng một lúc, Joe và tôi la lên: “Xe tải thương, cáng cứu thương! Chúng tôi cần xe tải thương, cáng cứu thương.”

Người ta mang cầu thang đến cửa trước. Mọi người bên trong ngồi im lặng. Qua máy phóng thanh, Đức nhắc đi nhắc lại: “Ngồi yên, đừng di chuyển.” Không ai nhúc nhích. Sau đó chúng tôi bắt đầu chuyển người ra. Tôi nhớ có một người đàn ông châm một điếu thuốc. Ngay khi anh ta tới cửa trước, tôi yêu cầu anh không được hút thuốc vì có xăng. Anh ta ném điếu thuốc, dí chân lên điếu thuốc cháy đỏ. Tôi thấy anh ta đi chân không. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thế thì đau lắm.” Nhưng anh không cảm thấy. Không ai trên tàu còn cảm thấy gì nữa.

Hầu hết hành khách được lùa sang một bên. Cáng tải thương mang vào tàu, họ khiêng người đàn ông với vết thương nặng trên đầu, rồi khiêng người đàn ông bị đổ ruột. Khi mọi người ra hết, chúng tôi bắt đầu kiểm điểm. Val và tôi bước qua lối đi, nhặt nhạnh súng, đạn, những quả lựu đạn bỏ lại trên ghế. Tôi nhận ra chúng nặng quá sức. Tôi bảo Val “Thôi kệ – Bỏ lại – sẽ có người khác đến lo chuyện ấy.”

Tôi và Val rời tàu. Chúng tôi là hai người cuối cùng rời tàu. Nhìn những chỗ hư hỏng của chiếc máy bay, chúng tôi sợ hãi khi thấy những mảng kim khí đã toác ra. Chúng tôi cũng sợ hãi nhìn những lỗ đạn trên cánh. Lúc ấy tôi nói với Val “Thật đáng ngạc nhiên là chiếc phi cơ này đã có thể bay được.”

Val và tôi được đón đến ban phi vụ, rồi đến khách sạn Caravelle. Người ta đưa chúng tôi tới văn phòng ông Daly, nơi đây thông tín viên NBC đang phỏng vấn tất cả mọi người. Tôi ngồi trên chiếc ghế dài uống bia trong lúc họ quay phim.

Trong phòng bên, vài chục phóng viên khác đang chờ. Họ đều muốn phỏng vấn chúng tôi. Tôi hỏi Daly “Chúng ta nên nói gì?” Ông ấy bảo: “Cứ nói sự thật.”

Daly đưa tất cả chúng tôi đi ăn tối hôm ấy. Khi về lại khách sạn, tôi tắm rất lâu. Tôi nằm xuống giường, nhưng không ngủ được. Tôi cứ nhìn thấy mãi hình ảnh những người buổi sáng hôm ấy ở Đà Nẵng. Tôi thấy người đàn bà bị đẩy đạp đến chết. Tôi có thể thấy cả quần áo của bà ta và cái xác máu me nát bấy. Tôi thấy gia đình năm mạng người bị bắn từ sau lưng ngã gục xuống. Rồi người đàn ông bò lồm cồm ở lối đi trên máy bay, lết đến bên tôi. Tôi nhận ra suốt đêm tôi sẽ không thể ngủ được. Tôi nhỏm dậy, ra ngồi ở bàn viết. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể viết lại. Tôi đã cố. Tôi viết được đôi chút. Nhưng thật khổ, chuyện ấy quá lớn đối với chữ nghĩa. Tôi không biết viết thế nào về câu chuyện đã xảy ra.

Thời gian trôi. Tôi mất ý niệm về thời gian. Chợt chuông điện thoại reo. Tôi bốc máy trả lời. Điện thoại viên bảo có một cú điện thoại viễn liên quốc tế. Tôi nhìn đồng hồ, nhận ra đã 7 giờ sáng. Rồi giọng một người đàn bà, nói trong điện thoại từ một đài phát thanh ở Los Angeles. Bà ta muốn phỏng vấn tôi. Bà đã xem cuốn phim CBS về chuyến bay Đà Nẵng trong mục tin tức. Thế là tôi kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra. Cuối cuộc phỏng vấn, bà ta nói một câu ngu ngốc nhất. Chưa bao giờ trong suốt đời tôi nghe ai có thể nói một câu ngu ngốc thế. Bà ta bảo: “Cô Wollett, nghe chừng cô còn buồn bực lắm!” Tôi không thể tin được sự ngây ngô như thế trong nhận xét của bà ta. Lúc ấy, biết bao ý nghĩ diễn ra trong trí. Nhưng tôi chỉ còn có thể nói: “Thưa bà, hãy đặt vấn đề như thế này: Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày.”

Bà ta nói “Thôi, cảm ơn, cô Wollett. Nhân tiện, xin chúc cô một lễ Phục sinh vui vẻ.” Đến lúc ấy, tôi mới nhận ra: đó là ngày chủ nhật mùa lễ Phục sinh.

“…Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày…” 

From: Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

XÃ HỘI ĐÈN DẦU

Image may contain: outdoor

Tiểu Luận Đào Hiếu

XÃ HỘI ĐÈN DẦU

Tác giả: Đào Hiếu
*

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự thật bị bao vây tứ phía, bị cải trang bằng nhiều son phấn, nhiều mặt nạ. Cái tốt đẹp bị che chắn, bị vùi lấp… còn cái xấu, cái ác thì được phát biểu, được thể hiện với kèn trống với vòng hoa.
Đây là thời đại mà những chính khách có thể nói dối, có thể lừa gạt mọi người bằng sự hùng biện đầy thuyết phục được hỗ trợ bằng những giọt nước mắt xúc động. Họ thường nói những câu đại loại: “Tôi đang móc ruột ra nói với các đồng chí” mà quên rằng trong ruột chứa đầy những thứ chẳng thơm tho gì.
.

Xưa nay nhiều người vẫn tin tưởng rằng cái tốt sẽ thắng, chính nghĩa – dù có trải qua muôn vàn khó khăn – rốt cuộc cũng sẽ thắng. Nhưng nếu chịu khó quan sát thế giới một chút, chúng ta sẽ thấy ngay rằng cái xấu, cái ác đang thắng, đang tồn tại. Chẳng phải đó là điều đang xảy ra ở Việt Nam, Afghanistan, Bắc Triều Tiên, Cu Ba, châu Phi, Trung Đông… và nhiều nơi khác trên thế giới nữa hay sao?
Đây là sự thật ê chề nhất mà nhân loại phải gánh chịu!
.

Những người đã sống gần hết cuộc đời trên thế gian này, những người có học thức, có suy nghĩ độc lập mà nhiều khi còn rối trí không biết tìm đâu ra chính nghĩa, ra cái tốt, huống chi là lớp trẻ (nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam ngày nay) gần như mù tịt: phải, trái, thiện, ác… lẫn lộn. Họ lâm vào cảnh “nhận giặc làm cha”, “xe duyên cùng tướng cướp”…
Họ giống như kẻ đang lạc vào một siêu thị bán toàn đồ giả, đồ nhái, không biết chọn cái nào, họ đành quay lưng, bỏ ra ngoài, tìm những nhu cầu khác.
.

Sự ra đời của những trang web, những blog cá nhân đã góp phần “giải vây” cho chính nghĩa, “tẩy trang” cho sự thật, nhằm cố gắng hé lộ bộ mặt thật của một xã hội, một chế độ chính trị, một sự kiện…
Như thế, sự thiếu vắng của các trang web hay blog này là những mất mát lớn cho cả một thế hệ đang lạc lõng, đang trôi giạt, đang đánh mất tự do và tính cách của mình.
Thế hệ này tìm thấy sự bình yên, sự hài lòng trong cái tôi nhỏ bé với những nhu cầu vụn vặt, dễ dãi, dễ kiếm. Lớp người này ngày càng làm phình lớn cái xã hội tiêu thụ, thụ động, lười biếng và vô cảm. Đó là cái xã hội đang tiêu diệt mọi nhân cách và tiêu diệt chính nó, cái xã hội đang biến dạng – một cách chắc chắn, ung dung và không gì ngăn cản nổi – thành một bầy đàn hạ đẳng.
.

Một xã hội bao gồm nhiều cá nhân, nếu mỗi cá nhân là một ý thức độc lập, có sự sáng tạo tự do, thì xã hội đó sẽ rực rỡ vì mỗi cá nhân có ánh sáng riêng của mình, muôn màu muôn vẻ.
Nếu trong một xã hội mà mỗi cá nhân đều suy nghĩ giống nhau, sáng tạo giống nhau, ca ngợi và đả đảo giống nhau thì mỗi cá nhân đã tự dập tắt ngọn đèn của mình và được phát cho một ngọn đèn dầu. Xã hội đó sẽ là một xã hội đèn dầu, chỉ tồn tại trong thứ ánh sáng lờ mờ, u ám. Chỉ có những đốm mắt của bọn linh cẩu, chó sói và hổ báo là rực lên trong đêm đen.

*

Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng. Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
Những câu hát ấy đã vang lên trong nhiều thế hệ thiếu niên nhi đồng Việt Nam và sẽ còn vang lên hoài như thế. Nhưng liệu có phải đó là sự thật không? Có phải ở Việt Nam hiện đang có một “mùa Xuân tràn ánh sáng khắp nơi nơi” không? Nếu không thì sao? Chẳng lẽ từ thế hệ này sang thế hệ khác cứ tiếp tục hát như thế?
Trên ti-vi, trong các lớp học, trong các cuộc họp… cũng thế: các thầy cô giáo, các nhân viên nhà nước, các quan chức, nghệ sĩ sân khấu, cán bộ hưu trí, học sinh sinh viên, thậm chi cả những người lao động nghèo, những bác nông phu chân lấm tay bùn… khi được phỏng vấn cũng đều trả lời cùng cái giọng “Đảng đã cho ta một mùa Xuân” như thế.
.

Những em bé mẫu giáo, học sinh tiểu học chắc là không ý thức được mình đang nói gì, hát gì, còn những cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước thì biết mình đang nói dối nhưng hoặc là vì nịnh bợ để mưu lợi cá nhân, hoặc là nói cho qua chuyện, cho xong một cuộc phỏng vấn, một bài phát biểu.
Có một thành phần đặc biệt hơn, đó là những kẻ mới sinh ra là đã biết vâng phục, không hề có ý thức phản biện một cái gì, khi họ là cán bộ, đảng viên, họ biến thành những bõ già của Đảng, những ông từ giữ cái chùa Mác Lê Nin suốt đời mãn kiếp. Họ đang sống mòn, sống cho hết cái kiếp gia nô buồn thảm, đìu hiu!
.

Nhưng đáng xấu hổ nhất là những kẻ ngụy tín, quen thói nói dối, nhập thân vào sự dối trá của mình một cách chân thật và cố thuyết phục người khác hiểu cái “sự thật” ấy.
Hãy tưởng tượng một đàn vịt đang lạch bạch đi trên bờ ruộng. Bỗng nhiên một con kêu: “cạc cạc!” rồi con thứ hai cũng kêu “cạc, cạc”, con thứ ba, thứ tư, con thứ mười… đều kêu “cạc, cạc”. Rồi tất cả đồng loạt kêu “cạc cạc”… Ta sẽ thấy rất buồn cười, nhưng không sao, có khi còn dễ thương nữa vì chúng chỉ là đàn gia cầm.
.

Nhưng thử tưởng tượng có một đám người, đủ mọi thành phần: nông dân, giáo viên, tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, học sinh, sinh viên, nhà văn, nhà thơ, diễn viên điện ảnh, hoa hậu, á hậu, người mẫu thời trang, giáo sư đại học, cán bộ công nhân viên, học sinh mẫu giáo… vừa đi vừa kêu “cạc cạc” như thế thì sẽ ra sao?
Đó không phải là một xã hội nữa, đó là một bầy đàn.
.

Rất may là đã có một thành phần dám nói sự thật. Đó là những trang web kiểu như Talawas, Bauxite… những blog cá nhân kiểu như Osin, Mẹ Nấm, Lề Trái…họ đã lần lượt bị bắt nhốt, bị đe dọa, bị đóng cửa. Họ là những tập thể, những cá nhân đã tỏa sáng và đang bị dập tắt.
Xã hội hiện nay chỉ còn hiu hắt những ánh đèn dầu của đám người mờ nhạt, bị thuần hóa, bị gia súc hóa một cách thảm hại.
.

Như thế, rõ ràng là hiện nay chúng ta đang có hai nước Việt Nam: một Nước Việt Khốn Khổ, bị rút ruột, bị đục khoét, bị bán tài nguyên, bán máu, bán phẩm giá, bị xâu xé, cướp bóc tả tơi và nợ như chúa Chổm. Và một Nước Việt Ảo đang được vẽ vời bằng những lời nói dối, nịnh bợ, cơ hội, lừa mị… của đủ mọi thành phần, từ cán bộ lãnh đạo, cho tới…học sinh mẫu giáo.
.

Mỗi ngày có một bộ phận người Việt đang sống và làm việc trong cái Nước Việt Ảo ấy, trong khi một bộ phận người Việt khác lại đang sống và làm việc cùng một Việt Nam khác: khốn khổ, trần trụi, tơi tả.
Hôm nay Talawas không còn, ngày mai có thể Bauxite cũng sẽ mất, nhưng những người tâm huyết với đất nước với dân nghèo thì mãi tồn tại, tiếp nối, bền bỉ và bất tận.

Boat People & Truck People- Tưởng Năng Tiến

Boat People & Truck People

1 truck people

Thực ra, ở quê hay thành phố đều không quan trọng, quan trọng là đừng ở… Việt Nam nếu bạn muốn bình yên.

Du Uyên


Từ Berlin, Hiếu Bá Linh vừa trân trọng cho hay một tin vui … đã cũ: “40 năm trước, tổng thống Ý cử 3 tàu chiến đến Biển Đông cứu vớt thuyền nhân tị nạn Việt Nam … Hoạt động gần 1 tháng, 907 thuyền nhân đã được cứu sống và đưa về Ý. Ngày 21/8/1979, tại lối vào cảng Venice, thủy thủ đoàn và các thuyền nhân được dân chúng hân hoan chào đón.”

Mẩu tin tuy không mới nhưng vẫn khiến cho không ít độc giả (hoá) tâm tư:

– Vĩ Cầm: Một cái tát dành cho Lê Duẩn.

– Mạc Van Trang: Thế gian nhiều chuyện lạ đời: Người Việt không thương nhau, khiến phải chạy trốn, dẫu bỏ mạng giữa biển khơi; các nước láng giềng cũng chẳng cưu mang nhau; Người ở mãi phương trời xa tít lại động lòng thương, ra tay cứu nhân độ thế… Nên cũng đừng cứ tưởng anh em, xóm giềng là chỗ cậy nhờ lúc khốn khó!

Nhận xét T.S Mạc Văn Trang e không hoàn toàn chính xác. Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông, Thái Lan … đều là những nước láng giềng đã từng mở cửa đón nhận và “cưu mang” hằng triệu người Việt tị nạn trong khoảng thời gian không ngắn, hơn một thập niên. Chỉ riêng có đảo quốc Tân Gia Ba (Singapore) là nhất định ngoảnh mặt thôi.

Sao thế nhỉ ?

Câu trả lời có thể tìm được trong bức thư sau:

3 truck people

Nguồn phóng ảnh: Margaret Thatcher Foundation

Xin trích đôi câu, theo bản dịch của nhà văn Phạm Thị Hoài, để rộng đường dư luận:

Thư của Thủ tướng Lý Quang Diệu gửi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher về vấn đề Thuyền Nhân Việt Nam năm 1979.

Ngày 5/6/1979

Thưa Thủ tướng,

Cảm ơn bà về bức thư ngày 30 tháng Năm.

Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn…

Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á… 

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.” 

(People and leadears throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of  Southeast Asia… They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)

Lý Quang Diệu có nặng lời quá không: “Chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á ?” Muốn biết thực hư xin xem qua một câu hỏi khác, của một công dân Việt Nam, gửi đến ông Phạm Văn Đồng:

Xin Thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản, Thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín. “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại.” – Nguyệt San Cánh Én, Đức Quốc, số tháng Hai năm 1999).

Thế kỷ XX đã khép lại. Ông Phạm Văn Đồng đã lìa đời và nhất định không “trả vốn” hay “trả lời” gì ráo về “cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy.” Thảm kịch thuyền nhân Việt Nam, tuy thế, đã được ghi lại trong rất nhiều trang sách. Sổ tay của tôi vốn nhỏ nên xin phép chỉ chép lại độ mươi dòng thôi, về một sự kiện nho nhỏ (trong muôn vàn) xẩy ra đúng vào thời điểm mà ông Lý Quang Diệu gửi thư cho bà Margaret Thatcher:

Vụ chìm tàu Phương án II chết hàng trăm người ở Thành phố xảy ra vào giữa năm 1979, gần bến phà Cát Lái, Thủ Đức, nhưng gần như rất ít người sống ở Sài Gòn vào thời bấy giờ nghe nói tới câu chuyện đau lòng này… Theo Đại tá Phạm Ngọc Thế thì khi ấy Thành ủy phải điều hai cần cẩu sáu mươi tấn từ Vũng Tàu vô để “kéo rị rị từng chút”. Cũng phải tới ngày thứ ba thì mới đưa tàu lên được. Con số người chết theo báo cáo của Ban 69 là 227 người. Theo Đại tá Phạm Ngọc Thế: “Có khoảng hơn bốn mươi người sống sót. Cứ mỗi cái xác được đưa ra, chúng tôi chỉ dám để hai mươi phút để bộ phận nghiệp vụ lấy dấu tay rồi chuyển qua ngay cho bộ phận mai táng, vì đã bắt đầu nặng mùi. Cứ hàng chục xác một được xếp lên xe, phủ bạt, rồi chạy từ Cát Lái về mai táng ở khu đất cách đấy chừng ba cây số… Chúng tôi vét sạch hòm ở các quận. Khâm liệm xong vẫn còn dư mấy cái vì có bốn trường hợp phải chôn đôi bởi các bà mẹ trước khi chết ôm chặt lấy con mà chúng tôi thì không nỡ tháo khớp tay họ ra để chia lìa tình mẫu tử…”. Huy Đức.  (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Bốn mươi năm sau – sau khi 227 Boat People chết chìm ở Cát Lái – ngày 23 tháng 10 năm 2019 vừa qua, cảnh sát Anh Quốc đã phát hiện 39 xác người chết ngạt (trong một chiếc xe chở hàng đông lạnh) cách thủ đô Luân Đôn 25 dặm. Tất cả đều là người Việt. Họ được gọi là Truck People, dựa theo phương tiện dùng để vượt biên.

2 truck people

Ảnh: UNHCR

Khoảng cách giữa Boat People và Truck People là gần nửa thế kỷ, thời gian đủ dài để thêm hai thế hệ người Việt nữa tiếp tục tìm mọi cách để đào thoát khỏi xứ sở của họ, nơi mà cái cột đèn cũng sẽ không ở lại – nếu có chân. Mọi cuộc di dân đều hình thành trên hai động lực: đẩy và kéo. Lực kéo thì nhiều và đa dạng, tùy theo hoàn cảnh và quan niệm sống cá nhân (vì tương lai của con cái, vì một môi trường sống khả kham, vì miếng cơm anh áo, vì dân chủ tự do … ) nhưng lực đẩy –  từ VN – dường như chỉ một: đó là nỗi tuyệt vọng bao trùm cả đất nước này, từ nhiều thập niên qua!

Tưởng Năng Tiến
11/2019

Nhà thơ Nguyễn Duy: Chuyện Võ Thị Sáu toàn bịa đặt

Nhà thơ Nguyễn Duy: Chuyện Võ Thị Sáu toàn bịa đặt

July 20, 2017

Nhà thơ Nguyễn Duy kể chuyện. (Hình: Cắt từ clip)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Trang Facebook của Đoàn Dũng mới phổ biến một video clip dài năm phút, cảnh nhà thơ Nguyễn Duy và một số văn nghệ sĩ trò chuyện, trong đó Nguyễn Duy thuật lại những gì ông biết về nhân vật Võ Thị Sáu, một thần tượng do đảng Cộng Sản dựng lên.

Nhà thơ cười lớn tiếng đến nỗi phải đứng dậy khi nhắc đến những điều bịa đặt trong sách của Nguyễn Quang Sáng về “anh hùng Võ Thị Sáu.” Một chi tiết được hai người công khai nói ra là Võ Thị Sáu bị bệnh tâm thần từ thời rất trẻ.

Cuộc gặp mặt này có những nhà văn tên tuổi khác như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A (quay phim), nhà văn Lê Hoài Nguyên (tên thật là Thái Kế Toại) – cựu đại tá công an với chùm tóc bạc ngồi đối diện nhà thơ Nguyễn Duy. Đặc biệt, nữ diễn viên Mỹ Khanh, người đã đóng trong cuốn phim về Võ Thị Sáu cũng có mặt.

Điều đáng kể nhất là hai nhà văn trong cuộc gặp gỡ đã khẳng định bệnh tâm thần của Võ Thị Sáu, một người gọi là “bị chập” và người kia nói thẳng là “điên.” Đây là một sự thật đã được tiết lộ từ nửa thế kỷ nay, khi những “đoàn quân” phóng viên, nhiếp ảnh, và quay phim đi tới vùng Đất Đỏ nghiên cứu về “thần tượng” Võ Thị Sáu. Khi phỏng vấn dân địa phương, họ thường nghe các người già cả cùng thời bà Sáu hỏi: “Con Sáu Khùng phải không?”

Riêng nhà thơ Nguyễn Duy, ông thuật lại lời gia đình, thân nhân của Võ Thị Sáu cho biết cô bé này được giao nhiệm vụ ném lựu đạn giết một tên Tây lai đi mua thực phẩm cho đồn Tây, nhưng giết hụt vì hắn bữa đó không đi chợ. Cô Sáu vẫn ném lựa đạn vào chợ, rồi bị bắt, đưa ra Côn Đảo và xử tử hình.

Nhà văn Nguyên Ngọc (trái) trong buổi nói chuyện. (Hình: Cắt từ clip)

Người thân của cô cho Nguyễn Duy biết, sau năm 1975, người Tây lai này trở lại Đất Đỏ đón bà mẹ người Việt gốc Hoa, và anh ta giúp đỡ cho vùng này rất nhiều (có thể hiểu là một cách hối lộ để đưa mẹ qua Pháp dễ dàng hơn). Sau năm 1975, tên đường Hiền Vương ở Sài Gòn đã bị đổi thành Võ Thị Sáu.

Bạn đọc có thể xem video tại đây: Clip “Sự thật về Võ Thị Sáu”

Sau khi video trên được phổ biến, rất nhiều lời bình phẩm đã xuất hiện. Một độc giả Em Ba Sàm viết: “Một thần tượng bị sụp đổ!” Cô Maria Lê Thị Châu viết: “Mình đã bị lừa mấy chục năm rồi huhu!”

Ông Bùi Văn Thái viết: “May quá dù sao chị Sáu còn có thật, không như Lê Văn Tám!” Lê Văn Tám là một nhân vật “anh hùng” hoàn toàn tưởng tượng được bộ trưởng tuyên truyền Trần Huy Liệu bịa đặt ra, cuối đời ông Liệu đã thú nhận điều đó với Nhà nghiên cứu lịch sử Phan Huy Lê.

Cũng có một hai người phản đối hành động phơi bày sự thật về Võ Thị Sáu, như Việt Hùng kết án rằng “Không thể bôi nhọ lịch sử như thế được.” Đối với nhiều người khác thì che giấu sự thật và bịa đặt thành tích mới là hành động bôi nhọ lịch sử.

Sau đoạn phim video, nhiều người bình luận chỉ vắn tắt: Chuyện này ai mà không biết (Nguyễn Ngọc Trai). Chuyện này cũng nhiều người biết (Van Thanh Trác). Vụ bà Sáu khùng này em cũng nghe đồn lâu lâu rồi mà nửa thực nửa tin. Bây giờ mới nghe chính thức (Man Minh).

Nhưng cũng có người, ký tên Đông Tà, đã cho in lại cả một bản văn minh xác viết trước đây nửa thế kỷ của một cán binh hồi chánh như sau:

Kiến Phong ngày 15 tháng 4 1967.

Kính thưa đồng bào cả nước. Tôi là Nguyễn Văn Bé, con ông Nguyễn Văn Hụi và Bà Lê Thị Ba, ở xã Kim Sơn, huyện Long Định, tỉnh Định Tường, trước đây thuộc đơn vị 860…, đơn vị vận tải miền Trung Nam Bộ, bị bắt ngày 30 Tháng Năm, 1966 tại kinh Cả Bèo, xã Mỹ Quý, thuộc tỉnh Kiến Phong.

Trước đây, mặt trận nói tôi ôm mìn nhảy vào xe thiết giáp M113 để hy sinh và phong tôi làm liệt sĩ Nguyễn Văn Bé, nhưng sự thật không đúng. Hiện nay tôi còn sống, ở miền Nam. Xin đồng bào cả nước khỏi lầm lẫn. (TNV)

Triệu chứng Narcissism: Trường hợp Trần Long Ẩn

Chu Mộng Long

17-11-2019

Ông Trần Long Ẩn là người đồng hương với tôi. Ông bị chửi làm tôi cũng thấy nhột. Nhưng tôi tin nhiều người còn nhột hơn. Không chỉ nhột mà còn thù địch với dân mạng. Bởi điều ông Ẩn nói chỉ là ăn theo nói leo kẻ khác. Ông nói như một cái máy chứ chưa chắc đã ý thức mình đang nói gì.

Nói toàn bộ văn hóa nghệ thuật miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa là độc hại ắt không phải do ông nghĩ ra. Ai đã chủ trương chống nọc độc văn hóa miền Nam và ra lệnh đốt sạch ngay từ những ngày đầu tiên sau 1975? Mãi cho đến gần đây, người ta còn tiếp tục cấm một bài hát chẳng hại ai như Con đường xưa em đi thì Trần Long Ẩn cũng chỉ là tiếng nói của một thời còn sót lại.

Dân mạng chỉ chửi ông Ẩn chứ thực ra những Chu Giang Nguyễn Văn Lưu, Đông La, Phan Trọng Thưởng, Mai Quốc Liên… đều cùng một bè một giọng cả thôi.

Điều ngạc nhiên là sau một nửa thế kỷ vật đổi sao dời, có những người quyết không chịu thay đổi. Có chửi thối mồ thì những người này vẫn tự hào không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thôi thì họ có cái quyền đó, cần tôn trọng. Bởi lúc này có một trăm ngàn ông phát ngôn như ông Ẩn thì cũng không xóa được cái “nọc độc” đã phát tán mạnh mẽ sau không dưới một lần người ta đòi tiêu diệt tận gốc.

Biết đâu người ta mượn ông Ẩn để biện hộ cho sự xuống cấp đạo đức, suy đồi văn hóa hiện nay là do “nọc độc” văn hóa Mỹ ngụy để lại? Nếu đúng như vậy thì chưa chắc ai ngu hơn ai.

Tôi chỉ luận về sự tự hào không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của những người như ông Ẩn.

Phân tâm học gọi hiện tượng này là triệu chứng Narcissism. Narcissus là nhân vật huyền thoại Hy Lạp, tự yêu mình đến mức không thể yêu ai và chết trong cô đơn. S. Freud gọi đó là chứng thủ dâm, do bệnh nhân không có khả năng dịch chuyển tính dục sang đối tác.

Trong công trình Giải huyền thoại, tôi cho rằng triệu chứng này nằm trong triệu chứng phổ quát hơn: triệu chứng độc tài. Không nghi ngờ rằng, độc tài là một triệu chứng tâm lý. Kẻ độc tài giống Narcissus ở chỗ, anh ta chỉ biết yêu mình mà không thể san sẻ cho ai. Bởi trong đầu anh ta chỉ có một thứ ảo ảnh đến hoang tưởng rằng mình thuộc đỉnh cao trí tuệ, cao cả hơn người. Thêm vào đó anh ta nhìn đâu cũng thấy thù địch, ám thị bị lật đổ.

Thứ phức cảm này thể hiện sâu sắc ở Zeus, chúa tể Olympus. Zeus lật đổ cha mình là Cronus, do ám thị bị con mình lật đổ nên đã độc chiếm ngọn lửa tính dục, quyết không chịu san sẻ cho ai. Zeus thù địch Prometheus đến mức đối xử tàn bạo với Prometheus khi vị thần này đánh cắp ngọn lửa từ tay Zeus để san sẻ cho mọi người.

Kẻ độc tài nhìn đâu cũng thấy thù địch là một triệu chứng di truyền. Trước đó, cha của Zeus là Cronus đã từng lật đổ ông nội Zeus là Uranus, và để tránh hậu họa bị lật đổ, Cronus đã lần lượt nuốt sống những đứa con của mình! Cái định mệnh thật nghiệt ngã là càng ám thị bị lật đổ thì lại càng dễ bị lật đổ. Zeus thoát khỏi cái bụng tham lam của cha mình và điều gì sẽ xảy ra đã phải xảy ra.

Không chừng trong bối cảnh hiện nay, tấn tuồng của huyền thoại lại hiện hữu ở những kẻ độc tài nên người ta phải dự phòng như cha con nhà Zeus đã dự phòng? Rằng cái bóng ma Việt Nam cộng hòa hay thứ văn hóa nghệ thuật con đẻ của Việt Nam cộng hòa đang rình rập đâu đó rất nguy hiểm?

Luận chuyện xưa có lẽ làm cho nhiều người khó hiểu. Tôi kể chuyện quan hệ đời thường vậy. Làng tôi sau 1975 có một ông tập kết về làm công tác tuyên giáo rất hăng. Ông ta yêu văn hóa XHCN đến mức nhìn cái gì khác mình đều là thù địch. Sau khi truy tìm đốt sạch văn hóa phẩm Mỹ ngụy để lại, ông ta đến từng nhà bắt gia đình người ta ném cả tượng Phật, tượng Chúa, di ảnh tổ tiên xuống ao. Chỉ được phép thờ mỗi Bác Hồ. Ai không thực hiện đều hoặc bị bắt đi cải tạo hoặc bị đày xuống trụ sở xã, ngày lao động công ích, tối ngủ trong thùng container.

Hậu quả là ông cán bộ tuyên giáo này không sống chung được với ai. Vợ con bỏ nhà ra đi. Cho đến những ngày bình thường sau này, hàng xóm cũng chẳng ai dám quan hệ gần gũi với ông. Người ta không thù địch ông nhưng lại ớn ông thù địch. Ông sống lặng lẽ một mình cho đến một ngày kia người ta phát hiện đàn chó đang tranh nhau cục xương người trước nhà ông. Thì ra ông ta chết khi nào chằng ai hay. Nếu không nhờ mấy con chó thì có lẽ thi hài ông sẽ phân hủy cho đến khi chỉ còn bộ xương trắng trong cái ngôi nhà cô đơn ấy.

Dân quê tôi giàu lòng nhân ái, họ đã chôn cất ông tử tế như chôn cất một người hùng vào sâu trong nấm mồ của quá khứ. Nhưng trước khi đắp chiếc khăn giấy lên gương mặt ông, nhiều người vẫn ái ngại, rằng ông vẫn nhìn mọi người bằng con mắt thù địch.

Nên nhớ triệu chứng Narcissism là căn bệnh phổ quát của loài người. Biết bệnh của mình để tìm ra trị liệu giải thoát khỏi cơn hoang tưởng Narcissisus mới là kẻ sáng suốt.

BAOTIENGDAN.COM
Triệu chứng Narcissism: Trường hợp Trần Long Ẩn Bởi AdminTD – 17/11/2019 Chu Mộng Long 17-11-2019 Ông Trần Long Ẩn là người đồng hương với tôi. Ông bị chửi làm tôi cũng thấy nhột. Nhưng tôi tin nhiều người còn nhột hơn. Không chỉ nhột mà…

Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết.

Image may contain: 1 person, smiling

Đỗ Trung QuânFollow

Nhân ông trần long ẩn kẻ đang đòi tiếp tục “ đấu tố “ âm nhạc miền nam truớc 1975 tôi post lại bài viết 2 năm truớc của mình

Vẫn còn nhớ ct đêm giao thừa 2018 của ubnd tp hcm với “ việt kiều yêu nuớc “ tại sân dinh thống nhất , trần long ẩn đưa bài hát đại loại “ vòng tay của đảng với việt kiều …” gì đấy ( không nhớ nguyên văn vì bài hát rong quá tởm ) vào ct . Để làm gì ai cũng hiểu .

Đỗ Trung Quân

Mấy năm trước, một nhóm nhạc sĩ Hà Nội dự định làm một cuộc cách mệnh lật đổ một thể loại âm nhạc đại chúng của Sài Gòn: BOLERO. Khởi đầu bằng những phát biểu có tính mỉa mai và không xem đó là âm nhạc, hầu hết những nhạc sĩ ấy đều là người tôi có quen biết, từng cụng ly uống rượu và thậm chí tôi từng tham gia xuyên việt với tư cách Mc. Tôi biết rõ “đại ca lãnh đạo“ là ai. Thế nên, trong bài viết này sẽ trên tinh thần đối thoại thẳng thắn nhưng không khiêu kích, bôi bác cá nhân ai, nó sẽ hiếu hòa nhưng không nhượng bộ điều gì không thể nhượng bộ.

Chôn không chết.

Sau 1975 ,toàn bộ nền âm nhạc miền nam nói chung Sài Gòn nói riêng được liệt kê vào loại phản động cấm phổ biến, trong đó bolero cách gọi chung một thể loại nhạc đại chúng uỷ mị không có giá trị, nấm mồ được đào và bolero cũng được chôn xuống chờ xanh cỏ…

Nhưng người miền nam trong thời chiến, trước 1975 không có thông tin để biết rằng tại Hà Nội miền bắc thập niên 1970 có một vụ án bi thương: vụ án “Toán xồm – Lộc vàng“ (xin tra google), hai chàng trai trẻ tuổi mê nhạc tiền chiến, nước ngoài, ”nhạc vàng“ của Sài Gòn dù đi hát chui cũng bị dong ra vành móng ngựa tội tuyên truyền phổ biến nhạc đồi truỵ – phản động. Toán xồm 15 năm tù. Lộc vàng 10 năm tù. Nhờ án tù cao nên hai người tù không phải đi lính, bộ đội, không phải đi qua chiến tranh. Năm 1982, mãn án tù trở về khi tới ga Hàng Cỏ, từ những chiếc cassette chiến lợi phẩm mang từ miền nam về ầm ĩ toàn những thứ “nhạc vàng uỷ mị“ thứ âm nhạc lấy đi mỗi người trên dưới 10 năm trong lao tù. Toán xồm vài năm sau đó chết trước cửa ngôi nhà cũ bị chiếm dụng của mình đúng ngày 30 tháng tư, Lộc vàng còn sống đến hôm nay, mở một quán cà phê ven Hồ Tây đêm đêm vẫn hát…nhạc vàng.

Thứ âm nhạc đã bị chôn mà không chết, mãi mồ không xanh cỏ.

Thêm 40 năm nữa , một ngày kia bỗng thấy trên truyền hình quốc gia VTV tràn ngập loại âm nhạc “uỷ mị bolero“.những cuộc thi đủ màu sắc tưng bừng diễn ra.những gương mặt ca sĩ trước đây chỉ thấy ở những chương trình hải ngoại nay nghiễm nhiên xuất hiện trên hàng ghế quyền lực lệch trời với thí sinh: BAN GIÁM KHẢO! Thứ âm nhạc “uỷ mị – bình dân –sến súa !“ ấy chiếm lĩnh sóng truyền hình hơn mọi game chơi nào khác.

Một cách tự nhiên cuộc “phục thù ngọt ngào“ không đổ máu, không có tiếng súng đạn – chỉ thí sinh – ban giám khảo và bolero: sứ mệnh hoàn tất.

những ca khúc đỏ một thời bỗng lui vào viện bảo tàng, chỉ đưa ra trong vài ngày “ giỗ chạp“.

Đấy! chết mà chưa chôn, chưa kể âm nhạc “ hường hường “ của các anh.

Trịnh Công Sơn

Hôm nay, dù yêu hay ghét Trịnh thì một sự thật không thể phủ nhận đây là nhạc sĩ có khối lượng người hâm mộ trong và ngoài nước khổng lồ. Người được công chúng quan tâm hàng đầu trong nền âm nhạc đương đại việt nam.

Con người có vẻ ngoài gầy gò , gương mặt phảng phất vẻ trầm mặc của một “thiền sư“, có một cuộc đời tưởng như êm ả với quá nhiều thành công lại không phải vậy, trong niềm tin ngây thơ của một người thiên tả, ông phạm một vết hằn khó phai trong lời kêu gọi trên đài phát thanh trưa ngày 30 tháng 4 – 1975. Nhưng buồn thay cũng chính ông sau đó chịu nhiều đối xử, phân biệt hệt như những văn nghệ sĩ khác của Sài Gòn thời đó cho đến khi được một “nhà bảo trợ lớn“ Võ Văn Kiệt đỡ đầu. Trịnh Công Sơn qua một trang sử khác bắt đầu dễ thở hơn dù nhiều ca khúc danh tiếng của ông trước 1975 vẫn bị cấm phổ biến. Loạt “ ca khúc da vàng” là một ví dụ, thập niên 80 – 90 mỗi khi viết một ca khúc mới Trịnh Công Sơn vẫn phải đến hát trước cho một vài anh chị em báo Tuổi Trẻ nghe, trong ấy có tôi để tìm sự khen ngợi, ủng hộ cho ca khúc mới của mình. Báo Tuổi Trẻ luôn đăng những ca khúc ấy của ông “Chiều trên quê hương tôi – Bốn mùa thay lá …” trừ “Em còn nhớ hay em đã quên“ vẫn bị kiểm duyệt buộc gỡ xuống trong đêm chuẩn bị in báo từ một nhận định kiểu tuyên giáo “em ra đi nơi này phải đổi mới, phải khác chớ sao vẫn thế? cách mạng đã về rồi Sài Gòn phải khác…”
Cuối đời, khi mọi khó khăn đã qua, nhìn lại mình trong nỗi cô đơn Trịnh Công Sơn viết ca khúc u uẩn như dành riêng cho mình “ Tiến thoái lưỡng nan – tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận…ngày xưa lận đận không biết về đâu…về đâu cuối phố về đâu góc trời…xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi …”

Trịnh Công Sơn mất, một đám tang vô tiền khoáng hậu với số lượng người Sài Gòn đưa tiễn! hơn 10 năm sau, ông được đặt tên đường.

Trịnh Công Sơn, kẻ bị nghi kỵ, phân biệt đối xử bỗng một hôm có không chỉ một mà đến hai con đường mang tên mình.một ở Hà Nội, một ở Huế. Cái mà bao nhiêu nhạc sĩ cách mạng cả đời thèm muốn, đến chết vẫn thèm thì Trịnh thong dong từ cõi vĩnh hằng hoàn tất cuộc “phục thù ngọt ngào“: Trịnh Công Sơn có tên đường như Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…

Cũng thập niên 90, Trần Long Ẩn một nhạc sĩ xuất thân phong trào sinh viên đô thị kênh kiệu tuyên bố “Nhóm những người bạn [Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Thanh Tùng , Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Hoàng, Nguyễn Văn Hiên, Từ Huy] đã đẩy lùi “âm nhạc hải ngoại“.
Tuyên giáo nghe sướng nhưng người nghe nhạc thì cười mỉm . “ thật không? “
….

Khoảng sân nhỏ nhà tôi một buổi tối cúp điện, những năm ấy, điện cúp một tuần 2 ngày 3 đêm. Tôi tiếp anh trong khoảng sân nửa sáng nửa tối của ngọn đèn dầu hắt ra, anh đến chào tạm biệt về lại Bắc Ninh. Giọng anh buồn rầu “tôi phải về chốn cũ thôi, ở đây họ không chấp nhận nhạc của tôi …” tôi nói “anh cứ về đi tôi tin rằng chỉ 5 năm sau khi anh quay lại Sài Gòn, sẽ là câu chuyện khác, họ sẽ phải nghe ca khúc của anh …”

Anh là người có kiến thức rộng nhiều lãnh vực, có tài năng tôi tin như thế.
Tôi không rõ khi anh quay lại Sài Gòn có đúng 5 năm không, nhưng ca khúc của anh đang rất nổi tiếng “ cho em một ngày , hoạ mi hót trong mưa , nghe mưa..vv ” tên anh đã được nhắc tới.

…Giờ thì anh đã có tên tuổi dù âm nhạc của anh ít dần trong công chúng. Anh bắt đầu có những nhận định khác. Khi anh và nhóm của mình coi thường một thể loại âm nhạc được các anh xem là “sến “ của công chúng Sài Gòn nghĩa là cùng lúc các anh giới thiệu một lỗ hổng lớn, một cái nhìn cục bộ hẹp hòi mà âm nhạc, nghệ thuật không nên có. Các anh có người sang tận Hoa Kỳ học hành trở về với nhiều tự hào vẫn quên một điều căn bản, nền giáo dục nghệ thuật nước Mỹ cho mọi người ngay từ lớp học phổ thông hiểu biết về mọi thể loại, hình thái âm nhạc : rock , funk , jazz, country vv… và ai chọn lựa hình thái âm nhạc nhạc nào là quyền yêu thích riêng của họ, không có chuyện Mozart , Beethoven …sang hơn anh mù Ray Charles hay John Denver của country music là sến.

Các anh phạm vào điều cao ngạo, trịch thượng trong nghệ thuật .

Những cuộc “ phục thù ngọt ngào “ đang và đã diễn ra. Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết.

Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó …

Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa ! Nó càng bất tử !
Chỉ vậy thôi !

Đ.T.Q.

KHÔNG THỂ XOÁ MỘT NỀN VĂN HOÁ, VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT.

17 hrs

Image may contain: one or more people, people standing and outdoor

8 SÀI GÒN

KHÔNG THỂ XOÁ MỘT NỀN VĂN HOÁ, VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT.

Người ta có thể đập bỏ một di tích đã hơn 100 năm, người ta cũng có thể phá nát một ngôi chùa cổ, và người ta cũng có thể đốn hạ những hàng cây cổ thụ rợp bóng ký ức của nhiều người, xoá sạch những dinh thự, những kiến trúc đã hiện diện ở miền Nam này suốt cả thế kỷ. Tất cả sẽ biến mất nhường lại cho những khối bê tông đồ sộ, những dãy nhà chọc trời.

Năm, mười năm sau, thế hệ trẻ lớn lên sẽ không biết, không nhớ những di tích đã bị tiêu diệt. Nhiều thành phố sẽ bị đánh mất ký ức về những kiến trúc, những hàng cây, và khi những người già mất đi, sẽ còn ai nhớ đến chúng. Có chăng chỉ còn là những hình ảnh trên bưu ảnh, trong những cuốn sách ảnh đã ố vàng phủ bụi thời gian.

Nhưng văn chương, hội hoạ, thơ ca, âm nhạc thì không thế. Bởi đó là văn hoá của một vùng đất, là hơi thở của một quãng đời. Nhà thờ, dinh thự, hàng cáy có thể bị đánh mất và lụi tàn trong tâm khảm của nhiều người, nhưng văn hoá thì không. Miền Nam Việt Nam trải qua hai mươi năm chiến tranh và trong khoảng thời gian ấy tồn tại một nền văn hoá văn nghệ không thể phủ nhận. Nó là tiếng nói, là suy nghĩ của một thời đại được phản ánh trong văn học nghệ thuật. Nó mang hơi thở của chiến tranh nhưng đầy ắp tính nhân văn và cũng không thiếu những tình tự dân tộc. Và chính điều đó làm cho nó tồn tại dù đã bị nhiều lần vùi dập.

Tại sao chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi lăm năm rồi, văn hoá, văn nghệ của miền Nam thất trận vẫn được người dân yêu thích và tán dương. Và không chỉ ở miền Nam, những người đã từng đọc, từng nghe, từng thấy trong suốt cuộc chiến tranh mà cả người miền Bắc sau cuộc chiến cũng bị thu phục. Lúc cuộc chiến đang diễn ra, nhạc đỏ, văn chương, thơ ca của miền Bắc có nhiệm vụ hô hào, kích động và cổ vũ chiến đấu. Khi hoà bình, văn nghệ tung hô lại trở thành lạc lõng, không còn hợp thời và chính điều đó khiến cho những tác phẩm đó không còn được yêu thích và ưa chuộng.

Nó trở thành dĩ vãng, kỷ niệm của một thời đã đi qua. Người ta nhắc lại nó, trình diễn nó trong những buổi lễ kỷ niệm, những lễ lạt. Và chúng không còn khán giả. Tất nhiên khi không còn hoặc quá ít người thưởng thức thì không có nhà đài nào, nhà xuất bản nào trong thời buổi kinh tế như thế này dám dùng nó để kiếm tiền. Bởi văn hoá văn nghệ thời nay cũng chỉ là một cách để kinh doanh. Không ai làm kinh doanh để nhận lấy lỗ trắng tay cả.

Và văn hoá, văn nghệ miền Nam trước 1975, không phải tất cả đều có giá trị, không phải tác phẩm, tác giả nào cũng hay. Thế nhưng đa số nó mang nỗi lòng của con người, của mỗi cá nhân. Nó mang tình cảm thật của một thế hệ, không lên gân, không hô hào. Ca nhạc miền Nam không phải chỉ có nhạc Boléro, phải biết rõ điều đó, chẳng qua là suốt hơn bốn mươi năm, âm nhạc của thời đại không có gì nổi bật để hấp dẫn quần chúng nên họ tìm về cái cũ, cái mang tình người, tính nhân văn, thể hiện được tình cảm của họ. Mà nhạc Boléro của miền Nam đầy ắp điều đó.

Âm nhạc của miền Nam còn có Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu, Y Vân, Y Vũ, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên, Hoàng Thi Thơ, Từ Công Phụng, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Phạm Mạnh Cương, Lê Uyên Phương, Trần Thiện Thanh, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang… và nhiều nhiều nữa không kể hết, nhạc của những nhạc sĩ này đâu chỉ có điệu Boléro, nhưng vẫn là những bài hát tiêu biểu của miền Nam, mang tình tự dân tộc, mang hơi thở cuộc sống và nỗi niềm riêng của mỗi con người về tình yêu, về thân phận, về cuộc đời. Không ai có thể xoá được. Và cũng chẳng thế nào xoá được.

Thế mà ở hội nghị giao ban quý III/2019 của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận định sáng tác văn học, nghệ thuật đang xuống thấp một cách không tưởng và ông phát biểu:

“Giữ chế độ này là giữ thành quả cách mạng, nhưng giờ bỏ qua hết, chạy theo giải trí, game show… Trong khi để kế thừa cái đã có thì làm không tốt, mà lại ca ngợi boléro của chế độ cũ thì chính là ca ngợi luôn đời sống của giai đoạn đó… Cũng từ khi đi vào thị trường, hội nhập, chúng ta lại quên đi biến động vô cùng phức tạp. Chương trình Âm nhạc Việt Nam – Những chặng đường trên VTV không biết chủ trương của Bộ Chính trị hay của ai, vì cái này ca ngợi nhạc của Sài Gòn cũ bằng những lời có cánh”

Đồng thời, Nhạc sĩ Trần Long Ẩn với tư cách Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM cũng cho rằng, nói chua cay, mỉa mai như báo chí thì nhạc cách mạng hiện nay gần như đã “rút lui vào hoạt động bí mật”. Các chương trình chính thống muốn lên đài truyền hình vào giờ vàng thì khó lắm.

Cũng theo ông Ẩn, nhạc ca ngợi Việt Nam Cộng hòa mà giờ cũng cho là ca ngợi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì không được: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Vậy mà đồng thời, phong trào cách mạng ở miền Nam trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng nữa”.(Trích báo Phụ Nữ)

Đó là những quan niệm quá lạc hậu và lỗi thời. Và theo ý ông Liên và ông Ẩn thì không nên phổ biến và nên xoá sạch loại văn hoá độc hại của miền Nam trước 1975. Sau 75, chế độ mới đã phát động đốt sạch cái họ gọi là văn hoá đồi truỵ, phản động. Hàng ngàn tấn sách đã bị đốt, nhưng không đốt được văn hoá trong tim của người miền Nam.

Đó là điều bất khả thi, vì những thứ mà các ông cho là độc hại đó là tinh hoa của miền Nam đã thấm đẫm trong lòng người, mà như trên đã nói, có thể xoá bỏ một ngôi chùa, một dinh thự, một con đường, đập phá nát bia mộ, lăng tẩm, chứ không thể xoá bỏ được một nền văn hoá. Người nào kêu gọi và thực thi việc xoá nhoà, tấy sạch một nền văn hoá thì kẻ đó đi ngược lại với lịch sử, là kẻ mọi rợ, là kẻ vô văn hoá. Bỏ quên văn chương nghệ thuật miền Nam trước 1975 trong văn học sử hiện đại đã là một sai lầm, đòi xoá sạch nó lại là một tội lỗi khó bào chữa.

Đã qua rồi thời đốt sách, đã không còn là thời đấu tố, đã không còn có thể cấm hát, cấm đọc. Bởi cấm cũng không được khi lòng người còn luyến tiếc mà chẳng có gì để thế chỗ. Đừng dao to búa lớn làm chi, các ông có những sáng tác hay hơn cái cũ của miền Nam thì tất nhiên cái cũ đấy sẽ bị lãng quên, chẳng cần chi kêu gào xoá sạch làm gì. Nhưng các ông lại không đủ tài năng để làm điều đó.

Saigon.16/11/2019
DODUYNGOC

BÓP CHẾT ƯỚC MƠ

Image may contain: 1 person, sitting and indoor
8 SÀI GÒN

BÓP CHẾT ƯỚC MƠ

PHẠM ĐOAN TRANG

Tôi học cấp III ở Trường PTTH Hà Nội-Amsterdam và tốt nghiệp cử nhân kinh tế Đại học Ngoại thương. Thế hệ của tôi là thế hệ chứng kiến Việt Nam mở cửa; HIV/AIDS tràn vào (1989); tiếng Anh lên ngôi, tiếng Nga thoái trào (đầu những năm 90); Internet vào Việt Nam (1997); báo điện tử xuất hiện (VnExpress 2001); mạng xã hội bùng nổ (Yahoo!360, giữa năm 2005)…

Hơn ai hết, tôi thấy thế hệ của tôi, những bạn bè sống quanh tôi luôn dằn vặt với hai câu hỏi lớn: Đi (du học) hay ở lại Việt Nam? Học xong trở về Việt Nam hay kiếm đường ở lại nước ngoài?

Rất nhiều người đã từng hỏi tôi hai câu ấy. Trong số đó có T. T. Hồng – nếu bạn nào tình cờ xem một kênh truyền hình có tên VietNamNet TV vào những năm 2005-2006 thì có thể còn nhớ cô gái dẫn chương trình có phong cách rất Tây này. Hồng là một biên tập viên truyền hình, một nhà báo có tài, và Hồng từng dằn vặt dữ dội với câu hỏi lớn “Đi hay ở”, “Về hay ở lại”. Khoảng cuối 2006, Hồng nhận được học bổng đi Anh học thạc sĩ, và từ đó cô không trở về Việt Nam nữa; nói đúng hơn, trong mắt tôi, cô chỉ về như một khách trọ, mỗi lần về vài tuần rồi lại bay đi ngay.

Trước khi quyết định tìm đường du học, Hồng từng hỏi tôi hai câu hỏi ấy, và tôi trả lời: “Gì cũng được, nhưng không kỳ vọng, không thất vọng, không nản”.

Tôi nói thế, bởi tôi biết Việt Nam dưới chế độ cộng sản là xứ sở vô địch về bỏ lỡ cơ hội, về vùi dập nhân tài và bóp chết ước mơ của người trẻ.

Tôi biết đã có bao nhiêu thanh niên Việt Nam du học, mê say với những kiến thức mình thu nhận được ở trời Tây, rồi ôm cả một bầu trời mơ ước, hy vọng về Việt Nam, những mong có thể “áp dụng kiến thức mình học được”, “xây dựng lại ngành của mình”, “thay đổi đất nước”…

Tôi biết họ đã vỡ mộng nhanh như thế nào, chỉ sau vài tháng.

Trước Hồng, anh trai tôi, một bác sĩ nhi khoa, trước khi từ châu Âu trở về Việt Nam còn đi mua ít đồ chơi để “về tặng bệnh viện”, vì anh thấy bên đó, các bệnh viện nhi đẹp quá, nhiều đồ chơi cho bệnh nhân quá, như vườn trẻ (điều đó giúp các bé giảm rất nhiều nỗi đau, nỗi sợ). Anh mua cả thùng sách chuyên môn, hàng trăm cuốn, trị giá vài ngàn euro, về nước. Anh ôm một trời khao khát, hy vọng, đam mê nghề…

Tiếc rằng, thực tế Việt Nam không có gì đáp lại tấm lòng của những bác sĩ yêu nghề, yêu con người, như anh. Cũng may, cả anh và T. T. Hồng bạn tôi đều không ai cảm thấy sốc hay đau khổ khi trở về nước, đối diện với thực tế phũ phàng và đáng ngán ngẩm.

Cho nên tôi luôn thấy quan niệm của mình – “gì cũng được, nhưng không kỳ vọng, không thất vọng, không nản” – là một quan niệm đúng, thậm chí còn là một cách để mình tự vệ trong hoàn cảnh Việt Nam.

* * *

Câu chuyện của T. T. Hồng, của anh trai tôi, là vào thập niên 2000. Bây giờ đã là cuối thập niên 2010, và dường như xung quanh tôi, chẳng còn nhiều người dằn vặt vì hai câu hỏi kia nữa. Câu trả lời đã quá rõ ràng, với số đông: Có cơ hội là đi khỏi Việt Nam, và tìm đường ở lại nước ngoài. Đừng về. Về làm gì?

Nhưng so với thập niên trước, thập niên này lại có thêm sự xuất hiện của một “cộng đồng” nho nhỏ, là những nhà hoạt động dân chủ-nhân quyền. Họ ra nước ngoài chủ yếu theo các học bổng ngắn hạn do các tổ chức quốc tế cung cấp, học về xã hội dân sự. Họ không hẳn là du học sinh, theo nghĩa họ không tham gia vào thế giới học thuật, hàn lâm của các trí thức; họ là nhà hoạt động.

Và tôi không biết họ có đối diện với hai câu hỏi lớn kia, như thế hệ của tôi từng dằn vặt không.

Có một điều tôi biết chắc chắn: Việt Nam vẫn không hề thay đổi, Việt Nam vẫn nằm dưới chế độ cộng sản, và vẫn là xứ sở vô địch về bỏ lỡ cơ hội, về vùi dập nhân tài và bóp chết ước mơ của người trẻ.

Đối với những du học sinh tràn đầy tâm huyết trở về năm xưa, thể chế ở Việt Nam dội nước lạnh vào họ, gò nặn cho họ vào guồng, gọt họ tròn như bi, đặt họ đối diện với bao nhiêu thứ tồi tệ và đáng chán nản. Không biết nịnh sếp thì về Việt Nam sẽ biết nịnh. Không biết đấu đá, tranh giành thì về Việt Nam sẽ biết đấu đá, tranh giành. Muốn phục vụ, cống hiến thì về Việt Nam sẽ hết muốn, hết ước mơ luôn.

Đối với những nhà hoạt động trẻ thời nay, tình hình còn thảm hơn. Việt Nam đón nhận họ với hàng chục nhân viên an ninh tại sân bay, câu lưu, thẩm vấn, đe nẹt và không quên dạy đời họ. (Thật khủng khiếp, khi những con ếch ngồi đáy giếng, nhìn thế giới bằng cặp mắt hằn học và “cảnh giác với thế lực thù địch”, lại có thể lải nhải răn dạy những thanh niên yêu nước, đầy nhiệt huyết đổi thay và hội nhập). Và cuộc sống của họ sau đó sẽ là những ngày tháng đối diện với việc bị truy đuổi, mất nhà cửa, thất nghiệp, bị theo dõi, canh giữ, nặng hơn thì bị đánh đập, bắt bớ, tù đày…

Đó là những gì đang và sẽ xảy đến với Đinh Phương Thảo (Thảo Gạo) kể từ hôm nay, 15/11/2019, khi cô trở về nước sau gần bốn năm ở nước ngoài, tham gia vận động nhân quyền cho Việt Nam.

Tôi nhìn thấy tất cả những điều ấy, và bình thản. Nhưng không thể không có chút buồn.

Yêu nước, khao khát thay đổi, dấn thân, cống hiến… để bị chế độ công an trị đối xử như vậy sao?

PHẠM ĐOAN TRANG

Cơ hội làm giàu trên quê hương có đồng đều cho tất cả?

Nguyễn Kim Chi
Vị bác sĩ ẩn danh này cho biết giới y, bác sĩ ở Việt Nam có 3 lựa chọn là làm việc ở bệnh viện tư hoặc bệnh viện công; tuy nhiên khâu đầu tiên vẫn là phải có tiền, bởi vì:

“Có giá chung cả rồi. Vào Bệnh viện Bạch Mai thì 700 triệu đồng. Vào Bệnh viện 108 là 1 tỷ. Vào Bệnh viện Quân Đội (103) bây giờ là 1 tỷ. Còn vào bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh thì tùy, nhưng cũng phải vài trăm triệu.”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội chiều ngày 08/11/19.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội chiều ngày 08/11/19.

 Courtesy: VGP News

Tiếp tục đi nước ngoài vì kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam được đánh giá có nhiều thay đổi kể từ khi Chính phủ Hà Nội áp dụng chính sách “Đổi mới” vào năm 1986, dù vẫn theo cơ chế “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Và sau hơn 3 thập niên phát triển cũng như mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực với cộng đồng quốc tế, xu hướng người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống và làm việc được thế giới ghi nhận là ngày càng gia tăng.

Một thành phần di dân là giới du học sinh và trí thức Việt Nam, mà hiện tượng này được gọi là “tình trạng chảy máu chất xám” không có chiều hướng giảm sút.

Thông cáo báo chí của Đại sứ quán Việt Nam đăng tải hồi trung tuần tháng 11 năm 2018 cho thấy số lượng du học Việt Nam ở Mỹ tăng năm thứ 17 liên tiếp, tiếp tục đứng thứ sáu trong danh sách những nước dẫn đầu về số lượng sinh viên du học với hơn 24 ngàn sinh viên.

Còn Chính phủ Canada thống kê đến cuối năm 2018, sinh viên Việt Nam sang du học ở nước này riêng trong năm ngoái đã tăng 46% với hơn 20.000 người, đứng vị trí thứ 5 trong số những nước có nhiều học sinh đến học ở Canada nhất.

Đài RFA ghi nhận kết quả một nghiên cứu của Tiễn sĩ Phạm Thị Liên, thuộc Đại học Công nghệ Sydney, Australia được Nhà xuất bản Springer phát hành trong năm 2019, có tựa đề “International Graduates Returning to Vietnam: Experiences of the Local Economies, Universities and Communities”, cho thấy năm 2016 có khoảng 130 du học sinh Việt Nam ở nước ngoài. Và Đài BBC Việt ngữ, vào ngày 20 tháng 9 dẫn lời của Tiến sĩ Phạm Thị Liên cho biết qua khảo sát thì 100% du học sinh Việt Nam đều mong muốn ở lại nước họ đến học để làm việc vì cơ hội việc làm, chưa nói đến tiền lương và các mối quan hệ xã hội.

Qua trao đổi với một số các du học sinh đang làm việc ở nước ngoài, họ cũng bày tỏ với RFA rằng trở về nước thì họ không có môi trường làm việc thích hợp, nhất là trong lĩnh vực khoa học kỷ thuật và mức tiền lương không đáp ứng đủ cho một cuộc sống tốt ở quê nhà.

Một bác sĩ trẻ đang làm việc tại Lào chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do trong hai năm vừa qua có khoảng vài chục bác sĩ người Việt làm việc tại Lào giống như anh. Người bác sĩ không muốn nêu tên giải bày lý do vì sao không chọn làm việc tại Việt Nam:

Đồng lương của Việt Nam hiện nay không phải là lương, mà là ‘bất lương’. Cứ tưởng tượng lương của những cán bộ với mức lương từ 15 đến 20 thì làm gì có thể xây những biệt thự, lâu đài nguy nga? Bọn quan chức từ trong Trung ương Đảng cho đến Chính phủ, cho đến Quốc hội, cho đến Bí thư, cho đến giám đốc ở các tỉnh có thể nói rằng là ‘cả đám ăn cướp trắng trợn của dân, của nước’
-Ông Nguyễn Khắc Mai

“Như tụi em học y ở Việt Nam, nhưng học xong ra trường thì chỉ có bằng đại học mà không được cấp chứng chỉ hành nghề. Không có chứng chỉ hành nghề mà làm việc thì khác nào là làm bất hợp pháp. Ra trường thì phải đi thực tập (không lương) 18 tháng ở những cơ sở có giường bệnh nội trú hoặc bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh trở lên. Thực tập xong mới được xin cấp phép hành nghề. Chỉ mới cấp giấy hành nghề thôi mà đã ‘hành’ giới y, bác sĩ như thế rồi.”

Vị bác sĩ ẩn danh này cho biết giới y, bác sĩ ở Việt Nam có 3 lựa chọn là làm việc ở bệnh viện tư hoặc bệnh viện công; tuy nhiên khâu đầu tiên vẫn là phải có tiền, bởi vì:

“Có giá chung cả rồi. Vào Bệnh viện Bạch Mai thì 700 triệu đồng. Vào Bệnh viện 108 là 1 tỷ. Vào Bệnh viện Quân Đội (103) bây giờ là 1 tỷ. Còn vào bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh thì tùy, nhưng cũng phải vài trăm triệu.”

Còn một lựa chọn thứ 3 là mở phòng mạch thì:

“Nếu khởi nghiệp ở Việt Nam thì phải có thế lực, phải có quan hệ thì mới khởi nghiệp được. Thêm nữa là quá nhiều thủ tục và cơ quan, đoàn thể mà người ta gọi là ‘hành’ và tìm cách làm tiền. Doanh nghiệp Việt Nam khổ lắm vì hầu như các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hay buôn bán…đều phải chung chi.”

Đối nghịch lại với giới trí thức Việt Nam là một làn sóng di dân của các “cô dâu Việt”. Những phụ nữ Việt Nam trong hai thập niên qua ồ ạt chọn giải pháp lấy chồng nước ngoài để đổi đời, mà chủ yếu là vì mục đích giúp đỡ cho gia đình về kinh tế.

Mặc cho truyền thông trong nước loan tin không ít những câu chuyện thương tâm và đau buồn của một số hoàn cảnh phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài bị bạc đãi, hay thậm chí bị thiệt mạng, nhưng những cô gái Việt Nam vẫn chấp nhận ra đi vì không còn chọn lựa nào khác với hy vọng cho một cuộc sống sung túc hơn.

Vào năm 2016, Cơ quan Thống kê Hàn Quốc công bố số liệu phụ nữ Việt Nam, lần đầu trở thành nhóm cô dâu ngoại quốc đông nhất ở Nam Hàn, chiếm 27,9% vượt qua các nước Trung Quốc và Philippines.

Hình hai người được cho là nạn nhân trên chiếc xe chở người lậu từ Pháp sang Anh hôm 23/10/2019.
Hình hai người được cho là nạn nhân trên chiếc xe chở người lậu từ Pháp sang Anh hôm 23/10/2019. Courtesy of Reuters, Facebook, RFA edit

Lao động xuất khẩu Việt

Một thành phần đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đó là lao động Việt ở nước ngoài. Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vào hạ tuần tháng 6 năm 2018 cho biết tính đến thời điểm đó, Việt Nam có khoảng 500 ngàn người Việt đang làm việc ở nước ngoài và tổng số tiền mà các lao động này gửi về nước mỗi năm khoảng 3 tỷ USD (tương đương hơn 76 ngàn tỷ đồng). Thế nhưng, tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn, kết thúc hợp đồng không quay về nước hoặc ở lại lao động bất hợp pháp đang xảy ra ở một số quốc gia. Đặc biệt là Hàn Quốc với tỷ lệ bỏ trốn lên đến 50%, dẫn đến hậu quả Hàn Quốc ra thông báo tạm thời ngưng chương trình tuyển chọn công nhân Việt Nam ở 40/100 quận/huyện sang nước này làm việc trong năm 2019.

Một lao động Việt ở Nhật, không muốn nêu tên nói với RFA về tình trạng người Việt Nam vẫn chọn ở Nhật để kiếm sống, dù làm việc ở xứ sở Mặt Trời Mọc bị đối xử bất công:

“Sau một quá trình làm thì họ sẽ thấy ở đây làm có dư hơn ở Việt Nam, dễ sống hơn ở Việt Nam, có thể chu cấp cho gia đình ở Việt Nam thì hầu hết họ muốn ở lại hơn là đi về.”

Và mới nhất, tình trạng người Việt ra nước ngoài lao động chui bằng nhiều hình thức ở mức báo động, qua vụ việc 39 người Việt Nam tử nạn trong xe container nhập cư lậu vào Anh hồi ngày 23 tháng 10 vừa qua. Sau khi thảm kịch xảy ra, lần lượt nhiều thông tin của gia đình các nạn nhân cho biết thân nhân của họ bị thiệt mạng trong hành trình tìm kiếm kế sinh nhai bất hợp pháp nơi xứ người với mưu cầu được thịnh vượng.

Lời tuyên bố của ông Thủ tướng

Tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội vào chiều ngày 8 tháng 11, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói rằng “nguồn nhân lực phát triển lớn nhất của đất nước là gần 100 triệu người dân Việt Nam và phải làm sao để mỗi người dân có cơ hội thực hiện khát vọng làm giàu hợp pháp, phát triển khả năng trên chính mảnh đất quê hương mình”. Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam còn nhấn mạnh không được để thảm kịch như vừa xảy ra tại Anh tái diễn.

Lời tuyên bố vừa nêu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được dư luận trong và ngoài nước quan tâm. Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng chủ trương của Chính phủ Việt Nam luôn nhắm đến “dân giàu, nước mạnh”; tuy nhiên:

“Nhiều việc khi họ làm, thực hiện các chính sách tốt thường là triển khai rất chậm chạp và không tới nơi tới chốn. Nhiều khi thể hiện có lẽ nhiều nhất ở chỗ là họ lại muốn những cơ hội kinh doanh của người dân để người dân làm giàu thì cũng phải là cơ hội cho họ kiếm chác được ở đấy.”

Còn chính người “trong cuộc” là những người Việt đang làm việc ở nước ngoài lên tiếng rằng họ luôn trông chờ một cơ hội để trở về nước, nhưng thời gian chờ đợi cho các cơ hội tốt đối với người dân như họ sẽ là bao lâu? Một lao động Việt không muốn nêu tên ở Hàn Quốc bày tỏ:

Thật tình thì chả ai muốn tha phương cầu thực cả, vì hoàn cảnh và cuộc sống đường cùng mà phải ra đi thôi. Tôi nghĩ nếu thay đổi chế độ Việt Nam thì phải mất hàng chục năm bởi vì phải thay đổi từ tư duy nhận thức con người và phải thay đổi về chế độ, thay đổi chính sách. Người Hàn (Hàn Quốc) phải mất mấy chục năm để biến đổi được nền kinh tế như ngày hôm nay. Kể cả Việt Nam cũng vậy. Đâu thể nói là làm được liền đâu
-Lao động Việt ở Hàn Quốc

“Thực tình thì chả ai muốn tha phương cầu thực cả, vì hoàn cảnh và cuộc sống đường cùng mà phải ra đi thôi. Tôi nghĩ nếu thay đổi chế độ Việt Nam thì phải mất hàng chục năm bởi vì phải thay đổi từ tư duy nhận thức con người và phải thay đổi về chế độ, thay đổi chính sách. Người Hàn (Hàn Quốc) phải mất mấy chục năm để biến đổi được nền kinh tế như ngày hôm nay. Kể cả Việt Nam cũng vậy. Đâu thể nói là làm được liền đâu.”

Còn không ít ý kiến trong giới quan sát tình hình Việt Nam quả quyết rằng lời tuyên bố của Thủ tướng tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng là thêm một khẩu hiệu hô hào của Chính phủ Việt Nam mà thôi, như ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu-Ban Dân vận Trung ương nhận định chỉ có đảng viên và cán bộ mới là thành phần giàu có ở Việt Nam:

“Đồng lương của Việt Nam hiện nay không phải là lương, mà là ‘bất lương’. Cứ tưởng tượng lương của những cán bộ với mức lương từ 15 đến 20 thì làm gì có thể xây những biệt thự, lâu đài nguy nga? Bọn quan chức từ trong Trung ương Đảng cho đến Chính phủ, cho đến Quốc hội, cho đến Bí thư, cho đến giám đốc ở các tỉnh có thể nói rằng là ‘cả đám ăn cướp trắng trợn của dân, của nước’.”

ÔNG TRẦN LONG ẨN PHỦ NHẬN TOÀN BỘ NỀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC 75, MUỐN TẨY XÓA HẾT ĐI VÌ “ĐỘC HẠI”!

Image may contain: 1 person, text

Nguyễn Quốc Kiên

ÔNG TRẦN LONG ẨN PHỦ NHẬN TOÀN BỘ NỀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC 75, MUỐN TẨY XÓA HẾT ĐI VÌ “ĐỘC HẠI”!

Không chỉ nói đến nhạc, ông Trần Long Ẩn còn phủ nhận cả một nền văn học nghệ thuật của miền Nam trước năm 1975. Trong cuộc họp giao ban quý III/2019 của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11, ông Trần Long Ẩn phát biểu:

“Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa”. Ông Ẩn lớn tiếng: “63 tỉnh, thành thì có được bao nhiêu đài có phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch? Ít lắm”.

Nói như ông Ẩn thì hiện nay nền văn học nghệ thuật Hàn quốc đều là độc hại vì Hàn quốc là đồng minh của Mỹ và Hàn quốc đang chống lại Bắc Hàn xã hội chủ nghĩa kìa. Có ai biết con cháu ông Ẩn có xem phim Hàn quốc không nhỉ!

Sinh ra một cái Hội đồng phê bình văn học, nghệ thuật kiểu như vậy rồi hàng tháng tổ chức họp, chi tiêu bằng thuế máu của nhân dân rồi có những kẻ như vậy ngồi phát biểu những điều như vậy chăng?

Trần Đình Thu